|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 106/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 ngày 21 tháng
11 năm 2007 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2008, được sửa
đổi bổ sung bởi:
Luật số 81/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 của
Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình
tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá
nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động
tương trợ tư pháp với Việt Nam.
Điều 3. Áp dụng pháp luật
1. Tương trợ tư pháp được thực hiện theo quy định
của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật
Việt Nam có liên quan.
2. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực
hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điều 4. Nguyên tắc tương trợ
tư pháp
1. Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp,
pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa
có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được
thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù
hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
Điều 5. Ngôn ngữ trong tương
trợ tư pháp
1. Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài đã có
điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp là
ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế đó.
2. Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa
có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra
ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác
mà nước được yêu cầu chấp nhận.
3. Cơ quan lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài tương trợ
tư pháp phải dịch hồ sơ ra ngôn ngữ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 6. Ủy
thác tư pháp và hình thức thực hiện tương trợ tư pháp
1. Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng
văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo
quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên.
2. Tương trợ tư pháp được thực hiện
trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài thông qua ủy thác tư pháp.
Điều 7. Hợp
pháp hóa lãnh sự và việc công nhận giấy tờ, tài liệu ủy thác tư pháp
1. Hợp pháp hóa lãnh sự là việc Bộ
Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam hoặc cơ
quan khác ở nước ngoài được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự chứng nhận chữ
ký, con dấu trên giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập,
cấp hoặc xác nhận để sử dụng ở Việt Nam.
2. Giấy tờ, tài liệu ủy thác tư
pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định
của pháp luật nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận, nếu
giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự.
Điều 8. Triệu
tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định
1. Trong quá trình tiến hành tố tụng,
cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền có thể triệu tập người làm chứng, người
giám định theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên.
2. Trong giấy triệu tập phải ghi
rõ điều kiện làm chứng, giám định và cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng,
sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định.
3. Người làm chứng, người giám định
được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
4. Người làm chứng, người giám định
được triệu tập đến Việt Nam không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều
tra, truy tố, xét xử vì những hành vi sau đây trước khi đến Việt Nam:
a) Cung cấp lời khai làm chứng, bản
kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập;
b) Phạm tội ở Việt Nam;
c) Có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra,
truy tố, xét xử về hình sự tại Việt Nam;
d) Có liên quan đến vụ việc dân sự hoặc hành
chính khác tại Việt Nam.
5. Quyền không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc
bị điều tra, truy tố, xét xử của người làm chứng, người giám định quy định tại
khoản 4 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời Việt Nam sau thời hạn mười lăm
ngày, kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam về việc không cần thiết sự có mặt của họ tại Việt Nam. Thời hạn này
không tính vào thời gian mà người làm chứng, người giám định không thể rời Việt
Nam vì lý do bất khả kháng.
Điều 9. Việc
giao nhận tài liệu, đồ vật và tiền
Việc giao nhận tài liệu, đồ vật và
tiền liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Chương II
TƯƠNG TRỢ TƯ
PHÁP VỀ DÂN SỰ
Điều 10. Phạm
vi tương trợ tư pháp về dân sự
Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự
giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm:
1. Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự;
2. Triệu tập người làm chứng, người
giám định;
3. Thu thập, cung cấp chứng cứ;
4. Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.
Điều 11. Hồ
sơ ủy thác tư pháp về dân sự
1. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự
phải có các văn bản sau đây:
a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền
yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự;
b) Văn bản ủy thác tư pháp về dân
sự quy định tại Điều 12 của Luật này;
c) Giấy tờ khác theo yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền của nước được ủy thác.
2. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự
được lập thành ba bộ theo quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật của nước
được ủy thác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 5 của Luật này.
Điều 12. Văn
bản ủy thác tư pháp về dân sự
Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự
phải có các nội dung sau đây:
1. Ngày, tháng, năm và địa điểm lập
văn bản;
2. Tên, địa chỉ cơ quan ủy thác tư
pháp;
3. Tên, địa chỉ cơ quan được ủy
thác tư pháp;
4. Họ, tên, địa chỉ nơi thường trú
hoặc nơi làm việc của cá nhân; tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ
quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến ủy thác tư pháp;
5. Nội dung công việc được ủy thác
tư pháp về dân sự phải nêu rõ mục đích ủy thác, công việc và các tình tiết liên
quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các biện pháp để thực hiện ủy thác và
thời hạn thực hiện ủy thác.
Điều 13. Yêu
cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây:
a) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
cho người đang ở nước được yêu cầu;
b) Triệu tập người làm chứng, người
giám định đang ở nước được yêu cầu;
c) Thu thập, cung cấp chứng cứ ở
nước được yêu cầu để giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam;
d) Các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật Việt Nam.
2. Yêu cầu nước ngoài tương trợ tư
pháp về dân sự phải được lập thành văn bản dưới hình thức ủy thác tư pháp về
dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 14. Thủ
tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự phải
lập hồ sơ ủy thác theo quy định tại Điều 11 của Luật này và
gửi cho Bộ Tư pháp.
2. Trong thời hạn mười ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự, Bộ Tư pháp vào sổ ủy thác
tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là
thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ
Tư pháp trả lại cho cơ quan đã lập hồ sơ và nêu rõ lý do.
3. Trong thời hạn năm ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông báo
kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, Bộ Tư pháp chuyển văn bản đó cho cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự.
Điều 15. Thủ
tục tiếp nhận và xử lý ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài
1. Trong thời hạn mười ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước
yêu cầu, Bộ Tư pháp vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và
chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện. Trường hợp hồ sơ không
hợp lệ thì Bộ Tư pháp trả lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu
rõ lý do.
2. Trong thời hạn năm ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thông báo kết
quả thực hiện ủy thác tư pháp, Bộ Tư pháp chuyển văn bản đó cho cơ quan có thẩm
quyền của nước yêu cầu theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước
yêu cầu là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao.
3. Trường hợp ủy thác tư pháp
không thực hiện được hoặc quá thời hạn mà nước ngoài yêu cầu hoặc cần bổ sung
thông tin, tài liệu liên quan, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện ủy
thác tư pháp phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp và nêu rõ lý do để Bộ
Tư pháp thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu.
Điều 16. Chi
phí thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự
1. Chi phí thực hiện tương trợ tư
pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài do nước yêu cầu chi trả, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác.
2. Cá nhân, tổ chức Việt Nam yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự làm phát
sinh yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài thì phải trả chi phí theo quy định của
Việt Nam và của nước được yêu cầu. Trong thời hạn mười ngày làm việc, trước
ngày quyết định lập hồ sơ ủy thác tư pháp, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo cho
cá nhân, tổ chức về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp. Hồ sơ ủy thác tư pháp chỉ
được lập và gửi ra nước ngoài sau khi cá nhân, tổ chức đã nộp chi phí thực hiện
ủy thác tư pháp theo quy định.
Công dân Việt Nam thuộc trường hợp
được trợ giúp pháp lý thì có thể được xem xét hỗ trợ chi phí thực hiện ủy thác
tư pháp theo quy định của Chính phủ.
Chương III
TƯƠNG TRỢ TƯ
PHÁP VỀ HÌNH SỰ
Điều 17. Phạm
vi tương trợ tư pháp về hình sự
Phạm vi tương trợ tư pháp về hình
sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm:
1. Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự;
2. Triệu tập người làm chứng, người
giám định;
3. Thu thập, cung cấp chứng cứ;
4. Truy cứu trách nhiệm hình sự;
5. Trao đổi thông tin;
6. Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự.
Điều 18. Hồ
sơ ủy thác tư pháp về hình sự
1. Hồ sơ ủy thác tư pháp về hình sự
phải có các văn bản sau đây:
a) Văn bản của cơ quan tiến hành tố
tụng có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
b) Văn bản ủy thác tư pháp về hình
sự quy định tại Điều 19 của Luật này.
2. Hồ sơ ủy thác tư pháp về hình sự
được lập thành ba bộ theo quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật của nước
được yêu cầu. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 5 của Luật này.
Điều 19. Văn
bản ủy thác tư pháp về hình sự
1. Văn bản ủy thác tư pháp về hình
sự phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập
văn bản;
b) Tên, địa chỉ cơ quan ủy thác tư
pháp;
c) Tên, địa chỉ hoặc văn phòng
chính của cơ quan được ủy thác tư pháp;
d) Họ, tên, địa chỉ nơi thường trú
hoặc nơi làm việc của cá nhân; tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ
quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến ủy thác tư pháp về hình sự;
đ) Nội dung công việc được ủy thác
tư pháp về hình sự phải nêu rõ mục đích ủy thác; tóm tắt nội dung vụ án, các
tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật và hình phạt có thể được áp dụng; tiến
độ điều tra, truy tố, xét xử; thời hạn thực hiện ủy thác.
2. Ngoài những nội dung quy định tại
khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp cụ thể, theo yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài, văn bản ủy thác tư pháp về hình sự có
thể có các nội dung sau đây:
a) Đặc điểm nhận dạng, quốc tịch
và nơi ở của đối tượng trong vụ án hình sự hoặc những người có thông tin liên
quan đến vụ án đó;
b) Vấn đề cần thẩm vấn, câu hỏi đặt
ra, tài liệu, hồ sơ hoặc vật chứng được đưa ra và nếu có thể thì mô tả đặc điểm,
hình dạng người được yêu cầu xuất trình tài liệu, hồ sơ, vật chứng đối với ủy
thác thu thập chứng cứ;
c) Nội dung công việc, câu hỏi,
yêu cầu đối với người làm chứng, người giám định được triệu tập;
d) Mô tả về tài sản và nơi có tài
sản cần tìm; căn cứ để xác định tài sản do phạm tội mà có đang có tại nước yêu
cầu và có thể thuộc quyền tài phán của nước yêu cầu; việc thực hiện bản án, quyết
định của Tòa án đối với ủy thác về khám xét, thu giữ hoặc truy tìm, tịch thu
tài sản do phạm tội mà có;
đ) Biện pháp cần áp dụng đối vớiủy
thác tư pháp về hình sự có thể dẫn đến việc phát hiện hoặc thu hồi tài sản do
phạm tội mà có;
e) Yêu cầu hoặc thủ tục của nước
yêu cầu để bảo đảm thực hiện có hiệu quả ủy thác tư pháp, cách thức hoặc hình
thức cung cấp thông tin, chứng cứ, tài liệu, đồ vật;
g) Yêu cầu về bảo mật ủy thác tư
pháp;
h) Mục đích, dự định thời gian và
lịch trình chuyến đi trong trường hợp người có thẩm quyền của nước yêu cầu cần
phải đến lãnh thổ của nước được yêu cầu vì mục đích liên quan đến ủy thác tư
pháp;
i) Bản án, quyết định hình sự của
Tòa án và tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin khác cần thiết cho việc thực hiện ủy
thác tư pháp.
3. Trường hợp thông tin nêu trong
văn bản ủy thác tư pháp về hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
không đủ để thực hiện ủy thác thì cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu
còn có thể đề nghị bằng văn bản với nước yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung và ấn
định thời hạn cụ thể trả lời kết quả bổ sung.
Điều 20. Yêu
cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về hình sự
1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có thể yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường
hợp sau đây:
a) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
cho người đang cư trú ở nước được yêu cầu;
b) Triệu tập người làm chứng, người
giám định đang ở nước được yêu cầu;
c) Thu thập, cung cấp chứng cứ ở
nước được yêu cầu để giải quyết vụ án hình sự tại Việt Nam;
d) Truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người đang ở nước mà người đó mang quốc tịch;
đ) Các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật Việt Nam.
2. Yêu cầu nước ngoài tương trợ tư
pháp về hình sự phải được lập thành văn bản dưới hình thức ủy thác tư pháp về
hình sự theo quy định của Luật này.
Điều 21. Từ
chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Ủy thác tư pháp về hình sự của
nước ngoài bị từ chối thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không phù hợp với điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên, các quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Gây phương hại đến chủ quyền,
an ninh quốc gia;
c) Liên quan đến việc truy cứu trách
nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được
tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam;
d) Liên quan đến hành vi phạm tội
đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự
Việt Nam;
đ) Liên quan đến hành vi vi phạm
pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt
Nam.
2. Ủy thác tư pháp về hình sự có
thể bị hoãn thực hiện tại Việt Nam nếu việc thực hiện ủy thác tư pháp cản trở
quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án tại Việt Nam.
3. Khi quyết định từ chối hoặc
hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu biết lý do
và các biện pháp cần áp dụng.
Điều 22. Thủ
tục ủy thác tư pháp về hình sự cho nước ngoài
1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư
pháp về hình sự phải lập hồ sơ ủy thác tư pháp theo quy định tại Điều
18 của Luật này và gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Trong thời hạn mười ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt
Nam và nước ngoài là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao. Trường hợp hồ
sơ không hợp lệ thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại cho cơ quan đã lập hồ
sơ và nêu rõ lý do.
3. Trong thời hạn năm ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông báo
kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chuyển văn bản đó cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã gửi hồ sơ ủy thác
tư pháp về hình sự.
Điều 23. Thủ
tục tiếp nhận và xử lý ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về hình sự của cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm
tra tính hợp lệ và chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của
Việt Nam thực hiện. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trả lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do.
2. Trong thời hạn năm ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt
Nam thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chuyển văn bản đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu theo quy định của
điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước yêu cầu là thành viên hoặc thông qua kênh
ngoại giao.
3. Trường hợp ủy thác tư pháp về
hình sự không thực hiện được hoặc quá thời hạn mà nước ngoài yêu cầu hoặc cần bổ
sung thông tin, tài liệu liên quan, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của
Việt Nam phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu
rõ lý do để Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền
của nước yêu cầu.
Điều 24. Tống
đạt giấy triệu tập người làm chứng, người giám định
1. Nước yêu cầu muốn triệu tập người
làm chứng, người giám định đang cư trú tại Việt Nam thì phải gửi giấy triệu tập
cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chậm nhất là chín mươi ngày, trước ngày dự định
người đó phải có mặt tại nước yêu cầu. Thủ tục tiếp nhận giấy triệu tập người
làm chứng, người giám định được thực hiện theo quy định tại Điều
23 của Luật này.
2. Cơ quan thực hiện việc tống đạt
giấy triệu tập phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản xác nhận
đã tống đạt để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển cho nước yêu cầu; trường hợp
không tống đạt được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 25. Dẫn
giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
1. Người đang chấp hành hình phạt
tù tại Việt Nam có thể được dẫn giải cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu
để cung cấp chứng cứ trong vụ án hình sự tại nước yêu cầu.
2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
chỉ dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều
này với các điều kiện sau đây:
a) Người đó đồng ý với việc dẫn giải
và cung cấp chứng cứ tại nước yêu cầu;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước
yêu cầu phải cam kết bằng văn bản về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe,
điều kiện ăn ở, đi lại, thời hạn, phương thức tiếp nhận, trao trả và các điều
kiện cụ thể khác liên quan đến việc dẫn giải do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam đề nghị. Văn bản cam kết được lập theo quy định của pháp luật
Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan đến việc dẫn giải người đang chấp hành
hình phạt tù để cung cấp chứng cứ. Việc trao trả lại người bị dẫn giải cho cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam phải được thực hiện theo đúng
thời hạn đã cam kết.
3. Thời gian mà người đang chấp
hành hình phạt tù bị dẫn giải, lưu lại ở nước yêu cầu được tính vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù của người đó.
Điều 26. Cung
cấp thông tin
Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền
của Việt Nam cung cấp các thông tin liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về
hình sự hoặc bản sao bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật đối với công dân của nước yêu cầu.
Điều 27. Việc
sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự
1. Thông tin, chứng cứ do cơ quan
tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp
với mục đích đã nêu trong ủy thác tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc
chuyển giao, trừ trường hợp có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam phải áp dụng biện pháp thích hợp để giữ bí mật về ủy thác tư
pháp về hình sự, nội dung ủy thác, tài liệu kèm theo, những hành vi tố tụng
hình sự sẽ được tiến hành theo ủy thác tư pháp. Trong trường hợp không thể thực
hiện được ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài theo pháp luật về bảo vệ bí
mật nhà nước thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản nêu
rõ lý do và thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về các biện
pháp thay thế, nếu có.
3. Khi ủy thác tư pháp về hình sự
cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
của nước ngoài áp dụng các biện pháp để:
a) Giữ bí mật thông tin, chứng cứ
mà Việt Nam đã cung cấp và sử dụng thông tin, chứng cứ trong phạm vi cần thiết
cho mục đích nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
b) Bảo đảm thông tin, chứng cứ
không bị sai lệch, thay đổi, tiết lộ trái phép hoặc các hành vi lạm dụng khác.
Điều 28. Yêu
cầu truy cứu trách nhiệm hình sự; giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước
ngoài
1. Đối với vụ án có người nước
ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà người đó đã trốn ra nước ngoài và Việt
Nam đã yêu cầu dẫn độ nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài từ chối việc dẫn
độ thì cơ quan đang thụ lý vụ án chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân
tối cao để yêu cầu nước nơi người phạm tội đang có mặt tiếp tục truy cứu trách
nhiệm hình sự. Khi quyết định chuyển giao hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có thể chuyển giao cả vật chứng của vụ án.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quy định các điều kiện cụ thể về tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ
án.
Điều 29. Xử
lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam tại
Việt Nam
Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem
xét yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt
tại Việt Nam theo trình tự sau đây:
1. Trường hợp vụ án trong giai đoạn
điều tra và thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh) thì chuyển
cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam cư trú cuối cùng trước
khi ra nước ngoài để yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp tiến hành điều tra; đối
với vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra Bộ Công an thì chuyển cho cơ
quan điều tra Bộ Công an để tiến hành điều tra;
2. Trường hợp vụ án trong giai đoạn
truy tố và thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì chuyển cho
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam cư trú cuối cùng trước
khi ra nước ngoài để tiến hành truy tố;
3. Việc điều tra, truy tố, xét xử
đối với vụ án quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam.
Điều 30. Thực
hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài về điều tra đối với công dân nước ngoài tại
Việt Nam
Trong thời hạn năm ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về điều tra đối với công dân nước
ngoài đã phạm tội ở nước đó hiện đang cư trú tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền của Việt Nam để tiến
hành điều tra. Kết quả điều tra được gửi đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để
chuyển cho nước yêu cầu.
Điều 31. Chi
phí thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự
Chi phí thực hiện tương trợ tư
pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài do nước yêu cầu chi trả, trừ trường
hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp Việt Nam chịu chi phí cho việc thực hiện
ủy thác tư pháp về hình sự thì chi phí đó do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Chương IV
DẪN ĐỘ
Điều 32. Dẫn
độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án
1. Dẫn độ là việc một nước chuyển
giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang
có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam có thể:
a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự
mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi
hành án;
b) Thực hiện việc dẫn độ người nước
ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự
mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án.
Điều 33. Trường
hợp bị dẫn độ
1. Người có thể bị dẫn độ theo quy
định của Luật này là người có hành vi phạm tội mà Bộ luật Hình sự Việt Nam và
pháp luật hình sự của nước yêu cầu quy định hình phạt tù có thời hạn từ một năm
trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án của nước yêu cầu xử phạt
tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại ít nhất sáu tháng.
2. Hành vi phạm tội của người quy
định tại khoản 1 Điều này không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc
cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống
nhau theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước yêu cầu.
3. Trường hợp hành vi phạm tội của
người quy định tại khoản 1 Điều này xảy ra ngoài lãnh thổ của nước yêu cầu thì
việc dẫn độ người phạm tội có thể được thực hiện nếu theo quy định của Bộ luật
Hình sự Việt Nam hành vi đó là hành vi phạm tội.
Điều 34.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn độ cho nước thứ ba
Người bị dẫn độ về Việt Nam không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dẫn độ cho nước thứ ba về hành vi mà người
đó đã thực hiện ở nước ngoài trước khi bị dẫn độ về Việt Nam nhưng không cấu
thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam và không được nêu
trong yêu cầu dẫn độ của Việt Nam hoặc của nước thứ ba.
Trường hợp Việt Nam là nước được
yêu cầu dẫn độ thì việc dẫn độ chỉ được thực hiện khi nước yêu cầu dẫn độ cam kết
không truy cứu trách nhiệm hình sự người bị dẫn độ về hành vi phạm tội khác
ngoài hành vi phạm tội đã được nêu trong yêu cầu dẫn độ, không dẫn độ người đó
cho nước thứ ba, trừ trường hợp được sự đồng ý bằng văn bản của Việt Nam.
Điều 35. Từ
chối dẫn độ cho nước ngoài
1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Người bị yêu cầu dẫn độ là công
dân Việt Nam;
b) Theo quy định của pháp luật Việt
Nam thì người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác;
c) Người bị yêu cầu dẫn độ để truy
cứu trách nhiệm hình sự đã bị Tòa án của Việt Nam kết tội bằng bản án đã có hiệu
lực pháp luật về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị
đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam;
d) Người bị yêu cầu dẫn độ là người
đang cư trú ở Việt Nam vì lý do có khả năng bị truy bức ở nước yêu cầu dẫn độ
do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành
phần xã hội hoặc quan điểm chính trị;
đ) Trường hợp yêu cầu dẫn độ có
liên quan đến nhiều tội danh và mỗi tội danh đều có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật nước yêu cầu dẫn độ nhưng không đáp ứng các
quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này.
2. Ngoài những trường hợp từ chối
dẫn độ theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam có thể từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Hành vi mà người bị yêu cầu dẫn
độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam;
b) Người bị yêu cầu dẫn độ đang bị
truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam về hành vi phạm tội được nêu trong yêu
cầu dẫn độ.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước yêu cầu dẫn
độ.
Điều 36. Hồ
sơ yêu cầu dẫn độ
1. Hồ sơ yêu cầu dẫn độ phải có
các văn bản sau đây:
a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền
yêu cầu dẫn độ;
b) Các tài liệu kèm theo quy định
tại Điều 37 của Luật này.
2. Hồ sơ yêu cầu dẫn độ được lập
thành ba bộ theo quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật của nước được
yêu cầu. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều
5 của Luật này.
Điều 37. Văn
bản yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo
1. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải có
các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập
văn bản;
b) Lý do yêu cầu dẫn độ;
c) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu
dẫn độ;
d) Tên, địa chỉ của cơ quan được yêu cầu dẫn độ;
đ) Họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc
tịch, nơi cư trú và các thông tin cần thiết khác về người bị yêu cầu dẫn độ.
2. Kèm theo văn bản yêu cầu dẫn độ phải có tài
liệu sau đây:
a) Tóm tắt nội dung của vụ án;
b) Các điều luật cần áp dụng để xác định các yếu
tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó;
c) Giấy tờ về quốc tịch và nơi cư trú của người
bị yêu cầu dẫn độ, nếu có;
d) Các tài liệu khác mô tả đặc điểm nhận dạng và
ảnh của người bị yêu cầu dẫn độ theo pháp luật và tập quán quốc tế.
3. Trường hợp yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách
nhiệm hình sự thì ngoài các tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
còn phải kèm theo các tài liệu sau đây:
a) Bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của cơ quan có
thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ;
b) Văn bản xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người
được nêu trong lệnh bắt hoặc giam giữ.
4. Trường hợp yêu cầu dẫn độ để thi hành án thì
ngoài các tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này còn phải kèm theo
các tài liệu sau đây:
a) Bản sao bản án, quyết định hình sự của Tòa án
nước yêu cầu dẫn độ;
b) Văn bản xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là
người đã bị kết án.
Điều
38. Tiếp nhận yêu cầu dẫn độ[2]
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được
yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ dẫn độ và kiểm tra
hồ sơ theo quy định tại Điều 36 của Luật này. Bộ Công
an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ cung cấp thông
tin bổ sung hồ sơ. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung
thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho
nước yêu cầu dẫn độ và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an
chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hai bộ hồ sơ để xem xét,
quyết định.
Điều 39. Xem
xét yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người
1.[3]
Trong trường hợp Bộ Công an nhận được văn bản của hai hoặc nhiều nước yêu cầu dẫn
độ một người về cùng một tội phạm hoặc nhiều tội phạm khác nhau thì Bộ Công an
chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định đáp ứng yêu cầu dẫn độ cho một
trong các nước yêu cầu và chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Tòa án nhân dân khu vực
xem xét, quyết định dẫn độ.
2. Khi xem xét yêu cầu dẫn độ quy định tại khoản
1 Điều này, ngoài các quy định của pháp luật, còn phải xem xét các yếu tố liên
quan sau đây:
a) Quốc tịch hữu hiệu và nơi thường trú cuối
cùng của người bị yêu cầu dẫn độ;
b) Tính hợp pháp và mức độ phù hợp của yêu cầu dẫn
độ;
c) Thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;
d) Lợi ích riêng của các nước yêu cầu;
đ) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;
e) Quốc tịch của người bị hại;
g) Khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các nước yêu cầu
dẫn độ;
h) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ;
i) Các yếu tố khác có liên quan.
Điều
40. Quyết định dẫn độ[4]
1. Trong thời hạn mười
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ do Bộ Công an chuyển đến,
Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị yêu cầu dẫn độ đang cư trú, đang bị tạm giam,
tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu dẫn độ,
Tòa án nhân dân khu vực có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
làm rõ những điểm chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Văn bản yêu cầu dẫn độ và
văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an.
2. Trong thời hạn bốn
tháng, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Xem xét yêu cầu dẫn độ
khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này;
b) Đình chỉ việc xem xét
yêu cầu dẫn độ và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm
quyền hoặc bên nước ngoài rút yêu cầu dẫn độ hoặc người bị yêu cầu dẫn độ đã rời
khỏi Việt Nam hoặc vì lý do khác mà việc xem xét không thể tiến hành được.
3. Tòa án nhân dân khu vực
xem xét yêu cầu dẫn độ trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và chuyển ngay một bộ hồ sơ cho Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4. Việc xem xét yêu cầu dẫn độ được tiến hành tại
phiên họp do Hội đồng gồm ba thẩm phán trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa và
có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu dẫn độ làm việc theo
trình tự sau đây:
a) Một thành viên của Hội đồng trình bày nội
dung hồ sơ của nước yêu cầu dẫn độ và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc dẫn
độ;
b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát nhân dân về việc dẫn độ;
c) Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người
bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến, nếu có;
d) Người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật này, các quy
định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc dẫn độ hoặc từ
chối dẫn độ.
5. Chậm nhất là mười ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân
khu vực gửi quyết định cho người bị yêu cầu dẫn độ, Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp, Bộ Công an để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Người bị yêu cầu dẫn độ có
quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời
hạn mười lăm ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời
hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định. Tòa án nhân
dân khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh
trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn hai mươi
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định về việc dẫn độ hoặc
từ chối dẫn độ. Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ
của Tòa án nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Quyết định dẫn độ có hiệu lực pháp luật bao gồm:
a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị
kháng cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
Điều 41. Các
biện pháp ngăn chặn để dẫn độ
Khi nhận được yêu cầu chính thức của nước ngoài
về việc dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp
ngăn chặn theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên để bảo đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ.
Điều 42. Thi
hành quyết định dẫn độ
1.[5]
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày quyết định của Tòa án nhân dân về
dẫn độ có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra
quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Quyết định thi hành quyết định dẫn độ phải
được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, nước yêu cầu dẫn độ
và người bị dẫn độ.
2. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định
dẫn độ, cơ quan công an có thẩm quyền tiến hành bắt người bị dẫn độ. Việc bắt
người bị dẫn độ được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức thi hành việc
dẫn độ và thông báo bằng văn bản cho nước yêu cầu dẫn độ.
Điều 43. Áp
giải người bị dẫn độ
1. Cơ quan công an thi hành quyết định dẫn độ tổ
chức việc áp giải người bị dẫn độ theo thời gian, địa điểm tiếp nhận do Việt
Nam và nước yêu cầu dẫn độ thoả thuận trước bằng văn bản. Thời hạn tiếp nhận
người bị dẫn độ không quá mười lăm ngày, kể từ ngày quyết định thi hành quyết định
dẫn độ có hiệu lực.
2.[6]
Trường hợp hết thời hạn do các nước liên quan thỏa thuận trước bằng văn bản mà
nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận thì Bộ Công an kiến nghị Tòa án nhân dân
khu vực đã ra quyết định dẫn độ hủy quyết định thi hành quyết định dẫn độ đó và
thông báo cho nước yêu cầu dẫn độ biết.
Điều 44. Hoãn
thi hành quyết định dẫn độ và dẫn độ tạm thời
1.[7]
Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp
hành hình phạt trên lãnh thổ của Việt Nam về tội không phải là tội bị yêu cầu dẫn
độ thì Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định dẫn độ có thể tự mình hoặc theo
đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, cơ quan công an cấp có thẩm quyền
hoãn việc thi hành quyết định dẫn độ người đó cho đến khi kết thúc quá trình
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt
đã tuyên. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước yêu cầu dẫn độ về việc
hoãn dẫn độ chậm nhất là mười ngày làm việc trước ngày hết thời hạn hoãn việc
thi hành quyết định dẫn độ. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã hoãn việc thi
hành quyết định dẫn độ phải ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ và gửi
ngay quyết định cùng tài liệu, hồ sơ liên quan cho cơ quan công an thi hành quyết
định dẫn độ để thông báo cho nước yêu cầu và tiếp tục tiến hành việc dẫn độ
theo thỏa thuận cụ thể với nước yêu cầu.
2. Trường hợp việc hoãn thi hành quyết định dẫn
độ quy định tại khoản 1 Điều này làm cản trở việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở
nước ngoài do hết thời hiệu hoặc gây khó khăn nghiêm trọng cho việc truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội bị yêu cầu dẫn độ thì theo đề nghị của Viện kiểm sát
nhân dân hoặc cơ quan công an và theo đề nghị của nước yêu cầu dẫn độ, Tòa án
nhân dân có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật Việt Nam và thỏa thuận cụ thể với
nước yêu cầu dẫn độ có thể ra quyết định cho dẫn độ tạm thời người bị yêu cầu dẫn
độ cho nước yêu cầu dẫn độ theo quy định của Luật này.
3. Người bị dẫn độ tạm thời phải được trả lại
ngay cho Việt Nam sau khi quá trình tố tụng hình sự của nước yêu cầu đã kết
thúc hoặc hết thời hạn yêu cầu dẫn độ tạm thời mà Việt Nam và nước ngoài đã thỏa
thuận. Khi có yêu cầu dẫn độ mới của nước yêu cầu, Tòa án Việt Nam xem xét theo
quy định của Luật này để thỏa thuận về việc dẫn độ mới nếu có lý do chính đáng.
Điều
45. Dẫn độ lại[8]
Trường hợp người đã bị dẫn độ trốn tránh việc
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt ở nước ngoài và quay trở
lại Việt Nam thì nước yêu cầu dẫn độ có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó
kèm theo các tài liệu quy định tại Điều 36 và Điều 37 của
Luật này; trong trường hợp này, Tòa án nhân dân khu vực không tiến hành lại
thủ tục quyết định dẫn độ theo quy định tại Điều 40 của Luật
này; Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã quyết định dẫn độ trước đây quyết
định dẫn độ lại đối với người đó. Việc áp giải người bị dẫn độ lại được thực hiện
theo quy định tại Điều 43 của Luật này.
Điều 46. Chuyển giao đồ vật,
vật chứng liên quan đến vụ án
Các đồ vật, vật chứng do phạm tội mà có hoặc cần
để làm chứng cứ tại phiên tòa có thể được xem xét chuyển giao cho nước yêu cầu
dẫn độ phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước yêu cầu dẫn độ là thành
viên trên cơ sở tôn trọng quyền của bên thứ ba.
Điều 47. Quá cảnh
1. Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên và quy định của pháp luật Việt Nam, việc áp giải người bị dẫn độ quá
cảnh lãnh thổ Việt Nam để đến nước yêu cầu dẫn độ chỉ được thực hiện sau khi có
văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp nhận yêu cầu của nước
ngoài.
2. Trường hợp chuyển giao bằng đường hàng không
và quá cảnh không hạ cánh trên lãnh thổ Việt Nam thì việc di chuyển người bị dẫn
độ không phải xin quá cảnh Việt Nam; trường hợp phải hạ cánh thì nước dẫn độ phải
gửi ngay yêu cầu xin quá cảnh Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 48. Chi phí về dẫn độ
Nước yêu cầu dẫn độ phải chịu mọi chi phí về dẫn
độ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp Việt Nam chịu chi phí
cho việc dẫn độ thì chi phí đó do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Chương V
CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG
CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
Điều 49. Căn cứ chuyển giao
người đang chấp hành hình phạt tù
1. Người đang chấp hành hình phạt tù có thể được
chuyển giao đến nước mà người đó mang quốc tịch hoặc đến nước khác đồng ý tiếp
nhận chuyển giao để tiếp tục chấp hành hình phạt tù mà nước chuyển giao đã
tuyên đối với người đó.
2. Việc chuyển giao được thực hiện căn cứ vào điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên khi có yêu cầu của người đang chấp hành
hình phạt tù hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao hoặc
nước tiếp nhận; trường hợp chưa có điều ước quốc tế liên quan đến việc chuyển
giao thì việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù được thực hiện theo
thỏa thuận trực tiếp giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước liên quan
trên cơ sở quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có
liên quan, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
Điều 50. Điều
kiện tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù
1. Người đang chấp hành hình phạt tù ở nước
ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam để thi hành hình phạt tù khi có đủ các
điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam;
b) Có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam;
c) Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước
ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam;
d) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao,
thời hạn chưa chấp hành hình phạt tù phải còn ít nhất là một năm; trong trường
hợp đặc biệt, thời hạn này còn ít nhất là sáu tháng;
đ) Bản án đối với người được chuyển giao đã có
hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó tại nước
chuyển giao;
e) Có sự đồng ý của nước chuyển giao;
g) Có sự đồng ý của người được chuyển giao.
2. Người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt
Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để thi hành hình phạt tù khi có các
điều kiện sau đây:
a) Là công dân của nước tiếp nhận hoặc là người
được phép cư trú không thời hạn hoặc có người thân thích tại nước tiếp nhận
chuyển giao;
b) Có đủ các điều kiện quy định tại các điểm c,
d, đ, e, g khoản 1 Điều này và đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự, hình
phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác
trong bản án;
c) Có sự đồng ý của nước tiếp nhận chuyển giao.
Điều 51. Từ chối chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam từ chối chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Khi có căn cứ cho rằng người được chuyển giao
có thể bị tra tấn, trả thù hoặc truy bức tại nước tiếp nhận chuyển giao;
2. Việc chuyển giao có thể phương hại đến chủ
quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam.
Điều 52. Hồ sơ yêu cầu chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù
1. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù phải có các văn bản sau đây:
a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước
nơi người đang chấp hành hình phạt tù yêu cầu chuyển giao người đó;
b) Các tài liệu kèm theo quy định tại Điều 53 của Luật này.
2. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù được lập thành ba bộ theo quy định của Luật này và phù hợp với
pháp luật của nước được yêu cầu. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định
tại Điều 5 của Luật này.
Điều 53. Văn bản yêu cầu
chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và tài liệu kèm theo
1. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;
b) Lý do yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành
hình phạt tù;
c) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu
chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù;
d) Tên, địa chỉ của cơ quan được yêu cầu chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù;
đ) Họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc
tịch, nơi thường trú cuối cùng, các căn cứ pháp lý về việc người được yêu cầu
chuyển giao đủ tư cách pháp lý để chuyển giao và các thông tin cần thiết khác về
người được yêu cầu chuyển giao.
2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người
đang chấp hành hình phạt tù phải có các thông tin, tài liệu sau đây:
a) Tài liệu để chứng minh người được yêu cầu
chuyển giao đã có đầy đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật
này;
b) Văn bản nêu tóm tắt nội dung của vụ án, bản
sao bản án, quyết định của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù được
yêu cầu chuyển giao;
c) Điều luật áp dụng để xác định các yếu tố cấu
thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt
đối với tội phạm đó của bản án;
d) Tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng và ảnh của
người được yêu cầu chuyển giao theo pháp luật và tập quán quốc tế;
đ) Văn bản, tài liệu xác nhận thời gian người được
yêu cầu chuyển giao đã chấp hành hình phạt tù tại nước yêu cầu chuyển giao và
thời gian còn lại phải chấp hành hình phạt tù tại nước tiếp nhận;
e) Tài liệu liên quan đến tình hình sức khỏe, trạng
thái tâm thần, hồ sơ bệnh án của người được yêu cầu chuyển giao, nếu có;
g) Điều ước quốc tế giữa nước được yêu cầu chuyển
giao và nước tiếp nhận.
Điều 54. Tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt
tù[9]
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và
tài liệu kèm theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ chuyển giao và kiểm tra hồ sơ theo
quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Luật này. Bộ Công
an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu chuyển giao cung cấp
thông tin bổ sung hồ sơ. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ
sung thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ
sơ cho nước yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và nêu rõ lý
do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu
vực có thẩm quyền hai bộ hồ sơ để xem xét, quyết định.
Điều
55. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho
nước ngoài [10]
1. Trong thời
hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang
chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài do Bộ Công an chuyển đến,
Tòa án nhân dânkhu vực nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù phải thụ
lý và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn
chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án
nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm
chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu chuyển giao. Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời được
gửi thông qua Bộ Công an.
2. Trong thời
hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu
vực ra một trong các quyết định sau đây:
a) Xem xét
yêu cầu chuyển giao khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều
50 của Luật này;
b) Đình chỉ
việc xem xét yêu cầu chuyển giao và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp
không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người yêu
cầu chuyển giao rút lại yêu cầu chuyển giao hoặc người được yêu cầu chuyển giao
đã rời khỏi Việt Nam hoặc vì các lý do khác mà việc xem xét không thể tiến hành
được.
3. Tòa án
nhân dân khu vực xem xét yêu cầu chuyển giao trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày ra quyết định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và chuyển ngay một
bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4. Việc xem xét yêu cầu chuyển
giao được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng gồm ba thẩm phán trong đó có một
thẩm phán làm chủ tọa và có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu chuyển
giao làm việc theo trình tự sau đây:
a) Một thành viên của Hội đồng
trình bày nội dung hồ sơ của nước yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở
pháp lý của việc chuyển giao;
b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm
của Viện kiểm sát nhân dân về việc chuyển giao;
c) Luật sư hoặc người đại diện hợp
pháp của người được yêu cầu chuyển giao trình bày ý kiến, nếu có;
d) Người yêu cầu chuyển giao trình
bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật
này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc
chuyển giao hoặc từ chối chuyển giao.
5. Chậm nhất
là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chuyển giao hoặc từ chối chuyển
giao, Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định cho người được chuyển giao, Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật.
Người yêu cầu
chuyển giao có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng
nghị trong thời hạn mười lăm ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra
quyết định. Tòa án nhân dân khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho
Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn
hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ chuyển giao và kháng cáo, kháng nghị,
Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân
khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định về việc
chuyển giao hoặc từ chối chuyển giao. Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị đối
với quyết định chuyển giao của Tòa án nhân dân khu vực được thực hiện theo quy
định tại khoản 4 Điều này.
6. Quyết định chuyển giao có hiệu
lực pháp luật bao gồm:
a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm.
Điều 56. Thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành hình phạt
tù ở nước ngoài về Việt Nam[11]
Tòa án nhân dân khu vực nơi người
được chuyển giao có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam quyết định việc tiếp nhận.
Trình tự, thủ tục xem xét việc tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại Điều 55 của Luật này.
Điều 57. Thi
hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù
1. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày
quyết định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù của Tòa án nhân dân có
hiệu lực, Chánh án Tòa án đã ra quyết định sơ thẩm phải ra quyết định thi hành
quyết định chuyển giao. Quyết định thi hành quyết định chuyển giao phải được gửi
cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, cơ quan có thẩm quyền của nước
yêu cầu chuyển giao và người được chuyển giao.
2. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức thi hành việc
chuyển giao quy định tại khoản 1 Điều này và thông báo bằng văn bản cho nước
yêu cầu chuyển giao.
Điều 58. Tiếp
tục chấp hành hình phạt tại Việt Nam
1. Việc tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại Việt
Nam của người được chuyển giao thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Trong trường hợp thời hạn của hình phạt do nước
chuyển giao đã tuyên phù hợp với pháp luật Việt Nam thì Tòa án nhân dân có thẩm
quyền ra quyết định tiếp nhận chuyển giao. Trong quyết định tiếp nhận chuyển
giao ghi rõ thời hạn người được chuyển giao phải tiếp tục thi hành hình phạt tù
tại Việt Nam.
Trường hợp tính chất hoặc thời hạn của hình phạt
do nước chuyển giao đã tuyên không phù hợp với pháp luật Việt Nam thì Tòa án
nhân dân có thẩm quyền ra quyết định tiếp nhận chuyển giao căn cứ vào các tình
tiết của vụ án quyết định chuyển đổi hình phạt cho phù hợp với quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam theo hình
phạt được chuyển đổi không được dài hơn so với hình phạt đã tuyên tại nước chuyển
giao.
3. Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá,
đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt của nước chuyển giao đối với người đang chấp
hành hình phạt tù, Bộ Công an phải gửi ngay thông báo đó cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 59. Áp
giải người được chuyển giao
1. Bộ Công an thi hành quyết định chuyển giao
người đang chấp hành hình phạt tù tổ chức việc áp giải người được chuyển giao đến
địa điểm và vào thời gian do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước yêu cầu
chuyển giao thỏa thuận trước bằng văn bản.
2. Trường hợp thời hạn thỏa thuận quy định tại
khoản 1 Điều này đã hết mà nước yêu cầu chuyển giao không tiếp nhận thì Bộ Công
an kiến nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền đã ra quyết định chuyển giao hủy quyết
định thi hành quyết định chuyển giao đó và thông báo cho nước yêu cầu chuyển
giao biết.
Điều 60. Chi phí về chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù
Nước yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành
hình phạt tù phải chịu mọi chi phí về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt
tù, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp Việt Nam chịu chi phí
chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù thì chi phí đó do ngân sách nhà
nước bảo đảm.
ChươngVI
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ
QUAN NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
Điều 61. Trách
nhiệm của Chính phủ trong hoạt động tương trợ tư pháp
1. Thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động
tương trợ tư pháp.
2. Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ trong hoạt
động tương trợ tư pháp; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao trong hoạt động tương trợ tư pháp.
3. Hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động tương
trợ tư pháp.
Điều 62.
Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1. Giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
hoạt động tương trợ tư pháp.
2. Tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc
thực hiện các ủy thác tư pháp về dân sự.
3. Trao đổi thông tin về pháp luật và thực tiễn
tương trợ tư pháp với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực
hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.
5. Hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động tương
trợ tư pháp.
Điều 63.
Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao
1. Hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp thực hiện
tương trợ tư pháp.
2.[12](được
bãi bỏ)
3. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ
Tư pháp tình hình thực hiện tương trợ tư pháp thuộc thẩm quyền.
Điều 64.
Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1. Tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc
thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện và
yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện ủy
thác tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự
theo thẩm quyền.
2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.
3. Hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực
hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
4. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.
5. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ
Tư pháp tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự.
Điều 65.
Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Tiếp nhận, chuyển giao, xem xét, giải quyết
các yêu cầu của nước ngoài về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt
tù; xem xét và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thực
hiện hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.
2. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; kiến
nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.
3. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ
Tư pháp tình hình thực hiện yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành
hình phạt tù.
Điều 66.
Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
1. Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên
quan xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ tương trợ
tư pháp với nước hữu quan.
2. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.
3. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ
Tư pháp tình hình áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ tương trợ tư
pháp với nước hữu quan.
Điều 67.
Trách nhiệm của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài
1. Thực hiện các ủy thác tư pháp có liên quan đến
công dân Việt Nam ở nước sở tại theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ở trong nước theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên và không trái với pháp luật của nước sở tại.
2. Tiếp nhận các yêu cầu ủy thác tư pháp của nước
ngoài và chuyển về cho các cơ quan có thẩm quyền trong nước.
3. Chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp của cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cho Bộ Ngoại giao của nước sở tại để chuyển cho cơ quan
có thẩm quyền của nước này xem xét, thực hiện.
Điều
68. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh[13]
1. Trách nhiệm của Tòa án
nhân dân khu vực:
a) Thực hiện ủy thác tư
pháp của nước ngoài theo quy định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định dẫn
độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù hoặc từ chối dẫn độ, chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của Luật này;
c) Tiến hành các hoạt động
tương trợ tư pháp khác theo thẩm quyền;
d) Báo cáo kết quả thực hiện
tương trợ tư pháp cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh để tổng hợp, báo cáo Tòa án nhân
dân tối cao.
2. Trách nhiệm của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh:
a) Xem xét kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt
tù theo thẩm quyền;
b) Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp
cho Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 69.
Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
1. Thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài theo
quy định của Luật này.
2. Tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp
khác theo thẩm quyền.
3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.
4. Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp
cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 70.
Trách nhiệm của cơ quan điều tra
1. Tiếp nhận hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự,
dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù từ cơ quan có thẩm quyền
chuyển đến.
2. Tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp về
hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định
của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp về
hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho cơ quan có
thẩm quyền.
ChươngVII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[14]
Điều 71. Hiệu
lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2008.
Điều 72. Hướng
dẫn thi hành
Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này./.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1]
Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.”.
[2]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm h khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm i khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm k khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm m khoản 11 Điều 2 của Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm l khoản 11 Điều 2 của Luật
số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14]
Điều 3 của Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.”.
Việc thi hành Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân được thực hiện theo Nghị quyết
số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và
luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.