|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 317/KH-UBND
|
Đắk Lắk, ngày 16
tháng 7 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2027
Căn cứ Quyết định số
1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình
tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Chỉ thị số 26/CT-TTg
ngày 12/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2027;
Để cụ thể hóa các mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã gắn với kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội năm 2027, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Kế hoạch phát triển kinh
tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh năm 2027 với các nội dung sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC
XÃ NĂM 2026
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
KTTT, HTX NĂM 2026:
1. Đánh giá dựa trên các chỉ
tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ hợp tác (THT), HTX, liên hiệp hợp
tác xã (LHHTX):
a) Về số lượng, doanh thu
và thu nhập của THT, HTX, LHHTX
- Đến tháng 6 năm 2026, toàn
tỉnh Đắk Lắk có 1.255 HTX, 08 LHHTX và 510 THT. Trong đó có 1.000 HTX, 06 LHHTX
và 510 THT đang hoạt động; 255 HTX và 02 LHHTX ngừng hoạt động; thành lập mới
56 HTX và 01 LHHTX; giải thể 01 HTX; không phát sinh trường hợp phá sản. So với
kế hoạch năm 2026:
+ Tổng số HTX đạt 94,7% kế
hoạch (1.255/1.325 HTX); số HTX đang hoạt động đạt 99,5% kế hoạch (1.000/1.005
HTX); số HTX thành lập mới đạt 74,7% kế hoạch (56/75 HTX);
+ Tổng số LHHTX đạt 100% kế
hoạch (08/08 LHHTX), trong đó số LHHTX đang hoạt động đạt 120% kế hoạch (06/05 LHHTX),
thành lập mới đạt 33,3% kế hoạch (01/03 LHHTX);
+ Tổng số THT đạt 94,4% kế
hoạch (510/540 THT).
Khu vực kinh tế tập thể (KTTT)
tiếp tục duy trì ổn định, số lượng HTX và LHHTX tăng so với đầu năm; công tác
thành lập mới HTX được triển khai tích cực, đạt 74,7% kế hoạch năm ngay trong 6
tháng đầu năm, tạo cơ sở thuận lợi để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu phát
triển KTTT năm 2026. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều HTX ngừng hoạt động kéo dài, việc
tổ chức lại hoặc giải thể theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023 còn gặp
khó khăn, ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng số lượng HTX đang hoạt động.
- Doanh thu bình quân của HTX
trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2.900 triệu đồng/HTX/năm, cao hơn mục
tiêu kế hoạch năm 2026 là 2.800 triệu đồng/HTX/năm, đạt khoảng 103,6% kế hoạch.
Doanh thu bình quân của THT đạt khoảng 1.500 triệu đồng/THT/năm.
Doanh thu bình quân của HTX đạt
mức cao, vượt chỉ tiêu kế hoạch năm, cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh
của nhiều HTX tiếp tục được duy trì ổn định. Nhiều HTX đã chủ động mở rộng liên
kết sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm và từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, hiệu quả
hoạt động giữa các HTX vẫn còn chênh lệch; nhiều HTX quy mô nhỏ, năng lực tài
chính và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.
- Lãi bình quân của hợp tác xã
đạt khoảng 290 triệu đồng/HTX/năm, tương đương khoảng 82,9% kế hoạch năm 2026
(350 triệu đồng/HTX/năm).
Kết quả này phản ánh hoạt động
của các HTX vẫn chịu tác động bởi giá vật tư đầu vào ở mức cao, thị trường tiêu
thụ nông sản còn nhiều biến động; đồng thời phần lớn HTX có quy mô nhỏ, năng
lực tài chính, trình độ quản trị và khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ còn
hạn chế. Trong 6 tháng cuối năm, cùng với việc tiếp tục triển khai các chính
sách hỗ trợ phát triển KTTT, các HTX sẽ có thêm điều kiện nâng cao hiệu quả sản
xuất, kinh doanh và phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm.
b) Về thành viên, lao
động của THT, HTX, LHHTX
- Hiện nay, toàn tỉnh Đắk Lắk
có khoảng 184.637 thành viên HTX, tăng thêm 385 thành viên mới tham gia; khoảng
8.800 thành viên THT. So với kế hoạch năm 2026, số thành viên HTX đạt khoảng 99,8%
kế hoạch (184.637/185.000 thành viên), trong khi số thành viên THT đạt khoảng
86,7% kế hoạch (8.800/10.150 thành viên).
Số lượng thành viên HTX tiếp
tục tăng, cho thấy mô hình HTX từng bước tạo được niềm tin và thu hút người dân
tham gia. Việc kết nạp thêm thành viên mới góp phần mở rộng quy mô hoạt động, nâng
cao khả năng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, nhiều HTX vẫn
hoạt động với quy mô nhỏ, khả năng mở rộng sản xuất còn hạn chế nên việc phát
triển thành viên mới ở một số địa phương còn gặp khó khăn.
- Tổng số lao động làm việc
thường xuyên[1] trong THT,
HTX, LHHTX: Đến tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh có khoảng 27.221 lao động thường
xuyên làm việc trong HTX, trong đó 221 lao động thường xuyên mới được tạo việc
làm. So với kế hoạch năm 2026, số lao động thường xuyên trong HTX đạt khoảng
111,1% kế hoạch (27.221/24.500 lao động).
Số lao động thường xuyên trong
HTX tiếp tục được duy trì ở mức ổn định và đã vượt kế hoạch năm, góp phần tạo
việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, nhất là tại khu vực nông
thôn. Kết quả này phản ánh hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều HTX tiếp
tục được duy trì ổn định, từng bước mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao nhu
cầu sử dụng lao động. Tuy nhiên, số lao động mới phát sinh còn hạn chế do phần
lớn HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và khả năng mở rộng sản xuất còn chưa
cao.
- Thu nhập bình quân của lao
động thường xuyên trong HTX đạt khoảng 68 triệu đồng/người/năm, bằng khoảng
90,7% kế hoạch năm 2026 (75 triệu đồng/người/năm). Thu nhập của thành viên THT
đạt khoảng 60 triệu đồng/người/năm.
Thu nhập của người lao động
trong HTX trên địa bàn tỉnh cơ bản được duy trì ổn định, góp phần cải thiện đời
sống thành viên và người lao động. Tuy nhiên, mức thu nhập của nhiều HTX vẫn
chịu tác động của biến động giá vật tư đầu vào, thị trường tiêu thụ nông sản
chưa ổn định và hiệu quả sản xuất, kinh doanh giữa các HTX còn chênh lệch. Thời
gian tới, cùng với việc tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển
KTTT, nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng khoa học, công nghệ và mở rộng liên
kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thu nhập của người lao động trong HTX dự kiến
sẽ tiếp tục được cải thiện.
c) Về trình độ cán bộ
quản lý THT, HTX, LHHTX
- Tổng số cán bộ quản lý THT,
HTX, LHHTX: 4.954 cán bộ
- Tổng số cán bộ quản lý THT,
HTX, LHHTX đạt trình độ sơ cấp, trung cấp: 2.020 cán bộ chiếm 40,8% tổng số cán
bộ quản lý THT, HTX, LHHTX và đạt 96,2% mục tiêu kế hoạch năm 2026;
- Tổng số cán bộ quản lý THT,
HTX, LHHTX đạt trình độ cao đẳng, đại học: 1.434 cán bộ, chiếm 29% tổng số cán
bộ quản lý THT, HTX, LHHTX và đạt 102,4% mục tiêu kế hoạch năm 2026.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý THT, HTX, LHHTX tiếp tục được cải thiện, đặc biệt tỷ lệ cán bộ có trình độ
cao đẳng, đại học đã vượt mục tiêu kế hoạch năm 2026, phản ánh hiệu quả của
công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và sự quan tâm của các HTX trong
việc nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý. Đối với nhóm cán bộ có trình độ sơ
cấp, trung cấp, kết quả đạt gần mục tiêu kế hoạch năm, tạo nền tảng để tiếp tục
hoàn thành chỉ tiêu trong những tháng cuối năm.
Tuy nhiên, nhìn chung trình độ
và năng lực quản trị giữa các HTX vẫn chưa đồng đều; một bộ phận cán bộ quản lý
còn hạn chế về kỹ năng quản trị, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, ứng dụng
khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức quản trị, tài chính, thị trường và chuyển đổi số nhằm
nâng cao năng lực điều hành, đáp ứng yêu cầu phát triển của khu vực KTTT trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn mới.
2. Đánh giá theo lĩnh vực:
a) Lĩnh vực nông nghiệp:
Tổng số HTX nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay là 866 HTX, chiếm 69,04% số HTX toàn tỉnh bao
gồm: 716 HTX đang hoạt động, 150 HTX ngừng hoạt động; trong đó thành lập mới 31
HTX, giải thể được 01 HTX.
Sản phẩm của HTX nông nghiệp
ngày càng đa dạng phong phú, từng bước đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nhiều
HTX có ứng dụng công nghệ cao, chủ yếu tập trung vào công nghệ tưới nhỏ giọt,
công nghệ sấy, công nghệ chế biến và rang xay cà phê, sản xuất rau, củ, quả
tươi; nhiều HTX đã tổ chức hoạt động, sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị,
ứng dụng công nghệ cao[2];
một số HTX vừa sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp vừa đầu tư, hình
thành và phát triển các mô hình du lịch nông nghiệp, du lịch nông thôn, thu hút
được du khách quan tâm, trải nghiệm, bước đầu mang lại hiệu quả[3].
b) Lĩnh vực Công nghiệp – Xây
dựng:
Toàn tỉnh hiện có 140 HTX công nghiệp
- xây dựng, chiếm 11,2% số HTX toàn tỉnh, bao gồm: 81 HTX hoạt động, 59 HTX
ngừng hoạt động; trong đó thành lập mới 11 HTX.
Các HTX công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh khá đa dạng, như: Mây tre đan, dệt
thổ cẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, chế biến gỗ, mỹ nghệ, điện
nước,... có chiều hướng chuyển biến tích cực trong việc đầu tư đổi mới công
nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, chuyển phương
án sản xuất kinh doanh – dịch vụ từ đơn ngành sang kinh doanh tổng hợp, tạo
nhiều việc làm cho lao động địa phương[4]. Ngoài ra, một số HTX còn tích cực phối hợp với các cơ quan,
các trung tâm dạy nghề tổ chức các lớp dạy nghề và truyền nghề cho thành viên
và người lao động địa phương. Nhiều HTX đã có sự quan tâm hơn trong công tác
quảng bá, giới thiệu sản phẩm như tham gia Hội chợ triển lãm, nghiên cứu thị
trường, tổ chức các cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
Các HTX xây dựng hầu hết có quy
mô nhỏ, vốn đầu tư thấp, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
vật liệu xây dựng, khai thác cát, sản xuất gạch, ngói, thực hiện thi công các
công trình dân sinh nhỏ,, thời gian thực hiện ngắn; tuy hiệu quả chưa cao nhưng
cũng đã giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho một bộ phận lao động địa
phương.
c) Lĩnh vực Thương mại - dịch
vụ và vận tải:
Đến tháng 6/2026, tỉnh Đắk Lắk
hiện có 233 HTX thương mại - dịch vụ và vận tải, chiếm 18,5 % số HTX toàn tỉnh;
bao gồm: 187 HTX đang hoạt động, 46 HTX ngừng hoạt động; trong đó thành lập mới
14 HTX.
Một số ít HTX kinh doanh nông
sản có doanh thu khá, các HTX còn lại chủ yếu kinh doanh mua bán phân bón, xăng
dầu, giết mổ gia súc, dịch vụ du lịch với quy mô nhỏ, lợi nhuận chưa cao. Trong
những năm gần đây, nhiều HTX quản lý chợ đã được thành lập; trong đó có HTX chuyên
quản lý kinh doanh chợ, có HTX hoạt động tổng hợp nhiều dịch vụ (vận tải và
quản lý kinh doanh chợ; dịch vụ điện và quản lý và kinh doanh chợ; dịch nông
nghiệp và quản lý chợ…). Trong lĩnh vực này, các HTX đã góp phần vào phát
triển lưu thông hàng hoá, tăng cường các hoạt động thương mại, duy trì ổn định
thị trường.
d) Lĩnh vực tài chính, ngân hàng
và bảo hiểm:
Toàn tỉnh Đắk Lắk có 16 Quỹ tín
dụng nhân dân với khoảng 28.281 thành viên, giải quyết khoảng 144 người lao
động làm việc thường xuyên, trong đó 100% lao động là thành viên của Quỹ tín
dụng nhân dân. Thu nhập bình quân của người lao động là 9 triệu/tháng. Tổng
nguồn vốn hoạt động khoảng 2.941 tỷ đồng; tổng dư nợ đạt khoảng 2.400 tỷ đồng;
100% dư nợ là cho vay trong thành viên. Tổng thu nhập trừ chi phí bình quân:
948,25 triệu đồng. Quỹ tín dụng nhân dân đã thực sự trở thành “bà đỡ” về
vốn sản xuất kinh doanh cho hộ thành viên, góp phần làm giảm tình trạng tín
dụng đen trong cộng đồng dân cư. Nguồn vốn hoạt động, dư nợ cho vay, doanh thu,
lợi nhuận của các Quỹ đều tăng qua các năm, nợ xấu được kiểm soát ở mức dưới 1%
tổng dư nợ.
3. Đánh giá tác động của THT,
HTX, LHHTX tới thành viên, kinh tế hộ thành viên
Khu vực KTTT tiếp tục có vai
trò quan trọng trong hỗ trợ phát triển kinh tế hộ, nhất là khu vực nông nghiệp,
nông thôn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các THT, HTX, LHHTX trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa hộ sản xuất với doanh nghiệp và
thị trường. Thông qua việc cung ứng vật tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức
sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm, nhiều thành viên đã giảm chi phí sản
xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và có đầu ra ổn định hơn. Việc
tham gia HTX cũng giúp nhiều hộ từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản
xuất theo vùng nguyên liệu, gắn với chuỗi giá trị, qua đó cải thiện thu nhập và
nâng cao hiệu quả sản xuất.
Bên cạnh hiệu quả về kinh tế,
nhiều HTX còn tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương, hỗ trợ đồng bào dân
tộc thiểu số và hộ sản xuất nhỏ tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, tiêu chuẩn chất
lượng và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước. Một số HTX kết hợp sản xuất với
du lịch cộng đồng, góp phần tạo thêm sinh kế, giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng
cao đời sống của người dân khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động
giữa các THT, HTX chưa đồng đều. Một số đơn vị vẫn có quy mô nhỏ, năng lực quản
trị và khả năng liên kết thị trường còn hạn chế, nên tác động đến thu nhập của thành
viên chưa thật sự rõ nét. Việc tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, mở rộng
liên kết với doanh nghiệp và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ sẽ là yếu tố
quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTTT trong thời gian tới.
4. Đánh giá tình hình liên kết
giữa tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã với các thành phần kinh tế khác và một
số mô hình hoạt động hiệu quả theo phương thức sản xuất gắn với chuỗi giá trị,
ứng dụng công nghệ cao:
Trong 6 tháng đầu năm 2026,
hoạt động liên kết giữa các HTX với doanh nghiệp, cơ sở chế biến, đơn vị phân
phối, tổ chức khoa học và hộ sản xuất tiếp tục được mở rộng, nhất là trong lĩnh
vực nông nghiệp. Toàn tỉnh hiện có khoảng 185 HTX tham gia liên kết với 34
doanh nghiệp, 276 trang trại, gia trại, hơn 15.500 hộ sản xuất và 05 tổ chức
khoa học, góp phần hình thành các vùng nguyên liệu ổn định, nâng cao chất lượng
sản phẩm và từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.
Nhiều HTX đã chuyển từ cung ứng
dịch vụ đầu vào sang tổ chức sản xuất, sơ chế, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi
giá trị. Đến nay, toàn tỉnh có 104 HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tập trung
vào hệ thống tưới tiết kiệm, chế biến nông sản, rang xay cà phê, truy xuất
nguồn gốc và áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất như VietGAP, Fairtrade, góp phần
nâng cao giá trị sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh
đó, các chương trình khuyến công, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và hỗ
trợ đổi mới máy móc, thiết bị cũng tạo điều kiện để nhiều hợp tác xã nâng cao
năng lực chế biến, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Một số mô hình liên kết hoạt
động hiệu quả đã tạo được sức lan tỏa như HTX Nông nghiệp, dịch vụ công bằng Ea
Kiết và HTX Nông nghiệp, dịch vụ công bằng Ea Tu với mô hình liên kết doanh
nghiệp để sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn quốc tế, đầu tư chế biến sâu và xuất
khẩu; HTX Nông nghiệp 714, HTX sản xuất, thu mua, chế biến ca cao Ea Kar, HTX
Quyết Thắng, HTX Dịch vụ tổng hợp Thăng Bình cùng nhiều HTX tại khu vực phía
Đông của tỉnh phát triển mô hình kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch cộng
đồng, du lịch trải nghiệm, góp phần đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao giá trị
sản phẩm địa phương.
Tuy nhiên, hoạt động liên kết
giữa HTX với doanh nghiệp vẫn chưa đồng đều. Phần lớn các HTX có quy mô nhỏ,
năng lực quản trị và nguồn lực còn hạn chế; số lượng HTX tham gia chuỗi giá trị
vẫn chiếm tỷ lệ chưa cao so với tổng số HTX đang hoạt động. Việc ứng dụng công
nghệ cao, chuyển đổi số và xây dựng liên kết dài hạn với doanh nghiệp ở nhiều
nơi còn chậm, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thị trường và nâng cao giá trị gia
tăng của sản phẩm.
II. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT
VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX:
1. Kết quả thi hành pháp luật
và các văn bản về KTTT, HTX:
Sau khi Luật Hợp tác xã năm
2023 có hiệu lực, các sở, ngành và địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã chủ
động triển khai các văn bản hướng dẫn, lồng ghép việc thực hiện Luật Hợp tác xã
với các chương trình phát triển KTTT và hỗ trợ HTX. Công tác tư vấn thành lập
mới HTX, xây dựng mô hình HTX điển hình, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, xúc
tiến thương mại, nhân rộng mô hình hoạt động hiệu quả và hướng dẫn chuyển đổi
hoạt động theo quy định mới được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao nhận
thức và từng bước đưa Luật Hợp tác xã vào thực tiễn. Đến nay, phần lớn các HTX
đang hoạt động đã tổ chức bộ máy và vận hành theo quy định của Luật Hợp tác xã
năm 2023.
Công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về KTTT, HTX được thực hiện bằng nhiều hình thức như: tổ chức các lớp
tập huấn, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX; tư vấn thành lập mới HTX; tổ chức hội
nghị nhân rộng mô hình HTX hoạt động hiệu quả; hỗ trợ các HTX tham gia hội chợ,
kết nối giao thương, xúc tiến thương mại và tham quan, học tập mô hình thực tế…
Bên cạnh kết quả đạt được, việc
triển khai Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản về KTTT, HTX vẫn còn một số khó
khăn. Nhiều HTX có quy mô nhỏ, năng lực quản trị và nguồn lực tài chính còn hạn
chế; việc chuyển đổi mô hình hoạt động, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số
chưa đồng đều. Một số HTX ngừng hoạt động còn gặp vướng mắc trong giải thể do
thiếu người đại diện theo pháp luật, còn nghĩa vụ về thuế, tài sản hoặc hồ sơ
pháp lý chưa đầy đủ. Công tác liên kết với doanh nghiệp ở một số nơi chưa bền
vững, khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ còn hạn chế.
Để nâng cao hiệu quả thi hành
Luật Hợp tác xã năm 2023, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền theo hướng gắn với
nhu cầu thực tế của HTX; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý; hỗ trợ
HTX chuyển đổi hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, ứng dụng khoa học
công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh kết nối với doanh nghiệp, mở
rộng thị trường tiêu thụ và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong giải thể, tiếp
cận vốn và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT.
2. Công tác quản lý nhà nước
về KTTT, HTX:
Công tác quản lý nhà nước về
KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm và có sự phối hợp giữa các
sở, ngành, Liên minh Hợp tác xã tỉnh và chính quyền địa phương. Các nhiệm vụ
quản lý không chỉ tập trung vào theo dõi số lượng, tình hình hoạt động của THT,
HTX, LHHTX mà từng bước gắn với hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo cán bộ, ứng
dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, xây dựng chuỗi liên kết và xử lý
các HTX ngừng hoạt động. Các sở, ngành đã chủ động triển khai nhiều chương
trình hỗ trợ theo lĩnh vực quản lý; trong đó có hỗ trợ đổi mới máy móc, thiết
bị, xúc tiến thương mại, bán hàng trên nền tảng số, xây dựng mô hình liên kết
và phát triển sản phẩm… Qua đó, công tác quản lý nhà nước từng bước chuyển từ
chủ yếu theo dõi, tổng hợp sang đồng hành, hỗ trợ HTX nâng cao hiệu quả hoạt
động.
Công tác kiện toàn Ban Chỉ đạo
phát triển kinh tế tập thể cấp tỉnh đã được thực hiện sau khi sắp xếp tổ chức
bộ máy và địa giới hành chính. Ngày 10/12/2025, UBND tỉnh đã ban hành Quyết
định số 02278/QĐ-UBND kiện toàn
Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế
tập thể tỉnh Đắk Lắk. Ban Chỉ đạo do Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban;
lãnh đạo Sở Tài chính làm Phó Trưởng ban Thường trực; Chủ tịch Liên minh Hợp
tác xã tỉnh và lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường làm Phó Trưởng ban, cùng
sự tham gia của các sở, ngành, cơ quan và tổ chức có liên quan.
Đối với cấp xã, phường, tại
Thông báo số 86/TB-BCĐ ngày 21/5/2026 về kết luận của đồng chí Nguyễn Thiên
Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể tỉnh
tại cuộc họp Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo đã
yêu cầu UBND các xã, phường thành lập Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể để
trực tiếp theo dõi, chỉ đạo và hỗ trợ phát triển KTTT trên địa bàn, hoàn thành
trong quý II/2026. Đồng thời, cấp xã được giao rà soát đầy đủ thông tin về THT,
HTX, LHHTX; xác định tình trạng hoạt động, thành viên, vốn, tài sản, quy mô sản
xuất và chủ động xử lý các HTX ngừng hoạt động theo thẩm quyền. Đây là yêu cầu
cần thiết trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khi
cấp xã trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ quản lý tại địa bàn.
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà
nước về KTTT vẫn còn một số hạn chế. Số liệu giữa các cơ quan, đơn vị có thời
điểm chưa thật sự thống nhất; thông tin về thành viên, lao động, doanh thu, tài
sản và tình trạng hoạt động của một số HTX chưa được cập nhật đầy đủ. Sau sắp
xếp đơn vị hành chính, việc rà soát, bàn giao và chuẩn hóa dữ liệu cần thêm
thời gian. Ở cấp cơ sở, cán bộ theo dõi KTTT thường kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực
nên việc nắm tình hình, hướng dẫn HTX và thực hiện chế độ báo cáo có nơi chưa
kịp thời.
Một khó khăn đáng chú ý là toàn
tỉnh vẫn còn số lượng lớn HTX ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể do gặp các
vướng mắc như thiếu người đại diện theo pháp luật, còn nợ thuế hoặc các nghĩa
vụ tài chính, tranh chấp tài sản, thất lạc con dấu và hồ sơ. Bên cạnh đó, một
số HTX có quy mô nhỏ, năng lực quản trị và nguồn lực hạn chế, khả năng tiếp cận
chính sách và liên kết thị trường chưa cao. Điều này vừa ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của khu vực KTTT vừa gây khó khăn cho công tác quản lý và làm cho số
liệu đăng ký chưa phản ánh đầy đủ thực trạng hoạt động.
3. Kết quả triển khai chính sách
hỗ trợ phát triển KTTT, HTX:
3.1. Kết quả triển khai các chính
sách hỗ trợ phát triển khu vực KTTT, HTX theo các nội dung hỗ trợ tại Nghị định
số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật HTX:
Thời gian qua, tỉnh Đắk Lắk đã
quan tâm triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác
xã theo Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024
của Chính phủ và các chương trình, chính sách có liên quan. Việc hỗ trợ được
thực hiện trực tiếp hoặc lồng ghép thông qua các chương trình phát triển kinh
tế tập thể, khuyến công, xúc tiến thương mại, chuyển đổi số, phát triển liên
kết sản xuất và xây dựng nông thôn mới. Kết quả theo từng nhóm chính sách cụ
thể như sau:
a) Chính sách hỗ trợ phát
triển nguồn nhân lực:
Tỉnh tiếp tục quan tâm đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, kinh doanh cho đội ngũ
cán bộ quản lý HTX. Năm 2026, Liên minh Hợp tác xã tỉnh được phân bổ 231 triệu
đồng để thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đồng thời đã
ban hành Kế hoạch số 196/KH- LMHTX ngày 29/4/2026 về tổ chức các lớp bồi dưỡng nguồn
nhân lực HTX, kết hợp trang bị kỹ năng tổ chức sản xuất, kinh doanh với học tập
thực tế tại các mô hình HTX hoạt động hiệu quả. Theo kế hoạch, các lớp được tập
trung triển khai trong 6 tháng cuối năm 2026.
Tại các địa phương, cán bộ quản
lý HTX được thông tin, hướng dẫn và cử tham gia các lớp tập huấn do các sở,
ngành và Liên minh Hợp tác xã tỉnh tổ chức. Nội dung tập trung gồm quản trị
HTX, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, kế toán, tài chính, tiếp cận
chính sách, chuyển đổi số và liên kết theo chuỗi giá trị.
Nhìn chung, chất lượng đội ngũ
cán bộ quản lý KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh từng bước được nâng lên, tỷ lệ cán
bộ có trình độ chuyên môn tiếp tục được cải thiện; trong đó, số cán bộ có trình
độ cao đẳng, đại học đã vượt mục tiêu kế hoạch năm 2026. Những năm gần đây,
ngày càng có nhiều người có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý tham gia
làm việc tại các HTX, góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và tổ
chức hoạt động của HTX.
Tuy nhiên, năng lực quản trị
giữa các HTX chưa đồng đều, vẫn còn một bộ phận cán bộ quản lý chưa qua đào tạo
chuyên môn hoặc còn hạn chế về kỹ năng quản trị thực tế. Vì vậy, việc tiếp tục tổ
chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu và đặc thù hoạt động của
HTX là cần thiết, góp phần nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, kinh
doanh, liên kết thị trường và chuyển đổi số.
b) Chính sách hỗ trợ
thông tin:
Công tác hỗ trợ thông tin cho
khu vực KTTT, HTX được các cấp, các ngành triển khai bằng nhiều hình thức, chủ
yếu thông qua tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cung cấp thông tin thị trường,
tổ chức đối thoại và các kênh thông tin của cơ quan quản lý nhà nước. Nội dung
tập trung vào Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các
chính sách hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời thông tin về liên kết sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học, công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động của
HTX, kinh tế hộ thành viên.
Thực hiện Quyết định số
272/QĐ-UBND ngày 19/01/2026 của UBND tỉnh về Chương trình công tác năm 2026,
tỉnh Đắk Lắk dự kiến tổ chức Hội nghị gặp mặt, đối thoại doanh nghiệp, HTX định
kỳ 02 lần/năm (vào tháng 7 và tháng 11/2026). Đồng thời, theo Kế hoạch số 164/KH-UBND
ngày 06/5/2026, Chương trình “Cà phê doanh nhân” được tổ chức định kỳ 02
lần/tháng nhằm tạo kênh trao đổi thường xuyên giữa chính quyền với cộng đồng doanh
nghiệp, HTX.
Tại cấp cơ sở, các địa phương
thực hiện việc lồng ghép tuyên truyền, phổ biến pháp luật về HTX và hướng dẫn
các tổ chức KTTT tiếp cận các chương trình, chính sách hỗ trợ. Qua đó, thông
tin về chính sách, thị trường và các chương trình hỗ trợ từng bước được chuyển
tải đến HTX bằng nhiều kênh. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin giữa các
địa bàn và các HTX còn chưa đồng đều; một số HTX, nhất là HTX quy mô nhỏ, chưa
chủ động nắm bắt thông tin, còn hạn chế trong việc hoàn thiện hồ sơ để tham gia
và thụ hưởng các chính sách hỗ trợ.
c) Chính sách hỗ trợ xây dựng
mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn:
Hoạt động tư vấn được triển
khai chủ yếu thông qua hướng dẫn trực tiếp của các sở, ngành, Liên minh Hợp tác
xã tỉnh và chính quyền địa phương, tập trung vào tư vấn thành lập HTX, tổ chức
hoạt động, hoàn thiện hồ sơ pháp lý, tiếp cận chính sách và tháo gỡ khó khăn
trong quá trình hoạt động.
Trong 6 tháng đầu năm 2026,
Liên minh Hợp tác xã tỉnh đã hỗ trợ tư vấn thành lập mới HTX cho 14 nhóm sáng
lập viên tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí thực hiện 360 triệu
đồng. Nội dung hỗ trợ tập trung vào hướng dẫn xây dựng hồ sơ, tổ chức bộ máy và
phương án hoạt động ban đầu của HTX.
Bên cạnh đó, các sở, ngành như
Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương… tiếp tục hướng dẫn HTX xây dựng phương
án sản xuất, kinh doanh, hoàn thiện hồ sơ tham gia các chương trình khuyến
công, liên kết sản xuất, xúc tiến thương mại và các chính sách hỗ trợ có liên
quan.
Các địa phương cũng thường
xuyên hướng dẫn hồ sơ, thủ tục thành lập mới, củng cố tổ chức và giải thể HTX
ngừng hoạt động; hỗ trợ HTX hoàn thiện hồ sơ pháp lý để tiếp cận vốn, xử lý thủ
tục liên quan đến đất đai và tham gia các chương trình hỗ trợ.
Qua thực tế triển khai cho thấy
nhu cầu tư vấn của HTX ngày càng lớn, trong khi mạng lưới cung cấp dịch vụ tư
vấn chuyên sâu về quản trị, tài chính, thị trường, pháp lý và chuyển đổi số còn
hạn chế. Vì vậy, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ tư vấn và hình thành mạng
lưới hỗ trợ chuyên nghiệp vẫn là nội dung cần tiếp tục quan tâm.
d) Chính sách hỗ trợ nhân
rộng mô hình HTX, LHHTX hoạt động hiệu quả:
Năm 2026, Liên minh Hợp tác xã
tỉnh được bố trí kinh phí để thực hiện chính sách nhân rộng mô hình HTX, LHHTX
hoạt động hiệu quả;
Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh
đã hình thành nhiều HTX có hoạt động tương đối hiệu quả, có khả năng làm mô
hình tham khảo, nhất là các HTX nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị, sản xuất
theo tiêu chuẩn, ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản phẩm đặc trưng. Một
số mô hình đã từng bước áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, sản xuất theo
VietGAP, hướng hữu cơ, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Tiêu biểu có
HTX Nông nghiệp, dịch vụ công bằng Ea Kiết; HTX Nông nghiệp, dịch vụ công bằng
Ea Tu; HTX Nông nghiệp 714; HTX Nông nghiệp Nhật Minh; HTX Giảm nghèo Ea Súp;
HTX Cánh đồng 8/4; HTX Sản xuất nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Minh Toàn Lợi;
HTX Sản xuất cà phê bền vững Ea Kmat; HTX Nông nghiệp Ea Wy; HTX Cá ngừ công
nghệ cao Phú Yên; HTX Tôm hùm Sông Cầu và một số HTX phát triển du lịch nông
nghiệp, du lịch cộng đồng.
Việc xây dựng và giới thiệu các
mô hình hiệu quả đã góp phần tạo điều kiện để các HTX khác tham quan, học tập, từng
bước đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và mở rộng liên kết.
đ) Chính sách hỗ trợ ứng dụng
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
Hoạt động hỗ trợ khoa học, công
nghệ và chuyển đổi số cho HTX được triển khai trên nhiều nội dung như ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; tư vấn tiêu chuẩn, chất lượng; mã số, mã vạch;
truy xuất nguồn gốc; đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; sử dụng nền tảng
số trong quản lý, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Sở
Khoa học và Công nghệ tiếp tục hướng dẫn HTX áp dụng tiêu chuẩn chất lượng,
truy xuất nguồn gốc, xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu, nhãn hiệu tập thể; hỗ trợ
kết nối quảng bá sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP trên nền tảng số. Một số HTX
đã áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, quy trình VietGAP, tem truy xuất nguồn gốc
bằng mã QR và sử dụng các nền tảng số để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.
Công tác chuyển đổi số được
triển khai thông qua hướng dẫn ứng dụng thương mại điện tử, chữ ký số, hóa đơn
điện tử và phần mềm quản lý sản xuất, bán hàng. Qua đó, một số HTX đã từng bước
mở rộng phương thức kinh doanh và tiếp cận khách hàng trên môi trường số.
Trong lĩnh vực nông nghiệp,
nhiều HTX đã từng bước ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, công nghệ sấy, sơ
chế, chế biến nông sản và các quy trình sản xuất tiên tiến. Toàn tỉnh có khoảng
104 HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chủ yếu trong sản xuất, chế biến cà
phê, rau, củ, quả và các sản phẩm nông nghiệp chủ lực; tổ chức tập huấn kỹ năng
bán hàng trực tuyến trên nền tảng số; đồng thời hỗ trợ các đơn vị, trong đó có
HTX, tiếp cận phương thức quảng bá và bán hàng trên môi trường số.
Nhìn chung, việc ứng dụng công
nghệ và chuyển đổi số đã có chuyển biến, nhưng chưa đồng đều. Phần lớn HTX vẫn
có quy mô nhỏ, thiếu vốn và nhân lực phù hợp để đầu tư công nghệ, phần mềm quản
trị và các giải pháp số.
e) Chính sách hỗ trợ tiếp
cận và nghiên cứu thị trường:
Hoạt động hỗ trợ tiếp cận thị
trường được triển khai thông qua xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm, kết
nối giao thương, quảng bá sản phẩm, phát triển thương hiệu và hỗ trợ tiêu thụ
sản phẩm.
Thông qua các hoạt động trên,
các HTX có sản phẩm phù hợp được tạo điều kiện quảng bá sản phẩm, tiếp cận
khách hàng, tìm kiếm đối tác và mở rộng kênh phân phối. Tuy nhiên, nhiều HTX
vẫn phụ thuộc vào thị trường truyền thống, năng lực nghiên cứu nhu cầu thị
trường, xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường
xuất khẩu còn hạn chế.
f) Chính sách hỗ trợ đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng, trang thiết bị:
Việc hỗ trợ đầu tư máy móc,
thiết bị cho HTX được thực hiện chủ yếu thông qua lồng ghép chương trình khuyến
công và các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất.
Trong danh mục đề án khuyến
công địa phương năm 2026 có 03 đề án hỗ trợ trực tiếp cho HTX, với tổng kinh
phí thực hiện 1.529,280 triệu đồng, trong đó ngân sách khuyến công địa phương
hỗ trợ 755 triệu đồng, vốn đối ứng của các HTX là 774,280 triệu đồng, cụ thể:
- HTX Nông lâm nghiệp Xuân Lâm
được hỗ trợ 01 máy sấy thăng hoa phục vụ chế biến nấm linh chi; tổng kinh phí 475,200
triệu đồng, trong đó kinh phí khuyến công hỗ trợ 235 triệu đồng.
- HTX Nông nghiệp Dịch vụ Đồng
Tiến Ea Kar được hỗ trợ máy móc, thiết bị tiên tiến trong chế biến ca cao; tổng
kinh phí 554,040 triệu đồng, trong đó kinh phí khuyến công hỗ trợ 270 triệu
đồng.
- HTX Dịch vụ Nông nghiệp Nhất
Tâm được hỗ trợ 01 thiết bị máy khí hóa Kanai trong chế biến nông sản; tổng
kinh phí 500,040 triệu đồng, trong đó kinh phí khuyến công hỗ trợ 250 triệu
đồng.
Các đề án tập trung hỗ trợ đổi
mới thiết bị, nâng cao năng lực chế biến, góp phần tăng năng suất, chất lượng
và giá trị sản phẩm sau chế biến.
Ngoài ra, tỉnh thực hiện lồng
ghép các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ
KTTT, HTX (vốn đầu tư công giai đoạn 2021-2025, kéo dài thời gian thực hiện
sang năm 2026), chương trình phát triển sản xuất, khuyến nông, khuyến công,
phát triển ngành nghề nông thôn và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ HTX
đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị và nâng cao năng lực sản xuất, kinh
doanh.
Có thể thấy rằng, nhu cầu thực
tế còn rất lớn, nhất là đối với đường giao thông nội đồng tại vùng nguyên liệu,
nhà kho, sân phơi, cơ sở sơ chế, chế biến và trang thiết bị phục vụ sản xuất. Nhiều
vùng nguyên liệu cà phê, sầu riêng, mắc ca và cây ăn quả còn có đường nội đồng
khó đi vào mùa mưa; cơ sở sơ chế, chế biến của nhiều HTX còn thiếu và công nghệ
còn hạn chế.
g) Chính sách hỗ trợ tư
vấn tài chính và đánh giá rủi ro:
Việc hỗ trợ HTX tiếp cận nguồn
lực tài chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chủ yếu được thực hiện thông qua hướng
dẫn thủ tục, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển
HTX.
Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX của
tỉnh có nguồn vốn hoạt động khoảng 23.538 triệu đồng, trong đó ngân sách tỉnh
cấp lũy kế 16.446 triệu đồng. Tuy nhiên, từ tháng 3/2024 Quỹ tạm ngừng giải
ngân để tập trung theo dõi, đôn đốc thu hồi vốn vay và thực hiện tổ chức lại
theo quy định. Vì vậy, việc hỗ trợ HTX tiếp cận vốn thông qua Quỹ trong thời
gian qua còn hạn chế.
Tại một số địa phương, chính
quyền đã hỗ trợ, hướng dẫn HTX hoàn thiện hồ sơ pháp lý để tiếp cận các nguồn
vốn vay phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, khó khăn về vốn vẫn là một
trong những hạn chế lớn của khu vực HTX; nhiều HTX có quy mô nhỏ, tài sản bảo
đảm và năng lực tài chính hạn chế nên khả năng tiếp cận vốn, đầu tư công nghệ
và mở rộng sản xuất còn khó khăn.
h) Chính sách hỗ trợ hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp
Đây là nhóm chính sách có phạm
vi triển khai rộng do HTX nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số HTX của tỉnh.
Các nội dung hỗ trợ được lồng ghép thông qua chương trình phát triển sản xuất,
xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công
nghệ, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm OCOP.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 185
HTX liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với 34 doanh nghiệp, 276 trang trại,
gia trại và 15.525 hộ tham gia liên kết. Nhiều HTX đã phát triển sản xuất gắn
với các ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, lúa gạo, hồ tiêu, cây ăn quả
và thủy sản; từng bước áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chế biến
và liên kết tiêu thụ.
Một số mô hình liên kết đã cho
thấy hiệu quả rõ nét, như: HTX Nông nghiệp, dịch vụ công bằng Ea Kiết liên kết
với Công ty Đak Man Việt Nam sản xuất, chế biến cà phê đạt tiêu chuẩn
Fairtrade, góp phần nâng giá trị sản phẩm và thu nhập của thành viên; HTX Nông
nghiệp, dịch vụ công bằng Ea Tu tổ chức sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn quốc
tế, liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu và từng bước phát triển cà phê đặc sản.
Ở khu vực phía Đông của tỉnh, một số HTX kết hợp sản xuất nông nghiệp với du
lịch nông thôn, du lịch cộng đồng; HTX Cá ngừ công nghệ cao Phú Yên phát triển
chuỗi thu mua, chế biến cá ngừ; HTX Tôm hùm Sông Cầu từng bước hoàn thiện sản
phẩm phục vụ thị trường xuất khẩu…
Việc triển khai chính sách liên
kết trong nông nghiệp cũng được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số
20/2025/NQ-HĐND ngày 24/12/2025 của HĐND tỉnh và Quyết định số 1209/QĐ-UBND
ngày 16/4/2026 của UBND tỉnh, tạo cơ sở triển khai hỗ trợ hợp tác, liên kết
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, tại một số địa
phương, HTX đã đứng ra liên kết, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh
nghiệp; áp dụng tưới tiết kiệm tự động, quy trình VietGAP, sản xuất theo hướng
hữu cơ và đăng ký mã số vùng trồng để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Qua đó, HTX
từng bước phát huy vai trò tổ chức sản xuất, kết nối hộ thành viên với thị
trường và hỗ trợ áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Tuy nhiên, phần lớn HTX nông
nghiệp còn quy mô nhỏ, vốn và cơ sở vật chất hạn chế; nhiều HTX chủ yếu cung
cấp dịch vụ đầu vào, chưa tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm. Liên kết với
doanh nghiệp ở một số nơi chưa ổn định; khả năng tiếp cận đất đai, vốn, công
nghệ và thị trường còn khó khăn.
Nhìn chung, các chính sách hỗ
trợ phát triển khu vực KTTT, HTX theo định hướng của Luật Hợp tác xã năm 2023
và Nghị định số 113/2024/NĐ-CP đã được tỉnh quan tâm triển khai, bước đầu có
kết quả cụ thể ở một số nội dung như tư vấn thành lập HTX; bố trí kinh phí đào
tạo, xúc tiến thương mại và nhân rộng mô hình; hỗ trợ ứng dụng khoa học công
nghệ, chuyển đổi số; hỗ trợ máy móc, thiết bị thông qua chương trình khuyến
công; phát triển liên kết sản xuất và ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực
nông nghiệp.
Tuy nhiên, mức độ triển khai
giữa các nhóm chính sách còn chưa đồng đều. Một số chính sách mới chủ yếu đang
ở bước tuyên truyền, xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép với các chương trình hiện
có; chưa có nhiều kết quả cụ thể đối với hỗ trợ xây dựng mạng lưới tư vấn, tư vấn
tài chính và đánh giá rủi ro, đầu tư kết cấu hạ tầng quy mô lớn. Nguồn lực hỗ
trợ còn hạn chế, trong khi phần lớn HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và quản
trị chưa cao, khả năng xây dựng hồ sơ, dự án để tiếp cận chính sách còn yếu.
3.2. Vai trò, vị trí của KTTT,
HTX trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk nói chung và trong xây
dựng nông thôn mới nói riêng:
a) Đánh giá chung:
Khu vực KTTT, HTX ngày càng có
vai trò quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, nhất là tại khu vực nông nghiệp,
nông thôn. Đến giữa năm 2026, toàn tỉnh có trên 1.250 HTX, khoảng 1.000 HTX
đang hoạt động, thu hút khoảng 184 nghìn thành viên và hơn 27 nghìn lao động
thường xuyên. Hoạt động của HTX góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cung
ứng dịch vụ phục vụ sản xuất và tạo đầu mối liên kết giữa hộ dân với doanh
nghiệp và thị trường.
Đối với kinh tế hộ, HTX giúp
các thành viên từng bước chuyển từ sản xuất riêng lẻ sang hợp tác trong cung
ứng vật tư, áp dụng kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Việc mua
chung đầu vào, sử dụng chung dịch vụ và liên kết tiêu thụ giúp giảm chi phí,
nâng cao chất lượng sản phẩm và hạn chế rủi ro thị trường.
Trong xây dựng nông thôn mới,
HTX có vai trò trực tiếp đối với tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập cho
người dân. Nhiều HTX tham gia phát triển sản phẩm OCOP, hình thành vùng nguyên
liệu, ứng dụng công nghệ, xây dựng chuỗi liên kết và phát triển các dịch vụ
thiết yếu tại nông thôn. Một số HTX còn gắn sản xuất với du lịch cộng đồng, bảo
tồn nghề truyền thống và tạo thêm sinh kế cho người dân.
Thực tế cho thấy, nơi nào HTX
hoạt động thực chất, có năng lực quản trị tốt và liên kết ổn định với doanh
nghiệp thì hiệu quả sản xuất của thành viên, khả năng tiêu thụ sản phẩm và đóng
góp cho phát triển kinh tế nông thôn rõ nét hơn. Vì vậy, phát triển HTX hiệu
quả là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao thu nhập, giảm nghèo
bền vững và duy trì các tiêu chí nông thôn mới.
b) Thuận lợi:
- Các chủ trương, chính sách
của Trung ương và của tỉnh về phát triển KTTT, HTX ngày càng đầy đủ hơn; Luật
Hợp tác xã năm 2023 và Nghị định số 113/2024/NĐ-CP đã mở rộng các nội dung hỗ
trợ và tạo cơ sở pháp lý để tổ chức triển khai.
- Đắk Lắk có thế mạnh về nông nghiệp,
vùng nguyên liệu lớn và nhiều sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc
trưng, tạo điều kiện thuận lợi để HTX phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị,
đầu tư chế biến và mở rộng thị trường.
- Nhu cầu liên kết, ứng dụng
công nghệ, chuyển đổi số và phát triển thị trường của HTX ngày càng tăng. Trên
địa bàn đã hình thành nhiều mô hình hoạt động hiệu quả, có khả năng làm cơ sở
để tiếp tục nhân rộng.
- Các chương trình khuyến công,
xúc tiến thương mại, xây dựng nông thôn mới, phát triển liên kết sản xuất và
các chương trình chuyên ngành đã tạo thêm nguồn lực để lồng ghép hỗ trợ HTX.
c) Khó khăn, hạn chế và
nguyên nhân:
- Phần lớn HTX có quy mô nhỏ,
năng lực tài chính và cơ sở vật chất còn hạn chế; thiếu vốn đầu tư công nghệ,
máy móc, nhà xưởng, kho bãi và cơ sở chế biến. Nhiều HTX thiếu mặt bằng sản
xuất hoặc khó tiếp cận đất đai và nguồn vốn.
- Năng lực quản trị của một bộ
phận cán bộ HTX chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng xây dựng phương án sản xuất,
kinh doanh, quản trị tài chính, nghiên cứu thị trường và chuyển đổi số còn hạn
chế.
- Liên kết giữa HTX với doanh
nghiệp đã phát triển nhưng chưa đồng đều, một số liên kết còn ngắn hạn và thiếu
tính ổn định. Nhiều HTX vẫn chủ yếu cung cấp dịch vụ đầu vào, chưa tổ chức tốt
khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho thành viên.
- Nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế
so với nhu cầu; một số HTX gặp khó khăn trong việc chuẩn bị hồ sơ, bố trí vốn
đối ứng và đáp ứng các điều kiện của chương trình hỗ trợ.
- Việc Quỹ Hỗ trợ phát triển
HTX tạm ngừng giải ngân làm hạn chế thêm một kênh vốn hỗ trợ khu vực HTX. Bên
cạnh đó, một số nhóm chính sách mới của Nghị định số 113/2024/NĐ-CP chưa được
triển khai sâu, nhất là tư vấn tài chính, đánh giá rủi ro và phát triển mạng
lưới tư vấn chuyên nghiệp.
- Sau sắp xếp đơn vị hành chính
và thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, công tác quản lý, cập nhật dữ liệu
và phân công cán bộ phụ trách KTTT, HTX tại một số địa phương còn cần thời gian
để ổn định. Đội ngũ cán bộ cấp xã chủ yếu kiêm nhiệm, trong khi một số HTX chưa
thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG:
1. Kết quả đạt được:
Năm 2026, khu vực KTTT, HTX
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tiếp tục duy trì ổn định và có chuyển biến theo hướng
nâng cao chất lượng hoạt động. Nhận thức về vai trò của KTTT, HTX từng bước
được nâng lên; việc tổ chức hoạt động của HTX ngày càng chú trọng hơn đến hiệu
quả, lợi ích của thành viên và khả năng thích ứng với thị trường.
Nhiều HTX đã chủ động đổi mới
phương thức hoạt động, mở rộng liên kết, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm và tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Vai trò của HTX trong hỗ
trợ kinh tế hộ ngày càng rõ hơn, nhất là trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch
vụ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và kết nối thành viên với doanh nghiệp, thị
trường. Một số mô hình hoạt động hiệu quả đã tạo được sức lan tỏa và cho thấy
khả năng phát triển của khu vực KTTT khi có phương án sản xuất, kinh doanh phù
hợp và liên kết ổn định.
Công tác quản lý nhà nước và tổ
chức thực hiện pháp luật về KTTT, HTX tiếp tục được quan tâm. Sự phối hợp giữa
các sở, ngành, địa phương và Liên minh Hợp tác xã tỉnh từng bước được tăng
cường; các chính sách hỗ trợ được triển khai trực tiếp hoặc lồng ghép với các
chương trình, nhiệm vụ chuyên ngành, góp phần hỗ trợ HTX tháo gỡ khó khăn và
nâng cao năng lực hoạt động.
2. Tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân:
a) Tồn tại, hạn chế:
Sự phát triển của khu vực KTTT,
HTX chưa thật sự đồng đều và chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Chất
lượng, hiệu quả hoạt động giữa các HTX còn chênh lệch; số HTX có khả năng tự
chủ cao, tổ chức sản xuất quy mô lớn và tham gia bền vững vào chuỗi giá trị
chưa nhiều. Tác động của một bộ phận HTX đối với thu nhập của thành viên và
phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương còn hạn chế.
Năng lực nội tại vẫn là điểm
yếu của nhiều HTX. Quy mô vốn, cơ sở vật chất và khả năng tích lũy còn thấp;
năng lực quản trị, xây dựng phương án kinh doanh, tiếp cận thị trường và ứng
dụng công nghệ chưa đồng đều. Nhiều HTX chưa tạo được nguồn lực đủ mạnh để tự
đầu tư, mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Việc chấp hành pháp luật của
một số HTX chưa đầy đủ, nhất là về tổ chức hoạt động, chế độ thông tin, báo cáo
và cập nhật hồ sơ pháp lý. Việc xử lý các HTX ngừng hoạt động kéo dài còn khó
khăn. Công tác quản lý nhà nước tại một số địa phương chưa theo kịp yêu cầu
thực tế; dữ liệu về KTTT, HTX chưa được cập nhật đồng bộ, việc nắm bắt tình
hình và hỗ trợ HTX ở cơ sở có lúc chưa kịp thời.
Các chính sách hỗ trợ tuy đã
được triển khai nhưng hiệu quả giữa các nội dung còn chưa đồng đều. Một số
chính sách chưa được thực hiện đầy đủ hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế;
khả năng tiếp cận chính sách của nhiều HTX còn hạn chế.
b) Nguyên nhân:
* Nguyên nhân khách quan:
- Hệ thống cơ chế, chính sách
về KTTT, HTX đang tiếp tục được hoàn thiện; một số chính sách mới cần thời
gian, hướng dẫn và nguồn lực để triển khai đồng bộ.
- Nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế
so với nhu cầu, trong khi hoạt động của HTX chịu nhiều tác động từ biến động
thị trường, chi phí đầu vào, điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận vốn, đất
đai, công nghệ.
- Việc sắp xếp đơn vị hành
chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu mới đối với
công tác quản lý, bàn giao, cập nhật dữ liệu và phân công cán bộ theo dõi KTTT,
HTX tại cơ sở.
* Nguyên nhân chủ quan:
- Công tác tổ chức thực hiện ở
một số nơi chưa thật sự quyết liệt; sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ
quan có lúc chưa chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về
KTTT, HTX ở cơ sở chủ yếu kiêm nhiệm nên còn hạn chế về thời gian và chuyên môn.
- Về phía HTX, một bộ phận cán
bộ quản lý chưa chủ động đổi mới tư duy quản trị và phương thức kinh doanh; khả
năng xây dựng kế hoạch dài hạn, huy động nguồn lực, tìm kiếm thị trường và liên
kết với doanh nghiệp còn hạn chế. Một số HTX còn trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước,
chưa phát huy đầy đủ tính tự chủ và vai trò của thành viên.
3. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tiễn triển khai cho
thấy, phát triển KTTT, HTX phải lấy hiệu quả hoạt động và lợi ích của thành
viên làm trọng tâm, không chạy theo số lượng. Việc thành lập mới cần đi đôi với
củng cố, nâng cao chất lượng HTX đang hoạt động và xử lý kịp thời các HTX không
còn khả năng hoạt động.
Công tác hỗ trợ cần xuất phát
từ nhu cầu thực tế, tập trung vào những vấn đề HTX còn yếu và tạo điều kiện để
HTX nâng cao khả năng tự chủ, thay vì hỗ trợ dàn trải. Đồng thời, cần gắn hỗ
trợ với trách nhiệm, sự chủ động và khả năng huy động nguồn lực của chính HTX.
Thực tiễn cũng cho thấy, năng
lực của đội ngũ quản lý, khả năng liên kết với doanh nghiệp và thị trường là
những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của HTX. Vì vậy, cần chú trọng nâng
cao chất lượng quản trị, xây dựng liên kết ổn định và nhân rộng các mô hình đã chứng
minh được hiệu quả trong thực tế.
Cuối cùng, công tác quản lý nhà
nước phải bám sát cơ sở, phân công rõ trách nhiệm và có dữ liệu đầy đủ, thống
nhất. Sự phối hợp thường xuyên giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương
và tổ chức đại diện của HTX là điều kiện quan trọng để kịp thời phát hiện khó
khăn, tháo gỡ vướng mắc và đưa chính sách hỗ trợ vào thực tế.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
1. Về hướng dẫn và bố trí nguồn
lực thực hiện chính sách hỗ trợ KTTT, HTX:
Đề nghị Chính phủ, các Bộ,
ngành Trung ương tiếp tục hoàn thiện, hướng dẫn cụ thể cơ chế thực hiện các
chính sách hỗ trợ theo Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP và
Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026–2030; đồng thời quan tâm
bố trí nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ địa phương triển khai các chính sách
theo quy định, nhất là đối với các nội dung có nhu cầu nguồn lực lớn như đầu tư
kết cấu hạ tầng, trang thiết bị phục vụ sản xuất, sơ chế, chế biến và phát
triển chuỗi giá trị.
Đề nghị Bộ Tài chính sớm ban
hành hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành đầy đủ hướng dẫn về cơ chế sử
dụng kinh phí ngân sách nhà nước đối với các nội dung hỗ trợ chưa đủ căn cứ lập
dự toán, tạo cơ sở để địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí và
tổ chức thực hiện.
2. Về cơ chế hỗ trợ phát triển
HTX trong lĩnh vực nông nghiệp:
Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi
trường phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế sử
dụng ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển KTTT, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp
giai đoạn 2026–2030, phù hợp với đặc thù của HTX nông nghiệp và điều kiện thực
tế của từng địa phương. Quan tâm ưu tiên nguồn lực hỗ trợ phát triển hạ tầng
vùng nguyên liệu, nhất là đường giao thông nội đồng, nhà kho, sân phơi, cơ sở
sơ chế, bảo quản, chế biến và trang thiết bị phục vụ sản xuất đối với các vùng
sản xuất tập trung, sản phẩm nông nghiệp chủ lực.
3. Về tháo gỡ vướng mắc về điều
kiện đất đai khi thực hiện chính sách hỗ trợ:
Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi
trường và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể về điều kiện mặt
bằng, đất đai khi HTX tham gia các dự án hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng như nhà
kho, sân phơi, kho lạnh, cơ sở sơ chế, chế biến. Thực tế, số HTX có đất được
Nhà nước giao, cho thuê hoặc đất thuộc quyền sử dụng của HTX còn ít, trong khi nhiều
HTX sử dụng đất thuê hợp pháp của thành viên, cá nhân nhưng gặp khó khăn trong
việc đáp ứng điều kiện tham gia dự án. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu cơ chế phù
hợp để HTX có địa điểm sản xuất ổn định, sử dụng đất hợp pháp và đáp ứng yêu
cầu về thời hạn sử dụng đất có thể tiếp cận chính sách hỗ trợ, bảo đảm hiệu quả
đầu tư và tránh lãng phí nguồn lực.
4. Về cơ chế tiếp cận vốn của
HTX:
Đề nghị các Bộ, ngành Trung
ương tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ vốn phù hợp với đặc thù của HTX; quan
tâm tạo điều kiện để HTX, thành viên HTX tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi
phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đầu tư mở rộng hoạt động. Đồng
thời, đề nghị có hướng dẫn, cơ chế phù hợp để các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tại
địa phương được tổ chức và hoạt động ổn định, phát huy vai trò hỗ trợ vốn cho
khu vực KTTT, HTX.
5. Về xử lý HTX ngừng hoạt động
kéo dài và đồng bộ dữ liệu quản lý:
Đề nghị các Bộ, ngành Trung
ương nghiên cứu, hướng dẫn cơ chế xử lý đối với các HTX đã ngừng hoạt động kéo
dài nhưng không thể thực hiện thủ tục giải thể theo quy định do không còn người
đại diện theo pháp luật, không liên lạc được với thành viên, thất lạc hồ sơ
hoặc còn vướng mắc về thuế, tài sản và các nghĩa vụ có liên quan. Đồng thời, đề
nghị tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về KTTT, HTX theo hướng thống nhất, liên
thông giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan quản lý chuyên ngành
và chính quyền địa phương, bảo đảm số liệu phản ánh đúng tình trạng hoạt động
thực tế của HTX.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
I. MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027:
1. Kế hoạch phát triển
KTTT, HTX năm 2027 của tỉnh phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước và của tỉnh; bám sát Chiến lược phát triển KTTT, HTX giai đoạn
2021–2030, Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026–2030 và các
chương trình, kế hoạch có liên quan của Trung ương và của tỉnh.
2. Phát triển KTTT, HTX
phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và lợi ích của thành viên, phù hợp với điều
kiện, tiềm năng và đặc điểm của từng ngành, lĩnh vực, địa bàn; bảo đảm tuân thủ
các giá trị, nguyên tắc cơ bản và quy định của pháp luật về HTX.
3. Các mục tiêu, chỉ
tiêu của Kế hoạch phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với kết quả thực hiện năm
2026, điều kiện thực tế và mục tiêu phát triển KTTT, HTX của tỉnh trong giai
đoạn 2026–2030. Bên cạnh các chỉ tiêu về số lượng, cần chú trọng các chỉ tiêu
phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động, lợi ích của thành viên và đóng góp của
khu vực KTTT, HTX đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KTTT, HTX NĂM 2027:
1. Dự báo những thuận lợi,
khó khăn:
a) Thuận lợi:
Năm 2027, khu vực KTTT, HTX dự
kiến tiếp tục có điều kiện thuận lợi để phát triển khi hệ thống pháp luật và
chính sách hỗ trợ theo Luật Hợp tác xã năm 2023 từng bước được triển khai hiệu
quả; Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026–2030 tạo cơ sở để
các cấp, các ngành bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ
trong giai đoạn mới. Nhận thức về vai trò của KTTT, HTX trong tổ chức sản xuất,
phát triển kinh tế hộ và xây dựng nông thôn mới tiếp tục được nâng lên.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính,
tỉnh Đắk Lắk có không gian phát triển rộng hơn, với lợi thế bổ sung giữa vùng
nguyên liệu nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch và
kinh tế biển. Đây là điều kiện để các HTX mở rộng liên kết giữa các vùng, hình
thành chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nhất là đối với các sản
phẩm nông nghiệp chủ lực, thủy sản và sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Quá trình cơ cấu lại ngành nông
nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp xanh, tuần hoàn và ứng dụng công
nghệ cao tiếp tục mở ra cơ hội cho HTX tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, áp
dụng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và liên kết với doanh nghiệp.
Cùng với đó, việc tỉnh chú trọng thu hút đầu tư vào nông nghiệp, công nghiệp
chế biến, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ tạo thêm
điều kiện để HTX tiếp cận công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị
trường.
Kết quả phát triển KTTT, HTX
năm 2026, cùng với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ và sản xuất theo
chuỗi giá trị đã hình thành, là cơ sở để tiếp tục củng cố, nhân rộng các mô
hình hoạt động hiệu quả trong năm 2027.
b) Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi, khu
vực KTTT, HTX dự báo tiếp tục chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi. Giá vật
tư, nguyên liệu đầu vào có thể còn biến động; thị trường tiêu thụ ngày càng yêu
cầu cao về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của
nguồn cung. Cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế ngày càng lớn, tạo
áp lực đối với các HTX có quy mô nhỏ, năng lực chế biến, xây dựng thương hiệu
và tiếp cận thị trường còn hạn chế.
Đối với các HTX nông nghiệp,
biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường, nguy cơ hạn hán, thiếu nước,
thiên tai và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tiếp tục là những yếu tố khó
lường, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và hiệu quả kinh doanh. Trong
khi đó, liên kết sản xuất, tiêu thụ ở một số HTX chưa bền vững; khả năng đầu tư
vào hạ tầng, máy móc, công nghệ, sơ chế và chế biến còn thấp.
Nguồn lực thực hiện các chính
sách hỗ trợ KTTT, HTX còn phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách và bố trí
vốn của từng chương trình. Một số HTX vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, đất
đai và đáp ứng các điều kiện để thụ hưởng chính sách; năng lực xây dựng dự án,
phương án sản xuất, kinh doanh và bố trí vốn đối ứng còn hạn chế.
Sau khi thực hiện mô hình chính
quyền địa phương hai cấp, công tác quản lý KTTT, HTX ở cơ sở cần thêm thời gian
để ổn định, nhất là việc phân công cán bộ, rà soát và chuẩn hóa dữ liệu, theo dõi
tình trạng hoạt động và hướng dẫn HTX thực hiện các quy định mới. Đây vừa là
yêu cầu, vừa là thách thức đối với công tác quản lý và hỗ trợ phát triển KTTT,
HTX trong năm 2027.
2. Định hướng chung về phát triển
KTTT, HTX:
Năm 2027, tỉnh Đắk Lắk tiếp tục
phát triển khu vực KTTT, HTX theo hướng đa dạng về loại hình, quy mô và lĩnh
vực hoạt động, phù hợp với nhu cầu của thành viên, điều kiện và lợi thế của
từng địa bàn. Khuyến khích thành lập mới các THT, HTX, LHHTX trên các lĩnh vực
có tiềm năng; đồng thời chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của các tổ chức KTTT hiện có. Ưu tiên phát triển các mô hình gắn với chuỗi
giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn và các mô hình kết hợp giữa nông nghiệp với chế biến, thương mại, dịch vụ,
du lịch.
Tăng cường liên kết giữa HTX
với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác; hỗ trợ xây dựng, nhân rộng các
mô hình hoạt động hiệu quả, tạo sức lan tỏa và thu hút người dân, hộ sản xuất,
tổ chức, doanh nghiệp tham gia, hợp tác hoặc liên kết với HTX. Phát huy vai trò
của HTX trong tổ chức sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, cung ứng dịch vụ,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm, qua đó nâng cao lợi ích của thành viên và sức
cạnh tranh của sản phẩm.
Tiếp tục tổ chức thực hiện đầy
đủ, đồng bộ Luật Hợp tác xã năm 2023 và các cơ chế, chính sách có liên quan;
kịp thời rà soát, kiến nghị tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong
quá trình thực hiện. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố cơ
chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương; tạo môi trường thuận lợi,
bình đẳng để các tổ chức KTTT hoạt động ổn định, phát huy tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên.
3. Mục tiêu tổng quát:
Phát triển khu vực KTTT, HTX
năm 2027 theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, gắn với nhu
cầu thực tế của thành viên và lợi thế của từng ngành, lĩnh vực, địa bàn. Khuyến
khích thành lập mới các tổ chức KTTT phù hợp, đồng thời củng cố và nâng cao hiệu
quả hoạt động của các HTX hiện có; xây dựng, nhân rộng các mô hình HTX hoạt
động hiệu quả, có khả năng liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm,
qua đó thu hút người dân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết với HTX.
Tiếp tục thực hiện đầy đủ, đồng
bộ các quy định của pháp luật và các chính sách về KTTT, HTX; tạo môi trường
thuận lợi để các tổ chức KTTT phát huy tính tự chủ, nâng cao năng lực quản trị
và khả năng cạnh tranh. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số; mở rộng liên kết theo chuỗi giá trị, phát triển thị trường,
nâng cao giá trị sản phẩm, thu nhập của thành viên và đóng góp của khu vực
KTTT, HTX đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Một số mục tiêu cụ thể:
a) Các chỉ tiêu định hướng phát
triển:
- Thành lập mới 60 HTX với
khoảng 190.000 thành viên tham gia;
- Phấn đấu hỗ trợ các HTX tổ
chức hoạt động tốt để số HTX đạt loại tốt, khá chiếm trên 45% tổng số HTX.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
cao trong lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đến cuối năm 2027 có khoảng 175 HTX
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- Tăng cường liên kết theo
chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và HTX, phấn đấu có khoảng 250 HTX nông nghiệp
liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị.
b) Phát triển KTTT, HTX phù hợp
với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, ưu tiên các ngành, lĩnh vực và địa bàn có điều
kiện phát triển; gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển
đổi số và nâng cao giá trị sản phẩm.
c) Nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các tổ chức KTTT, HTX; từng bước nâng
năng suất, giảm chi phí sản xuất, mở rộng liên kết và thị trường tiêu thụ; nâng
cao thu nhập, đời sống của thành viên, phát huy tinh thần hợp tác, tương trợ và
gắn kết cộng đồng.
d) Tổ chức thực hiện đầy đủ,
đồng bộ Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành; kịp thời rà
soát, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền của địa phương, tạo
điều kiện thuận lợi cho khu vực KTTT, HTX phát triển. Tiếp tục hỗ trợ hướng dẫn
các HTX đã ngừng hoạt động lâu năm tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh
hoặc giải thể theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng
dẫn có liên quan.
(Chi
tiết theo Phụ lục I, II kèm theo)
5. Các giải pháp phát triển
KTTT, HTX năm 2027:
Một là, nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về KTTT, HTX. Tiếp tục tổ chức thực hiện đúng quy định của
Luật Hợp tác xã năm 2023 và các cơ chế, chính sách có liên quan; rà soát, cụ
thể hóa các chính sách thuộc thẩm quyền của tỉnh. Kiện toàn và phát huy vai trò
của Ban Chỉ đạo phát triển KTTT các cấp; phân công rõ trách nhiệm của cơ quan,
đơn vị và cán bộ theo dõi lĩnh vực KTTT, HTX, nhất là ở cấp xã. Tăng cường phối
hợp, chia sẻ thông tin; thường xuyên rà soát, cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu, bảo
đảm nắm đúng tình trạng hoạt động của THT, HTX, LHHTX trên địa bàn.
Hai là, củng cố và nâng
cao chất lượng hoạt động của các tổ chức KTTT. Phát triển mới THT, HTX, LHHTX
trên cơ sở nhu cầu thực tế của thành viên và lợi thế của từng địa bàn, ngành,
lĩnh vực; đồng thời tập trung củng cố các HTX hoạt động trung bình, yếu. Hướng
dẫn các HTX ngừng hoạt động kéo dài tổ chức lại hoạt động hoặc thực hiện thủ
tục giải thể theo quy định; chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình HTX hoạt
động hiệu quả.
Ba là, nâng cao năng lực
quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu
thực tế, tập trung vào quản trị HTX, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản
xuất, kinh doanh, thị trường và chuyển đổi số. Tăng cường tư vấn, hỗ trợ HTX
hoàn thiện phương án sản xuất, kinh doanh, hồ sơ tiếp cận vốn và các chương
trình hỗ trợ; từng bước phát triển các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, trong đó
có tư vấn tài chính và đánh giá rủi ro.
Bốn là, huy động và sử
dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ. Chủ động bố trí, lồng ghép nguồn lực từ các
chương trình, kế hoạch và chính sách có liên quan để hỗ trợ KTTT, HTX, ưu tiên
các nội dung thiết thực như đào tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi
số, đầu tư máy móc, thiết bị, kết cấu hạ tầng và phát triển chuỗi giá trị. Tăng
cường hướng dẫn HTX tiếp cận các nguồn vốn phù hợp; đồng thời khuyến khích
doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác hợp tác, liên kết đầu tư với HTX.
Năm là, đẩy mạnh liên
kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Khuyến khích
HTX liên kết với doanh nghiệp, cơ sở chế biến, phân phối và các tổ chức khoa
học; phát triển liên kết gắn với vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực và lợi thế
của từng địa bàn. Hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất theo tiêu
chuẩn, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP; tăng cường kết nối cung
cầu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Sáu là, thúc đẩy ứng
dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hỗ trợ HTX đổi mới
máy móc, thiết bị, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sơ chế, chế biến và
quản lý; ứng dụng nền tảng số, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và truy
xuất nguồn gốc. Việc hỗ trợ cần phù hợp với từng lĩnh vực và khả năng của HTX,
ưu tiên các mô hình có khả năng tạo hiệu quả và nhân rộng.
Bảy là, tăng cường xúc
tiến thương mại và phát triển thị trường. Hỗ trợ HTX xây dựng thương hiệu, nâng
cao chất lượng và hoàn thiện sản phẩm; tham gia hội chợ, triển lãm, chương
trình kết nối giao thương, các kênh phân phối hiện đại và thương mại điện tử.
Chú trọng cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ HTX chủ động điều chỉnh sản
xuất theo nhu cầu tiêu thụ, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Tám là, đổi mới công tác
tuyên truyền và phát huy vai trò của các tổ chức đại diện. Tiếp tục tuyên
truyền về bản chất, giá trị, nguyên tắc và vai trò của KTTT, HTX bằng hình thức
phù hợp với từng nhóm đối tượng; giới thiệu, nhân rộng các mô hình hoạt động
hiệu quả để thu hút người dân, tổ chức và doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết
với HTX. Phát huy vai trò của Liên minh HTX tỉnh và các tổ chức đại diện trong
tư vấn, hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên, làm cầu nối
giữa HTX với cơ quan quản lý nhà nước và các thành phần kinh tế khác.
6. Nguồn vốn thực hiện:
6.1. Tình hình thực hiện nguồn
vốn hỗ trợ năm 2026:
Năm 2026, nguồn lực hỗ trợ phát
triển KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh được bố trí từ ngân sách địa phương, nguồn kinh
phí chuyển tiếp từ năm trước, các chương trình chuyên ngành và vốn đối ứng của
HTX. Việc hỗ trợ được thực hiện trực tiếp hoặc lồng ghép với các chương trình
về đào tạo, xúc tiến thương mại, nhân rộng mô hình, phát triển liên kết sản
xuất và khuyến công.
Mặt khác, ngày 08/10/2025, UBND
tỉnh ban hành Quyết định số 01591/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ thực hiện
Chương trình hỗ trợ phát triển KTTT, HTX năm 2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Theo đó, tổng kinh phí dự kiến thực hiện Chương trình là 8.325 triệu đồng, gồm
5.755 triệu đồng từ ngân sách Trung ương và 2.570 triệu đồng từ ngân sách địa
phương. Hiện nay đang chờ phân bổ kinh phí theo quy định.
6.2. Nhu cầu vốn hỗ trợ năm
2027:
Tổng nhu cầu vốn hỗ trợ KTTT,
HTX năm 2027 của tỉnh Đắk Lắk là
70.271.900.000 đồng,
trong đó:
a) Về chi đầu tư công:
Căn cứ các chính sách hỗ trợ
tại Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định 113/2024/NĐ-CP và Quyết định 1128/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Đắk Lắk đề xuất nhu cầu vốn đầu tư công năm 2027
như sau:
- Hỗ trợ đầu tư đầu tư kết cấu
hạ tầng, trang thiết bị cho khoảng 5-8 HTX: 40 tỉ đồng.
- Cấp vốn bổ sung cho Quỹ hỗ
trợ phát triển hợp tác xã tỉnh theo Đề án tổ chức, sắp xếp lại Quỹ hỗ trợ phát triển
hợp tác xã tỉnh Đắk Lắk ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-UBND ngày 11/02/2025
của UBND tỉnh: 20 tỷ đồng.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư công
năm 2027: 60.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi tỷ đồng).
b) Về chi thường xuyên
Đối với các nội dung hỗ trợ tại
Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Hợp tác xã và Quyết định 1128/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:
nhu cầu vốn hỗ trợ là 10.271.900.000 đồng; trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 2.994.700.000
đồng
+ Ngân sách địa phương: 7.277.200.000
đồng
(Chi
tiết theo Phụ lục III, IV kèm theo)
Trên đây là Kế hoạch Phát triển
kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2027; đề nghị các sở,
ban, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan và UBND các xã, phường nghiêm túc triển
khai thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Tài chính;
- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
- Thường trực HĐND tỉnh (b/c);
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- MTTQVN tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội;
- Văn phòng Tỉnh ủy;
- Văn phòng ĐĐBQH và HĐND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- Các Cơ quan TW trên địa bàn tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- Báo và Phát thanh truyền hình Đắk Lắk;
- Các Hiệp hội/ Hội DN trên địa bàn tỉnh;
- CVP, các PCVP UBND tỉnh;
- Các phòng, ban, TT (VP.UBND tỉnh);
- Lưu: VT, ĐTKT (HTam).
|
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thiên Văn
|