Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 81/VBHN-BNNMT Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Bộ Nông nghiệp và Môi trường Người ký: Nguyễn Thị Phương Hoa
Ngày ban hành: 17/11/2025 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
MÔI TRƯỜNG

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 81/VBHN-BNNMT

Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2025

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:

Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.

Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025;

Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2025;

Căn cứ Luật Đất đai số 31/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi các Luật số 43/2024/QH15, số 47/2024/QH15, số 58/2024/QH15, Luật số 71/2025/QH15, số 84/2025/QH15, số 93/2025/QH15 và số 95/2025/QH15;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường,

Chính phủ ban hành Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất[1]

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khoản 3 Điều 87, Điều 92, Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 102, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều 109 và Điều 111 của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1.Cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai[2], thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai; đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Người có đất thu hồi và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi.

3. Các đối tượng khác có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Điều 3. Lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm:

a) Tổng diện tích đất thu hồi (tổng hợp các phương án chi tiết tại khoản 2 Điều này), diện tích từng loại đất thu hồi;

b) Tổng số người có đất thu hồi;

c) Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (nếu có);

d) Phương án bố trí tái định cư: số hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư, các khu tái định cư, địa điểm khu tái định cư, hình thức tái định cư (bằng đất, bằng nhà ở) (nếu có);

đ) Phương án di dời mồ mả trong phạm vi đất thu hồi (nếu có);

e) Phương án di chuyển các công trình hạ tầng trong phạm vi đất thu hồi (nếu có);

g) Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí khác;

h) Tiến độ thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

i) Phương án chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản;

k) Các nội dung khác liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có).

2. Phương án chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản quy định tại điểm i khoản 1 Điều này gồm các nội dung sau:

a) Họ và tên, số định danh cá nhân, địa chỉ (nơi thường trú và nơi ở hiện nay), số điện thoại của người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản (nếu có);

b) Vị trí, diện tích, loại đất, nguồn gốc đất thu hồi;

c) Loại tài sản, số lượng, khối lượng tài sản; chất lượng còn lại của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;

d) Giá đất và tài sản tính bồi thường;

đ) Các khoản hỗ trợ: hỗ trợ ổn định đời sống (số nhân khẩu được hỗ trợ, mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ); hỗ trợ ổn định sản xuất kinh doanh; hỗ trợ di dời vật nuôi; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (diện tích đất hỗ trợ, giá đất hỗ trợ); hỗ trợ tái định cư; hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời; các khoản hỗ trợ khác (nếu có);

e) Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ: tiền bồi thường về đất, tiền bồi thường tài sản, tiền bồi thường chi phí di chuyển tài sản, tiền bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, tiền hỗ trợ;

g) Vị trí, diện tích, tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư cho người được bố trí tái định cư hoặc giao đất khác cho hộ gia đình, cá nhân (nếu có);

h) Vị trí, diện tích đất khi giao đất, cho thuê đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi cho tổ chức; cho thuê đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi cho hộ gia đình, cá nhân (nếu có);

i) Vị trí, diện tích, tiền sử dụng đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân (nếu có);

k) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có);

l) Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ được nhận sau khi đã trừ đi tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp vào số tiền được bồi thường về đất (nếu có);

m) Số tiền được ghi nợ tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư (nếu có).

3. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã[3] có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã[4]. Việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cụ thể như sau:

a) Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gửi hồ sơ thẩm định theo quy định tại điểm b khoản này đến cơ quan thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

b) Hồ sơ gửi thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: văn bản đề nghị thẩm định; dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thông báo thu hồi đất; văn bản kiểm đếm, thống kê, phân loại diện tích đất thu hồi và tài sản; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất thu hồi; văn bản xác định nguồn gốc thửa đất thu hồi và tài sản gắn liền với đất; biên bản tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các giấy tờ khác có liên quan (nếu có);

c) Nội dung thẩm định bao gồm: việc tuân thủ quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các nội dung khác có liên quan đến phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

4. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền lập, thẩm định, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chịu trách nhiệm thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không chịu trách nhiệm về những nội dung trong các văn bản, giấy tờ có trong hồ sơ đã được cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khác chấp thuận, quyết định hoặc giải quyết trước đó. Mẫu quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP[5].

Điều 4. Bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 98, khoản 1 Điều 99 của Luật Đất đai

1. Giá đất tính tiền sử dụng đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi cho hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam là giá đất được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp bồi thường bằng cho thuê đất thu tiền thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì giá đất tính tiền thuê đất là giá đất cụ thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền[6] quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi cho tổ chức kinh tế có đất ở thu hồi là giá đất cụ thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền[7] quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Người có đất thu hồi được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở mà có chênh lệch giá trị giữa tiền bồi thường, hỗ trợ về đất với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất khác hoặc tiền mua nhà ở thì xử lý như sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ về đất lớn hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi được nhận phần chênh lệch;

b) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ về đất nhỏ hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi phải nộp phần chênh lệch.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quỹ đất, quỹ nhà và tình hình thực tế tại địa phương quy định tỷ lệ quy đổi, điều kiện bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở để bồi thường cho người có đất thu hồi quy định tại Điều này.

Điều 5. Các trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất quy định tại khoản 3 Điều 95 của Luật Đất đai

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 138 của Luật Đất đai.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã sử dụng đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 139 của Luật Đất đai.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm được giao hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định của pháp luật nhưng đã sử dụng đất ổn định trước ngày ngày 01 tháng 7 năm 2014.

Đối với trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà loại đất xác định trên giấy tờ đã cấp khác với phân loại đất theo quy định tại Điều 9 của Luật Đất đai hoặc khác với hiện trạng sử dụng đất thì bồi thường theo loại đất sau khi được xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai.

5. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp mà đất đó đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai thì bồi thường về đất như sau:

1. Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai thì bồi thường về đất theo diện tích đo đạc thực tế theo quy định tại khoản 6 Điều 135 của Luật Đất đai.

Trường hợp đã hoàn thành việc đo đạc thực tế phục vụ cho việc thu hồi đất mà sau đó do thiên tai, sạt lở, sụt lún dẫn đến tại thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư diện tích của thửa đất đã đo đạc bị thay đổi thì sử dụng số liệu đã đo đạc để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích đất mà số liệu đo đạc thực tế lớn hơn số liệu ghi trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì diện tích bồi thường được xác định theo số liệu đo đạc thực tế theo quy định tại khoản 6 Điều 135 của Luật Đất đai.

3. Trường hợp Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai mà vị trí, tọa độ không chính xác thì xem xét bồi thường theo đúng vị trí, tọa độ khi đo đạc thực tế.

Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các trường hợp đặc biệt

1. Đối với dự án đầu tư quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Đất đai mà cần có chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, căn cứ vào dự án đầu tư đã được Quốc hội quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh[8] xem xét, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[9] quyết định chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với từng dự án và điều kiện thực tế của địa phương.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất của đơn vị vũ trang nhân dân đang sử dụng đất quy định tại điểm b khoản 3 Điều 92 của Luật Đất đai thì được bố trí vị trí mới hoặc chuyển đổi vị trí đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh hoặc quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật Đất đai.

Đơn vị vũ trang nhân dân bị thiệt hại về tài sản do Nhà nước giao quản lý, sử dụng và phải di dời đến cơ sở mới thì được bồi thường tài sản và được sử dụng tiền bồi thường tài sản để đầu tư tại cơ sở mới theo dự án, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Đối với trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người hoặc không còn khả năng tiếp tục sử dụng quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân được bồi thường theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 của Nghị định này.

4. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với các trường hợp tại khoản 3 Điều này được thực hiện như sau:

a) Ngân sách nhà nước chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người; đất khác bị sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác mà không còn khả năng tiếp tục sử dụng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 82 của Luật Đất đai;

b) Tổ chức, cá nhân gây ra ô nhiễm môi trường chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất khác trong khu vực bị ô nhiễm môi trường không còn khả năng tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định. Trường hợp tổ chức đã giải thể, phá sản thì tiền bồi thường, hỗ trợ do ngân sách nhà nước chi trả.

Điều 7a. Xử lý trường hợp đã có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án mà có sự thay đổi về quy hoạch, mốc giới, hướng tuyến [10]

Trong thời gian xây dựng mà đã ban hành quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai đối với thửa đất hoặc một phần diện tích của thửa đất nhưng có sự thay đổi về quy hoạch, mốc giới, hướng tuyến nên chỉ sử dụng một phần diện tích đất đã thu hồi để xây dựng dự án, công trình và hành lang bảo vệ an toàn dự án, công trình thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định điều chỉnh quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho phù hợp với tình hình thực tế theo đề nghị của chủ đầu tư hoặc của người sử dụng đất.

Chương II

QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Mục 1. BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT Ở, ĐẤT KHÁC TRONG THỬA ĐẤT CÓ NHÀ Ở, NHÀ Ở VÀ CÔNG TRÌNH PHỤC VỤ ĐỜI SỐNG

Điều 8. Bồi thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

a) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống mà diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường bằng hạn mức công nhận đất ở.

Đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở theo diện tích đất thực tế xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó sau khi đã trừ tiền sử dụng đất phải nộp như khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất vượt hạn mức tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở đối với toàn bộ diện tích đất thu hồi;

c) Trường hợp thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích thực tế đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

a) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường bằng hạn mức công nhận đất ở.

Đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở theo diện tích đất thực tế xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó sau khi đã trừ tiền sử dụng đất phải nộp như khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất vượt hạn mức tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở đối với toàn bộ diện tích đất thu hồi;

c) Trường hợp thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích đất thực tế đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

a) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở bằng hạn mức giao đất ở.

Đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì được bồi thường về đất ở đối với diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở đối với toàn bộ diện tích đất thu hồi;

c) Trường hợp thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích thực tế đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.

4. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật Đất đai đã sử dụng đất ở ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, có đăng ký thường trú tại địa phương thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất ở; diện tích đất ở bồi thường xác định theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là đơn vị hành chính cấp xã[11] hoặc thôn, làng, ấp, bản, bon, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, phân cấp, ủy quyền.

Điều 9. Bồi thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm nhà ở có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm nhà ở có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 139 của Luật Đất đai nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

1. Trường hợp thửa đất có nhà ở nếu đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất được bồi thường bằng diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức công nhận đất ở tại địa phương.

2. Trường hợp thửa đất có nhà ở nếu đã sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì diện tích đất được bồi thường bằng diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương.

3. Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích đất đã làm nhà ở lớn hơn hạn mức công nhận đất ở hoặc hạn mức giao đất ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bồi thường diện tích đất theo diện tích thực tế bị thu hồi đã làm nhà ở.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm nhà ở có vi phạm pháp luật về đất đai do lấn đất, chiếm đất kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau thì Nhà nước không bồi thường về đất.

Điều 10. Bồi thường về đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở được giao không đúng thẩm quyền hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

1. Đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này.

2. Đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.

3. Đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì được bồi thường về đất như sau:

a) Đối với trường hợp sử dụng đất quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 140 của Luật Đất đai thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại điểm a và b khoản 3 Điều 8 của Nghị định này;

b) Phần diện tích đất thu hồi còn lại (nếu có) mà không được bồi thường theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường theo hiện trạng sử dụng đất.

4. Trường hợp đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành, có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.

Điều 11. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 98 của Luật Đất đai

1. Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai hoặc Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi.

2. Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở đủ điều kiện được bồi thường về đất thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi[12] thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi[13] thì được bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng đất khác nếu địa phương có điều kiện về quỹ đất, quỹ nhà ở.

Mục 2. BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP, ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG PHẢI ĐẤT Ở

Điều 12. Bồi thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp

1. Trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất đối với diện tích đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.

2. Trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường đối với diện tích bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.

Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng ổn định do tự khai hoang thì được bồi thường về đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

3. Trường hợp sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường đối với diện tích đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.

4. Đối với diện tích đất nông nghiệp đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:

a) Trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu diện tích thu hồi vượt quá diện tích được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này thì diện tích đất được bồi thường bằng diện tích đất thực tế bị thu hồi;

b) Trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai nếu diện tích thu hồi vượt quá diện tích được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều này thì phần diện tích còn lại được xem xét hỗ trợ theo quy định tại khoản 7 Điều này;

c) Trường hợp sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền nếu diện tích thu hồi vượt quá diện tích được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều này thì phần diện tích còn lại được xem xét hỗ trợ theo quy định tại khoản 7 Điều này.

5. Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng đất thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai thì được bồi thường theo diện tích thực tế thu hồi;

b) Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai thì căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất của bên chuyển quyền để xem xét bồi thường, hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.

6. Khi bồi thường đối với đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng do được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì thời hạn sử dụng đất để tính bồi thường áp dụng theo thời hạn sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 của Luật Đất đai mà không trừ đi thời gian đã sử dụng đất trước đó.

7. Đối với phần diện tích thu hồi còn lại của thửa đất nhưng không được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã[14] căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quyết định hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.

Điều 13. Bồi thường về đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường theo diện tích đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, có vi phạm pháp luật về đất đai nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất theo diện tích đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do được giao không đúng thẩm quyền hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành, nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:

a) Đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được bồi thường về đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8 của Nghị định này;

b) Đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì được bồi thường về đất theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 8 của Nghị định này;

c) Trường hợp đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành, có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì được bồi thường về đất theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.

4. Việc bồi thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thuộc đất sử dụng có thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 99 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi thì thời hạn sử dụng đất được bồi thường là thời hạn sử dụng còn lại của đất thu hồi. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu tăng thời hạn sử dụng đất thì thời hạn sử dụng đất được xác định theo quy định tại Điều 172 của Luật Đất đai và người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời hạn được tăng thêm so với thời hạn sử dụng đất còn lại của đất thu hồi;

b) Trường hợp bồi thường bằng tiền thì việc xác định theo quy định tại khoản 7 Điều này;

c) Trường hợp bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở thì thực hiện theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 2 Điều 99 của Luật Đất đai thì việc bồi thường được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.

6. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì thực hiện như sau:

a) Việc bồi thường bằng đất được thực hiện đối với trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất của dự án hoặc diện tích còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để dự án tiếp tục và được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều này;

b) Trường hợp được bồi thường bằng tiền thì việc xác định số tiền bồi thường thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều này.

7. Trường hợp người đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thuộc đất sử dụng có thời hạn mà được bồi thường bằng tiền theo quy định tại Điều này thì được xác định như sau:

Trong đó:

Tbt: Số tiền được bồi thường;

G: Giá đất cụ thể tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

S: Diện tích đất thu hồi;

T1: Thời hạn sử dụng đất;

T2: Thời hạn sử dụng đất còn lại: bằng (=) thời hạn sử dụng đất trừ (-) thời hạn đã sử dụng đất tính đến thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

8. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp khác có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài mà có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường theo loại đất thu hồi quy định tại khoản 4 Điều 171 của Luật Đất đai.

9. Đối với phần diện tích thu hồi còn lại của thửa đất nhưng không được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã[15] căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quyết định hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.

Mục 3. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN, CHI PHÍ ĐẦU TƯ VÀO ĐẤT CÒN LẠI

Điều 14. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác quy định tại điểm b khoản 2 Điều 102 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định như sau:

a) Mức bồi thường nhà, công trình xây dựng bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng đó.

Giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại được xác định theo quy định tại điểm b khoản này.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình xây dựng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;

b) Giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

Trong đó:

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;

G1: Giá trị xây mới nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật về xây dựng;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;

T1: Thời gian mà nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại đã qua sử dụng.

c) Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị tháo dỡ hoặc phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị nhà, công trình xây dựng bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình xây dựng trước khi bị tháo dỡ hoặc phá dỡ;

d) Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật chuyên ngành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

2. Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác, công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tài sản khác là tài sản công thì sau khi tháo dỡ hoặc phá dỡ nhà, công trình, tài sản quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 102 của Luật Đất đai nếu có vật tư, vật liệu, tài sản thu hồi còn sử dụng được thì xử lý bán.

Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện việc bán vật tư, vật liệu, tài sản thu hồi quy định tại khoản này; việc bán thực hiện như việc bán vật tư, vật liệu thu hồi từ thanh lý tài sản công tại cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Số tiền thu được từ việc bán vật tư, vật liệu, tài sản thu hồi sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến việc bán được nộp vào ngân sách nhà nước tại địa phương.

Điều 14a. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi [16]

1. Trường hợp bồi thường đối với cây lâu năm là loại cho thu hoạch nhiều lần quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai mà không xác định được sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch tương ứng với số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch thì mức bồi thường được tính bằng giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây.

2. Trường hợp khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai mà chưa có quy trình sản xuất cây trồng, vật nuôi được cấp có thẩm quyền ban hành thì căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để ban hành.

Điều 15. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã[17] có trách nhiệm bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả khi thu hồi đất.

2. Đối với mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời thì được bồi thường các chi phí bao gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp để di dời mồ mả đến vị trí mới trong nghĩa trang theo quy hoạch của địa phương; trường hợp tự thu xếp việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí thì được hỗ trợ tiền.

Trường hợp cấp xã nơi có đất thu hồi[18] không còn quỹ đất trong các nghĩa trang thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát quỹ đất tại địa bàn các đơn vị hành chính cấp xã[19] khác để bố trí di dời mồ mả, quy định chính sách hỗ trợ để khuyến khích hình thức hoả táng, lưu giữ tro cốt tại các cơ sở lưu giữ tro cốt nhằm thực hiện nếp sống văn minh, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, góp phần bảo vệ môi trường.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường, hỗ trợ tại khoản này phù hợp với tập quán và thực tế tại địa phương.

3. Trường hợp mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời mà không có người thân thực hiện việc di dời thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mồ mả phải di dời tiến hành các thủ tục di dời mồ mả theo phong tục, tập quán tại địa phương; kinh phí di dời được tính trong kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

Điều 16. Bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa nhà ở cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ

Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Điều 17. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất

1. Chi phí đầu tư vào đất còn lại quy định tại khoản 2 Điều 107 của Luật Đất đai là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật Đất đai.

2. Điều kiện xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại:

a) Có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất;

b) Trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

3. Hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều này gồm một trong các giấy tờ sau đây:

a) Văn bản, hợp đồng thuê, khoán san lấp mặt bằng, tôn tạo đất đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, cải tạo đất, chống xói mòn, chống xâm thực, xây dựng, gia cố nền đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh;

b) Văn bản, thanh lý hợp đồng; hóa đơn, chứng từ thanh toán đối với từng khoản chi phí đã đầu tư vào đất quy định tại điểm a khoản này;

c) Văn bản, hợp đồng khác có liên quan đến việc đầu tư vào đất được xác lập tại thời điểm đầu tư.

4.[20] Chi phí đầu tư vào đất còn lại trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này được xác định như sau:

Trong đó:

P: Chi phí đầu tư vào đất còn lại;

P1: Chi phí san lấp mặt bằng;

P2: Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

P3: Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh;

P4: Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất;

Các chi phí P1, P2, P3 và P4 nêu trên phải quy đổi phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

T1: Thời hạn sử dụng đất;

T2: Thời hạn sử dụng đất còn lại.

Đối với trường hợp thời điểm đầu tư vào đất sau thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì thời hạn sử dụng đất (T1) được tính từ thời điểm đầu tư vào đất.

5. Người có đất thu hồi không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này nhưng thực tế đã có đầu tư vào đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

6. Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với trường hợp ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà chưa khấu trừ hết vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 107 của Luật Đất đai và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm mà đã trả trước cho nhiều năm nhưng chưa sử dụng thời gian đã trả trước tiền thuê đất thực hiện theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Điều 18. Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn

1. Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất thuộc phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

a) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở hoặc từ đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:

Tbt = (G1 - G2) x S

Trong đó:

Tbt: Tiền bồi thường thiệt hại;

G1: Giá đất ở tính bình quân mỗi m2;

G2: Giá đất phi nông nghiệp không phải đất ở hoặc giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi m2;

S: Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất;

b) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:

Tbt = (G3 - G4) x S

Trong đó:

Tbt: Tiền bồi thường thiệt hại;

G3: Giá đất phi nông nghiệp không phải đất ở tính bình quân mỗi m2;

G4: Giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi m2;

S: Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất.

c) Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất thì việc xác định mức bồi thường thiệt hại do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định cụ thể.

2. Nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn bị thiệt hại do phải giải tỏa thì được bồi thường theo mức thiệt hại theo quy định.

3. Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng thì phần diện tích đất còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu phần diện tích đất còn lại này nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai đối với trường hợp thửa đất ở hoặc không đủ điều kiện xây dựng công trình theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối với trường hợp thửa đất có công trình xây dựng.

4. Đất ở có nhà ở gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở gắn liền với đất ngoài việc được bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu thì được bố trí tái định cư, được bồi thường chi phí di chuyển và được hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất.

Mục 4. HỖ TRỢ, BỐ TRÍ TÁI ĐỊNH CƯ

Điều 19. Hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp nếu đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được hỗ trợ ổn định đời sống như sau:

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng. Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;

b) Diện tích đất nông nghiệp thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại điểm a khoản này là diện tích trong phạm vi cấp xã nơi có đất thu hồi[21] tại thời điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được xác định theo từng dự án phải thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền[22], không cộng dồn diện tích đất nông nghiệp thu hồi của các dự án thu hồi đất trước đó;

c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

d)[23] Số nhân khẩu trong hộ gia đình được hỗ trợ tại khoản này là những người có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nhân khẩu là thành viên hộ gia đình phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó (nếu có); việc xác định số nhân khẩu có chung quyền sử dụng đất do các thành viên trong hộ gia đình tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không đủ điều kiện bồi thường về đất hoặc do nhận giao khoán đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối từ các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ trợ cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể nhưng không vượt quá mức hỗ trợ quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 20. Hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

Việc hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 108 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Đối tượng được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh

a) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bị ngừng sản xuất, kinh doanh mà có đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh;

b) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thuộc đối tượng quy định khoản 2 Điều 19 của Nghị định này thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

2. Điều kiện để được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được bồi thường về đất;

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất quy định tại khoản 2 Điều 19 của Nghị định này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.

3. Việc hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh thực hiện theo quy định sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp;

b) Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.

Thu nhập sau thuế được xác định là thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

4. Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp không quá 06 tháng.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối từ các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ ổn định sản xuất cho phù hợp với từng dự án.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ trợ cho phù hợp với thực tế tại địa phương.

Điều 21. Hỗ trợ di dời vật nuôi; hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định các trường hợp, biện pháp, mức hỗ trợ di dời đối với từng loại vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất để hỗ trợ cho chủ sở hữu vật nuôi khi phải di dời.

2. Đối với tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn thì chủ sở hữu tài sản không được bồi thường mà được hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định các trường hợp, biện pháp, mức hỗ trợ tháo dỡ, phá dỡ, di dời cho chủ sở hữu công trình cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Điều 22. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất

1. Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai là cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp mà tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó và không thuộc các trường hợp sau đây:

a) Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng, sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân công an, người làm công tác cơ yếu và người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

b) Người hưởng lương hưu;

c) Người nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;

d) Người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

2. Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai là hộ đang sử dụng đất nông nghiệp có ít nhất một thành viên có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó (bao gồm cả thành viên phát sinh sau thời điểm sử dụng đất nông nghiệp) tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại Điều 109 của Luật Đất đai do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương nhưng không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương theo quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do nhận giao khoán đất, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán vườn cây sử dụng đất để trồng mới, chăm sóc vườn cây, thu hoạch thuộc đối tượng được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai thì phải có hợp đồng giao khoán.

5.[24] Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 Luật Đất đai bao gồm cả trường hợp đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Điều 23. Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đủ điều kiện được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai mà có nhu cầu tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất bằng tiền còn được nhận tiền hỗ trợ để tự lo chỗ ở.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ tại khoản 1 Điều này cho phù hợp.

Điều 24. Bố trí tái định cư

1. Suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai thực hiện như sau:

a) Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư;

b) Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai và diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở tại nơi bố trí tái định cư;

c) Căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này và tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở, bằng nhà ở và bằng tiền.

2. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ nhà mà không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn cấp xã[25] nơi có đất thu hồi thì được hỗ trợ thuê nhà ở tại nơi tái định cư; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của pháp luật về nhà ở về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; trường hợp người đang sử dụng nhà ở bị thu hồi có nhu cầu và địa phương có quỹ đất ở, quỹ nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội thì được xem xét giao đất ở có thu tiền sử dụng đất, bán nhà ở; trường hợp tự lo chỗ ở mới thì được hỗ trợ bằng tiền.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định việc hỗ trợ thuê nhà ở, giao đất ở, bán nhà ở, hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở quy định tại khoản này.

3. Trường hợp thực hiện các dự án, mục đích quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phải thu hồi đất ở trong thửa đất có nhà ở mà người có đất thu hồi có nhu cầu tái định cư tại chỗ thông qua hoán đổi vị trí đất ở về phía sau trong phần diện tích đất nông nghiệp còn lại của thửa đất sau thu hồi thì việc bố trí tái định cư trong trường hợp này được thực hiện như sau:

a) Bố trí tái định cư tại chỗ bằng hình thức cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất nông nghiệp sang đất ở trong hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai;

b) Miễn tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở khi bố trí tái định cư quy định tại điểm a khoản này bằng diện tích đất ở thu hồi trong trường hợp người có đất thu hồi đồng ý phương án bồi thường về đất nông nghiệp đối với phần diện tích đất bị thu hồi.

4. Về quỹ đất, quỹ nhà để bố trí tái định cư thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện các dự án tái định cư hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội để bố trí tái định cư cho các trường hợp quy định tại Điều 111 của Luật Đất đai;

b) Kinh phí thực hiện dự án tái định cư hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội quy định tại điểm a khoản này được ứng vốn từ ngân sách nhà nước, Quỹ phát triển đất hoặc Quỹ đầu tư phát triển, quỹ tài chính khác được ủy thác hoặc từ chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

c) Việc lập, thẩm định, phê duyệt, nghiệm thu, quyết toán dự án tái định cư; thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng dự án tái định cư thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng, pháp luật về đầu tư công và pháp luật khác có liên quan;

d) Việc mua nhà ở thương mại, nhà ở xã hội để phục vụ tái định cư thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật khác có liên quan.

5.[26] Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở.

6.[27] Địa điểm tái định cư được lựa chọn theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Tại địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi;

b) Tại địa bàn đơn vị hành chính cấp xã khác có điều kiện tương đương trong trường hợp tại địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi không có đất để bố trí tái định cư;

c) Ưu tiên lựa chọn khu đất có vị trí thuận lợi để hình thành khu tái định cư.

Mục 5. BỐ TRÍ KINH PHÍ VÀ CHI TRẢ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

Điều 25. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường quy định tại khoản 6 Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước và tiền chậm nộp (nếu có) nhưng đến thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn chưa nộp;

b) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại điểm a khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lớn hơn số tiền được bồi thường thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó;

c) Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).

Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.

2. Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;

b) Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này.

3. Khi xác định khoản tiền bồi thường về đất mà người có đất thu hồi được nhận theo quy định tại Nghị định này thì phải trừ khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp như khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

4. Việc phân chia tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có chung quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện theo thỏa thuận của những người có chung quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về dân sự.

5. Trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn, sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản.

Điều 26. Ghi nợ tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư

1. Đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 111 của Luật Đất đai là người được bố trí tái định cư mà tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn tiền sử dụng đất phải nộp khi được giao đất tái định cư, nếu có nhu cầu ghi nợ tiền sử dụng đất và cam kết thực hiện bàn giao mặt bằng theo đúng tiến độ.

2. Giá đất để tính ghi nợ tiền sử dụng đất là giá đất được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Khi thanh toán nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất trả nợ theo số tiền sử dụng đất được nợ ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Mức tiền sử dụng đất ghi nợ đối với hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này được xác định bằng chênh lệch giữa tiền sử dụng đất phải nộp khi hộ gia đình, cá nhân được giao đất tái định cư trừ (-) giá trị được bồi thường về đất.

Trường hợp thuộc đối tượng được hỗ trợ tái định cư, nếu số tiền sử dụng đất phải nộp lớn hơn giá trị suất tái định cư tối thiểu thì được ghi nợ số tiền sử dụng đất lớn hơn phải nộp.

4. Hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp đủ tiền sử dụng đất còn nợ trước khi chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với trường hợp thừa kế hoặc tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người nhận thừa kế, nhận tặng cho được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì tiếp tục được ghi nợ.

5. Về trình tự, thủ tục ghi nợ, thanh toán, xóa nợ tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Điều 27. Chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm lập dự toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của từng dự án theo quy định sau đây:

a) Đối với các khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thực hiện theo quy định hiện hành;

b) Đối với các khoản chi chưa có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá thì lập dự toán theo thực tế cho phù hợp với đặc điểm của từng dự án và thực tế ở địa phương;

c) Chi in ấn tài liệu, văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản phục vụ cho bộ máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự án.

2.[28] Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định phê duyệt chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất.

3. Trường hợp phải thực hiện cưỡng chế thu hồi đất thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định. Việc bố trí kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất như sau:

a) Đối với trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất nhưng được miễn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì khoản kinh phí này được bố trí và hạch toán vào vốn đầu tư của dự án;

b) Đối với trường hợp Nhà nước thực hiện thu hồi đất tạo quỹ đất sạch để giao, cho thuê thông qua hình thức đấu giá thì khoản kinh phí này được ứng từ Quỹ phát triển đất;

c) Đối với trường hợp nhà đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì khoản kinh phí này được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.

4. Nội dung chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại khoản 1 Điều này gồm:

a) Chi tổ chức họp với người có đất, chủ sở hữu tài sản trong khu vực thu hồi để phổ biến, tuyên truyền các chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và tiếp nhận ý kiến, tổ chức vận động người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản liên quan thực hiện quyết định thu hồi đất thực hiện dự án;

b) Chi điều tra, khảo sát, ghi nhận hiện trạng, đo đạc, kiểm đếm, thống kê, phân loại diện tích đất và xác định nguồn gốc đất và tài sản gắn liền với đất thu hồi gồm: Phát tờ khai, hướng dẫn người có đất, chủ sở hữu tài sản kê khai; trích đo địa chính thửa đất đối với thửa đất tại nơi chưa có bản đồ địa chính phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; đo đạc xác định diện tích thực tế các thửa đất nằm trong ranh giới khu đất thu hồi để thực hiện dự án (nếu có) của từng người có đất thu hồi làm căn cứ thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp phải đo đạc lại; kiểm kê số lượng nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi và tài sản khác bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất của từng chủ sở hữu tài sản; kiểm tra, đối chiếu giữa tờ khai với kết quả kiểm kê, xác định mức độ thiệt hại với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản cụ thể; tính toán giá trị thiệt hại về đất, nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi và tài sản khác, chi phí đăng báo và phát sóng trên đài phát thanh hoặc truyền hình;

c) Chi phí lập, thẩm định, phê duyệt, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từ khâu tính toán, xác định mức bồi thường, hỗ trợ đến khâu phê duyệt phương án, thông báo công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

d) Chi tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định;

đ) Chi phục vụ việc hướng dẫn thực hiện, giải quyết những vướng mắc trong tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định;

e) Chi thuê nhà làm việc, thuê và mua sắm máy móc, thiết bị để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và cơ quan thẩm định;

g) Chi in ấn, phô tô tài liệu, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc (bưu chính, điện thoại), xăng xe;

h) Chi thuê nhân công thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có). Việc thuê nhân công do người đứng đầu đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định, quy định tại quy chế chi tiêu nội bộ và chỉ được thực hiện khi đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không có đủ nhân sự để thực hiện và không được thực hiện nhiệm vụ trùng lắp với nhân sự của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

i) Các nội dung chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

5. Nội dung chi tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất:

a) Chi thông báo, tuyên truyền vận động các đối tượng thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm, quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

b) Chi mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng chống cháy nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác phục vụ cho việc thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất;

c) Chi phục vụ công tác tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất;

d) Chi phí niêm phong, phá, tháo dỡ, vận chuyển tài sản; di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan ra khỏi khu đất cưỡng chế, chi thuê địa điểm, nhân công, phương tiện bảo quản tài sản và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện bảo quản tài sản khi thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không thanh toán;

đ) Chi cho công tác quay phim, chụp ảnh phục vụ cho việc thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất;

e) Chi phí bảo vệ, chống tái chiếm đất sau khi tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất của thửa đất cưỡng chế thu hồi đến thời điểm hoàn thành việc giải phóng mặt bằng;

g) Các nội dung chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất.

6. Chi tiền lương, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản phụ cấp lương theo chế độ quy định của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất theo cơ chế tài chính áp dụng đối với tổ chức đó.

Chi tiền lương và các khoản đóng góp theo tiền lương được xác định theo quy định hiện hành của pháp luật.

7.[29] Việc lập, phê duyệt dự toán, sử dụng và thanh quyết toán chi phí đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách, pháp luật về đầu tư công và pháp luật khác có liên quan.

8. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định mức chi đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp địa phương chưa quy định mức chi đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lập dự toán, thanh quyết toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng dự án theo định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định.

Điều 28. Kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật Đất đai. Việc xác định kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án được quy định như sau:

a) Kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào tổng mức đầu tư dự án;

b) Bộ, ngành có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án đầu tư do bộ, ngành thực hiện thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, chấp thuận, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và các dự án do bộ, ngành làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và các dự án quy định tại điểm b khoản này nhưng giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật;

d) Trường hợp chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Chương III

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 29. Trách nhiệm tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, đơn vị sự nghiệp công lập có dự án đầu tư phải thu hồi đất có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp và đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong quá trình tổ chức thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này.

Điều 30. Hiệu lực thi hành [30]

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.

2. Các nghị định sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:

a) Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

b) Nghị định số 06/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

3. Bãi bỏ một số điều của các Nghị định có liên quan

a) Bãi bỏ Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;

b) Bãi bỏ Điều 2 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

Điều 31. Quy định chuyển tiếp

1. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.

2. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm Nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất.

3. Đối với dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác định tại Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy định của Nghị định này.

4. Đối với dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, quy định chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác định tại quyết định, quy định chính sách đặc thù của Thủ tướng Chính phủ và các quy định có lợi hơn của Nghị định này khi thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

5. Đối với trường hợp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 về lập dự toán, sử dụng và thanh, quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

6.[31] Đối với trường hợp được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 255 Luật Đất đai, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật số 43/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 và tại thời điểm có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư, chủ đầu tư của cơ quan có thẩm quyền hoặc đã lựa chọn được nhà đầu tư, chủ đầu tư theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở, pháp luật về đấu thầu mà thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất nhưng đến nay chưa hoàn thành việc thu hồi đất và nhà đầu tư, chủ đầu tư đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc đã chi trả bồi thường, hỗ trợ tái định cư một phần diện tích của dự án thì được tiếp tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giao đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 255 Luật Đất đai, khoản 3 Điều 1 Luật số 43/2024/QH15.

Điều 32. Trách nhiệm thi hành

1. Các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Nghị định này và rà soát các văn bản đã ban hành để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với quy định tại Nghị định này để có hiệu lực đồng thời với Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức và cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 


Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng công báo);
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Sở NNMT các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Cổng TTĐT Chính phủ (để đăng tải);
- Cổng TTĐT Bộ Nông nghiệp và Môi trường (để đăng tải);
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (để đăng tải);
- Bộ NNMT: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, các đơn vị thuộc Bộ;
- Lưu: VT, QLĐĐ.

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Thị Phương Hoa

 

PHỤ LỤC

MẪU QUYẾT ĐỊNH PHÊ DUYỆT PHƯƠNG ÁN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

ỦY BAN NHÂN DÂN
.......................[1]

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: … /QĐ-UBND

…, ngày… tháng … năm …

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án ......................[2]

CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN .......................... [3]

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương;

Căn cứ Luật Đất đai;

Căn cứ …………………………………………………………………………................

…………………………………………………………………………………………….[4]

Theo đề nghị của ........................ [5] tại Tờ trình số ............................. [6]

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án …………………..[7], bao gồm:

1. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án ..........[8] theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (nếu có).

2. Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản[9] theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

3. Các nội dung khác (nếu có).

Điều 2. Nhiệm vụ, trách nhiệm của các bên có liên quan:

1. .....................................[10]

2. ..................................... [11]

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày... tháng ... năm...

Điều 4. ................................................................. [12]./.

 


Nơi nhận:
.................. [13]

CHỦ TỊCH

__________________________

[1] Ghi tên đơn vị hành chính cấp xã.

[2] Ghi tên dự án hoặc phân kỳ tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư được phê duyệt.

[3] Ghi tên đơn vị hành chính cấp xã.

[4] Ghi tên các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính làm căn cứ để ban hành Quyết định.

[5] Ghi tên cơ quan có chức năng quản lý đất đai ở địa phương.

[6] Ghi số Tờ trình và thời gian ban hành.

[7] Ghi tên dự án hoặc phân kỳ tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư được phê duyệt.

[8] Ghi tên dự án hoặc phân kỳ tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư được phê duyệt.

[9] Ghi nội dung Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản.

[10] Ghi trách nhiệm của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

[11] Ghi trách nhiệm của người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có).

[12] Ghi trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành Quyết định.

[13] Ghi theo quy định của pháp luật về văn thư, lưu trữ.

 



[1] Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Các tổ chức tín dụng ngày 29 tháng 6 năm 2024;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.”

Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025;

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025;

Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.”.

Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;

Căn cứ Luật Đất đai số 31/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi các Luật số 43/2024/QH15, số 47/2024/QH15, số 58/2024/QH15, Luật số 71/2025/QH15, số 84/2025/QH15, số 93/2025/QH15 và số 95/2025/QH15;

Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Căn cứ Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân;

Căn cứ Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.”

[2] Bãi bỏ cụm từ “và công chức làm công tác địa chính ở cấp xã” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[3] Cụm từ “cơ quan có chức năng quản lý đất đai ở địa phương” được thay đổi bằng “cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 17 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[4] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cùng cấp” được thay đổi bằng “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[5] Cụm từ “Mẫu quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này” được thay đổi bằng “Mẫu quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[6] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” được thay đổi bằng “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 5, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025

[7] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” được thay đổi bằng “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 5, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025

[8] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” được thay đổi bằng “Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 16 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[9] Cụm từ “Hội đồng nhân dân cùng cấp” được thay đổi bằng “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[10] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025

[11] Cụm từ “cấp huyện, xã” được thay đổi bằng “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[12] Cụm từ “xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi” được thay đổi bằng “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[13] Cụm từ “xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi” được thay đổi bằng “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[14] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” được thay đổi bằng “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[15] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” được thay đổi bằng “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025”

[16] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[17] Cụm từ “cấp huyện” được thay đổi bằng “cấp xã” theo quy định tại theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[18] Cụm từ “Trường hợp quận, thành phố, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất thu hồi” được thay đổi bằng “Trường hợp cấp xã nơi có đất thu hồi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[19] Cụm từ “cấp huyện” được thay đổi bằng “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[21] Cụm từ “xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi” được thay đổi bằng “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[22] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” được thay đổi bằng “cơ quan có thẩm quyền” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[23] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[24] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[25] Cụm từ “cấp huyện” được thay đổi bằng “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

[26] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[27] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[28] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ- CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[29] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ- CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

[30] Khoản 1, 2, 3 Điều 21 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025 quy định như sau:

“Điều 21. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

2. Nghị định này được thực hiện đến trước ngày 01 tháng 3 năm 2027. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù hợp với việc tổ chức chính quyền 02 cấp thì thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

3. Ban hành kèm theo Nghị định này Phụ lục trình tự, thủ tục trong lĩnh vực đất đai đã được sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền được phân quyền, phân cấp, phân định tại Chương II của Nghị định này.”

Điều 9 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2025 quy định như sau:

“Điều 9. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.”

[31] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”

MINISTRY OF AGRICULTURE AND ENVIRONMENT
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
----------------

No. 81/VBHN-BNNMT

Hanoi, November 17, 2025

 

DECREE

COMPENSATION, SUPPORT, AND RESETTLEMENT UPON LAND EXPROPRIATION BY STATE

The Government’s Decree No. 88/2024/ND-CP dated July 15, 2024 on  compensation, support, and resettlement upon land expropriation by State, which comes into force from August 01, 2024 is amended by:

The Government’s Decree No. 151/2025/ND-CP dated June 12, 2025 on distinction of powers of local governments at two levels, delegation and devolution in the land sector.

The Government’s Decree No. 226/2025/ND-CP dated August 15, 2025 on amendments to some articles of Decrees on elaboration of the Land Law.

Pursuant to the 2025 Law on Government Organization;

Pursuant to the 2025 Law on Local Government Organization;

Pursuant to the Land Law No. 31/2024/QH15 amended by the Law No.43/2024/QH15, the Law No.  47/2024/QH15, the Law No. 58/2024/QH15, the Law No. 71/2025/QH15, the Law No. 84/2025/QH15, the Law No. 93/2025/QH15 and the Law No. 95/2025/QH15;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The Government promulgates Decree on compensation, support, and resettlement upon land expropriation by State.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Decree elaborates and provides guidance on the implementation of clause 3, Article 87, Article 92, Article 94, Article 95, Article 96, Article 98, Article 99, Article 100, Article 102, Article 106, Article 107, Article 108, Article 109 and Article 111 of the Land Law regarding compensation, support and resettlement upon land expropriation by state.

Compensation, support and resettlement related to projects on investment in renovation and reconstruction of apartment buildings shall comply with the provisions of the law on housing.

Article 2. Regulated entities

1. State agencies that exercise powers and take responsibilities on behalf of the entire people as the owner of land, and are responsible for the unified management of state land; and units or organizations responsible for compensation, support, and resettlement.

2. Expropriated land users and owners of property on expropriated land.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 3. Preparation, appraisal and approval of compensation, support, and settlement plans

1. Contents of a compensation, support, and settlement plan:

a) Total area of​​ expropriated land (consolidation of detailed plans in clause 2 of this Article), area of ​​each type of expropriated land;

b) Total number of expropriated land users;

c) Plan for training, job conversion and job search (if any);

d) Resettlement arrangement plan:  number of households and individuals to be resettled, resettlement areas, locations of resettlement areas, resettlement forms (compensation either by land or by housing) (if any);

dd) Plan for relocation of graves within the expropriated land area (if any);

e) Plan for relocation of infrastructure works within the expropriated land area (if any);

g) Compensation, support and resettlement costs including:  amounts for compensation, support and resettlement upon land expropriation by state; costs for the organization of compensation, support and resettlement and other costs;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



i) Detailed plan on compensation, support and resettlement for each expropriated land user, property owner;

k) Other contents related to compensation, support, resettlement (if any).

2. Detailed compensation, support, resettlement  plan for each expropriated land user, property owner specified in point i, clause 1 of this Article, including the following contents:

a) Full name, personal identification number, address (permanent residence and current residence), phone number of the expropriated land user, property owner (if any);

b) Location, area, type of land, origin of expropriated land;

c) Type of property, quantity, volume of property; remaining quality of damaged houses and construction works;

d) Land and property prices for compensation;

dd) Support funds: support for stabilizing life (number of supported people, support amounts, support period); support for stabilizing production and business; support for moving livestock; support for training, career conversion and job search (supported land area, supported land prices); support for resettlement; support for dismantlement, demolition, relocation; other support funds (if any);

e) Total compensation and support amounts: compensation for land, compensation for property, compensation for property relocation costs, compensation for investment costs in remaining land, support amounts;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



h) Location, land area when allocating land, leasing land with the same purpose of use as the type of the expropriated land for organizations; leasing land with the same purpose of use as the type of expropriated land for households and individuals (if any);

i) Location, area, land levy upon compensation with land of a purpose different from that of the expropriated land (hereinafter referred to as land of a different purpose) or housing for households and individuals (if any);

k) Outstanding amount of land-related financial obligations (if any);

l) Total compensation amount to be received that will be equal to the total initial compensation amount minus any outstanding land levies, land rents (if any);

m) The amount of deferred land levy upon resettlement land allocation (if any).

3. Within 30 days from the date of receipt of a complete set of documents as required, the local land authority shall preside over and cooperate with relevant agencies in appraising the compensation, support, resettlement plan. This plan shall then be submitted to the Chairperson of the commune-level People's Committee.  The plan shall be appraised as follows:

a) Compensation, support, resettlement  agency shall send an appraisal application, as prescribed in point b of this clause, to the relevant appraisal agency;

b) The appraisal application includes an appraisal application form; draft compensation, support, resettlement plan; notice of land expropriation; detailed report on the inventory, statistics, and classification of expropriated land area and related property; extract of cadastral map or cadastral measurement of expropriated land plot; document determining the origin of expropriated land plot and property on land; minutes of the meeting to collect opinions on the compensation, support, resettlement plan; relevant documents (if any);

c) Matters to be appraised: the compliance with legal provisions on compensation, support and resettlement; procedures for compensation, support, resettlement and other matters related to the compensation, support, resettlement plan.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 4. Compensation with land of a different purpose or housing upon land expropriation by state as prescribed in clause 1, Article 96, clause 1, Article 98, clause 1, Article 99 of the Land Law

1. The land price for calculating land levies upon compensation with land of a different purpose for households, individuals, and overseas Vietnamese who have been continuously using residential land or owning housing attached to land use rights in Vietnam is the land price determined according to the land price schedule at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan. If the land is compensated through a lease arrangement, and the rent is paid in a single lump sum for the entire lease period, the land value used to determine the rent is the specific price set by the Chairperson of the competent People’s Committee at the time the compensation, support, resettlement  plan is approved.

For land expropriated from business entities for purposes other than residential use, the specific land value used for calculating land levies or rents shall be determined by the Chairperson of competent People's Committee at the time the compensation, support, resettlement plan is approved.

2. If there is a difference in value between the compensation, support amount and the payable land levy, land rent or house purchase amount when the expropriated land user is compensated with land of a different purpose or housing, the difference shall be addressed as follows:

a) If the compensation, support amount is greater than the payable land levy, land rent or house purchase amount, the expropriated land user is entitled to difference;

b) If the compensation, support amount is less than the payable land levy, land rent or house purchase amount, the expropriated land user must pay the difference.

3. The provincial People's Committee shall, based on the land fund, housing fund and actual situation in the province, prescribe the conversion rate and requirements for compensation with land of a different purpose or housing to compensate the expropriated land user as prescribed in this Article.

Article 5. Other entities eligible for land compensation and eligibility requirements for land compensation stipulated in clause 3, Article 95 of the Land Law

1. Households and individuals are still entitled to land compensation although they have no land use rights documents provided that they are eligible for Certificates of land use rights and ownership of property on land (hereinafter referred to as “Certificate of land use rights”) as stipulated in clauses 1, 2, 3, 4, 5 and 6 of Article 138 of the Land Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Households or individuals are still entitled to land compensation although the land was allocated without proper authorization under land law at the time of allocation, or the land was acquired through the purchase, liquidation, Government valuation, or distribution of housing and construction works on land against the law before July 1, 2014, provided that they have been stably using the land since then.

Those who are allocated land without proper authorization from July 1, 2014 to the effective of the Land Law are still entitled to land compensation if they can provide proof of payment for the land use.

4. Households or individuals whose land use right certificates indicate a land classification that differs from the classification stipulated in Article 9 of the Land Law or the actual land use, shall be compensated based on the reclassified land type as prescribed in clause 2 of Article 10 of the Land Law.

5. Households or individuals are still entitled to land compensation although they were not issued with Certificates of land use rights provided that they directly engaged in agricultural production and have been stably using the agricultural land before July 1, 2004.

Article 6. Compensation upon land expropriation by state in case where the actual measured area is different from the area recorded on land use right documents

Regarding any household or individual whose land is being expropriated by the state, if the actual measured area differs from the area stated on the land use right certificate, the housing and land use right certificate, the certificate of land use right, the certificate of ownership of house and other property on land, or the certificate of land use right and ownership of other property on land (hereinafter referred to as "certificate") or the document stipulated in Article 137 of the Land Law, land compensation shall be made as follows:

1. If the actual measured area is smaller than the area stated on the land use right certificate or the document stipulated in Article 137 of the Land Law, land compensation shall be based on the actual measured area as prescribed in clause 6 of Article 135 of the Land Law.

In case where the actual measurement for land expropriation has been completed but subsequently, due to natural disasters, landslides or subsidence, the area of the measured plot of land has changed at the time of formulation of the compensation, support, resettlement plan, the measured data shall be used to formulate the compensation, support, resettlement plan.

2. In case where the actual measured area is larger than the area stated on the land use right certificate or the document stipulated in Article 137 of the Land Law, and there is no dispute with neighboring land users, the compensation area shall be determined based on the actual measured area as prescribed in clause 6 of Article 135 of the Land Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 7. Compensation, support and resettlement upon land expropriation by state in special cases

1. Regarding investment projects as stipulated in clause 1, Article 92 of the Land Law that require specific policies on compensation, support, and resettlement, according to the investment project whose investment policy has been decided and approved by the National Assembly or the Prime Minister, the provincial land management authority shall consider requesting the provincial People's to decide specific policies on compensation, support, and resettlement suitable for each project and the actual conditions of the province.

2. When the State expropriates land from a people's armed force that is using land as prescribed in clause b, paragraph 3, Article 92 of the Land Law, it shall be provided with a new location or the land location shall be changed in accordance with the national defense land use planning, the security land use planning, or as prescribed in clause 2, Article 84 of the Land Law.

If a people's armed force incurs damage of property assigned by the State for management and use and has to relocate to a new facility, it shall be compensated for the damage and may use the compensation to invest in the new facility in accordance with the project or duty approved by a competent authority.

3. In case where land is expropriated due to a risk of threat to human life or the land is no longer usable as prescribed in clause 3, Article 82 of the Land Law, households and individuals shall be compensated according to Articles 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 and 17 of this Decree.

4. Budget for compensation and support in the cases stipulated in clause 3 of this Article shall be prescribed as follows:

a) The state budget shall be used for compensation in case of land expropriation in areas at risk of landslides, subsidence, or other natural disasters that threaten human life; or other land that has been eroded, subsided, or affected by other natural disasters and can no longer be used as prescribed in point b, clause 3, Article 82 of the Land Law;

b) If an organization or individual causes environmental pollution to such an extent that the land is severely contaminated, posing a threat to human life and becoming unusable for its intended purpose, the organization or individual shall be liable for compensation. In the event that the organization has been dissolved or bankrupt, the compensation shall be covered by state budget.

Article 7a. Handling cases where the decision to expropriate land for project execution has been issued but the planning, markers or alignment is changed

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Chapter II

DETAILED REGULATIONS ON COMPENSATION, SUPPORT, AND RESETTLEMENT UPON LAND EXPROPRIATION BY STATE

Section 1. COMPENSATION FOR RESIDENTIAL LAND AND OTHER LAND IN LAND PLOTS WITH HOUSES, HOUSES AND SUPPORTING FACILITIES

Article 8. Land compensation for households and individuals using land with houses, land with houses and supporting facilities, households and individuals using residential land in disadvantaged areas, severely disadvantaged areas before July 1, 2014, without land use right documents

1. Households or individuals that have been continuously using land with houses, land with houses and supporting facilities before December 18, 1980, without any land use right documents, if they are eligible for compensation as stipulated in clause 1, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for land as follows:

a) In case of the complete or partial expropriation of the land with houses, land with houses and supporting facilities, if the expropriated area of the land plot is equal to or larger than the residential land recognition limit as stipulated in clause 5 Article 141 of the Land Law, the compensation shall be equal to the residential land recognition limit.

If the area of the land with houses, the land with houses and supporting facilities is greater than the maximum recognized residential land area as stipulated in clause 5, Article 141 of the Land Law, when the State expropriates the land, house, or supporting facility, compensation shall be made based on the actual constructed land area. However, the land levy that would have been paid when obtaining a land use right certificate for the exceeding land area at the time the compensation, support, resettlement plan is approved shall be deducted.

b) In case of the complete or partial expropriation of the land plot with houses, the land plot with the houses or supporting facilities, if the land plot area is smaller than the residential land recognition limit as stipulated in clause 5 Article 141 of the Land Law, compensation shall be made for the entire expropriated land area;

c) In case of the expropriation of land area used for non-agricultural production, business, commerce, or service purposes, compensation shall be made based on the actual expropriated land area. The type of land for compensation shall be the same as the land granted by the State with land levy payment and with a long-term stable land use term;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Households or individuals that have been continuously using land with houses, land with houses and supporting facilities from December 18, 1980, to before October 15, 1993, without any land use right documents, if they are eligible for compensation stipulated in clause 1, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for land as follows:

a) In case of the complete or partial expropriation of the land with houses, land with houses or supporting facilities, if the expropriated area of the land plot is equal to or larger than the residential land recognition limit as stipulated in clause 5 Article 141 of the Land Law, the compensation shall be equal to the residential land recognition limit.

If the area of the land with houses, the land with houses and supporting facilities is greater than the maximum recognized residential land area as stipulated in clause 5, Article 141 of the Land Law, when the State expropriates the land, house, or supporting facility, compensation shall be made based on the actual constructed land area. However, the land levy that would have been paid when obtaining a land use right certificate for the exceeding land area at the time the compensation, support, resettlement plan is approved shall be deducted;

b) In case of the complete or partial expropriation of the land plot with houses, the land plot with the houses or supporting facilities, if the expropriated land plot area is smaller than the residential land recognition limit as stipulated in clause 5 Article 141 of the Land Law, compensation shall be made for the entire expropriated land area;

c) In case of the expropriation of land area used for non-agricultural production, business, commerce, or service purposes, compensation shall be made based on the actual expropriated land area. The type of land for compensation shall be the same as the land granted by the State with land levy payment and with a long-term stable land use term;

d) Regarding the remaining land area of the plot that is not compensated for residential land and non-agricultural production land, commercial land, or service land as stipulated in points a and c of this clause, compensation shall be made according to the agricultural land type.

3. Households or individuals that have been continuously using land with houses, land with houses and supporting facilities from October 15, 1993, to before July 01, 2014, without any land use right documents, if they are eligible for compensation stipulated in clause 1, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for land as follows:

a) In case of the complete or partial expropriation of the land with houses, land with houses or supporting facilities, if the expropriated area of the land plot is equal to or larger than the residential land allocation limit as stipulated in clause 2 Article 195 and clause 2 Article 196 of the Land Law, the compensation shall be equal to the residential land allocation limit.

If the area of the land with houses, the land with houses and supporting facilities is greater than the residential land allocation limit, the compensation shall be made based on the actual constructed land area;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) In case of the expropriation of land area used for non-agricultural production, business, commerce, or service purposes, the compensation shall be made based on the actual expropriated land area. The type of land for compensation shall be the same as the land granted by the State with land levy payment and with a long-term stable land use term;

d) Regarding the remaining land area of the plot that is not compensated for residential land and non-agricultural production land, commercial land, or service land as stipulated in points a and c of this clause, compensation shall be made according to the agricultural land type.

4. Regarding households or individuals that are eligible to be allocated agricultural land as stipulated in clause 1, Article 118 of the Land Law, and have been stably using residential land before July 1, 2014, without any land use right documents, and are registered as permanent residents in disadvantaged areas or extremely disadvantaged areas, if they are eligible for the compensation stipulated in clause 1, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for residential land; the compensated residential land area shall be determined as prescribed in clauses 1, 2, and 3 of this Article.

5. Disadvantaged areas or extremely disadvantaged areas refer to administrative divisions at the commune level, or smaller levels such as hamlets, villages, neighborhoods, and similar population points as defined or decided by the Government, the Prime Minister, or individuals delegated or authorized by the Government or the Prime Minister.

Article 9. Land compensation for households and individuals that are using land for housing and commit violations against the land law before July 1, 2014

If, before July 1, 2014, a household or individual used land for housing and committed any violation against the land law as specified in clause 1, points a and c of clause 2 and clause 3, Article 139 of the Land Law, such person may be compensated for the used land, provided that they are eligible for compensation specified in clause 2 Article 5 of this Decree:

1. If a plot of land with a house has been stably used before October 15, 1993, the area of land to be compensated shall be equal to the actual area of land being expropriated, but shall not exceed the residential land recognition limit prescribed by the local authority.

2. If a plot of land with a house has been stably used from October 15, 1993 to before July 1, 2014, the area of land to be compensated shall be equal to the actual area of land being expropriated, but shall not exceed the residential land allocation limit prescribed by the local authority.

3. If a plot of land with a house has a residential area that exceeds the residential land recognition limit or residential land allocation limit as stipulated in clauses 1 and 2 of this Article, the compensation for the land shall be based on the actual area of the land used for housing that is being expropriated.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 10. Residential land compensation for households and individuals that are using land allocated without proper authorization before the effective date of the Land Law

Households or individuals are still entitled to land compensation although the land was allocated without proper authorization, or the land was acquired through the purchase, liquidation, Government valuation, or distribution of housing and construction works on land against the law before the effective date of the Land Law provided that they are eligible for compensation as prescribed in clause 3, Article 5 of this Decree:

1.  Regarding land that has been stably used before October 15, 1993, they shall be compensated in accordance with clause 2, Article 8 of this Decree.

2. Regarding land that has been stably used from October 15, 1993, to before July 1, 2004, they shall be compensated in accordance with clause 3, Article 8 of this Decree.

3. Regarding land that has been stably used from July 1, 2004, to before July 1, 2014, they shall be compensated as follows:

a) For land use cases as prescribed in points a and b, clause 3, Article 140 of the Land Law, the compensation shall be made in accordance with points a and b, clause 3, Article 8 of this Decree;

b) For the remaining expropriated land area (if any) that is not compensated according to point a, clause 3, Article 8 of this Decree, the compensation shall be made according to the current land use condition.

4. If a plot of land was granted from July 1, 2014, to before the effective date of the Land Law, and there is documentation proving that the land levy has been paid, the land compensation shall be paid according to clause 3, Article 8 of this Decree.

Article 11. Compensation upon residential land expropriation by state prescribed in Article 98 of the Land Law

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. When the State expropriates residential land in Vietnam from households, individuals, and overseas Vietnamese that have been continuously using residential land or owning housing attached to land use rights in Vietnam, they shall be compensated as follows if they are eligible for compensation:

a) If the entire residential land is expropriated or the remaining residential land area of ​​the land plot after expropriation is smaller than the minimum area prescribed by the provincial People's Committee regarding the minimum area in clause 2, Article 220 of the Land Law, and the household or individual has no other residential land or house in the commune where the expropriated land is located, they shall be compensated with residential land or resettlement housing;

b) If the entire residential land is expropriated or the remaining residential land area of ​​the land plot after expropriation is smaller than the minimum area prescribed by the provincial People's Committee regarding the minimum area in clause 2, Article 220 of the Land Law, and the household or individual has other residential land or house in the commune where the expropriated land is located, they shall be compensated with money or residential land or house or other land if the locality has sufficient land fund and housing fund.

Section 2. COMPENSATION FOR AGRICULTURAL LAND AND NON-AGRICULTURAL LAND OTHER THAN RESIDENTIAL LAND

Article 12. Land compensation for households and individuals using land for agricultural purposes

1. In case where land is used without a land use right certificate, if households or individuals are eligible for compensation as prescribed in clause 1, Article 5 of this Decree, the compensation shall be paid for the expropriated land area, but shall not exceed the maximum limit for the allocation of agricultural land to individuals as prescribed in Article 176 of the Land Law.

2. In case where land was used against the land law before July 1, 2014, if they are eligible for compensation as prescribed in clause 2, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for the expropriated land area, but the compensation shall not exceed the maximum limit for the allocation of agricultural land to individuals as prescribed in Article 176 of the Land Law.

For agricultural land that has been stably used due to self-reclamation, the compensation for land shall be made in accordance with the limit for the allocation of agricultural land as prescribed by the provincial People's Committee.

3. In case where land was allocated without proper authorization before July 1, 2014, if households or individuals are eligible for compensation as prescribed in clause 3, Article 5 of this Decree, they shall be compensated for the expropriated land area, but the compensation shall not exceed the maximum limit for the allocation of agricultural land to individuals as prescribed in Article 176 of the Land Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) In case where land is used without a land use right certificate, if the expropriated land area exceeds the compensation area prescribed in clause 1 of this Article, the compensation area shall be equal to the actual expropriated land area;

b) In case where land is used against the land law, if the expropriated land area exceeds the compensation area prescribed in clause 2 of this Article, the remaining land area shall be considered for support as prescribed in clause 7 of this Article;

c) In case where land was allocated without proper authorization, if the expropriated land area exceeds the compensation area prescribed in clause 3 of this Article, the remaining land area shall be considered for support as prescribed in clause 7 of this Article.

5. For the agricultural land area that was transferred in excess of the limit before July 1, 2014, the compensation and support shall be prescribed as follows:

a) In case the transferor falls into the cases prescribed in clause 2, Article 95 of the Land Law, the transferee shall be compensated for the actual expropriated area;

b) In case where the transferor of land use rights does not belong to the cases prescribed in clause 2, Article 95 of the Land Law, the compensation and support for the transferee shall be based on the origin of the land use of the transferor for consideration in each specific case pursuant to clauses 1, 2, 3, and 4 of this Article.

6. When compensating for agricultural land being used by households and individuals due to land allocation, recognition of land use rights, or transfer of land use rights as prescribed by law, the land use term for compensation calculation shall be applied according to the land use term prescribed in point a, clause 1, Article 172 of the Land Law, without deducting the previously used time.

7. Regarding the remaining area of the expropriated land plot that is not eligible for land compensation as stipulated in clauses 1, 2, 3, 4, and 5 of this Article, the commune-level People's Committee shall decide other forms of support for each specific project based on the actual local situation.

Article 13. Compensation for non-agricultural land other than residential land upon land expropriation by state

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. If before July 1, 2014, a household or individual was using land for non-agricultural production, business, commerce, or services against the land law, but is eligible for compensation as prescribed in clause 2, Article 5 of this Decree, they shall still be compensated for the expropriated used area; the type of land for compensation shall be the same as land granted by the State with land levy payment and with a long-term stable land use term.

3. If before the effective date of the Land Law, a household or individual was granted land for non-agricultural purposes (not for residential purpose) but the land was allocated without proper authorization, or the land was acquired through the purchase, liquidation, Government valuation, or distribution of housing and construction works on land against regulations, and if they are eligible for compensation as prescribed in clause 3, Article 5 of this Decree, the compensation for the expropriated land shall be made as follows:

a) Regarding land that has been stably used before October 15, 1993, they shall be compensated in accordance with point c, clause 2, Article 8 of this Decree.

b) Regarding land that has been stably used from October 15, 1993, to before July 1, 2004, they shall be compensated in accordance with point c, clause 3, Article 8 of this Decree.

c) If the land was granted from July 1, 2014, to before the effective date of the Land Law, and there is documentation proving that the land levy has been paid, the land compensation shall be paid according to point c clause 3, Article 8 of this Decree.

4. Compensation for land shall be made for households and individuals that are using non-agricultural land that is not residential land, and whose land use term is stipulated in clause 1, Article 99 of the Land Law. To be specific:

a) In case where compensation is made by land with the same purpose as the expropriated land, the land use term of the compensated land shall be the remaining land use term of the expropriated land. If the land user wishes to extend the land use term, the land use term shall be determined in accordance with Article 172 of the Land Law, and the land user shall pay land levies or land rents for the extended term beyond the remaining land use term of the expropriated land;

b) In case of monetary compensation, the money shall be determined in accordance with clause 7 of this Article;

c)  In case of compensation by land with a different purpose of use or by housing, the compensation shall be made in accordance with Article 4 of this Decree.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. If the land users are compensated for land as prescribed in Article 100 of the Land Law, the following regulations shall apply:

a) Land compensation shall be made in case where the entire land area of the project is expropriated or the remaining area after expropriation is insufficient for the project to continue, and shall be made in accordance with point a, clause 4 of this Article;

b) In case of monetary compensation, the amount of compensation shall be determined in accordance with clause 7 of this Article.

7. In case where a person is using non-agricultural land that is not residential land and is subject to a time-limited land use right, and is compensated by money as prescribed in this Article, the amount of compensation shall be determined as follows:

Where:

Tbt: Amount of compensation;

G: Specific land price at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan;

S: Area of ​​expropriated land;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



T2: Remaining land use term:  equal to (=) land use term minus (-) land use term calculated up to the time of approval of the compensation, support, resettlement plan.

8. Households and individuals using land for commerce, services, non-agricultural production, or other non-agricultural purposes with a stable long-term land use term and eligible for compensation as prescribed when the State expropriates the land, shall be compensated according to the type of expropriated land as stipulated in clause 4, Article 171 of the Land Law.

9. For the remaining area of the expropriated land plot that is not eligible for land compensation as stipulated in clauses 1, 2, and 3 of this Article, the commune-level People's Committee shall decide other forms of support for each specific project based on the actual local situation.

Section 3. COMPENSATION FOR DAMAGE TO PROPERTY AND INVESTMENT COSTS IN REMAINING LAND

Article 14. Compensation for damage to houses or construction works on land upon land expropriation by state

1. Compensation for houses and other construction works prescribed in Point b, Clause 2, Article 102 of the Land Law shall be made according to the following regulations:

a) The compensation for house or construction work shall be equal to the current value of the damaged house or construction work and an amount calculated as a percentage of the current value of such house or construction.

The current value of the damaged house or construction work shall be determined as prescribed in point b of this clause.

The amount calculated as a percentage of the current value of the house or construction work shall be determined by the provincial People's Committee, but the total compensation shall not exceed 100% of the new construction value of a house or construction with equivalent technical standards to the damaged house or construction;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Where:

Tgt: Current value of the damaged house or construction work;

G1: Value of newly built damaged house or construction work with equivalent technical standards as prescribed in the law on construction;

T: Depreciation period applicable to damaged house or construction work;

T1: Time during which damaged house or construction work has been used.

c) If a house or other construction work is dismantled or partially demolished but the remaining part is still usable, the compensation shall be paid for the value of the demolished part and the cost of repairing and completing the remaining part to a standard equivalent to that of the house or construction before dismantlement or demolition;

d) For houses or construction works that do not meet the technical standards prescribed by specialized law, the provincial People's Committee shall prescribe specific compensation amounts suitable to the actual circumstances of the province.

2. If the house, other construction work, technical infrastructure, social infrastructure, or other property is state-owned property, after the dismantlement or demolition of the house, construction, or property as prescribed in clauses 2 and 3 of Article 102 of the Land Law, if there are any reusable materials or property, they shall be sold.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 14a. Compensation for crops and livestock

1. In case of compensation for perennials which can be harvested repeatedly as stipulated in clause 2, Article 103 of the Land Law, if the yield of the perennial garden that has not yet been harvested corresponding to the remaining number of years in the harvesting cycle cannot be determined, the amount of compensation shall be calculated based on the actual damage value of the garden.

2. In case where the provincial People's Committee considers issuing the unit price for compensation for damage to crops and livestock as specified in clause 6, Article 103 of the Land Law but a process of producing crops and livestock has not yet been issued by a competent authority, the People's Committee shall, based on the local actual situation, issue the unit price.”.

Article 15. Article 15. Compensation and support for the relocation of graves upon land expropriation by state

1. Provincial People's Committees and commune-level People's Committees shall be responsible for allocating land in planned cemeteries for the relocation of graves when land is expropriated.

2. Regarding graves located in the expropriated land that must be relocated, the compensation shall be paid for following costs:  excavation, removal, relocation, new construction, and other reasonable costs directly related to the relocation of graves to a new location in the local planned cemetery; in case where families arrange for the relocation of graves outside the designated area, a financial support shall be provided.

If a commune where the land is expropriated no longer has land in cemeteries, the provincial People’s Committee shall be responsible for reviewing the land fund in other administrative divisions at the commune level to arrange for the relocation of graves and shall prescribe support policies to encourage cremation and the preservation of ashes at ash-keeping facilities in order to build a civilized lifestyle, ensure the efficient, sustainable, and economical use of land, and contribute to environmental protection.

The provincial People’s Committee shall prescribe compensation and support amounts in this clause in accordance with local customs and practices.

3. If the graves located in the expropriated land must be relocated and there are no relatives to carry out the relocation, the compensation, support, resettlement agency shall, in cooperation with the People's Committee of the commune where the graves are located, carry out the procedures for relocating the graves in accordance with local customs and practices; the relocation costs shall be included in the compensation, support, and resettlement costs when land is expropriated.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



If a person is using a state-owned house (rented house or house managed by a self-governing organization) that is located within the land expropriation area and must be demolished, the tenant shall not be compensated for the area of the state-owned house and the unauthorized expanded area, but shall be compensated for the costs of self-renovation, repair, and upgradation; the compensation amount shall be determined by the provincial People’s Committee.

Article 17. Compensation for remaining land investment costs upon land expropriation by state

1. The remaining investment costs in the expropriated land as prescribed in clause 2, Article 107 of the Land Law are the costs that the land user has invested in the land as prescribed in clause 7, Article 3 of the Land Law.

2.  Conditions for determining remaining investment costs in the expropriated land:

a) There are records and documents proving that the investment in the land has been made;

b) If there are no documents or invoices to prove the remaining investment costs in the expropriated land, the provincial People’s Committee shall, based on the actual circumstances in the province, prescribe the method for determining such remaining investment costs in the expropriated land.

3. Records and documents proving the investment in the land specified in point a, clause 2 of this Article include one of the following documents:

a) Documents, contracts for ground leveling, land reclamation (if the land is allocated or leased by the state); documents, contracts for land improvement, anti-erosion, anti-intrusion, construction, land reinforcement (if the land is used as production and business premises);

b) Documents, contract liquidation; invoices, payment documents for each cost item invested in the land specified in point a of this clause;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. The remaining investment costs in the expropriated land, except for the case specified in clause 6 of this Article, shall be determined as follows:

Where:

 P: The remaining land investment cost;

P1: Ground leveling cost;

P2: Cost of improvement to increase soil fertility, remove salinity, prevent erosion and intrusion for land used for agricultural purposes;

P3: Cost of reinforcing the load-bearing capacity to prevent vibration and subsidence of land for production and business premises;

P4: Other related costs invested in land suitable for the purpose of land use;

The costs P1, P2, P3 and P4 mentioned above must be converted in accordance with market prices at the time the decision to approve the recompense, support and resettlement arrangement is issued.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



T2: Remaining land use term.

If the investment in the land is made after the State allocates or leases the land, the land use term (T1) shall start from the time of investment in the land.”.

5. If an expropriated land user does not have one of the documents specified in clause 3 of this Article but has actually invested in the land, he/she shall be compensated for the remaining investment costs in the expropriated land as prescribed in point b, clause 2 of this Article.

6. The remaining investment costs for the expropriated land in case where advance payments for compensation, support, and resettlement have not been fully deducted from land levies or land rents as prescribed in point d, clause 2, Article 107 of the Land Law, and in case of land lease with annual rent payments but advance payments have been made for many years and the leased period has not been completely used, shall be determined in accordance with regulations of law on land levies and land rents.

Article 18. Compensation and support for damage related to land within the safety protection corridor, protected area, and safety belt when constructing works or areas with safety protection corridors

1. Compensation for damage due to limited land use within the safety protection corridor, protected area, and safety belt as prescribed in Article 106 of the Land Law shall be made as follows:

a) If the land is repurposed from residential land to non-agricultural land or from residential land to agricultural land, the amount of compensation shall be determined as follows:

Tbt = (G1 - G2) x S

Where:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



G1: Average price per square meter of residential land;

G2: Average price per square meter of non-residential non-agricultural land or agricultural land;

S: Area of land repurposed;

b) If the land is repurposed from non-residential non-agricultural land to agricultural land, the amount of compensation shall be determined as follows:

Tbt = (G3 - G4) x S

Where:

Tbt: Amount of compensation for damage;

G3: Average price per square meter of non-residential non-agricultural land;

G4: Average price per square meter of agricultural land;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) In case where the land is not repurposed but the land use capacity is limited, the determination of the amount of compensation shall be specifically prescribed by the People's Committee of the province based on the actual circumstances of the province.

2.  Houses, other construction works and other property on land located within the safety protection corridor, protected area, and safety belt that are damaged due to clearance shall be compensated at the prescribed damage level.

3. When the safety protection corridor, protected area, and safety belt occupy more than 70% of the land area of a plot with houses or construction works, the remaining land area shall also be compensated in accordance with clauses 1 and 2 of this Article if the remaining land area is smaller than the minimum area prescribed by the provincial People’s Committee for the minimum area under clause 2, Article 220 of the Land Law in case of residential land or in case the land with construction works is insufficient to construct works according to regulations of specialized law.

4. Regarding residential land with houses located within the safety protection corridor, protected area, and safety belt of a construction project or an area with a safety protection corridor that must be relocated pursuant to the decision issued by a competent state agency, the land user and the owner of the house shall, in addition to being compensated in accordance with clause 1 of this Article, if needed, be arranged for resettlement, compensated with relocation costs, and receive support to stabilize their lives and production.

Section 4. RESETTLEMENT SUPPORT AND ARRANGEMENTS

Article 19. Livelihood stabilization support upon land expropriation by state

1. Households and individuals using agricultural land, if eligible for land compensation, will be supported to stabilize their livelihoods.

a) If 30% to 70% of the agricultural land currently in use is expropriated, the support will be provided for 6 months if no relocation is required and for 12 months if relocation is necessary. In case where it is necessary for relocation to a disadvantaged area or severely disadvantaged area, the maximum support period is 24 months.  If more than 70% of the agricultural land currently in use is expropriated, the support will be provided for 12 months if no relocation is required and for 24 months if relocation is necessary. In case where it is necessary for relocation to a disadvantaged area or severely disadvantaged area, the maximum support period is 36 months;

b) The expropriated agricultural land area for the purpose of calculating livelihood stabilization support as stipulated in point a of this clause is the area within the commune where the land is expropriated at the time on which the decision approving the compensation, support, resettlement plan is issued, and is determined for each land expropriation project by the competent authority, without adding up the areas of agricultural land expropriated from previous land expropriation projects;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) The number of household members supported under this clause includes individuals who share land use rights at the time of approval for the recompense, support and resettlement plan, as well as any household members who were born after the agricultural land was allocated to that household (if applicable); the determination of the number of individuals with shared land use rights is to be agreed upon by the household members and they shall be held accountable to the law.”

2. In case where households or individuals using land as prescribed in clause 1 of this Article have less than 30% of their agricultural land area expropriated; households or individuals using land that are not eligible for land compensation or that have been allocated land for agricultural, forestry, aquaculture, or salt production purposes from state-owned farms, forestry enterprises, or agricultural, forestry companies converted from state-owned farms, agricultural production groups, or agricultural cooperatives and have land allocation contracts, the provincial People’s Committee shall decide the support amount, support period, and regular payment of support money to suit each specific case but such support amount shall not exceed the support amount prescribed in clause 1 of this Article.

Article 20. Support for stabilizing production and business upon land expropriation by state

Support for stabilizing production and business upon land expropriation by state as prescribed in point b, clause 1, Article 108 of the Land Law shall be provided according to the following regulations:

1. Entities eligible for support for stabilizing production and business

a) Economic organizations, households, individuals engaged in production and business, foreign-invested economic organizations whose production and business have been suspended and which are eligible for land compensation shall be supported to stabilize production and business;

b) Households and individuals using land that is allocated for agricultural, forestry, aquaculture, or salt production purposes, which are subject to clause 2, Article 19 of this Decree, shall be supported to stabilize production.

2. Eligibility requirements for support for stabilizing production and business

a) Households, individuals, economic organizations, and foreign-invested economic organizations that are eligible for land compensation;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Support for stabilizing production and business is provided as follows:

a) Households and individuals whose agricultural land is expropriated shall be supported to stabilize production and business as follows:  support for crop and livestock seeds for agricultural production, crop cultivation techniques, livestock breeding, and technical services for production, business, commerce, and services;

b) Economic organizations, households, or individuals engaged in production and business, foreign-invested economic organizations that are subject to clause 1 of this Article shall be supported to stabilize production and business with a monetary amount of up to 30% of one year's post-tax income, based on the average income of the preceding 3 years.

Post-tax income is the remaining income after deducting personal income tax and corporate income tax as prescribed by the law on personal income tax and the law on corporate income tax.

4. Employees employed under labor contracts by an economic organization, household, individual engaged in production and business, or foreign-invested economic organization specified in clause 1 of this Article shall be entitled to the unemployment benefit regime as prescribed by labor law, but the benefit period shall not exceed 6 months.

5. In case where households or individuals are using land being allocated for agricultural, forestry, aquaculture, or salt production purposes from state-owned farms or forestry companies, or agricultural companies converted from state-owned farms, agricultural production groups, or agricultural cooperatives, and have land allocation contracts, the provincial People's Committee shall decide the appropriate amount of support to stabilize production for each project.

6. The provincial People's Committee shall decide the amounts of support, support period, and regular payment of support funds to suit the province reality.

Article 21. Support for relocation of livestock; support for dismantling, demolishing, and relocating property on land that is part of a construction project under a construction permit with a limited term pursuant to construction law and whose permit has expired at the time of land expropriation

1. The provincial People’s Committee, based on the actual circumstances in the province, shall prescribe cases, measures, and amounts of support for relocation for each type of livestock when the State expropriates land to support livestock owners when they have to relocate.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The provincial People’s Committee shall, based on the actual circumstances in the province, prescribe cases, measures, and support amounts for dismantling, demolishing, and relocating the construction work in accordance with each specific case.

Article 22. Support for training, job conversion and job search for households and individuals upon land expropriation by state

1. Individuals directly engaged in agricultural production who are supported for training, job conversion and job search as prescribed in point a, clause 1, Article 109 of the Land Law are individuals who are using agricultural land and have income from agricultural production on that land at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan and do not fall into the following cases:

a) Officials, public employees, commissioned officers on service, professional soldiers, national defense officials, national defense workers and employees, commissioned officers, non-commissioned officers, public security workers, cipher officers and other people working in cryptographic organizations who are paid from the state budget;

b) Pensioners;

c) People having lost their ability to work or quitting their jobs and entitled to monthly social insurance benefits;

d) Employees having indefinite-term labor contracts.

2. Households directly engaged in agricultural production that are supported for training, job conversion and job search as prescribed in point a, clause 1, Article 109 of the Land Law are households that are using agricultural land with at least one member having income from agricultural production on that land at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan and do not fall into the cases prescribed in points a, b, c and d of clause 1 of this Article.

3. The amounts of support for training, job conversion and job search as prescribed in Article 109 of the Land Law is prescribed by the provincial People’s Committee based on the actual circumstances in the province. However, this support amount shall not exceed 5 times the price of the same type of agricultural land as listed in the local land price schedule for the entire area of expropriated agricultural land, and must be also consistent with the provincial agricultural land allocation limit as prescribed in Article 176 of the Land Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. Households and individuals directly engaged in agriculture are supported in training, career transition, and job seeking as stipulated in point a, clause 1, Article 109 of the Land Law, including individuals that meet the requirements for issuance of Certificate of land use rights.

Article 23. Livelihood stabilization support upon land expropriation by state

1. In case where households, individuals, or overseas Vietnamese that are eligible for resettlement support as prescribed in clause 8, Article 111 of the Land Law wish to arrange their own accommodation may, in addition to being compensated for land in cash, also receive financial support to arrange their own accommodation.

2. The provincial People’s Committee shall, based on the scale of the expropriated residential land area, the number of household members and specific conditions in the province, prescribe the appropriate support amount in clause 1 of this Article.

Article 24. Resettlement arrangement

1. The minimum resettlement allowance as prescribed in clause 8, Article 111 of the Land Law shall be granted as follows:

a) The minimum resettlement allowance shall be prescribed in the form of residential land, housing, or monetary compensation to suit the choice of the resettled person;

b) In case where the minimum resettlement allowance is prescribed in the form of residential land or housing, the area of residential land for resettlement shall not be smaller than the minimum area as prescribed by the provincial People’s Committee on the minimum area in clause 2, Article 220 of the Land Law, and the area of resettlement housing shall not be smaller than the minimum apartment area as prescribed by housing law.

If the minimum resettlement allowance is prescribed in the form of housing, the area of resettlement housing shall not be smaller than the minimum apartment area as prescribed by housing law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) According to point a and point b of this clause and the specific circumstances of the province, the provincial People’s Committee shall prescribe the minimum resettlement allowance in the form of residential land, housing, or a combination of housing and monetary compensation.

2. Individuals who are using state-owned housing located in the land expropriation area and have to demolish their houses without any other place to live in the commune where the land is expropriated shall be supported with rental housing at the resettlement location; the rental price shall be the rental price of state-owned housing; the rented house at the resettlement location shall be sold to the tenant in accordance with the law on housing on the sale of state-owned housing to tenants; in case where the person whose house is being expropriated has a need and the local government has a residential land fund, a resettlement housing fund, commercial housing, or social housing, he/she shall be considered for allocation of residential land with land levy payment, sale of housing; in case of self-arrangement of a new place to live, he/she shall be supported with money.

The provincial People’s Committee shall prescribe the support for renting housing, allocating residential land, selling housing, and providing financial support for self-arranging accommodation as prescribed in this clause.

3. In case where projects on national defense, security, transportation, irrigation, technical infrastructure, or social infrastructure require the expropriation of residential land within a plot of land with a house, and the land owner wishes to resettle within that place by exchanging the location of the residential land to the rear within the remaining agricultural land area of the plot after expropriation, the resettlement arrangement in this case shall be carried out as follows:

a) On-site resettlement shall be arranged by allowing the land repurposing from agricultural land to residential land within the land allocation limits prescribed in clause 2, Article 195 and clause 2, Article 196 of the Land Law;

b) Land levies shall be exempted when repurposing land from agricultural land to residential land for resettlement as prescribed in point a of this clause for an area equal to the expropriated residential land area in case where the land owner agrees to compensation for agricultural land for the expropriated land area.

4.  Regarding the land fund and housing fund for resettlement arrangement, the following regulations shall apply:

a) The compensation, support, resettlement agency shall implement resettlement projects or receive the transfer of the right to use residential land, commercial housing, or social housing for resettlement for the cases prescribed in Article 111 of the Land Law;

b) The funding for implementing resettlement projects or receiving the transfer of the right to use residential land, commercial housing, or social housing as prescribed in point a of this clause shall be advanced from the state budget, the Land Development Fund, or other funds entrusted or from the investor voluntarily advancing compensation, support, and resettlement funds;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) The purchase of commercial housing or social housing for resettlement shall comply with the law on housing and other relevant laws.

5. Regarding households and individuals that must relocate their houses without meeting the conditions for compensation for residential land when the State expropriates land affixed to housing, if they do not have any other housing in the communes where the land is expropriated, they will be allocated residential land with land levy payment or offered for sale, lease, or lease-purchase of housing by the State.

6. A  resettlement location shall be selected in the following order of priority:

a) The administrative division of commune where the expropriated land is located;

b) Another commune-level administrative division with equivalent conditions in case where the administrative division of commune where the expropriated land is located does not have land to arrange for resettlement;

c) Land zone with a convenient location for establishment of a resettlement area.

Section 5. ALLOCATION OF FUNDING AND PAYMENT OF COMPENSATION, SUPPORT, AND RESETTLEMENT

Article 25. Payment of compensation, support, and resettlement

1. The deduction of the amount of outstanding land-related financial obligations from the amount of compensation as prescribed in clause 6, Article 94 of the Land Law shall be made as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The amount of outstanding financial obligations as prescribed in point a of this clause shall be determined in accordance with the law on collection of land levies and land rents.

In case where the amount of outstanding financial obligations at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan is greater than the amount of compensation, the household or individual may defer the payment of the difference; if the household or individual is resettled, after deducting the compensation amount from the amount to be allocated for residential land or the purchase of housing at the resettlement location and the remaining amount is less than the amount of outstanding financial obligations, the household or individual may defer the payment of the difference;

c) The compensation amount to be deducted from the outstanding financial obligations includes the compensation amount for land and the compensation amount for remaining costs for investment in the land (if any).

Amounts of compensation for relocation costs, property damage, business interruption, and other support amounts shall not be deducted from the outstanding land-related financial obligations.

2. In case of compensation by allocating new land, allocating residential land and resettlement housing, allocating resettlement housing, if there is a difference in value, the difference shall be paid in cash according to the following regulations:

a) In case the compensation for land is greater than the value of the land and housing, or housing in the resettlement area, the resettled person shall receive the difference;

b) In case the compensation for land is less than the value of the land and housing, or housing in the resettlement area, the resettled person shall pay the difference, except for the case specified in clause 1, Article 24 of this Decree.

3. Upon determination of the amount of land compensation that the expropriated land user receives as prescribed in this Decree, the amount of land levies and land rents payable as when the land use right certificate is granted at the time of approval of the compensation,support,resettlement plan shall be deducted.

4. The division of compensation and support for persons having joint rights to use land and property on land when the State expropriates land shall be consistent with the agreement of the persons having joint rights to use land and property on land as prescribed by the civil law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 26. Deferral of land levy payment upon resettlement land allocation

1. Entity eligible for deferral of land levy payment as prescribed in clause 3, Article 111 of the Land Law is the resettled person whose compensation amount is less than the land levy payable upon resettlement land allocation, if they wish to defer payment of the land levy and commit to hand over the site according to the schedule.

2. The land price for calculating the deferred land levy is the land price determined according to the land price list at the time of approval of the compensation, support, resettlement plan.

When paying the deferred land levy, the land user shall pay the debt according to the amount of land levy recorded on the Certificate of land use rights.

3. The amount of deferred land levy for households and individuals as prescribed in clause 1 of this Article shall be determined by the difference in the land levy payable when the household or individual is allocated resettlement land minus (-) the value of compensation for land.

In case of entities entitled to resettlement support, if the amount of land levy payable is greater than the minimum resettlement allowance, the payment of land levy may be deferred.

4. Households and individuals that are eligible for deferral of land levy payment as prescribed in clause 1 of this Article must fully pay the outstanding land levy before transferring, assigning, gifting, mortgaging, or contributing their land use rights.  In case where the land use right is inherited or gifted in accordance with the law but the land levy has not been fully paid, the heir or donee that is certified by the People's Committee of the commune as belonging to a poor or near-poor household may continue to defer payment.

5.  Procedures for deferral, payment, write-off of land levy debt for households and individuals that are entitled to defer land levy payments as prescribed in clause 1 of this Article shall be followed in accordance with the law on the collection of land levies and land rents.

Article 27. Costs for compensation, support, and resettlement

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Regarding expenditures that have been set at fixed rates, standards, and unit prices prescribed by a competent state agency, the current regulations shall apply;

b) Regarding expenditures that have not been set at fixed rates, standards, and unit prices, estimates shall be prepared based on actual conditions that are suitable for the specific characteristics of each project and local areas;

c) Costs for printing documents, office supplies, fuel, logistics, and administrative support services shall be calculated based on the actual needs of each project.

2. The authority competent to approve the compensation, support, resettlement plan shall decide the approval of the costs to ensure compensation, support, resettlement, mandatory land inspection and mandatory land expropriation.

3. In case where it is necessary to carry out mandatory land expropriation, the compensation, support, resettlement agency shall prepare an estimate of the costs for organizing and implementing the mandatory expropriation and submit it to the authority competent to approve the compensation, support, resettlement plan.  The allocation of funding for organizing and implementing the mandatory expropriation of land shall be prescribed as follows:

a) In case where land is allocated without collecting land levies, land is allocated or leased but is exempt from paying land levies and land rents, this fund shall be allocated and included in the project investment capital;

b) In case where the State expropriates land to create a clean land fund for allocation or lease through auction, this fund shall be advanced from the Land Development Fund;

c) In case where the investor voluntarily advances compensation, support, resettlement amount, this fund shall be deducted from the amount of land levies and land rents payable

4. Detailed costs for compensation, support, and resettlement prescribed in clause 1 of this Article include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Costs for investigation, survey, recording of the current status, measurement, inventory, statistics, classification of land area, and identification of the origin of land and property on expropriated land, including: Distributing declaration forms, providing guidance for land users and property owners to make declaration; surveying cadastral plots for plots in areas where there is no cadastral map for compensation and site clearance; measuring and determining the actual area of plots within the boundaries of the expropriated land for the project (if any) of each expropriated land user as a basis for compensation, support, and resettlement when the State expropriates land in case where re-measurement is required; inventorying the number of houses, structures, crops, livestock, and other property damaged when the State expropriates land of each property owner; checking and comparing the declaration with the inventory results, determining the level of damage for each specific land user or property owner; calculating the value of losses of land, houses, structures, crops, livestock, and other assets, costs of publishing in newspapers and broadcasting on radio or television;

c) Costs for the preparation, appraisal, approval, and public announcement of the compensation, support, resettlement plan from the calculation and determination of the compensation, support amount to the approval of the plan and the public announcement of the compensation, support, resettlement plan;

d) Costs for paying the compensation, support, resettlement amounts in accordance with the compensation, support, resettlement plan approved by the competent regulatory agency as prescribed;

dd) Costs for guidance on implementation and resolution of difficulties in the implementation of the compensation, support, resettlement plan approved by the competent regulatory agency as prescribed;

e) Costs for renting offices, hiring and purchasing machinery and equipment for the implementation of compensation, support, and resettlement activities of the compensation, support, resettlement agency and the appraisal agency;

g) Costs for printing, photocopying documents, stationery, communication (postal, telephone), and gasoline;

h) Costs for hiring labor to carry out compensation, support, and resettlement activities (if any).  The hiring of labor shall be decided by the head of the compensation, support, resettlement agency, as prescribed in internal expenditure regulations, and shall only be carried out when the compensation, support, resettlement agency does not have sufficient personnel to carry out the work and shall not be carried out for tasks that overlap with those of the personnel of the compensation, support, resettlement agency;

i) Other costs directly related to organization of compensation, support, and resettlement.

5. Detailed costs for organizing and implementing mandatory inventory and mandatory land expropriation:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Costs for purchasing materials, fuel, hiring vehicles, protective equipment, medical equipment, fire prevention equipment, and other necessary equipment to serve the implementation of mandatory inventory and mandatory land expropriation;

c) Costs for organizing the enforcement of the decision on mandatory inventory and mandatory land expropriation;

d) Costs for sealing, demolishing, dismantling, and transporting assets; relocating the person subject to coercion and related persons out of the coerced land, renting premises, hiring labor, and means of preserving assets, and other legal actual costs directly serving the preservation of assets when implementing compulsory land expropriation in case the owner of the assets fails to make payments;

dd) Costs for filming and taking photographs to serve the implementation of mandatory inventory and mandatory land expropriation;

e) Costs for protection and prevention of re-occupation of land after mandatory land expropriation of the coerced land plot until the completion of site clearance;

g) Other costs directly related to the organization of mandatory inventory and mandatory land expropriation.

6. Salaries, salary-based contributions, and allowances as prescribed by regulations of the compensation, support, resettlement agency related to the organization of compensation, support, resettlement, compulsory inventory, and compulsory land expropriation shall be consistent with the financial mechanism applicable to that organization.

Salaries and salary-based contributions shall be determined in accordance with applicable regulations of law.

7. The preparation, approval, use, and settlement of the budget for the organization of compensation, support, resettlement, mandatory inventory, and mandatory land expropriation shall comply with regulations of the law on the budget and the law on public investment.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 28. Funding for compensation, support, and resettlement

1. Funding for compensation, support, and resettlement is stipulated in clause 1, Article 94 of the Land Law.  The determination of the funding for compensation, support, and resettlement must follow the compensation support, resettlement plan approved by the competent authority.

2. The funding for compensation, support, and resettlement when the State expropriates land for projects is regulated as follows:

a) The funding for compensation, support, and resettlement is included in the total investment of the project;

b) Ministries and central authorities must provide necessary funding for compensation, support, and resettlement for their projects approved by the National Assembly, the Prime Minister, and projects where ministries and agencies are investors or investment decision-makers;

c) Provincial People’s Committees must provide necessary funding for compensation, support, and resettlement for projects under the jurisdiction of the provincial People's Councils and projects as prescribed in point b of this clause but the provincial People’s Committees are assigned to provide necessary funding for compensation, support, and resettlement in accordance with the law;

d) In case the investor voluntarily advances the compensation, support, and resettlement funding to the compensation, support, resettlement agency, the investor shall be responsible for providing the necessary funding for compensation, support, and resettlement.

Chapter III

IMPLEMENTATION PROVISIONS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Ministries, ministerial-level agencies, Governmental agencies, economic groups, corporations, and public service providers having investment projects that require land expropriation shall cooperate with People's Committees at all levels and compensation, support, resettlement agencies during the implementation process; and shall provide necessary funding for compensation, support, and resettlement as prescribed in this Decree.

2. Provincial People's Committees shall direct the organization of compensation, support, and resettlement when the State expropriates land as prescribed in this Decree.

3. The Ministry of Natural Resources and Environment shall inspect the implementation of compensation, support, and resettlement when the State expropriates land as prescribed in this Decree.

Article 30. Entry into force

1. This Decree enters into force from August 01, 2024.

2. The following Decrees will cease to be effective from the effective date of this Decree:

a) Decree No. 47/2014/ND-CP dated May 15, 2014 of the Government;

b) Decree No. 06/2020/ND-CP dated January 3, 2020 of the Government on amendments to the Decree No. 47/2014/ND-CP.

3. Certain provisions of related Decrees shall be annulled

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b)  Article 2 of the Government’s Decree No. 148/2020/ND-CP of December 18, 2020.

Article 31. Transitional regulations

1. In case where a decision on land expropriation has been issued in accordance with the land law before this Decree takes effect but the approval for compensation, support, resettlement plan has not yet been granted by the competent regulatory agency, the compensation, support, and resettlement shall continue to be implemented in accordance with this Decree.

2. In case where a decision on land expropriation and the approval for compensation, support, resettlement plan have been issued in accordance with the land law before this Decree takes effect but they have not been implemented, the approved compensation, support, resettlement plan shall continue to be implemented; the handling of delayed compensation payments shall be carried out in accordance with the law at the time the State issued the decision on land expropriation.

3. Regarding investment projects whose compensation, support, and resettlement policy framework has been approved by the Prime Minister before this Decree takes effect, but the local authority has not yet approved the compensation, support, resettlement plan, the more favorable policies for land losers as determined in the compensation, support, and resettlement policy framework and regulations of this Decree shall be applied.

4. Regarding investment projects for which the Prime Minister has decided a specific policy on compensation, support, and resettlement before this Decree takes effect, but the local authority has not yet approved the compensation, support, resettlement plan, the more favorable policies for land losers as determined in the Prime Minister’s decision and specific policy regulations and the more favorable provisions of this Decree shall be applied when implementing compensation, support, and resettlement.

5. In case where a competent regulatory agency has approved the budget estimate for ensuring the organization of compensation, support, and resettlement, forced inventory, and forced land expropriation before this Decree takes effect, the implementation shall continue in accordance with regulations of the law on guidelines for the implementation of the 2013 Land Law on the preparation, use, and settlement of the budget for organizing compensation, support, and resettlement when the State expropriates land.

6. In case where the land user is allowed to continue using the land to execute an investment project as specified in clauses 9 and 10 of Article 255 of the Land Law amended by clause 3 of Article 1 of Law No. 43/2024/QH15, and at the time the written approval for investment policy or investor/project developer selection is made by the competent authority, the land user has either selected an investor/project developer in compliance with investment laws, housing laws or bidding laws (in case where the land is expropriated by the State but has not been completely expropriated by the State and the investor/project developer has advanced an amount of compensation, support or resettlement or or has partially provided an amount of compensation, support and resettlement for the project are, the land expropriation, compensation, support and resettlement for land allocation or land lease shall comply with regulations of clause 9, clause 10 Article 255 of the Land law, clause 3 Article 1 of Law No. 43/2024/QH15.

Article 32. Implementation responsibilities

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Ministers, Heads of ministerial-level agencies, Heads of Governmental agencies, Chairpersons of People’s Committees at all levels, relevant organizations and individuals shall implement this Decree.

 



CERTIFIED BY

PP. MINISTER
DEPUTY MINISTER




Nguyen Thi Phuong Hoa

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 81/VBHN-BNNMT ngày 17/11/2025 hợp nhất Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

3.575

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.146