|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 137/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 05
tháng 9 năm 2025
|
LUẬT
ĐẶC XÁ
Luật Đặc xá số 30/2018/QH14
ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2019, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 86/2025/QH15 ngày 25
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Đặc
xá[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định về nguyên tắc,
thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc xá; điều kiện,
quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của người được
đặc xá.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Người bị kết án phạt tù có
thời hạn, tù chung thân.
2. Cơ quan, tổ chức, công dân
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến hoạt động đặc xá.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Đặc xá là sự khoan hồng
đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người
bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn
của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.
2. Quyết định về đặc xá là
văn bản do Chủ tịch nước ban hành quy định thời điểm đặc xá, đối tượng, điều kiện
của người được đề nghị đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước
và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện đặc xá.
3. Quyết định đặc xá là
văn bản của Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án
phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
4. Hội đồng tư vấn đặc xá là
tổ chức liên ngành bao gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức có liên quan
do Chủ tịch nước quyết định thành lập để triển khai thực hiện Quyết định về đặc
xá và tham mưu, tư vấn cho Chủ tịch nước trong việc thực hiện hoạt động đặc xá.
5. Tổ thẩm định liên ngành là
tổ chức liên ngành bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan do Hội đồng
tư vấn đặc xá quyết định thành lập để thẩm định danh sách, hồ sơ của người được
đề nghị đặc xá.
Điều 4.
Nguyên tắc thực hiện đặc xá
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật;
bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Bảo đảm dân chủ, công bằng,
khách quan, công khai, minh bạch.
3. Bảo đảm yêu cầu về đối nội,
đối ngoại, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 5. Thời
điểm đặc xá
1. Chủ tịch nước xem xét, quyết
định về đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước.
2. Chủ tịch nước xem xét, quyết
định đặc xá trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của
Nhà nước mà không phụ thuộc vào thời điểm quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 6.
Chính sách của Nhà nước trong đặc xá
Nhà nước động viên, khuyến
khích người bị kết án phạt tù ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo
để được hưởng đặc xá; tạo điều kiện thuận lợi cho người được đặc xá hòa nhập cộng
đồng, ổn định cuộc sống, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa
tái phạm tội, vi phạm pháp luật.
Điều 7. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện đặc xá
1. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ,
quyền hạn để đề nghị đặc xá cho người không đủ điều kiện được đặc xá; không đề
nghị đặc xá cho người đủ điều kiện được đặc xá; cản trở người bị kết án phạt tù
thực hiện quyền được đề nghị đặc xá.
2. Đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi
giới hối lộ, nhũng nhiễu trong việc thực hiện đặc xá.
3. Cấp, xác nhận giấy tờ, tài
liệu liên quan đến người được đề nghị đặc xá trái quy định của pháp luật.
4. Từ chối cấp, xác nhận giấy tờ,
tài liệu mà theo quy định của pháp luật người được đề nghị đặc xá phải được cấp,
xác nhận.
5. Giả mạo giấy tờ, tài liệu
liên quan đến người được đề nghị đặc xá.
Chương II
ĐẶC XÁ NHÂN SỰ KIỆN TRỌNG
ĐẠI, NGÀY LỄ LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC
Mục 1.
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÌNH CHỦ TỊCH NƯỚC BAN HÀNH, CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH VỀ ĐẶC XÁ;
THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TƯ VẤN ĐẶC XÁ, TỔ THẨM ĐỊNH LIÊN NGÀNH
Điều 8.
Trình tự, thủ tục trình Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá
Theo yêu cầu của Chủ tịch nước
hoặc trong trường hợp Chính phủ đề nghị đặc xá được Chủ tịch nước chấp nhận,
Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xây dựng tờ trình của Chính phủ
và dự thảo Quyết định về đặc xá. Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá phải
được trình Chủ tịch nước chậm nhất là 60 ngày trước thời điểm đặc xá để Chủ tịch
nước xem xét, ban hành Quyết định về đặc xá.
Điều 9.
Công bố, thông báo, niêm yết Quyết định về đặc xá
1. Văn phòng Chủ tịch nước chủ
trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức công bố ngay Quyết định về đặc
xá. Quyết định về đặc xá được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
2.[2] Sau
khi được công bố, Quyết định về đặc xá được niêm yết tại trại giam, trại tạm
giam.
Điều 10.
Thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá, Tổ thẩm định liên ngành
1. Khi có Quyết định về đặc xá,
Chủ tịch nước quyết định thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá bao gồm Chủ tịch là
Phó Thủ tướng Chính phủ và các ủy viên là đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức
sau đây:
a) Tòa án nhân dân tối cao;
b) Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
c) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam;
d) Bộ Công an;
đ) Bộ Quốc phòng;
e) Bộ Tư pháp;
g) Bộ Ngoại giao;
h) Văn phòng Chính phủ;
i) Văn phòng Chủ tịch nước;
k) Cơ quan, tổ chức khác có
liên quan do Chủ tịch nước quyết định khi thấy cần thiết.
2. Thường trực Hội đồng tư vấn
đặc xá là Bộ Công an.
Thường trực Hội đồng tư vấn đặc
xá giúp Hội đồng tư vấn đặc xá thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều
35 của Luật này.
3. Tổ thẩm định liên ngành do Hội
đồng tư vấn đặc xá quyết định thành lập, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức
sau đây:
a) Tòa án nhân dân tối cao;
b) Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
c) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam;
d) Bộ Công an;
đ) Bộ Quốc phòng;
e) Bộ Tư pháp;
g) Cơ quan, tổ chức khác có
liên quan do Hội đồng tư vấn đặc xá quyết định khi thấy cần thiết.
Mục 2. ĐIỀU
KIỆN, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ ĐẶC XÁ
Điều 11. Điều
kiện của người được đề nghị đặc xá
1. Người đang chấp hành án phạt
tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù
có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a)[3] Có
nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và đủ số kỳ được xếp loại chấp hành án phạt
tù khá hoặc tốt do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá;
b) Đã chấp hành án phạt tù được
một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian
đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp
hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị
phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm
xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời
hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù.
Người bị kết án về tội phá hoại
việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết;
tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại
nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở
lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở
lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết
án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;
tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm
đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù được một thời gian
do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần hai thời gian đối với trường
hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành
án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án
phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt
tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm
xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời
hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
c) Đã chấp hành xong hình phạt
bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả
lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án
phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác do Chủ tịch nước quyết định
trong mỗi lần đặc xá;
đ) Đã thi hành xong hoặc thi
hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân
sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp
chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi
hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù không thuộc trường hợp quy định
tại điểm d khoản này.
Trường hợp phải thi hành nghĩa
vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản
không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý
hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;
e) Khi được đặc xá không làm ảnh
hưởng xấu đến an ninh, trật tự;
g) Không thuộc một trong các
trường hợp quy định tại Điều 12 của Luật này.
2. Người đang được tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức
cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của
pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi
có quyết định tạm đình chỉ;
b) Đã có thời gian chấp hành án
phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Các điều kiện quy định tại
các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
3. Người có đủ các điều kiện
quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản 2 Điều
này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so
với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a)[4] Đã lập
công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm
giam hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
b) Người có công với cách mạng
theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng
thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng
thưởng danh hiệu “Anh hùng Lao động”; người được tặng thưởng một trong các loại
Huân chương, Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người
có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ,
vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ
quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;
c) Người đang mắc bệnh hiểm
nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;
d) Khi phạm tội là người dưới
18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên;
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt
khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình;
g)[5] Phụ
nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam;
h) Người khuyết tật nặng hoặc
khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân
sự;
i) Trường hợp khác do Chủ tịch
nước quyết định.
4. Người dưới 18 tuổi đang chấp
hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này
hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều
kiện quy định tại điểm g khoản 1, điểm a và điểm d khoản 2 Điều này được Chủ tịch
nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 12.
Các trường hợp không được đề nghị đặc xá
Người có đủ điều kiện quy định
tại Điều 11 của Luật này không được đề nghị đặc xá khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
1. Bị kết án phạt tù về tội phản
bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội
xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền
nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu,
vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an
ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định
tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
của Bộ luật Hình sự;
2. Bản án, phần bản án hoặc quyết
định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự;
3. Đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội khác;
4. Trước đó đã được đặc xá;
5. Có từ 02 tiền án trở lên;
6. Trường hợp khác do Chủ tịch
nước quyết định.
Điều 13.
Quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá
1. Được phổ biến chính sách,
pháp luật về đặc xá; thông báo Quyết định về đặc xá, văn bản hướng dẫn của cơ
quan có thẩm quyền về điều kiện của người được đề nghị đặc xá và thông tin khác
về đặc xá liên quan đến người được đề nghị đặc xá.
2. Liên hệ với thân nhân để thu
thập giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá.
3. Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền cấp, xác nhận giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện
hồ sơ đề nghị đặc xá.
4. Cung cấp giấy tờ, tài liệu
theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền đề nghị đặc xá; khai báo đầy đủ, trung
thực thông tin về cá nhân liên quan đến việc đề nghị đặc xá.
5. Khiếu nại, tố cáo theo quy định
tại Chương V của Luật này.
Mục 3.
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐỀ NGHỊ ĐẶC XÁ, THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẶC XÁ
Điều 14. Hồ
sơ đề nghị đặc xá
1. Đơn đề nghị đặc xá.
2. Tài liệu chứng minh về cá
nhân, hoàn cảnh gia đình của người được đề nghị đặc xá.
3. Tài liệu chứng minh đã chấp
hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí. Trường hợp được miễn
chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí phải có quyết định của Tòa án có thẩm
quyền.
Người bị kết án phạt tù về các
tội phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 của Luật này phải
có tài liệu chứng minh đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường
thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác.
Người thuộc trường hợp quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều 11 của Luật này phải có tài liệu chứng
minh đã thi hành xong hoặc có tài liệu chứng minh đã thi hành được một phần
nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác và có
quyết định của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền về việc chưa có điều kiện
thi hành án. Trường hợp người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc
không yêu cầu thi hành án đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì
phải có văn bản của người được thi hành án có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Người thuộc trường hợp quy định
tại điểm c khoản 3 Điều 11 của Luật này phải có kết luận của
Hội đồng giám định y khoa, Bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên.
Người thuộc trường hợp quy định
tại điểm e khoản 3 Điều 11 của Luật này phải có xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú.
Người thuộc trường hợp quy định
tại điểm h khoản 3 Điều 11 của Luật này phải có Giấy xác nhận
khuyết tật của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú; quyết định của
Tòa án có thẩm quyền tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
4. Bản cam kết không vi phạm
pháp luật, chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung không phải là hình phạt tiền,
nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác sau khi được
đặc xá.
5. Văn bản đề nghị đặc xá của
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
Trường hợp người được đề nghị đặc
xá là người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì phải có văn bản đề nghị
đặc xá của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu và văn bản nhận
xét của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó về
việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù.
Điều 15.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá
1.[6] Ngay
sau khi nhận được Quyết định về đặc xá, trại giam, trại tạm giam phải niêm yết,
phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù biết.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến, người đang chấp hành án phạt
tù có thời hạn, tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn căn cứ
vào quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật này làm đơn đề
nghị đặc xá.
2.[7]
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến,
việc lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thực hiện
như sau:
a) Giám thị trại giam thuộc Bộ
Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá gửi Tổ
thẩm định liên ngành;
b) Giám thị trại tạm giam thuộc
Bộ Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, báo
cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp để gửi Tổ thẩm định liên ngành;
c) Giám thị trại tạm giam thuộc
Công an cấp tỉnh lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để gửi Tổ
thẩm định liên ngành;
d) Người bị kết án phạt tù đang
chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam bị trích xuất để phục vụ điều tra,
truy tố, xét xử nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội
khác, nếu đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thì Giám thị trại giam, Giám thị trại
tạm giam đang quản lý hồ sơ gốc của người đó lập hồ sơ đề nghị đặc xá. Giám thị
trại tạm giam nhận người bị trích xuất nhưng không quản lý hồ sơ gốc có trách
nhiệm phối hợp với cơ quan đang quản lý hồ sơ gốc của người đó lập hồ sơ đề nghị
đặc xá;
đ) Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, báo
cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để gửi Tổ thẩm
định liên ngành.
3.[8]
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được công bố, thông báo
trên phương tiện thông tin đại chúng, Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù có trách nhiệm thông báo Quyết định về đặc xá cho người
đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá gửi Tổ thẩm định liên ngành.
Trường hợp người đang được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù cư trú ở địa phương ngoài phạm vi địa giới hành
chính của Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thì Tòa án đã ra quyết định tạm
đình chỉ thông báo cho Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực nơi người
đang được tạm đình chỉ cư trú lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc
xá, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ để tổng hợp, gửi Tổ thẩm định
liên ngành.
4.[9] Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo, niêm yết công
khai danh sách người được đề nghị đặc xá.
5. Giám thị trại giam thuộc Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền quy định tại Điều 30 của Luật này về kết quả
lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá để kiểm sát trước khi gửi Tổ
thẩm định liên ngành.
6. Giám thị trại giam thuộc Bộ
Công an, Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp trại tạm giam thuộc Bộ Công an,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh
án Tòa án quân sự cấp quân khu căn cứ kết quả thẩm định của Tổ thẩm định liên
ngành lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá và danh
sách, hồ sơ của người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá gửi Thường trực Hội đồng
tư vấn đặc xá.
7. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, hướng dẫn thực hiện Điều này.
Điều 16.
Thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá
1. Tổ thẩm định liên ngành thẩm
định danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
15 của Luật này gửi danh sách, hồ sơ cho Tổ thẩm định liên ngành.
2. Tổ thẩm định liên ngành tổng
hợp kết quả thẩm định, lập biên bản thẩm định kèm theo danh sách người đủ điều
kiện được đề nghị đặc xá, danh sách người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá, gửi
cho người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 15
của Luật này để hoàn thiện danh sách, hồ sơ người đủ điều kiện được đề nghị
đặc xá theo kết quả thẩm định và chuyển đến Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá
hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền chuyển đến Thường trực Hội đồng tư vấn đặc
xá theo quy định tại khoản 6 Điều 15 của Luật này.
Điều 17.
Thẩm tra, duyệt, kiểm tra hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách
đề nghị đặc xá
1. Thường trực Hội đồng tư vấn
đặc xá tập hợp danh sách, hồ sơ người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, người
không đủ điều kiện đề nghị đặc xá do người có thẩm quyền quy định tại khoản 6 Điều 15 của Luật này lập theo kết quả thẩm định của Tổ
thẩm định liên ngành và chuyển danh sách kèm theo văn bản đề nghị đặc xá đến
các ủy viên Hội đồng tư vấn đặc xá để thẩm tra.
2. Ủy viên Hội đồng tư vấn đặc
xá nghiên cứu, thẩm tra danh sách, văn bản đề nghị đặc xá; trường hợp cần thiết
có thể yêu cầu Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá giải trình, gửi hồ sơ, cung cấp
tài liệu bổ sung. Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá có trách nhiệm tổng hợp ý
kiến của ủy viên Hội đồng tư vấn đặc xá, trình Hội đồng tư vấn đặc xá xem xét,
quyết định.
3. Hội đồng tư vấn đặc xá tổ chức
duyệt danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá do Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá
trình; tổng hợp và lập danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá để
trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
4. Văn phòng Chủ tịch nước rà
soát, kiểm tra danh sách, hồ sơ những người được Hội đồng tư vấn đặc xá đề nghị,
trình Chủ tịch nước quyết định.
Điều 18.
Thực hiện Quyết định đặc xá[10]
1. Văn phòng Chủ tịch nước chủ
trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức công bố Quyết định đặc xá.
Quyết định đặc xá được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Quyết định đặc xá và danh sách
người được đặc xá được niêm yết tại trại giam, trại tạm giam nơi người được đặc
xá đang chấp hành án và thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội nơi người đó về cư trú, làm việc; trường hợp người được đặc xá là
người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì thông báo bằng văn bản đến
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản
lý người đó.
2. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu tổ chức công bố
và thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá.
3. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; Giám thị trại giam thuộc quân khu
cấp chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm
giam được đặc xá.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh cấp chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt
tù tại trại tạm giam Công an cấp tỉnh được đặc xá.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu cấp chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù
tại trại tạm giam cấp quân khu được đặc xá.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu cấp chứng nhận đặc xá cho người đang được
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đặc xá.
4. Người đã cấp chứng nhận đặc
xá có trách nhiệm gửi bản sao chứng nhận đó đến Tòa án đã ra quyết định thi
hành án, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan thi
hành án dân sự đã ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án, Công an cấp xã, Ủy
ban nhân dân cấp xã, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người được đặc xá về cư trú,
làm việc, cơ quan nhận người bị trích xuất.
Trường hợp không xác định được
nơi người được đặc xá về cư trú thì cơ quan đã cấp chứng nhận đặc xá có trách
nhiệm liên hệ với Công an cấp xã hoặc tổ chức, đơn vị quân đội để tiếp nhận người
được đặc xá và gửi bản sao chứng nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó sẽ
về cư trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó về làm việc.
Điều 19.
Thực hiện Quyết định đặc xá đối với người nước ngoài
1. Khi có Quyết định đặc xá đối
với người nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại
giao thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người
được đặc xá là công dân biết và đề nghị phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 20.
Quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá
1. Người được đặc xá có quyền
sau đây:
a) Được cấp Giấy chứng nhận đặc
xá;
b) Được chính quyền địa phương,
cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan giúp đỡ để hòa nhập với gia đình và cộng
đồng, tạo điều kiện về việc làm, ổn định cuộc sống;
c) Được hưởng các quyền khác
như người đã chấp hành xong án phạt tù theo quy định của pháp luật.
2. Người được đặc xá có nghĩa vụ
sau đây:
a) Xuất trình Giấy chứng nhận đặc
xá với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó về cư
trú hoặc làm việc;
b) Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
đã cam kết;
c) Nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật.
3. Người được đặc xá là người
nước ngoài có các quyền quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này, phải thực
hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.
Điều 21.
Quy định chi tiết, hướng dẫn về hồ sơ đề nghị đặc xá, trình tự, thủ tục lập
danh sách, thẩm định, thẩm tra hồ sơ đề nghị đặc xá
1. Chính phủ quy định chi tiết
về hồ sơ đề nghị đặc xá, trình tự, thủ tục lập danh sách, thẩm định, thẩm tra
danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá và thực hiện Quyết định về đặc xá.
2. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan, tổ chức có
liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hướng dẫn, phối hợp thực
hiện việc lập danh sách, xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá.
Chương
III
ĐẶC XÁ TRONG TRƯỜNG HỢP
ĐẶC BIỆT
Điều 22.
Người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt
Trong trường hợp đặc biệt để
đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc
xá cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người đang được hoãn chấp
hành án phạt tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người đang
chấp hành án phạt tù chung thân mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại
Điều 11 và Điều 12 của Luật này.
Điều 23.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt
1. Theo yêu cầu của Chủ tịch nước
hoặc trong trường hợp Chính phủ đề nghị đặc xá được Chủ tịch nước chấp nhận,
Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ đề nghị đặc xá trình Chủ
tịch nước xem xét, quyết định.
2. Bộ Công an chịu trách nhiệm
lập hồ sơ đề nghị đặc xá của người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù
chung thân báo cáo Chính phủ để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Tòa án nhân dân tối cao chịu
trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị đặc xá của người đang được hoãn chấp hành án phạt
tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù gửi Chính phủ để trình Chủ
tịch nước xem xét, quyết định.
3. Văn phòng Chủ tịch nước rà
soát, kiểm tra hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trình Chủ tịch nước quyết định.
Điều 24.
Thực hiện Quyết định đặc xá trong trường hợp đặc biệt
1. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định đặc xá trong trường hợp đặc
biệt.
2. Việc thực hiện Quyết định đặc
xá đối với người nước ngoài trong trường hợp đặc biệt được áp dụng theo quy định
tại Điều 19 của Luật này.
3. Người được đặc xá trong trường
hợp đặc biệt có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 20 của Luật
này.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC TRONG VIỆC THỰC HIỆN ĐẶC XÁ
Điều 25.
Trách nhiệm của Chính phủ
1. Đề nghị Chủ tịch nước đặc xá
nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước và trong trường hợp đặc biệt.
2. Chỉ đạo việc tổ chức tuyên
truyền, phổ biến về ý nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá.
3. Chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, các cơ quan khác của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện đặc
xá theo quy định của Luật này.
Điều 26.
Trách nhiệm của Văn phòng Chủ tịch nước
1. Rà soát, kiểm tra danh sách,
hồ sơ những người được Hội đồng tư vấn đặc xá hoặc Chính phủ đề nghị, trình Chủ
tịch nước quyết định.
2. Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan có liên quan tổ chức công bố Quyết định về đặc xá, Quyết định đặc xá.
3. Thực hiện nhiệm vụ khác về đặc
xá được Chủ tịch nước giao.
Điều 27.
Trách nhiệm của Bộ Công an
1.[11] Chủ
trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên
quan kiểm tra hoạt động đặc xá tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
2. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thực hiện việc lập danh sách, hồ sơ đề
nghị đặc xá, tổ chức thực hiện Quyết định về đặc xá, Quyết định đặc xá theo quy
định của Luật này.
3. Chỉ đạo công an các cấp phối
hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc quản lý, giáo dục và giúp đỡ
người được đặc xá trở về địa phương, hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và
phòng ngừa tái phạm tội, vi phạm pháp luật.
Điều 28.
Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng
Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc lập danh sách, hồ sơ đề
nghị đặc xá, tổ chức thực hiện Quyết định về đặc xá, Quyết định đặc xá theo quy
định của Luật này.
Điều 29.
Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao
1. Phối hợp với Chính phủ, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động
đặc xá.
2.[12] Hướng
dẫn, kiểm tra, đôn đốc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa
án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực lập danh sách, hồ sơ đề nghị đặc
xá, tổ chức thực hiện Quyết định về đặc xá, Quyết định đặc xá theo quy định của
Luật này.
Điều 30.
Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1. Trực tiếp kiểm sát việc lập
hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá tại trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định tại khoản 1, các điểm a, b,
d và đ khoản 2, khoản 4 Điều 15 và Điều 18 của Luật này. Khi xét thấy cần
thiết, trực tiếp kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc
xá tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
quân sự cấp quân khu thuộc thẩm quyền kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hiện
kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá tại trại tạm
giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
quy định tại khoản 1, các điểm c, d và đ khoản 2, khoản 3 và khoản
4 Điều 15 và Điều 18 của Luật này.
3. Thực hiện, hướng dẫn việc thực
hiện quyền yêu cầu, kiến nghị khi kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá, thực
hiện Quyết định đặc xá; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại theo quy định tại Điều 37 của Luật này.
Điều 31.
Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1.[13] Chỉ
đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu,
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu,
Tòa án quân sự khu vực, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân
khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát quân sự khu vực
trong việc:
a) Cung cấp thông tin, giấy tờ
có liên quan đến nghĩa vụ thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự
của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá;
b) Nhận, chuyển giao giấy tờ,
tiền, tài sản mà người phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường
thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác đã nộp.
2. Phối hợp với Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, tổ chức khác thực hiện các hoạt
động khác liên quan đến công tác đặc xá theo quy định của Luật này.
Điều 32.
Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
1. Đề xuất Chính phủ trình Chủ
tịch nước xem xét, quyết định đặc xá cho đối tượng quy định tại Điều
22 của Luật này là người nước ngoài theo quy định tại Điều
23 của Luật này.
2. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng và các Bộ, ngành có liên quan thực hiện tuyên truyền đối ngoại về
công tác đặc xá; phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá
là người nước ngoài và thực hiện các hoạt động khác liên quan đến công tác đặc
xá theo quy định của Luật này.
Điều 33.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức có liên quan
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật về đặc xá, Quyết định về đặc xá.
2. Cung cấp thông tin, tài liệu
có liên quan đến nhân thân; cấp giấy chứng nhận, xác nhận về việc chấp hành
chính sách, pháp luật, hoàn cảnh gia đình hoặc giấy tờ, tài liệu cần thiết khác
của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá.
3. Tiếp nhận, giúp đỡ người được
đặc xá trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng, tạo điều kiện về việc làm, ổn
định cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm tội, vi
phạm pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản
3 Điều này.
Điều 34.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận
1. Phối hợp với các cơ quan, tổ
chức có liên quan tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đặc xá, Quyết định về đặc
xá.
2. Phối hợp với chính quyền địa
phương giúp đỡ người được đặc xá trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng, tạo
điều kiện về việc làm, ổn định cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội,
phòng ngừa tái phạm tội, vi phạm pháp luật.
3. Giám sát việc thực hiện pháp
luật về đặc xá theo quy định của pháp luật.
Điều 35.
Trách nhiệm của Hội đồng tư vấn đặc xá
1. Tổ chức triển khai thực hiện
Quyết định về đặc xá.
2. Thẩm tra, duyệt hồ sơ đề nghị
đặc xá, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, danh sách người không
đủ điều kiện đề nghị đặc xá do Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá trình.
3. Tổng hợp, lập danh sách người
đủ điều kiện được đề nghị đặc xá trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
4. Thực hiện nhiệm vụ khác về đặc
xá được Chủ tịch nước giao.
Chương V
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG
THỰC HIỆN ĐẶC XÁ
Điều 36.
Khiếu nại về việc lập danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá nhân sự
kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước
1. Người có đơn xin đặc xá có quyền
khiếu nại về việc người đó có đủ điều kiện được đề nghị đặc xá nhưng không được
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu đưa vào danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá.
2. Người khiếu nại có thể tự
mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khiếu nại đến người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này.
3. Thời hạn khiếu nại là 05
ngày kể từ ngày thông báo, niêm yết danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này.
Điều 37.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại
1. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu có trách nhiệm giải quyết khiếu nại
trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết khiếu nại
phải được gửi ngay cho người khiếu nại và Viện kiểm sát đã thực hiện kiểm sát việc
lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá quy định tại Luật
này.
2. Trường hợp không đồng ý với
quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định giải quyết khiếu
nại, người khiếu nại có quyền tiếp tục khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát quy định
tại khoản 1 Điều này có quyền kiến nghị đến Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm giải quyết, nếu chấp nhận
khiếu nại, kiến nghị thì đưa vào danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá; nếu không chấp nhận thì đưa vào danh sách người không đủ điều kiện đề nghị
đặc xá; đồng thời thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, Viện kiểm sát kiến
nghị.
Điều 38. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện đặc xá
Cá nhân có quyền tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật trong thực hiện đặc xá.
Việc tố cáo và giải quyết tố
cáo trong thực hiện đặc xá được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố
cáo.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[14]
Điều 39. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2019.
2. Luật Đặc xá số 07/2007/QH12 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Cục Kiểm tra VBQPPL, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Trung
|
[1] Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15.”.
[2] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[3] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[4] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[5] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[6] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[7] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[8] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[9] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[10] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[11] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[12] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[13] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[14] Điều
3 và Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 4. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025, Luật này được áp dụng như sau:
a) Các quy định tại Điều 1 của
Luật này được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối
với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025;
b) Quy định có lợi cho người phạm tội tại các điều 40, 63, 109, 110, 114, 194,
248, 250, 251, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số
59/2024/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) được sửa đổi, bổ sung tại các khoản
1, 4, 5, 6, 7, 10, 18, 22, 23 và 29 Điều 1 của Luật này và các quy định khác có
lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy
ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới bị phát
hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử;
c) Quy định không có lợi cho
người phạm tội tại các điều 63, 192, 193, 194, 195, 235, 236, 237, 238,
239, 240, 241, 242, 243, 244, 245, 246, 248, 249, 250, 251, 252, 255, 317, 353,
354, 355, 356, 357, 358 và 359 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại
các khoản 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21, 22, 23,
24, 25, 26, 27 và 28 Điều 1 của Luật này và các quy định khác không có lợi cho
người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00
phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới phát hiện hoặc đang bị điều
tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành
hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, áp dụng quy định tương ứng của
các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày
01 tháng 7 năm 2025 để giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
d) Đối với những hành vi phạm
tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00
phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì không căn cứ vào những quy định của Luật này
có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị
giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước
ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì việc xét xử giám đốc thẩm được áp dụng quy định tại
điểm b và điểm c khoản này.
2. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại các điều 109, 110, 114, 194, 250, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự hoặc
thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 của Luật này mà chưa thi hành án thì không thi
hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình
thành tù chung thân.
3. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại Điều 248 hoặc Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi hành án thì không
thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân đối với các trường hợp sau:
a) Khối lượng, thể tích chất
ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt bằng hoặc thấp hơn khối
lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản
5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của
Luật này;
b) Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định
trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy
thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình
sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này mà người phạm tội
không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng
trở lên.
4. Người phạm tội về các tội quy định tại Điều
353 và Điều 354 của Bộ luật Hình sự mà theo quy định tại khoản 2 Điều này được
chuyển thành tù chung thân thì vẫn áp dụng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của
Luật này khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
5. Hình phạt tù chung thân đã tuyên trước ngày
01 tháng 7 năm 2025 khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội
về các tội quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật Hình sự thì không áp dụng
quy định tại điểm a khoán 4 Điều 1 của Luật này khi xét giảm mức hình phạt đã
tuyên.
6. Trách nhiệm triển khai, thi hành Luật này được
quy định như sau:
a) Giao Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp
với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có
liên quan tổ chức việc rà soát người bị kết án tử hình thuộc diện được chuyển từ
hình phạt tử hình thành tù chung thân để thực hiện theo quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều này:
b) Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối
hợp tổ chức rà soát các văn bản có liên quan để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ,
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với
quy định của Luật này.”.