|
Kính gửi:
|
- Sở Nông nghiệp và Môi
trường các tỉnh, thành phố;
- Sở An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh;
- Sở Y tế Thành phố Đà Nẵng.
|
Trên cơ sở ý kiến của một
số Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố về việc hướng dẫn triển
khai thực hiện kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu theo Thông tư số
22/2026/TT-BNNMT; căn cứ các đề xuất, kiến nghị của địa phương tại các Báo cáo
tình hình kiểm tra an ATTP nhập khẩu đối với thực phẩm nhập khẩu từ ngày
01-09/09/2026, sau khi rà soát và để thống nhất triển khai thực hiện, Cục Chăn
nuôi và thú y có ý kiến như sau:
1. Về
Giấy chứng nhận của cơ quan thẩm nước xuất khẩu đối với lô hàng động vật, thủy
sản nhập khẩu
- Đối với thực phẩm có nguồn
gốc động vật, thủy sản theo quy định tại Điều 14 Nghị định số
15/2018/NĐ-CP, trên thực tế cơ bản khi xuất khẩu cơ quan thẩm quyền nước xuất
khẩu cấp 01 Giấy chứng nhận (Health Certificate/ Sanitary Certificate) cho lô
hàng, bản chính của Giấy chứng nhận của lô hàng sẽ được lưu tại cơ quan kiểm dịch
khi thực hiện kiểm dịch nhập khẩu. Do đó, trường hợp lô hàng phải thực hiện thủ
tục kiểm tra nhà nước về ATTP nhập khẩu, cơ quan kiểm tra ATTP tiếp nhận bản
sao có xác nhận của cơ quan kiểm dịch để thực hiện kiểm tra, đối chiếu và không
yêu cầu nộp lại bản chính.
- Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu đã trao đổi, thống nhất áp dụng Giấy chứng
nhận điện tử để cấp cho các lô hàng sản phẩm động vật, thủy sản xuất khẩu sang Việt Nam thì sử dụng Giấy chứng
nhận điện tử, không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thêm bản giấy.
2. Về
hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính
- Trong thời gian hệ thống
thông tin phục vụ tiếp nhận, xử lý thủ tục kiểm tra nhà nước về ATTP đang được
hoàn thiện, đề nghị cơ quan kiểm tra tại các địa phương tổ chức tiếp nhận và giải
quyết hồ sơ trên hệ thống đã được thông báo áp dụng, bảo đảm việc tiếp nhận, xử
lý và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân không bị gián đoạn.
- Cục Chăn nuôi và Thú y
đã phối hợp với các đơn vị liên quan để đề xuất, hoàn thiện việc kết nối, đồng
bộ dữ liệu giữa các hệ thống, hướng tới tích hợp thống nhất trên Cổng thông tin
Một cửa quốc gia, hạn chế việc doanh nghiệp và cơ quan thực hiện phải thao tác
trên nhiều hệ thống.
3. Về
phân cấp, phân luồng tiếp nhận hồ sơ giữa các địa phương
- Đối với phương thức kiểm
tra thông thường, việc tiếp nhận hồ sơ thực hiện theo quy định, không đặt thêm
điều kiện về nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp hoặc địa giới hành chính ngoài quy
định.
- Đối với phương thức kiểm
tra chặt, do có yêu cầu kiểm tra thực tế, lấy mẫu, đề nghị Sở hướng dẫn tổ chức,
cá nhân thực hiện thủ tục tại cơ quan kiểm tra phù hợp với nơi có cửa khẩu nhập
hoặc nơi lưu giữ lô hàng để thuận lợi cho việc kiểm tra theo quy định.
- Trong giai đoạn đầu triển
khai phân cấp, đề nghị các Sở hướng dẫn, khuyến nghị tổ chức, cá nhân lựa chọn
cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi có cửa khẩu nhập hoặc nơi lưu giữ lô hàng,
đặc biệt đối với trường thực hiện đồng thời thủ tục kiểm dịch động vật, thủy sản,
để thuận lợi trong phối hợp xử lý hồ sơ và kiểm tra thực tế.
4. Về
bàn giao hồ sơ, dữ liệu trước ngày 01/9/2026
- Theo khoản
5 Điều 19 Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT, các hồ sơ do cơ quan thuộc Bộ Nông
nghiệp và Môi trường đã tiếp nhận nhưng chưa giải quyết xong trước thời điểm
các quy định về phân cấp thủ tục hành chính có hiệu lực được bản giao cho cơ
quan được giao thực hiện thủ tục hành chính tại địa phương tiếp tục xử lý theo
quy định.
- Đối với hồ sơ kiểm tra nhà nước
về ATTP đối với sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu
đã được các đơn vị thuộc Cục Chăn nuôi và Thú y giải quyết xong trước ngày
01/9/2026 thì không thuộc trường hợp phải bản giao theo khoản 5
Điều 19 Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT và tiếp tục được đơn vị đã giải quyết
quản lý, lưu trữ
theo quy định.
Qua rà soát, tại thời điểm
ngày 01/9/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y không có hồ sơ chưa giải quyết thuộc đối
tượng phải bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Về
quy trình giải quyết thủ tục hành chính
5.1. Thông tin tờ khai
hải quan
- Theo khoản
2 Điều 18 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, tờ khai hải quan không phải là thành
phần hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về ATTP. Do đó, cơ quan kiểm tra không yêu cầu
tổ chức, cá nhân nộp tờ khai hải quan như một thành phần bắt buộc của hồ sơ và
không từ chối tiếp nhận hồ sơ chỉ vì chưa có thông tin tờ khai hải quan.
Trường hợp cần thông tin số
tờ khai hải quan, mã HS để phục vụ đối chiếu thông tin lô hàng hoặc ghi nhận
trên Thông báo kết quả theo Mẫu số 05 Phụ lục 1 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, cơ
quan kiểm tra có thể đề nghị tổ chức, cá nhân cung cấp khi đã có hoặc khai thác
thông tin từ hệ thống, cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ theo quy định. Việc
thu thập thông tin này không làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ đăng ký kiểm
tra và không làm chậm thời hạn giải quyết thủ tục.
5.2. Sản phẩm chưa có
mã HS
Đối với sản phẩm thực phẩm
có nguồn gốc động vật trên cạn, thủy sản đề nghị cơ quan kiểm tra căn cứ danh mục
theo Thông tư số 01/2014/TT-BNNPTNT ngày 02/02/2024 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
để thực hiện. Trường hợp, thực tế có sản phẩm chưa có trong danh mục đề nghị có
văn bản gửi về Cục Chăn nuôi và Thú y để báo cáo cấp có thẩm quyền tiến hành rà
soát.
5.3. Về lô hàng có sản
phẩm thuộc phạm vi quản lý của nhiều Bộ
Trường hợp một lô hàng nhập
khẩu có nhiều loại thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của nhiều Bộ, việc xác định
cơ quan kiểm tra nhà nước thực hiện theo khoản 1 Điều 15 Nghị định
số 15/2018/NĐ-CP.
5.4. Về xử lý lô hàng
có sản phẩm đạt và không đạt yêu cầu
Đối với lô hàng gồm nhiều
sản phẩm có kết quả kiểm tra khác nhau, cơ quan kiểm tra ghi rõ kết quả đạt hoặc
không đạt đối với từng sản phẩm trong Thông báo kết quả theo Mẫu số 05 Phụ lục
I Nghị định số 15/2018/NĐ-CP và nêu rõ lý do đối với sản phẩm không đạt yêu cầu.
5.5. Về thông tin cảnh
báo ATTP
- Đối với sản phẩm thuộc
phạm vi quản lý của Cục Chăn nuôi và Thú y, khi có thông tin cảnh báo về nguy
cơ mất ATTP, không bảo đảm yêu cầu nhập khẩu hoặc thông tin cảnh báo từ cơ quan
có thẩm quyền trong nước, nước xuất khẩu, nhà sản xuất hoặc tổ chức quốc tế có
liên quan, Cục Chăn nuôi và Thú y sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan
để cập nhật và thông tin theo quy định.
- Đề nghị các Sở và cơ
quan được giao hoặc chỉ định thực hiện kiểm tra nhà nước về ATTP chủ động cập nhật
thông tin cảnh báo trên các nguồn thông tin chính thức của Cục Chăn nuôi và Thú
y. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan để làm căn
cứ thực hiện kiểm tra, xử lý hồ sơ.
- Trường hợp phát sinh
thông tin cảnh báo hoặc dấu hiệu nghi ngờ liên quan trực tiếp đến cơ sở sản xuất,
sản phẩm, quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc lô hàng cụ thể, đề nghị các Sở trao đổi
với Cục Chăn nuôi và Thú y để phối hợp xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
6. Về
cử đầu mối phối hợp trong công tác kiểm tra
- Cục Chăn nuôi và Thú y
đã cử đầu mối của các đơn vị thuộc Cục để phối hợp, hướng dẫn nghiệp vụ trong
quá trình triển khai thực hiện Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT tại Công văn số
3139/CNTY-KD&TYCĐ và Công văn số 3324/CNTY-KD&TYCĐ.
- Đề nghị các Sở căn cứ
danh sách đầu mối đã được Cục thông báo để trực tiếp trao đổi, phối hợp xử lý
các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ
kiểm tra nhà nước về ATTP nhập khẩu.
- Đối với những vấn đề
phát sinh có tính chất liên ngành hoặc vượt thẩm quyền xử lý của cơ quan kiểm
tra, đề nghị tổng hợp, trao đổi với Cục Chăn nuôi và Thú y để phối hợp thống nhất
cách xử lý, bảo đảm thực hiện đúng quy định và không làm gián đoạn hoạt động nhập
khẩu của tổ chức, cá nhân.
Trên đây là ý kiến của Cục
Chăn nuôi và Thú y để các Sở nghiên cứu, tổ chức thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục trưởng (để b/c);
- Các Phó Cục trưởng;
- Cục Chất lượng, chế biến và PTTT (để biết);
- Các Chi cục Chăn nuôi và Thú y vùng (để biết);
- Lưu: VT, KD&TYCĐ.
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Phạm Kim Đăng
|