|
BỘ TƯ PHÁP
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 5798/VBHN-BTP
|
Hà Nội, ngày 18
tháng 9 năm 2025
|
THÔNG TƯ
HƯỚNG
DẪN MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý
và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng
10 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25 tháng 5 năm
2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi
tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động
trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản
lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm
2021;
2. Thông tư số 09/2022/TT-BTP ngày 30 tháng 12 năm
2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp bãi bỏ một số nội dung tại các Thông tư trong
lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023;
3. Thông tư số 10/2023/TT-BTP ngày 29 tháng 12 năm
2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi
tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động
trợ giúp pháp lý và Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản
lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm
2024.
4. Thông tư số 08/2025/TT-BTP ngày 12 tháng 6 năm
2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền
địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
5. Thông tư số 11/2025/TT-BTP ngày 25 tháng 6 năm
2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các
thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 20 tháng 6 năm
2017;
Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng
8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp
lý;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn
một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ
giúp pháp lý[1].
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này hướng dẫn về một số hoạt động nghiệp vụ
trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 2. Địa điểm tiếp người có
yêu cầu trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm
bố trí địa điểm thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận và trình bày
yêu cầu trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý cần
được giữ bí mật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí địa điểm phù hợp.
2. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm
phân công cán bộ tiếp người được trợ giúp pháp lý trong giờ làm việc.
Điều 3. Các nội dung cần niêm yết
công khai tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây viết
tắt là Trung tâm) có trách nhiệm niêm yết công khai tại trụ sở làm việc các nội
dung sau đây:
a) Lịch tiếp người được trợ giúp pháp lý;
b) Nội quy tiếp người được trợ giúp pháp lý;
c) Người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
d) Danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý của
Trung tâm;
đ) Nội dung khác (nếu cần thiết).
2. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý
có trách nhiệm niêm yết công khai tại trụ sở làm việc các nội dung quy định tại
khoản 1 Điều này phù hợp với hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý có
trách nhiệm niêm yết công khai tại trụ sở làm việc các nội dung quy định tại
khoản 1 Điều này trong phạm vi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
Điều 4. Nghĩa vụ tham gia tập
huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc của Trợ giúp viên pháp lý
1. Thời gian tham gia tập huấn nâng cao kiến thức,
kỹ năng bắt buộc của Trợ giúp viên pháp lý tối thiểu là 08 giờ/năm.
2. Các nội dung tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ
năng bắt buộc cho Trợ giúp viên pháp lý bao gồm:
a) Kiến thức pháp luật cần thiết cho việc thực hiện
trợ giúp pháp lý;
b) Các kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.
3. Các hình thức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ
năng bắt buộc được tổ chức phù hợp với nội dung quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trợ giúp viên pháp lý thuộc một trong các trường
hợp sau đây thì không phải tham gia tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc
trong năm:
a) Được cử đi học hoặc nghỉ ốm từ 6 tháng trở lên;
b) Được cử biệt phái đến làm việc tại cơ quan, tổ
chức, đơn vị khác không có nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý;
c)[2]
Nghỉ thai sản; Trợ giúp viên pháp lý là nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi,
các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 6 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội.
5. Hàng năm, Sở Tư pháp có trách nhiệm báo cáo Bộ
Tư pháp về việc thực hiện nghĩa vụ tham gia tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ
năng bắt buộc của từng Trợ giúp viên pháp lý trên địa bàn, trong đó nêu rõ tên,
hình thức, nội dung, thời gian, đơn vị tổ chức tập huấn. Trường hợp không phải
tham gia thì ghi rõ lý do.
Chương II
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP
VỤ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 5. Thụ lý vụ việc trợ giúp
pháp lý
1. Khi yêu cầu trợ giúp pháp lý đủ điều kiện thụ lý
(bao gồm trường hợp thụ lý ngay quy định tại Điều 6 Thông tư này),
tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Chi nhánh của Trung tâm (sau đây viết tắt
là Chi nhánh) vào Sổ thụ lý, theo dõi vụ việc trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư
này.
2. Thời điểm thụ lý được tính từ khi vụ việc trợ
giúp pháp lý được ghi vào Sổ thụ lý, theo dõi vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 6. Thụ lý ngay vụ việc trợ
giúp pháp lý
1. Các trường hợp thụ lý ngay theo quy định tại khoản
4 Điều 30 của Luật Trợ giúp pháp lý bao gồm:
a) Thời hiệu khởi kiện của vụ việc còn dưới 05 ngày
làm việc;
b) Ngày xét xử theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
còn dưới 05 ngày làm việc;
c) Các trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các trường hợp theo quy định tại khoản 3 Điều
31 của Luật Trợ giúp pháp lý mà cơ quan tiến hành tố tụng thông báo cho Trung
tâm;
d) Các trường hợp để tránh gây thiệt hại đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý do người đứng đầu tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý quyết định.
2. Thời hạn bổ sung giấy tờ, tài liệu chứng minh là
người được trợ giúp pháp lý:
a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi vụ việc
trợ giúp pháp lý được thụ lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý có trách nhiệm
cung cấp, bổ sung các giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý. Trường
hợp người được trợ giúp pháp lý cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn hoặc trường hợp bất khả kháng thì thời hạn bổ sung giấy tờ, tài
liệu là 10 ngày làm việc, kể từ khi vụ việc trợ giúp pháp lý được thụ lý;
b) Trường hợp người yêu cầu trợ giúp pháp lý không
cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý trong thời hạn quy định
tại điểm a khoản này thì vụ việc trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện.
Việc không tiếp tục thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý được tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý thông báo bằng văn bản
và nêu rõ lý do cho người được trợ giúp pháp lý.
Điều 7. Theo dõi vụ việc trợ
giúp pháp lý và công tác báo cáo
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo dõi, tổng
hợp số liệu vụ việc trợ giúp pháp lý trong Sổ theo dõi, thụ lý vụ việc trợ giúp
pháp lý. Mỗi Chi nhánh có Sổ theo dõi, thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý để theo
dõi, tổng hợp số liệu vụ việc trợ giúp pháp lý do Chi nhánh thực hiện và báo
cáo về Trung tâm. Việc kết sổ được thực hiện định kỳ theo tháng, 6 tháng, năm.
2. Trung tâm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 6
tháng, một năm về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý; báo cáo đột xuất,
chuyên đề theo yêu cầu của Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp. Báo cáo 6 tháng, một
năm được thực hiện theo Mẫu số 12
ban hành kèm theo Thông tư này, có chữ ký, đóng dấu của đơn vị được gửi về Cục
Trợ giúp pháp lý theo thời hạn quy định tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quy định về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp.
Điều 8. Thực hiện trợ giúp pháp
lý
1. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện
trợ giúp pháp lý cần bám sát yêu cầu trợ giúp pháp lý, tuân thủ các nguyên tắc
hoạt động trợ giúp pháp lý và sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất
quyền, lợi ích của người được trợ giúp pháp lý.
2. Việc hướng dẫn, giải đáp, cung cấp thông tin
pháp luật trong trường hợp yêu cầu trợ giúp pháp lý là vướng mắc pháp luật đơn
giản quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Trợ giúp pháp lý do người tiếp nhận
yêu cầu trợ giúp pháp lý thực hiện ngay cho người được trợ giúp pháp lý, không
lập thành hồ sơ và được thống kê thành việc trợ giúp pháp lý trong Sổ thực hiện
việc trợ giúp pháp lý.
3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tổ chức lấy ý
kiến của người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích của họ về thái độ,
trách nhiệm, chuyên môn của người thực hiện trợ giúp pháp lý và mức độ hài lòng
đối với vụ việc tham gia tố tụng và vụ việc đại diện ngoài tố tụng theo Mẫu số 11 ban hành kèm theo Thông tư
này.
Điều 8a. Thực hiện vụ việc trợ
giúp pháp lý theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung
ương[3]
Trung tâm thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo
yêu cầu của Cục Trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc không phụ thuộc vào nơi cư
trú của người được trợ giúp pháp lý hoặc nơi xảy ra vụ việc trợ giúp pháp lý.
Việc thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý trong trường hợp
này thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Trợ giúp pháp lý.
Điều 9. Yêu cầu thay đổi người
thực hiện trợ giúp pháp lý, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý của người được trợ
giúp pháp lý
1. Người được trợ giúp pháp lý có căn cứ cho rằng
người thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc một trong các trường hợp không được tiếp
tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật Trợ giúp pháp lý thì làm đơn đề nghị thay đổi
người thực hiện trợ giúp pháp lý theo Mẫu
số 04 ban hành kèm theo Thông tư này và gửi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp
lý, Chi nhánh. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị
thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý,
Chi nhánh có trách nhiệm trả lời người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại
khoản 3 Điều 25 của Luật Trợ giúp pháp lý.
2. Người được trợ giúp pháp lý có nguyện vọng rút
yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 của Luật Trợ
giúp pháp lý thì làm đơn rút yêu cầu trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư
này và gửi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc Chi nhánh hoặc người thực hiện
trợ giúp pháp lý. Khi nhận được đơn rút yêu cầu trợ giúp pháp lý, tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý hoặc Chi nhánh hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý trả
lời ngay bằng văn bản về việc không tiếp tục thực hiện vụ việc trợ giúp pháp
lý.
Điều 10. Xác định vụ việc trợ
giúp pháp lý kết thúc
Vụ việc trợ giúp pháp lý kết thúc khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện xong yêu cầu hợp pháp của người được
trợ giúp pháp lý theo hình thức trợ giúp pháp lý thể hiện trong đơn yêu cầu trợ
giúp pháp lý.
2. Thuộc một trong các trường hợp không tiếp tục thực
hiện vụ việc trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật Trợ giúp
pháp lý.
3. Bị đình chỉ theo quy định của pháp luật.
Điều 11. Hồ sơ vụ việc trợ
giúp pháp lý
1. Mỗi hồ sơ vụ việc có một mã số riêng, được lập
và phân loại theo từng hình thức trợ giúp pháp lý. Mã số hồ sơ vụ việc gồm tập
hợp các ký hiệu bằng chữ và bằng số tương ứng với tên tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý, hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý, số thứ tự của vụ việc trong
Sổ theo dõi, thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, năm tiếp nhận (Ví dụ
TT.TV.01.2018). Trường hợp vụ việc do Chi nhánh thực hiện thì tên tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý là chữ viết tắt của tên Chi nhánh (ví dụ
CN1.TGTT.01.2018). Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Chi nhánh có trách nhiệm
tạo hồ sơ vụ việc và người thực hiện trợ giúp pháp lý cập nhật lên phần mềm quản
lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý.
2. Hồ sơ vụ việc tham gia tố tụng bao gồm:
a) Các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều
29 của Luật Trợ giúp pháp lý;
b) Quyết định cử người thực hiện trợ giúp pháp lý;
quyết định thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý (nếu có);
c) Bản bào chữa hoặc bản bảo vệ quyền lợi cho người
được trợ giúp pháp lý có chữ ký, ghi rõ họ tên của người thực hiện trợ giúp
pháp lý;
d) Bản chính hoặc bản sao kết luận điều tra, bản
cáo trạng, bản án, quyết định; văn bản tố tụng khác liên quan đến vụ việc trợ
giúp pháp lý do cơ quan tiến hành tố tụng cấp;
đ) Văn bản thông báo không tiếp tục thực hiện vụ việc
trợ giúp pháp lý (nếu có);
e) Giấy tờ, tài liệu khác thể hiện quá trình thực
hiện vụ việc trợ giúp pháp lý;
g) Phiếu lấy ý kiến người được trợ giúp pháp lý hoặc
người thân thích của họ.
3. Hồ sơ vụ việc tư vấn pháp luật bao gồm:
a) Các giấy tờ quy định tại các điểm a, đ và e khoản
2 Điều này;
b) Văn bản tư vấn pháp luật có chữ ký, ghi rõ họ
tên của người thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Hồ sơ vụ việc đại diện ngoài tố tụng bao gồm:
a) Các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, đ, e và
g khoản 2 Điều này;
b) Văn bản giải quyết vụ việc của cơ quan có thẩm
quyền hoặc văn bản thể hiện kết quả việc đại diện ngoài tố tụng;
c) Bản báo cáo về những công việc đã thực hiện và kết
quả đạt được trong phạm vi đại diện ngoài tố tụng có chữ ký, ghi rõ họ tên của
người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Điều 11a. Quản lý, cập nhật,
khai thác hồ sơ điện tử về vụ việc trợ giúp pháp lý, dữ liệu về tổ chức, nhân sự
trợ giúp pháp lý trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý[4]
1. Cục Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm:
a) Quản lý, hướng dẫn, khai thác, kiểm tra hồ sơ điện
tử về vụ việc trợ giúp pháp lý, dữ liệu về tổ chức, nhân sự trợ giúp pháp lý
trong phạm vi toàn quốc;
b) Quản lý, cấp phát, thu hồi tài khoản trên Hệ thống
quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi thẩm quyền;
c) Thực hiện thống kê, báo cáo định kỳ theo thời hạn
quy định tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về hoạt động thống kê của
Ngành Tư pháp và Thông tư này trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ
giúp pháp lý.
2. Sở Tư pháp có trách nhiệm cập nhật kịp thời,
chính xác, đầy đủ dữ liệu về tổ chức, nhân sự của tổ chức tham gia trợ giúp
pháp lý; quản lý, khai thác, bảo mật dữ liệu trên Hệ thống quản lý tổ chức và
hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi thẩm quyền; thực hiện quy định tại điểm
b, c khoản 1 Điều này.
3. Trung tâm có trách nhiệm cập nhật kịp thời,
chính xác, đầy đủ hồ sơ điện tử về vụ việc trợ giúp pháp lý, dữ liệu về tổ chức,
nhân sự của Trung tâm trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp
lý; quản lý, khai thác, bảo mật dữ liệu trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động
trợ giúp pháp lý trong phạm vi thẩm quyền; thực hiện quy định tại điểm b, c khoản
1 Điều này.
4. Tổ chức tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý có
trách nhiệm quản lý, cập nhật, khai thác, bảo mật hồ sơ điện tử về vụ việc trợ
giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu do mình
cập nhật.
5. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm:
a) Quản lý, cập nhật, khai thác, bảo mật hồ sơ điện
tử về vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của
dữ liệu do mình cập nhật;
b) Bàn giao lại tài khoản cho tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý trong trường hợp chấm dứt quyền, trách nhiệm cập nhật, quản lý,
khai thác dữ liệu trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 12. Thẩm định thời gian
thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý[5]
1. Lãnh đạo Sở Tư pháp, Lãnh đạo Trung tâm hoặc Trưởng
Chi nhánh (nếu được giao) phân công người thẩm định tính hợp lý về thời gian,
các công việc đã thực hiện để thanh toán thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc
trợ giúp pháp lý theo quy định.
2. Người được phân công thẩm định căn cứ vào hồ sơ
vụ việc để tiến hành thẩm định.
Điều 12a.[6] (được
bãi bỏ)
Điều 13. Một số biểu mẫu trong
hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý
Ban hành kèm theo Thông tư này các mẫu sau đây:
1.[7] Sổ
thụ lý, theo dõi vụ việc trợ giúp pháp lý (Mẫu số 01-TP-TGPL).
2.[8]
Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu số
02-TP-TGPL).
3.[9]
Đơn khiếu nại (Mẫu số 03-TP-TGPL).
4.[10]
Đơn đề nghị thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý (Mẫu số 04- TP-TGPL).
5.[11]
Đơn rút yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu
số 05-TP-TGPL).
6. Quyết định về việc cử người thực hiện đại diện
ngoài tố tụng (Mẫu số 06-TP-TGPL).
7. Quyết định về việc thay thế người thực hiện đại
diện ngoài tố tụng (Mẫu số 07-TP-TGPL).
8. Thông báo về việc từ chối thụ lý yêu cầu trợ
giúp pháp lý (Mẫu số 08-TP-TGPL).
9. Thông báo về việc chuyển yêu cầu trợ giúp pháp
lý (Mẫu số 09-TP-TGPL).
10. Hình minh họa biểu tượng trợ giúp pháp lý (Mẫu số 10-TP-TGPL).
11. Phiếu lấy ý kiến người được trợ giúp pháp lý hoặc
người thân thích (Mẫu số 11-TP-TGPL).
12.[12]
Báo cáo công tác trợ giúp pháp lý 6 tháng/1 năm (Mẫu số 12-TP-TGPL).
13.[13]
Giấy giới thiệu về trợ giúp pháp lý (Mẫu
số 13-TP-TGPL).
Chương III
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG, HIỆU
QUẢ VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ[14]
Điều 14. Trách nhiệm thẩm định,
đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý[15]
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm
tổ chức thẩm định chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; đánh giá hiệu quả vụ việc
trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng để xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia
tố tụng thành công. Việc thẩm định chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, đánh
giá hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý do người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ
chức mình thực hiện nhằm có giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả
vụ việc trợ giúp pháp lý. Việc thẩm định chất lượng vụ việc trên cơ sở yêu cầu
thực tiễn và các tiêu chí quy định tại Điều 16 Thông tư này.
Việc xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công căn cứ vào
tiêu chí hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả thẩm định chất lượng vụ việc trợ
giúp pháp lý và kết quả xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng
thành công được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.
2. Sở Tư pháp có trách nhiệm quản lý và tổ chức
đánh giá chất lượng vụ việc tham gia tố tụng, chất lượng vụ việc đại diện ngoài
tố tụng, đánh giá hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng để xác định
vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công của các tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương. Việc đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ
việc dựa trên một trong các căn cứ sau đây:
a) Theo chương trình, kế hoạch đánh giá chất lượng,
hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý;
b) Vụ việc đã được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
thẩm định chất lượng, đánh giá hiệu quả bị phản ánh, kiến nghị với Sở Tư pháp
vì cho rằng vụ việc trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm chất lượng, hiệu quả;
c) Các vụ việc khác để phục vụ công tác quản lý nhà
nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương.
3. Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp có trách nhiệm
giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý và tổ chức đánh giá chất lượng vụ
việc tham gia tố tụng, vụ việc đại diện ngoài tố tụng, hiệu quả vụ việc trợ
giúp pháp lý tham gia tố tụng để xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố
tụng thành công của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn
quốc. Việc đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc dựa trên một trong các căn cứ
sau đây:
a) Theo chương trình, kế hoạch đánh giá chất lượng,
hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý;
b) Qua hoạt động theo dõi, kiểm tra hoạt động thẩm
định, đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý của địa phương;
c) Các vụ việc khác để phục vụ công tác quản lý nhà
nước và quản lý chuyên ngành về trợ giúp pháp lý.
Điều 15. Đánh giá chất lượng,
hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Căn cứ tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc trợ
giúp pháp lý quy định tại Điều 16 của Thông tư này, Cục Trợ
giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương xây dựng Kế hoạch đánh giá chất lượng, trong đó xác định
rõ phạm vi; tỷ lệ vụ việc, bảo đảm người thực hiện trợ giúp pháp lý có vụ việc
được đánh giá; cách thức tiến hành đánh giá và các điều kiện cần thiết khác (nếu
có) để thực hiện đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Kết quả đánh giá
chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được thể hiện bằng văn bản.
2. Khi thực hiện đánh giá chất lượng các vụ việc,
cơ quan có thẩm quyền đánh giá theo quy định tại khoản 1 Điều này có thể mời
các Trợ giúp viên pháp lý, luật sư có kinh nghiệm, chuyên gia pháp luật tham
gia đánh giá hoặc tư vấn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp.
Người được mời tham gia phải có ý kiến bằng văn bản đối với vụ việc được yêu cầu
đánh giá.
3.[16]
Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý,
Cục Trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp xây dựng kế hoạch đánh giá hiệu quả vụ việc trợ
giúp pháp lý tham gia tố tụng để xác định vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố
tụng thành công, trong đó xác định phạm vi; tỷ lệ vụ việc; cách thức tiến hành
đánh giá, xác định và các điều kiện cần thiết khác (nếu có). Kết quả xác định vụ
việc tham gia tố tụng thành công được đánh giá thể hiện bằng văn bản.
Điều 16. Tiêu chí thẩm định,
đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý[17]
Việc thẩm định chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý,
đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được dựa trên các tiêu chí và cơ cấu
điểm sau đây:
1. Tiêu chí về trách nhiệm nghề nghiệp của người thực
hiện trợ giúp pháp lý (30 điểm)
a) Tuân thủ pháp luật, trung thực, tôn trọng sự thật
khách quan (10 điểm);
b) Giải thích, hướng dẫn, cung cấp thông tin kịp thời
về vụ việc cho người được trợ giúp pháp lý (10 điểm);
c) Bảo đảm thời gian, tiến độ thực hiện vụ việc (10
điểm).
2. Tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý (60 điểm)
a) Thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với yêu cầu
trợ giúp pháp lý và phạm vi được phân công (05 điểm);
b) Thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến vụ việc (10 điểm);
c) Nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các quy định pháp
luật có liên quan để bảo đảm nội dung trợ giúp pháp lý đúng và phù hợp với pháp
luật (20 điểm);
d) Tham gia các hoạt động tố tụng hoặc tham gia các
hoạt động đại diện ngoài tố tụng để kịp thời có giải pháp bảo vệ bảo quyền, lợi
ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (20 điểm);
đ) Quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý được thể hiện
đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý (05 điểm).
3. Tiêu chí về sự hài lòng của người được trợ giúp
pháp lý trên cơ sở ý kiến phản hồi của người được trợ giúp pháp lý hoặc người
thân thích (10 điểm).
Điều 17. Xếp loại chất lượng vụ
việc trợ giúp pháp lý
1. Vụ việc chất lượng tốt: Vụ việc có tổng số điểm
đạt từ 90 điểm trở lên.
2. Vụ việc chất lượng khá: Vụ việc có tổng số điểm
đạt từ 70 đến dưới 90 điểm.
3. Vụ việc đạt chất lượng: Vụ việc có tổng số điểm
đạt từ 50 đến dưới 70 điểm.
4. Vụ việc không đạt chất lượng: Vụ việc có tổng số
điểm đạt dưới 50 điểm hoặc vụ việc mà người thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý vi phạm điều cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của
Luật Trợ giúp pháp lý.
Điều 17a. Trách nhiệm thông
tin, giới thiệu về trợ giúp pháp lý của Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã[18]
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến
công dân, Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích quyền
được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến Trung tâm. Trường hợp người thuộc diện được
trợ giúp pháp lý là người bị buộc tội, bị hại, đương sự trong các vụ việc tham
gia tố tụng cư trú trên địa bàn thì Ủy ban nhân dân cấp xã giới thiệu theo mẫu số 13 ban hành kèm theo Thông tư
này.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH [19]
Điều 18. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12
tháng 10 năm 2018.
2. Thông tư này thay thế Thông tư số 05/2008/TT-BTP
ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ
giúp pháp lý; Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp ban hành Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; bãi bỏ
Điều 1 Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa
đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số
05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 và
Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp.
Điều 19. Trách nhiệm thi hành
1. Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Thủ trưởng các
đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề
nghị kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp để nghiên cứu, giải quyết./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để biết);
- Cổng Pháp luật quốc gia;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp;
- CSDL quốc gia về văn bản pháp luật (để đăng tải);
- Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính - Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT, PB&TG.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Thanh Ngọc
|
[1]
Thông tư số 03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 20 tháng 6
năm 2017;
Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng
8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp
lý;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và
hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP
ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động
nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý”.
Thông tư số 09/2022/TT-BTP bãi bỏ một số nội dung tại
các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp
ban hành có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Hộ tịch ngày 20 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 20 tháng 6 năm
2017;
Căn cứ Luật Cư trú ngày 13 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ Nghị định số 98/2022/NĐ-CP ngày 29 tháng
11 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng
11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Hộ tịch;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp
lý, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc thực, chứng thực;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư bãi bỏ một
số nội dung tại các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp ban hành.”
Thông tư số 10/2023/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số
điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy
tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng
8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ
giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 20 tháng 6
năm 2017;
Căn cứ Nghị định số 98/2022/NĐ-CP ngày 29 tháng
11 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp
lý;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và
hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số
12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một
số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp
pháp lý”.
Thông tư số 08/2025/TT-BTP quy định về phân định thẩm
quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà
nước của Bộ Tư pháp có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2025;
Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng
02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp
tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng
6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa
phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng
6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản
lý nhà nước của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 39/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng
02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư quy định
về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong
lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp”.
Thông tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ
một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2025;
Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng
02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp
tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 112/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng
5 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc
lĩnh vực bổ trợ tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng
6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa
phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng
6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản
lý nhà nước của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 39/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng
02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư sửa đổi,
bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của
Bộ Tư pháp”.
[2] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[3] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[4] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[5] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[6] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý,
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021 và được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 4 Điều 10 của Thông tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ
sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Sổ
thụ lý, theo dõi vụ việc trợ giúp pháp lý (Mẫu số 01-TP-TGPL) ban hành kèm theo
Thông tư số 12/2018/TT-BTP hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp
lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 12
tháng 10 năm 2018 được thay thế bởi Sổ thụ lý, theo dõi vụ việc trợ giúp pháp
lý (Mẫu số 01-TP-TGPL) tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 11/2025/TT BTP
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý
nhà nước của Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Đơn
yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu số 02-TP-TGPL) ban hành kèm theo Thông tư số
12/2018/TT-BTP có các nội dung “cấp ngày… tại….”, “dân tộc” được bãi bỏ theo
quy định tại khoản 2 Điều 1 của Thông tư số 09/2022/TT- BTP bãi bỏ một số nội
dung tại các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 và Mẫu này được
thay thế bởi Mẫu số 02-TP-TGPL ban hành kèm theo Thông tư số 10/2023/TT-BTP sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số
12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một
số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp
pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 10/2023/TT-BTP, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
Cụm từ “Số CMND/Số thẻ căn cước công dân/Số định
danh” tại Mẫu Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu số 02-TP-TGPL) được điều chỉnh
thành cụm từ “Số thẻ căn cước công dân/Số thẻ căn cước/Số định danh cá nhân”
theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Thông tư số 08/2025/TT-BTP quy định về
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực
quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Đơn
khiếu nại (Mẫu số 03-TP-TGPL) ban hành kèm theo Thông tư số 12/2018/TT-BTP, có
hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 10 năm 2018 được thay thế bởi Mẫu số 03-TP-TGPL
ban hành kèm theo Thông tư số 10/2023/TT- BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ
trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8
năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp
pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản
2 Điều 2 của Thông tư số 10/2023/TT-BTP, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm
2024.
Cụm từ “Số CMND/Số thẻ căn cước công dân/Số định
danh” tại Mẫu Đơn khiếu nại (Mẫu số 03-TP-TGPL) được điều chỉnh thành cụm từ “Số
thẻ căn cước công dân/Số thẻ căn cước/Số định danh cá nhân” theo quy định tại
khoản 2 Điều 12 của Thông tư số 08/2025/TT-BTP quy định về phân định thẩm quyền
của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của
Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10]
Đơn đề nghị thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý (Mẫu số 04-TP-TGPL) ban
hành kèm theo Thông tư số 12/2018/TT-BTP có các nội dung “ngày cấp… nơi cấp….”,
“nghề nghiệp” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Thông tư số
09/2022/TT-BTP bãi bỏ một số nội dung tại các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp
pháp lý, hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2023 và Mẫu này được thay thế bởi Mẫu số 04-TP-TGPL ban hành kèm
theo Thông tư số 10/2023/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi
tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động
trợ giúp pháp lý và Thông tư số 12/2018/TT -BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản
lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của
Thông tư số 10/2023/TT -BTP, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
Cụm từ “Số CMND/Số thẻ căn cước công dân/Số định
danh” tại Mẫu Đơn đề nghị thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý (Mẫu số
04-TP-TGPL) được điều chỉnh thành cụm từ “Số thẻ căn cước công dân/Số thẻ căn
cước/Số định danh cá nhân” theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Thông tư số
08/2025/TT-BTP quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp
và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11]
Đơn rút yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu số 05-TP-TGPL) ban hành kèm theo Thông tư
số 12/2018/TT-BTP có các nội dung “ngày cấp… nơi cấp….”, “nghề nghiệp”, “dân tộc”
được bãi bỏ theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Thông tư số 09/2022/TT-BTP bãi
bỏ một số nội dung tại các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 và Mẫu
này được thay thế bởi Mẫu số 05-TP-TGPL ban hành kèm theo Thông tư số
10/2023/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý và
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Thông tư số
10/2023/TT-BTP, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
Cụm từ “Số CMND/Số thẻ căn cước công dân/Số định
danh” tại Mẫu Đơn rút yêu cầu trợ giúp pháp lý (Mẫu số 05-TP-TGPL) được điều chỉnh
thành cụm từ “Số thẻ căn cước công dân/Số thẻ căn cước/Số định danh cá nhân”
theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Thông tư số 08/2025/TT-BTP quy định về
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực
quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT -BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.Báo cáo
công tác trợ giúp pháp lý 6 tháng/1 năm (Mẫu số 12-TP-TGPL) ban hành kèm theo
Thông tư số 03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021 được thay
thế bởi Báo cáo công tác trợ giúp pháp lý 6 tháng/1 năm (Mẫu số 12-TP- TGPL) tại
Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 11/2025/TT BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp theo
quy định tại Điều 4 của Thông tư số 11/2025/TT - BTP, có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT -BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[14]
Tên Chương này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 của Thông
tư số 03/2021/TT -BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi
tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động
trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản
lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm
2021.
[15]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[16]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT -BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[17]
Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản 11 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT -BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP
ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp
lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng
vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[18]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 2 của Thông tư số
03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày
15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của
Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng
dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc
trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021.
[19]
Điều 3 và Điều 4 của Thông tư số 03/2021/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ
trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT -BTP ngày 28 tháng 8
năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp
pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày
15 tháng 7 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15
tháng 7 năm 2021.
Điều 4. Trách nhiệm thi hành
1. Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá
nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc,
đề nghị kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp để nghiên cứu, giải quyết.”
Điều 3 và Điều 4 của Thông tư số 09/2022/TT-BTP bãi
bỏ một số nội dung tại các Thông tư trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, hộ tịch do
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2023 quy định như sau:
“Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp
1. Việc giải quyết yêu cầu trợ giúp pháp lý, đề
nghị thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý do
tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp nhận trước ngày Thông tư này có hiệu lực
mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Thông tư
số 12/2018/TT-BTP.
2. Hồ sơ yêu cầu đăng ký khai sinh cho người đã
có hồ sơ, giấy tờ cá nhân, hồ sơ đăng ký lại khai sinh do cơ quan đăng ký hộ tịch
tiếp nhận trước ngày Thông tư này có hiệu lực mà chưa giải quyết xong thì tiếp
tục được giải quyết theo quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Điều 4. Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2023.
2. Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Cục trưởng Cục
Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Giám đốc
Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề
nghị kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp để nghiên cứu, giải quyết”.
Điều 3 và Điều 4 của Thông tư số 10/2023/TT-BTP sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số
12/2018/TT-BTP ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một
số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2024 quy định như sau:
“Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Thủ trưởng các
đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
Điều 4. Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
15 tháng 02 năm 2024.
2. Khi hoàn thành việc kết nối Cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư, công chức, viên chức, cá nhân được giao trách nhiệm tiếp nhận,
giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý khai thác thông
tin về giới tính, địa chỉ thường trú của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia
về dân cư mà không yêu cầu công dân cung cấp các thông tin này.
3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc,
đề nghị kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp để nghiên cứu, giải quyết.”
Điều 23 và Điều 24 của Thông tư số 08/2025/TT-BTP
quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp
trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 23. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
2. Thông tư này hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
3 năm 2027 trừ các trường hợp sau:
a) Nghị định số 120/2025/NĐ-CP, Nghị định số
121/2025/NĐ-CP được kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ hoặc một phần thì quy định
có liên quan tại Thông tư này được cho phép kéo dài thời gian áp dụng.
b) Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư khác của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quy định
về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ tục quy định tại
Thông tư này được thông qua hoặc ban hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và có
hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 thì các quy định tương ứng trong Thông
tư này hết hiệu lực tại thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.
3. Trong thời gian các quy định của Thông tư này
có hiệu lực, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ
tục trong Thông tư này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì
thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
Điều 24. Tổ chức thực hiện
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Bộ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành quy định tại Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề
nghị phản ánh về Bộ Tư pháp để được hướng dẫn, giải quyết.”
Điều 11 của Thông tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ
sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 11. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
2. Thông tư này hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
3 năm 2027 trừ các trường hợp sau:
a) Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6
năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa
phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, Nghị định số
121/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền,
phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp được kéo dài thời gian
áp dụng toàn bộ hoặc một phần thì quy định có liên quan tại Thông tư này được
cho phép kéo dài thời gian áp dụng.
b) Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư khác của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quy định
về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ tục quy định tại
Thông tư này được thông qua hoặc ban hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và có
hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 thì các quy định tương ứng trong Thông
tư này hết hiệu lực tại thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.
3. Trong thời gian các quy định của Thông tư này
có hiệu lực, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ
tục trong Thông tư này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì
thực hiện theo quy định tại Thông tư này”.