|
BỘ CÔNG AN
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 98/2026/TT-BCA
|
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2026
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH TRÌNH TỰ, THỦ TỤC NHẬN XÉT, ĐÁNH
GIÁ VÀ XẾP LOẠI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ CHO PHẠM NHÂN
Căn
cứ Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15;
Căn
cứ Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi
Luật số 85/2025/QH15;
Căn
cứ Nghị định số 02/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Công an, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2025/NĐ-CP;
Căn
cứ Nghị định số 170/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thi hành án hình sự;
Theo
đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc,
trường giáo dưỡng;
Bộ
trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định trình tự, thủ tục nhận xét, đánh
giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân.
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
Thông tư này quy định
trình tự, thủ tục nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm
nhân đang chấp hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công
an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cơ sở giam giữ
phạm nhân).
Điều
2. Nguyên tắc nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù
1. Bảo
đảm thực hiện các nguyên tắc thi hành án hình sự.
2. Bảo
đảm khách quan, công bằng, công khai, dân chủ và tính liên tục.
3. Căn cứ vào kết quả
thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của phạm nhân, Nội quy cơ
sở giam giữ phạm nhân, kết quả học tập và lao động cải tạo của phạm nhân.
Điều 3. Hành vi bị nghiêm cấm
trong nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù
1. Nhận xét, đánh giá
và xếp loại chấp hành án phạt tù không đúng quy định của pháp luật.
2. Làm giả, làm sai lệch
hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc nhận xét,
đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù; lợi dụng việc nhận xét, đánh giá và
xếp loại chấp hành án phạt tù để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của phạm
nhân hoặc vì mục đích vụ lợi.
Điều 4. Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù
1.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định thành lập Hội đồng xếp loại
chấp hành án phạt tù.
2. Đối với trại giam, thành phần Hội đồng gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là
Giám thị;
b) Ủy viên Thường trực
là Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục và hồ sơ;
c) Ủy viên khác gồm các
Phó Giám thị, các Đội trưởng, các Trưởng phân trại;
d) Ủy viên Thư ký là chỉ
huy Đội Giáo dục và hồ sơ;
3. Đối với trại tạm
giam, thành phần Hội đồng gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng
là Giám thị;
b) Ủy viên Thường
trực là Phó Giám thị phụ trách phân trại quản lý phạm nhân;
c) Ủy viên khác
gồm các Phó Giám thị, các Đội trưởng, các Trưởng phân trại;
d) Ủy viên Thư ký là chỉ
huy Đội Tham mưu tổng hợp (đối với trại tạm giam thuộc Bộ), chỉ huy Phân trại
quản lý phạm nhân (đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh).
4 . Trường hợp đơn vị chưa bố trí đủ chức danh theo quy định tại Điều
này hoặc có thay đổi về tổ chức bộ máy thì người có thẩm quyền thành lập Hội đồng
quyết định thành phần tham gia Hội đồng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tổ
chức bộ máy thực tế của đơn vị.
5. Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù làm việc theo chế độ tập thể,
quyết định theo đa số. Cuộc họp Hội đồng xếp loại
chấp hành án phạt tù phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; danh sách phạm nhân
được xếp loại chấp
hành án phạt tù được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên dự họp biểu quyết đồng ý.
6. Cuộc họp Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù được lập biên bản,
ghi rõ thành phần tham dự, nội dung xét, ý kiến
của thành viên, kết quả biểu quyết và danh sách phạm nhân được xếp loại chấp hành án phạt tù.
7. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng xếp loại chấp
hành án phạt tù vắng mặt thì người có thẩm quyền thành lập Hội đồng giao Ủy
viên thường trực Hội đồng chủ trì cuộc họp. Trường hợp thành viên Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt
tù vắng mặt thì người có thẩm quyền thành lập Hội đồng có thể quyết định bổ sung,
thay thế thành viên để bảo đảm việc xếp loại chấp hành án phạt tù được thực hiện kịp thời, khách quan,
đúng quy định.
Điều 5. Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù
1. Đối với trại giam
Giám thị trại
giam quyết định thành lập Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù của phân trại
thuộc trại giam, thành phần gồm:
a) Trưởng Tiểu ban là
Phó Giám thị phụ trách phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ trách)
hoặc Trưởng phân trại;
b) Phó trưởng Tiểu
ban là Trưởng phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ trách) hoặc Phó
Trưởng phân trại;
c) Ủy viên khác gồm Phó
Trưởng phân trại, đại diện Tổ Cảnh sát quản giáo, đại diện Trung đội Cảnh sát bảo
vệ, 01 cán bộ trinh sát, 01 cán bộ y tế của phân trại;
d) Ủy viên Thư ký là
cán bộ giáo dục của phân trại.
2. Đối với trại tạm giam
Giám thị trại tạm giam
quyết định thành lập Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù của Phân trại quản
lý phạm nhân, Phân trại tạm giam (gọi chung là phân trại), thành phần gồm:
a) Trưởng Tiểu
ban là Phó Giám thị phụ trách phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ
trách) hoặc Trưởng phân trại;
b) Phó trưởng Tiểu
ban là Trưởng phân trại (đối với phân trại có Phó Giám thị phụ trách) hoặc Phó
Trưởng phân trại;
c) Các Ủy viên khác gồm
Phó Trưởng phân trại, đại diện Tổ Cảnh sát quản giáo,
đại diện Trung đội Cảnh sát bảo vệ, 01 cán bộ làm công tác trinh sát, 01 cán bộ
y tế của phân trại;
d) Ủy viên Thư ký là
cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện công tác giáo dục cải tạo phạm nhân hoặc
cán bộ làm công tác tổng hợp của phân trại.
3. Trường hợp đơn vị chưa bố trí đủ chức danh theo quy định tại Điều
này hoặc có thay đổi về tổ chức bộ máy thì người có thẩm quyền thành lập Tiểu
ban quyết định thành phần tham gia Tiểu ban phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thực tế của đơn vị.
4. Tiểu ban quy định tại Điều này làm việc
theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; cuộc họp Tiểu ban phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham dự; danh sách phạm nhân được xếp
loại tháng, đề
nghị xếp loại chấp hành án phạt tù quý được
thông qua khi ít nhất hai phần ba tổng số thành viên dự họp biểu quyết đồng ý.
5. Cuộc họp Tiểu ban quy định tại Điều
này phải được lập biên bản, ghi rõ thành phần tham dự, nội dung xét, ý kiến của
thành viên, kết quả biểu quyết và danh sách phạm nhân được xếp loại tháng, đề nghị xếp loại chấp
hành án phạt tù quý.
6. Trường hợp Trưởng Tiểu ban quy định tại Điều này vắng mặt thì người có thẩm quyền
thành lập Tiểu ban giao Phó trưởng Tiểu ban chủ trì cuộc họp. Trường hợp thành viên Tiểu ban vắng mặt thì người có thẩm quyền thành lập Tiểu ban có thể quyết định bổ
sung, thay thế thành viên để bảo đảm việc xếp
loại chấp hành án phạt tù được thực hiện kịp thời,
khách quan, đúng quy định.
Điều 6. Họp tổ, đội phạm nhân để nhận xét, đánh giá kết quả
chấp hành án phạt tù theo các ngày trong tuần
1. Vào
thứ Sáu hằng tuần, cán bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân tổ chức họp,
sinh hoạt tổ, đội phạm nhân để nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù theo các ngày trong tuần cho phạm
nhân.
Đối với
phạm nhân mới đến chấp hành án phạt tù vào các ngày trong tuần thì chỉ nhận
xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù từ ngày phạm nhân đến cơ sở giam giữ
phạm nhân chấp hành án đến ngày thứ Sáu tuần đó.
Trường
hợp thời gian từ ngày thứ Bảy tuần trước đến ngày thứ Sáu tuần họp có ngày thuộc
hai tháng liền kề nhau thì vào ngày cuối cùng của tháng trước, cán bộ được giao
phụ trách tổ, đội phạm nhân tổ chức họp tổ, đội phạm nhân để nhận xét, đánh giá
kết quả chấp hành án phạt tù các ngày từ thứ Bảy tuần trước đến ngày cuối cùng
của tháng đối với phạm nhân để có căn cứ xếp loại chấp hành án phạt tù (sau đây
gọi là xếp loại) tháng đối với phạm nhân; đến ngày thứ Sáu, cán bộ được giao phụ
trách tổ, đội phạm nhân tổ chức họp tổ, đội phạm nhân để nhận xét, đánh giá kết
quả chấp hành án phạt tù từ ngày đầu của tháng sau đến ngày thứ Sáu.
2. Tại
cuộc họp, phạm nhân tự kiểm điểm quá trình chấp hành án phạt tù của bản thân
theo các ngày trong tuần; tập thể tổ, đội phạm nhân tham gia ý kiến; cán bộ được
giao phụ trách tổ, đội phạm nhân nhận xét, đánh giá và tổ, đội phạm nhân biểu
quyết đối với mức nhận xét, đánh giá các ngày trong tuần bằng hình thức giơ tay
(mức nhận xét, đánh giá các ngày trong tuần đối với phạm nhân phải được ít nhất
hai phần ba số phạm nhân dự họp biểu quyết đồng ý). Đối với tổ phạm nhân có dưới
03 phạm nhân thì không tiến hành biểu quyết, cán bộ được giao phụ trách tổ phạm
nhân nhận xét, đánh giá và lập danh sách phạm nhân được nhận xét, đánh giá. Cuộc
họp phải được ghi thành biên bản trong Sổ sinh hoạt tổ, đội phạm nhân, có chữ
ký của cán bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân và phạm nhân ghi
biên bản, kèm theo danh sách phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp
hành án phạt tù theo các ngày trong tuần đó.
3. Trường
hợp phạm nhân mới đến cơ sở giam giữ phạm nhân nhưng chưa được biên chế về tổ,
đội phạm nhân thì cán bộ được giao quản lý, phụ trách phạm nhân căn cứ vào kết
quả chấp hành Nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, kết quả học tập, để nhận xét,
đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù của phạm nhân; khi phạm nhân được biên chế
về tổ, đội thì chuyển kết quả nhận xét, đánh giá cho cán bộ được giao phụ trách
tổ, đội của phạm nhân để làm căn cứ tiếp tục nhận xét, đánh giá và xếp loại cho
phạm nhân.
Điều 7. Họp tổ, đội phạm nhân để nhận xét, đánh giá và đề
nghị xếp loại chấp hành án phạt tù tháng, quý
1. Cán
bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân tổ chức họp tổ, đội phạm nhân để nhận
xét, đánh giá và đề nghị xếp loại tháng, quý vào thời điểm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 21 Nghị định số 170/2026/NĐ-CP.
Tại cuộc
họp, phạm nhân tự kiểm điểm quá trình chấp hành
án của bản thân trong kỳ xếp loại; tập thể tổ, đội phạm nhân tham gia ý kiến;
cán bộ được giao phụ trách tổ, đội nhận xét, đánh giá theo các mức xếp loại của
phạm nhân trong tổ, đội và tổ chức cho tổ, đội phạm nhân biểu quyết đối với mức
đề nghị xếp loại cho phạm nhân bằng hình thức giơ tay (mức đề nghị xếp loại đối
với phạm nhân phải được ít nhất hai phần ba số phạm nhân tham dự họp biểu quyết
đồng ý). Đối với tổ phạm nhân có dưới 03 phạm nhân thì không tiến hành biểu quyết,
cán bộ được giao phụ trách tổ phạm nhân nhận xét, đánh giá và lập danh sách đề
nghị xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Nội dung của cuộc họp được
ghi thành biên bản trong Sổ sinh hoạt tổ, đội phạm nhân có chữ ký của cán bộ được
giao phụ trách tổ, đội phạm nhân và phạm nhân ghi biên bản kèm danh sách phạm
nhân đề nghị xếp loại tháng.
2. Đối
với các tháng là tháng cuối cùng trong kỳ xếp loại quý thì cán bộ được giao phụ
trách tổ, đội phạm nhân tổ chức cho tổ, đội phạm nhân họp để nhận xét, đánh giá
kết quả chấp hành án phạt tù và đề nghị xếp loại lần lượt từ tháng đến quý. Tại
cuộc họp, phạm nhân phải tự kiểm điểm việc chấp hành án phạt tù trong kỳ xếp loại
quý.
Nội
dung Bản kiểm điểm là kiểm điểm việc thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành
án phạt tù trong kỳ xếp loại, tự nhận mức xếp loại chấp hành án phạt tù và nêu
phương hướng phấn đấu trong thời gian tiếp theo. Phạm nhân không biết chữ hoặc
khuyết tật, già yếu không tự viết được, người nước ngoài không biết tiếng Việt
thì nhờ phạm nhân khác viết hộ Bản kiểm điểm, sau đó phạm nhân viết hộ đọc lại
cho phạm nhân nhờ viết kiểm điểm nghe, ký tên hoặc điểm chỉ vào bản kiểm điểm,
có xác nhận của cán bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân. Sau khi phạm nhân
đọc Bản kiểm điểm, phạm nhân trong tổ, đội tham gia ý kiến; cán bộ được giao phụ
trách tổ, đội phạm nhân nhận xét, đánh giá mức đề nghị xếp loại chấp hành án phạt
tù của phạm nhân; tổ chức cho phạm nhân biểu quyết mức đề nghị xếp loại cho phạm
nhân bằng hình thức giơ tay (mức đề nghị xếp loại cho phạm nhân phải được
ít nhất hai phần ba số phạm nhân tham dự họp biểu quyết đồng ý). Đối với tổ phạm
nhân có dưới 03 phạm nhân thì không tiến hành biểu quyết, cán bộ được giao phụ
trách tổ phạm nhân nhận xét, đánh giá và lập danh sách đề nghị xếp loại cho phạm
nhân. Nội dung của cuộc họp ghi thành biên bản trong Sổ sinh hoạt tổ, đội phạm
nhân, có chữ ký của cán bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân và phạm nhân
ghi biên bản, kèm theo danh sách phạm nhân được nhận xét, đánh giá và đề nghị xếp
loại tháng, quý.
3.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày họp tổ, đội phạm nhân, cán bộ được
giao phụ trách tổ, đội phạm nhân phải gửi danh sách phạm nhân được nhận xét,
đánh giá và đề nghị xếp loại tháng, danh sách phạm nhân đươc đề nghị xếp loại
quý gửi Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù để họp xét, xếp loại tháng, đề
nghị xếp loại quý cho phạm nhân.
Điều 8. Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù họp xét, xếp
loại tháng và đề nghị xếp loại quý
Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được danh sách đề nghị xếp loại của
cán bộ phụ trách tổ, đội phạm nhân, Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù phải
họp xét, xếp loại tháng và xét, đề nghị xếp loại quý cho phạm nhân. Khi họp xét
đến tổ, đội phạm nhân nào thì cán bộ được giao phụ trách tổ, đội phạm nhân đó
báo cáo danh sách phạm nhân được nhận xét, đánh giá đề nghị xếp loại, giải
trình các vấn đề liên quan theo yêu cầu của Tiểu ban. Tiểu ban xếp loại chấp
hành án phạt tù thảo luận, biểu quyết mức xếp loại tháng hoặc mức đề nghị xếp
loại quý đối với phạm nhân (mức xếp loại đối với phạm nhân phải được ít nhất
hai phần ba thành viên của Tiểu ban tham dự cuộc họp biểu quyết đồng ý).
Trong
thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày họp xét, đề nghị xếp loại quý, Tiểu ban xếp
loại chấp hành án phạt tù phải tổng hợp kết quả, danh sách phạm nhân được đề
nghị xếp loại quý và gửi Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù của trại giam,
trại tạm giam để họp xét, xếp loại cho phạm nhân.
Điều 9. Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù họp xét, xếp
loại quý
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được danh sách đề nghị xếp loại
của Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù, Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt
tù của trại giam, trại tạm giam phải tổ chức họp xét, xếp loại quý cho phạm
nhân. Khi xét đến phân trại nào thì đại diện Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt
tù phân trại đó báo cáo danh sách phạm nhân đề nghị xếp loại của phân trại và
giải trình các vấn đề liên quan theo yêu cầu của Hội đồng. Hội đồng xếp loại chấp
hành án phạt tù, thảo luận, biểu quyết mức xếp loại đối với phạm nhân (mức xếp
loại đối với phạm nhân phải được ít nhất hai phần ba thành viên của Hội đồng
tham dự cuộc họp biểu quyết đồng ý). Căn cứ kết quả họp Hội đồng, Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam ký quyết định xếp loại quý cho phạm nhân.
2. Trường
hợp phạm nhân khiếu nại về kết quả xếp loại thì trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được đơn, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải có
văn bản trả lời cho phạm nhân.
Điều 10. Xem xét lại quyết định xếp loại chấp hành án phạt
tù
1. Khi
có căn cứ xác định việc xếp loại cho phạm nhân là không đúng với quy định của
pháp luật hoặc phát hiện hành vi làm giả, làm sai lệch hồ sơ dẫn đến việc xếp loại
cho phạm nhân không đúng với quy định của pháp luật thì Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam tổ chức họp Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù để xem xét, hủy toàn bộ kết quả
của các kỳ xếp loại không đúng và xếp loại lại cho phạm nhân theo quy định của
pháp luật.
Trường
hợp phạm nhân đã được điều chuyển đến cơ sở giam giữ phạm nhân khác mà có căn cứ
xác định việc xếp loại trước đó không đúng quy định của pháp luật thì cơ sở
giam giữ phạm nhân đang quản lý phạm nhân phải có văn bản trao đổi với cơ sở
giam giữ phạm nhân đã xếp loại chưa đúng để tổ chức họp Hội đồng xếp loại chấp
hành án phạt tù xem xét, xếp loại lại cho phạm nhân theo quy định của pháp luật.
2. Tại
cuộc họp, Hội đồng xem xét, thảo luận, biểu quyết hủy kết quả xếp loại chấp
hành án phạt tù không đúng và biểu quyết mức xếp loại mới đối với phạm nhân (mức
xếp loại đối với phạm nhân phải được ít nhất hai phần ba thành viên của Hội đồng
tham dự cuộc họp biểu quyết đồng ý).
3. Căn
cứ kết quả họp Hội đồng, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam ký quyết định
hủy kết quả xếp loại không đúng và quyết định xếp loại lại; quyết định xếp loại
lại phải thông báo công khai cho phạm nhân biết và lưu hồ sơ phạm nhân.
Điều 11. Thông báo kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù
1.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm thông báo công khai kết
quả xếp loại cho phạm nhân; thông báo tình hình chấp hành án phạt tù và kết quả
xếp loại của phạm nhân cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của phạm nhân
theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 170/2026/NĐ-CP.
2.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù họp
xét, xếp loại quý, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an gửi báo cáo tổng hợp
kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý về Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ
sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh tổng hợp kết quả xếp loại quý của phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm
giam thuộc Công an cấp tỉnh và gửi về Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo
dục bắt buộc, trường giáo dưỡng.
Điều 12. Lưu trữ kết quả xếp loại cho phạm nhân và các tài
liệu liên quan đến việc xếp loại cho phạm nhân
1.
Ngoài Quyết định xếp loại quý và bản kiểm điểm của phạm nhân thì trong hồ sơ phạm
nhân còn lưu các tài liệu sau:
a) Tài
liệu liên quan đến việc xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân (nếu có);
b) Đơn
khiếu nại của phạm nhân về kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và văn bản trả
lời của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam; quyết định giải quyết khiếu
nại của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (nếu có);
c) Quyết
định hủy kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và xếp loại lại cho phạm nhân (nếu
có);
d)
Thông báo tình hình chấp hành án phạt tù của phạm nhân cho gia đình hoặc người
đại diện hợp pháp của phạm nhân.
2.
Biên bản họp Tiểu ban và danh sách phạm nhân được xếp loại chấp hành án phạt tù
tháng lưu tại Tiểu ban xếp loại chấp hành án phạt tù. Biên bản họp Hội đồng xếp
loại chấp hành án phạt tù và danh sách phạm nhân được xếp loại chấp hành án phạt
tù quý lưu tại Đội Giáo dục và hồ sơ (đối với trại giam) hoặc Đội Tham mưu tổng
hợp (đối với trại tạm giam thuộc Bộ) hoặc Phân trại quản lý phạm nhân (đối với
trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh).
3. Trại
giam, trại tạm giam có trách nhiệm cập nhật, quản lý, khai thác và bảo đảm tính
đầy đủ chính xác, kịp thời đối với dữ liệu về việc nhận xét, đánh giá và kết quả
xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân trên phần mềm quản lý và cơ sở dữ
liệu thi hành án hình sự theo phân cấp quản lý, bảo đảm an ninh dữ liệu và chỉ
khai thác, sử dụng đúng mục đích công tác theo quy định.
Điều 13. Hiệu lực thi hành
1.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2.
Thông tư số 103/2021/TT-BCA ngày 01 tháng 11 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an
quy định xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực
thi hành.
Điều 14. Trách nhiệm thi hành
1. Thủ
trưởng đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố, Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Thông tư này.
2. Cục
trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng
chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư này.
3.
Trong quá trình thực hiện Thông tư nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn
vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở
giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng) để được hướng dẫn./.
|
|
BỘ TRƯỞNG
Đại tướng Lương Tam Quang
|