|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2284/QĐ-UBND
|
Thanh Hóa, ngày
28 tháng 7 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH ĐỀ ÁN THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA, GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi
trường ngày 17/11/2020;
Căn cứ Luật Sửa đổi bổ sung
một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày
10/12/2025;
Căn cứ Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh
Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn
đến năm 2050;
Căn cứ Chỉ thị số 41/CT-TTg
ngày 01/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách tăng cường
quản lý chất thải rắn;
Căn cứ Quyết định số
450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược
bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ các Nghị định của
Chính phủ: Số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của
Luật Bảo vệ môi trường; số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số 48/2026/NĐ-CP ngày
29/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10
tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ
môi trường được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng
01 năm 2025;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 1198/TTr-SNNMT ngày 25/7/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm
theo Quyết định này Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Giao Sở Nông nghiệp và Môi
trường chủ trì, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.
2. Các sở, ban, ngành và các cơ
quan liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ và nội dung được giao trong Đề án chủ
động thực hiện các nội dung được phân công đảm bảo theo lộ trình của Đề án.
3. Giao UBND các xã, phường:
- Xây dựng kế hoạch chi tiết
triển khai các nội dung, nhiệm vụ thuộc trách nhiệm mình và chỉ đạo, hướng dẫn,
đôn đốc các đơn vị liên quan để tổ chức thực hiện các nội dung theo Đề án được
ban hành.
- Báo cáo kết quả thực hiện với
Sở Nông nghiệp và Môi trường theo yêu cầu để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân
tỉnh theo quy định.
Điều 3. Quyết định này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
các xã, phường, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3 QĐ;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (để b/c);
- Thường trực: Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh (để b/c);
- Chủ tịch UBND tỉnh (để b/c);
- Các PCT UBND tỉnh (để b/c);
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Chánh Văn phòng, các PCVP UBND tỉnh;
- Lưu: VT, NNMT.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Cao Văn Cường
|
ĐỀ ÁN
THU
GOM, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA,
GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2284/QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2026 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
I. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG
ĐỀ ÁN
1. Các văn bản thuộc thẩm
quyền ban hành của Trung ương
- Luật Bảo vệ môi trường ngày
17/11/2020.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 10/12/2025.
- Luật Giá ngày 19/6/2023.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Giá ngày 10/12/2025.
- Các Nghị định của Chính phủ:
Số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ
môi trường; số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 bổ sung, sửa đổi một số điều của
Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số 48/2026/NĐ-CP ngày 29/01/2026 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 của Chính
phủ bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Các Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ: Số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 về việc phê duyệt điều chỉnh Chiến lược
quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
số 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 153/QĐ-TTg ngày 27/02/2023 phê
duyệt Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; số
611/QĐ- TTg ngày 08/07/2024 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 929/QĐ-TTg ngày 31/8/2024 về việc ban
hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn
đến năm 2045.
- Các Chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ: Số 41/CT-TTg ngày 01/12/2020 về một số giải pháp cấp bách tăng cường
quản lý chất thải rắn; số 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 về tăng cường quản lý, tái
sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa; số 20/CT-TTg ngày
12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn
chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Các Thông tư của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường): Số
02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ môi trường; số 07/2025/TT- BTNMT ngày 28/02/2025 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ môi trường; số 35/2024/TT-BTNMT ngày 19/12/2024 về việc ban hành
quy trình kỹ thuật thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; số
36/2024/TT-BTNMT ngày 20/12/2024 về việc ban hành định mức thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
- Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT
ngày 29/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi, bổ sung một
số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT
ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT ngày 16 tháng 6 năm
2025.
- Quyết định số 1062/QĐ-BTNMT
ngày 19/4/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp
và Môi trường) về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện các quy định về
quản lý CTRSH theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 2616/QĐ-BNNMT
ngày 09/7/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc ban hành Kế
hoạch thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 592/QĐ-BXD ngày
30/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng công bố định mức dự toán thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị.
- Công văn số 1760/BNNMT-MT
ngày 06/5/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc hướng dẫn mô hình xử lý
chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị và nông thôn.
2. Các văn bản thuộc thẩm
quyền ban hành của địa phương
- Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND
ngày 17/7/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành chính sách
phát triển nông nghiệp và môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn
2026 - 2030.
- Các Quyết định của Ủy ban
nhân dân tỉnh: Số 21/2019/QĐ-UBND ngày 04/7/2019 về việc ban hành quy định mức
giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh; số
13/2022/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 về việc ban hành Quy định chi tiết quản lý CTRSH
của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; số 732/QĐ-UBND ngày
16/3/2026 bãi bỏ một phần nội dung quy định chi tiết về quản lý CTRSH của hộ
gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá ban hành kèm theo Quyết định số
13/2022/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của UBND tỉnh; số 47/2026/QĐ-UBND ngày 16/6/2026
ban hành quy định tuyến đường và thời gian vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt,
chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn nguy hại trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa; số 22/2026/QĐ-UBND ngày 20/3/2026 về việc Quy định định mức
kinh tế - kỹ thuật dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt,
vệ sinh công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Các Kế hoạch của Ủy ban nhân
dân tỉnh: Số 177/KH-UBND ngày 25/8/2025 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số
20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ cấp bách,
quyết liệt ngăn chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường; số 144/KH-UBND
ngày 06/8/2018 thực hiện Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Quyết định số 1592/QĐ-UBND
ngày 01/6/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc ban hành quy chế điều phối công
tác vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khi một trong các khu xử lý
chất thải rắn sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh phải dừng hoặc tạm dừng
tiếp nhận chất thải rắn sinh hoạt.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG
ĐỀ ÁN
1. Đặc điểm tình hình
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên
11.114,71 km², đứng thứ 12/34 tỉnh, thành (trước sáp nhập đứng thứ 5). Tỉnh
Thanh Hóa có số đơn vị hành chính nhiều thứ hai cả nước với 166 phường, xã,
gồm: 19 phường, 147 xã. Tốc độ tăng dân số của tỉnh giai đoạn 2021- 2025 duy
trì ở mức dưới 1%, đạt mục tiêu Quy hoạch tỉnh và thấp hơn mức bình quân cả
nước (0,95% năm 2025). Năm 2025, dân số tỉnh là 3,786 triệu người, đứng thứ 8
cả nước, tốc độ tăng dân số ước đạt 0,66%.
Trong những năm qua, tỉnh Thanh
Hóa đã có sự phát triển về kinh tế xã hội ngày càng tích cực; đời sống của Nhân
dân ngày một được cải thiện hơn. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu của
người dân về lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng phục vụ cho sinh hoạt
hằng ngày ngày một tăng cao, kéo theo lượng chất thải sinh hoạt ngày càng lớn
và đa dạng về chủng loại, trong khi công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử
lý chất thải rắn sinh hoạt (sau đây viết tắt là “CTRSH ”) mặc dù có sự
quan tâm và chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến vẫn còn
tình trạng ô nhiễm môi trường gây bức xúc trong Nhân dân, một số vụ việc gây
mất an ninh trật tự xã hội đã xảy ra có liên quan đến công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH .
Đặc biệt, sau dịp Tết nguyên
đán Bính Ngọ năm 2026 vừa qua, công tác xử lý CTRSH gặp nhiều khó khăn, CTRSH
chậm được thu gom, xử lý dẫn đến tình trạng ùn ứ nhiều ngày tại các điểm tập
kết nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, mất an ninh trật tự và mất mỹ quan đô thị.
Mặc dù đến nay, tình trạng trên cơ bản đã được khắc phục tuy nhiên do các nhà
máy xử lý CTRSH trọng điểm chưa đi vào hoạt động trong khi các bãi chôn lấp
CTRSH đã bị quá tải nên nguy cơ ách tắc trong công tác xử lý chất thải rắn sinh
hoạt (CTRSH ) trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất lớn, đòi hỏi phải có các giải pháp
đồng bộ và triệt để trong thời gian tới.
2. Thực trạng phát sinh,
phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
2.1. Thực trạng phát sinh
chất thải rắn sinh hoạt CTRSH
Trên cơ sở kết quả thực hiện
của UBND các xã, phường, ước tính tổng lượng CTRSH phát sinh trong năm 2025 là
920.178,25 tấn (tương đương 2.521,04 tấn/ngày). Lượng CTRSH phát sinh có sự
khác biệt rõ rệt giữa các khu vực đô thị và nông thôn. Tại khu vực đô thị, mức
phát sinh trung bình: khoảng 1,2 kg/người/ngày (chủ yếu tập trung tại các trung
tâm đô thị và khu vực phát triển dịch vụ, du lịch). Một số địa phương có lượng
CTRSH phát sinh cao như: Phường Hạc Thành (khoảng 187 tấn/ngày); phường Sầm Sơn
(khoảng 99,87 tấn/ngày); phường Quảng Phú (khoảng 62 tấn/ngày). Đây là các khu
vực có mật độ dân cư cao, hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển mạnh nên
lượng CTRSH phát sinh lớn. Khu vực nông thôn, mức phát sinh trung bình khoảng 0,5
kg/người/ngày đến 0,8 kg/người/ngày; lượng CTRSH phát sinh thấp hơn nhiều so
với khu vực đô thị, điển hình: Nông Cống (khoảng 30 tấn/ngày); Hoằng Hóa
(khoảng 27 tấn/ngày); Mường Lát (khoảng 2,38 tấn/ngày); Pù Nhi (khoảng 2,07
tấn/ngày); Mường Lý (khoảng 2,06 tấn/ngày).
CTRSH có thành phần đa dạng,
không đồng nhất giữa các khu vực do phụ thuộc vào mức sống của người dân và sự
phát triển của mỗi vùng, khu vực. Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy
CTRSH thường có tỷ lệ như sau:
- Đối với nhóm chất thải hữu cơ
chiếm khoảng 65% - 70%: Một phần được phân loại để tận dụng làm thức ăn chăn
nuôi hoặc phân bón cho cây trồng (chủ yếu tại các hộ gia đình nông thôn và các
cửa hàng kinh doanh ăn uống), phần còn lại vẫn thu gom cùng với nhóm chất thải
rắn sinh hoạt khác.
- Đối với nhóm chất thải có khả
năng tái sử dụng, tái chế chiếm 30%: Hiện chỉ được phân loại một phần đối với
các loại chất thải như: nhựa thải, kim loại thải, giấy thải, thiết bị điện,
điện tử, đồ vải để tái sử dụng hoặc bán phế liệu. Đối với các loại chất thải
như thủy tinh thải, đồ gỗ, cao su hầu như chưa được phân loại mà để chung cùng
với chất thải rắn sinh hoạt khác.
- Đối với nhóm chất thải rắn
sinh hoạt khác (CTRSH vô cơ như thuỷ tinh, kim loại, … chiếm 7% - 10% và CTRSH
nguy hại chiếm 1% - 2%): Việc phân loại, thu gom, xử lý chất thải nguy hại chưa
được quan tâm thực hiện đúng mức. Đối với chất thải vô cơ cồng kềnh, một phần
được các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tháo dỡ để tái chế và xử lý, một phần
không được tháo dỡ hoặc tháo dỡ không hoàn toàn sau đó vứt bỏ tại các khu vực
trống, vắng, gây mất mỹ quan.
2.2. Công tác phân loại
Tại khu vực đô thị, phần lớn,
các hộ dân thực hiện việc phân loại CTRSH thành 02 nhóm: (i) Chất thải rắn có
khả năng tái chế, tái sử dụng (nhựa, sắt, thép, giấy báo,…) và (ii) chất thải
rắn còn lại (chất thải thực phẩm, chất thải rắn sinh hoạt khác). Phần chất thải
rắn có khả năng tái chế, tái sử dụng được các hộ thu gom, bán phế liệu; phần
chất thải rắn còn lại được đơn vị có chức năng trên địa bàn thu gom, vận chuyển
xử lý theo quy định; chỉ một bộ phận nhỏ các hộ có diện tích đất vườn trồng cây
tận dụng một phần CTRSH hữu cơ làm phân bón. Việc phân loại CTRSH nguy hại cũng
đã được người dân quan tâm, thu gom vào các chai, hộp nhựa và lưu giữ tại góc
kín trong nhà.
Tại khu vực nông thôn, việc thu
gom và phân loại CTRSH tại nguồn đã được các địa phương quan tâm, tập trung chỉ
đạo với nhiều giải pháp đồng bộ, như: (i) Tăng cường công tác tuyên truyền, vận
động đến các hộ dân (người dân nâng cao ý thức và chủ động thực hiện); (ii)
Triển khai và nhân rộng một số mô hình về phân loại rác, tăng cường tái chế,
tái sử dụng, giảm thiểu CTRSH ; (iii) Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng,
tái chế được thu gom và bán cho đơn vị thu gom phế liệu; Các loại chất thải rắn
còn lại được hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom vận chuyển xử lý theo quy
định. Đối với chất thải rắn sinh hoạt tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và
những khu vực chưa có đơn vị cung cấp dịch vụ thu gom CTRSH , phần lớn được
phân loại và xử lý trong khuôn viên gia đình bằng hình thức đốt hoặc chôn lấp
theo hướng dẫn.
Tuy nhiên, hiện nay phân loại
CTRSH tại nguồn mới chỉ được thực hiện tại một số địa phương và mang tính
khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế bắt buộc. Nhiều địa phương thực hiện thí
điểm đang nhân rộng mô hình nhưng chưa nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân.
Mặt khác, các địa phương chưa có thiết bị, phương tiện thu gom riêng đối với
từng loại chất thải được phân loại, hầu hết chất thải được vận chuyển chung với
các thiết bị, phương tiện khác. Do đó, việc phân loại tại nguồn chưa đạt được
kết quả cao.
2.3. Công tác thu gom
CTRSH
- Tỷ lệ thu gom và xử lý CTRSH
toàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực qua từng năm. Tỷ lệ thu gom tăng dần
qua các năm: Năm 2021 đạt 88,99%; năm 2022 đạt 89,02%; năm 2023 đạt 91,80%; năm
2024 đạt 91,20%; năm 2025 đạt mức cao nhất là 93,68%; qua đó tiến gần đến các
mục tiêu chiến lược của tỉnh.
- Khu vực đô thị (các phường)
là khu vực có tỷ lệ thu gom bình quân cao nhất toàn tỉnh. Hầu hết các phường
như: Hạc Thành, Quảng Phú, Đông Quang, Hàm Rồng đều đạt 99,00%; các phường khác
như: Sầm Sơn đạt 95%, Bỉm Sơn đạt 97%, Nghi Sơn đạt 94% cũng duy trì mức thu
gom rất tốt.
- Khu vực nông thôn tỷ lệ thu
gom thường dao động ổn định từ 90% đến 98%, một số xã điển hình như: Hoằng Hoá
đạt 98%, Thiệu Hoá đạt 96%, Yên Định đạt 98%.
- Khu vực miền núi: Đây là khu
vực có tỷ lệ thu gom CTRSH thấp nhất, thường chỉ dao động từ 70% đến 82%; một
số xã có tỷ lệ thấp tiêu biểu: Mường Chanh đạt 71%, Tam Chung đạt 70%, Mường Lý
đạt 70%, Nhi Sơn đạt 70%. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có một số xã có tỷ lệ thu
gom đạt mức khá, như Bá Thước đạt 80,47% hay Ngọc Lặc đạt 86,79%.
Có thể thấy hệ thống thu gom
ngày càng hiệu quả, tỷ lệ thu gom chung tăng thêm gần 5% trong vòng 5 năm qua.
Khu vực đô thị và đồng bằng đã hình thành được mạng lưới thu gom rất chuyên
nghiệp với độ bao phủ gần như hoàn toàn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa đô thị
(99%) và miền núi (70%) vẫn còn rất lớn (chênh lệch gần 30%). Một số xã như
Xuân Thái đạt 62,75% hay Vạn Xuân đạt 67% vẫn là những “vùng lõm” về
dịch vụ thu gom CTRSH cần được quan tâm đầu tư hạ tầng trong giai đoạn tới.
2.4. Năng lực thu gom,
vận chuyển CTRSH
- Đơn vị cung ứng dịch vụ thu
gom, vận chuyển CTRSH : Toàn tỉnh hiện có 39 công ty, 24 hợp tác xã, 91 tổ dịch
vụ và 03 hộ gia đình nhận khoán tham gia công tác thu gom, vận chuyển CTRSH với
khoảng 4.000 phương tiện thực hiện thu gom, vận chuyển CTRSH . Các phương tiện
phục vụ thu gom, vận chuyển CTRSH tương đối đa dạng từ thủ công, thô sơ đến cơ
giới như xe ép rác chuyên dụng, ô tô tải, xe thùng, xe ba bánh ... Các cơ sở
hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, Công ty TNHH theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã và theo cơ chế xã hội hóa.
- Phương tiện thu gom, vận
chuyển CTRSH : CTRSH thông thường trên địa bàn tỉnh được thu gom, vận chuyển
bằng các phương tiện xe chở rác chuyên dụng, xe ô tô tải, xe đẩy tay. Tại khu
vực đô thị mới có các phương tiện chuyên dụng như các thùng chứa CTRSH , các xe
chuyên dụng chở CTRSH được các Công ty môi trường đô thị sử dụng, còn tại các
vùng nông thôn thường không có các phương tiện vận chuyển chuyên dụng. Phương
tiện thu gom rác gồm các loại: Xe đẩy tay, xe gom rác cải tiến... Phương tiện
vận chuyển rác gồm các loại xe: Xe ép rác, ô tô tải, xe công nông, xe tự chế,
xe ba bánh, xe kéo,... Hiện nay, số lượng xe được trang bị chưa đáp ứng nhu cầu
nên một số địa phương vẫn sử dụng xe tải loại nhỏ, xe công nông, xe kéo hoặc
các phương tiện thô sơ khác. Việc thu gom vận chuyển được thực hiện khác nhau
giữa đô thị và nông thôn, giữa các địa phương.
+ Tại các phường/khu vực đô
thị, CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình thông thường được các đơn vị thu gom
theo giờ nhất định. Các Công ty môi trường đô thị, đơn vị thu gom dùng xe đẩy
tay hở (loại 0,4 m³ đến 0,6 m³) vận chuyển đến các điểm tập kết hoặc điểm trung
chuyển; chất thải rắn từ xe đẩy tay (tại các điểm tập kết, điểm trung chuyển
...) được đưa lên xe ép rác tải trọng 3,5 tấn đến 9,5 tấn rồi vận chuyển đến
khu xử lý tập trung.
+ Tại các xã/khu vực nông thôn,
nhiều địa phương có các tổ tự quản, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh thu gom chất
thải theo tần suất nhất định và chuyển đến điểm tập kết để các công ty môi
trường vận chuyển về cơ sở xử lý; tuy nhiên nhiều trường hợp không được thu gom
dẫn đến việc hình thành các bãi rác tạm gây ô nhiễm môi trường tại các khu vực
nông thôn.
- Lao động tham gia thu gom,
vận chuyển: Theo thống kê có khoảng 1.000 lao động trực tiếp tham gia hoạt động
thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH thông thường. Trong đó, chủ yếu ở các Công ty:
Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa (khoảng 200 lao động,
lương gồm BHXH từ 9 triệu/tháng đến 15 triệu/tháng); Công ty cổ phần Môi trường
và Công trình đô thị Bỉm Sơn (khoảng 110 lao động, lương gồm BHXH từ 10
triệu/tháng đến 12 triệu/tháng); Công ty cổ phần Môi trường Nghi Sơn (khoảng 93
lao động, lương gồm BHXH từ 11 triệu/tháng đến 16 triệu/tháng). Các doanh
nghiệp thu gom, vận chuyển có khoảng 10 đến 20 người, lương gồm BHXH từ 10
triệu/tháng đến 12 triệu/tháng; còn lại các hợp tác xã, tổ vệ sinh môi trường ở
xã có số lao động khoảng 3 đến 5 người/đơn vị tuỳ từng địa phương. Thu nhập của
lao động thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH đã được quan tâm tăng so
với nhiều năm trước tuy nhiên vẫn còn thấp so với mặt bằng chung hiện nay. Tại
các hợp tác xã, dịch vụ vệ sinh mức thu nhập thấp hơn nhiều (dao động khoảng 5
triệu/người/tháng đến 7 triệu/người/tháng) do gặp nhiều khó khăn khác nhau
trong quá trình thu gom; chi phí bố trí cho công tác thu gom, vận chuyển của
các xã thấp. Đô thị thì tần suất thu gom ngày 1 đến 2 lần, còn khu vực nông
thôn, ở các địa phương có diện tích nhỏ tần suất thu gom 1 đến 2 ngày/lần; địa
phương có diện tích rộng, phương tiện thiếu thì tần suất thu gom khoảng 3 đến 5
ngày/lần, thậm chí khoảng 1 tuần/lần.
2.5. Hạ tầng thu gom
CTRSH
Theo số liệu tổng hợp tại các
xã, phường, tổng số điểm tập kết rác hiện nay khoảng 377 điểm với tổng diện
tích khoảng 347.700 m². Mạng lưới điểm tập kết đã được hình thành tại hầu hết
các xã/phường; quy mô diện tích tương đối phân tán, phần lớn điểm tập kết có
diện tích nhỏ hoặc trung bình, phù hợp với mô hình thu gom rác nông thôn. Hệ
thống điểm tập kết CTRSH thông thường có sự chênh lệch rất lớn về quy mô diện
tích tùy thuộc vào chức năng và địa điểm. Các khu vực có diện tích lớn thường
đóng vai trò là bãi rác hoặc khu xử lý liên xã như xã Mường Mìn (5.000 m²), xã
Yên Định (23.000 m²) ... Các điểm tập kết nhỏ (dưới 200 m²) phổ biến tại các
khu vực đô thị như phường Nguyệt Viên, Đông Quang và Quảng Phú... Các điểm này
thường nằm rải rác trên các trục đường (như đường Thanh Chương, Trịnh Kiểm)
hoặc vỉa hè chợ để thuận tiện cho việc thu gom hàng ngày.
Mức độ đầu tư hạ tầng: Một số
điểm đã được xây tường bao và nền bê tông, nhưng vẫn còn nhiều nơi chỉ là bãi
đất trống chưa được đầu tư hạng mục che chắn hay ngăn cách với khu vực xung
quanh. Khoảng cách từ các điểm tập kết đến khu xử lý tập trung có sự dao động
rất lớn, gây áp lực khác nhau lên chi phí vận chuyển.
Nhìn chung, hệ thống hạ tầng
thu gom và trung chuyển CTRSH trên địa bàn tỉnh đã được hình thành tương đối
rộng, mạng lưới này cơ bản đáp ứng nhu cầu trước mắt và góp phần nâng tỷ lệ thu
gom chất thải rắn của tỉnh lên trên 90%. Tuy nhiên, chất lượng hạ tầng còn hạn
chế, phần lớn các điểm tập kết là bãi tập kết tạm, chưa được đầu tư đồng bộ về
nền bãi, mái che, hệ thống thu gom nước rỉ rác và thiết bị vận hành. Khoảng
cách từ điểm tập kết đến các khu xử lý tập trung còn khá xa, đặc biệt tại các
khu vực miền núi, dẫn đến chi phí vận chuyển cao và giảm hiệu quả công tác thu
gom, vận chuyển chất thải. Trong khi đó, mức phí vệ sinh môi trường (giá dịch
vụ thu gom, vận chuyển) thu từ các hộ gia đình hiện nay mới chỉ chi trả được
một phần cho hoạt động thu gom chất thải, không đủ để chi trả cũng như duy trì
cho hoạt động vận chuyển. Ngoài ra, năng lực vận chuyển của một số địa phương
còn hạn chế, phương tiện vận chuyển còn gây rò rỉ, rơi vãi chất thải trong quá
trình vận chuyển.
2.6. Công tác xử lý CTRSH
2.6.1. Hoạt động xử lý chất
thải rắn sinh hoạt
Trong giai đoạn 2021 - 2025, tỷ
lệ thu gom và xử lý chung đã được nâng cao đáng kể từ 88,99% lên 93,68%. Cơ cấu
công nghệ xử lý CTRSH tại tỉnh Thanh Hoá đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ
phương pháp chôn lấp sang tái chế và làm mùn vi sinh, trong khi công nghệ đốt
duy trì ở mức ổn định.
Xử lý bằng công nghệ chôn lấp
có xu hướng giảm mạnh, đây là thay đổi tích cực nhất trong cơ cấu xử lý chất
thải của tỉnh. Tỷ lệ giảm liên tục từ mức chiếm ưu thế tuyệt đối là 71,97% vào
năm 2021, tỷ lệ chôn lấp đã giảm dần qua các năm (71% năm 2022; 68% năm 2023;
62,6% năm 2024) và xuống còn 49,58% tổng khối lượng vào năm 2025. Việc giảm hơn
22% tỷ lệ chôn lấp trong vòng 5 năm cho thấy sự nỗ lực của tỉnh trong việc giảm
thiểu ô nhiễm đất và tiết kiệm tài nguyên quỹ đất, phù hợp với định hướng hạn
chế tối đa việc chôn lấp trực tiếp đã đặt ra trong các đề án trước đó.
Xử lý bằng giải pháp tái chế và
làm mùn vi sinh có sự đột phá, đóng vai trò là động lực chính thay thế cho việc
chôn lấp. Từ mức khởi điểm rất thấp là 0,40% năm 2021, tỷ lệ này đã tăng lên
23,72% vào năm 2025. Tỷ lệ này bắt đầu tăng nhanh từ năm 2024 (12%) và đạt mức
gần 1/4 tổng lượng rác được xử lý vào năm 2025. Sự chuyển dịch tỷ lệ xử lý này
chứng tỏ hiệu quả của việc triển khai các chương trình phân loại rác tại nguồn
đang đi đúng hướng.
Xử lý bằng công nghệ đốt duy
trì ổn định, không có sự biến động lớn, luôn duy trì trong khoảng từ 25,40% đến
27,63%. Năm 2021 đạt 27,63%, giảm nhẹ vào năm 2024 (25,40%) và đạt 26,70% vào
năm 2025. Công nghệ đốt hiện đóng vai trò là phương pháp bổ trợ quan trọng, xử
lý khoảng hơn 1/4 tổng lượng rác thu gom, giúp tiêu hủy nhanh và giảm thể tích
CTRSH đáng kể.
2.6.2. Hạ tầng và công nghệ
xử lý CTRSH
a) Xử lý bằng phương pháp chôn
lấp
Trên địa bàn tỉnh có 21 khu
chôn lấp tập trung quy mô cấp huyện trước đây. Các khu chôn lấp này được đầu tư
bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh và ngân sách huyện. Hiện nay, có 4 khu đã dừng
tiếp nhận rác và 17 khu đang hoạt động (trong đó, 03/17 khu chuyển đổi công
nghệ sang hình thức không chôn lấp trực tiếp, 08/17 khu chưa quá tải đang tiếp
nhận rác, 06/17 khu đã quá tải). Ngoài ra, còn có khoảng hơn 92 khu chôn lấp
CTRSH cấp xã (quy mô nhỏ) hoặc tự phát (trong đó có 46 khu chôn lấp quá tải).
Tổng diện tích của 21 khu chôn
lấp là 59,92 ha, tổng lượng rác đang lưu chứa gần 4 triệu tấn. Trong đó, diện
tích 17 khu chôn lấp đang hoạt động hiện nay là 40,02 ha, lượng rác hiện tại
đang lưu chứa 2,26 triệu tấn rác; các khu chôn lấp hiện đang tiếp nhận trung
bình 591 tấn/ngày, chiếm khoảng 25% lượng rác của toàn tỉnh. Ngoài các khu chôn
lấp CTRSH tập trung, còn 92 khu chôn lấp CTRSH nhỏ lẻ ở các xã với tổng công
suất xử lý 597,86 tấn/ngày. Tổng lượng rác xử lý bằng biện pháp chôn lấp trên
địa bàn tỉnh là 1.170,86 tấn/ngày (chiếm 49,58% tống khối lượng CTRSH được xử
lý).
Hiện nay tại các bãi rác quy mô
lớn (cấp huyện trước dây) là đang trong tình trạng quá tải hoặc gần quá tải
không còn khả năng tiếp nhận CTRSH , điển hình là: Bãi chôn lấp CTRSH phường
Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn (nay là phường Bỉm Sơn); Bãi chôn lấp CTRSH phường
Trung Sơn, TP Sầm Sơn (nay là phường Sầm Sơn); ...
Hoạt động xử lý rác chủ yếu là
đổ đống, đầm nén, phun hóa chất diệt côn trùng, khử mùi nên chưa được xử lý
triệt để. Phần lớn các bãi chôn lấp hiện tiếp nhận CTRSH chưa được phân loại
tại nguồn, có thành phần hữu cơ cao nên tính ổn định thấp, chiếm nhiều diện
tích đất, phát sinh lượng lớn nước rỉ rác; nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh
đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động
sản xuất của cộng đồng xung quanh.
b) Xử lý bằng phương pháp đốt
Trên địa bàn tỉnh đã đầu tư 23
khu xử lý bằng lò đốt thủ công với tổng số lò đốt là 24 lò, trung bình từ 10
tấn/ngày đến 20 tấn/ngày; trong đó: 07 khu xử lý đang hoạt động với 8 lò đốt
(xã Nga Thắng có 2 lò đốt) và 16 khu xử lý đã dừng hoạt động; cụ thể như sau:
- 07 khu xử lý đang hoạt động,
gồm: 05 khu xử lý tại các xã: Nga Thắng, Hoa Lộc (thôn Giữa), Nông Cống, Xuân
Giang, Định Công có thể duy trì, cải tạo, nâng cấp các lò đốt để hoạt động nâng
công suất nhằm xử lý hiệu quả CTRSH trong thời gian chờ các khu xử lý lớn của
tỉnh đi vào hoạt động; khu xử lý tại xã Hoằng Tiến có khoảng cách khá gần với
khu dân cư, đề nghị tiếp tục duy trì cho đến khi có phương án mới; khu xử lý
tại xã Hoằng Hóa thuộc quy hoạch khu đô thị của xã, đề nghị tiếp tục duy trì
cho đến khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án. Tổng công suất thiết kế 210
tấn/ngày; công suất xử lý thực tế 192 tấn/ngày. Hiện nay có một số khu lò đốt
đã được đơn vị quản lý chuyển đổi sang mô hình ủ mùn vi sinh kết hợp phân loại
rác trước khi đưa vào đốt. Mô hình này bước đầu mang lại hiệu quả tích cực,
giúp duy trì ổn định hoạt động của lò đốt và nâng cao hiệu quả xử lý chất thải
rắn sinh hoạt. Điển hình như tại xã Nông Cống và xã Nga Thắng, việc áp dụng mô
hình trên cho thấy khả năng nâng cao công suất và hiệu quả xử lý CTRSH .
- 16 khu xử lý hiện không hoạt
động, gồm:
+ 03 khu xử lý không hoạt động
do Cơ quan công an điều tra, làm việc, doanh nghiệp không tiếp tục hoạt động
(khu xử lý tại xã Hòa Lộc cũ (nay là xã Hoa Lộc), hiện Công an tỉnh đang điều
tra; 02 khu xử lý Doanh nghiệp không có nguyện vọng tiếp tục hoạt động (Công ty
cổ phần xây dựng môi trường xanh sạch đẹp Thành Tâm tại xã Yên Định; Công ty
TNHH Thương mại và Dịch vụ môi trường tại xã Lưu Vệ).
+ 07 khu xử lý UBND xã đề nghị
dừng hoàn toàn hoạt động (tại xã Định Tân và xã Yên Trường, UBND xã đề nghị
dừng hoạt động do quá trình hoạt động có nhiều kiến nghị của người dân, UBND xã
đã hợp đồng với Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại BIMIVINA xử lý CTRSH cho
xã; tại xã Quảng Bình do xung quanh quy hoạch khu hành chính và CCN; tại phường
Tân Dân do CTRSH chuyển đến Công ty Cổ phần môi trường Nghi Sơn xử lý; xã Thọ
Xuân (xã Xuân Trường và Xuân Thành trước đây) do hư hỏng không đốt được rác
ướt; xã Kim Tân chuyển sang mô hình ủ mùn vi sinh).
+ 05 khu xử lý UBND xã đề nghị
cải tạo nâng cấp hoặc kêu gọi đầu tư, mở rộng (03 khu (tại xã Yên Ninh; xã
Thường Xuân; xã Xuân Bình) UBND xã đề nghị cấp kinh phí để cải tạo, nâng cấp lò
đốt; 01 khu (tại xã Triệu Lộc) UBND xã đề xuất kêu gọi đầu tư mở rộng khu xử lý,
Sở đã báo cáo đưa vào Dự thảo điều chỉnh quy hoạch tỉnh; 01 khu (tại xã Định
Bình, nay là xã Định Hoà), UBND xã đề nghị xem xét cải tạo lò đốt và mời đơn vị
xử lý theo hình thức hỗn hợp.
+ 01 lò đốt (tại xã Như Thanh)
UBND xã Như Thanh và Doanh nghiệp đề nghị được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ để
tiếp tục hoạt động.
Ngoài ra, các lò đốt quy mô lớn
do các doanh nghiệp tư nhân đầu tư, vận hành, nổi bật có 02 lò đốt của 02 doanh
nghiệp tư nhân đầu tư với công suất thiết kế 220 tấn/ngày.đêm (thực tế hoạt
động 180 tấn/ngày), cụ thể:
- Khu xử lý chất thải Nghi Sơn
tại xã Trường Lâm (giai đoạn 1): Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt với công suất
120 tấn/ngày đêm, hoạt động ổn định từ tháng 6 năm 2021, hiện đang xử lý rác
thải sinh hoạt bình thường. Ngày 08/9/2025, Công ty cổ phần Môi trường Nghi Sơn
đã được UBND tỉnh chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án khu xử lý chất
thải tập trung Nghi Sơn tại Khu kinh tế Nghi Sơn tại Quyết định số 3000/QĐ-UBND
công suất xử lý chất thải rắn sinh hoạt 620 tấn/ngày gồm 01 lò đốt chất thải
rắn sinh hoạt công suất 120 tấn/ngày và 01 lò đốt rác công suất 500 tấn/ngày,
phát điện 12 MW. Hiện Công ty đang triển khai thực hiện dự án.
- Nhà máy xử lý chất thải Vĩnh
Lộc: Do Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Bimivina đầu tư hiện có 01 lò
đốt rác thải sinh hoạt chính công suất thiết kế 100 tấn/ngày và 01 lò đốt dự
phòng, công suất 50 tấn/ngày, đi vào hoạt động từ tháng 01/2020, đang hoạt động
với công suất 70 tấn/ngày đến 75 tấn/ngày phục vụ xử lý rác thải cho các xã
Vĩnh Lộc, Biện Thượng, Tây Đô và tiếp nhận rác thải của xã phụ cận (xã Định
Tân, Yên Định). Công ty dự kiến tiếp tục đầu tư 01 lò đốt rác có công suất 50
tấn/ngày để đảm bảo nhà máy vận hành liên tục cả trong trường hợp lượng rác về
nhà máy vượt quá công suất tiếp nhận.
Hiện các lò đốt quy mô lớn đang
hoạt động ổn định, cơ bản đáp ứng yêu cầu xử lý. Tuy nhiên, các lò đốt quy mô
nhỏ đang gặp thách thức lớn khi nhiều cơ sở đã dừng hoạt động do xuống cấp
(Thường Xuân, Yên Trường…) hoặc gặp rào cản về pháp lý (Yên Định, Như Thanh).
Mặt khác, các lò đốt có công suất xử lý rác nhỏ (dưới 10 tấn/ngày), được sản
xuất và lắp ráp trong nước, chưa lắp đặt đầy đủ hệ thống cấp rác tự động, điều
chỉnh nhiệt độ lò đốt và hệ thống xử lý khí thải; quá trình vận hành chủ yếu là
thủ công, khó kiểm soát việc phát thải.
c) Xử lý bằng phương pháp ủ vi
sinh, tái chế
Trong những năm gần đây, tỷ lệ
CTRSH được tái chế tăng mạnh: năm 2021 tỷ lệ này chỉ ở mức không đáng kể là
0,40%; đến năm 2025, tỷ lệ này đã tăng lên 23,72%, giảm đáng kể lượng CTRSH
phải đưa đi xử lý. Đây là động lực chính thay thế cho chôn lấp. Đặc biệt trong
năm 2025, qua thống kê của các xã, phường, việc tái chế không chỉ dừng lại ở
việc tái sử dụng CTRSH mà còn sử dụng chất thải thực phẩm làm mùn vi sinh. Tỷ
lệ tái sử dụng và tái chế năm 2025 đạt 11,11% (khoảng 95.781,28 tấn/năm); tỷ lệ
chất thải thực phẩm làm mùn vi sinh đạt 12,61% (khoảng 108.717,82 tấn/năm). Tỷ
lệ này có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, tại khu vực nông thôn tỷ lệ này
cao hơn khu vực đô thị:
- Tại các phường nội thành như
Hạc Thành, Quảng Phú, tỷ lệ tái chế, tái sử dụng đạt khoảng 9,09%, trong khi
đó, ở một số xã nông thôn như Nga An hay Tân Tiến, tỷ lệ này ghi nhận mức rất
cao, lên tới 52,28% - 52,30%.
- Tại các khu vực đô thị, tỷ lệ
chất thải thực phẩm làm mùn vi sinh thường dao động từ 3,03% (phường Hạc Thành)
đến 5,26% (phường Sầm Sơn), một số khu vực như xã Quảng Yên đạt tỷ lệ 10,52%.
Đặc biệt, tại các địa phương đang áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến như thị xã
Nghi Sơn (các xã Ngọc Sơn, Tân Dân...), tỷ lệ này đạt ổn định ở mức 5,32%.
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có
02 khu xử lý CTRSH thông thường bằng công nghệ ủ vi sinh với công suất từ 600
tấn/ngày đến 650 tấn/ngày, cụ thể:
- Nhà máy xử lý CTRSH Đông Nam tại phường Đông Quang do Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghệ môi trường
Ecotech làm chủ đầu tư với công suất 500 tấn/ngày sử dụng công nghệ hỗn hợp
(sản xuất phân hữu cơ, tái chế phế liệu, đốt, chôn lấp tro xỉ và rác trơ). Hiện
nay, nhà máy mới vận hành dây chuyền phân loại rác, ủ mùn hữu cơ cung cấp cho
cơ sở sản xuất phân bón và thu hồi nguyên liệu đốt cung cấp cho nhà máy sản
xuất xi măng. Nhược điểm của công nghệ này là chưa khống chế mùi hôi được một
cách triệt để.
- Mô hình thí điểm của Công ty
cổ phần Xây dựng môi trường DM “Xử lý CTRSH bằng thiết bị tự động kết hợp với
công nghệ vi sinh” tại trạm xử lý CTRSH tại Đồi Cà, Thôn Đự, xã Kim Tân. Quy mô
công suất xử lý từ 100 tấn/ngày đến 150 tấn/ngày, công nghệ là quy trình ủ men
vi sinh. Rác được ủ đống từ 30 ngày đến 45 ngày bằng men vi sinh sau đó được
nạp vào hệ thống máy phân loại tự động thành 03 dòng sản phẩm: Mùn hữu cơ,
CTRSH vô cơ, nilon, nhựa và rác hữu cơ không thể tái chế. CTRSH vô cơ đưa đi
san lấp hoặc san lấp mặt bằng; nilon và nhựa đưa đi tái chế thành hạt nhựa; mùn
hữu cơ đưa đi làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ phục vụ trồng trọt.
2.7. Kinh phí và chính
sách hỗ trợ công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Ngày 04/7/2019, UBND tỉnh đã
ban hành Quyết định số 21/2019/QĐ- UBND về việc ban hành quy định về mức giá
tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; theo đó, giá tối đa dịch vụ thu gom, vận
chuyển CTRSH (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) áp dụng cho đối tượng hộ gia
đình, cá nhân không có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thu với mức giá
11.000 đồng/người/tháng; khu vực nông thôn vùng đồng bằng, trung du, ven biển
thu với mức giá 6.000 đồng/người/tháng; khu vực nông thôn miền núi khó khăn thu
với mức giá 4.000 đồng/người/tháng.
Giá dịch vụ tối đa xử lý CTRSH
áp dụng cho 02 đối tượng như sau:
- Đơn vị cung cấp dịch vụ từ
nguồn ngân sách tỉnh dựa trên ba nhóm công nghệ chính gồm: Công nghệ đốt:
210.000 đồng/m³; công nghệ hỗn hợp (chế biến phân vi sinh, tái chế kết hợp
đốt): 170.000 đồng/m³; công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh: 70.000 đồng/m³.
- Nhà đầu tư tại khu xử lý
(tính theo tấn) gồm: Xử lý bằng công nghệ đốt với mức 480.000 đồng/tấn (thiết
bị nước ngoài) và 440.000 đồng/tấn (thiết bị trong nước); xử lý bằng công nghệ
hỗn hợp: Mức giá dao động từ 300.000 đồng/tấn đến 390.000 đồng/tấn; xử lý bằng
công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh: mức giá là 140.000 đồng/tấn nếu có tính khấu
hao và 130.000 đồng/tấn nếu không tính khấu hao.
Để khuyến khích đầu tư các dự
án xử lý CTRSH với công nghệ tiến tiến hiện đại, hạn chế chôn lấp; ngày
12/12/2019, HĐND tỉnh Thanh Hóa ban hành Nghị quyết số 236/2019/NQ-HĐND về
chính sách hỗ trợ xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020 -
2025, sửa đổi tại Nghị quyết số 21/NQ- HĐND ngày 21/7/2025.
Sau hơn 04 năm thực hiện, Nghị
quyết đã góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra, tỷ lệ
CTRSH được thu gom xử lý tăng dần qua các năm; đồng thời, đã giảm số lượng các
bãi chôn lấp rác tạm thời và các bãi rác ô nhiễm môi trường ở các xã.
Trong thời gian từ ngày
01/01/2020 đến ngày 15/6/2025, UBND tỉnh ban hành các quyết định phê duyệt cấp
kinh phí hỗ trợ xử lý CTRSH cho các huyện, thị xã: Nghi Sơn, Nông Cống, Như Thanh,
Yên Định, Vĩnh Lộc, Lang Chánh, Quan Sơn, Mường Lát và thành phố Thanh Hóa (cũ)
với tổng số tiền là 176.413,4 triệu đồng.
2.8. Phân tích cơ sở thực
tiễn xây dựng Đề án
Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế
- xã hội tỉnh Thanh Hoá đang có những biến động sâu sắc dẫn đến nhiều thách
thức cấp bách về môi trường mà tỉnh phải đối mặt trong thời gian tới.
Áp lực từ tốc độ đô thị hóa và
dịch chuyển cơ cấu kinh tế đã làm tăng đáng kể khối lượng CTRSH và sản phẩm
dùng một lần khiến thành phần CTRSH trở nên đa dạng và khó xử lý hơn; thời gian
tới, lượng rác sẽ ngày càng gia tăng tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng xử lý
CTRSH đang quá tải hiện nay. Mặc dù hệ thống thu gom của tỉnh đã đạt được những
bước tiến dài khi nâng tỷ lệ thu gom toàn tỉnh lên 93,68% vào năm 2025. Tuy
nhiên, thực tế mạng lưới này vẫn bộc lộ những bất cập mang tính hệ thống: Hạ
tầng điểm tập kết yếu kém, phần lớn các điểm tập kết là bãi tạm, tận dụng lề
đường, vỉa hè, không được đầu tư bài bản gây ô nhiễm thứ cấp; phương tiện thu
gom chưa đồng bộ chủ yếu vẫn sử dụng xe thô sơ trong khu vực nông thôn để vận
chuyển.
Vấn đề quan trọng cấp bách đáng
quan tâm nhất hiện nay là hạ tầng xử lý CTRSH đang quá tải và xuống cấp. Hầu
hết các bãi chôn lấp hiện nay đang hết khả năng tiếp nhận, lượng rác tồn lưu lớn
cùng với công nghệ xử lý lạc hậu chủ yếu là đổ đống, phun khử mùi khiến nguy cơ
ô nhiễm nguồn nước, đất là rất lớn. Việc đầu tư dàn trải các lò đốt CTRSH quy
mô nhỏ tại cấp xã trong thời gian qua nhìn chung chưa mang lại hiệu quả như kỳ
vọng, đồng thời phát sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý và bảo vệ môi
trường. Phần lớn các công trình có công suất nhỏ, công nghệ xử lý đơn giản,
chưa bảo đảm yêu cầu kỹ thuật về nhiệt độ đốt và hệ thống xử lý khí thải, dẫn
đến hiệu quả xử lý thấp, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp trong khi
các nhà máy xử lý rác lớn (Đông Quang, Bỉm Sơn) triển khai chậm hơn so với nhu
cầu thực tế cho thấy sự mong manh của hệ thống quản lý hiện tại. Tình trạng
phát sinh rác tăng đột biến vào những dịp cao điểm như Tết, ngày nghỉ lễ dẫn
đến vượt quá công suất xử lý của các nhà máy rác cũng dẫn đến tình trạng gây ô
nhiễm môi trường khi các nhà máy chưa kịp thời có các phương án dự phòng. Điển
hình như tình trạng Nhà máy rác Đông Nam tại phường Đông Quang đã xảy ra vừa
qua trong dịp sau Tết 2026.
Cơ chế tài chính và mô hình
quản lý hiện nay cũng đang bộc lộ nhiều bất cập. Giá dịch vụ thu gom hiện nay
(4.000 đồng/người đến 11.000 đồng/người) chỉ đủ chi trả một phần chi phí thu
gom tại chỗ, không đủ để duy trì vận chuyển rác đi xa về các khu xử lý tập
trung. Việc chuyển đổi từ chính quyền cấp huyện sang mô hình quản lý hai cấp
làm phát sinh các lúng túng trong việc thanh quyết toán và điều phối rác liên
xã, liên huyện.
Từ những thực tiễn nêu trên cho
thấy, công tác quản lý CTRSH hiện nay của tỉnh Thanh Hóa đang cần có các giải
pháp đồng bộ, cấp bách để hiện đại hóa công nghệ, đóng cửa các bãi rác ô nhiễm
và hoàn thiện cơ chế tài chính cho giai đoạn 2026 - 2030.
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, với sự
quan tâm chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỷ
lệ thu gom và xử lý chung đã được nâng cao đáng kể từ 88,99% lên 93,68%; mạng
lưới thu gom được mở rộng, công nghệ xử lý có bước chuyển dịch theo hướng giảm
chôn lấp và tăng cường tái chế, góp phần cải thiện môi trường và nâng cao chất
lượng đời sống của người dân. Việc triển khai phân loại rác gắn với chương
trình xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh bước đầu đã mang lại nhiều kết
quả tốt, nhất là khu vực nông thôn; ý thức của người dân dần được tăng lên,
tình trạng vứt rác bừa bãi giảm đáng kể. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn
thiện tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cho các
hoạt động xử lý môi trường; tổng kinh phí hỗ trợ xử lý CTRSH giai đoạn 2020 -
2025 lên tới 176.413,4 triệu đồng, ngày càng tăng cao hơn so với giai đoạn
trước góp phần giảm số lượng các bãi chôn lấp rác tạm thời và các bãi rác gây ô
nhiễm tại khu vực nông thôn.
2. Tồn tại, hạn chế
2.1. Trong công tác phân
loại và tái chế
- Việc phân loại và tái chế
CTRSH chưa có sự đồng bộ. Rác sau phân loại vẫn bị thu gom chung dẫn đến hiệu
quả phân loại tại nguồn rất thấp. Hiện nay, việc phân loại rác mới chỉ mang
tính khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế cao và chủ yếu tập trung vào các phế
liệu có giá trị kinh tế.
- Công nghệ tái chế hiện nay
đang bộc lộ nhược điểm là phát sinh nhiều mùi hôi, không phù hợp với các nhà
máy xử lý có vị trí gần khu dân cư. Điển hình là Nhà máy xử lý rác tại phường
Đông Quang, từ ngày 01/01/2026 đến nay đã 03 lần người dân tập trung phản đối
do phát tán ra khu vực dân cư xung quanh, đến nay Nhà máy đang xin dừng tiếp
nhận rác từ ngày 15/5/2026 để nghiên cứu thay đổi công nghệ nhằm xử lý triệt để
mùi phát sinh.
2.2. Trong công tác thu
gom và vận chuyển
- Tỷ lệ thu gom CTRSH giữa đô
thị và miền núi có khoảng chênh lệch lớn; đặc biệt tại các xã vùng sâu vùng xa,
địa hình phức tạp, mật độ dân số thưa thớt, tỷ lệ thu gom là khá thấp.
- Phương tiện, trang thiết bị
và lực lượng tham gia công tác thu gom, vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu hiện
nay. Chủ yếu các phường, các công ty môi trường đô thị đầu tư xe cuốn, ép rác
chuyên dụng, còn lại khu vực nông thôn chủ yếu sử dụng xe đẩy tay, xe tự chế
hoặc xe công nông để vận chuyển rác.
- Hạ tầng các điểm tập kết chưa
đạt chuẩn; hầu hết là bãi tập kết tạm, chưa được đầu tư nền bãi, mái che hay hệ
thống thu gom nước rỉ rác; một số điểm đã rơi vào tình trạng quá tải; một số
nơi xảy ra tình trạng đốt rác thủ công tại các điểm trung chuyển.
2.3. Công tác xử lý và hạ
tầng xử lý CTRSH
- Tình trạng các khu xử lý
CTRSH bằng công nghệ chôn lấp bị quá tải đang diễn ra tại hầu hết các địa
phương. Phần lớn các bãi chôn lấp tập trung đã hết khả năng tiếp nhận, nước rỉ
rác không được thu gom xử lý tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm.
- Các dự án trọng điểm, liên
huyện đã được chấp thuận chủ trương thực hiện triển khai chậm tiến độ so với kế
hoạch do nhiều nguyên nhân khác nhau, dẫn đến tình trạng dự án cũ thì đã quá
tải, dự án mới chưa được triển khai.
- Các lò đốt quy mô xã đang
xuống cấp. Các lò đã dừng hoạt động do hư hỏng hoặc không có kinh phí vận hành;
một số lò đang hoạt động nhưng không đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật về môi
trường, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm.
- Công nghệ xử lý hiện tại vẫn
còn lạc hậu, chưa có công nghệ tiên tiến hiện đại được áp dụng. Việc xử lý chủ
yếu vẫn là đổ đống, phun hóa chất khử mùi nên chưa triệt để, gây ô nhiễm môi
trường đất, nước và phát sinh mùi hôi ảnh hưởng đến khu dân cư.
2.4. Bất cập về cơ chế
tài chính và nguồn nhân lực
- Số lượng các địa phương được
thụ hưởng chính sách hỗ trợ còn ít. Nghị quyết số 236/2019/NQ-HĐND ngày
12/12/2019 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa, giai đoạn 2020-2025 quy định ngân sách tỉnh hỗ trợ các địa phương
kinh phí xử lý CTRSH bằng lò đốt có công suất từ 50 tấn/ngày trở lên. Do vậy,
các lò đốt nhỏ, các bãi chôn lấp rác nhỏ ở các xã đều không được hỗ trợ kinh
phí.
- Kinh phí vận hành hệ thống
thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH thiếu hụt. Mức phí vệ sinh môi trường thu từ
hộ gia đình hiện chỉ đủ chi trả một phần cho hoạt động thu gom, không đủ để duy
trì hoạt động vận chuyển rác đi xa.
- Xã hội hoá dịch vụ môi trường
còn chậm, hình thức hợp tác công – tư trong đầu tư các khu xử lý khó được triển
khai do các thủ tục pháp lý còn phức tạp, cơ chế xã hội hoá chưa tạo động lực
thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào xử lý CTRSH , chưa huy động được sự tham
gia của cộng đồng dân cư ...
3. Nguyên nhân
3.1. Nguyên nhân khách
quan
- Áp lực từ phát triển kinh tế
và dân số: Sự gia tăng dân số nhanh chóng, quá trình đô thị hoá mạnh mẽ cùng
với sự phát triển về công nghiệp, dịch vụ, du lịch... đã tạo ra áp lực lớn lên
hạ tầng quản lý chất thải. Xu hướng tiêu dùng các sản phẩm dùng một lần tăng
cao khiến khối lượng CTRSH khó phân huỷ phát sinh ngày càng nhiều, thành phần
CTRSH ngày càng đa dạng.
- Hệ thống văn bản pháp luật
thay đổi liên tục: Các quy định pháp lý về quản lý CTRSH thường xuyên thay đổi,
tạo ra thách thức lớn cho địa phương trong việc cập nhật và thực thi đồng bộ.
- Đặc thù địa hình và khoảng
cách vận chuyển: Tại các xã miền núi hoặc khu vực xa trung tâm, rác phải vận
chuyển quãng đường rất xa, từ 25 km đến hơn 35 km mới đến được khu xử lý tập
trung trong khi mật độ dân cư thì thưa thớt. Điều này dẫn đến thu không bù chi
và là rào cản lớn đối với việc bao phủ dịch vụ tại các vùng sâu, vùng xa.
- Thay đổi mô hình quản lý hành
chính: Việc chuyển đổi từ mô hình quản lý cấp huyện sang chính quyền hai cấp
(giao về cho xã/phường quản lý, vận hành khu xử lý tập trung) khiến cơ chế phối
hợp và thanh, quyết toán chi phí xử lý CTRSH chưa được hướng dẫn rõ ràng, kịp
thời.
- Công tác lựa chọn địa điểm
xây dựng các khu xử lý chất thải rắn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng đến đời
sống Nhân dân khu vực lân cận, phát sinh ý kiến chưa đồng thuận của người dân.
- Các dự án xử lý rác tập trung
đã được chấp thuận chủ trương đầu tư chậm tiến độ do nhà đầu tư chưa tập trung
nguồn lực sớm các hồ sơ thủ tục liên quan để triển khai dự án; chưa nghiên cứu
kỹ công nghệ thực hiện dự án dẫn đến mất nhiều thời gian để khảo sát, lựa chọn
giải pháp thiết kế, công nghệ cùng với việc vướng mắc trong khâu bồi thường
giải phóng mặt bằng trong khi không thể kêu gọi các nhà đầu tư mới do lượng rác
phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh đã phù hợp với số dự án đã được chấp thuận chủ
trương đầu tư.
- Một số nhà đầu tư (có cam kết
chỉ đầu tư ngắn hạn cho đến khi các nhà máy lớn đi vào vận hành chính thức sẽ
dừng hoạt động) mong muốn tiếp nhận để quản lý, vận hành khu xử lý chất thải
của các huyện đã đầu tư trước đây nhưng còn vướng mắc về các thủ tục liên quan
đến việc thanh toán vốn đầu tư của ngân sách nhà nước.
- Theo quy định tại khoản 2
Điều 78 Luật Bảo vệ môi trường, UBND các cấp lựa chọn cơ sở xử lý CTRSH thông
qua hình thức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; trường hợp
không thể lựa chọn thông qua hình thức đấu thầu thì thực hiện theo hình thức
đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc thực
hiện theo hình thức đầu thầu đang gặp không ít khó khăn do nguồn kinh phí của
các xã/phường ngay từ đầu năm để đấu thầu cho hoạt động xử lý CTRSH là không có
hoặc không đủ.
3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Công tác quản lý CTRSH chưa
chú trọng đúng mức đến kinh tế tuần hoàn, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ
chất thải. Việc phân loại rác tại nguồn hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức độ
khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế cao đối với người dân.
- Việc phân bổ kinh phí từ
nguồn ngân sách của tỉnh để xây dựng hạ tầng thu gom CTRSH và các khu xử lý tập
trung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
- Việc quy hoạch các khu xử lý
rác theo phạm vi mỗi huyện tối thiểu 1 khu xử lý rác (trước đây) đến nay khi
thực hiện chính quyền 2 cấp đã bộc lộ nhiều điểm bất cập. Các xã tiếp nhận và
quản lý các khu xử lý rác hiện hữu này cơ bản chỉ muốn xử lý rác cho xã đó,
không muốn xử lý rác cho các xã khác, đặc biệt khi các khu xử lý rác đang rơi
vào tình trạng quá tải hoặc gần quá tải.
- Vốn ngân sách bố trí cho sự
nghiệp môi trường nói chung và cho xử lý CTRSH nói riêng còn thấp. Kinh phí
dành cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH chủ yếu từ 02 nguồn: (1) Từ
nguồn thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH ; (2) Từ nguồn ngân sách nhà
nước.
Đối với nguồn thu giá dịch vụ
thu gom, vận chuyển CTRSH : Theo Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND ngày 04/7/2019
của UBND tỉnh ban hành quy định về mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển
và xử lý CTRSH sử dụng nguồn vốn ngân sách, mức thu ở khu vực đô thị là 11.000
đồng/người/tháng, ở khu vực nông thôn vùng đồng bằng, trung du, ven biển là
6.000 đồng/người/tháng, ở khu vực nông thôn miền núi khó khăn là 4.000
đồng/người/tháng; các đối tượng khác, mức giá áp dụng theo các bậc, mức khác
nhau tùy thuộc vào quy mô, tính chất, loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nhìn chung, mức giá này còn thấp, trong khi việc thu còn rất khó khăn, nên việc
trang trải cho chi phí hoạt động là không ổn định.
Đối với nguồn vốn ngân sách nhà
nước: Hiện chưa có cơ chế hỗ trợ riêng cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử
lý chôn lấp hợp vệ sinh mà chủ yếu được lấy từ trong tổng nguồn chi sự nghiệp
môi trường được phân bổ cho các địa phương theo các Nghị quyết số
177/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 và Nghị quyết số 48/2025/NQ-HĐND ngày
09/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, căn cứ Nghị quyết số
48/2025/NQ-HĐND, định mức phân bổ chi sự nghiệp môi trường hàng năm cho các xã
(cũ) là 82 triệu đồng/năm (đảm bảo tối thiểu cấp 200 triệu/xã/năm) cho tất cả
các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn xã; chưa bảo đảm nguồn lực để tổ
chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý
CTRSH ở các địa phương khác nhau, địa phương nào quan tâm dành phần phần nhiều
mức phân bổ hàng năm từ nguồn sự nghiệp môi trường cho hoạt động thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH thì chất lượng công tác quản lý CTRSH ở địa phương ấy
được tốt hơn.
- Một số địa phương chưa thực
sự quan tâm đúng mức đến công tác quản lý, vận hành các khu xử lý chất thải;
việc kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường chưa được thực hiện thường
xuyên.
IV. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ
ÁN
Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh
Thanh Hóa đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở
lên; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 7.900 USD; kinh tế số đóng góp khoảng
30% GRDP, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng. Cùng với quá trình đô thị
hóa nhanh, gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội, khối lượng CTRSH
phát sinh ngày càng lớn, gây áp lực đáng kể lên hệ thống hạ tầng thu gom, vận
chuyển, xử lý và môi trường. Tuy nhiên, công tác quản lý CTRSH trên địa bàn
tỉnh hiện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như đã đề cập ở trên.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác
định mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ CTRSH được thu gom, xử lý đạt 95%. Đây là chỉ
tiêu quan trọng nhưng có tính thách thức cao, đòi hỏi phải có lộ trình, giải
pháp đồng bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành.
Từ những cơ sở nêu trên, việc
xây dựng và ban hành Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030 là hết sức cần thiết và cấp bách. Đề án sẽ là
cơ sở để xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm cụ
thể cho các cấp, các ngành; từng bước hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển,
xử lý CTRSH theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững; góp phần cải thiện môi
trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thực hiện thắng lợi các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
PHẦN THỨ II
NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH
Với mục tiêu duy trì tốc độ
tăng trưởng của tỉnh hàng năm ở mức 02 con số, đưa Thanh Hóa trở thành một
trong những trung tâm lớn của cả nước về công nghiệp, năng lượng cùng với sự
gia tăng dân số, đô thị hoá nhanh chóng đã và đang làm tăng lượng chất thải
sinh hoạt, gây sức ép lớn lên hạ tầng quản lý chất thải và ô nhiễm môi trường.
Dự báo giai đoạn từ năm 2026 - 2030, công tác quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
sẽ đối diện với một số vấn đề khó khăn, bất cập như sau:
- Gia tăng lượng CTRSH cần xử
lý: Theo quy hoạch tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2021 - 2030, tốc độ tăng dân số trung
bình toàn tỉnh khoảng 0,5%/năm đến 0,75%/năm; tỷ lệ đô thị hoá dự kiến đến năm
2030 đạt 50%; ước tính lượng CTRSH phát sinh tăng trung bình 5% đến 6% mỗi năm;
định mức phát sinh CTRSH đối với đô thị từ 0,9 kg/người.ngày đến 1,1
kg/người.ngày; đối với khu vực nông thôn là 0,5 kg/người.ngày đến 0,6
kg/người.ngày; theo đó, tổng lượng rác phát sinh toàn tỉnh được dự báo sẽ tăng
từ 2.521,04 tấn/ngày vào năm 2025 lên mức 3.294,9 tấn/ngày vào năm 2030.
- Tình trạng quá tải tại các
khu xử lý CTRSH : Hiện nay hạ tầng xử lý CTRSH chưa theo kịp tốc độ CTRSH gia
tăng, phát sinh. Trong trường hợp các nhà máy xử lý quy mô lớn chậm tiến độ đầu
tư, vận hành không ổn định, không đảm bảo năng lực hoặc phát sinh sự cố môi
trường, sẽ dẫn đến nguy cơ thiếu hụt công suất xử lý. Khi đó, hạ tầng hiện hữu,
đặc biệt là các ô chôn lấp không đủ khả năng tiếp nhận bổ sung, làm gia tăng
nguy cơ CTRSH không được thu gom và xử lý kịp thời.
- Các dự án đầu tư xử lý CTRSH
trọng điểm không đảm bảo tiến độ đầu tư: Quá trình đầu tư các dự án xử lý hiện
đang gặp không ít khó khăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau.
Trong giai đoạn tới, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dự kiến sẽ được điều
chỉnh, hoàn thiện theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, dẫn đến
sự thay đổi về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư. Điều này có thể tiếp tục
ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án nếu không được hướng dẫn kịp thời,
thống nhất. Bên cạnh đó, yêu cầu ngày càng cao về công nghệ xử lý, tiêu chuẩn
môi trường và sự đồng thuận của người dân cũng đặt ra thêm thách thức đối với
việc triển khai các dự án xử lý CTRSH .
- Tình trạng ô nhiễm môi trường
tại các bãi chôn lấp CTRSH : Hiện lượng CTRSH đang lưu chứa và tồn đọng tại các
bãi chôn lấp CTRSH trên địa bàn tỉnh ước tính lên đến hơn 4 triệu tấn. Hiện
nay, các bãi chôn lấp vẫn đang tiếp tục hoạt động trong khi chờ các dự án lớn
đầu tư, xây dựng do đó lượng CTRSH tiếp nhận hằng ngày vẫn tiếp tục gia đăng.
Công nghệ chôn lấp lạc hậu, chủ yếu đổ đống, đầm nén, phun hóa chất diệt côn
trùng, khử mùi nên hầu hết CTRSH chưa được xử lý triệt để, tiềm ẩn nguy cơ ô
nhiễm môi trường gây mất cảnh quan, ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU,
PHẠM VI
1. Quan điểm
- Nâng cao công tác quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường đối với CTRSH , gắn với trách nhiệm của các cấp ủy
đảng, chính quyền, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia
của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh và trách nhiệm của toàn xã hội.
- Thiết lập mạng lưới các cơ sở
xử lý chất thải rắn tập trung theo hướng liên vùng; đẩy mạnh áp dụng các công
nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, đồng xử lý, xử lý kết hợp với thu hồi
năng lượng; từng bước hạn chế chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt.
- Công tác quản lý, thu gom, xử
lý CTRSH từng bước hướng đến nguyên tắc: cơ quan, tổ chức cộng đồng dân cư, hộ
gia đình và cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính
cho hoạt động bảo vệ môi trường;
- Huy động mọi nguồn lực đầu
tư, tăng cường xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý CTRSH
, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Định hướng quản lý CTRSH theo
mô hình kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải;
từng bước coi chất thải là tài nguyên, giảm thiểu phát sinh chất thải phải xử
lý cuối cùng, góp phần tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Mục tiêu đến năm 2030
2.1. Mục tiêu chung
Tổ chức thu gom, vận chuyển và
xử lý CTRSH đảm bảo tỷ lệ CTRSH được thu gom, xử lý đạt từ 95% trở lên vào năm
2030; trong đó, khu vực đô thị đạt 97% trở lên, khu vực nông thôn đạt 93% trở lên.
Không để xảy ra tình trạng ùn ứ CTRSH trong khu dân cư đặc biệt là các khu đô
thị.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Về thu gom, vận chuyển
- 100% các xã/phường bố trí các
điểm tập kết CTRSH từ các hộ gia đình, cá nhân đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật về môi trường, đáp ứng nhu cầu của địa phương; bố trí các điểm trung
chuyển CTRSH phù hợp với khoảng cách đến các nhà máy xử lý rác đảm bảo từ các
điểm tập kết đến điểm trung chuyển/nhà máy xử lý rác không quá 50 km.
- Hoàn thiện mạng lưới dịch vụ
thu gom, vận chuyển CTRSH ; khuyến khích các tổ chức, cá nhân có năng lực tham
gia thu gom, vận chuyển CTRSH ; tăng cường số lượng các đơn vị, hợp tác xã, tổ
đội vệ sinh môi trường thu gom, vận chuyển CTRSH tại các địa phương miền núi.
- Trang bị thiết bị, phương
tiện thu gom, vận chuyển CTRSH đầy đủ, đồng bộ đảm bảo phục vụ tốt công tác
phân loại CTRSH .
2.2.2. Về xử lý
- Giảm dần hình thức chôn lấp
trực tiếp CTRSH đảm bảo tỷ lệ chôn lấp dưới 10% (chỉ áp dụng cho một số xã miền
núi vùng sâu vùng xa có mật độ dân cư sống thưa thớt); giảm dần và tiến tới
chấmdứt hoạt động các lò đốt quy mô nhỏ.
- Đóng cửa tất cả các bãi chôn
lấp CTRSH đã quá tải, không đáp ứng yêu cầu về môi trường nằm trong phạm vi thu
gom, xử lý của các nhà máy rác tập trung khi các nhà máy đi vào hoạt động chính
thức; có lộ trình cải tạo, khắc phục tình trạng ô nhiễm và phục hồi môi trường
tại các bãi chôn lấp CTRSH .
3. Phạm vi của Đề án
- Phạm vi của Đề án tập trung
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với CTRSH
. Trên cơ sở đó phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp, các ngành; từng bước
hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo hướng hiện đại, hiệu
quả, bền vững; góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
- Nội dung về định mức, đơn giá
dịch vụ, cơ chế hỗ trợ ngân sách nhà nước không nằm trong phạm vi của Đề án.
III. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI
PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1. Tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo của cấp ủy Đảng; quản lý, điều hành của cơ quan các cấp; phát huy vai
trò của MTTQ, các tổ chức chính trị, người dân và doanh nghiệp trong thu gom,
vận chuyển và xử lý CTRSH
a) Nâng cao vai trò, trách
nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
các cấp theo thẩm quyền tổ chức, chỉ đạo thực hiện và vận động, giám sát việc
thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH ; chịu trách nhiệm trước cấp trên
trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện và các tồn tại, vi phạm liên quan.
b) Huy động sự tham gia của
toàn xã hội về bảo vệ môi trường, trong đó Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
xã, phường và các tổ chức thành viên như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu
chiến binh, Hội Nông dân, Công đoàn đóng vai trò nòng cốt trong tổ chức, hướng
dẫn, giám sát, thực hiện giảm thiểu khối lượng phát sinh, phân loại.
c) Rà soát, đánh giá hiệu quả
công tác đào tạo, truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng về giảm thiểu,
phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTRSH và chất thải nhựa; sửa
đổi, xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền và đầu tư các phương tiện,
thiết bị đảm bảo hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
d) Tăng cường công tác truyền
thông, giáo dục và nâng cao nhận thức để các cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng
và Nhân dân tự giác thực hiện nếp sống văn minh, không xả rác bừa bãi, bỏ rác
đúng nơi, đúng thời gian quy định; hạn chế, tiến tới chấm dứt sử dụng sản phẩm
nhựa dùng một lần, túi ni lông khó phân hủy; đồng thời đẩy mạnh thời lượng
tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm
lan tỏa sâu rộng, khuyến khích và động viên toàn dân tích cực tham gia.
e) Thực hiện các chương trình
đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học, cộng đồng
dân cư, cơ quan nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ về giảm thiểu,
phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng CTRSH , thải bỏ CTRSH đúng nơi quy
định.
g) Biểu dương, khen thưởng kịp
thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, đồng thời nhắc nhở, phê bình
các địa phương, đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, nhằm tạo chuyển biến thực
chất, bền vững trong toàn dân về ý thức giữ gìn môi trường sống.
2. Quy hoạch hạ tầng xử lý
CTRSH phù hợp với thực tiễn, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
a) Duy trì các khu xử lý CTRSH
tập trung có các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, đã đi vào hoạt
động hoặc đang thi công xây dựng gồm các khu xử lý tại xã Vĩnh Lộc (100
tấn/ngày); phường Đông Quang (500 tấn/ngày); xã Trường Lâm (620 tấn/ngày);
phường Bỉm Sơn (1.000 tấn/ngày), phường Nam Sầm Sơn (300 tấn/ngày); xã Sao Vàng
(1.000 tấn/ngày); với tổng công suất xử lý là 3.520 tấn/ngày, đảm bảo xử lý
CTRSH cho cả tỉnh đến năm 2030.
b) Bổ sung vào quy hoạch tỉnh
04 khu xử lý CTRSH tập trung có công suất từ 300 tấn/ngày tại các xã: Hà Trung,
Triệu Lộc, Yên Thọ, Nông Cống; bên cạnh đó, nâng công suất khu xử lý rác xã
Vĩnh Lộc từ 100 tấn/ngày lên 300 tấn/ngày. Đây là một trong các khu xử lý rác
tập trung cho tỉnh đến năm 2045, đồng thời, là phương án quy hoạch dự phòng khi
một trong các dự án xử lý rác không đảm bảo tiến độ đầu tư/thu hồi do không đảm
bảo năng lực hoặc gặp sự cố về môi trường; cụ thể như sau:
- Phương án dự phòng cho trường
hợp đến hết năm 2026 khi các dự án rác tại các phường: Bỉm Sơn, Sầm Sơn không
thể đi vào hoạt động: Trong năm 2026, lập hồ sơ chủ trương kêu gọi dự án điện
rác tại xã Hà Trung với công suất từ 500 tấn/ngày trở lên; tổ chức đấu thầu lựa
chọn nhà đầu tư thực hiện dự án trong năm 2027.
- Phương án dự phòng cho trường
hợp Nhà máy xử lý rác Đông Nam không thể hoạt động ổn định trở lại: Trong năm
2027, lập chủ trương kêu gọi dự án xử lý rác thải tại xã Nông Cống với công
suất từ 500 tấn/ngày trở lên.
- Dự phòng thêm 02 khu xử lý có
công suất lớn tại xã Triệu Lộc và xã Yên Thọ khi các dự án đã được chấp thuận
chủ trương có nguy cơ không triển khai hoặc triển khai quá chậm.
- Các xã, phường còn lại tuỳ
tình hình thực tế, khoảng cách vận chuyển để lựa chọn đưa về các khu xử lý hiện
hữu hoặc quy hoạch tại các xã hoặc các xã lân cận cho phù hợp.
c) Dự phòng các khu chôn lấp
CTRSH tại các xã: Sao Vàng, Hà Trung, Yên Cát, Lương Sơn, Đồng Lương, Yên Thắng
… với diện tích mở rộng khoảng 26,5 ha (đảm bảo lưu chứa cho khoảng 3 triệu tấn
rác) khi các dự án rác chưa đi vào hoạt động ổn định.
d) Duy trì và phát triển các
khu xử lý (trong phạm vi xã và liên xã), điểm tập kết, trạm trung chuyển trên
địa bàn các phường, xã đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường để xử lý khi các
khu xử lý CTRSH tập trung chưa hoạt động đồng bộ hoặc để tập kết tạm thời trước
khi vận chuyển về các khu xử lý CTRSH tập trung.
3. Hoàn thiện hạ tầng kỹ
thuật thu gom, tập kết và vận chuyển CTRSH
a) Rà soát, tổng hợp danh mục
các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật về thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH vào kế
hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, báo cáo đề xuất cơ quan có
thẩm quyền xem xét, thẩm định, cân đối kinh phí theo đúng quy định trước khi
trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt để triển khai thực hiện.
b) Rà soát, đầu tư bổ sung hoặc
chuyển đổi các điểm tập kết CTRSH tại các xã, phường trước khi vận chuyển về
khu xử lý tập trung đảm bảo 02 - 03 khu dân cư tập trung có ít nhất 01 điểm tập
kết CTRSH đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường theo quy định.
c) Ưu tiên đầu tư bổ sung hoặc
chuyển đổi phù hợp các khu xử lý đã dừng tiếp nhận CTRSH hoặc đã đóng cửa thành
trạm trung chuyển CTRSH đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường trên địa
bàn các xã miền núi, các xã có khoảng cách vận chuyển CTRSH đến khu xử lý lớn:
01 trạm trung chuyển tại xã Nông Cống trước khi vận chuyển về khu xử lý CTRSH
Nghi Sơn; 01 trạm trung chuyển tại xã Ngọc Lặc và 01 trạm trung chuyển tại xã
Lương Sơn trước khi vận chuyển về khu xử lý CTRSH xã Sao Vàng.
d) Nâng cao năng lực tổ chức và
hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH tại các địa
phương; khuyến khích thành lập mới các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
thu gom, vận chuyển CTRSH , đảm bảo các khu dân cư đều được cung cấp dịch vụ
thu gom, xử lý.
e) Hoạt động thu gom, vận
chuyển CTRSH phải sử dụng thiết bị, phương tiện được thiết kế phù hợp đối với
từng loại CTRSH đã được phân loại, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi
trường theo quy định; việc vận chuyển CTRSH phải thực hiện theo tuyến đường,
thời gian theo quy định của cấp có thẩm quyền.
g) Phân vùng xử lý CTRSH trên
địa bàn tỉnh làm cơ sở cho các xã, phường thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu
thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH theo quy định của pháp
luật (Phụ lục 2).
4. Tiếp tục đầu tư xây dựng,
cải tạo nâng cấp các công trình xử lý CTRSH đáp ứng nhu cầu xử lý
a) Lựa chọn nhà đầu tư vào các
dự án xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định pháp luật về đầu tư và
các quy định pháp luật có liên quan. Giám sát, theo dõi tổ chức thực hiện đầu
tư dự án theo lộ trình đã xác định.
b) Lựa chọn cơ sở thu gom, vận
chuyển CTRSH thông qua hình thức đấu thầu, trường hợp không thực hiện được qua
đấu thầu thì thực hiện theo hình thức đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ theo quy định.
c) Có cơ chế chính sách thu hút
đầu tư, khuyến khích xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH ,
nhất là thu hút doanh nghiệp đầu tư khu xử lý CTRSH quy mô tập trung, công nghệ
tiên tiến, theo đó; ngân sách nhà nước cân đối để hỗ trợ kinh phí thu gom và xử
lý CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình, cá nhân.
d) Phân vùng xử lý CTRSH trên
địa bàn tỉnh làm cơ sở cho các xã, phường thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu
thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH theo quy định của pháp
luật.
e) Xem xét chuyển đổi công nghệ
của Nhà máy xử lý CTRSH tại phường Đông Quang từ công nghệ hỗn hợp sang công
nghệ đốt CTRSH có thu hồi năng lượng để phát điện có công suất trên 500
tấn/ngày.
g) Các dự án đầu tư xử lý CTRSH
đầu tư bổ sung hoặc đầu tư mới phải đáp ứng các tiêu chí công nghệ theo Điều 28
Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
- Có khả năng tiếp nhận, phân
loại chất thải, xử lý mùi, nước rỉ rác, khí thải, linh hoạt trong kết hợp các
công nghệ khác, xử lý các loại chất thải rắn khác nhau; có khả năng mở rộng
công suất, thu hồi năng lượng, xử lý các chất thải thứ cấp; mức độ phù hợp về
quy mô xử lý.
- Mức độ tự động hóa, nội địa
hóa của dây chuyền thiết bị, tỷ lệ xử lý, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp chất
thải rắn sinh hoạt; mức độ tiên tiến của công nghệ xử lý; độ bền của thiết bị,
dây chuyền công nghệ; xuất xứ của các trang thiết bị; tính đồng bộ của thiết bị
trong dây chuyền công nghệ, khả năng sử dụng, thay thế các loại linh kiện, phụ
tùng trong nước, tỷ lệ nội địa hóa của hệ thống công nghệ, thiết bị.
- Ưu tiên công nghệ đã được ứng
dụng thành công, đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường về thiết bị xử
lý, tái chế chất thải và phù hợp với điều kiện Việt Nam và được cơ quan có thẩm
quyền đánh giá, thẩm định theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ,
pháp luật về chuyển giao công nghệ; công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến
khích chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.
5. Khắc phục, xử lý, cải
tạo, phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH , khu xử lý đã quá tải,
dừng hoạt động
a) Rà soát, lập danh mục, xây
dựng kế hoạch, lộ trình đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường các bãi chôn lấp
CTRSH không hợp vệ sinh, bãi rác tự phát gây ô nhiễm môi trường. Định hướng xử
lý rác thải tồn đọng tại các bãi chôn lấp trên địa bàn tỉnh được lựa chọn theo
hướng tận dụng làm nguồn nguyên liệu dự trữ phục vụ các nhà máy điện rác trên
địa bàn tỉnh. Nguồn kinh phí phục vụ công tác xử lý, thu hồi và vận chuyển rác
thải tồn đọng được xem xét cân đối từ doanh thu bán điện của các nhà máy điện
rác nhằm giảm áp lực ngân sách nhà nước và phù hợp với điều kiện thực tế .
b) Rà soát, chuyển đổi công
nghệ hoặc chuyển đổi sang mô hình trạm trung chuyển/điểm tập kết CTRSH đối với
các bãi chôn lấp CTRSH đã được bốc xúc đưa đi xử lý, trả lại mặt bằng sạch.
c) Rà soát, xây dựng phương án
xử lý tài sản công đối với các lò đốt CTRSH cũ, quy mô nhỏ đã dừng hoạt động do
không đảm bảo quy định hoặc cải tạo các lò đốt còn khả năng hoạt động, thực
hiện dự án đầu tư mới trên địa điểm khu xử lý cũ.
d) Kiểm tra, kiểm soát, chấn
chỉnh hoạt động của các khu xử lý chất thải nhất là vấn đề xử lý nước rỉ rác,
mùi hôi, xây dựng mảng xanh, tạo cảnh quan môi trường đảm bảo các khu xử lý
hoạt động đạt quy chuẩn cho phép.
e) Sau khi các dự án lớn đi vào
hoạt động ổn định, dừng hoạt động tất cả bãi chôn lấp CTRSH trên địa bàn tỉnh
(các xã thuộc vùng sâu, vùng xa có dân cư sống thưa thớt tùy tình hình thực tế
để quyết định việc xử lý CTRSH bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, công nghệ
đốt hoặc công nghệ hỗn hợp).
6. Giải pháp về tài chính
a) Chuyển dịch từ bao cấp sang
nguyên tắc thị trường “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” tuy nhiên vẫn bảo đảm
được tính nhân văn và an sinh xã hội đối với khu vực nông thôn, đặc biệt là các
khu vực miền núi.
b) Kinh phí về thu gom, vận
chuyển CTRSH một phần từ người dân chi trả thông qua việc thu giá dịch vụ công
ích và một phần từ nguồn ngân sách tỉnh.
c) Căn cứ tình hình thực tế,
tham mưu UBND tỉnh ban hành giá cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm
công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý
CTRSH trên địa bàn tỉnh hoặc tham mưu UBND tỉnh phân cấp cho UBND cấp xã thực
hiện định giá cụ thể trên địa bàn quản lý.
d) Đa dạng hoá nguồn lực đầu
tư, đẩy mạnh xã hội hoá và huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác
thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH . Thực thi có hiệu quả một số chính sách ưu
đãi đầu tư cho các dự án về xử lý CTRSH như bảo lãnh vay vốn tín dụng của các
ngân hàng nước ngoài; ưu tiên khai thác các nguồn vốn ODA từ các Chính phủ và
các tổ chức quốc tế; vay vốn với lãi suất ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ phát triển
của Nhà nước và các quỹ môi trường.
e) Đẩy mạnh thu hút các doanh
nghiệp tư nhân và tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh tham gia đầu tư công trình
xử lý CTRSH theo Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm
2045 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026.
7. Tăng cường giám sát, kiểm
tra, xử lý vi phạm
a) Vận hành có hiệu quả đường
dây nóng ở địa phương để tiếp nhận và xử lý kịp thời thông tin phản ánh về khó
khăn, vướng mắc, các trường hợp xả rác bừa bãi, đổ CTRSH không đúng nơi quy
định; vi phạm trong phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH trên địa bàn.
b) Lắp đặt, khai thác hệ thống
camera giám sát, đặc biệt tại các tuyến đường giao thông, điểm thu gom CTRSH ,
khu vực nhạy cảm về môi trường; đồng bộ hạ tầng kỹ thuật với hệ thống camera an
ninh để phát hiện kịp thời các hành vi xả rác bừa bãi, đổ CTRSH không đúng nơi
quy định; vi phạm trong phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH gây ô nhiễm
môi trường.
c) Tăng cường công tác phối hợp
của Công an xã và chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, kịp thời phát
hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về đổ trộm, xả CTRSH không đúng nơi
quy định, xả chất thải gây ô nhiễm môi trường...; đẩy mạnh xử phạt hành vi vi
phạm qua hệ thống camera an ninh, camera giám sát tại các tuyến đường giao
thông, các khu vực tập trung.
IV. DỰ ÁN, NHIỆM VỤ ƯU TIÊN
THỰC HIỆN QUẢN LÝ CTRSH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN NĂM 2030
1. Trong năm 2026
- Rác thải tiếp tục được đưa về
các khu xử lý hiện hữu của tỉnh (các bãi chôn lấp, các lò đốt thủ công và các
nhà máy xử lý rác tại Vĩnh Lộc, Nghi Sơn, Đông Quang, Nông Cống, Kim Tân).
- Thực hiện quy chế điều phối
công tác vận chuyển và xử lý CTRSH khi một trong các khu xử lý chất thải rắn
sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh phải dừng hoặc tạm dừng tiếp nhận rác theo
Quyết định số 1592/QĐ-UBND ngày 01/6/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh; theo đó, hiện
nay, do Nhà máy xử lý rác thải Đông Nam đang tạm dừng tiếp nhận rác để chuyển
đổi, nâng cấp công nghệ, khối lượng rác phát sinh hàng ngày trên địa bàn các
xã, phường: Hạc Thành, Đông Quang, Đông Sơn, Quảng Phú, Đông Tiến, Hàm Rồng,
Nguyệt Viên, Tiên Trang, Quảng Yên đang đưa thu gom, vận chuyển về Khu xử lý
chất thải Nghi Sơn để xử lý.
- Cải tạo các khu xử lý rác
hiện hữu bằng các biện pháp kỹ thuật (lu lèn, đầm nén …) để tăng sức chứa bãi
rác tại các phường: Bỉm Sơn; Sầm Sơn; các bãi rác tập trung cấp huyện (trước
đây) như: Lang Chánh, Quan Sơn, Minh Sơn, Sao Vàng …
- Đầu tư mở rộng bãi chôn lấp
CTRSH tại xã Sao Vàng, Hà Trung để đảm bảo phương án dự phòng xử lý khi các khu
xử lý rác trên địa bàn tỉnh bị quá tải/tạm dừng hoạt động (dự kiến tổng diện
tích mở rộng khoảng 6 ha).
- Đôn đốc để đưa các dự án xử
lý rác tập trung đi vào hoạt động trong năm 2026; cụ thể: Nhà máy đốt rác Nam
Sầm Sơn trước tháng 8/2026; nhà máy điện rác Bỉm Sơn trong tháng 12/2026, cải
tiến dây chuyền, công nghệ xử lý CTRSH bằng công nghệ hỗn hợp của Nhà máy xử lý
CTRSH tại phường Đông Quang trước tháng 9/2026.
- Đối với Nhà máy rác Đông Nam:
Đôn đốc Nhà máy rác Đông Nam khẩn trương cải tiến công nghệ, chỉ cho phép đi
vào hoạt động khi đáp ứng yêu cầu về môi trường.
- Căn cứ tình hình thực tế,
chuẩn bị các điều kiện để lập hồ sơ chấp thuận chủ trương dự án đầu tư nhà máy
điện rác với công suất từ 500 tấn/ngày trở lên vào 02 khu vực xử lý CTRSH đã có
trong quy hoạch tỉnh (Hà Trung, Nông Cống).
- Chuẩn bị các bước đầu tư để
lựa chọn, mở rộng thêm 02 khu chôn lấp CTRSH tại các xã nằm trong bán kính 60
km quanh khu vực phường Hạc Thành.
2. Trong giai đoạn từ năm
2027 - 2029
- Hoàn thành và đưa vào hoạt
động ổn định các dự án lớn trên địa bàn tỉnh, gồm: Khu xử lý CTRSH Nghi Sơn của
Công ty cổ phần môi trường Nghi Sơn; Nhà máy đốt CTRSH phát điện tại phường Bỉm
Sơn do Công ty TNHH Năng lượng môi trường Tianyu Thanh Hóa và Khu xử lý chất
thải tập trung cấp vùng tại xã Sao Vàng.
- Giao chủ đầu tư nghiên cứu,
rà soát và lập phương án chuyển đổi công nghệ của Nhà máy xử lý CTRSH tại
phường Đông Quang theo hướng đốt CTRSH có thu hồi năng lượng để phát điện, với
quy mô, công suất phù hợp; đánh giá đầy đủ tính khả thi về nguồn cung cấp CTRSH
, công nghệ, môi trường, hiệu quả kinh tế và phương án đấu nối điện; thực hiện
việc thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ và các thủ tục về đầu tư, xây dựng,
bảo vệ môi trường, điện lực theo quy định của pháp luật
- Khuyến khích Nhà máy xi măng
Long Sơn xử lý rác sinh hoạt với khối lượng khoảng 300 tấn/ngày đến 500
tấn/ngày, dự kiến hoạt động trong năm 2027 (hiện Nhà máy đang xin chủ trương
thực hiện đồng xử lý trong lò nung xi măng).
- Trường hợp các dự án đã được
chấp thuận chủ trương đầu tư không có khả năng tiếp tục hoặc triển khai không
theo đúng với kế hoạch đã cam kết, trong năm 2027 tiến hành các bước mời thầu
kêu gọi nhà đầu tư dự án điện rác vào 2 khu xử lý tại xã Hà Trung và xã Nông
Cống.
- Chuẩn bị các bước kêu gọi nhà
đầu tư vào khu xử lý tại xã Triệu Lộc, Yên Thọ (nếu các dự án đã được chấp
thuận chủ trương chậm triển khai).
- Trường hợp các Nhà máy lớn
chưa đi vào hoạt động ổn định, tiếp tục cân đối quỹ đất dự phòng mở rộng các
bãi chôn lấp tại các xã, phường: Sao Vàng; Hà Trung và một số xã, phường còn
quỹ đất để xử lý dự phòng cho các xã, phường thuộc khu vực đồng bằng và ven
biển. Đối với các xã khu vực miền núi: Các xã chủ động đề xuất đầu tư mới/mở
rộng các khu xử lý hiện hữu để đảm bảo xử lý rác cho địa phương cho đến khi các
nhà máy lớn đi vào hoạt động.
- Đầu tư xây dựng mới, cải tạo
các điểm tập kết, điểm trung chuyển CTRSH đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Thực hiện quy trình xử lý các
bãi chôn lấp CTRSH đã dừng hoạt động, quá tải, tồn đọng và ô nhiễm môi trường
như: Bãi rác Cồn Quán tại phường Hạc Thành, bãi rác Núi Voi tại phường Bỉm Sơn,
bãi chôn lấp CTRSH Đông Nam tại phường Đông Quang, bãi CTRSH tại phường Sầm
Sơn, bãi rác Đồi Mốc tại xã Minh Sơn, các bãi chôn lấp có quy mô cấp huyện
trước đây.
3. Giai đoạn từ năm 2030 trở
đi
- Duy trì các nhà máy xử lý
CTRSH tập trung đã đi vào hoạt động ổn định.
- Chấm dứt hoạt động chôn lấp
rác thải và các lò đốt thủ công hoạt động không hiệu quả tại các khu vực nằm
trong phạm vi xử lý rác của các nhà máy xử lý CTRSH tập trung.
- Tiếp tục xử lý triệt để các
bãi chôn lấp đã dừng hoạt động để đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường
- Đối với các xã thuộc vùng
sâu, vùng xa có dân cư sống thưa thớt tùy tình hình thực tế để quyết định việc
xử lý CTRSH bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, công nghệ đốt hoặc công nghệ
hỗn hợp.
(Danh mục các dự án, nhiệm
vụ ưu tiên thực hiện giai đoạn 2026 - 2030 chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo)
V. NHU CẦU KINH PHÍ THỰC
HIỆN ĐẾN NĂM 2030
1. Tổng như cầu kinh phí
Nhu cầu kinh phí thực hiện Đề
án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5.707 tỷ đồng, trong đó:
- Ước tính kinh phí nhiệm vụ
tuyên truyền nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, ứng dụng hệ thống quản lý
CTRSH thông minh, giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái
chế, xử lý CTRSH giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 10 tỷ đồng.
- Ước tính kinh phí cho hoạt
động thu gom, vận chuyển CTRSH giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5.397 tỷ đồng.
- Kinh phí hỗ trợ đầu tư bổ
sung điểm tập kết tạm CTRSH mới, cải tạo các điểm tập kết tạm đã xuống cấp, ô
nhiễm môi trường khoảng 300 tỷ đồng.
- Kinh phí cho các nhiệm vụ
khác: Do các sở, ngành, UBND các xã, phường căn cứ vào tình hình thực tế tại
địa phương và lộ trình thực hiện Đề án để đề xuất UBND tỉnh xem xét hàng năm
hoặc theo giai đoạn.
2. Nguồn kinh phí thực hiện:
Dự kiến từ nguồn Ngân sách tỉnh, xã và từ các nguồn huy động hợp pháp khác.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Môi
trường
a) Là cơ quan đầu mối, chủ trì,
phối hợp với các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ
quan, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường tổ chức triển khai
thực hiện Đề án đảm bảo kịp thời, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật hiện hành.
b) Tham mưu ban hành các văn bản
có liên quan đến quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh; thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về công tác quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh.
c) Rà soát, tham mưu UBND tỉnh
phân luồng CTRSH tạm thời tại khu vực bị quá tải, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
tới người dân tới các khu xử lý trong và ngoài tỉnh đảm bảo phù hợp với tình
hình thực tế trên địa bàn tỉnh và đúng theo quy định, trong quá trình thực
hiện, trường hợp phát sinh khó khăn vướng mắc vượt thẩm quyền (nếu có) thì tham
mưu đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo xử lý.
d) Chủ trì đôn đốc, yêu cầu các
chủ đầu tư các dự án Nhà máy xử lý rác đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương
khẩn trương hoàn thành đưa nhà máy đi vào hoạt động theo đúng tiến độ; phối hợp
với các đơn vị liên quan kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong quá trình
thực hiện dự án; thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác xử lý CTRSH tại các
nhà máy đang hoạt động.
đ) Phối hợp với các Sở, ngành,
UBND cấp xã rà soát, xây dựng phương án phân vùng phạm vi thu gom, xử lý CTRSH
cụ thể khi các dự án xử lý CTRSH tập trung đi vào hoạt động ổn định.
e) Tổng hợp nhu cầu sử dụng đất
để phát triển khu xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh, tham mưu phê duyệt, điều
chỉnh theo đúng quy định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
g) Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan tăng cường công tác kiểm tra hoạt động thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát các đơn vị thu
gom, vận chuyển, xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh theo quy định; việc khắc phục ô
nhiễm môi trường đối với các khu xử lý rác trên địa bàn tỉnh.
h) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội, Ủy ban nhân
dân các xã, phường triển khai thực hiện kế hoạch thí điểm mô hình phân loại
CTRSH tại nguồn trên địa bàn các xã, phường.
i) Tham mưu ban hành giá tối đa
dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh;
căn cứ tình hình thực tế, tham mưu UBND tỉnh ban hành giá cụ thể đối với cơ
quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu
gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh hoặc tham mưu UBND tỉnh phân
cấp cho UBND cấp xã thực hiện định giá cụ thể.
k) Chủ trì tổng kết, đánh giá,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án trên địa bàn tỉnh; chịu trách nhiệm
theo dõi, giám sát, đôn đốc các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các xã, phường
và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình thực hiện Đề án này; định
kỳ hàng năm (trước ngày 05/12) hoặc đột xuất tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện
Đề án về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Tỉnh ủy và đồng gửi Ủy ban nhân dân
tỉnh; tham mưu sơ kết, tổng kết và kịp thời đề xuất hoặc kiến nghị với cấp có
thẩm quyền biện pháp xử lý đối với những khó khăn, vướng mắc phát sinh vượt
thẩm quyền (nếu có).
2. Sở Tài chính
a) Chủ trì, phối hợp với các
sở, ngành, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh lựa chọn nhà đầu
tư vào các dự án xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định pháp luật về
đầu tư và các quy định pháp luật có liên quan.
b) Chủ trì, phối hợp với các
đơn vị có liên quan tham mưu trình phân bổ, hỗ trợ kinh phí khi đảm bảo điều
kiện để triển khai thực hiện các nội dung của Đề án; hướng dẫn các đơn vị, địa
phương quản lý, sử dụng, quyết toán nguồn kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện
các nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án theo quy định.
c) Tham mưu UBND tỉnh thu hồi
chứng nhận đầu tư/đăng ký đầu tư đối với các dự án xử lý CTRSH chậm tiến độ và
xử lý những vấn đề có liên quan về thực thi đầu tư các dự án.
d) Hướng dẫn Ủy ban nhân dân
cấp xã thực hiện quy định về đấu thầu, cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích thu
gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo đúng quy định.
3. Sở Công Thương
a) Nghiên cứu các cơ chế, chính
sách khuyến khích đầu tư, miễn giảm các thủ tục đấu nối và bán điện dưới lưới
đối với nhà máy phát điện sử dụng chất thải rắn sinh hoạt, sinh khối khi có
hướng dẫn của Bộ Công Thương để triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh.
b) Chủ trì, phối hợp với các
đơn vị liên quan hướng dẫn doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý xây dựng kế
hoạch, lộ trình hạn chế và tiến tới cấm sử dụng túi nhựa khó phân hủy tại các
trung tâm thương mại, siêu thị, chợ dân sinh; có biện pháp giám sát và xử lý
(nếu có) các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích thực hiện theo
kế hoạch đã xây dựng.
c) Chủ trì, tham mưu UBND tỉnh
báo cáo Chính phủ điều chỉnh, cập nhập dự án xử lý CTRSH phát điện tại phường
Đông Quang, phường Nam Sầm Sơn, xã Hà Trung, xã Triệu Lộc, Nông Cống, Yên Thọ
vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, tổ chức có liên quan có ý kiến về công nghệ đối với dự án xử lý chất thải
đối với các trường hợp trong giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư dự án không
có cấu phần xây dựng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 và điểm c khoản 3 Điều
3 Nghị định số 101/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ.
b) Tổ chức triển khai thực hiện
các nhiệm vụ, dự án nghiên cứu khoa học công nghệ xử lý chất thải rắn sinh
hoạt; tái chế, xử lý chất thải nhựa thành nguyên liệu, nhiên liệu; sản xuất các
sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế cho sản phẩm nhựa dùng một lần và
túi nhựa khó phân hủy.
c) Nghiên cứu chuyển giao, ứng
dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong tái chế, xử lý chất thải kết hợp
với thu hồi năng lượng; tham mưu giải pháp khoa học chuyển đổi công nghệ xử lý
chất thải tại các khu xử lý theo hướng xử lý chất thải có kết hợp với thu hồi
năng lượng.
5. Sở Xây dựng
a) Phối hợp với UBND các xã,
phường và các đơn vị liên quan để xem xét, bố trí điểm tập kết, khu xử lý CTRSH
đảm bảo khoảng cách an toàn và yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định trong
quá trình thực hiện thẩm định, tham gia ý kiến các hồ sơ quy hoạch đô thị và
nông thôn.
b) Phối hợp với Sở Tài chính và
Ủy ban nhân dân cấp xã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai các dự án đầu
tư xây dựng hạ tầng giao thông kết nối khu đất mời gọi đầu tư Nhà máy xử lý
chất thải rắn với hệ thống hạ tầng giao thông hiện hữu.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo
a) Chỉ đạo các trường, cơ sở
giáo dục hướng dẫn, hình thành thói quen cho học sinh bỏ rác đúng quy định;
hướng dẫn kỹ thuật giảm thiểu CTRSH , phân loại CTRSH theo quy định; bố trí đẩy
đủ thùng rác trong khuôn viên trường học; vệ sinh sạch sẽ trong và xung quanh
khuôn viên trường học.
b) Giám sát việc tuân thủ quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với CTRSH tại các trường học, cơ sở
giáo dục; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh công tác quản lý CTRSH của các đơn vị
thuộc phạm vi quản lý.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch
a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban
nhân dân cấp xã yêu cầu các cơ sở thuộc phạm vi quản lý, như: Cơ sở lưu trú,
khu di tích, khu du lịch … thực hiện phân loại, thu gom, lưu giữ, chuyển giao
CTRSH theo quy định.
b) Chỉ đạo rà soát, cập nhật,
lồng ghép nội dung quản lý CTRSH vào quy chế quản lý các khu di tích, khu du
lịch trên địa bàn tỉnh.
c) Giám sát việc tuân thủ quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với CTRSH tại các cơ sở lưu trú,
khu di tích, khu du lịch …; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh công tác quản lý
CTRSH của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
8. Công an tỉnh
a) Tăng cường hoạt động đấu
tranh phòng, chống tội phạm về môi trường trong hoạt động vận chuyển và xử lý
chất thải rắn sinh hoạt; kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối
với các phương tiện vận chuyển CTRSH trên địa bàn tỉnh.
b) Phối hợp với các cơ quan,
đơn vị có liên quan trong việc phòng ngừa, đấu tranh và ngăn chặn việc nhập
khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý chất thải lạc hậu không đáp
ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
9. Đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội
a) Xây dựng kế hoạch giám sát
việc phân loại, tiếp nhận, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH của tổ chức, cá
nhân, không để CTRSH tồn đọng gây mất vệ sinh công cộng, ô nhiễm môi trường,
nhất là tại khu dân cư, nơi công cộng, khu du lịch, đường phố, đường làng, ngõ
xóm, kênh mương, ao hồ, sông ngòi, bờ biển.
b) Chỉ đạo các tổ chức thành
viên tham gia giám sát việc phân loại, tiếp nhận, thu gom, vận chuyển, xử lý
CTRSH của tổ chức, cá nhân theo kế hoạch đã được ban hành; phát hiện và kịp
thời báo cáo các trường hợp vi phạm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem
xét, xử lý nghiêm theo quy định.
c) Phối hợp với chính quyền các
cấp tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, hướng dẫn, vận động toàn thể
hội viên, đoàn viên và các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia công tác phân
loại, thu gom, xử lý CTRSH và vệ sinh môi trường.
d) Xây dựng và nhân rộng các mô
hình phân loại rác tại nguồn; phát triển các phong trào tự quản bảo vệ môi
trường gắn với xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới
kiểu mẫu, xây dựng khu dân cư văn minh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
của Nhân dân.
10. Ủy ban nhân dân các xã,
phường
a) Chịu trách nhiệm tổ chức
thực hiện nội dung Đề án tại địa phương theo đúng lộ trình; ban hành và tổ chức
thực hiện kế hoạch triển khai thực hiện Đề án.
b) Căn cứ tình hình thực tế địa
phương, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan định giá cụ thể đối với cơ
quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu
gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn quản lý trong trường hợp được UBND
tỉnh phân cấp thực hiện.
c) Chủ trì lựa chọn các đơn vị
thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH và vệ sinh công cộng trên
địa bàn quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, ngân sách nhà
nước, đấu thầu và các luật có liên quan. Chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra,
giám sát, đánh giá chất lượng vệ sinh, nghiệm thu khối lượng công việc thực
hiện của các cơ sở thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình,
cá nhân.
d) Trong quá trình lập, thẩm
định, phê duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn theo thẩm quyền phải thực hiện
lựa chọn, bố trí hạ tầng kỹ thuật đối với các điểm tập kết, khu xử lý CTRSH đảm
bảo khoảng cách an toàn và yêu cầu về bảovệ môi trường theo quy định; chủ trì
rà soát, bố trí, phê duyệt các điểm tập kết, trạm trung chuyển CTRSH đảm bảo
thuận tiện và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường theo quy định; xây
dựng kế hoạch xoá bỏ các điểm tập kết không đúng quy định, chấm dứt tình trạng
xả CTRSH bừa bãi, đốt CTRSH tại các điểm tập trung; cải tạo, bổ sung các điểm
tập kết CTRSH đảm bảo quy định;
e) Chủ trì xác định vị trí,
thời gian hoạt động, tuyến thu gom và quy mô tiếp nhận CTRSH phù hợp với địa
phương; hướng dẫn các hộ gia đình chuyển giao CTRSH cho cơ sở thu gom, vận
chuyển hoặc đến điểm tập kết đúng quy định; xem xét giải quyết kiến nghị của tổ
chức, cộng động dân cư, hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến phân loại, thu
gom, vận chuyển và xử lý CTRSH .
f) Đề xuất đầu tư các khu xử lý
chất thải trên địa bàn quản lý bằng công nghệ hiện đại, tiên tiến. Tổ chức rà
soát dừng hoạt động các bãi chôn lấp, lò đốt thủ công không phù hợp quy hoạch
gây ô nhiễm môi trường.
g) Chủ động thực hiện rà soát
để cải tạo, nâng cấp mở rộng các khu chôn lấp CTRSH hiện có trên địa bàn hoặc
đề xuất quy hoạch các khu xử lý rác mới trong trường hợp các nhà máy xử lý rác
tập trung chưa đi vào hoạt động.
h) Tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến thông tin nâng cao nhận thức của người dân về trách nhiệm chi
trả các dịch vụ thu gom, xử lý CTRSH ; về công tác phân loại CTRSH tại nguồn,
tăng cường tái chế, tái sử dụng; vận động, tạo sự đồng thuận của người dân
trong việc triển khai xây dựng các khu xử lý CTRSH trên địa bàn; phối hợp tốt
với các ngành, cơ quan liên quan trong đền bù, giải phóng mặt bằng triển khai
xây dựng các khu xử lý theo quy định.
i) Bố trí kinh phí đảm bảo cho
công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương.
k) Chỉ đạo Công an xã phối hợp với
phòng chuyên môn, lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện
và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về đổ trộm, xả CTRSH không đúng nơi quy
định, xả chất thải gây ô nhiễm môi trường ...; đẩy mạnh xử phạt hành vi vi phạm
qua hệ thống camera an ninh, camera giám sát tại các tuyến đường giao thông,
các khu vực tập trung
l) Đối với Ủy ban nhân dân các
xã, phường được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao dự án, nhiệm vụ ưu tiên theo
Đề án có trách nhiệm: Thực hiện công tác xử lý CTRSH trên địa bàn quản lý và
địa bàn được phân công phụ trách cho đến khi thực hiện mô hình thống nhất trên
địa bàn tỉnh hoặc theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; kịp thời, chủ động trong
công tác cải tạo, tăng khả năng chứa của các bãi chôn lấp rác tạm trên địa bàn
quản lý, đảm bảo không để ùn ứ CTRSH .
m) Sau khi có Nhà máy xử lý
CTRSH trọng điểm đi vào vận hành, UBND cấp xã xây dựng phương án cải tạo, nâng
cấp, đóng cửa, xử lý và phục hồi môi trường các bãi chôn lấp CTRSH đảm bảo yêu
cầu về bảo vệ môi trường
11. Đơn vị thực hiện việc
thu gom, vận chuyển CTRSH
a) Bố trí và sử dụng thiết bị,
phương tiện thu gom, vận chuyển được thiết kế phù hợp đối với từng loại CTRSH
đã được phân loại, đáp ứng các quy định và yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi
trường; thường xuyên kiểm tra, nâng cấp, sửa chữa.
b) Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc
các quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý
CTRSH theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có
liên quan. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc phải kịp thời
báo cáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã để được hướng dẫn, giải quyết; không tự ý
ngừng cung cấp dịch vụ.
c) Có trách nhiệm phối hợp với
Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện khu dân cư trong việc xác định thời gian, địa
điểm, tần suất và tuyến thu gom CTRSH và công bố rộng rãi cho các hộ dân trên
địa bàn biết và thực hiện.
d) Trang bị bảo hộ lao động,
tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động tham gia thực hiện
thu gom, vận chuyển CTRSH theo quy định.
e) Thực hiện vệ sinh, khử mùi,
phòng ngừa rò rỉ nước rỉ rác từ phương tiện, thiết bị và điểm tập kết trong quá
trình thu gom, vận chuyển; bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng
đến mỹ quan đô thị, khu dân cư.
g) Ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển (theo dõi lộ trình, khối lượng, tần
suất thu gom…); thực hiện chế độ thống kê, báo cáo định kỳ theo quy định.
12. Đơn vị thực hiện việc xử
lý CTRSH
a) Tuân thủ các quy định về bảo
vệ môi trường đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động,
thực hiện chương trình giám sát môi trường (nếu có); công khai một số thông tin
môi trường cơ bản để cộng đồng giám sát; có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố
môi trường theo quy định.
b) Thực hiện đóng bãi chôn lấp
CTRSH sau khi kết thúc hoạt động theo đúng quy định, thông báo cho Sở Nông
nghiệp và Môi trường về thời gian đóng bãi chôn lấp để giám sát; bàn giao mặt
bằng cho Sở Nông nghiệp và Môi trường sau khi hoàn thành đóng bãi chôn lấp chất
thải rắn sinh hoạt; đồng thời, thực hiện đầu tư tái sử dụng bãi chôn lấp theo
đúng quy định.
c) Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc
các quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý
CTRSH theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có
liên quan. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc phải kịp thời
báo cáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã để được hướng dẫn, giải quyết; không tự ý
ngừng cung cấp dịch vụ.
d) Tiếp nhận, phân loại, xử lý
CTRSH đúng quy trình, công nghệ đã được phê duyệt; bảo đảm phù hợp với đặc tính
của từng loại chất thải đã được phân loại tại nguồn.
e) Ưu tiên áp dụng các công
nghệ xử lý tiên tiến, thân thiện môi trường (tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng
lượng…); giảm thiểu tối đa lượng chất thải phải chôn lấp.
g) Quản lý chặt chẽ chất thải
thứ cấp phát sinh trong quá trình xử lý (tro xỉ, bùn thải, nước rỉ rác …); bảo
đảm được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
h) Thực hiện chế độ báo cáo
định kỳ, đột xuất về tình hình tiếp nhận, xử lý CTRSH ; kịp thời thông tin khi xảy
ra sự cố môi trường và phối hợp với cơ quan chức năng để xử lý./.
PHỤ LỤC 1
DANH
MỤC CÁC NHIỆM VỤ, DỰ ÁN ƯU TIÊN THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2026 – 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2026 của Ủy ban
nhân dân tỉnh)
|
STT
|
Nhiệm vụ
|
Thời gian thực hiện
|
Sản phẩm
|
Kinh phí thực hiện (tỷ đồng)
|
Đơn vị thực hiện/chủ trì thực hiện
|
Nguồn vốn thực hiện
|
|
|
|
I
|
Giải pháp tuyên truyền
nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu
gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH
|
|
|
|
1
|
Tuyên truyền nâng cao nhận
thức và trách nhiệm cộng đồng về quản lý CTRSH
|
Hàng năm
|
Các chương trình, mitting, hội thảo, lớp tập huấn, tài liệu hướng dẫn
về quản lý CTR
|
3,0
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc các cấp, tổ chức
chính trị - xã hội; UBND các xã, phường
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
2
|
Rà soát, đánh giá, biên soạn
và đưa vào nội dung giáo dục về môi trường, trong đó có nội dung về quản lý
CTRSH vào chương trình của các cấp học; thực hiện các chương trình đào tạo,
truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học
|
Hàng năm
|
Chương trình trình đào tạo, truyền thông
|
3,0
|
Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
II
|
Hoàn thiện chính sách, văn
bản triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường về quản lý CTRSH
|
|
|
|
1
|
Xây dựng, hoàn thiện và ban
hành quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thay thế Quyết định số 13/2022/QĐ- UBND ngày
02/3/2022 của UBND tỉnh
|
Trong năm 2026
|
Quyết định
|
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì
|
|
|
|
|
2
|
Xây dựng và bổ sung chính
sách hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt vào Nghị quyết quy định chính sách
phát triển nông nghiệp và môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn
2026 – 2030
|
Trong năm 2026
|
Quyết định/Nghị Quyết
|
|
|
|
|
|
3
|
Rà soát, điều chỉnh phương án
phát triển các khu xử lý chất thải rắn, phân vùng thu gom CTRSH cho các dự án
trong quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045
trình cấp có thẩm quyền quyết định
|
Trong năm 2026
|
Tích hợp nội dung trong quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2045
|
|
|
|
|
|
4
|
Ban hành giá tối đa áp dụng
đối với chủ đầu tư, cơ sở cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn sinh hoạt và dịch vụ vệ sinh công cộng (trừ trường hợp thực hiện
theo quy định của pháp luật về đấu thầu)
|
2026 - 2027
|
Quyết định
|
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì
|
|
|
|
|
5
|
Định giá cụ thể đối với cơ
quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
|
Sau khi được UBND tỉnh phân cấp
|
Quyết định
|
|
UBND các phường, xã chủ trì
|
|
|
|
|
6
|
Ban hành Quyết định sửa đổi,
thay thế Quyết định số 51/2022/QĐ-UBND ngày 19/10/2022 của UBND tỉnh ban hành
quy định tuyến đường và thời gian vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, chất
thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn nguy hại trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
|
Tháng 6/2026
|
Quyết định
|
|
Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các xã phường
|
|
|
|
|
III
|
Hoàn thiện hạ tầng, mạng
lưới thu gom, vận chuyển CTRSH ; phân vùng xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
|
|
|
|
1
|
Hỗ trợ cho các xã, phường cải
tạo các điểm tập kết CTRSH tạm thời trước khi vận chuyển về nơi xử lý.
|
Hàng năm
|
Công trình các điểm tập kết CTRSH tạm thời được cải tạo, nâng cấp
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất
|
- Sở Tài chính cân đối, bố
trí từ nguồn vốn sự nghiệp môi trường
- UBND các xã phường rà soát
thực tế và đề xuất
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
2
|
Điều tra, thống kê số lượng
và quy mô nguồn thải, tuyến đường thu gom; xác định vị trí, thời gian hoạt
động, tuyến thu gom và quy mô tiếp nhận CTRSH phù hợp với địa phương
|
Năm 2026 - 2030
|
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất
|
- UBND các xã, phường chủ trì
- Sở Xây dựng hướng dẫn thực
hiện
- Các sở, ban, ngành, phối hợp
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
3
|
Bố trí, phê duyệt các điểm
tập kết, trạm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt đảm bảo thuận tiện và đáp
ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường theo quy định; xây dựng kế hoạch
xoá bỏ các điểm tập kết không đúng quy định, chấm dứt tình trạng xả CTRSH bừa
bãi, đốt CTRSH tại các điểm tập trung;
|
Năm 2026 - 2027
|
Kế hoạch/Quyết định của UBND cấp xã
|
|
- UBND các xã, phường chủ trì
- Các sở, ban, ngành, phối hợp
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
4
|
Bổ sung hoặc chuyển đổi phù
hợp các khu xử lý đã đóng cửa thành trạm trung chuyển chất thải rắn sinh
hoạt: 01 Trạm trung chuyển tại xã Nông Cống trước khi vận chuyển về khu xử lý
CTRSH Nghi Sơn; 01 trạm trung chuyển tại xã Ngọc Lặc và 01 trạm trung chuyển tại
xã Lương Sơn trước khi vận chuyển về khu xử lý CTRSH xã Sao Vàng.
|
Năm 2026 - 2030
|
Công trình các trạm trung truyển được đầu tư, xây dựng
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất tùy quy mô thực hiện của từng địa
phương
|
- UBND các xã: Nông Cống,
Ngọc Lặc và Sao Vàng
- Sở Xây dựng hướng dẫn thực
hiện
- Các sở, ban, ngành, phối hợp
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
IV
|
Quy hoạch hạ tầng xử lý
chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với thực tiễn, định hướng phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Tổ chức rà soát đánh giá các
lò đốt để có hướng cải tạo các lò đốt có thể hoạt động
|
Trong năm 2026 - 2027
|
Chương trình/Kế hoạch
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất
|
UBND các xã, phường
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
2
|
Cải tạo, áp dụng các biện
pháp kỹ thuật để tăng sức chứa bãi rác tại phường như: Bỉm Sơn; Sầm Sơn; các
bãi rác tập trung cấp huyện (trước đây) như: Nông Cống, Lang Chánh, Quan Sơn…
|
Trong năm 2026
|
Công trình, dự án
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất
|
UBND các xã, phường
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
3
|
Trường hợp khi các nhà máy xử
lý CTRSH lớn chưa đi vào hoạt động hoặc không đảm bảo đầu tư theo đúng cam
kết, cần đầu tư bổ sung mở rộng các bãi chôn lấp đảm bảo tổng khả năng tiếp
nhận khoảng 2 triệu tấn rác và kêu gọi nhà đầu tư các dự án xử lý CTRSH có
quy mô công suất từ 300 tấn/ngày trở lên
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3.1
|
Đầu tư mở rộng bãi chôn lấp
CTRSH tại xã Sao vàng, Hà Trung để đảm bảo phương án dự phòng xử lý khi các
khu xử lý rác trên địa bàn tỉnh bị quá tải/tạm dừng hoạt động
|
|
Công trình, dự án
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất tùy quy mô thực hiện của từng địa
phương
|
UBND các xã, phường
|
|
|
|
|
Giai đoạn 1: Mở rộng diện
tích chôn lấp khoảng 06 ha
|
Năm 2026
|
|
|
|
Giai đoạn 1: Mở rộng diện
tích chôn lấp lên 15 ha
|
Năm 2027 - 2028
|
|
|
|
3.2
|
Đầu tư bổ sung, mở rộng Bãi
chôn lấp CTRSH tại các xã: Lương Sơn, Đồng Lương, Yên Thọ, Cẩm Thuỷ, Như
Xuân, Bá Thước, Hồi Xuân, Mường Lát, Na Mèo …
|
Trong năm 2027 - 2029
|
Công trình, dự án
|
UBND các xã, phường
|
|
|
|
|
3.3
|
Kêu gọi nhà đầu tư vào các khu
xử lý rác công suất xử lý từ 300 tấn/ngày trở lên
|
|
Công trình, dự án
|
UBND các xã, phường
|
|
|
|
|
Dự án xử lý rác tại phường
Nam Sầm Sơn; xã Hà Trung (công nghệ đốt phát điện), xã Nông Cống (công
nghệ đốt).
|
Năm 2026
|
|
|
|
Dự án xử lý rác tại xã Vĩnh
Lộc, xã Yên Thọ, xã Triệu Lộc
|
Trong giai đoạn 2027- 2030 và các năm tiếp theo
|
|
|
|
4
|
Hoàn thành và đưa vào hoạt
động ổn định các dự án Nhà máy đốt rác Nam Sầm Sơn trước tháng 8/2026, Nhà
máy điện rác Bỉm Sơn tháng 12/2026
|
Trong năm 2026
|
|
-
|
- Sở Nông nghiệp và Môi
trường chủ trì theo dõi, giám sát việc thực hiện các dự án
- UBND phường Nam Sầm Sơn,
Bỉm Sơn phối hợp
|
Các dự án đã được đầu tư
|
|
|
|
5
|
Hoàn thành và đưa vào hoạt
động ổn định nhà máy điện rác Nghi sơn
|
Trong năm 2028
|
|
-
|
|
Kinh phí do doanh nghiệp đầu tư
|
|
|
|
6
|
Hoàn thành và đưa vào hoạt
động ổn định Khu xử lý chất thải tập trung cấp vùng tại xã Sao Vàng
|
Trong năm 2029
|
Công trình
|
-
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư và
theo dõi, giám sát việc thực hiện các dự án
|
|
|
|
|
7
|
Rà soát chuyển đổi công nghệ
xử lý chất thải tại các KXL theo hướng xử lý chất thải có kết hợp với thu hồi
năng lượng. Xem xét chuyển đổi công nghệ của Nhà máy xử lý CTRSH tại phường
Đông Quang từ công nghệ hỗn hợp thành sang công nghệ đốt CTRSH có thu hồi
năng lượng để phát điện có công suất trên 500 tấn/ngày
|
Năm 2026 - 2030
|
Công nghệ/dự án
|
-
|
Sở Khoa học và Công nghệ, các chủ dự án khu xử lý
|
|
|
|
|
V
|
Khắc phục, xử lý, cải tạo,
phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH , khu xử lý đã quá tải, dừng
hoạt động
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Xử lý tài sản công đối với
các lò đốt CTRSH cũ, quy mô nhỏ đã dừng hoạt động tại các các xã: Triệu Lộc,
Hoa Lộc, Hoằng Lộc, Định Tân, Yên Trường, Định Hòa, Thường Xuân, Thọ Xuân,
Xuân Bình, Quảng Bình, Tân Dân ...
|
Trong năm 2027 - 2028
|
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất tùy quy mô thực hiện của từng địa
phương
|
UBND các xã: Triệu Lộc, Hoa Lộc, Hoằng Lộc, Định Tân, Yên Trường,
Thường Xuân, Thọ Xuân, Xuân Bình, Quảng Bình, Tân Dân
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
2
|
Thực hiện xử lý triệt để ô
nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH đã dừng hoạt động gồm: bãi rác
Cồn Quán phường Hạc Thành, bãi chôn lấp CTRSH xã Đông Quang, Bãi rác núi Voi
Bỉm Sơn, bãi CTRSH phường Trung Sơn cũ (phường Sầm Sơn), bãi rác Đồi Mốc và
các bãi chôn lấp CTRSH nhỏ lẻ tại các xã.
|
Từ năm 2027 trở đi
|
Công trình, dự án
|
|
UBND xã, phường chủ trì chỉ đạo Chủ dự án khu xử lý thực hiện; Sở Nông
nghiệp và Môi trường hướng dẫn
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
VI
|
Giảm thiểu phát sinh và
đẩy mạnh tái chế CTRSH ; ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xử lý CTRSH
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Xây dựng, vận hành, kết nối,
chia sẻ cơ sở dữ liệu về quản lý chất thải trên địa bàn; đẩy mạnh ứng dụng hệ
thống quản lý CTRSH thông minh dựa trên dữ liệu số để theo dõi, đánh giá và
cải thiện hiệu quả hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý
CTRSH
|
Năm 2027
|
Cơ sở dữ liệu
|
3,0
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
2
|
Xây dựng và nhân rộng các mô
hình phân loại rác tại nguồn; phát triển các phong trào tự quản bảo vệ môi
trường
|
Hàng năm
|
Mô hình/chương trình
|
1,0
|
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội
|
Từ nguồn ngân sách cấp xã, ngân sách tỉnh hỗ trợ và các nguồn huy động
hợp pháp khác
|
|
|
|
VII
|
Tăng cường giám sát, thanh
tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Lắp đặt, khai thác hệ thống
camera giám sát, đặc biệt tại các tuyến đường giao thông, điểm thu gom CTRSH
, khu vực nhạy cảm về môi trường
|
Từ năm 2027 - 2030
|
Hệ thống thông tin camera
|
Kinh phí do UBND xã, phường đề xuất tùy quy mô thực hiện của từng địa
phương
|
UBND các xã, phường
|
|
|
|
PHỤ LỤC 2
DỰ
KIẾN PHÂN VÙNG THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CHO CÁC NHÀ MÁY XỬ LÝ
CTRSH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN NĂM 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2284/QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2026 của
Ủy ban nhân dân tỉnh)
|
STT
|
Khu vực các huyện, thị xã, thành phố trước đây
|
Phân vùng về các nhà máy/khu xử lý CTRSH
|
Cự ly vận chuyển trung bình (km)
|
|
1
|
Khu vực thành phố Thanh Hóa
trước đây (gồm 05 phường hiện nay: Hạc Thành, Đông Tiến, Đông Sơn, Hàm Rồng,
Đông Quang)
|
Nhà máy xử lý rác Đông Nam tại
phường Đông Quang: Công suất 500 tấn/ngày (đang chuyển đổi sang loại hình đốt
phát điện)
|
15
|
|
2
|
Khu vực thành phố Thanh Hóa
trước đây (phường Nguyệt Viên hiện nay)
|
Nhà máy đốt rác phát điện
phường Bỉm Sơn: Công suất đốt 1.000 tấn/ngày; tổng công suất phát điện 18 MW
|
32
|
|
Khu vực thị xã Bỉm Sơn trước
đây (gồm 02 phường hiện nay: Bỉm Sơn, Quang Trung)
|
05
|
|
Khu vực huyện Hà Trung trước
đây (gồm 05 xã hiện nay: Hà Long, Hà Trung, Tống Sơn, Hoạt Giang, Lĩnh Toại)
|
10
|
|
Khu vực huyện Hậu Lộc trước
đây (gồm 05 xã hiện nay: Triệu Lộc, Đông Thành, Hậu Lộc, Hoa Lộc, Vạn Lộc)
|
26
|
|
Khu vực huyện Nga Sơn trước
đây (gồm 06 xã hiện nay: Nga Sơn, Nga Thắng, Hồ Vương, Tân Tiến, Nga An, Ba
Đình)
|
15
|
|
Khu vực huyện Hoằng Hóa trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Hoằng Hoá, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh, Hoằng Lộc, Hoằng
Châu, Hoằng Sơn, Hoằng Phú, Hoằng Giang)
|
34
|
|
Khu vực huyện Thạch Thành
trước đây (gồm 06 xã hiện nay: Thạch Quảng, Thạch Bình, Thành Vinh, Vân Du,
Ngọc Trạo, Kim Tân)
|
35
|
|
3
|
Khu vực huyện Nông Cống trước
đây (gồm 07 xã hiện nay: Nông Cống, Thắng Lợi, Trung Chính, Trường Văn, Thăng
Bình, Tượng Lĩnh, Công Chính)
|
Khu xử lý chất thải rắn sinh
hoạt Nghi Sơn: Công suất xử lý 620 tấn/ngày
|
37
|
|
Khu vực huyện Như Thanh trước
đây (gồm 06 xã hiện nay: Xuân Thái, Xuân Du, Mậu Lâm, Như Thanh, Yên Thọ,
Thanh Kỳ)
|
55
|
|
Khu vực thị xã Nghi Sơn trước
đây (gồm 10 xã, phường hiện nay: Ngọc Sơn, Tân Dân, Hải Lĩnh, Tĩnh Gia, Đào
Duy tư, Hải Bình, Trúc Lâm, Nghi Sơn, Các Sơn, Trường Lâm)
|
16
|
|
Khu vực huyện Quảng Xương
trước đây (gồm 07 xã hiện nay: Lưu Vệ, Quảng Yên, Quảng Ngoc, Quảng Bình,
Tiên Trang, Quảng Chính)
|
50
|
|
4
|
Khu vực thành phố Sầm Sơn
trước đây (gồm 02 phường hiện nay: Sầm Sơn, Nam Sầm Sơn)
|
Nhà máy xử lý rác hỗn hợp tại
phường Nam Sầm Sơn: Công suất 300 tấn/ngày.
|
9
|
|
Khu vực thành phố Thanh Hoá
trước đây (phường Quảng Phú hiện nay)
|
5
|
|
5
|
Khu vực huyện Vĩnh Lộc trước
đây (gồm 03 xã hiện nay: Vĩnh Lộc, Tây Đô, Biện Thượng)
|
Nhà máy đốt CTRSH tại xã Vĩnh
Lộc: Công suất 100 tấn/ngày
|
6
|
|
6
|
Khu vực huyện Như Xuân trước
đây (gồm 06 xã hiện nay: Như Xuân, Thượng Ninh, Hoá Quỳ, Thanh Quân, Xuân
Bình, Thanh Phong)
|
Nhà máy đốt rác phát điện tại
xã Sao Vàng: Công suất đốt 1.000 tấn/ngày, phát điện 12 MW
|
42
|
|
Khu vực huyện Thiệu Hóa trước
đây (gồm 05 xã hiện nay: Thiệu Hoá, Thiệu Quang, Thiệu Tiến, Thiệu Toán,
Thiệu Trung)
|
27
|
|
Khu vực huyện Yên Định trước
đây (gồm 07 xã hiện nay: Quý Lộc, Yên Định, Yên Trường, Yên Phú, Yên Ninh,
Định Tân, Định Hoà)
|
26
|
|
Khu vực huyện Thọ Xuân trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Thọ Xuân, Thọ Long, Xuân Hoà, Sao Vàng, Lam Sơn, Thọ
Lập, Xuân Tín, Xuân Lập)
|
8
|
|
Khu vực huyện Thường Xuân
trước đây (gồm 09 xã hiện nay: Bát Mọt, Vạn Xuân, Yên Nhân, Lương Sơn, Thường
Xuân, Luận Thành, Tân Thành, Thắng Lộc, Xuân Chinh)
|
18
|
|
Khu vực huyện Triệu Sơn trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Thọ Bình, Triệu Sơn, Thọ Ngọc, Thọ Phú, Hợp Tiến, An
Nông, Tân Ninh, Đồng Tiến)
|
18
|
|
Khu vực huyện Ngọc Lặc trước
đây (gồm 06 xã hiện nay: Ngọc Lặc, Thạch Lập, Ngọc Liên, Minh Sơn, Nguyệt Ấn,
Kiên Thọ)
|
35
|
|
Khu vực huyện Cẩm Thủy trước
đây (gồm 05 xã hiện nay: Cẩm Thuỷ, Cẩm Thạch, Cẩm Tú, Cẩm Vân, Cẩm Tân)
|
56
|
|
Khu vực huyện Lang Chánh
trước đây (gồm 06 xã hiện nay: Linh Sơn, Đồng Lương, Giao An, Văn Phú, Yên
Thắng, Yên Khương)
|
53
|
|
7
|
Khu vực huyện Bá Thước trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Bá Thước, Thiết Ống, Văn Nho, Điền Quang, Điền Lư,
Quý Lương, Cổ Lũng, Pù Luông)
|
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò
đốt của xã, liên xã
|
15
|
|
8
|
Khu vực huyện Quan Hóa trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Phú Xuân, Trung Sơn, Hồi Xuân, Nam Xuân, Thiên Phủ,
Hiền Kiệt, Phú Lệ, Trung Thành)
|
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò
đốt của xã, liên xã
|
15
|
|
9
|
Khu vực huyện Quan Sơn trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thuỷ, Na Mèo,
Trung Hạ, Quan Sơn, Tam Lư)
|
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò
đốt của xã, liên xã
|
15
|
|
10
|
Khu vực huyện Mường Lát trước
đây (gồm 08 xã hiện nay: Quang Chiểu, Mường Lát, Pù nhi, Nhi Sơn, Mường Lý,
Trung Lý, Mường Chanh, Tam Chung)
|
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò
đốt của xã, liên xã
|
15
|