|
VĂN
PHÒNG QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 124/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
BÁO CHÍ
Luật Báo chí số 103/2016/QH13
ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2017, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 35/2018/QH14 ngày 20
tháng 11 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên
quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;
2. Luật Khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Báo
chí[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về quyền tự
do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt
động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có
liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí tại nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 3.
Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Báo chí là sản phẩm
thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết,
hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn
tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo
điện tử.
2. Hoạt động báo chí là
hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có
tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải
chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo
điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình.
3. Báo in là loại hình
báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát
hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in.
4. Báo nói là loại hình
báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ
tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.
5. Báo hình là loại hình
báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết,
được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác
nhau.
6. Báo điện tử là loại
hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi
trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.
7. Tác phẩm báo chí là
đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo
hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.
8. Sản phẩm báo chí là
ấn phẩm, phụ trương của báo in; nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử; bản tin
thông tấn; kênh phát thanh, kênh truyền hình; chuyên trang của báo điện tử.
9. Bản tin thông tấn là
sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ của cơ quan thông tấn nhà nước, được thể hiện
bằng chữ viết, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh để chuyển tải tin tức thời sự
trong nước, thế giới hoặc thông tin có tính chất chuyên đề.
10. Chương trình phát thanh,
chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình
theo một chủ đề trong thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết
thúc.
11. Kênh phát thanh, kênh
truyền hình là sản phẩm báo chí, gồm các chương trình phát thanh, truyền
hình được sắp xếp ổn định, liên tục, được phát sóng trong khung giờ nhất định
và có dấu hiệu nhận biết.
12. Phụ trương là trang
tăng thêm ngoài số trang quy định và được phát hành cùng số chính của báo in.
13. Trang chủ là trang
thông tin hiển thị đầu tiên của báo điện tử, có địa chỉ tên miền quy định tại
giấy phép hoạt động báo điện tử.
14. Chuyên trang của báo điện
tử là trang thông tin về một chủ đề nhất định, phù hợp với tôn chỉ, mục
đích của báo điện tử, có tên miền cấp dưới của tên miền đã được quy định tại
giấy phép hoạt động báo điện tử.
15. Tạp chí điện tử là
sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành,
được truyền dẫn trên môi trường mạng.
16. Tạp chí khoa học là
sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để công bố kết quả nghiên cứu khoa học, thông
tin về hoạt động khoa học chuyên ngành.
17. Sản phẩm thông tin có
tính chất báo chí là sản phẩm thông tin được thể hiện bằng các thể loại báo
chí, được đăng trên bản tin, đặc san, trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp.
18. Bản tin là sản phẩm
thông tin có tính chất báo chí xuất bản định kỳ, sử dụng thể loại tin tức để
thông tin về hoạt động nội bộ, hướng dẫn nghiệp vụ, kết quả nghiên cứu, ứng
dụng, kết quả các cuộc hội thảo, hội nghị của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
19. Đặc san là sản phẩm
thông tin có tính chất báo chí xuất bản không định kỳ theo sự kiện, chủ đề.
20. Trang thông tin điện tử
tổng hợp là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí của cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp, cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở đăng đường dẫn truy cập
tới nguồn tin báo chí hoặc trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí
theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Điều 4.
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí
1. Báo chí ở nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã
hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.
2. Báo chí có nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a) Thông tin trung thực về tình
hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;
b) Tuyên truyền, phổ biến, góp
phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ
quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
c) Phản ánh và hướng dẫn dư
luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân;
d) Phát hiện, nêu gương người
tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các
hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;
đ) Góp phần giữ gìn sự trong
sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;
e) Mở rộng sự hiểu biết lẫn
nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của Nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.
Điều 5.
Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí
1.[2] Có chiến lược phát triển và quản lý hệ thống báo chí,
phương án phát triển cơ sở báo chí trong quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở
báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, cơ sở xuất bản, quy hoạch
vùng, quy hoạch tỉnh.
2. Đầu tư có trọng tâm, trọng
điểm trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và
quản lý hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại cho
các cơ quan báo chí.
3. Đặt hàng báo chí phục vụ
nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu
niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền
núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác phù hợp với từng giai
đoạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
4. Hỗ trợ cước vận chuyển báo
chí phục vụ nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 6. Nội
dung quản lý nhà nước về báo chí
1.[3] Xây dựng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến lược, kế
hoạch phát triển báo chí; tổ chức lập phương án phát triển cơ sở báo chí trong
quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở báo chí, phát thanh, truyền hình, thông
tin điện tử, cơ sở xuất bản, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
2. Ban hành và tổ chức thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về
báo chí.
3. Tổ chức thông tin cho báo
chí; quản lý thông tin của báo chí.
4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người làm báo
của các cơ quan báo chí và cán bộ quản lý báo chí.
5. Tổ chức quản lý hoạt động
khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí.
6. Cấp, thu hồi các loại giấy
phép trong hoạt động báo chí và thẻ nhà báo.
7. Quản lý hợp tác quốc tế về
báo chí, quản lý hoạt động của cơ quan báo chí Việt Nam liên quan đến nước
ngoài và hoạt động của báo chí nước ngoài tại Việt Nam.
8. Kiểm tra báo chí lưu chiểu;
quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí quốc gia.
9. Chỉ đạo, thực hiện chế độ
thông tin, báo cáo, thống kê và công tác khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động
báo chí.
10. Thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm pháp luật về báo chí.
Điều 7. Cơ
quan quản lý nhà nước về báo chí
1. Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về báo chí.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông
tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về
báo chí tại địa phương.
Điều 8. Hội
Nhà báo Việt Nam
1. Hội Nhà báo Việt Nam là tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, được thành lập và hoạt động theo quy định
của pháp luật về hội.
2. Hội Nhà báo Việt Nam có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của hội viên;
b) Ban hành và tổ chức thực
hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo;
c)[4] Tham gia ý kiến xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách
phát triển báo chí, phương án phát triển cơ sở báo chí trong quy hoạch phát
triển mạng lưới cơ sở báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, cơ
sở xuất bản, văn bản quy phạm pháp luật về báo chí;
d) Tham gia thẩm định sản phẩm
báo chí khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đ) Bồi dưỡng đạo đức nghề
nghiệp và nghiệp vụ báo chí cho hội viên;
e) Phối hợp với cơ quan quản lý
nhà nước tuyên truyền, phổ biến pháp luật về báo chí;
g) Tham gia giám sát việc tuân
theo pháp luật về báo chí; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế theo quy
định của pháp luật;
h) Tổ chức giải báo chí để tôn
vinh những tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm báo chí chất lượng cao, có hiệu
quả xã hội tích cực.
Điều 9. Các
hành vi bị nghiêm cấm
1. Đăng, phát thông tin chống
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung:
a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ
nhận chính quyền nhân dân;
b) Bịa đặt, gây hoang mang
trong Nhân dân;
c) Gây chiến tranh tâm lý.
2. Đăng, phát thông tin có nội
dung:
a) Gây chia rẽ giữa các tầng
lớp nhân dân, giữa Nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang
nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia
rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam;
c) Gây chia rẽ người theo tôn
giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau,
chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Phá hoại việc thực hiện
chính sách đoàn kết quốc tế.
3. Đăng, phát thông tin có nội
dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận
thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.
5. Tiết lộ thông tin thuộc danh
mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của
pháp luật.
6. Thông tin cổ súy các hủ tục,
mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội,
ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng.
7. Kích động bạo lực; tuyên
truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác;
thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.
8. Thông tin sai sự thật, xuyên
tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá
nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án.
9. Thông tin ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em.
10. In, phát hành, truyền dẫn,
phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm
báo chí đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu
hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính.
11. Cản trở việc in, phát hành,
truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí
hợp pháp tới công chúng.
12. Đe dọa, uy hiếp tính mạng,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương
tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp
luật.
13. Đăng, phát trên sản phẩm
thông tin có tính chất báo chí thông tin quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9 và 10 của Điều này.
Chương II
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ,
QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN
Điều 10.
Quyền tự do báo chí của công dân
1. Sáng tạo tác phẩm báo chí.
2. Cung cấp thông tin cho báo
chí.
3. Phản hồi thông tin trên báo
chí.
4. Tiếp cận thông tin báo chí.
5. Liên kết với cơ quan báo chí
thực hiện sản phẩm báo chí.
6. In, phát hành báo in.
Điều 11.
Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
1. Phát biểu ý kiến về tình
hình đất nước và thế giới.
2. Tham gia ý kiến xây dựng và
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3. Góp ý kiến, phê bình, kiến
nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.
Điều 12.
Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn
luận trên báo chí của công dân
1. Đăng, phát kiến nghị, phê
bình, tin, bài, ảnh và tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ,
mục đích và không có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này; trong trường hợp không đăng, phát
phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu.
2. Trả lời hoặc yêu cầu tổ
chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về
kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến.
Điều 13.
Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận
trên báo chí của công dân
1. Nhà nước tạo điều kiện thuận
lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo
chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
2. Báo chí, nhà báo hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền
tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
3. Báo chí không bị kiểm duyệt
trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Chương
III
TỔ CHỨC BÁO CHÍ
Mục 1. CƠ
QUAN CHỦ QUẢN BÁO CHÍ
Điều 14.
Đối tượng được thành lập cơ quan báo chí
1. Cơ quan của Đảng, cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc
tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam
được thành lập cơ quan báo chí.
2.[5] Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục
đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương
trở lên được thành lập cơ quan tạp chí khoa học.
Cơ quan tạp chí khoa học được
xuất bản nhiều tạp chí khoa học.
Điều 15.
Quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí
1. Cơ quan chủ quản báo chí là
cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 14 của Luật này đứng tên
đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí, thành lập và trực tiếp quản lý cơ quan
báo chí.
2. Cơ quan chủ quản báo chí có
những quyền hạn sau đây:
a) Xác định loại hình báo chí,
tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, ngôn ngữ thể hiện của từng loại hình,
từng loại sản phẩm báo chí, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của cơ quan báo
chí;
b) Bổ nhiệm người đứng đầu cơ
quan báo chí sau khi có sự thống nhất ý kiến bằng văn bản của Bộ Thông tin và
Truyền thông;
c) Miễn nhiệm, cách chức người
đứng đầu cơ quan báo chí và gửi văn bản thông báo về việc miễn nhiệm, cách chức
người đứng đầu cơ quan báo chí tới Bộ Thông tin và Truyền thông;
d) Thanh tra, kiểm tra hoạt
động của cơ quan báo chí; khen thưởng, kỷ luật theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan chủ quản báo chí có
những nhiệm vụ sau đây:
a) Chỉ đạo cơ quan báo chí thực
hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động; tổ chức nhân sự
và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí;
b) Bảo đảm nguồn kinh phí ban
đầu và điều kiện cần thiết cho hoạt động của cơ quan báo chí;
c) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
đối với cơ quan báo chí, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của
pháp luật.
4. Người đứng đầu cơ quan chủ
quản báo chí không được kiêm nhiệm chức vụ người đứng đầu cơ quan báo chí và
liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình đối với các sai phạm của cơ quan báo chí trực thuộc.
Mục 2. CƠ
QUAN BÁO CHÍ
Điều 16.
Cơ quan báo chí
Cơ quan báo chí là cơ quan ngôn
luận của các cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 14 của Luật này,
thực hiện một hoặc một số loại hình báo chí, có một hoặc một số sản phẩm báo
chí theo quy định của Luật này.
Điều 17.
Điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí
1. Xác định loại hình báo chí;
tôn chỉ, mục đích phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản; đối
tượng phục vụ; chương trình, thời gian, thời lượng, phương thức truyền dẫn,
phát sóng (đối với báo nói, báo hình); tên miền, nơi đặt máy chủ và đơn vị cung
cấp dịch vụ kết nối (đối với báo điện tử).
2. Có phương án về tổ chức và
nhân sự bảo đảm hoạt động của cơ quan báo chí; có người đủ tiêu chuẩn theo quy
định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này để đảm nhiệm chức vụ
người đứng đầu cơ quan báo chí.
3. Có tên và hình thức trình
bày tên cơ quan báo chí; tên và hình thức trình bày tên ấn phẩm báo chí; tên và
biểu tượng kênh phát thanh, kênh truyền hình; tên và hình thức trình bày tên
chuyên trang của báo điện tử.
4. Có trụ sở và các điều kiện
cơ sở vật chất, kỹ thuật; phương án tài chính; có các giải pháp kỹ thuật bảo
đảm an toàn, an ninh thông tin; đối với báo điện tử phải có ít nhất một tên
miền “.vn” đã đăng ký phù hợp với tên báo chí và sử dụng hệ thống máy chủ đặt
tại Việt Nam; đối với báo nói, báo hình phải có phương án, kế hoạch thuê hoặc
sử dụng hạ tầng truyền dẫn, phát sóng.
5.[6] Phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở báo chí,
phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, cơ sở xuất bản được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt.
Điều 18.
Giấy phép hoạt động báo chí
1. Cơ quan, tổ chức quy định
tại Điều 14 của Luật này, đủ điều kiện theo quy định tại Điều 17 của Luật này, có nhu cầu thành lập cơ quan báo chí, gửi
hồ sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền
thông cấp giấy phép hoạt động báo chí.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép hoạt động báo chí do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
2. Trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động
báo chí; trường hợp từ chối cấp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Sau khi được cấp giấy phép
hoạt động báo chí, cơ quan chủ quản báo chí ra quyết định thành lập cơ quan báo
chí và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4. Sau 03 tháng đối với báo in
và báo điện tử, 09 tháng đối với báo nói, báo hình, kể từ ngày giấy phép hoạt
động báo chí có hiệu lực, nếu cơ quan báo chí không được thành lập hoặc không
có sản phẩm báo chí thì giấy phép hết hiệu lực. Bộ Thông tin và Truyền thông ra
quyết định thu hồi giấy phép.
5. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày dự kiến chấm dứt hoạt động, cơ quan báo chí phải thông báo bằng văn bản
cho Bộ Thông tin và Truyền thông để thu hồi giấy phép hoạt động báo chí và
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
6. Trường hợp đã bị thu hồi
giấy phép hoạt động báo chí theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này, nếu
có nhu cầu cấp lại giấy phép, cơ quan chủ quản báo chí gửi văn bản đề nghị Bộ
Thông tin và Truyền thông cấp lại giấy phép. Trường hợp có thay đổi nội dung so
với giấy phép đã được cấp, cơ quan chủ quản gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 19.
Thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí
Trường hợp thay đổi cơ quan chủ
quản của cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản được ghi trên giấy phép có văn bản
thông báo chấm dứt hoạt động báo chí gửi Bộ Thông tin và Truyền thông; cơ quan,
tổ chức tiếp nhận cơ quan báo chí làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động
báo chí theo quy định tại Điều 18 của Luật này.
Điều 20.
Thay đổi nội dung ghi trong giấy phép hoạt động báo chí
1. Chậm nhất là 05 ngày kể từ
ngày thay đổi địa điểm trụ sở chính, điện thoại, fax, thư điện tử, thời gian
phát hành, đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối Internet, cơ quan báo chí phải thông
báo với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí.
2. Khi thay đổi tên gọi cơ quan
chủ quản báo chí, tên gọi cơ quan báo chí; tôn chỉ, mục đích; tên gọi ấn phẩm
báo chí, phụ trương, chuyên trang của báo điện tử, kênh phát thanh, kênh truyền
hình; địa điểm phát sóng, địa điểm trụ sở gắn với trung tâm tổng khống chế;
phương thức truyền dẫn, phát sóng; thời lượng kênh phát thanh, kênh truyền
hình; tên miền của chuyên trang và báo điện tử, cơ quan chủ quản phải có hồ sơ
đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung giấy phép.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị sửa đổi,
bổ sung giấy phép hoạt động báo chí do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông
quy định.
3. Khi thay đổi hình thức trình
bày, vị trí của tên ấn phẩm báo chí, phụ trương; biểu tượng kênh phát thanh,
kênh truyền hình; kỳ hạn xuất bản, số trang, khuôn khổ và những nội dung thay
đổi không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cơ quan chủ quản báo chí có
văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông. Việc thay đổi chỉ được thực hiện
sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Điều 21.
Loại hình hoạt động và nguồn thu của cơ quan báo chí
1.[7] Cơ quan báo chí hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp
có thu.
Cơ quan tạp chí khoa học hoạt
động phù hợp với loại hình của cơ quan chủ quản.
2. Nguồn thu của cơ quan báo
chí gồm:
a) Nguồn thu do cơ quan chủ
quản báo chí cấp;
b) Thu từ bán báo, bán quyền
xem các sản phẩm báo chí, quảng cáo, trao đổi, mua bán bản quyền nội dung;
c) Thu từ hoạt động kinh doanh,
dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí;
d) Nguồn thu từ tài trợ hợp
pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Điều 22.
Văn phòng đại diện, phóng viên thường trú của cơ quan báo chí
1. Điều kiện đặt văn phòng đại
diện gồm:
a) Có trụ sở để đặt văn phòng
đại diện;
b) Trưởng văn phòng đại diện
phải có thẻ nhà báo được cấp tại cơ quan báo chí có văn phòng đại diện và không
bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên theo quy định của pháp luật về công
chức, viên chức và pháp luật về lao động trong thời hạn 01 năm tính đến thời
điểm đặt văn phòng đại diện.
2. Phóng viên thường trú hoạt
động độc lập phải có thẻ nhà báo được cấp tại cơ quan báo chí cử phóng viên
thường trú và không bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên theo quy định
của pháp luật về công chức, viên chức và pháp luật về lao động trong thời hạn
01 năm tính đến khi cử phóng viên thường trú.
3. Trước khi bắt đầu hoạt động
15 ngày, cơ quan báo chí có đủ điều kiện và có nhu cầu đặt văn phòng đại diện
tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu
chính một bộ hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan báo chí đặt văn
phòng đại diện để thông báo. Hồ sơ gồm:
a) Văn bản gửi Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh về việc đặt văn phòng đại diện có ý kiến chấp thuận của cơ quan chủ
quản báo chí;
b) Bản sao giấy phép hoạt động
báo chí có xác nhận của cơ quan báo chí hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu;
c) Tài liệu chứng minh đáp ứng
đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
d) Danh sách nhân sự văn phòng
đại diện;
đ) Sơ yếu lý lịch, bản sao thẻ
nhà báo của trưởng văn phòng đại diện, sơ yếu lý lịch của phóng viên thường trú
thuộc văn phòng đại diện có xác nhận của cơ quan báo chí hoặc bản sao kèm bản
chính để đối chiếu;
e) Văn bản quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của văn phòng đại diện.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
trách nhiệm kiểm tra các điều kiện hoạt động của văn phòng đại diện; trường hợp
không đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản yêu cầu cơ quan báo chí
chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện và xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Cơ quan báo chí chưa có văn
phòng đại diện, có nhu cầu cử phóng viên thường trú hoạt động độc lập tại các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính
một bộ hồ sơ thông báo hoạt động của phóng viên thường trú đến Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh nơi phóng viên thường trú hoạt động. Hồ sơ gồm:
a) Văn bản cử phóng viên thường
trú của cơ quan báo chí;
b) Bản sao giấy phép hoạt động
báo chí có xác nhận của cơ quan báo chí hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu;
c) Sơ yếu lý lịch, bản sao thẻ
nhà báo của phóng viên thường trú có xác nhận của cơ quan báo chí hoặc bản sao
kèm bản gốc để đối chiếu.
6. Chậm nhất là 05 ngày trước
khi có sự thay đổi về địa điểm, trưởng văn phòng đại diện, phóng viên thường
trú hoặc đình chỉ, chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện, phóng viên thường
trú, cơ quan báo chí thông báo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
đặt văn phòng đại diện, nơi có phóng viên thường trú hoạt động.
7. Hoạt động của văn phòng đại
diện, phóng viên thường trú phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo
chí; đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm do cơ quan báo chí giao và tuân thủ
quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.
8. Văn phòng đại diện, phóng
viên thường trú ngừng hoạt động ngay sau khi cơ quan báo chí có văn phòng đại
diện, phóng viên thường trú bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí hoặc phóng
viên thường trú độc lập bị thu hồi thẻ nhà báo theo quyết định của Bộ Thông tin
và Truyền thông.
Mục 3.
NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN BÁO CHÍ
Điều 23.
Người đứng đầu cơ quan báo chí
1. Người đứng đầu cơ quan báo
chí là Tổng biên tập (đối với báo in, báo điện tử), là Tổng giám đốc hoặc giám
đốc (đối với báo nói, báo hình).
2. Tiêu chuẩn bổ nhiệm người
đứng đầu cơ quan báo chí gồm:
a) Là công dân Việt Nam, có địa
chỉ thường trú tại Việt Nam;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học
trở lên. Người đứng đầu cơ quan báo chí thuộc các tổ chức tôn giáo không áp
dụng tiêu chuẩn này;
c)[8] Có thẻ nhà báo còn hiệu lực. Người đứng đầu cơ quan báo
chí thuộc tổ chức tôn giáo, cơ quan tạp chí khoa học không áp dụng tiêu chuẩn
này.
d) Có phẩm chất đạo đức tốt;
không trong thời gian thi hành hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên theo
quy định của pháp luật về công chức, viên chức và pháp luật về lao động.
Điều 24.
Nhiệm vụ và quyền hạn của người đứng đầu cơ quan báo chí
1. Chịu trách nhiệm trước cơ
quan chủ quản báo chí và trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan báo chí
trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
2. Xây dựng và tổ chức thực
hiện kế hoạch hoạt động của cơ quan báo chí.
3. Phê duyệt kết cấu nội dung
ấn phẩm; kênh, chương trình phát thanh, truyền hình; báo, chuyên trang của báo
điện tử.
4. Chỉ đạo thực hiện đúng tôn
chỉ, mục đích và các quy định ghi trong giấy phép.
5. Quản lý nhân sự, tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng nhà báo, phóng viên, nhân viên; quản lý tài sản, cơ sở vật chất
của cơ quan báo chí.
6. Không được đảm nhiệm chức
danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan báo chí khác.
Mục 4. NHÀ
BÁO
Điều 25.
Quyền và nghĩa vụ của nhà báo
1. Nhà báo là người hoạt động
báo chí được cấp thẻ nhà báo.
2. Nhà báo có các quyền sau
đây:
a) Hoạt động báo chí trên lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động báo chí ở nước ngoài
theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề
nghiệp;
b) Được khai thác, cung cấp và
sử dụng thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật;
c) Được đến các cơ quan, tổ
chức để hoạt động nghiệp vụ báo chí. Khi đến làm việc, nhà báo chỉ cần xuất
trình thẻ nhà báo. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp cho nhà báo
những tư liệu, tài liệu không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật đời tư của
cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật;
d) Được hoạt động nghiệp vụ báo
chí tại các phiên tòa xét xử công khai; được bố trí khu vực riêng để tác
nghiệp; được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật;
đ) Được đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ chính trị, nghiệp vụ báo chí;
e) Khước từ việc tham gia biên
soạn hoặc thể hiện tác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật.
3. Nhà báo có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Thông tin trung thực về tình
hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;
phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân;
b) Bảo vệ quan điểm, đường lối,
chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên
truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi
sai phạm;
c) Không được lạm dụng danh
nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật;
d) Phải cải chính, xin lỗi
trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín
của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
đ) Chịu trách nhiệm trước pháp
luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của
mình và về những hành vi vi phạm pháp luật;
e) Tuân thủ quy định về đạo đức
nghề nghiệp của người làm báo.
Điều 26.
Đối tượng được xét cấp thẻ nhà báo
1. Tổng giám đốc, phó tổng giám
đốc, giám đốc, phó giám đốc, tổng biên tập, phó tổng biên tập cơ quan báo chí,
thông tấn.
2. Trưởng phòng (ban), phó
trưởng phòng (ban) nghiệp vụ báo chí của cơ quan báo chí, thông tấn.
3. Phóng viên, biên tập viên
của cơ quan báo chí, thông tấn.
4. Người quay phim, đạo diễn
chương trình phát thanh, truyền hình (trừ phim truyện) của các đơn vị được cấp
giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình và sản xuất
phim tài liệu của Nhà nước.
5. Phóng viên, biên tập viên,
người phụ trách công tác phóng viên, biên tập ở đài truyền thanh, truyền hình
cấp huyện và tương đương.
6. Người đã được cấp thẻ nhà
báo nhưng được điều chuyển sang làm công việc khác vẫn tiếp tục có tác phẩm báo
chí được sử dụng, được cơ quan báo chí xác nhận, được xét cấp thẻ nhà báo trong
các trường hợp cụ thể sau:
a) Được điều động công tác tại
các đơn vị không trực tiếp thực hiện nghiệp vụ báo chí của cơ quan báo chí;
b) Được điều chuyển sang làm
công tác giảng dạy chuyên ngành báo chí tại các cơ sở giáo dục đại học theo quy
định của Luật Giáo dục đại học;
c) Được điều chuyển sang làm
cán bộ chuyên trách tại hội nhà báo các cấp, trực tiếp làm công tác quản lý nhà
nước về báo chí.
Điều 27.
Điều kiện, tiêu chuẩn được xét cấp thẻ nhà báo
1. Người công tác tại cơ quan
báo chí quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Luật này
được xét cấp thẻ nhà báo phải bảo đảm các điều kiện và tiêu chuẩn sau đây:
a) Là công dân Việt Nam, có địa
chỉ thường trú tại Việt Nam;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học
trở lên; trường hợp là người dân tộc thiểu số đang thực hiện các ấn phẩm báo
in, chương trình phát thanh, truyền hình, chuyên trang của báo điện tử bằng
tiếng dân tộc thiểu số phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên;
c)[9] Đối với trường hợp cấp thẻ lần đầu, phải có thời gian
công tác liên tục tại cơ quan báo chí đề nghị cấp thẻ từ 02 năm trở lên tính
đến thời điểm xét cấp thẻ, trừ tổng biên tập của cơ quan tạp chí khoa học và
trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
d) Được cơ quan báo chí hoặc cơ
quan công tác đề nghị cấp thẻ nhà báo.
2. Những trường hợp quy định
tại khoản 5 Điều 26 của Luật này được xét cấp thẻ nhà báo
phải bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều
này và phải bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây:
a) Là cộng tác viên thường
xuyên của đài phát thanh và truyền hình tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Có ít nhất mười hai tác phẩm
báo chí đã được phát sóng trên đài phát thanh và truyền hình tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương trong 01 năm tính đến thời điểm xét cấp thẻ;
c) Đối với trường hợp cấp thẻ
lần đầu, phải có thời gian công tác liên tục tại đài truyền thanh, truyền hình
cấp huyện và tương đương từ 02 năm trở lên tính đến thời điểm xét cấp thẻ;
d) Được đài phát thanh và
truyền hình tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị cấp thẻ nhà báo.
3. Các trường hợp sau đây không
được xét cấp thẻ nhà báo:
a) Không thuộc các đối tượng
quy định tại Điều 26 của Luật này;
b) Đã vi phạm quy định về đạo
đức nghề nghiệp của người làm báo;
c) Đã bị xử lý kỷ luật từ hình
thức khiển trách trở lên theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức và
pháp luật về lao động mà chưa hết thời hạn 12 tháng tính đến thời điểm xét cấp
thẻ;
d) Là đối tượng liên quan trong
các vụ án chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đ) Đã bị kết tội bằng bản án đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án mà chưa được xóa án tích;
e) Bị thu hồi thẻ nhà báo do vi
phạm quy định của pháp luật mà thời gian thu hồi thẻ chưa quá 12 tháng kể từ
ngày ra quyết định đến thời điểm xét cấp thẻ.
Điều 28.
Cấp, đổi, thu hồi thẻ nhà báo
1. Thẻ nhà báo cấp cho những
người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 27 của
Luật này để hoạt động báo chí.
2. Kỳ hạn cấp thẻ nhà báo là 05
năm. Thời hạn sử dụng thẻ nhà báo được ghi trên thẻ. Trong trường hợp đặc biệt,
việc gia hạn thời hạn sử dụng thẻ nhà báo do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền
thông quyết định.
Hết kỳ hạn của thẻ nhà báo, Bộ
Thông tin và Truyền thông xét cấp đổi thẻ nhà báo theo kỳ hạn mới.
3. Người đã được cấp thẻ nhà
báo khi chuyển sang làm việc tại cơ quan, đơn vị công tác khác mà vẫn thuộc đối
tượng được cấp thẻ nhà báo theo quy định tại Điều 26 của Luật
này thì phải làm thủ tục xin đổi thẻ nhà báo về cơ quan mới.
4. Trường hợp thẻ nhà báo bị
mất, bị hỏng, người đã được cấp thẻ nhà báo phải làm thủ tục xin cấp lại thẻ
nhà báo.
Đơn đề nghị cấp lại thẻ nhà báo
phải có ý kiến xác nhận của cơ quan báo chí, cơ quan công tác, công an xã,
phường, thị trấn nơi mất thẻ về trường hợp mất thẻ; trường hợp thẻ bị hỏng thì
phải gửi kèm theo thẻ cũ.
5. Người được cấp thẻ nhà báo
phải nộp lại thẻ nhà báo trong những trường hợp sau đây:
a) Người được cấp thẻ nhà báo
nhưng chuyển sang làm nhiệm vụ khác không còn là đối tượng được cấp thẻ nhà báo
theo quy định tại Điều 26 của Luật này; người được cấp thẻ
nhà báo đã nghỉ hưu; người đã hết thời hạn hợp đồng lao động nhưng không được
ký tiếp hợp đồng lao động mới hoặc không tiếp tục làm việc tại cơ quan báo chí;
b) Người được cấp thẻ nhà báo
làm việc tại cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí theo quyết
định của Bộ Thông tin và Truyền thông;
c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày có quyết định về các nội dung quy định tại điểm a và điểm b khoản này,
người đứng đầu cơ quan công tác của người được cấp thẻ nhà báo chịu trách nhiệm
thông báo bằng văn bản về các trường hợp quy định tại điểm a khoản này, thu lại
thẻ nhà báo và nộp về Bộ Thông tin và Truyền thông.
Trường hợp người được cấp thẻ
nhà báo không nộp lại thẻ, cơ quan báo chí có trách nhiệm thông báo trên sản
phẩm báo chí của mình, trừ trường hợp người phải nộp lại thẻ đã mất thẻ và báo
cáo bằng văn bản với Bộ Thông tin và Truyền thông;
d) Người thuộc đối tượng phải
nộp lại thẻ nhà báo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, trong thời hạn 06
tháng kể từ ngày nộp lại thẻ nhà báo nếu được một cơ quan báo chí tiếp nhận vào
làm việc theo chế độ hợp đồng từ 01 năm trở lên thì được xét đổi thẻ nhà báo
theo quy định tại khoản 3 Điều này.
6. Người được cấp thẻ nhà báo
bị thu hồi thẻ nhà báo trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm quy định về đạo đức
nghề nghiệp của người làm báo, về hoạt động nghiệp vụ báo chí, thông tin trên
báo chí hoặc sử dụng thẻ nhà báo không đúng mục đích gây hậu quả nghiêm trọng;
b) Bị cơ quan tiến hành tố tụng
quyết định khởi tố bị can. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra,
đình chỉ vụ án đối với nhà báo đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật tuyên nhà báo đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm
hình sự thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có trách nhiệm trả lại thẻ nhà
báo;
c) Bị cấp có thẩm quyền quyết
định xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc bị khiển trách hai lần
liên tục trong 02 năm theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức và
pháp luật về lao động;
d) Thôi việc nhưng không nộp
lại thẻ nhà báo.
7. Bộ Thông tin và Truyền thông
là cơ quan cấp, đổi, cấp lại và thu hồi thẻ nhà báo.
8. Hồ sơ, thủ tục cấp, đổi, cấp
lại và thu hồi thẻ nhà báo do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
Chương IV
HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
Mục 1.
THỰC HIỆN THÊM LOẠI HÌNH, SẢN PHẨM BÁO CHÍ; LIÊN KẾT TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
Điều 29.
Thực hiện thêm loại hình báo chí
1. Cơ quan báo chí có đủ điều
kiện theo quy định tại Điều 17 của Luật này nếu có nhu cầu
thực hiện thêm loại hình báo chí khác thì cơ quan chủ quản báo chí gửi hồ sơ
trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp
giấy phép.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép thực hiện thêm loại hình báo chí khác thực hiện theo quy định tại Điều 18 của Luật này.
2. Sau 03 tháng đối với báo in
và báo điện tử, 09 tháng đối với báo nói, báo hình kể từ ngày giấy phép hoạt
động báo chí có hiệu lực, nếu cơ quan báo chí không có sản phẩm báo chí thì giấy
phép hết hiệu lực. Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy
phép.
3. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày tạm ngừng thực hiện loại hình báo chí, cơ quan báo chí phải báo cáo bằng
văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông và thông báo trên phương tiện thông
tin đại chúng.
Trường hợp tạm ngừng thực hiện
loại hình báo chí quá thời gian quy định tại khoản 2 Điều này thì Bộ Thông tin
và Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.
4. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày chấm dứt thực hiện loại hình báo chí, cơ quan báo chí phải thông báo
bằng văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông để thu hồi giấy phép và thông báo
trên phương tiện thông tin đại chúng.
5. Trường hợp đã bị thu hồi
giấy phép theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này, nếu có nhu cầu cấp
lại giấy phép thì cơ quan chủ quản báo chí gửi văn bản đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp lại giấy phép. Trường hợp có thay đổi nội dung so với giấy
phép đã được cấp, cơ quan chủ quản báo chí gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 30.
Điều kiện xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh phát
thanh, kênh truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử
1. Có tôn chỉ, mục đích phù hợp
với tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; đối tượng phục vụ; nơi đặt máy chủ
và đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối (đối với chuyên trang của báo điện tử) phù
hợp với nội dung giấy phép hoạt động của cơ quan báo chí.
2. Có phương án về tổ chức và
nhân sự bảo đảm hoạt động của ấn phẩm báo chí, phụ trương, kênh phát thanh,
kênh truyền hình, chuyên trang của báo điện tử.
3. Có tên và hình thức trình
bày tên ấn phẩm báo chí, phụ trương; tên và biểu tượng kênh phát thanh, kênh
truyền hình; tên và giao diện trang chủ chuyên trang của báo điện tử.
4. Có các điều kiện cơ sở vật
chất, kỹ thuật; phương án tài chính; có các giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn,
an ninh thông tin; có tên miền cấp dưới phù hợp với tên miền đã đăng ký đối với
chuyên trang của báo điện tử; có phương án, kế hoạch thuê hoặc sử dụng hạ tầng
truyền dẫn, phát sóng đối với kênh phát thanh, kênh truyền hình.
Điều 31.
Cấp giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh
phát thanh, kênh truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử
1. Cơ quan báo chí có đủ điều
kiện theo quy định tại Điều 30 của Luật này có nhu cầu xuất
bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh phát thanh, kênh
truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử, cơ quan chủ quản báo chí gửi hồ
sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông
cấp giấy phép.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh phát thanh,
kênh truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử do Bộ trưởng Bộ Thông tin và
Truyền thông quy định.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm cấp giấy
phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh phát thanh,
kênh truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử. Trường hợp từ chối cấp, Bộ
Thông tin và Truyền thông phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Sau 02 tháng kể từ ngày giấy
phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương, mở chuyên trang của báo điện
tử, 06 tháng kể từ ngày giấy phép sản xuất thêm kênh phát thanh, kênh truyền
hình có hiệu lực, nếu cơ quan báo chí không có sản phẩm báo chí thì giấy phép
hết hiệu lực. Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.
4. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày tạm ngừng xuất bản ấn phẩm báo chí, phụ trương, sản xuất kênh phát thanh,
kênh truyền hình, chuyên trang của báo điện tử, cơ quan báo chí phải thông báo
bằng văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông và trên phương tiện thông tin đại
chúng.
Trường hợp tạm ngừng quá 03
tháng đối với ấn phẩm báo chí, phụ trương, chuyên trang của báo điện tử, 06
tháng đối với việc sản xuất kênh phát thanh, kênh truyền hình, Bộ Thông tin và
Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.
5. Chậm nhất là 30 ngày trước
khi chấm dứt xuất bản ấn phẩm báo chí, phụ trương, sản xuất kênh phát thanh,
kênh truyền hình, chuyên trang của báo điện tử, cơ quan báo chí phải thông báo
bằng văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông để thu hồi giấy phép và thông báo
trên phương tiện thông tin đại chúng.
6. Trường hợp đã bị thu hồi
giấy phép theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này, nếu có nhu cầu cấp
lại giấy phép thì cơ quan chủ quản báo chí gửi văn bản đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp lại giấy phép. Trường hợp có thay đổi nội dung so với giấy
phép đã được cấp, cơ quan chủ quản báo chí gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 32.
Xuất bản bản tin thông tấn
Cơ quan thông tấn nhà nước có
nhu cầu xuất bản bản tin thông tấn gửi thông báo bằng văn bản tới Bộ Thông tin
và Truyền thông.
Điều 33.
Biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả
tiền
1.[10] Việc cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước
ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền được thực hiện với từng
kênh chương trình và phù hợp với chiến lược, kế hoạch và chính sách của Nhà
nước về phát triển và quản lý báo chí toàn quốc.
2. Điều kiện cấp giấy phép gồm:
a) Là cơ quan báo chí có giấy
phép hoạt động phát thanh, truyền hình;
b) Có văn bản đề nghị cấp giấy
phép biên tập của cơ quan báo chí. Trường hợp là cơ quan báo chí thuộc bộ,
ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì phải có văn bản chấp thuận của
cơ quan chủ quản báo chí;
c) Có nhân sự đáp ứng yêu cầu
về trình độ chuyên môn báo chí, có thẻ nhà báo còn hiệu lực và trình độ ngoại
ngữ phù hợp với kênh chương trình nước ngoài đề nghị cấp giấy phép biên tập;
d) Có năng lực kỹ thuật đáp ứng
yêu cầu biên tập, gồm hệ thống thiết bị làm chậm, thiết bị lưu trữ, phương tiện
kỹ thuật thu phát tín hiệu phù hợp với việc biên tập kênh chương trình; bảo đảm
công tác biên tập, biên dịch được thực hiện tại Việt Nam;
đ) Có dự toán chi phí biên tập,
biên dịch trong 01 năm và văn bản chứng minh nguồn tài chính hợp pháp bảo đảm
thực hiện công tác biên tập, biên dịch theo dự toán;
e) Có bản quyền hoặc văn bản
cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam theo quy định
của pháp luật.
3. Trình tự, thủ tục cấp giấy
phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình
trả tiền được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cơ quan báo chí có nhu cầu
biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả
tiền gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép do Chính phủ quy định;
b) Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm cấp giấy
phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình
trả tiền. Trường hợp từ chối cấp, Bộ Thông tin và Truyền thông phải thông báo
bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Thời gian hiệu lực của giấy
phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình
trả tiền được quy định trong từng giấy phép.
5. Sau 03 tháng kể từ ngày giấy
phép có hiệu lực, nếu cơ quan báo chí không thực hiện việc biên tập kênh chương
trình nước ngoài thì giấy phép hết hiệu lực. Bộ Thông tin và Truyền thông ra
quyết định thu hồi giấy phép.
6. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày tạm ngừng biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh,
truyền hình trả tiền, cơ quan báo chí phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Thông
tin và Truyền thông; trường hợp tạm ngừng quá 03 tháng thì Bộ Thông tin và
Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.
7. Chậm nhất là 30 ngày trước
ngày chấm dứt biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh,
truyền hình trả tiền, cơ quan báo chí phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Thông
tin và Truyền thông để thu hồi giấy phép.
8. Trường hợp đã bị thu hồi
giấy phép theo quy định tại các khoản 5, 6 và 7 Điều này, nếu có nhu cầu hoạt
động biên tập trở lại thì cơ quan báo chí gửi văn bản đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp lại giấy phép. Trường hợp có thay đổi nội dung so với giấy
phép đã được cấp, cơ quan báo chí gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và Truyền
thông cấp giấy phép theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 34.
Xuất bản bản tin
1. Bản tin phải bảo đảm các quy
định sau đây:
a) Khuôn khổ tối đa của bản tin
là 19cm x 27cm, số trang tối đa là 64 trang. Không được quảng cáo trong bản
tin;
b) Phần trên của trang một bản
tin phải đề chữ “BẢN TIN”, tên của bản tin sau hoặc dưới chữ “BẢN TIN”, tên cơ
quan, tổ chức xuất bản và ngày, tháng, năm xuất bản bản tin dưới tên của bản
tin;
c) Phần cuối của trang cuối bản
tin ghi rõ số, ngày, tháng, năm của giấy phép xuất bản, nơi in, số lượng, kỳ
hạn xuất bản, người chịu trách nhiệm xuất bản.
2. Điều kiện cấp giấy phép xuất
bản bản tin gồm:
a) Có người chịu trách nhiệm về
việc xuất bản bản tin;
b) Tổ chức bộ máy hoạt động phù
hợp bảo đảm cho việc xuất bản bản tin;
c) Xác định rõ tên bản tin, mục
đích xuất bản và nội dung thông tin, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành, ngôn
ngữ thể hiện, kỳ hạn xuất bản, khuôn khổ, số trang, số lượng, nơi in;
d) Có địa điểm làm việc chính
thức và các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc xuất bản bản tin.
3. Trình tự, thủ tục cấp giấy
phép xuất bản bản tin được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức của trung
ương; cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam có nhu cầu
xuất bản bản tin gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép trực tiếp hoặc qua hệ thống
bưu chính đến Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cơ quan, tổ chức ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương có nhu cầu xuất bản bản tin gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy
phép trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép xuất bản bản tin do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định;
b) Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm cấp giấy phép xuất bản bản tin; trường hợp từ chối cấp phải
thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Thời gian hiệu lực của giấy
phép xuất bản bản tin được quy định trong từng giấy phép nhưng không quá 01 năm
kể từ ngày cấp.
Đến thời hạn xuất bản ghi trên
giấy phép, cơ quan, tổ chức không xuất bản bản tin thì giấy phép hết hiệu lực;
Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thu hồi
giấy phép. Nếu có nhu cầu xuất bản bản tin thì cơ quan, tổ chức làm thủ tục xin
phép lại.
5. Chậm nhất là 15 ngày trước
ngày tạm ngừng hoặc chấm dứt xuất bản bản tin, cơ quan, tổ chức đã được cấp
giấy phép xuất bản bản tin phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Thông tin và
Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp chấm dứt xuất bản bản tin,
Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thu hồi
giấy phép.
6. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu
thay đổi một trong các nội dung ghi trong giấy phép xuất bản bản tin phải có
văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 35.
Xuất bản đặc san
1. Điều kiện cấp giấy phép xuất
bản đặc san gồm:
a) Có người có nghiệp vụ báo
chí chịu trách nhiệm về việc xuất bản đặc san;
b) Tổ chức bộ máy hoạt động phù
hợp bảo đảm cho việc xuất bản đặc san;
c) Xác định rõ tên đặc san, mục
đích xuất bản, nội dung thông tin, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành, ngôn
ngữ thể hiện, khuôn khổ, số trang, số lượng, nơi in, thời gian xuất bản;
d) Có địa điểm làm việc chính
thức của cơ quan, tổ chức xin cấp giấy phép.
2. Trình tự, thủ tục cấp giấy
phép xuất bản đặc san được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức có nhu cầu
xuất bản đặc san gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đề nghị Bộ
Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép;
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép xuất bản đặc san do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
b) Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm cấp giấy
phép xuất bản đặc san; trường hợp từ chối cấp phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do.
3. Thời gian hiệu lực của giấy
phép xuất bản đặc san được quy định trong từng giấy phép nhưng không quá 01 năm
kể từ ngày cấp.
Đến thời hạn xuất bản ghi trên
giấy phép, cơ quan, tổ chức không xuất bản đặc san thì giấy phép hết hiệu lực
và bị thu hồi. Nếu có nhu cầu xuất bản đặc san, cơ quan, tổ chức phải làm thủ
tục xin phép lại.
4. Chậm nhất là 15 ngày trước
ngày tạm ngừng hoặc chấm dứt xuất bản đặc san, cơ quan, tổ chức phải thông báo
bằng văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông. Trường hợp chấm dứt xuất bản đặc
san, Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.
5. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu
thay đổi một trong các nội dung ghi trong giấy phép xuất bản đặc san phải có
văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông.
Điều 36.
Trang thông tin điện tử tổng hợp
1. Trang thông tin điện tử tổng
hợp phải trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí và ghi rõ tên tác
giả, tên cơ quan báo chí, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.
2. Nội dung thông tin trên
trang thông tin điện tử tổng hợp không được vi phạm quy định tại khoản
13 Điều 9 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Cơ quan, tổ chức thiết lập
trang thông tin điện tử tổng hợp phải xây dựng quy trình quản lý thông tin; có
trách nhiệm kiểm tra, giám sát và chủ động loại bỏ những thông tin có nội dung
quy định tại khoản 13 Điều 9 của Luật này hoặc khi có yêu
cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
4. Cơ quan, tổ chức thiết lập
trang thông tin điện tử tổng hợp phải gỡ bỏ ngay nội dung thông tin đã tổng hợp
khi nguồn thông tin được trích dẫn gỡ bỏ nội dung thông tin đó.
5. Việc thiết lập trang thông
tin điện tử tổng hợp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
Điều 37.
Liên kết trong hoạt động báo chí
1. Cơ quan báo chí được phép
liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân
có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp
luật.
Người đứng đầu cơ quan báo chí
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy
định của pháp luật.
2. Cơ quan báo chí được phép
liên kết trong các lĩnh vực sau đây:
a) Thiết kế, trình bày, in,
quảng cáo, phát hành báo chí và nội dung thông tin quy định tại các điểm b, c,
d và đ khoản này;
b) Khai thác hoặc mua bản quyền
về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ,
thể thao, giải trí, quảng cáo và thông tin kinh tế của báo chí nước ngoài để
xuất bản tại Việt Nam;
c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài
được phép liên kết khai thác hoặc mua toàn bộ bản quyền về măng sét, nội dung
các ấn phẩm báo chí hợp pháp của Việt Nam để xuất bản tại nước ngoài;
d) Sản xuất chương trình, kênh
phát thanh, kênh truyền hình thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn
hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội;
đ) Sản xuất các sản phẩm báo
in, báo điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể
thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội.
3. Các chương trình liên kết
trên kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin,
tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh
thời sự - chính trị tổng hợp không vượt quá ba mươi phần trăm tổng thời lượng
chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh này.
4. Việc liên kết các chương
trình phát thanh, chương trình truyền hình giải trí, trò chơi truyền hình,
truyền hình thực tế có bản quyền, kịch bản chương trình nước ngoài phải được
Việt hóa, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.
5. Trường hợp cơ quan báo nói,
báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh, kênh truyền
hình thì số kênh liên kết không vượt quá ba mươi phần trăm tổng số kênh phát
thanh, kênh truyền hình được cấp giấy phép sản xuất.
6. Nội dung các chương trình
liên kết phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.
Mục 2.
THÔNG TIN TRÊN BÁO CHÍ
Điều 38.
Cung cấp thông tin cho báo chí
1. Trong phạm vi quyền hạn,
nhiệm vụ của mình, các cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa
vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung thông tin đã cung cấp. Việc cung cấp thông tin cho báo chí có thể bằng văn
bản, trên trang thông tin điện tử tổng hợp, họp báo, trả lời phỏng vấn và các
hình thức khác. Cơ quan báo chí phải sử dụng chuẩn xác nội dung thông tin được
cung cấp và phải nêu rõ xuất xứ nguồn tin.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền có quyền từ chối cung cấp thông tin cho báo chí trong các trường hợp
sau đây:
a) Thông tin thuộc danh mục bí
mật nhà nước, bí mật thuộc nguyên tắc và quy định của Đảng, bí mật đời tư của
cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật;
b) Thông tin về vụ án đang được
điều tra hoặc chưa xét xử, trừ trường hợp cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan
điều tra cần thông tin trên báo chí những vấn đề có lợi cho hoạt động điều tra
và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;
c) Thông tin về vụ việc đang
trong quá trình thanh tra chưa có kết luận thanh tra; vụ việc đang trong quá
trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; những vấn đề tranh chấp, mâu thuẫn giữa các
cơ quan nhà nước đang trong quá trình giải quyết, chưa có kết luận chính thức
của người có thẩm quyền mà theo quy định của pháp luật chưa được phép công bố;
d) Những văn bản chính sách, đề
án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định của pháp luật chưa được cấp
có thẩm quyền cho phép công bố.
3. Đối với vụ án đang trong quá
trình điều tra, truy tố mà chưa được xét xử, các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu
hiệu vi phạm pháp luật nhưng chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin.
4. Cơ quan báo chí và nhà báo
có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ người cung cấp thông tin, trừ trường hợp có
yêu cầu bằng văn bản của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, truy tố,
xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên có trách nhiệm tổ
chức bảo vệ người cung cấp thông tin; các cơ quan bảo vệ pháp luật có trách
nhiệm phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh và tương đương trở lên bảo vệ người cung cấp thông tin.
5. Cơ quan hành chính nhà nước
có trách nhiệm cử người phát ngôn, thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin
cho báo chí định kỳ và đột xuất, bất thường.
Chính phủ quy định chi tiết
việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà
nước.
Điều 39.
Trả lời trên báo chí
1. Người đứng đầu cơ quan báo
chí có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trả lời vấn đề mà
công dân nêu ra trên báo chí. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu
cầu của người đứng đầu cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm trả lời trên báo chí.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được ý kiến, kiến nghị, phê bình, khiếu nại của tổ chức, công dân và
tố cáo của công dân do cơ quan báo chí chuyển đến, người đứng đầu cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm thông báo cho cơ quan báo chí biết biện pháp giải quyết.
Nếu quá thời hạn nêu trên mà
không nhận được thông báo của cơ quan, tổ chức thì cơ quan báo chí có quyền
chuyển ý kiến, kiến nghị, phê bình, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân đến
cơ quan cấp cao hơn có thẩm quyền giải quyết hoặc đưa vấn đề đó lên báo chí.
3. Trong thời hạn 10 ngày đối
với báo in ra hằng ngày và báo nói, báo hình, báo điện tử, 15 ngày đối với báo
tuần, trên số ra gần nhất đối với tạp chí in kể từ khi nhận được văn bản trả
lời của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc văn
bản trả lời kiến nghị, phê bình của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với vấn đề mà
báo chí nêu hoặc tiếp nhận, cơ quan báo chí phải thông báo cho cơ quan, tổ
chức, công dân có ý kiến, kiến nghị, phê bình, khiếu nại, tố cáo hoặc đăng,
phát trên báo chí của mình.
4. Cơ quan, tổ chức, công dân
có quyền yêu cầu cơ quan báo chí trả lời vấn đề mà cơ quan báo chí đã thông
tin; cơ quan báo chí có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu của cơ quan, tổ chức, công dân.
Điều 40.
Trả lời phỏng vấn trên báo chí
1. Người phỏng vấn phải thông
báo trước cho người được phỏng vấn biết mục đích, yêu cầu và câu hỏi phỏng vấn;
trường hợp cần phỏng vấn trực tiếp, không có sự thông báo trước thì phải được
người trả lời phỏng vấn đồng ý.
2. Sau khi phỏng vấn, trên cơ
sở thông tin, tài liệu của người trả lời cung cấp, người phỏng vấn có quyền thể
hiện bằng các hình thức phù hợp. Người phỏng vấn phải thể hiện chính xác, trung
thực nội dung trả lời của người được phỏng vấn.
Người được phỏng vấn có quyền
yêu cầu xem lại nội dung trả lời trước khi đăng, phát. Cơ quan báo chí và người
phỏng vấn phải thực hiện yêu cầu đó.
3. Nhà báo không được dùng
những ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo, các cuộc gặp gỡ, trao đổi, nói
chuyện có nhà báo tham dự để chuyển thành bài phỏng vấn nếu không được sự đồng
ý của người phát biểu.
4. Cơ quan báo chí, người phỏng
vấn và người trả lời phỏng vấn phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin
đăng, phát trên báo chí.
Điều 41.
Họp báo
1. Cơ quan, tổ chức, công dân
Việt Nam có quyền tổ chức họp báo để công bố, tuyên bố, giải thích, trả lời các
nội dung có liên quan tới nhiệm vụ, quyền hạn hoặc lợi ích của cơ quan, tổ
chức, cá nhân đó.
Việc họp báo của cơ quan đại
diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 56 của Luật này.
2. Người phát ngôn hoặc người
chịu trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức chính trị, Quốc hội, Chính phủ,
Chủ tịch nước; các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương và cấp tỉnh; các bộ, cơ quan ngang bộ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm họp báo định
kỳ và đột xuất để cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí.
3. Cơ quan, tổ chức không thuộc
quy định tại khoản 2 Điều này và công dân có quyền tổ chức họp báo để cung cấp
thông tin cho báo chí. Cơ quan, tổ chức, công dân tổ chức họp báo phải thông
báo bằng văn bản trước 24 giờ tính đến thời điểm dự định họp báo cho cơ quan
quản lý nhà nước về báo chí theo quy định sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức trực thuộc
trung ương thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông;
b) Cơ quan, tổ chức không thuộc
điểm a khoản này và công dân thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức
họp báo.
4. Nội dung thông báo gồm những
thông tin sau đây:
a) Địa điểm họp báo;
b) Thời gian họp báo;
c) Nội dung họp báo;
d) Người chủ trì họp báo.
5. Cơ quan quản lý nhà nước về
báo chí có trách nhiệm trả lời cơ quan, tổ chức, công dân về việc họp báo trong
thời gian quy định tại khoản 3 Điều này; trường hợp không có văn bản trả lời,
tổ chức, công dân được tiến hành họp báo.
Nội dung họp báo phải đúng với
nội dung đã được cơ quan quản lý nhà nước về báo chí trả lời chấp thuận, trường
hợp không có văn bản trả lời thì phải đúng với nội dung đã thông báo với cơ
quan quản lý nhà nước về báo chí.
6. Cơ quan quản lý nhà nước về
báo chí có quyền đình chỉ cuộc họp báo nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp
luật hoặc nội dung họp báo có thông tin quy định tại các khoản
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 9 của Luật này.
Điều 42.
Cải chính trên báo chí
1. Cơ quan báo chí thông tin
sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh
dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải đăng, phát lời cải chính, xin lỗi trên báo
chí và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Đối với báo chí điện tử, ngoài
việc đăng, phát lời cải chính, xin lỗi còn phải gỡ bỏ ngay thông tin sai sự
thật đã đăng, phát nhưng phải lưu giữ nội dung thông tin trên máy chủ để phục
vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định tại điểm d khoản
1 Điều 52 của Luật này.
2. Khi có văn bản kết
luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về vụ việc mà báo chí đã đăng, phát là
sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh
dự, nhân phẩm của cá nhân thì cơ quan báo chí phải đăng, phát phần nội dung kết
luận đó và nội dung cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả tác
phẩm báo chí.
Lời xin lỗi của cơ quan báo
chí, tác giả tác phẩm báo chí được đăng, phát liền sau nội dung thông tin cải
chính.
3. Việc đăng, phát thông tin
cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả tác phẩm phải thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Đăng, phát tại trang hai đối
với báo in, trang cuối đối với tạp chí in, chuyên mục riêng tại trang chủ đối
với báo điện tử với cùng một kiểu chữ, cỡ chữ mà báo chí đã đăng, phát thông
tin;
b) Đăng, phát đúng chuyên mục,
giờ phát sóng, số lần phát sóng đối với báo nói, báo hình mà báo chí đã đăng,
phát thông tin.
4. Khi đăng, phát thông tin cải
chính, xin lỗi, cơ quan báo chí phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Tiêu đề: “Thông tin cải
chính, xin lỗi”;
b) Tên tác phẩm báo chí, tên
chuyên mục, số báo, ngày, tháng, năm đã đăng, phát phải cải chính;
c) Những thông tin sai sự thật,
xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm
của cá nhân đã đăng, phát trong tác phẩm báo chí và nội dung thông tin được cải
chính.
5. Thời điểm đăng, phát cải
chính, xin lỗi được quy định như sau:
a) Việc đăng, phát cải chính,
xin lỗi của báo điện tử được thực hiện ngay khi nhận được văn bản kết luận hoặc
tự phát hiện vi phạm; thông tin cải chính, xin lỗi phải được lưu giữ trên báo
ít nhất là 07 ngày kể từ ngày đăng, phát cải chính, xin lỗi;
b) Việc đăng, phát cải chính,
xin lỗi trên báo in, báo nói, báo hình phải được thực hiện trong thời hạn 02
ngày đối với báo ngày, báo nói, báo hình; trong số ra gần nhất đối với báo
tuần, tạp chí, tính từ ngày cơ quan báo chí nhận được văn bản kết luận hoặc tự
phát hiện vi phạm. Đối với tạp chí xuất bản trên 30 ngày một kỳ thì phải có văn
bản trả lời ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải đăng trong số ra gần
nhất;
c) Cơ quan báo chí, trang thông
tin điện tử tổng hợp đã đăng, phát thông tin của cơ quan báo chí khác có nội
dung phải cải chính, xin lỗi cũng phải thực hiện đăng lại nội dung cải chính,
xin lỗi của cơ quan báo chí vi phạm.
Cơ quan báo chí đã đăng, phát
nội dung thông tin vi phạm, sau khi thực hiện cải chính, xin lỗi phải có trách
nhiệm thông báo cho các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử tổng hợp có
thỏa thuận về việc sử dụng tin, bài của báo mình để thực hiện việc đăng lại lời
cải chính, xin lỗi.
Điều 43. Phản
hồi thông tin
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân có căn cứ cho rằng cơ quan báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu
khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc gây hiểu lầm làm ảnh
hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình thì có quyền nêu ý kiến phản hồi
bằng văn bản đến cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà
nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án.
2. Cơ quan báo chí phải đăng,
phát ý kiến phản hồi của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thời điểm đăng, phát thực hiện
theo quy định về đăng, phát cải chính tại khoản 5 Điều 42 của
Luật này.
Trường hợp không nhất trí với ý
kiến phản hồi của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ quan báo chí vẫn phải đăng,
phát ý kiến phản hồi đó và có quyền thông tin tiếp để làm rõ quan điểm của
mình.
Sau ba lần đăng, phát ý kiến
phản hồi của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không có sự nhất
trí giữa hai bên thì cơ quan báo chí có quyền ngừng đăng, phát; cơ quan quản lý
nhà nước có quyền yêu cầu cơ quan báo chí ngừng đăng, phát thông tin của các
bên có liên quan.
3. Cơ quan báo chí có quyền
không đăng, phát ý kiến phản hồi của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu ý kiến đó vi
phạm pháp luật, xúc phạm đến uy tín của cơ quan báo chí, danh dự, nhân phẩm của
tác giả tác phẩm báo chí, đồng thời thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do để
cơ quan, tổ chức, cá nhân biết.
4. Khi đăng, phát ý kiến phản
hồi, cơ quan báo chí phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Tên cơ quan, tổ chức, cá
nhân phản hồi thông tin;
b) Tên tác phẩm báo chí, tên
chuyên mục, số báo, ngày, tháng, năm đã đăng, phát bị phản hồi thông tin.
Điều 44.
Quảng cáo trên báo chí
Báo chí được đăng, phát quảng
cáo. Việc đăng, phát quảng cáo trên báo chí phải tuân thủ các quy định của Luật
này và quy định của pháp luật về quảng cáo.
Điều 45.
Quyền tác giả trong lĩnh vực báo chí
Cơ quan báo chí phải thực hiện
các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan khi đăng, phát tác
phẩm báo chí.
Điều 46.
Các thông tin phải ghi, thể hiện trên báo chí
Cơ quan báo chí phải ghi, thể
hiện đầy đủ các thông tin sau đây:
1. Trên trang nhất, bìa một đối
với báo in, trang chủ, các trang đối với báo điện tử phải có các nội dung sau
đây:
a) Tên sản phẩm báo chí;
b) Tên cơ quan báo chí, tên cơ
quan chủ quản báo chí (ghi dưới tên báo chí); tên miền đối với báo điện tử;
c) Số thứ tự của kỳ phát hành
báo chí đối với báo in;
d) Ngày, tháng, năm phát hành.
2. Dưới chân trang cuối, bìa
cuối đối với báo in, trang chủ đối với báo điện tử phải có các nội dung sau
đây:
a) Số giấy phép, ngày cấp, cơ
quan cấp giấy phép hoạt động báo chí;
b) Địa chỉ của cơ quan báo chí,
số điện thoại, fax, thư điện tử. Họ, tên người đứng đầu cơ quan báo chí;
c) Nơi in, khuôn khổ, số trang,
kỳ hạn xuất bản, giá bán đối với báo in.
3. Báo nói, báo hình phải thể
hiện biểu tượng, nhạc hiệu.
Điều 47.
Bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, nội dung
báo điện tử
Báo nói, báo hình, báo điện tử
có quyền sử dụng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ nội dung các chương trình phát
thanh, chương trình truyền hình, nội dung báo điện tử.
Mục 3. IN,
PHÁT HÀNH VÀ TRUYỀN DẪN, PHÁT SÓNG
Điều 48.
In báo chí
Cơ sở in có giấy phép in báo,
tạp chí theo quy định của pháp luật về xuất bản có trách nhiệm thực hiện hợp
đồng đã ký kết với cơ quan báo chí, bảo đảm thời gian phát hành báo chí.
Điều 49.
Phát hành báo chí
1. Cơ quan báo chí thực hiện
phát hành báo chí theo đúng quy định ghi trong giấy phép hoạt động báo chí.
Cơ quan báo chí được tổ chức
phát hành hoặc ủy thác cho tổ chức, cá nhân phát hành.
2. Ngành thông tin và truyền
thông có trách nhiệm phát hành các loại báo chí công ích qua mạng bưu chính
công cộng theo quy định của Chính phủ và phát hành các loại báo chí khác theo
hợp đồng ký kết với cơ quan báo chí.
3. Cơ quan chủ quản báo chí, cơ
quan báo chí, tổ chức, cá nhân tham gia phát hành báo chí, tổ chức được phép
xuất khẩu, nhập khẩu báo chí có trách nhiệm thực hiện quyết định thu hồi ấn
phẩm báo chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Sở Thông tin và Truyền thông,
cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện.
Cơ quan báo chí, tổ chức phát
hành báo chí có ấn phẩm bị thu hồi phải chịu toàn bộ chi phí cho việc thu hồi.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông
quy định giá cước tối đa với dịch vụ phát hành báo chí công ích qua mạng bưu
chính công cộng.
Điều 50.
Đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền
hình trả tiền
1. Hãng truyền hình nước ngoài
cung cấp kênh chương trình nước ngoài vào Việt Nam có thu phí bản quyền nội
dung phải thông qua đại lý được ủy quyền tại Việt Nam để thực hiện việc đăng ký
cung cấp kênh chương trình và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước Việt
Nam.
2. Hãng truyền hình nước ngoài
phải quy định rõ phạm vi ủy quyền cho mỗi đại lý khi đồng thời thực hiện ủy
quyền cho hai đại lý trở lên.
3. Đối với kênh chương trình
nước ngoài không có thu phí bản quyền nội dung, hãng truyền hình nước ngoài chỉ
thực hiện thủ tục biên tập, biên dịch theo quy định, không phải thông qua đại
lý được ủy quyền tại Việt Nam.
4. Đại lý được ủy quyền là
doanh nghiệp Việt Nam và được hãng truyền hình nước ngoài ủy quyền làm đại lý
cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả
tiền tại Việt Nam.
5. Đại lý được ủy quyền có
trách nhiệm đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát
thanh, truyền hình trả tiền tại Việt Nam với Bộ Thông tin và Truyền thông.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
chứng nhận đăng ký do Chính phủ quy định.
Điều 51.
Cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phát sóng
1. Đơn vị cung cấp dịch vụ
truyền dẫn, phát sóng phải bảo đảm truyền dẫn, phát sóng nguyên vẹn nội dung
thông tin của cơ quan báo chí.
2. Đơn vị cung cấp dịch vụ
truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình quảng bá có trách nhiệm bảo đảm
thời gian, thời lượng, phạm vi phát sóng; chất lượng truyền dẫn, phát sóng các kênh
phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên
truyền thiết yếu của quốc gia, địa phương và bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Phổ cập dịch vụ phát thanh,
truyền hình quảng bá trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung ưu tiên vùng dân
tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu,
vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo;
b)[11] Phù hợp với chiến lược, kế hoạch và chính sách của Nhà
nước về báo chí, truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình; phát triển dịch
vụ phát thanh, truyền hình;
c) Phù hợp với quy định về quản
lý tài nguyên Internet và tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về
viễn thông, tần số vô tuyến điện;
d) Nội dung dịch vụ phù hợp với
quy định về quản lý nội dung thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí;
đ) Phù hợp với quy chuẩn kỹ
thuật của Nhà nước về chất lượng thiết bị và dịch vụ phát thanh, truyền hình.
3. Điều kiện cấp giấy phép cung
cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền gồm:
a) Là doanh nghiệp Việt Nam.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được sự chấp thuận về chủ trương của
Thủ tướng Chính phủ;
b)[12] Có phương án cung cấp dịch vụ phù hợp với chiến lược,
kế hoạch và chính sách của Nhà nước về phát triển dịch vụ truyền dẫn, phát sóng
phát thanh, truyền hình;
c) Có giấy phép thiết lập mạng
viễn thông hoặc có thỏa thuận được thuê, sử dụng mạng viễn thông đáp ứng yêu
cầu kỹ thuật truyền dẫn dịch vụ đến các thuê bao kết nối với mạng viễn thông đó
đối với dịch vụ truyền hình mặt đất, dịch vụ truyền hình cáp, dịch vụ truyền
hình qua vệ tinh, dịch vụ truyền hình di động; có xác nhận đăng ký tên miền
“.vn” hoặc địa chỉ Internet xác định để cung cấp dịch vụ đến thuê bao đối với
dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet;
d) Có phương án bố trí nguồn
nhân lực; đầu tư trang thiết bị kỹ thuật; dự báo và phân tích thị trường dịch
vụ; kế hoạch kinh doanh và giá cước dịch vụ, dự toán chi phí đầu tư và chi phí
hoạt động ít nhất trong 02 năm đầu tiên; văn bản chứng minh vốn điều lệ hoặc
văn bản giá trị tương đương đáp ứng yêu cầu triển khai cung cấp dịch vụ theo dự
toán;
đ) Có phương án thiết lập trung
tâm thu phát tất cả các kênh phát thanh, kênh truyền hình trong nước, kênh
chương trình nước ngoài tập trung ở một địa điểm, trừ các kênh thuộc danh mục
kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên
truyền thiết yếu của quốc gia, địa phương, gồm thiết kế kỹ thuật hệ thống thiết
bị xử lý tín hiệu, thiết bị kết nối đến mạng truyền dẫn, thiết bị quản lý dịch
vụ, quản lý thuê bao và bảo vệ nội dung;
e) Có phương án áp dụng công
nghệ kỹ thuật hiện đại phù hợp quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn, an ninh thông tin; xử lý kịp
thời các sự cố kỹ thuật bảo đảm tính liên tục của dịch vụ và quyền lợi của thuê
bao;
g) Có dự kiến danh mục kênh
phát thanh, kênh truyền hình trong nước (trừ các kênh phục vụ nhiệm vụ chính
trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu), kênh chương trình nước ngoài, nội dung
theo yêu cầu, nội dung giá trị gia tăng sẽ cung cấp trên dịch vụ phát thanh,
truyền hình trả tiền kèm theo các văn bản chấp thuận của đơn vị cung cấp nội
dung.
4. Doanh nghiệp có nhu cầu cung
cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép.
Hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy
phép do Chính phủ quy định.
5. Thời gian hiệu lực của giấy
phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền được quy định trong từng
giấy phép.
6. Đơn vị cung cấp dịch vụ
truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình trả tiền được áp dụng các biện
pháp kỹ thuật bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, truyền hình để thu
phí; nộp phí quyền cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Mục 4. LƯU
CHIỂU BÁO CHÍ
Điều 52.
Chế độ lưu chiểu báo chí, nộp ấn phẩm báo chí
1. Cơ quan báo chí phải thực
hiện chế độ lưu chiểu theo quy định sau đây:
a) Đối với báo chí trung ương
và báo chí in tại Hà Nội, cơ quan báo chí phải nộp năm bản cho cơ quan quản lý
nhà nước về báo chí ở trung ương chậm nhất là 08 giờ sáng của ngày phát hành;
b) Đối với báo chí in tại địa
phương, cơ quan báo chí phải nộp hai bản cho cơ quan quản lý nhà nước về báo
chí ở địa phương chậm nhất là 08 giờ sáng của ngày phát hành, đồng thời nộp năm
bản cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương qua hệ thống bưu
chính;
c) Cơ quan báo nói, báo hình có
trách nhiệm lưu giữ toàn bộ chương trình đã truyền dẫn, phát sóng, thông tin về
nguồn tín hiệu sử dụng để chuyển tiếp sóng phát thanh - truyền hình trung ương
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày truyền dẫn, phát sóng; cung cấp tín hiệu
truyền dẫn, phát sóng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền để phục vụ công
tác lưu chiểu điện tử;
d) Cơ quan báo điện tử phải
thực hiện chế độ lưu trữ nguyên vẹn nội dung thông tin đăng, phát trong thời
hạn 03 tháng kể từ ngày đăng, phát để phục vụ công tác kiểm tra của cơ quan
quản lý nhà nước.
2. Khi nộp báo in lưu chiểu, cơ
quan báo chí phải ghi rõ báo in nộp lưu chiểu, số lượng phát hành, ngày, giờ
nộp lưu chiểu, chữ ký của người đứng đầu cơ quan báo chí hoặc người được ủy
quyền.
Báo in được in lại phải nộp lưu
chiểu như in lần thứ nhất.
Báo in nộp lưu chiểu qua hệ
thống bưu chính được ưu tiên chuyển nhanh nhất đến cơ quan nhận lưu chiểu. Thời
gian nộp lưu chiểu căn cứ vào dấu bưu chính nơi chuyển đi.
3. Cơ quan báo in phải nộp năm
bản ấn phẩm báo in để lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông
thực hiện việc lưu chiểu điện tử đối với báo nói, báo hình và báo điện tử độc
lập với cơ quan báo chí theo quy định của Chính phủ; thực hiện việc đo kiểm và
công bố số liệu liên quan đến hoạt động báo chí.
Điều 53.
Kiểm tra báo chí lưu chiểu
1. Bộ Thông tin và Truyền thông
tổ chức kiểm tra báo chí lưu chiểu. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra
báo chí lưu chiểu tại địa phương.
Trường hợp phát hiện báo chí vi
phạm quy định của pháp luật, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định tại Điều 59 của
Luật này.
2. Bộ Tài chính quy định chế độ
thù lao cho người đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu.
Mục 5. HỢP
TÁC QUỐC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
Điều 54.
Xuất khẩu, nhập khẩu báo in
1. Báo in xuất bản hợp pháp tại
Việt Nam được phép xuất khẩu ra nước ngoài.
2. Việc nhập khẩu báo in được
thực hiện thông qua cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí do Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp giấy phép.
3. Cơ sở nhập khẩu báo in phải
đăng ký danh mục báo chí nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi
nhập khẩu.
4. Người đứng đầu cơ sở nhập
khẩu báo in phải tổ chức kiểm tra nội dung báo chí nhập khẩu trước khi phát
hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo in mà mình nhập khẩu.
Điều 55.
Hoạt động hợp tác của cơ quan báo chí Việt Nam với nước ngoài
1. Cơ quan báo chí Việt Nam có
các quyền sau đây:
a) Phát hành, truyền dẫn, phát
sóng sản phẩm báo chí ra nước ngoài; ủy thác cho tổ chức, cá nhân in lại,
truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí Việt Nam ở nước ngoài;
b) Thuê chuyên gia, cộng tác
viên nước ngoài;
c) Cử nhà báo hoạt động báo chí
ở nước ngoài;
d) Thành lập văn phòng đại diện
ở nước ngoài;
đ) Hoạt động hợp tác với nước
ngoài.
2. Cơ quan báo chí thực hiện
các quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm các quy định sau đây:
a) Sản phẩm báo chí phát hành,
truyền dẫn, phát sóng ra nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phải
có cùng nội dung với sản phẩm đã phát hành, truyền dẫn, phát sóng trong nước,
không có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này;
b) Cơ quan báo chí thành lập
văn phòng đại diện ở nước ngoài quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải thông
báo bằng văn bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông việc thành lập văn phòng đại
diện, danh sách nhân sự của văn phòng đại diện chậm nhất là 15 ngày trước ngày
thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài;
c) Cơ quan báo chí hợp tác với
nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động
hợp tác.
Điều 56.
Hoạt động báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức
nước ngoài tại Việt Nam
1. Mọi hoạt động báo chí và
hoạt động liên quan đến báo chí của cơ quan thông tấn, phát thanh, truyền hình,
báo in, báo điện tử của nước ngoài (gọi chung là báo chí nước ngoài); của cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
liên chính phủ và các cơ quan khác của nước ngoài được ủy quyền thực hiện chức
năng lãnh sự ở Việt Nam (gọi chung là cơ quan đại diện nước ngoài) và cơ quan
đại diện của tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nước ngoài khác tại Việt Nam
(gọi chung là tổ chức nước ngoài) chỉ được phép tiến hành sau khi có sự chấp
thuận của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Luật này và phải tuân thủ quy định
của pháp luật Việt Nam.
2. Phóng viên nước ngoài không
thường trú có nhu cầu hoạt động báo chí tại Việt Nam phải gửi một bộ hồ sơ đề
nghị chấp thuận trực tiếp, qua hệ thống bưu chính, fax hoặc thư điện tử đến Bộ
Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc các cơ quan khác
được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi
chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài).
Khi hoạt động báo chí tại Việt
Nam, phóng viên nước ngoài không thường trú phải mang theo giấy phép hoạt động
báo chí do Bộ Ngoại giao cấp và hộ chiếu; phải hoạt động theo đúng mục đích và
chương trình đã được ghi trong giấy phép và theo sự hướng dẫn của cơ quan hướng
dẫn phóng viên.
3. Trường hợp phóng viên nước
ngoài đi theo đoàn khách nước ngoài thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với các phóng viên nước
ngoài đi theo đoàn khách nước ngoài thăm Việt Nam theo lời mời của lãnh đạo
Đảng và Nhà nước hoặc Bộ Ngoại giao để đưa tin về chuyến thăm, cơ quan chủ quản
Việt Nam có trách nhiệm làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh cần thiết và thông báo
cho Bộ Ngoại giao biết để phối hợp. Phóng viên nước ngoài được phép đưa tin các
hoạt động theo chương trình chính thức của đoàn khách nước ngoài;
b) Đối với phóng viên nước
ngoài đi theo đoàn khách nước ngoài theo lời mời của các cơ quan khác của Việt
Nam để đưa tin về chuyến thăm, cơ quan chủ quản Việt Nam có trách nhiệm làm thủ
tục với Bộ Ngoại giao như đối với phóng viên không thường trú và hoạt động dưới
sự hướng dẫn của Bộ Ngoại giao hoặc một cơ quan được Bộ Ngoại giao chấp thuận.
4. Cơ quan báo chí nước ngoài
có nhu cầu lập văn phòng thường trú tại Việt Nam gửi trực tiếp hoặc qua hệ
thống bưu chính một bộ hồ sơ đề nghị lập văn phòng thường trú đến Bộ Ngoại giao
hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Văn phòng thường trú được đặt
trụ sở tại Hà Nội hoặc một tỉnh, thành phố khác trực thuộc trung ương sau khi
có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự
kiến sẽ đặt văn phòng thường trú.
Văn phòng thường trú được cử
phóng viên thường trú tại địa phương khác với nơi đặt trụ sở văn phòng thường
trú sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh nơi văn phòng thường trú đề nghị cử phóng viên thường trú. Văn phòng
thường trú chịu trách nhiệm về hoạt động của phóng viên thường trú tại địa
phương.
5. Cơ quan báo chí nước ngoài
có nhu cầu cử phóng viên thường trú gửi một bộ hồ sơ đề nghị chấp thuận trực
tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đến Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài.
Phóng viên thường trú được kiêm
nhiệm làm phóng viên thường trú cho văn phòng thường trú của một cơ quan báo
chí nước ngoài khác tại Việt Nam. Báo chí nước ngoài được cử phóng viên thường
trú của mình ở một nước khác kiêm nhiệm phóng viên thường trú tại Việt Nam.
6. Phóng viên thường trú được
Bộ Ngoại giao cấp thẻ phóng viên nước ngoài, có giá trị không quá 12 tháng, phù
hợp với thời hạn thị thực nhập cảnh, xuất cảnh của phóng viên.
Phóng viên thường trú gửi trực
tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính một bộ hồ sơ đến Bộ Ngoại giao đề nghị cấp,
cấp lại, gia hạn thẻ phóng viên nước ngoài.
7. Hoạt động thông tin, báo chí
của phóng viên thường trú thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với yêu cầu phỏng vấn
lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, văn phòng thường trú gửi một bộ hồ sơ trực tiếp,
qua hệ thống bưu chính hoặc fax đến Bộ Ngoại giao đề nghị chấp thuận;
b) Đối với yêu cầu tiếp xúc,
phỏng vấn lãnh đạo các bộ, ban, ngành của Việt Nam, văn phòng thường trú gửi
trực tiếp, qua hệ thống bưu chính hoặc fax một bộ hồ sơ đến các bộ, ban, ngành
liên quan đề nghị chấp thuận, đồng thời thông báo cho Bộ Ngoại giao;
c) Đối với hoạt động thông tin,
báo chí tại địa phương của Việt Nam, văn phòng thường trú gửi một bộ hồ sơ trực
tiếp, qua hệ thống bưu chính hoặc fax đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề
nghị chấp thuận, đồng thời thông báo cho Bộ Ngoại giao.
8. Văn phòng thường trú được
thuê trợ lý báo chí, thuê cộng tác viên để hỗ trợ các hoạt động của văn phòng
thường trú, phóng viên thường trú.
Khi có nhu cầu thuê trợ lý báo
chí, cộng tác viên, văn phòng thường trú gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu
chính một bộ hồ sơ đến Bộ Ngoại giao đề nghị chấp thuận.
9. Việc nhập khẩu, xuất khẩu
phương tiện, trang thiết bị của báo chí nước ngoài thực hiện theo quy định sau
đây:
a) Báo chí nước ngoài được tạm
nhập, tái xuất miễn thuế có thời hạn đối với các phương tiện cần thiết để phục
vụ các hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam như máy ảnh, máy quay hình,
máy ghi âm và các trang thiết bị khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Báo chí nước ngoài được nhập
khẩu, xuất khẩu, lắp đặt, sử dụng các phương tiện thu, phát tin, hình trực tiếp
qua vệ tinh; phát hình đi quốc tế qua mạng lưới viễn thông quốc gia theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
10. Việc họp báo được thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Khi có nhu cầu tổ chức họp
báo tại Hà Nội, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài phải có văn bản
đề nghị gửi Bộ Thông tin và Truyền thông ít nhất là 02 ngày làm việc trước khi
tiến hành họp báo. Đối với cơ quan đại diện nước ngoài, văn bản đề nghị đồng
gửi Bộ Ngoại giao để thông báo;
b) Khi có nhu cầu tổ chức họp
báo tại các địa phương khác của Việt Nam, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức
nước ngoài phải có văn bản đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ít nhất là 02
ngày làm việc trước khi tiến hành họp báo;
c) Họp báo của đoàn khách nước
ngoài thăm Việt Nam theo lời mời của lãnh đạo Đảng và Nhà nước hoặc Bộ Ngoại
giao được thực hiện theo chương trình chính thức của đoàn. Cơ quan chủ quản đón
đoàn có trách nhiệm thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông biết ít nhất là
01 ngày làm việc trước khi tiến hành họp báo để phối hợp;
d) Đối với họp báo của đoàn
khách nước ngoài thăm Việt Nam theo lời mời của các bộ, ngành, địa phương và cơ
quan nhà nước khác của Việt Nam, cơ quan chủ quản đón đoàn phải có văn bản đề
nghị gửi Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ít nhất là
02 ngày làm việc trước khi tiến hành họp báo;
đ) Thủ tục cho phép tổ chức họp
báo thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
e) Bộ Thông tin và Truyền
thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền không chấp thuận hoặc đình chỉ cuộc
họp báo nếu thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam;
g) Đối với những trường hợp họp
báo khẩn cấp, sau khi có đề nghị của cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước
ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể.
11. Việc xuất bản bản tin, đặc
san của cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài thực hiện theo quy định
tại Điều 34 và Điều 35 của Luật này.
12. Hồ sơ, trình tự, thủ tục
quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này do Chính phủ quy định.
Chương V
KHEN THƯỞNG, THANH TRA
VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
Điều 57.
Khen thưởng trong hoạt động báo chí
Cơ quan báo chí, nhà báo, tổ
chức và công dân có thành tích và cống hiến trong hoạt động báo chí được khen
thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Điều 58.
Thanh tra chuyên ngành báo chí
Thanh tra chuyên ngành báo chí
thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.
Điều 59.
Xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí
1. Cơ quan báo chí, tổ chức
tham gia hoạt động báo chí vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị cảnh cáo, phạt tiền và bị áp dụng biện pháp thu hồi,
tịch thu ấn phẩm, băng đĩa ghi âm, ghi hình; đình bản tạm thời hoặc thu hồi
giấy phép trong hoạt động báo chí theo quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Cơ quan báo chí bị thu hồi
giấy phép hoạt động báo chí, giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ
trương, sản xuất thêm kênh phát thanh, kênh truyền hình, mở chuyên trang của
báo điện tử và cơ quan, tổ chức bị thu hồi giấy phép xuất bản đặc san, bản tin
khi đăng, phát thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1,
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này gây ảnh hưởng rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người đứng đầu cơ quan chủ
quản báo chí, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, tổng
biên tập, phó tổng biên tập cơ quan báo chí, nhà báo, tác giả tác phẩm báo chí
và cá nhân khác có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, thu hồi thẻ nhà báo, xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Tổ chức, cá nhân có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí thì bị xử lý theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
5. Trường hợp cơ quan báo chí,
nhà báo, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động báo chí vi phạm gây thiệt hại đến
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, ngoài việc bị xử
lý theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này, còn phải công khai xin
lỗi, cải chính trên báo chí, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[13]
Điều 60. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2017.
2. Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/1999/QH10 hết hiệu lực kể từ ngày
Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 61. Quy định chi tiết
Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết
các điều, khoản được giao trong Luật.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng Thông tin điện tử của QH);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN
BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
37 luật có liên quan đến quy hoạch có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều có liên quan đến quy hoạch của Luật Giao thông đường bộ số
23/2008/QH12, Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13, Luật Đường sắt số
06/2017/QH14, Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13 và Luật số 97/2015/QH13,
Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 08/2017/QH14, Luật Đất đai số 45/2013/QH13, Luật Bảo vệ môi
trường số 55/2014/QH13, Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12, Luật Khí
tượng thủy văn số 90/2015/QH13, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, Luật Tài
nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13, Luật Bảo vệ và kiểm
dịch thực vật số 41/2013/QH13, Luật Đê điều số 79/2006/QH11, Luật Thủy
lợi số 08/2017/QH14, Luật Năng lượng nguyên tử số 18/2008/QH12, Luật Đo lường
số 04/2011/QH13, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11, Luật
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12, Luật An toàn thông tin mạng số
86/2015/QH13, Luật Xuất bản số 19/2012/QH13, Luật Báo chí số 103/2016/QH13,
Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh số 30/2013/QH13, Luật Quản lý, sử dụng vốn
nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13, Luật
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 21/2017/QH14, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 71/2014/QH13, Luật Chứng khoán số
70/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 62/2010/QH12,
Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
31/2009/QH12, Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật Quy
hoạch đô thị số 30/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
77/2015/QH13, Luật Dầu khí năm 1993 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 19/2000/QH10 và Luật số 10/2008/QH12, Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 92/2015/QH13, Luật Bảo hiểm
xã hội số 58/2014/QH13, Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 46/2014/QH13 và Luật số
97/2015/QH13, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12, Luật Giám
định tư pháp số 13/2012/QH13 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
59/2010/QH12.”.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo số 93/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo.”.
[2]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật số
35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[3]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật số
35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[4]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật số
35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[5]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 71 của
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2025.
[6]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 20 của Luật số
35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[7]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 71 của
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2025.
[8]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 71 của
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2025.
[9]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 71 của
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2025.
[10]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 20 của Luật số
35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[11]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 20 của
Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến
quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[12]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 20 của
Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến
quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[13]
Điều 31 của Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có
liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 quy định
như sau:
“Điều 31. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2019”.
Điều 72 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 quy định
như sau:
“Điều 72. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 10 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các điều 15, 61, 62, 63, 64, 65 và 66 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
3. Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số
07/2022/QH15 (sau đây gọi chung là Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13)
hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định
tại các khoản 1, 2, 3, 6, 8 và 9 Điều 73 của Luật này”.