|
VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 161/2026/VBHN-LQ-VPQH
|
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2026
|
LUẬT
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 81/2025/QH15
ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật số 15/2026/QH16
ngày 23 tháng 8 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3
năm 2027.
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1].
Chương
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người
thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành
án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại;
cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi
danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước.
Điều
2. Đối tượng được bồi thường
Cá nhân, tổ chức bị thiệt
hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc
phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Luật này.
Điều
3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người bị thiệt hại
là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người
thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được
quy định tại Luật này.
2.[2] Người
thi hành công vụ là người được tuyển dụng, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
hoặc chỉ định theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật
có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản
lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố
tụng hoặc thi hành án.
3.[3] Người yêu cầu bồi thường là
người có văn bản yêu cầu bồi thường thuộc một trong các trường hợp quy định tại
Điều 5 của Luật này.
4. Hành vi trái pháp
luật của người thi hành công vụ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật.
5. Văn bản làm căn cứ
yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong
đó xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản
án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự
xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.
6. Người giải quyết
bồi thường là người được cơ quan giải quyết bồi thường cử để thực hiện việc
giải quyết yêu cầu bồi thường.
7. Cơ quan giải quyết
bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người
thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng.
8. Hoàn trả là
trách nhiệm của người thi hành công vụ gây thiệt hại phải trả lại một khoản tiền
cho ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này.
9.[4] Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực
hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính
công, tài sản công.
10.[5] Người thân của người tố cáo, người đấu tranh
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (sau đây gọi là người thân) gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi.
Điều
4. Nguyên tắc bồi thường của Nhà nước
1.[6] Việc bồi thường của Nhà nước
được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm
vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của
Luật này.
2.[7] Việc giải quyết yêu cầu bồi thường được
thực hiện kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật;
được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường và
người yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này.
3. Người yêu cầu bồi
thường đã yêu cầu một trong các cơ quan giải quyết bồi thường quy định tại khoản
7 Điều 3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và đã được cơ quan đó thụ
lý giải quyết thì không được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều
52 của Luật này.
4.[8] Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường
sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu
bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án theo
quy định của Luật này.
5. Trường hợp người bị
thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường
phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị
thiệt hại.
Điều
5. Quyền yêu cầu bồi thường
Những người sau đây có
quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường:
1. Người bị thiệt hại;
2. Người thừa kế của
người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa
quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;
3. Người đại diện theo
pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo
pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;
4. Cá nhân, pháp nhân
được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này ủy quyền thực hiện
quyền yêu cầu bồi thường.
Điều
6. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
1. Thời hiệu yêu cầu bồi
thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các
khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi
thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này và trường hợp
yêu cầu phục hồi danh dự.
2. Thời hiệu yêu cầu bồi
thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu
khởi kiện vụ án hành chính.
3. Thời gian không tính
vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:
a) Khoảng thời gian có
sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự
làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều
5 của Luật này không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;
b) Khoảng thời gian mà
người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại
diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại
diện mới.
4. Người yêu cầu bồi
thường có nghĩa vụ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định
tại khoản 3 Điều này.
Điều
7. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1. Nhà nước có trách
nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây:
a) Có một trong các căn
cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và
yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Có thiệt hại thực tế
của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo
quy định của Luật này;
c) Có mối quan hệ nhân
quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.
2. Căn cứ xác định hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường
tương ứng bao gồm:
a) Có văn bản làm căn cứ
yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết
vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị
kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;
c)[9] Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công
vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu
bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Điều
8. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính
Văn bản làm căn cứ yêu
cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính quy định tại Điều 17 của Luật
này bao gồm:
1. Bản án, quyết định của
Tòa án có thẩm quyền xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ;
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại chấp nhận một phần hoặc toàn
bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại;
3. Quyết định hủy, thu
hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định hành chính vì quyết định đó được ban hành trái
pháp luật;
4. Quyết định xử lý
hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ bị tố cáo trên cơ sở kết
luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo;
5. Quyết định xử lý
hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ trên cơ sở kết luận thanh
tra theo quy định của pháp luật về thanh tra;
6. Quyết định xử lý kỷ
luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật;
7. Văn bản khác theo
quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật
này.
Điều
9. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự
Văn bản làm căn cứ yêu
cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự quy định tại Điều 18 của Luật
này bao gồm:
1. Bản án của Tòa án có
thẩm quyền xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường;
2. Quyết định của Tòa
án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường;
3. Văn bản khác theo
quy định của pháp luật về tố tụng hình sự đáp ứng điều kiện quy định tại khoản
5 Điều 3 của Luật này.
Điều
10. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng
hành chính
Văn bản làm căn cứ yêu
cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính quy định tại
Điều 19 của Luật này bao gồm:
1. Bản án, quyết định
hình sự của Tòa án có thẩm quyền xác định người tiến hành tố tụng trong tố tụng
dân sự, tố tụng hành chính phạm tội ra bản án trái pháp luật, tội ra quyết định
trái pháp luật hoặc tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc;
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại, kiến nghị cuối cùng của Chánh án Tòa án có thẩm quyền hoặc của Hội đồng
xét xử theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, tố tụng hành chính xác định
rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
3. Quyết định đình chỉ
điều tra của Cơ quan điều tra, quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát, Tòa
án theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự đối với người tiến hành tố tụng
trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính vì đã ra bản án, quyết định trái pháp
luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc nhưng được miễn trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ luật Hình sự;
4. Quyết định giải quyết
khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa án có thẩm quyền xác
định người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính đã có
hành vi ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ
việc và quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo đó xác định
hành vi trái pháp luật của người ra bản án, quyết định có đủ căn cứ để xử lý kỷ
luật hoặc xử lý trách nhiệm hình sự nhưng chưa bị xử lý thì người đó chết;
5. Quyết định xử lý kỷ
luật người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính đã có
hành vi ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ
việc;
6. Văn bản khác theo
quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật
này.
Điều
11. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong
hoạt động thi hành án hình sự
Văn bản làm căn cứ yêu
cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự quy định tại Điều 20 của Luật
này bao gồm:
1. Bản án, quyết định của
Tòa án có thẩm quyền xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ;
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại;
3. Quyết định xử lý
hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ bị tố cáo trên cơ sở kết
luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo;
4. Quyết định xử lý kỷ
luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật;
5. Văn bản khác theo
quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật
này.
Điều
12. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự
Văn bản làm căn cứ yêu
cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự quy định tại Điều 21 của Luật
này bao gồm:
1. Bản án, quyết định của
Tòa án có thẩm quyền xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ;
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại;
3. Quyết định hủy, thu
hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án vì quyết định đó được ban hành
trái pháp luật;
4. Quyết định xử lý
hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ bị tố cáo trên cơ sở kết
luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo;
5. Văn bản của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện
kiểm sát theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
6. Quyết định xử lý kỷ
luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật;
7. Văn bản khác theo
quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật
này.
Điều
13. Quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường
1. Người yêu cầu bồi
thường là người bị thiệt hại có quyền sau đây:
a)[10] Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều
3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và được nhận kết quả giải quyết
yêu cầu bồi thường;
b) Khiếu nại, tố cáo,
khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc
giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
và pháp luật về tố tụng hành chính; khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của
Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng;
c)[11] Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật; đề nghị cơ quan
giải quyết bồi thường tổ chức thực hiện việc giám định thiệt hại hoặc sử dụng kết quả giám định thiệt hại để làm cơ sở xác định mức bồi thường theo quy định
của pháp luật;
d) Nhờ người khác bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;
đ) Được cơ quan quản lý
nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý người thi
hành công vụ gây thiệt hại hướng dẫn thủ tục yêu cầu bồi thường;
e) Ủy quyền theo quy định
của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường;
g) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Người yêu cầu bồi
thường là người bị thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp kịp thời,
chính xác, trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình;
b)[12] Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường
theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường, trừ trường hợp có sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c)[13] Cung cấp thông tin chứng minh thiệt hại thực tế của mình được
bồi thường theo quy định của Luật này;
d) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
3. Người yêu cầu bồi
thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại
hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại
có quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Người yêu cầu bồi
thường là người đại diện theo ủy quyền có quyền, nghĩa vụ quy định tại các điểm
a, b, c, d và đ khoản 1 và khoản 2 Điều này trong phạm vi ủy quyền.
Điều
14. Quyền và nghĩa vụ của người thi hành công vụ
gây thiệt hại
1. Người thi hành công
vụ gây thiệt hại có quyền sau đây:
a) Được nhận văn bản,
quyết định về việc giải quyết yêu cầu bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền,
nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này;
b) Tố cáo hành vi trái
pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường, xác
định trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật về tố cáo; khiếu nại, khởi
kiện quyết định hoàn trả và kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định
của pháp luật về khiếu nại, pháp luật về tố tụng hành chính;
c) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Người thi hành công
vụ gây thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp kịp thời, đầy
đủ, chính xác, trung thực thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết
yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp thông tin, tài liệu của mình;
b)[14] Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường
theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và quá trình xác định trách nhiệm
hoàn trả theo yêu cầu của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây
thiệt hại, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Hoàn trả cho ngân
sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại
theo quyết định của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt
hại;
d) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
Điều
15. Trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường
1. Tiếp nhận, thụ lý yêu
cầu bồi thường.
2. Phục hồi danh dự hoặc
yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phục hồi
danh dự cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật này.
3. Giải thích cho người
yêu cầu bồi thường về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết
yêu cầu bồi thường.
4. Xác minh thiệt hại;
tiến hành thương lượng, đối thoại, hòa giải trong quá trình giải quyết yêu cầu
bồi thường theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
5. Chịu trách nhiệm về tính
đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ yêu cầu bồi thường, tính đúng đắn của các văn bản, tài
liệu giải quyết yêu cầu bồi thường và quyết định giải quyết bồi thường.
6. Ra bản án, quyết định
về giải quyết yêu cầu bồi thường, tổ chức thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan trực
tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện bản án, quyết định
đó.
7. Gửi bản án, quyết định
về giải quyết yêu cầu bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường
nhà nước và cá nhân, tổ chức khác theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
8. Khôi phục hoặc đề
nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của
người bị thiệt hại.
9. Hướng dẫn người yêu cầu
bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường.
10. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp
luật về khiếu nại, tố cáo.
11. Tham gia tố tụng tại
Tòa án trong trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy
định tại khoản 1 Điều 52 hoặc Điều 55 của Luật này.
12. Xác định trách nhiệm
hoàn trả hoặc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt
hại xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại và
thu tiền hoàn trả theo quy định của Luật này.
13. Xem xét, xử lý kỷ
luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật
người thi hành công vụ gây thiệt hại.
14. Báo cáo về việc giải
quyết yêu cầu bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả và việc xử lý kỷ luật
người thi hành công vụ gây thiệt hại cho cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý
nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
15. Trường hợp Tòa án
có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính giải quyết yêu cầu bồi
thường thì phải xác định hành vi của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc
một trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 7 của Luật
này trước khi thực hiện các trách nhiệm quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6,
7, 8, 10, 11, 12, 13 và 14 Điều này.
Điều
16. Các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải
quyết yêu cầu bồi thường
1. Giả mạo tài liệu, giấy
tờ hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ sai sự thật trong hồ sơ yêu cầu bồi thường
và trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Thông đồng giữa người
yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường, người có liên quan để trục
lợi.
3. Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường,
xác định trách nhiệm hoàn trả và xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ
gây thiệt hại.
4. Không giải quyết yêu
cầu bồi thường hoặc không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc giải quyết
yêu cầu bồi thường trái pháp luật.
5. Không thực hiện việc
xác định trách nhiệm hoàn trả hoặc không xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành
công vụ gây thiệt hại.
6. Sách nhiễu, cản trở
hoạt động giải quyết yêu cầu bồi thường.
Chương
II
PHẠM VI TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Điều 17. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong
hoạt động quản lý hành chính[15]
Nhà nước
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Ra quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;
2. Áp
dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;
3. Áp
dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái
pháp luật:
a) Buộc phá dỡ công
trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với
giấy phép;
b) Buộc
loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh,
vật phẩm;
c) Buộc
thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
4. Áp
dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái
pháp luật;
5. Áp dụng biện pháp xử
lý hành chính trái pháp luật;
6.
Không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ người tố
cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo
quy định của Luật Tố cáo và luật khác có liên quan;
7. Cố
ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông
tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin;
8. Cấp, thu hồi, hủy
bỏ, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ
kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị
như giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trái pháp luật;
9. Áp
dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật;
truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật;
10. Áp
dụng thủ tục hải quan trái pháp luật;
11. Giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường,
hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp, không cấp hoặc
thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
trái pháp luật;
12. Ra
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;
13. Cấp
văn bằng bảo hộ khi có căn cứ pháp luật cho rằng người nộp đơn không có quyền nộp
đơn hoặc có căn cứ pháp luật cho rằng đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ;
từ chối cấp văn bằng bảo hộ với lý do đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ
mà không có căn cứ pháp luật; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mà không có căn
cứ pháp luật;
14. Ra quyết định xử lý
kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức giữ chức vụ dưới Thứ
trưởng và dưới tương đương Thứ trưởng.
Điều
18. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động tố tụng hình sự
Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
2. Người bị bắt, người
bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh
bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật;
3. Người bị tạm giam mà
có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm
hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện
tội phạm;
4. Người đã chấp hành
xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết
án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan,
người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc
phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
5. Người bị khởi tố,
truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù
mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm
hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện
tội phạm;
6. Người bị khởi tố,
truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà
sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt
chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm
giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời
gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của
những tội mà người đó phải chấp hành;
7. Người bị khởi tố,
truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng
chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử
hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn
thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian
đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải
chấp hành;
8. Người bị xét xử bằng
nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản
án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự
xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn
lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường
thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt
quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
9. Pháp nhân thương mại
bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ
quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự
việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết
thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm
và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
10. Cá nhân, tổ chức có
tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý, có tài
khoản bị phong tỏa hoặc cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến các trường hợp
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều này bị thiệt hại.
Điều
19. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Tự mình áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật;
2. Áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, tổ chức yêu cầu;
3. Áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân,
tổ chức;
4. Áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng;
5. Ra bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cơ quan có thẩm quyền kết luận là trái pháp
luật mà người ra bản án, quyết định đó bị xử lý kỷ luật, xử lý trách nhiệm hình
sự;
6. Thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm
hư hỏng tài liệu, chứng cứ hoặc bằng hành vi khác làm sai lệch nội dung vụ án,
vụ việc dẫn đến việc ban hành bản án, quyết định trái pháp luật.
Điều
20. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động thi hành án hình sự
Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Thi hành án tử hình
đối với người thuộc trường hợp không bị thi hành án tử hình quy định tại Bộ luật
Hình sự;
2. Giam người bị kết án
phạt tù quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án;
3. Không thực hiện một
trong các quyết định sau đây:
a) Hoãn thi hành án của
Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;
b) Tạm đình chỉ thi
hành án của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;
c) Giảm thời hạn chấp
hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;
d) Tha tù trước thời hạn
có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;
đ) Đặc xá của Chủ tịch
nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá;
e) Đại xá của Quốc hội
đối với người bị kết án được đại xá.
Điều
21. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động thi hành án dân sự
Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Ra hoặc không ra một
trong các quyết định sau đây trái pháp luật:
a) Thi hành án;
b) Hủy, thu hồi, sửa đổi,
bổ sung quyết định thi hành án;
c) Áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án;
d) Cưỡng chế thi hành
án;
đ) Hoãn thi hành án;
e) Tạm đình chỉ, đình
chỉ thi hành án;
g) Tiếp tục thi hành án;
2. Tổ chức thi hành hoặc
không tổ chức thi hành một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này
trái pháp luật.
Chương
III
THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG
Điều 22. Xác định thiệt hại
1.[16] Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh quy định
tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này, các khoản lãi
quy định tại Điều 23 và chi phí khác quy định tại Điều 28 của Luật này.
2.[17] Giá trị thiệt hại được bồi thường được
tính bằng đồng Việt Nam.
Giá
trị thiệt hại được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định
tại Điều 43 của Luật này hoặc tại thời điểm Tòa án có thẩm quyền xác định
giá trị thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 hoặc
Điều 55 của Luật này. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật
này thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu
bồi thường trước đó.
3. Khoảng
thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường quy định tại các khoản
3, 4 và 5 Điều 23, Điều 24, các khoản 1, 2 và 3 Điều 25, các khoản 1, 2, 3 và
điểm a khoản 4 Điều 26, khoản 3 Điều 27 của Luật này được tính từ ngày phát
sinh thiệt hại thực tế cho đến khi chấm dứt thiệt hại đó.
Chính
phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 23. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
1. Trường
hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá
thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ
thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy
định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này. Thời điểm để xác định hiện trạng tài sản
làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.
2. Trường
hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo
giá thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này để sửa
chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục
thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường
hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại
được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường
có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê
trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ
thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều
22 của Luật này; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu
nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng
liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời
điểm thiệt hại xảy ra.
4. Trường
hợp các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền
đã đặt để bảo đảm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì phải hoàn trả
các khoản tiền đó và khoản lãi cho người bị thiệt hại.
Trường
hợp các khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi
vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Trường
hợp các khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính
theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
trong trường hợp không có thỏa
thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều
22 của Luật này.
5. Trường
hợp người bị thiệt hại không thể thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế
đã có hiệu lực và đã phải thanh toán tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch
dân sự, kinh tế đó thì thiệt hại được xác định là số tiền phạt theo mức phạt đã
thỏa thuận và khoản lãi của khoản tiền phạt đó.
Trường
hợp khoản tiền phạt đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi
vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Trường
hợp khoản tiền phạt đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính
theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
trong trường hợp không có thỏa
thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều
22 của Luật này.
6. Trường
hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì thiệt hại
được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.
7.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 24. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
1. Thu
nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là cá nhân được xác
định như sau:
a) Thu
nhập ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định theo mức tiền lương, tiền
công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất
hoặc bị giảm sút;
b) Thu
nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền
lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy
ra trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thu
nhập không ổn định theo mùa vụ được xác định là thu nhập trung bình của lao động
cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị
giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại
địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01
ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt
hại.
Ngày
lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước
quy định chia cho 26 ngày.
2. Thu
nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là tổ chức bao gồm
các khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thu nhập
được bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình của 02 năm liền kề
trước thời điểm xảy ra thiệt hại. Việc xác định thu nhập trung bình được căn cứ
vào báo cáo tài chính của tổ chức theo quy định của pháp luật. Trường hợp tổ chức
được thành lập chưa đủ 02 năm tính đến thời điểm xảy ra thiệt hại thì thu nhập
được bồi thường được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình trong thời gian hoạt
động thực tế theo báo cáo tài chính của tổ chức đó theo quy định của pháp luật.
Điều 25. Thiệt hại về vật chất do
người bị thiệt hại chết
1. Chi
phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh
cho người bị thiệt hại trước khi chết.
2. Chi
phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại trước khi chết được xác định là
01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh,
chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án.
3. Chi
phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian khám bệnh, chữa bệnh
trước khi chết được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.
4. Chi
phí cho việc mai táng người bị thiệt hại chết được xác định theo mức trợ cấp
mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
5. Tiền
cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng
đang cư trú cho mỗi tháng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác hoặc đã được xác định theo bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 26. Thiệt hại về vật chất do sức
khỏe bị xâm phạm
1. Chi
phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh
cho người bị thiệt hại.
2. Chi
phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối
thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo
số ngày trong hồ sơ bệnh án.
3. Chi
phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian khám bệnh, chữa bệnh
được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.
4. Trường
hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và có người thường xuyên chăm sóc
thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
a) Chi
phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối
thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt
hại;
b) Tiền
cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng cư
trú cho mỗi tháng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác hoặc đã được xác định theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 27. Thiệt hại về tinh thần
1.[18] Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu được xác định là
0,5 ngày lương theo mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (sau đây gọi là ngày
lương cơ sở) cho 01 ngày bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,
phường, đặc khu.
2.[19] Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp
người bị thiệt hại bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính,
bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc
được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị áp dụng biện pháp tạm giữ
người theo thủ tục hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc.
3. Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị khởi tố, truy tố, xét xử,
thi hành án, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong hoạt động tố tụng hình sự được
xác định như sau:
a) Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp được xác định là 02 ngày lương cơ sở;
b) Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam,
chấp hành hình phạt tù được xác định là 05 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị bắt,
tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;
c) Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm
giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù được xác định là 02
ngày lương cơ sở cho 01 ngày không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt,
trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này;
d) Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chấp hành hình phạt cải tạo
không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo được xác định là 03 ngày lương cơ sở
cho 01 ngày chấp hành hình phạt;
đ) Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt
theo bản án, quyết định của Tòa án mà sau đó mới có bản án, quyết định của cơ
quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc
trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định là 02
ngày lương cơ sở cho 01 ngày chưa có bản án, quyết định của cơ quan, người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp
được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.
4. Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360
tháng lương cơ sở. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì không áp dụng bồi thường
thiệt hại về tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.
5.[20] Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức
khỏe của người bị thiệt hại bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khỏe
bị tổn hại nhưng không quá 50 tháng lương cơ sở.
6. Thiệt
hại về tinh thần trong trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc
trái pháp luật được xác định là 01 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị buộc thôi việc
trái pháp luật.
7.[21] Ngày lương cơ sở được xác định là 01 tháng lương cơ sở chia cho 22
ngày.
Chính
phủ hướng dẫn việc xác định thiệt hại về tinh thần và thiệt hại khác quy định tại
Luật này khi lương cơ sở bị bãi bỏ.
Điều 28. Các chi phí khác được bồi
thường
1. Các
chi phí hợp lý khác được bồi thường bao gồm:
a) Chi
phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình
khiếu nại, tố cáo; chi phí thuê người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị thiệt hại;
b) Chi
phí đi lại để thăm gặp của thân nhân người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người
chấp hành án phạt tù trong tố tụng hình sự.
Thân
nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người chấp hành án phạt tù được
xác định theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, pháp luật về
thi hành án hình sự.
2. Chi
phí quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được xác định như sau:
a) Chi
phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu được thanh toán theo hóa
đơn, chứng từ hợp pháp với giá trị được xác định tại thời điểm quy định tại khoản
2 Điều 22 của Luật này nhưng tối đa không quá mức quy định của Bộ Tài chính về
chế độ công tác phí đối với cán bộ, công chức; chế độ chi tổ chức hội nghị đối
với cơ quan nhà nước.
Trường
hợp người yêu cầu bồi thường không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp đối
với các chi phí quy định tại điểm này thì chi phí được bồi thường không quá 06
tháng lương cơ sở tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này cho
01 năm tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại hoặc tố cáo hoặc tham gia tố tụng
cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm
quyền;
b) Chi
phí gửi đơn thư đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết được tính
theo biên lai cước phí bưu chính với giá trị được xác định tại thời điểm quy định
tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.
Trường
hợp người yêu cầu bồi thường không xuất trình được biên lai cước phí đối với
các chi phí quy định tại điểm này thì chi phí được bồi thường không quá 01
tháng lương cơ sở tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này cho
01 năm tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại hoặc tố cáo hoặc tham gia tố tụng
cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm
quyền;
c) Chi
phí thuê người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
thiệt hại được thanh toán theo hợp đồng thực tế nhưng không quá mức thù lao do
Chính phủ quy định đối với luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến
hành tố tụng và chỉ thanh toán cho một người bào chữa hoặc một người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại tại một thời điểm.
3. Chi
phí quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được xác định theo số người, số lần
thăm gặp thực tế nhưng không quá số người, số lần được thăm gặp tối đa theo quy
định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, pháp luật về thi hành án hình
sự. Trường hợp không chứng minh được số người, số lần thăm gặp thực tế thì chi
phí này được xác định theo số người, số lần được thăm gặp tối đa theo quy định
của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, pháp luật về thi hành án hình sự.
4. Khoảng
thời gian làm căn cứ xác định chi phí được bồi thường quy định tại Điều này được
tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi
thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 29. Khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp khác đối với người bị thiệt hại
1. Ngoài
các thiệt hại được bồi thường quy định tại các điều 23, 24, 25, 26, 27 và 28 của
Luật này, người bị thiệt hại là cá nhân còn được khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp sau đây:
a)
Khôi phục chức vụ (nếu có), việc làm và các chế độ, chính sách theo quy định của
pháp luật có liên quan;
b)
Khôi phục quyền học tập;
c)
Khôi phục tư cách thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp;
d)[22] Các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy
định của pháp luật.
2.
Ngoài các thiệt hại được bồi thường quy định tại các điều 23, 24, 25, 26, 27 và
28 của Luật này, người bị thiệt hại là tổ chức còn được khôi phục quyền, lợi
ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
3.
Trình tự, thủ tục khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật và các quy định,
quy chế, điều lệ của các tổ chức có liên quan.
Điều 30. Trả lại tài sản
1. Tài
sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu trái pháp luật phải được trả lại
ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ.
2. Việc
trả lại tài sản bị tạm giữ, tịch thu trái pháp luật trong hoạt động quản lý
hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính.
3. Việc
trả lại tài sản bị kê biên trái pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự được
thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
4. Việc
trả lại tài sản bị thu giữ trái pháp luật trong hoạt động tố tụng được thực hiện
theo quy định của pháp luật về tố tụng và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều 31. Phục hồi danh dự
1.[23] Người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng
hình sự, công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, người bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật thì được phục hồi danh dự.
2. Cơ
quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chủ
động thực hiện việc phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Việc phục hồi danh dự được thực hiện theo
quy định tại Mục 3 Chương V của Luật này.
Điều 32. Các thiệt hại Nhà nước
không bồi thường
1. Nhà nước không bồi thường
các thiệt hại sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra một
cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù
người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho
phép;
c) Thiệt hại xảy ra
trong hoàn cảnh người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa
trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại hoặc
của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây ra một thiệt
hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều
23 của Luật này.
2. Ngoài các thiệt hại
quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước không
bồi thường các thiệt hại sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra
trong trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Thiệt hại xảy ra do
người bị thiệt hại khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng sai sự
thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm;
c) Thiệt hại xảy ra do
người có hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu rõ ràng cấu thành tội phạm, bị
khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố;
d) Thiệt hại xảy ra do
người bị khởi tố, truy tố, xét xử đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại
thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định
thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo các văn bản quy phạm pháp luật
mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử.
3. Ngoài các thiệt hại
quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành
chính, Nhà nước không bồi thường thiệt hại xảy ra khi người thi hành công vụ áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đúng yêu cầu của người yêu cầu mà gây thiệt
hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba. Người
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại
cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt
hại theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4. Ngoài các thiệt hại
quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động thi hành án dân sự, Nhà nước
không bồi thường thiệt hại xảy ra khi người thi hành công vụ áp dụng biện pháp
bảo đảm thi hành án theo đúng yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại. Người yêu
cầu chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người
bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại
theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Chương
IV
CƠ QUAN GIẢI QUYẾT BỒI
THƯỜNG
Điều
33. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính
1.[24] Cơ quan giải quyết bồi thường ở trung ương bao gồm:
a) Bộ,
cơ quan ngang Bộ là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi
hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình, trừ trường
hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Cục và tương đương
thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ
thống ngành dọc tại địa phương có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng là
cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt
hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.
2. Cơ quan giải quyết bồi
thường ở tỉnh, thành phố bao gồm:[25]
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây
thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình, trừ trường hợp quy định
tại điểm b khoản này;
b) Cơ quan chuyên môn
hoặc các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có tư cách pháp
nhân, có tài khoản riêng là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người
thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.
3.[26] (được bãi bỏ)
4. Ủy ban nhân dân cấp xã
là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây
thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.
5. Cơ quan có thẩm quyền
cung cấp thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin.
6.[27] Cơ quan có thẩm quyền
áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và luật khác
có liên quan.
7. Cơ quan ra quyết định
xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức.
8. Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự,
tố tụng hành chính; Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính
theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Điều
34. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra hoặc
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan giải quyết
bồi thường trong các trường hợp sau đây:
1. Đã ra lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; đã ra lệnh bắt,
quyết định tạm giữ nhưng cơ quan, người có thẩm quyền quyết định trả tự do, hủy
bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, không phê chuẩn quyết định gia
hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
2. Đã ra quyết định khởi
tố bị can nhưng Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định khởi tố vì không có sự
việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Viện kiểm sát quyết
định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra
bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết
định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi
không cấu thành tội phạm.
Điều
35. Viện kiểm sát giải quyết bồi thường trong
hoạt động tố tụng hình sự
Viện kiểm sát là cơ
quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:
1. Đã phê chuẩn lệnh bắt,
quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng người bị bắt, bị tạm giữ không có
hành vi vi phạm pháp luật;
2. Đã phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh
tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan, người
có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội
phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực
hiện tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật này; đã quyết
định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng căn cứ kết quả điều tra bổ sung,
Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì không có sự
việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều
tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
3. Đã ra quyết định
truy tố bị can nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không có sự
việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu
lực pháp luật;
4. Tòa án cấp sơ thẩm
quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của
cơ quan, người có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự
việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều
tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
5. Tòa án cấp sơ thẩm
quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó tuyên bị cáo không
có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản
án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;
6. Tòa án cấp phúc thẩm
giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội
vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
7. Tòa án cấp phúc thẩm
giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội
vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và sau đó
Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết
định của Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc
phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
Điều
36. Tòa án giải quyết bồi thường trong hoạt động
tố tụng hình sự
1. Tòa án cấp sơ thẩm là cơ quan giải quyết bồi
thường trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo
không có tội và đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không
cấu thành tội phạm;
b) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm
tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án
mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
c) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại
mà sau đó bị cáo được tuyên không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành
vi không cấu thành tội phạm;
d) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì không có sự việc
phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
đ) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được
đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi
không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng
minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
e) Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo có tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được
tuyên không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội
phạm.
2. Tòa án cấp phúc thẩm
là cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án cấp phúc thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản
án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không
cấu thành tội phạm;
b) Tòa án cấp phúc thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản
án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc
đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội
phạm;
c) Tòa án cấp phúc thẩm
tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản
án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên không có tội vì không có
sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
3.[28] Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái
thẩm là cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:
a)
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định
bị cáo có tội và đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không
cấu thành tội phạm;
b)
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định
bị cáo có tội để điều tra lại nhưng sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình
chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc
đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội
phạm;
c) Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh,
Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định bị cáo có tội để xét
xử lại nhưng sau đó bị cáo được tuyên không có tội vì không có sự việc phạm tội
hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
4. Tòa án nhân dân tối
cao là cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của mình mà quyết
định bị hủy đã xác định bị cáo có tội, hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
đã có hiệu lực pháp luật, đồng thời quyết định về nội dung vụ án và tuyên bị
cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội
phạm;
b) Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của mình mà quyết
định bị hủy đã xác định bị cáo có tội, hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại nhưng sau đó bị can được đình chỉ điều
tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội
phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực
hiện tội phạm;
c) Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của mình mà quyết
định bị hủy đã xác định bị cáo có tội, hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại nhưng sau đó bị cáo được tuyên không có
tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
Điều
37. Tòa án giải quyết bồi thường trong hoạt động
tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
1. Tòa án có thẩm quyền
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2,
3 và 4 Điều 19 của Luật này là cơ quan giải quyết bồi thường.
2. Tòa án cấp sơ thẩm
là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp ra bản án, quyết định sơ thẩm
đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 19 của Luật này
mà bản án, quyết định đó bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
3. Tòa án cấp phúc thẩm
là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp ra bản án, quyết định phúc thẩm
đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 19 của Luật này
mà bản án, quyết định đó bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
4. Tòa án xét xử theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp
ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản
5 và khoản 6 Điều 19 của Luật này mà quyết định đó bị hủy theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm.
5. Tòa án đã ra bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 19 của
Luật này là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án, quyết định đó theo thủ tục đặc biệt, trừ
trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.
6. Tòa án nhân dân tối
cao là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hủy quyết định của mình, hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp
dưới đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 19 của Luật
này theo thủ tục đặc biệt và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa
án nhân dân tối cao.
7. Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Điều
38. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động
thi hành án hình sự
1. Cơ quan thi hành án
hình sự các cấp trong Công an nhân dân theo quy định của Luật Thi hành án hình
sự.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự các cấp trong Quân đội nhân dân theo quy định của Luật Thi hành án hình
sự.
3. Cơ quan được giao một
số nhiệm vụ thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
4. Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Điều
39. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động
thi hành án dân sự
1.[29] Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành
phố.
2. Cơ quan Thi
hành án quân khu và tương đương.
3. Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Điều
40. Xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể
1. Trường hợp cơ quan
giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây
thiệt hại thì việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp
cụ thể được quy định như sau:
a) Trường hợp cơ quan
giải quyết bồi thường đã được chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể
thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan giải quyết bồi
thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan giải quyết bồi
thường; trường hợp cơ quan đã ra quyết định giải thể là Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì cơ quan quản lý nhà nước về
công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường;
b) Trường hợp có nhiều
người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây thiệt hại thì cơ quan chủ
trì thực hiện nhiệm vụ là cơ quan giải quyết bồi thường; trường hợp không có sự
thống nhất về cơ quan giải quyết bồi thường thì cơ quan quản lý nhà nước về
công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường;
c) Trường hợp tại thời
điểm thụ lý yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây thiệt hại không
còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó tại thời điểm gây thiệt hại thì cơ
quan giải quyết bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời
điểm gây thiệt hại;
d) Trường hợp có sự ủy
quyền hoặc ủy thác thực hiện công vụ thì cơ quan ủy quyền hoặc cơ quan ủy thác
là cơ quan giải quyết bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận
ủy thác là cơ quan nhà nước thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây
thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan giải quyết bồi thường.
2. Trường hợp giải quyết
yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án
thì Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án là cơ quan giải quyết bồi thường.
3. Trường hợp người yêu
cầu bồi thường đồng thời yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công
vụ gây thiệt hại và Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thì cơ
quan đã thụ lý yêu cầu bồi thường trước là cơ quan giải quyết bồi thường.
Chương
V
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU
BỒI THƯỜNG
Mục
1. GIẢI QUYẾT
YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TẠI CƠ QUAN TRỰC TIẾP QUẢN LÝ NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY THIỆT HẠI
Điều 41. Hồ sơ yêu cầu bồi thường[30]
1. Hồ sơ yêu cầu
bồi thường bao gồm:
a) Văn bản yêu cầu bồi thường do người yêu cầu bồi thường gửi theo
quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường do cơ quan giải quyết bồi
thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp.
2. Yêu cầu bồi thường được gửi qua một trong các hình thức sau đây:
a) Môi
trường số;
b) Trực
tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc tại Bộ phận Một cửa theo quy định của
pháp luật;
c) Dịch
vụ bưu chính.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 42. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ[31]
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận văn bản
yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm kiểm tra tính
đầy đủ của hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy
đủ theo quy định thì yêu cầu người yêu cầu bồi thường bổ sung. Trường hợp hồ
sơ chưa có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc nội dung văn bản làm căn
cứ yêu cầu bồi thường chưa rõ thì yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp
hoặc làm rõ.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 43. Thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường[32]
1. Trong thời hạn 02
ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ theo quy định, cơ quan giải
quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ, ghi vào sổ thụ lý, cử người giải quyết bồi thường
và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà
nước về công tác bồi thường nhà nước, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Thời hạn giải
quyết bồi thường được tính từ ngày thụ lý hồ sơ.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ
mà có một trong các căn cứ sau đây thì cơ quan giải quyết bồi thường thông báo
bằng văn bản về việc không thụ lý cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản
lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước:
a) Người yêu cầu bồi
thường rút yêu cầu bồi thường;
b) Thời
hiệu yêu cầu bồi thường đã hết;
c) Yêu
cầu bồi thường không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định
tại Luật này;
d) Người
yêu cầu bồi thường không phải là người có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định
tại Điều 5 của Luật này;
đ) Yêu cầu bồi thường đã được thực hiện theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 52 của Luật này và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo
thủ tục tố tụng dân sự;
e) Yêu cầu bồi thường đã được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận
theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật này;
g) Yêu cầu bồi thường đã được giải quyết bằng bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn bổ sung hồ sơ
theo quy định mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung hoặc kể từ ngày cơ quan
giải quyết bồi thường nhận được văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
thông báo không có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì cơ quan giải quyết
bồi thường thông báo bằng văn bản về việc
không thụ lý cho
người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà
nước.
4. Trong thời hạn
02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường và có căn cứ xác
định yêu cầu bồi thường thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác
thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có thẩm
quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.
5. Người
giải quyết bồi thường là người có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trong
ngành, lĩnh vực phát sinh yêu cầu bồi thường; không được là người có quyền và lợi
ích liên quan đến vụ việc hoặc là người thân thích theo quy định của Bộ luật
Dân sự của người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại.
6. Trường
hợp đã thụ lý hồ sơ mà cơ quan giải quyết bồi thường xác định có một trong các
căn cứ quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g khoản 2 và khoản 4 Điều này thì cơ
quan giải quyết bồi thường dừng việc giải quyết, xóa tên vụ việc trong sổ thụ
lý và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý
nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ
ngày dừng việc giải quyết và xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý.
Trường
hợp yêu cầu bồi thường không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan
đã thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường theo quy định
tại khoản 4 Điều này.
7. Trường
hợp người bị thiệt hại chỉ yêu cầu phục hồi danh dự thì không ra quyết định giải
quyết bồi thường theo quy định tại Mục này. Việc phục hồi danh dự được thực hiện
theo quy định tại Mục 3 Chương này.
Điều 44. Tạm ứng kinh phí bồi thường[33]
1.
Theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường, cơ quan trực tiếp quản lý người thi
hành công vụ gây thiệt hại tạm ứng kinh phí bồi thường đối với những thiệt hại
sau đây:
a) Thiệt
hại về tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 27 của Luật
này;
b) Thiệt
hại khác có thể tính được ngay mà không cần xác minh.
2. Thủ
trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định
mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường nhưng không dưới 75% giá trị các thiệt
hại quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
45. Xác minh thiệt hại
1.[34] Người giải quyết bồi thường có trách nhiệm thực hiện việc
xác minh các thiệt hại được yêu cầu trong hồ sơ. Trong trường hợp cần thiết,
người giải quyết bồi thường có thể yêu cầu người yêu cầu bồi thường, cá nhân, tổ
chức khác có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc xác minh
thiệt hại; đề nghị định giá tài sản, giám định thiệt hại; sử dụng kết quả giám
định thiệt hại của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật do người yêu cầu bồi thường cung cấp hoặc lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức
có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường.
2.[35] Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ,
người giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Trường hợp
vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác
minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại là 20 ngày làm việc.
Thời hạn xác minh thiệt
hại có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người
giải quyết bồi thường. Thời gian kéo dài theo thỏa thuận không tính vào
thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường.
3.[36] Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc
xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải ban hành báo cáo xác
minh thiệt hại và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ
quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
4. Trong trường hợp vụ
việc phức tạp, cơ quan giải quyết bồi thường có thể đề nghị đại diện cơ quan quản
lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan tài chính có thẩm quyền
tham gia vào việc xác minh thiệt hại.
5. Chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại
được bảo đảm từ ngân sách nhà nước.
6. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 46. Thương lượng việc bồi thường[37]
1.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ban hành báo cáo xác minh thiệt hại,
cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường, trừ
trường hợp người yêu cầu bồi thường từ chối thương lượng theo quy định tại các
điểm b, c và d khoản 1 Điều 47 của Luật này. Trong thời hạn 08 ngày làm việc kể
từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường
hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp thì thời
hạn thương lượng tối đa là 10 ngày làm việc.
Thời hạn
thương lượng có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường
và người giải quyết bồi thường. Thời gian kéo dài theo thỏa thuận không
tính vào thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Việc
thương lượng phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Người
yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường đều bình đẳng trong quá trình
thương lượng;
b) Bảo
đảm dân chủ, tôn trọng ý kiến của các thành phần tham gia thương lượng;
c) Nội
dung thương lượng, kết quả thương lượng về các thiệt hại được bồi thường, mức bồi
thường phải phù hợp với quy định của Luật này;
d) Kết
quả thương lượng phải được lập thành biên bản.
3. Thành phần tham gia thương
lượng việc bồi thường bao gồm:
a) Đại
diện lãnh đạo cơ quan giải quyết bồi thường chủ trì thương lượng việc bồi thường;
b) Người
giải quyết bồi thường;
c) Người
yêu cầu bồi thường; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nếu có) của người
yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này;
d) Đại
diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;
đ) Đại
diện Viện kiểm sát có thẩm quyền trong trường hợp vụ việc yêu cầu bồi thường
trong hoạt động tố tụng hình sự;
e) Trường
hợp cần thiết, cơ quan giải quyết bồi thường có thể mời đại diện cơ quan tài
chính cùng cấp, cá nhân, tổ chức khác, yêu cầu người thi hành công vụ gây thiệt
hại tham gia thương lượng.
4. Nội
dung thương lượng việc bồi thường bao gồm:
a) Các
loại thiệt hại được bồi thường;
b) Số
tiền bồi thường;
c)
Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);
d)
Phương thức chi trả tiền bồi thường;
đ) Các
nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
47. Quyết định giải quyết bồi thường[38]
1. Thủ trưởng cơ quan
giải quyết bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn
02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Biên bản kết quả
thương lượng được lập;
b) Cơ quan giải quyết bồi
thường nhận được đề nghị không tổ chức việc thương lượng của người yêu cầu bồi
thường;
c) Người yêu cầu bồi
thường hai lần từ chối nhận giấy mời tham gia thương lượng;
d) Người yêu cầu bồi
thường hai lần không đến địa điểm thương lượng khi đã nhận giấy mời mà không có
lý do chính đáng.
2. Quyết định giải quyết
bồi thường có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được
quyết định giải quyết bồi thường, trừ trường hợp người yêu cầu bồi
thường và cơ quan giải quyết bồi thường thỏa thuận quyết định giải
quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn thời hạn quy định tại khoản
này và được ghi rõ trong biên bản kết quả thương lượng.
3. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người
yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
có thẩm quyền trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy
định chi tiết Điều này.
Điều
48. Hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết
bồi thường
1. Thủ trưởng cơ quan
giải quyết bồi thường ra quyết định hủy quyết định giải quyết bồi thường và
đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ
ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Không còn một trong
các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều
7 của Luật này;
b) Giả mạo văn bản làm căn
cứ yêu cầu bồi thường;
c)[39] Giả mạo tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền yêu cầu bồi
thường và việc yêu cầu bồi thường.
2. Hậu quả do hủy quyết
định giải quyết bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này được giải quyết như
sau:
a) Trường hợp chưa chi
trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại thì cơ quan giải quyết bồi thường ra
quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật
này và thu hồi số tiền bồi thường đã tạm ứng (nếu có);
b) Trường hợp đã chi trả
tiền bồi thường cho người bị thiệt hại thì cơ quan giải quyết bồi thường có
trách nhiệm thu hồi số tiền bồi thường theo quy định của pháp luật;
c) Trường hợp người thi
hành công vụ gây thiệt hại đã hoàn trả tiền bồi thường thì cơ quan trực tiếp quản
lý người thi hành công vụ có trách nhiệm trả lại số tiền đã thu theo quy định tại
Điều 69 của Luật này;
d) Giải quyết các hậu
quả khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.
3.[40] Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các
căn cứ sau đây, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hủy quyết
định giải quyết bồi thường và giải quyết lại yêu cầu bồi thường:
a) Có
hành vi thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường,
người có liên quan để trục lợi;
b) Theo yêu cầu của người
yêu cầu bồi thường trong trường hợp người giải quyết bồi thường không đáp ứng
điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 43 của Luật này hoặc việc thương lượng
được thực hiện không đúng quy định của Luật này.
3a.[41] Việc giải quyết
lại yêu cầu bồi thường được thực hiện theo thủ tục quy định tại Chương V của Luật
này, bắt đầu từ công việc, thủ tục làm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết
bồi thường.
Đối với những công việc, thủ tục đã được thực hiện đúng quy định của Luật
này trước thời điểm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết bồi thường thì
không phải thực hiện lại.
4. Thủ trưởng cơ quan
giải quyết bồi thường ra quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi
thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện quyết định giải quyết
bồi thường có lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán
sai.
5. Quyết định hủy, sửa
chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi ngay cho người yêu
cầu bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm
quyền và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều
49. Hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường
1.[42] Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định
hoãn giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu
cầu bồi thường đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường hoãn giải quyết yêu cầu bồi
thường do ốm nặng có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của
pháp luật hoặc có lý do chính đáng khác mà không thể tự mình tham gia vào quá
trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Thời hạn hoãn giải
quyết yêu cầu bồi thường được xác định theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường
nhưng tối đa là 30 ngày, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường bị ốm nặng mà
chưa thể tự mình tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
3. Quyết định hoãn giải
quyết bồi thường phải nêu rõ lý do, thời hạn hoãn và phải được gửi cho người
yêu cầu bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có
thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Hết thời hạn hoãn giải
quyết yêu cầu bồi thường thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết
định tiếp tục giải quyết bồi thường.
Điều 50. Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường[43]
1. Thủ
trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết bồi
thường trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau
đây:
a) Cơ quan,
người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;
b) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc
sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước
mới giải quyết được vụ việc yêu cầu bồi thường.
2. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xem
xét lại mà văn bản được xem xét lại vẫn là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường
thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết
bồi thường; trường hợp văn bản được xem xét lại không phải là văn bản làm căn cứ
yêu cầu bồi thường thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn
bản xem xét lại, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ
giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật này.
3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này thì trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả
giải quyết, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải
quyết bồi thường hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo
quy định tại Điều 51 của Luật này.
4. Quyết định tạm đình
chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu
bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm
quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều
51. Đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường
1.[44] Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình
chỉ giải quyết bồi thường trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một
trong các căn cứ sau đây:
a) Người
yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường sau khi cơ quan giải quyết bồi thường
tiến hành xác minh thiệt hại nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết bồi thường
hoặc đã ban hành quyết định giải quyết bồi thường nhưng chưa có hiệu lực;
b) Người
bị thiệt hại chết mà không có người thừa kế; tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn
tại mà không có tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ;
c) Có quyết định hủy
quyết định giải quyết bồi thường trong các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 48 của Luật này.
2. Người yêu cầu bồi
thường không có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết lại yêu cầu bồi thường
sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường, trừ trường hợp người yêu
cầu bồi thường chứng minh việc rút yêu cầu bồi thường do bị lừa dối, ép buộc.
Trường hợp quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này mà trong văn bản yêu cầu bồi thường của người bị thiệt
hại có yêu cầu phục hồi danh dự thì việc phục hồi danh dự được thực hiện theo
quy định tại Điều 59 của Luật này.
3. Quyết định đình chỉ
giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu bồi thường, cơ quan quản
lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác có liên quan.
4. Trường hợp đã tạm ứng
kinh phí bồi thường cho người yêu cầu bồi thường thì cơ quan giải quyết bồi thường
có trách nhiệm thu hồi số tiền đã tạm ứng khi có quyết định đình chỉ giải quyết
bồi thường, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Mục
2. GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN DÂN SỰ VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG, GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN
Điều
52. Khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án
1. Trong thời hạn 03
năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi
thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong
các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu bồi
thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt
hại giải quyết yêu cầu bồi thường;
b)[45] Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi
cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại.
2.[46] Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải
quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật này hoặc hết thời
hạn quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật này mà cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi
thường thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
yêu cầu bồi thường.
3. Trường hợp do sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho
người yêu cầu bồi thường không thể khởi kiện đúng thời hạn thì khoảng thời gian
có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không được tính vào thời hạn
khởi kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Người yêu cầu bồi
thường không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường
trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật
này đã có hiệu lực pháp luật.
5. Thủ tục giải quyết
yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Mục này; trường
hợp Mục này không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6. Vụ án có đủ điều kiện
áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc giải
quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo thủ tục rút gọn.
7. Cơ quan trực tiếp quản
lý người thi hành công vụ gây thiệt hại đại diện Nhà nước tham gia tố tụng với
tư cách là bị đơn.
Điều 53. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân
sự về yêu cầu bồi thường[47]
Tòa án nhân dân khu
vực nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của
cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của
người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường.
Điều
54. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về
giải quyết yêu cầu bồi thường
1. Cơ quan trực tiếp quản
lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường
cho người yêu cầu bồi thường theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của
Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Cơ quan, tổ chức,
người có liên quan phải thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác
cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
về giải quyết yêu cầu bồi thường.
Điều
55. Giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá
trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án
1. Việc giải quyết vụ
án hình sự, vụ án hành chính có nội dung yêu cầu bồi thường được thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.
Thời điểm chấp nhận yêu
cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là thời điểm
Tòa án có thẩm quyền thụ lý yêu cầu bồi thường.
2. Việc xác định thiệt
hại được bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính được thực
hiện theo quy định của Luật này sau khi Tòa án có thẩm quyền xác định hành vi trái
pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước.
3. Trường hợp giải quyết
yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính thì bản
án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung sau đây:
a) Hành vi gây thiệt hại
thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
b) Thiệt hại, mức bồi
thường, phục hồi danh dự (nếu có) và việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp
khác (nếu có);
c) Cơ quan có trách nhiệm
chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có) và khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp khác (nếu có).
4. Trường hợp người yêu
cầu bồi thường không đồng ý với nội dung giải quyết bồi thường trong bản án,
quyết định của Tòa án hoặc bản án, quyết định của Tòa án không có nội dung giải
quyết bồi thường thì chỉ được tiếp tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo
thủ tục tố tụng.
5. Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Mục
3. PHỤC HỒI
DANH DỰ
Điều
56. Hình thức phục hồi danh dự
1. Việc phục hồi danh dự
đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bằng
các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp xin lỗi và
cải chính công khai tại nơi cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá
nhân hoặc tại nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân
thương mại;
b) Đăng báo xin lỗi và
cải chính công khai.
2.[48] Việc phục hồi danh dự đối với cá nhân là người bị thiệt hại
trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính trái pháp luật được thực hiện bằng hình thức đăng báo xin lỗi và cải
chính công khai.
Điều
57. Chủ động phục hồi danh dự
1.[49] Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản làm
căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kể từ ngày có bản án, quyết định quy định tại Điều
55 của Luật này có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi
hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người bị
thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự.
2. Trường hợp người bị
thiệt hại đồng ý với nội dung trong thông báo thì cơ quan trực tiếp quản lý người
thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện phục hồi danh dự theo quy định tại Điều
58 và Điều 59 của Luật này.
3. Trường hợp người bị
thiệt hại không đồng ý với nội dung trong thông báo thì có ý kiến đề nghị cụ thể
về nội dung đó để cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại
có cơ sở thực hiện phục hồi danh dự.
4. Trường hợp người bị
thiệt hại đề nghị chưa thực hiện phục hồi danh dự thì việc phục hồi danh dự được
thực hiện khi người bị thiệt hại có yêu cầu bằng văn bản.
5. Trường hợp người bị
thiệt hại từ chối quyền được phục hồi danh dự theo quy định của Luật này thì
không còn quyền yêu cầu phục hồi danh dự. Việc từ chối phải thể hiện bằng văn bản;
trường hợp người bị thiệt hại từ chối quyền được phục hồi danh dự bằng lời nói
thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại lập biên bản,
trong đó ghi rõ việc từ chối quyền được phục hồi danh dự của người bị thiệt hại.
Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người bị thiệt hại.
6. Trường hợp người bị
thiệt hại chết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại
thực hiện việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai theo quy định tại Điều
59 của Luật này.
7. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
58. Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai
1. Việc tổ chức trực tiếp
xin lỗi và cải chính công khai quy định tại điểm a khoản 1 Điều 56 của Luật này
được thực hiện như sau:
a)[50] Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản
đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, Thủ trưởng
cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm tổ
chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai;
b) Thành phần tham gia
buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai bao gồm đại diện lãnh đạo các cơ
quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
59. Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai
1.[51] Việc đăng báo xin lỗi và cải
chính công khai quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 56 của Luật
này được thực hiện như sau:
a) Trong
thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của
người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người
thi hành công vụ gây thiệt hại ở trung ương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và
cải chính công khai trên 01 báo trung ương và 01 báo địa phương nơi người bị
thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ
sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên
tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện
tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
b) Trong thời hạn 10
ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt
hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ
gây thiệt hại ở địa phương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công
khai trên 01 báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người
bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại
là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải
chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản
lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
c) Ngay sau khi đăng báo xin lỗi và cải chính công khai, cơ
quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi
báo đó tới người bị thiệt hại và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại
cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong
trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại để niêm yết công khai tại
trụ sở.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Chương
VI
KINH PHÍ BỒI THƯỜNG VÀ
THỦ TỤC CHI TRẢ
Điều 60. Kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước[52]
1. Nhà
nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước, bao gồm:
a)
Kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước;
b) Kinh
phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định
thiệt hại.
2. Trường
hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan
quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động
từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung
ương.
3. Trường
hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan
quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động
từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa
phương.
Điều 61. Lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công
tác bồi thường nhà nước[53]
1.
Hằng năm, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện
công tác bồi thường nhà nước gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo
quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Khi
phát sinh kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá
tài sản, giám định thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ
gây thiệt hại sử dụng kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được
giao để chi trả theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
3. Kết
thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt
hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có trách nhiệm
quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước quy định tại khoản 1
Điều 60 của Luật này theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 62. Chi trả tiền bồi thường[54]
1.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có
hiệu lực hoặc nhận được bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi
thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ
gây thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường về việc
chi trả tiền bồi thường.
2.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được
thông báo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan trực tiếp quản lý người thi
hành công vụ gây thiệt hại thực hiện việc chi trả tiền bồi thường theo quyết định
giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu
bồi thường.
3. Hết
thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 1 Điều này mà
người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường được chi trả theo khoản 2
Điều này thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại
thực hiện thủ tục trả lại ngân sách nhà nước.
4. Thời
gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ
luật Dân sự không tính vào thời hạn quy định tại Điều này.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
63.[55] (được bãi bỏ)
Chương
VII
TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ
Điều
64. Nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ
1. Người thi hành công
vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc
toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.
2. Trường hợp có nhiều
người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ hoàn
trả tương ứng với mức độ lỗi của mình và thiệt hại mà Nhà nước phải bồi thường.
Điều
65. Xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả, miễn hoàn trả[56]
1. Căn cứ xác định mức hoàn trả bao gồm:
a) Mức độ lỗi của người
thi hành công vụ;
b) Số tiền Nhà nước đã
bồi thường.
2. Trường hợp có một
người thi hành công vụ gây thiệt hại thì mức hoàn trả được xác định như sau:
a) Người thi hành công
vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại mà có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên người
đó phạm tội thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người
bị thiệt hại;
b)[57] Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương
của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền
mà Nhà nước đã bồi thường;
c) Người thi hành công
vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại thì mức hoàn trả từ 03 đến 05 tháng lương của người
đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước
đã bồi thường;
d) Trường hợp 50% số tiền
Nhà nước đã bồi thường thấp hơn 30 tháng lương quy định tại điểm b khoản này hoặc
thấp hơn 03 tháng lương quy định tại điểm c khoản này thì số tiền người thi
hành công vụ phải hoàn trả bằng 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường.
3. Trường hợp có nhiều
người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại thì mức hoàn trả của từng người được
xác định tương ứng theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng tổng mức hoàn trả
không vượt quá số tiền Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.
4.[58] Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ
gây thiệt hại quyết định giảm mức hoàn trả nhưng tối đa là 30% trên tổng số tiền
phải hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ
trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi và
đã chủ động phòng ngừa, khắc phục tối đa hậu quả;
b) Chủ động khắc phục hậu
quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và
đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả.
4a.[59] Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành
công vụ gây thiệt hại quyết định miễn hoàn trả khi người thi hành công
vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý, chủ động khắc
phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi
thường và thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Thực hiện đề xuất về
đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền
phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội;
b) Mắc
bệnh hiểm nghèo và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy
định của pháp luật;
c) Lâm
vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn;
d) Lập công lớn được
người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
66. Thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm
hoàn trả
1.[60] Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chi trả xong tiền
bồi thường, Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường thành lập Hội đồng
xem xét trách nhiệm hoàn trả. Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc
nhiều cơ quan khác nhau gây thiệt hại, Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả phải
có sự tham gia của đại diện các cơ quan liên quan đến việc gây thiệt hại.
2.[61] Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thành lập, Hội đồng
xem xét trách nhiệm hoàn trả phải hoàn thành việc xác định những người thi hành
công vụ gây thiệt hại, mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại,
trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả của từng người và có văn bản kiến nghị Thủ
trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời
hạn có thể kéo dài nhưng tối đa là 20 ngày làm việc.”;
2a.[62] Trong trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn
trả không xác định được đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2
Điều này thì có văn bản kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả
tiền bồi thường quyết định.
3. Trên cơ sở kiến nghị
của Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả, Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi
thường thực hiện:
a) Ra quyết định hoàn
trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại
điểm b khoản này;
b) Ra quyết định hoàn
trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do mình quản lý trong hoạt động
tố tụng hình sự và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan
ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do cơ quan
đó quản lý.
Thủ trưởng cơ quan trực
tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ban hành quyết định hoàn trả
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.
4. Quyết định hoàn trả
phải được gửi tới người thi hành công vụ có nghĩa vụ hoàn trả, cơ quan quản lý
nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và cơ quan, tổ chức có liên quan đến
việc thu tiền hoàn trả.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 67. Quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả,
quyết định miễn hoàn trả[63]
1. Quyết
định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả có
hiệu lực kể từ ngày ký.
2. Trong trường hợp quyết
định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả
không phù hợp với quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Luật này thì
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở cơ quan trực tiếp quản lý
người thi hành công vụ gây thiệt hại kiến nghị Thủ trưởng cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xem xét lại quyết định hoàn trả,
quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả.
3. Căn cứ vào quyết định
hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực
tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thu số tiền phải
hoàn trả và nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 70 của Luật này.
Điều
68. Thực hiện việc hoàn trả
1. Việc hoàn trả có thể
được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và phải được xác định trong quyết định
hoàn trả.
2. Trường hợp việc hoàn
trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào thu nhập từ tiền lương hằng tháng của
người thi hành công vụ thì mức trừ tối thiểu là 10% và tối đa là 30% thu nhập từ
tiền lương hằng tháng.
3. Trường hợp người thi
hành công vụ phải hoàn trả là người đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc
phụ nữ đang mang thai thì được hoãn việc hoàn trả theo quyết định của Thủ trưởng
cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Điều
69. Xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả
trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu
cầu bồi thường
1. Trường hợp văn bản
làm căn cứ yêu cầu bồi thường bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định không
còn là căn cứ yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây thiệt hại đã
hoàn trả thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có
trách nhiệm trả lại số tiền mà người đó đã hoàn trả.
2. Trường hợp Thủ trưởng
cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại chưa ban hành
quyết định hoàn trả thì đình chỉ việc xác định trách nhiệm hoàn trả.
3. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
70. Trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường
hợp người thi hành công vụ chuyển sang cơ quan, tổ chức khác
1. Cơ quan, tổ chức
đang trực tiếp quản lý, sử dụng, trả lương cho người thi hành công vụ gây thiệt
hại có trách nhiệm thu tiền hoàn trả theo quyết định hoàn trả.
2. Cơ quan trực tiếp quản
lý người thi hành công vụ gây thiệt hại tại thời điểm người đó gây ra thiệt hại
có trách nhiệm yêu cầu cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý, sử dụng, trả
lương cho người thi hành công vụ gây thiệt hại thu tiền hoàn trả theo quyết định
hoàn trả và nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều
71. Trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường
hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ hưu, nghỉ việc
1. Cơ quan Bảo hiểm xã
hội đang trả lương hưu cho người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm
thu tiền theo quyết định hoàn trả và nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước.
2. Trường hợp người thi
hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ việc nhưng không hưởng lương hưu hoặc không
làm việc tại cơ quan, tổ chức nào khác thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi
hành công vụ gây thiệt hại tại thời điểm người đó gây ra thiệt hại có trách nhiệm
tổ chức thực hiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật.
Điều
72. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người
thi hành công vụ gây thiệt hại chết
Trường hợp người thi
hành công vụ gây thiệt hại chết thì quyết định hoàn trả chấm dứt hiệu lực tại
thời điểm người đó chết.
Chương
VIII
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ
QUAN NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
Điều 73. Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường
nhà nước[64]
1.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước và có
các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Chỉ đạo xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành
theo thẩm quyền chiến lược, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật,
chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà nước;
b)
Chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao thực hiện quản lý công tác bồi thường nhà nước;
c) Chỉ
đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước
về công tác bồi thường nhà nước;
d)
Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước;
đ)
Định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về công tác bồi thường nhà nước.
2. Bộ
Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước
về công tác bồi thường nhà nước.
3. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương và
có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây
dựng các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà
nước tại địa phương;
b)
Chỉ đạo, đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn công tác bồi thường nhà nước
tại địa phương;
c)
Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương
trong công tác bồi thường nhà nước;
d)
Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước tại
địa phương;
đ)
Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác bồi thường nhà
nước;
e) Kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực
hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật;
g) Kiến
nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung
giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan
trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết
bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm
a khoản 3 Điều 48 của Luật này mà không ra quyết định hủy;
h)
Thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật này;
i) Hỗ
trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
74. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của mình có trách nhiệm:
1.[65] Phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý công tác bồi
thường nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật này;
2. Kiểm tra, thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bồi thường nhà nước theo quy định của
pháp luật;
3. Chỉ đạo cơ quan giải
quyết bồi thường thực hiện công tác giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm
hoàn trả, thực hiện quyết định hoàn trả, thực hiện xử lý kỷ luật theo thẩm quyền;
4. Xử lý và chỉ đạo xử
lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả;
5. Hằng năm hoặc theo
yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, thống kê,
báo cáo Chính phủ việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước;
6. Chỉ đạo Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp phối hợp với cơ quan có thẩm quyền quản lý
nhà nước thực hiện công tác bồi thường nhà nước;
7. Trả lời, thực hiện
kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;
8. Thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều
75.[66] (được bãi bỏ)
Chương
IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[67]
Điều
76. Án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết yêu cầu
bồi thường
1. Cơ quan giải quyết bồi
thường không thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung
yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định
của Luật này.
2. Người bị thiệt hại
không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số tiền
bồi thường được nhận.
Điều
77. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018.
2. Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành.
Điều
78. Quy định chuyển tiếp
1. Các trường hợp yêu cầu
bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý trước thời điểm Luật
này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục
áp dụng quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 để
giải quyết.
2. Kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành, các trường hợp được bồi thường theo quy định của Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 mà còn thời hiệu theo quy định
của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 nhưng chưa yêu cầu
Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý giải quyết thì áp dụng
quy định của Luật này để giải quyết.
|
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật số 81/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết
số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.”.
Luật số 15/2026/QH16 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết
số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số
10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.”.
[2]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[3]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[4]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[5]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[6]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[7]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[8]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[9]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[10] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1
của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[11] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1
của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[12] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 1
của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[13] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 1
của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[14] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[15] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[16] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[17] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[18] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[19] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 8 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[22] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[23] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[24] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[25] Câu mở đầu này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11
Điều 1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[26] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[27] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[28] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều
2 của Luật số 81/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[30] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[31] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[32] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[33] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[34] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[35] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[36] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[37] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[38] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[39] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 16 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[40] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 16 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[41] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 16 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[42] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[43] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[44] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[45] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 20 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[46] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 20 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[47] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[48] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[49] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[50] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[51] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[52] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[53] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[54] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[55] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[56] Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 27
Điều 1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[57] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 27 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[58] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 27 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[59] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 27 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[60] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[61] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều
1 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[62] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 28 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[63] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[64] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật
số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[65] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của
Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[66] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[67] Điều 3 của Luật số 81/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.”.
Việc thi hành Luật số 81/2025/QH15 được thực hiện theo Nghị
quyết số 225/2025/QH15 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 3 của Luật số 15/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 3 năm 2027 quy định như sau:
“Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3
năm 2027.
2. Trường hợp yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết
thì tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số
10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 để
giải quyết; kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, đối với những công việc,
thủ tục chưa có kết quả giải quyết thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng
quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có
trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người
yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị
không áp dụng quy định đó.”.