|
VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
33/2026/VBHN-TT-BTC
|
Hà Nội, ngày 09
tháng 9 năm 2026
|
THÔNG TƯ
HƯỚNG
DẪN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN
Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02
tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về Thuế tài nguyên, có
hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Thông tư số 12/2016/TT-BTC ngày
20 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 7 Thông tư
số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế
tài nguyên, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016;
2. Thông tư số 174/2016/TT-BTC
ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi điểm a Khoản 4 Điều
6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính hướng dẫn về thuế tài nguyên, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 12 năm
2016;
3. Thông tư số 41/2024/TT-BTC ngày
20 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
quy định khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính
chất lý, hóa giống nhau và Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm
2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên, có hiệu lực kể từ
ngày 15 tháng 7 năm 2024;
4. Thông tư số 135/2026/TT-BTC
ngày 09 tháng 9 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều
của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số
41/2024/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026;
Căn cứ Luật Thuế tài nguyên số
45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật Khoáng sản số
60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010;
Căn cứ Luật Quản lý Thuế số
78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Quản lý Thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;
Căn cứ Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13
ngày 16 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành
Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP
ngày 22 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Quản lý Thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế;
Căn cứ Nghị định số
50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên;
Căn cứ Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về thuế;
Căn cứ Nghị định số
215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài
nguyên và Môi trường tại công văn số 2626/BTNMT-TC ngày 29 tháng 6 năm 2015;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Thông tư hướng dẫn về thuế tài nguyên như sau:[1]
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi áp dụng
Thông tư này hướng dẫn về đối tượng
chịu thuế; Người nộp thuế; Căn cứ tính thuế; Miễn, giảm thuế tài nguyên và tổ
chức thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5
năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế tài nguyên số
45/2009/QH12 và một số Điều của Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của
Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế.
Đối với dầu thô, khí thiên nhiên,
khí than thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.
Điều 2. Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế tài nguyên
theo quy định tại Thông tư này là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất
liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam quy định, bao gồm:
1. Khoáng sản kim loại.
2. Khoáng sản không kim loại.
3. Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao
gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật
và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự
nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ.
4. Hải sản tự nhiên, gồm động vật
và thực vật biển.
5. Nước thiên nhiên, bao gồm: Nước
mặt và nước dưới đất; trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy.
Nước biển làm mát máy quy định tại
khoản này phải đảm bảo các yêu cầu về môi trường, hiệu quả sử dụng nước tuần
hoàn và điều kiện kinh tế kỹ thuật chuyên ngành được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác nhận. Trường hợp sử dụng nước biển mà gây ô nhiễm, không đạt các tiêu
chuẩn về môi trường thì xử lý theo quy định tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP
ngày 14/11/2013 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi, bổ
sung, thay thế (nếu có).
6. Yến sào thiên nhiên, trừ yến
sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ
chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác.
Yến sào do tổ chức, cá nhân đầu tư
xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác phải đảm bảo theo
quy định tại Thông tư số 35/2013/TT-BNNPTNT ngày 22/7/2013 của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
7. Tài nguyên thiên nhiên khác do
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để
trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 3. Người nộp thuế
Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức,
cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên theo quy định
tại Điều 2 Thông tư này. Người nộp thuế tài nguyên (dưới đây
gọi chung là người nộp thuế - NNT) trong một số trường hợp được quy định cụ thể
như sau:
1. Đối với hoạt động khai thác tài
nguyên khoáng sản thì người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản.
Trường hợp tổ chức được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, được phép hợp tác với
tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên và có quy định riêng về người nộp thuế
thì người nộp thuế tài nguyên được xác định theo văn bản đó.
Trường hợp tổ chức được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, sau đó có văn bản
giao cho các đơn vị trực thuộc thực hiện khai thác tài nguyên thì mỗi đơn vị
khai thác là người nộp thuế tài nguyên.
2. Doanh nghiệp khai thác tài
nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người
nộp thuế;
Trường hợp Bên Việt Nam và bên nước
ngoài cùng tham gia thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên
thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp
tác kinh doanh; Nếu trong hợp đồng hợp tác kinh doanh không xác định cụ thể bên
có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên thì các bên tham gia hợp đồng đều phải kê
khai nộp thuế tài nguyên hoặc phải cử ra người đại diện nộp thuế tài nguyên của
hợp đồng hợp tác kinh doanh.
3. Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi
công công trình trong quá trình thi công có phát sinh sản lượng tài nguyên mà
được phép của cơ quan quản lý nhà nước hoặc không trái quy định của pháp luật về
quản lý khai thác tài nguyên khi thực hiện khai thác sử dụng hoặc tiêu thụ thì
phải khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh tài
nguyên khai thác.
4. Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ
công trình thủy lợi để phát điện là người nộp thuế tài nguyên theo quy định tại
Thông tư này, không phân biệt nguồn vốn đầu tư công trình thủy lợi.
Trường hợp tổ chức quản lý công
trình thủy lợi cung cấp nước cho tổ chức, cá nhân khác để sản xuất nước sinh hoạt
hoặc sử dụng vào các mục đích khác (trừ trường hợp sử dụng nước để phát điện)
thì tổ chức quản lý công trình thủy lợi là người nộp thuế.
5. Đối với tài nguyên thiên nhiên
cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu thuộc đối tượng chịu
thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải khai, nộp
thuế tài nguyên theo từng lần phát sinh tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ
chức được giao bán tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến
hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.
Chương II
CĂN CỨ TÍNH THUẾ TÀI NGUYÊN
Điều 4. Căn cứ tính thuế
1. Căn cứ tính thuế tài nguyên là
sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế tài nguyên, thuế suất thuế tài
nguyên.
2. Xác định thuế tài nguyên phải nộp
trong kỳ
|
Thuế tài nguyên
phải nộp trong kỳ
|
=
|
Sản lượng tài
nguyên tính thuế
|
x
|
Giá tính thuế
đơn vị tài nguyên
|
x
|
Thuế suất thuế
tài nguyên
|
Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn
định mức thuế tài nguyên phải nộp trên một đơn vị tài nguyên khai thác thì số
thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:
|
Thuế tài nguyên
phải nộp trong kỳ
|
=
|
Sản lượng tài
nguyên tính thuế
|
x
|
Mức thuế tài
nguyên ấn định trên một đơn vị tài nguyên khai thác
|
Việc ấn định thuế tài nguyên được
thực hiện căn cứ vào cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế, phù hợp với các quy định về
ấn định thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Điều 5. Sản lượng tài nguyên
tính thuế
1. Đối với loại tài nguyên khai
thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài
nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế
khai thác trong kỳ tính thuế.
Trường hợp tài nguyên khai thác
thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại
khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo sản lượng từng
loại tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc
quy ra sản lượng của loại tài nguyên có sản lượng bán ra lớn nhất để làm căn cứ
xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ.
Ví dụ 1[2] (được bãi bỏ)
2. Đối với tài nguyên không xác định
được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế của tài nguyên khai thác do
chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau và được bán ra sau khi sàng tuyển, phân loại
thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định như sau:
a) Đối với tài nguyên sau khi sàng
tuyển, phân loại thu được từng chất riêng thì sản lượng tài nguyên tính thuế được
xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng loại tài nguyên hoặc từng
chất có trong tài nguyên thu được sau khi sàng tuyển, phân loại.
Trường hợp đất, đá, phế thải, bã
xít thu được qua sàng tuyển mà bán ra thì phải nộp thuế tài nguyên đối với lượng
tài nguyên có trong phế thải, bã xít bán ra theo giá bán và thuế suất tương ứng
của tài nguyên có trong phế thải, bã xít.
Ví dụ 2[3] (được bãi bỏ)
Ví dụ 3[4] (được bãi bỏ)
b) Đối với tài nguyên khai thác có
chứa nhiều chất khác nhau (quặng đa kim) qua sàng, tuyển, phân loại mà không
xác định được sản lượng từng chất có trong tài nguyên khai thác (quặng) thì sản
lượng tài nguyên tính thuế được xác định đối với từng chất căn cứ sản lượng tài
nguyên thực tế khai thác (quặng) và tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên. Tỷ
lệ từng chất có trong tài nguyên được xác định theo mẫu tài nguyên khai thác đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm định và phê duyệt. Trường hợp, tỷ lệ của
từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế khác với tỷ lệ từng chất có
trong mẫu tài nguyên (quặng) thì sản lượng tính thuế được xác định căn cứ kết
quả kiểm định về tỷ lệ từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ 4[5] (được bãi bỏ)
3. Đối với tài nguyên khai thác
không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc
xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định như sau:
Đối với tài nguyên khai thác không
bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất
khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được
xác định bằng cách quy đổi từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra
theo định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm. Định mức sử dụng
tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do NNT kê khai căn cứ dự án được cấp
có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn công nghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm
đang ứng dụng, trong đó:
- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản
phẩm tài nguyên thì căn cứ định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản
phẩm tài nguyên sản xuất bán ra.
- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản
phẩm công nghiệp thì căn cứ định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản
phẩm công nghiệp sản xuất bán ra.
Việc xác định sản phẩm bán ra sau
quá trình chế biến là sản phẩm công nghiệp hay không phải sản phẩm công nghiệp
do Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện theo thẩm quyền.
Ví dụ 5[6] (được bãi bỏ)
Ví dụ 6[7] (được bãi bỏ)
Ví dụ 7[8] (được bãi bỏ)
4. Đối với nước thiên nhiên dùng
cho sản xuất thủy điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của
cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng
điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định
theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của
bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận.
5. Đối với nước khoáng thiên
nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước
thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh thì sản lượng tài nguyên tính thuế được
xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt
tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam.
Người nộp thuế phải lắp đặt thiết
bị đo đếm sản lượng nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên
nhiên khai thác để làm căn cứ tính thuế. Thiết bị lắp đặt phải có giấy kiểm định
của cơ quan quản lý đo lường chất lượng tiêu chuẩn Việt Nam và thông báo lần đầu
với cơ quan thuế kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên trong kỳ khai thuế gần nhất
kể từ ngày lắp đặt xong thiết bị.
Trường hợp do điều kiện khách quan
không thể lắp đặt được thiết bị đo đếm sản lượng nước khai thác sử dụng và
không trực tiếp xác định được sản lượng tính thuế thì thực hiện khoán sản lượng
tài nguyên khai thác theo kỳ tính thuế. Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có
liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để
tính thuế tài nguyên theo quy định tại Thông tư này.
6. Cơ chế phối hợp giữa Cơ quan
thuế, Cơ quan nông nghiệp và môi trường[9]
để quản lý hoạt động khai thác tài nguyên tại địa phương như sau:
Căn cứ kê khai của NNT về sản lượng
tài nguyên thực tế khai thác trong năm theo từng mỏ tại Bảng kê được nộp cùng với
Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên khi kết thúc năm tài chính, trong vòng 05
ngày làm việc, cơ quan thuế có trách nhiệm chuyển cơ quan nông nghiệp và môi
trường[10] thông tin chi tiết về
sản lượng khai thác tài nguyên trong năm theo từng mỏ của các đơn vị trong địa
bàn.
Cơ quan nông nghiệp và môi trường[11] có trách nhiệm đối chiếu sản lượng
tài nguyên đã khai thác tại từng mỏ do đơn vị khai thác khai, nộp thuế với dữ
liệu đã có tại cơ quan nông nghiệp và môi trường[12]; Trường hợp sản lượng khai thuế không phù hợp sản lượng
được phép khai thác ghi trên Giấy phép khai thác hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp
luật thì cơ quan nông nghiệp và môi trường[13] sẽ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xác định sản lượng
khai thác thực tế của đơn vị.
Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được thông tin do cơ quan thuế chuyển đến, Cơ quan nông nghiệp và môi
trường[14] có trách nhiệm chuyển
thông tin cho cơ quan thuế để xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế.
7. Trường hợp trên địa bàn có
doanh nghiệp khai thác, xuất khẩu sản phẩm tài nguyên, cơ quan thuế thực hiện
xác định sản lượng sản phẩm tài nguyên thực tế xuất khẩu trên Tờ khai Hải quan
theo cơ chế trao đổi thông tin tại Quyết định số 574 QĐ/BTC ngày 30/3/2015 của
Bộ Tài chính để quy đổi ra sản lượng sản phẩm tài nguyên sản xuất và thực hiện
đối chiếu với sản lượng tài nguyên trên Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên của
doanh nghiệp. Trường hợp phát sinh chênh lệch sản lượng tài nguyên tính thuế mà
doanh nghiệp đã kê khai, nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cơ quan thuế
áp dụng các biện pháp kiểm tra, thanh tra phù hợp theo quy định của Luật Quản
lý Thuế để tính, thu đủ thuế tài nguyên và xử lý vi phạm theo quy định.
Sản lượng tài nguyên khai thác
tăng thêm qua kiểm tra, thanh tra phải chịu thuế tài nguyên theo mức thuế suất
và giá tính thuế tài nguyên quy định tại thời điểm phát sinh sản lượng tài
nguyên khai thác; Trường hợp không xác định được sản lượng tài nguyên khai thác
tăng thêm phát sinh thuộc kỳ kê khai thuế cụ thể nào thì áp dụng mức thuế suất
và giá tính thuế tài nguyên do pháp luật quy định tại thời điểm kết thúc năm
khai thác tài nguyên.
Điều 6. Giá tính thuế tài
nguyên
Giá tính thuế tài nguyên là giá
bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế
giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp
tỉnh quy định; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên thấp hơn giá tính
thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế tài nguyên theo giá do
UBND cấp tỉnh quy định.
Trường hợp sản phẩm tài nguyên được
vận chuyển đi tiêu thụ, trong đó chi phí vận chuyển, giá bán sản phẩm tài
nguyên được ghi nhận riêng trên hóa đơn thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán
sản phẩm tài nguyên không bao gồm chi phí vận chuyển.
1. Đối với loại tài nguyên xác định
được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên
Giá tính thuế tài nguyên là giá
bán đơn vị sản phẩm tài nguyên có cùng phẩm cấp, chất lượng chưa bao gồm thuế
giá trị gia tăng và được áp dụng cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác
trong tháng; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu
(chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng tài
nguyên tương ứng bán ra trong tháng.
Trường hợp trong tháng có khai
thác tài nguyên nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế
tài nguyên là giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước
gần nhất có doanh thu; nếu giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền
của tháng trước gần nhất có doanh thu thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND
cấp tỉnh quy định thì áp dụng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định.
Trường hợp các tổ chức là pháp
nhân khai thác tài nguyên cho Tập đoàn, Tổng công ty để tập trung một đầu mối
tiêu thụ theo hợp đồng thỏa thuận giữa các bên hoặc bán ra theo giá do Tổng
công ty, Tập đoàn quyết định thì giá tính thuế tài nguyên là giá do Tổng công
ty, Tập đoàn quyết định nhưng không được thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh tại địa
phương nơi khai thác tài nguyên quy định.
2. Đối với loại tài nguyên không
xác định được giá bán đơn vị tài nguyên khai thác do có chứa nhiều chất khác
nhau
Giá tính thuế là giá bán đơn vị tài
nguyên của từng chất, được xác định căn cứ tổng doanh thu bán tài nguyên trong
tháng (chưa có thuế GTGT) tính cho từng chất có trong tài nguyên khai thác theo
tỷ lệ hàm lượng của từng chất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm phê
duyệt và sản lượng tài nguyên bán ra ghi trên chứng từ bán hàng tương ứng với từng
chất.
Ví dụ 8[15] (được bãi bỏ)
3. Đối với tài nguyên khai thác
không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (bán trong nước hoặc xuất
khẩu)
a) Trường hợp bán ra sản phẩm tài
nguyên thì giá tính thuế là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên (trường hợp bán
trong nước) tương ứng với sản lượng tài nguyên bán ra ghi trên chứng từ bán
hàng hoặc trị giá hải quan của sản phẩm tài nguyên xuất khẩu (trường hợp xuất
khẩu) không bao gồm thuế xuất khẩu tương ứng với sản lượng tài nguyên xuất khẩu
ghi trên chứng từ xuất khẩu nhưng không thấp hơn giá tính thuế do UBND cấp tỉnh
quy định.
Trị giá hải quan của sản phẩm tài nguyên
xuất khẩu thực hiện theo quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu
tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành và sửa đổi, bổ sung (nếu
có).
b)[16] Trường hợp bán ra sản phẩm công nghiệp thì giá tính thuế
tài nguyên là giá bán sản phẩm công nghiệp trừ đi chi phí chế biến phát sinh của
công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên thành sản phẩm công nghiệp nhưng
không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
c) Trường hợp giá tính thuế mà NNT
xác định thấp hơn giá tính thuế tại Bảng giá do UBND cấp tỉnh quy định thì áp dụng
giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định; Trường hợp tại Bảng giá của UBND cấp tỉnh
quy định chưa có giá đối với loại sản phẩm này thì cơ quan thuế phối hợp với cơ
quan chức năng thực hiện kiểm tra, ấn định theo pháp luật về quản lý thuế.
d) Trường hợp tài nguyên khai thác
dựa vào chế biến, sản xuất sản phẩm và thu được sản phẩm tài nguyên đồng hành
thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên theo từng trường hợp cụ thể nêu tại
Điều này.
Ví dụ 9[17] (được bãi bỏ)
4. Giá tính thuế tài nguyên trong
một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
a)[18] Giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng
sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân.
Giá bán điện thương phẩm bình quân
để tính thuế tài nguyên đối với các cơ sở sản xuất thủy điện được xác định theo
giá bán lẻ điện bình quân do Bộ Công Thương quyết định.
b) Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao
(kho, bãi nơi khai thác); trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao
thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quy định theo hướng dẫn tại khoản 6 Điều này.
c) Đối với nước khoáng thiên
nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước
thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh mà không có giá bán ra thì giá tính
thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 5
Điều này.
d) Tổ chức, cá nhân khai thác tài
nguyên không thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán, chứng từ kế toán theo quy
định thì cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, ấn định thuế theo quy định của pháp
luật về quản lý thuế. Trường hợp này, sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định
căn cứ kết quả kiểm tra, giá tính thuế tài nguyên là giá tại Bảng giá do UBND cấp
tỉnh quy định áp dụng tương ứng với từng thời kỳ.
5[19]. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Bảng giá tính thuế
tài nguyên như sau:
5.1. Bảng giá tính thuế tài nguyên
có các thông tin để làm cơ sở xác định thuế tài nguyên đối với hoạt động khai
thác tài nguyên phát sinh trong tỉnh phù hợp với chính sách, pháp luật gồm: định
mức sử dụng tài nguyên làm căn cứ quy đổi từ sản phẩm tài nguyên hoặc sản phẩm công
nghiệp ra sản lượng tài nguyên khai thác có trong sản phẩm tài nguyên và sản phẩm
công nghiệp; Giá tính thuế tài nguyên tương ứng với loại tài nguyên khai thác,
sản phẩm tài nguyên sau khi chế biến, trong đó:
a) Định mức sử dụng tài nguyên làm
căn cứ quy đổi từ sản phẩm tài nguyên hoặc sản phẩm công nghiệp ra sản lượng
tài nguyên khai thác có trong sản phẩm tài nguyên và sản phẩm công nghiệp của
các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh được xác định căn cứ thực tế khai
báo của doanh nghiệp nhưng phải phù hợp báo cáo thăm dò đánh giá của các cơ
quan, tổ chức về hàm lượng, chất lượng, sản lượng của loại tài nguyên, phương
pháp khai thác, tỷ lệ thu hồi tài nguyên tại địa bàn nơi có tài nguyên khai
thác.
b) Giá tính thuế quy định tại Bảng
giá là giá tài nguyên khai thác và giá sản phẩm tài nguyên tương ứng với tính
chất của tài nguyên, sản phẩm tài nguyên khai thác, chế biến của các doanh nghiệp
hoạt động trong địa bàn tỉnh, được xác định trên cơ sở các tài liệu, chứng từ,
hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp, tổ chức trong tỉnh về chất lượng, sản lượng
của loại tài nguyên, giá sản phẩm tài nguyên bán ra tại thị trường địa phương
và thị trường của địa phương lân cận, trừ trường hợp được quy định tại điểm c khoản
5 Điều này.
c) Giá tính thuế tài nguyên đối với
trường hợp tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới
bán ra được xác định như sau:
c1) Đối với trường hợp tài nguyên
khai thác được đưa vào sản xuất, chế biến và bán ra sản phẩm tài nguyên thì giá
tính thuế là giá bán sản phẩm tài nguyên không có thuế giá trị gia tăng (trường
hợp tiêu thụ trong nước) hoặc trị giá hải quan không bao gồm thuế xuất khẩu (đối
với trường hợp xuất khẩu);
c2) Đối với trường hợp tài nguyên
khai thác được đưa vào sản xuất, chế biến thành sản phẩm công nghiệp mới bán ra
(tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu): Giá tính thuế tài nguyên được xác định
căn cứ vào giá bán (trường hợp tiêu thụ trong nước) hoặc trị giá hải quan (đối
với trường hợp xuất khẩu) của sản phẩm công nghiệp bán ra trừ thuế xuất khẩu (nếu
có) và chi phí chế biến công nghiệp của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài
nguyên thành sản phẩm công nghiệp.
Chi phí chế biến được trừ quy định
tại điểm c2 này do Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan thuế, cơ quan
nông nghiệp và môi trường[20] và
cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan thống nhất xác định trình Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định căn cứ vào công nghệ chế biến theo Dự án đã được
phê duyệt và kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác, chế
biến tài nguyên trong địa bàn tỉnh.
5.2.[21] (được bãi bỏ)
5.3[22]. Trường hợp điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Bảng giá tính
thuế tài nguyên, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức
việc xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Bảng giá tính thuế tài nguyên và
trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên.
5.4[23]. Sau khi Bảng giá tính thuế tài nguyên được ban hành, Bộ
Tài chính (Cục Thuế) cập nhật cơ sở dữ liệu giá tính thuế tài nguyên. Cơ quan
thuế địa phương công khai Bảng giá tính thuế tài nguyên trên Cổng thông tin điện
tử của cơ quan mình.
Điều 7. Thuế suất thuế tài
nguyên
1.[24] Thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài
nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế
suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10
tháng 12 năm 2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản sửa đổi, bổ sung
(nếu có).
2. Việc áp dụng thuế suất thuế tài
nguyên đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên
tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước thiên nhiên khai thác, sử dụng trong một số
trường hợp được xác định như sau:
a) Nước khoáng thiên nhiên, nước
nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp (kể cả đóng
bình, đóng thùng có thể chiết ra thành chai, thành hộp) đều áp dụng cùng mức
thuế suất thuế tài nguyên như loại được đóng chai, đóng hộp;
b) Nước thiên nhiên dùng cho sản
xuất thủy điện, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh có lẫn nước
khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên mà theo hồ sơ thiết kế, quy trình
công nghệ sản xuất, cung ứng dịch vụ đã được cơ quan thẩm quyền phê duyệt xác định
không thuộc diện sản xuất kinh doanh sản phẩm nước khoáng thiên nhiên, nước
nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp thì áp dụng mức
thuế suất thuế tài nguyên theo mục đích sử dụng tương ứng.
Chương III
ĐĂNG KÝ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ, QUYẾT TOÁN THUẾ
Điều 8. Đăng ký thuế, khai thuế,
nộp thuế, quyết toán thuế
Việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp
thuế, quyết toán thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế, các
văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu
có).
Riêng việc khai thuế, nộp thuế,
quyết toán thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản, ngoài việc thực hiện
theo quy định chung, còn thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông
tư này.
Điều 9. Khai thuế, quyết toán
thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
1. Tổ chức, hộ kinh doanh khai
thác tài nguyên có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế về phương pháp xác định
giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên khai thác, kèm theo hồ sơ khai thuế
tài nguyên của tháng đầu tiên có khai thác. Trường hợp thay đổi phương pháp xác
định giá tính thuế thì thông báo lại với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong
tháng có thay đổi.
2. Hàng tháng, NNT thực hiện khai
thuế đối với toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng (không phân biệt
tồn kho hay đang trong quá trình chế biến).
3. Khi quyết toán thuế, NNT phải lập
Bảng kê kèm theo Tờ khai quyết toán thuế năm trong đó kê khai chi tiết sản lượng
khai thác trong năm theo từng mỏ tương ứng với Giấy phép được cấp. Số thuế tài
nguyên được xác định căn cứ thuế suất của loại tài nguyên khai thác tương ứng với
sản lượng và giá tính thuế như sau:
a[25]) Sản lượng tài nguyên tính thuế là tổng sản lượng tài nguyên
khai thác trong năm, không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến
hoặc vận chuyển.
Trường hợp trong sản lượng bán ra
vừa có sản lượng sản phẩm tài nguyên vừa có sản lượng sản phẩm công nghiệp thì
phải quy đổi từ tài nguyên có trong sản lượng sản phẩm tài nguyên và sản phẩm
công nghiệp ra sản lượng tài nguyên khai thác theo định mức sử dụng tài nguyên
do NNT tự xác định.
Trường hợp áp dụng định mức sử dụng
tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do người nộp thuế tự xác định tính ra
số thuế tài nguyên phải nộp thấp hơn số thuế tài nguyên tính theo định mức sử dụng
tài nguyên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành đối với cùng một loại tài
nguyên thì áp dụng định mức sử dụng tài nguyên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban
hành.
b) Giá tính thuế là giá bán bình
quân một đơn vị sản phẩm tài nguyên được xác định bằng cách lấy tổng doanh thu
bán tài nguyên chia cho tổng sản lượng tài nguyên bán ra tương ứng trong năm.
Chương IV
MIỄN, GIẢM THUẾ TÀI NGUYÊN
Điều 10. Miễn thuế tài nguyên
Các trường hợp được miễn thuế tài
nguyên theo quy định tại Điều 9 Luật thuế tài nguyên và Điều 6, Nghị định số
50/2010/NĐ-CP, bao gồm:
1. Miễn thuế tài nguyên đối với tổ
chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên.
2. Miễn thuế tài nguyên đối với tổ
chức, cá nhân khai thác cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu,
lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt.
3. Miễn thuế tài nguyên đối với tổ
chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho hoạt động sản xuất thủy điện
để phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.
4. Miễn thuế tài nguyên đối với nước
thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt.
5. Miễn thuế tài nguyên đối với đất
do tổ chức, cá nhân được giao, được thuê khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện
tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an
ninh, quân sự, đê điều.
Đất khai thác và sử dụng tại chỗ
được miễn thuế tại điểm này bao gồm cả cát, đá, sỏi có lẫn trong đất nhưng
không xác định được cụ thể từng chất và được sử dụng ở dạng thô để san lấp, xây
dựng công trình; Trường hợp vận chuyển đi nơi khác để sử dụng hoặc bán thì phải
nộp thuế tài nguyên theo quy định.
6. Trường hợp khác được miễn thuế
tài nguyên, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo
Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 11. Giảm thuế tài nguyên
Các trường hợp được miễn thuế tài
nguyên theo quy định tại Điều 9 Luật thuế tài nguyên và Điều 6, Nghị định số
50/2010/NĐ-CP, bao gồm:
1. Người nộp thuế tài nguyên gặp
thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp
thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất; trường
hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã nộp hoặc trừ vào số thuế tài
nguyên phải nộp của kỳ sau.
2. Trường hợp khác được giảm thuế
tài nguyên, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo
Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 12. Trình tự, thủ tục miễn,
giảm thuế tài nguyên
Trình tự, thủ tục miễn, giảm thuế
tài nguyên, thẩm quyền miễn, giảm thuế tài nguyên được thực hiện theo quy định
của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế
và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 13. Tổ chức thực hiện[26]
1[27]. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:
a) Chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan: xây dựng Bảng giá tính thuế tài nguyên áp dụng
tại địa phương; rà soát biến động của thị trường để điều chỉnh Bảng giá tính
thuế tài nguyên phù hợp với quy định.
b) Chỉ đạo các cơ quan thuế, tài
chính, nông nghiệp và môi trường và các cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện
quản lý thuế tài nguyên theo hướng dẫn tại Thông tư này.
2. Thông tư này có hiệu lực thi
hành từ ngày 20/11/2015 thay thế Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của
Bộ Tài chính.
Trong quá trình thực hiện, nếu có
khó khăn vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài
chính để được nghiên cứu giải quyết kịp thời./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Bộ Tư pháp (để theo dõi);
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ (để đăng tải);
- Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính (để đăng tải);
- Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính (để đăng trên CSDL Quốc gia về PL);
- Cục Thuế;
- Lưu: VT , Cục CST ( b).
|
BỘ TÀI CHÍNH
-------
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Cao Anh Tuấn
|
[1] - Thông tư số 12/2016/TT-BTC có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Luật thuế tài nguyên số
45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số
1084/2015/UBTVQH13 ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban
hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên;
Căn cứ Nghị định số
50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tài nguyên;
Căn cứ Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về thuế;
Căn cứ Nghị định số
215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ
Chính sách Thuế;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02
tháng 10 năm 2015 hướng dẫn về thuế tài nguyên như sau:”
- Thông tư 174/2016/TT-BTC có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Thuế tài nguyên số
45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật Khoáng sản số
60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010;
Căn cứ Luật Quản lý Thuế số
78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Quản lý Thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;
Căn cứ Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13
ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc ban hành Biểu mức
thuế suất thuế tài nguyên;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP
ngày 22 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Quản lý Thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế;
Căn cứ Nghị định số
50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên;
Căn cứ Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về thuế;
Căn cứ Nghị định số
215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC
ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên”
- Thông tư số 41/2024/TT-BTC có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Thuế tài nguyên
ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số
50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên;
Căn cứ Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về thuế;
Căn cứ Nghị định số
14/2023/NĐ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính:
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12
tháng 5 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khung giá tính thuế tài
nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau và Thông
tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng
dẫn về thuế tài nguyên.”
- Thông tư số 135/2026/TT-BTC có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Thuế tài nguyên số
45/2009/QH12, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2014/QH13;
Căn cứ Nghị định số
50/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thuế tài nguyên, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số
29/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tài chính, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 166/2025/NĐ-CP;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục
Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được sửa đổi, bổ sung bởi
Thông tư số 41/2024/TT-BTC.”
[2] Ví
dụ 1 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[3] Ví
dụ 2 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC,
có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[4] Ví
dụ 3 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[5] Ví
dụ 4 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[6] Ví
dụ 5 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[7] Ví
dụ 6 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[8] Ví
dụ 7 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[9] Cụm
từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi trường”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có hiệu lực
kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[10]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi
trường” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[11]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi trường”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có hiệu lực
kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[12]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi
trường” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[13]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi
trường” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[14]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi
trường” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[15]
Ví dụ 8 được bãi bỏ theo điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[16]
Nội dung “Chi phí chế biến phát sinh của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài
nguyên thành sản phẩm công nghiệp được trừ khi xác định giá tính thuế căn cứ
công nghệ chế biến của doanh nghiệp theo Dự án đã được phê duyệt nhưng không
bao gồm chi phí khai thác, sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng.” được bãi bỏ theo
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể
từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[17]
Ví dụ 9 được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[18] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 1 Thông tư 174/2016/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 12 năm 2016.
[19]
Các cụm từ “Hàng năm”, cụm từ “để thực hiện cho năm tiếp theo liền kề”, cụm từ
“phải căn cứ hướng dẫn của các Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành, Bộ Tài chính
và”, và cụm từ “nhưng không bao gồm chi phí khai thác, sàng, tuyển, làm giàu hàm
lượng” được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[20]
Cụm từ “tài nguyên và môi trường” được thay thế bởi cụm từ “nông nghiệp và môi
trường” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có
hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[21] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều
2 Thông tư số 41/2024/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2024.
[22] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[23] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[24] Khoản
này được sửa đổi theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 12/2016/TT-BTC có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
[25] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026.
[26] - Điều 2 Thông tư số 12/2016/TT-BTC, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định như sau:
“Điều 2. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/7/2016.
Trong quá trình thực hiện, nếu
có khó khăn vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài
chính để được nghiên cứu, giải quyết./.”
- Điều 2 Thông tư 174/2016/TT-BTC,
có hiệu lực kể từ ngày 12/12/2016 quy định về điều khoản thi hành như sau:
“Thông tư này có hiệu lực thi
hành từ ngày 12 tháng 12 năm 2016.
Trong quá trình thực hiện, nếu
có khó khăn vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài
chính để được nghiên cứu giải quyết kịp thời./.”
- Điều 3 Thông tư số
41/2024/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 quy định về điều khoản
thi hành như sau:
“Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 7 năm 2024.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu
có vướng mắc, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ
Tài chính để được nghiên cứu giải quyết./.”
- Điều 3 Thông tư số
135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2026 quy định về điều khoản
thi hành như sau:
“1. Thông tư có hiệu lực từ
ngày 09 tháng 9 năm 2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế tài nguyên
năm 2026.
2. Trong quá trình thực hiện, trường hợp phát
sinh vướng mắc, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ
Tài chính để nghiên cứu, hướng dẫn./.”
[27] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản
4 Điều 1 Thông tư số 135/2026/TT-BTC, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm
2026.