|
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 59/VBHN-NHNN
|
Hà Nội, ngày 22 tháng
5 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ CẤP, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ MÃ TỔ
CHỨC PHÁT HÀNH THẺ NGÂN HÀNG
Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân
hàng, có hiệu lực kể từ ngày 29 tháng 11 năm 2007, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Thông tư số
23/2011/TT-NHNN ngày 31 tháng 8 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam về việc thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt
động thanh toán và các lĩnh vực khác theo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản
hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 14 tháng 10 năm 2011.
2. Thông tư số
26/2019/TT-NHNN ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức
phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30
tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 3 năm 2020.
3. Thông tư số
12/2026/TT-NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cấp, sử dụng và quản
lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng, có hiệu lực kể từ ngày 04 tháng 7 năm
2026.
THỐNG ĐỐC
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức
tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín
dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số
64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua Tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán;
Căn cứ Nghị định số
52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Trưởng
Ban Thanh toán [1],[2],[3].
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này “Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát
hành thẻ ngân hàng”.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo.
Điều 3. [4],[5],[6],[7] Thủ
trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định này./.
QUY
CHẾ
CẤP, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ MÃ TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
THẺ NGÂN HÀNG
(ban
hành kèm theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước)
Chương
I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
1. Quy chế này điều
chỉnh các hoạt động cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng
(sau đây gọi tắt là mã BIN) của các tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam.
2. Việc cấp, sử dụng và
quản lý mã BIN của tổ chức thẻ quốc tế đối với tổ chức phát hành thẻ tại Việt
Nam có nghiệp vụ phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế không
thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng đối
với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp, sử dụng và quản lý mã BIN.
Điều
3. Sử dụng mã BIN
Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam quản lý cấp mã BIN theo Quy chế này cho các loại thẻ sau:
1. Thẻ do tổ chức phát
hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Thẻ do tổ chức phát
hành thẻ tại Việt Nam phát hành (ngoại trừ thẻ mang thương hiệu của tổ chức thẻ
quốc tế) để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Chương
II
NHỮNG
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 4. Đối tượng được
cấp mã BIN[8]
Đối tượng được cấp mã
BIN là các tổ chức được phát hành thẻ theo quy định của pháp luật về hoạt động
thẻ ngân hàng.
Điều 5. Kết cấu mã BIN
1. Mã BIN là một dãy số
có 6 chữ số theo chuẩn ISO/IEC 7812-1:2006(E) của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế và
Tổ chức Kỹ thuật điện Quốc tế ban hành năm 2006, có định dạng 9704xx, trong đó:
a) 04 chữ số đầu tiên
của mã BIN phản ánh mã quốc gia của tổ chức phát hành thẻ thực hiện nghiệp vụ
phát hành thẻ tại Việt Nam.
b) 02 chữ số cuối cùng
bắt đầu từ số 00 cho đến số 99 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cho từng
tổ chức phát hành thẻ.
2. Trường hợp kho số
(100 số) theo chuẩn ISO/IEC 7812-1: 2006(E) quy định tại Khoản 1 Điều này, được
cấp hết cho các tổ chức phát hành thẻ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ quy định
kết cấu mã BIN mới phù hợp với điều kiện cấp, sử dụng và quản lý mã BIN tại
thời điểm đó.
Điều 6. Thủ tục cấp mã
BIN[9]
1. Khi có nhu cầu cấp
mã BIN, tổ chức phát hành thẻ có Đơn đề nghị (theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quy
chế này) gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) theo một trong các
hình thức sau:
a) Trực tiếp tại Bộ
phận Một cửa của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
b) Qua dịch vụ bưu
chính;
c) Trực tuyến trên Cổng
Dịch vụ công quốc gia.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn đề nghị cấp mã BIN hợp lệ, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) thông báo kết quả cấp mã BIN cho tổ chức phát
hành thẻ. Trường hợp từ chối cấp mã BIN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh
toán) trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (Vụ Thanh toán) trả kết quả cấp hoặc không cấp mã BIN cho tổ chức phát hành
thẻ bằng bản điện tử qua hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trường hợp tổ chức phát hành thẻ có đề nghị, kết quả được gửi bằng bản giấy qua
dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
3. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam cấp 01 mã BIN duy nhất cho mỗi tổ chức phát hành thẻ thuộc đối tượng
được cấp mã BIN.
Điều 7. Quản lý mã BIN[10]
1. Tổ chức phát hành
thẻ được phép sử dụng các chữ số sau mã BIN đã được cấp để phân biệt loại sản
phẩm, dịch vụ, công nghệ thẻ hoặc vị trí địa lý. Tổ chức phát hành thẻ phải ban
hành quy định nội bộ về việc quản lý, sử dụng mã BIN bao gồm mã BIN do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cấp và mã do tổ chức phát hành thẻ thiết lập.
2. Trong thời hạn 180
ngày kể từ ngày được cấp mã BIN, tổ chức phát hành thẻ phải có trách nhiệm đưa
mã BIN vào sử dụng. Trường hợp tổ chức phát hành thẻ không sử dụng mã BIN theo
thời hạn quy định thì phải có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh
toán) đề nghị gia hạn. Thời hạn gia hạn tối đa là 90 ngày kể từ ngày Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam có văn bản chấp nhận gia hạn theo đơn đề nghị gia hạn của tổ
chức phát hành thẻ.
3. Tổ chức phát hành
thẻ phải sử dụng mã BIN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp theo đúng mục đích
tại đơn đề nghị cấp mã BIN và không được phép chuyển nhượng mã BIN dưới bất kỳ
hình thức nào. Trường hợp thay đổi tên của tổ chức phát hành thẻ, trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thay đổi tên, tổ chức phát hành thẻ phải thông
báo bằng văn bản đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) về sự thay đổi
tên của tổ chức mình.
4. Trường hợp tổ chức
phát hành thẻ (đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp mã BIN) thực hiện sáp
nhập, hợp nhất, tổ chức phát hành thẻ được hình thành sau sáp nhập, hợp nhất
được lựa chọn 01 mã BIN trong số các mã BIN đang sử dụng của các tổ chức phát
hành thẻ tham gia sáp nhập, hợp nhất. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày sáp
nhập, hợp nhất, tổ chức phát hành thẻ được hình thành sau sáp nhập, hợp nhất có
trách nhiệm chuyển đổi các thẻ của các tổ chức phát hành thẻ có mã BIN không
được lựa chọn sang mã BIN được lựa chọn. Hết thời hạn này, tổ chức phát hành
thẻ có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ
Thanh toán) về việc chấm dứt sử dụng mã BIN không được lựa chọn.
5. Trường hợp tổ chức
phát hành thẻ chuyển đổi hình thức pháp lý theo quy định về việc tổ chức lại tổ
chức tín dụng, tổ chức phát hành thẻ được tiếp tục sử dụng mã BIN hiện hành do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cấp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
chuyển đổi xong về hình thức pháp lý, tổ chức phát hành thẻ phải thông báo bằng
văn bản đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) về việc sử dụng mã BIN
đã được cấp tại tổ chức mình; đồng thời chịu toàn bộ trách nhiệm hoặc rủi ro
phát sinh về mã BIN trong quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý và cam kết
tuân thủ đầy đủ các quy định tại Quy chế này và các quy định của pháp luật liên
quan đến hoạt động thẻ ngân hàng.
6. Trường hợp tổ chức
phát hành thẻ (đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp mã BIN) là chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được phép thay đổi mô hình hoạt động thành ngân hàng 100%
vốn nước ngoài, sau khi được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, ngân hàng
100% vốn nước ngoài được sử dụng lại mã BIN của chi nhánh ngân hàng nước ngoài
mà không cần phải thực hiện thủ tục cấp mã BIN theo quy định tại Điều
6 Quy chế này. Trong quá trình chuyển giao, nhận chuyển giao mã BIN:
a) Tối thiểu 05 ngày
làm việc trước ngày thực hiện việc chuyển giao mã BIN cho ngân hàng 100% vốn
nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thông báo bằng văn bản đến Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) về việc chuyển giao này. Trong thời gian
đã chuyển giao mã BIN cho ngân hàng 100% vốn nước ngoài mà chi nhánh ngân hàng
nước ngoài chưa hoàn thành các thủ tục chấm dứt hoạt động thì chi nhánh ngân
hàng nước ngoài phải dừng ngay việc phát hành thẻ có mã BIN đã cấp;
b) Ngay sau khi nhận
chuyển giao mã BIN, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thực hiện nghiệp vụ phát
hành thẻ và cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ có mã BIN đã được chuyển
giao. Tối thiểu 05 ngày làm việc sau ngày nhận chuyển giao mã BIN, ngân hàng
100% vốn nước ngoài có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (Vụ Thanh toán) về việc sử dụng mã BIN đã nhận chuyển giao; đồng
thời cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định tại Quy chế này và các quy định của
pháp luật liên quan đến hoạt động thẻ ngân hàng.
Điều 8. Thu hồi mã BIN[11]
1. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam thu hồi mã BIN đã cấp cho tổ chức phát hành thẻ khi xảy ra một trong
những trường hợp sau đây:
a) Khi phát hiện thông
tin, chứng cứ trong hồ sơ xin cấp mã BIN không chính xác hoặc sai lệch;
b) Tổ chức phát hành
thẻ bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động;
c) Sau thời hạn quy
định tại khoản 2 Điều 7 mà tổ chức phát hành thẻ không đưa
mã BIN vào sử dụng;
d) Sau thời hạn quy
định tại khoản 4 Điều 7 mà tổ chức phát hành thẻ không có
văn bản thông báo đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc chấm dứt sử dụng mã
BIN không được lựa chọn trừ trường hợp quy định tại khoản 5, khoản
6 Điều 7 Quy chế này;
đ) Sử dụng mã BIN sai mục
đích đã nêu tại đơn đề nghị cấp mã BIN.
2. Văn bản thu hồi mã
BIN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được gửi đến tổ chức phát hành thẻ, trừ quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 9.[12] (được
bãi bỏ)
Chương
III
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều
10. Trách nhiệm của các đơn vị tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[13]
1. Vụ Thanh toán
a) Thực hiện cấp, quản
lý và thu hồi mã BIN; tiếp nhận thông báo của tổ chức phát hành thẻ về việc sử
dụng mã BIN; giám sát sử dụng mã BIN theo quy định tại Quy chế này;
b) Đầu mối phối hợp với
các đơn vị liên quan tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý
các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện;
c) Thực hiện kiểm tra
sử dụng mã BIN theo quy định tại Quy chế này;
d) Định kỳ hàng năm
(trước ngày 15 tháng 1 của năm kế tiếp) cập nhật danh mục mã BIN do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam cấp trên Trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
2. Thanh tra Ngân hàng
Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực
Thực hiện thanh tra, xử
lý vi phạm theo thẩm quyền đối với các tổ chức phát hành thẻ trong việc thực
hiện các quy định tại Quy chế này và thông báo kết quả cho Vụ Thanh toán.
Điều
11. Trách
nhiệm Thủ trưởng đơn vị tổ chức phát hành thẻ
Tổng Giám đốc (Giám
đốc) tổ chức phát hành thẻ chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát, kiểm tra việc
sử dụng mã BIN tại đơn vị mình theo đúng Quy chế này.
Mẫu số 01[14]
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________
…..,
ngày .... tháng …. năm…..
ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP MÃ TỔ CHỨC PHÁT HÀNH THẺ
Kính
gửi: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Thanh toán)
- Căn cứ Giấy phép
thành lập và hoạt động tổ chức tín dụng/ Giấy phép hoạt động ngân hàng số ….. ngày
….. tháng…..năm ….;
- Căn cứ Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng
(được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư……ngày….tháng….năm….của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam).
Đề nghị Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam xét cấp mã tổ chức phát hành thẻ (mã BIN) cho tổ chức phát hành
thẻ:
1. Tên tổ chức phát
hành thẻ:
2. Địa điểm đặt Trụ sở
chính:
3. Thời gian dự kiến
đưa mã BIN vào sử dụng:
4. Tóm tắt mục đích sử
dụng mã BIN gắn với sản phẩm thẻ cụ thể:
Sau khi được cấp mã
BIN, chúng tôi cam kết đưa mã BIN vào sử dụng trong thời hạn quy định, đúng mục
đích sử dụng và chấp hành nghiêm chỉnh Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ
chức phát hành thẻ ngân hàng và xin chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ
sơ gửi kèm đơn này.
|
|
Người đại diện theo
pháp luật của
Tổ chức phát hành thẻ
(ký
ghi rõ họ tên, chức vụ và đóng dấu)
|
|
Nơi nhận:
-
Ban lãnh
đạo NHNN;
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cổng thông tin điện tử NHNN;
- Lưu VP, PC3.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP
NHẤT
KT. THỐNG ĐỐC
PHÓ THỐNG ĐỐC
Đoàn Thái Sơn
|
[1] Thông tư
số 23/2011/TT-NHNN ngày 31 tháng 8 năm 2011 về việc thực thi phương án đơn giản
hóa thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt động thanh toán và các lĩnh vực khác theo
Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức
năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật
Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Nghị
định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị
quyết số 60/NQ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa
thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là
Ngân hàng Nhà nước) sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định
tại các văn bản do Ngân hàng Nhà nước ban hành để thực thi phương án đơn giản
hóa thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt động thanh toán và các lĩnh vực khác như
sau:”
[2] Thông tư
số 26/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cấp, sử dụng và
quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật
Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017;
Căn cứ Nghị
định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về thanh toán
không dùng tiền mặt; Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22
tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt;
Căn cứ Nghị
định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề
nghị của Vụ trưởng Vụ Thanh toán;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ
chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN
ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”
[3] Thông tư
số 12/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12;
Căn cứ Luật
Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
96/2025/QH15;
Căn cứ Nghị
định số 52/2024/NĐ-CP của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt;
Căn cứ Nghị
định số 26/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề
nghị của Vụ trưởng Vụ Thanh toán;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cấp, sử dụng và
quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng.”
[4] Điều 8 và
Điều 9 của Thông tư số 23/2011/TT-NHNN ngày 31 tháng 8 năm 2011 về việc thực
thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt động thanh toán và
các lĩnh vực khác theo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành
chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu
lực kể từ ngày 14 tháng 10 năm 2011 quy định như sau:
“Điều
8. Điều khoản thi hành
Thông tư
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14 tháng 10 năm 2011.
Điều 9. Tổ
chức thực hiện
Chánh Văn phòng, Thủ trưởng các đơn vị có liên
quan thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Chủ tịch Hội đồng quản trị (Hội
đồng thành viên), Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng và các tổ chức,
cá nhân khác có liên quan có trách nhiệm thi hành Thông tư này./.”
[5] Điều 3 và
Điều 4 của Thông tư số 26/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế
cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020 quy định như sau:
“Điều 3.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Chánh Văn
phòng, Vụ Trưởng Vụ Thanh toán, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám
đốc (Giám đốc) tổ chức phát hành thẻ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông
tư này.
Điều 4.
Điều khoản thi hành
1. Thông tư
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020.
2. Thông tư này bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 23/2011/TT-NHNN
ngày 31/8/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc thực thi
phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt động thanh toán và các
lĩnh vực khác theo Nghị Quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính
thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước./.”
[6] Điều 4 và
Điều 5 của Thông tư số 12/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết
định số 38/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban
hành Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng, có
hiệu lực kể từ ngày 04 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 4.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.
Điều 5.
Điều khoản thi hành
1. Thông tư
này có hiệu lực từ ngày 04 tháng 7 năm 2026.
2. Thông tư này bãi bỏ khoản 2, khoản 5 Điều 1
Thông tư số 26/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cấp, sử
dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30/10/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam./.”
[7] Điều này được sửa đổi theo quy định tại Điều 1
của Thông tư số 12/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng, có hiệu lực kể
từ ngày 04/7/2026.
[8] Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản
1 Điều 1 của Thông tư số 26/2019/TT- NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020,
[9] Điều này được sửa đổi theo quy định tại Điều 2
của của Thông tư số 12/2026/TT- NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết
định số 38/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban
hành Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng, có
hiệu lực kể từ ngày 04/7/2026.
[10] Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản
3 Điều 1 của Thông tư số 26/2019/TT- NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020.
[11] Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản
4 Điều 1 của Thông tư số 26/2019/TT- NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020.
[12] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1
Điều 2 của Thông tư số 26/2019/TT- NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020.
[13] Điều này được sửa đổi theo quy định tại Điều 3
của Thông tư số 12/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
38/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng, có hiệu lực kể
từ ngày 04/7/2026.
[14] Mẫu này được thay thế theo quy định tại Khoản
2 Điều 2 của Thông tư số 26/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cấp, sử dụng và quản lý mã tổ chức phát hành thẻ ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 38/2007/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2020.