|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 29/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 13 tháng 3 năm 2026
|
LUẬT
TỐ
CÁO
Luật Tố
cáo số 25/2018/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2019, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật
Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021;
2. Luật
số 81/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
3. Luật
Thanh tra số 84/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
4. Luật
số 136/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Tố cáo[1].
Chương I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật
này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản
lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật
này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tố
cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ
quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:
a) Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
b) Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
2. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là tố
cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các
đối tượng sau đây:
a) Cán
bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
b) Người
không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được
giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
c) Cơ
quan, tổ chức.
3. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là tố
cáo về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất
kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
4. Người
tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo.
5. Người
bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
6. Người
giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố
cáo.
7. Giải
quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết
luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.
Điều 3. Áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
1. Tố
cáo và giải quyết tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp luật khác có quy định về tố cáo và
giải quyết tố cáo khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật
đó.
2. Việc
tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định
của pháp luật về tố tụng hình sự.
Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
1. Việc
giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình
tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật.
2. Việc
giải quyết tố cáo phải bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.
Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo
1. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ
chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng
biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho
người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;
b) Bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung
tố cáo của người giải quyết tố cáo.
2. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà
không tiếp nhận, không giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, thiếu
trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết tố cáo trái
pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường,
bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan trong việc giải quyết tố cáo
Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có
trách nhiệm phối hợp với người giải quyết tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu
có liên quan đến nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện
pháp bảo vệ người tố cáo theo thẩm quyền; xử lý người có hành vi vi phạm pháp
luật theo kết luận nội dung tố cáo; xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm pháp luật về tố cáo.
Điều 7. Chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật
bị tố cáo
Quyết
định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tôn trọng, nghiêm
chỉnh chấp hành. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chấp hành quyết định
xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo mà không chấp hành thì phải bị xử lý
nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết
tố cáo
1. Cản
trở, gây khó khăn, phiền hà cho người tố cáo.
2. Thiếu
trách nhiệm, phân biệt đối xử trong việc giải quyết tố cáo.
3. Tiết
lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh
tính của người tố cáo.
4. Làm
mất, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố
cáo.
5.
Không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật,
sách nhiễu, gây phiền hà cho người tố cáo, người bị tố cáo.
6.
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.
7. Can
thiệp trái pháp luật, cản trở việc giải quyết tố cáo.
8. Đe
dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.
9. Bao
che người bị tố cáo.
10. Cố
ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác
tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo.
11.
Mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo.
12. Lợi
dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước;
gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín của người khác.
13.
Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.
Chương II
QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI TỐ CÁO, NGƯỜI BỊ TỐ CÁO, NGƯỜI GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người
tố cáo có các quyền sau đây:
a) Thực
hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật này;
b) Được
bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác;
c) Được
thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm
đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung
tố cáo;
d) Tố
cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo
chưa được giải quyết;
đ) Rút
tố cáo;
e) Đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người
tố cáo;
g) Được
khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người
tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a)
Cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật này;
b)
Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan
đến nội dung tố cáo mà mình có được;
c) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo;
d) Hợp
tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu;
đ) Bồi
thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người
bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được
thông báo về nội dung tố cáo, việc gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm
đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo;
b) Được
giải trình, đưa ra chứng cứ để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được
nhận kết luận nội dung tố cáo;
d) Được
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người
giải quyết tố cáo;
đ) Yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật,
người giải quyết tố cáo trái pháp luật;
e) Được
phục hồi danh dự, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được xin lỗi,
cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo, giải quyết tố
cáo không đúng gây ra theo quy định của pháp luật;
g) Khiếu
nại quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật.
2. Người
bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Có
mặt để làm việc theo yêu cầu của người giải quyết tố cáo;
b) Giải
trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
c) Chấp
hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý theo kết luận nội dung tố cáo của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền;
d) Bồi
thường thiệt hại, bồi hoàn do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 11. Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo
1. Người
giải quyết tố cáo có các quyền sau đây:
a) Yêu
cầu người tố cáo đến làm việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội
dung tố cáo mà người tố cáo có được;
b) Yêu
cầu người bị tố cáo đến làm việc, giải trình về hành vi bị tố cáo, cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
c) Yêu
cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến nội dung tố cáo;
d) Tiến
hành các biện pháp cần thiết để xác minh, thu thập thông tin, tài liệu làm căn
cứ để giải quyết tố cáo theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan; áp dụng hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo;
đ) Kết
luận nội dung tố cáo;
e) Xử
lý kết luận nội dung tố cáo theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Người
giải quyết tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo
đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo;
b) Áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo;
c)
Không tiết lộ thông tin về việc giải quyết tố cáo; bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo;
d)
Thông báo cho người tố cáo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, việc chuyển
vụ việc tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn
giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải
quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo;
đ)
Thông báo cho người bị tố cáo về nội dung tố cáo, gia hạn giải quyết tố cáo,
đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo; gửi
kết luận nội dung tố cáo cho người bị tố cáo;
e) Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo;
g) Bồi
thường thiệt hại, bồi hoàn do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình
gây ra.
Chương III
GIẢI
QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ,
CÔNG VỤ
Mục 1. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền
1. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,
công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý
cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.
Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ
chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết.
2. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,
công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người
đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố
cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp
giải quyết.
3. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,
công chức, viên chức xảy ra trong thời gian công tác trước đây nay đã chuyển
sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức được
xử lý như sau:
a) Trường
hợp người bị tố cáo là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đã chuyển
công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà vẫn giữ chức vụ tương đương thì do người
đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức quản lý người
bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người
đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đang quản lý
người bị tố cáo phối hợp giải quyết;
b) Trường
hợp người bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và giữ chức vụ
cao hơn thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý người bị tố cáo chủ
trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý người bị tố cáo tại thời
điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và là người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thì do người đứng đầu cơ
quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó chủ trì giải quyết;
người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã quản lý người bị tố cáo tại thời điểm có
hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết;
c) Trường
hợp người bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà không thuộc
trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì do người đứng đầu cơ
quan, tổ chức quản lý người bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật
chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý người bị tố
cáo phối hợp giải quyết;
d) Trường
hợp người bị tố cáo không còn là cán bộ, công chức, viên chức thì do người đứng
đầu cơ quan, tổ chức quản lý người bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm
pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối
hợp giải quyết.
4. Tố
cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách do người đứng đầu cơ quan, tổ chức sau hợp nhất, sáp nhập, chia,
tách mà người bị tố cáo đang công tác chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ
quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết.
5. Tố
cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể do người đứng
đầu cơ quan, tổ chức quản lý cơ quan, tổ chức trước khi bị giải thể giải quyết.
6. Tố
cáo cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ do người đứng đầu
cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết.
7.[2] Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, tổ chức,
cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền
quản lý của mình mà không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 3, 4, 5
và 6 Điều này.
Điều 13. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước
1.[3] Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành
chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức do mình
quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức, đơn vị do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp.
2.[4] (được
bãi bỏ)
3.[5] Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc cơ quan
mình, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp.
4. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:
a)[6] Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc cơ quan mình,
cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trực tiếp.
5. Tổng
cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân
cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục, Cục
và cấp tương đương, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp.
6. Người
đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức thuộc cơ quan thuộc
Chính phủ, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp.
7. Bộ
trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cán bộ, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp.
8. Thủ
tướng Chính phủ có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
Bộ trưởng, Thứ trưởng, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cán bộ, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp;
c)[7] Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền
cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo sau khi kiểm tra thấy đủ điều kiện
thụ lý tố cáo; kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết luận nội dung tố cáo
sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Tổng Thanh
tra Chính phủ về kết quả xác minh nội dung tố cáo.
Điều 14. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Tòa án nhân dân[8]
1.
Chánh án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp.
2.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, công chức khác do mình quản lý trực
tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Tòa án
nhân dân khu vực.
3.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
công chức, viên chức khác do mình quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp, của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Điều 15. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Viện kiểm sát nhân dân[9]
1. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực
tiếp.
2. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực, công chức khác do mình
quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực.
3. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ của công chức, viên chức khác do mình quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp, của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
Điều 16. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Kiểm toán Nhà nước
Tổng
Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức, viên chức, đơn vị trong
Kiểm toán Nhà nước.
Điều 17. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan khác của Nhà nước
1. Ủy
ban Thường vụ Quốc hội giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách; giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của đại biểu Quốc hội khác khi thực hiện
nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
Văn phòng Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Thường
trực Hội đồng nhân dân có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động
chuyên trách; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của đại biểu Hội đồng
nhân dân khác khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, trừ Chủ tịch,
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp mình.
Cơ
quan có thẩm quyền phê chuẩn việc bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
3. Người
đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức,
viên chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp và của cơ quan, tổ chức do mình
quản lý trực tiếp.
Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước do người có thẩm quyền
bổ nhiệm người đó giải quyết.
Điều 18. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập
1. Người
đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu tổ chức, đơn vị trực thuộc, công chức,
viên chức do mình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức,
đơn vị do mình quản lý trực tiếp.
2. Người
đứng đầu cơ quan nhà nước quản lý đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền sau
đây:
a) Giải
quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập,
công chức, viên chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
đơn vị sự nghiệp công lập do mình quản lý trực tiếp.
Điều 19. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ của người có chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp
do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ[10]
1. Người
đứng đầu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ[11] có thẩm quyền sau đây:
a) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị trực thuộc hoặc người khác do mình
bổ nhiệm;
b) Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị
trực thuộc do mình quản lý trực tiếp.
2. Người
đứng đầu cơ quan nhà nước được giao quản lý doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ[12] có thẩm quyền giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng
thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, kiểm soát viên do
mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp trong doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ[13].
Điều 20. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội
Cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội căn cứ vào
nguyên tắc xác định thẩm quyền quy định tại Điều 12 của Luật này
hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong tổ chức mình; hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của tổ chức, đơn vị do mình quản lý.
Điều 21. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật của người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ,
công chức, viên chức
Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện
nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền
giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ.
Mục 2. HÌNH THỨC TỐ CÁO, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ BAN ĐẦU THÔNG TIN
TỐ CÁO
Điều 22. Hình thức tố cáo
Việc tố
cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền.
Điều 23. Tiếp nhận tố cáo
1. Trường
hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày,
tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người
tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; người bị tố cáo và các thông tin
khác có liên quan. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì
trong đơn tố cáo còn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, cách thức liên hệ với từng
người tố cáo; họ tên của người đại diện cho những người tố cáo.
Người
tố cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn tố cáo.
2. Trường
hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì
người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố
cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn
bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp
nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì người tiếp nhận hướng dẫn người
tố cáo cử đại diện viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và
yêu cầu những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản.
3. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức
việc tiếp nhận tố cáo. Người tố cáo có trách nhiệm tố cáo đến đúng địa chỉ tiếp
nhận tố cáo mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo đã
công bố.
Điều 24. Xử lý ban đầu thông tin tố cáo
1.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm vào sổ, phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo, kiểm
tra, xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý tố cáo; trường hợp
phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm hoặc phải ủy quyền cho cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền kiểm tra, xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài hơn nhưng
không quá 10 ngày làm việc.
Trường
hợp đủ điều kiện thụ lý thì ra quyết định thụ lý tố cáo theo quy định tại Điều 29 của Luật này; trường hợp không đủ điều kiện thụ lý thì
không thụ lý tố cáo và thông báo ngay cho người tố cáo biết lý do không thụ lý
tố cáo.
2. Trường
hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, phải chuyển đến cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo. Trường hợp người
tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo hướng
dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết.
3. Trường
hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và được gửi đồng thời cho
nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết hoặc trường hợp đã hướng dẫn nhưng người tố cáo vẫn gửi tố cáo
đến cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền giải quyết thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhận được tố cáo không xử lý.
Điều 25. Tiếp nhận, xử lý thông tin có nội dung tố cáo
1. Khi
nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người
tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người
tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố
cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật
này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của
Luật này.
2. Trường
hợp thông tin có nội dung tố cáo quy định tại khoản 1 Điều này có nội dung rõ
ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về
hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển
đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm
tra phục vụ cho công tác quản lý.
Điều 26. Tiếp nhận, xử lý tố cáo do cơ quan báo chí, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến
1. Khi
nhận được tố cáo của cá nhân do cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền chuyển đến thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận có trách nhiệm tiến
hành phân loại và xử lý như sau:
a) Trường
hợp tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết và đủ điều kiện thụ lý thì thụ lý tố
cáo; trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển đến cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền giải quyết;
b) Trường
hợp tố cáo không đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Điều 29 của
Luật này thì không thụ lý; trường hợp tố cáo không đủ điều kiện thụ lý
nhưng có nội dung, thông tin rõ ràng về người có hành vi vi phạm, có tài liệu,
chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo
thẩm quyền phục vụ cho công tác quản lý.
2. Kết
quả xử lý tố cáo theo quy định tại khoản 1 Điều này được thông báo bằng văn bản
cho cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển tố cáo
trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo.
Điều 27. Xử lý tố cáo có dấu hiệu của tội phạm, áp dụng biện
pháp ngăn chặn hành vi vi phạm
1.
Trong quá trình tiếp nhận, xử lý tố cáo, nếu thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu
của tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm
sát nhân dân có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Trường
hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, tính mạng, sức khỏe,
tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân thì cơ
quan, tổ chức, cá nhân nhận được tố cáo phải áp dụng biện pháp cần thiết theo
thẩm quyền hoặc thông báo ngay cho cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có thẩm quyền để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm.
Mục 3. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 28. Trình tự giải quyết tố cáo
1. Thụ
lý tố cáo.
2. Xác
minh nội dung tố cáo.
3. Kết
luận nội dung tố cáo.
4. Xử
lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.
Điều 29. Thụ lý tố cáo
1. Người
giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Tố
cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này;
b) Người
tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi
dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Vụ
việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận
tố cáo;
d) Nội
dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.
Trường
hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng
ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi
người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải
quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật.
2. Quyết
định thụ lý tố cáo bao gồm các nội dung chính sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Căn
cứ ra quyết định;
c) Nội
dung tố cáo được thụ lý;
d) Thời
hạn giải quyết tố cáo.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thụ lý tố cáo, người
giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo cho người tố cáo và thông báo về nội
dung tố cáo cho người bị tố cáo biết.
Điều 30. Thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thời
hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo.
2. Đối
với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không
quá 30 ngày.
3. Đối
với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi
lần không quá 30 ngày.
4. Người
giải quyết tố cáo quyết định bằng văn bản việc gia hạn giải quyết tố cáo và
thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Xác minh nội dung tố cáo
1. Người
giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh nội dung tố cáo (gọi chung là người
xác minh nội dung tố cáo). Việc giao xác minh nội dung tố cáo phải thực hiện bằng
văn bản.
2. Văn
bản giao xác minh nội dung tố cáo có các nội dung chính sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm giao xác minh;
b) Người
được giao xác minh nội dung tố cáo;
c) Họ
tên, địa chỉ của người bị tố cáo; tên gọi, trụ sở của cơ quan, tổ chức bị tố
cáo;
d) Nội
dung cần xác minh;
đ) Thời
gian tiến hành xác minh;
e) Quyền
và trách nhiệm của người được giao xác minh nội dung tố cáo.
3. Người
xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập
thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Thông tin, tài liệu thu thập phải
được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ
trong hồ sơ vụ việc tố cáo.
4.
Trong quá trình xác minh, người xác minh nội dung tố cáo phải tạo điều kiện để
người bị tố cáo giải trình, đưa ra các chứng cứ để chứng minh tính đúng, sai của
nội dung cần xác minh.
5. Người
xác minh nội dung tố cáo được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và các điểm a, b, c khoản 2 Điều 11 của Luật
này theo phân công của người giải quyết tố cáo.
6. Kết
thúc việc xác minh nội dung tố cáo, người được giao xác minh phải có văn bản
báo cáo người giải quyết tố cáo về kết quả xác minh nội dung tố cáo và kiến nghị
biện pháp xử lý.
Điều 32. Trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp, Thủ trưởng
đơn vị được giao tham mưu giải quyết tố cáo và Tổng Thanh tra Chính phủ[14]
1.
Chánh Thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Chánh Thanh tra Cơ yếu, Chánh Thanh tra được thành lập theo điều ước
quốc tế, Chánh Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng đơn
vị được giao tham mưu giải quyết tố cáo có trách nhiệm sau đây:
a) Xác
minh nội dung tố cáo, báo cáo kết quả xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố
cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước
cùng cấp khi được giao;
b) Xem
xét việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp dưới trực tiếp
của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp (nếu có) đã giải quyết nhưng có dấu hiệu
vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi
phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
xem xét, giải quyết lại.
2. Tổng
Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm sau đây:
a) Tiếp
nhận, phân loại, đề xuất việc giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ tướng
Chính phủ;
b) Xác
minh nội dung tố cáo, báo cáo kết quả xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố
cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao; thực hiện
các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền quy định tại điểm
c khoản 8 Điều 13 của Luật này;
c) Xem
xét việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có
dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết có vi
phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại.
Điều 33. Rút tố cáo
1.[15]
Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố
cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận
nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc
biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải
quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo.
2. Trường
hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải
quyết theo quy định của Luật này; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung
tố cáo thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 34 của
Luật này. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố
cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật
này. Người đã rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ
quy định tại Điều 9 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều này.
3. Trường
hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố
cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị
đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm,
gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết.
4. Người
tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để
vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách
nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết tố cáo
1. Người
giải quyết tố cáo ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một
trong các căn cứ sau đây:
a) Cần
đợi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải
quyết vụ việc khác có liên quan;
b) Cần
đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại.
2. Khi
căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không còn thì người giải quyết tố
cáo ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo; thời gian tạm đình chỉ việc
giải quyết tố cáo không tính vào thời hạn giải quyết tố cáo.
3. Người
giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một
trong các căn cứ sau đây:
a) Người
tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 33 của Luật này;
b) Người
bị tố cáo là cá nhân chết và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến trách nhiệm của
người bị tố cáo;
c) Vụ
việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
4. Quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết tố cáo phải nêu rõ lý do, trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và gửi đến người tố cáo, người bị tố
cáo trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Điều 35. Kết luận nội dung tố cáo
1. Căn
cứ vào nội dung tố cáo, giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội
dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo ban hành
kết luận nội dung tố cáo.
2. Kết
luận nội dung tố cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Kết
quả xác minh nội dung tố cáo;
b) Căn
cứ pháp luật để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật;
c) Kết
luận về nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc tố cáo sai sự thật; xác định
trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến nội dung tố cáo;
d) Các
biện pháp xử lý theo thẩm quyền cần thực hiện; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có vi phạm pháp luật;
đ) Kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, áp dụng
các biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Chậm
nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo, người giải
quyết tố cáo gửi kết luận nội dung tố cáo đến người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức
quản lý người bị tố cáo và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thông báo về
kết luận nội dung tố cáo đến người tố cáo.
Điều 36. Việc xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải
quyết tố cáo
1. Chậm
nhất là 07 ngày làm việc kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo, người giải
quyết tố cáo căn cứ vào kết luận nội dung tố cáo tiến hành việc xử lý như sau:
a) Trường
hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ thì khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm
phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền
hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo
sai sự thật;
b) Trường
hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ thì áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Trường
hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu của tội phạm thì chuyển
ngay hồ sơ vụ việc đến Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền
để xử lý theo quy định của pháp luật.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xử lý, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý kiến nghị trong kết luận nội dung tố cáo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người giải
quyết tố cáo về kết quả xử lý.
Điều 37. Việc tố cáo tiếp, giải quyết lại vụ việc tố cáo
1. Trường
hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng quy định của pháp
luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức
cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo.
2.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ
quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo phải xem xét hồ
sơ giải quyết vụ việc tố cáo trước đó; trường hợp cần thiết, làm việc trực tiếp
với người tố cáo về nội dung tố cáo tiếp, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ
có liên quan để quyết định xử lý đối với tố cáo tiếp. Việc xử lý được thực hiện
như sau:
a) Trường
hợp việc giải quyết tố cáo trước đó là đúng quy định của pháp luật thì không giải
quyết lại vụ việc tố cáo, đồng thời thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho
người tố cáo về việc không giải quyết lại;
b) Trường
hợp việc giải quyết tố cáo trước đó là không đúng thẩm quyền thì tiến hành giải
quyết tố cáo theo thẩm quyền hoặc chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết tố cáo;
c) Trường
hợp việc giải quyết tố cáo trước đó có một trong các căn cứ quy định tại khoản
3 Điều này thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp giải quyết lại
vụ việc tố cáo theo thời hạn, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo quy định tại
Chương này.
3. Việc
giải quyết lại vụ việc tố cáo được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau
đây:
a) Kết
quả xác minh hoặc kết luận nội dung tố cáo thiếu chính xác hoặc thiếu khách
quan;
b) Bỏ
sót, bỏ lọt thông tin, tài liệu, chứng cứ quan trọng trong khi xác minh hoặc kết
luận nội dung tố cáo;
c) Áp
dụng không đúng pháp luật trong quá trình xác minh hoặc kết luận nội dung tố
cáo.
4. Kết
luận nội dung giải quyết lại vụ việc tố cáo bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này;
b) Kết
luận về những nội dung vi phạm trong quá trình giải quyết tố cáo của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức cấp dưới;
c)
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết tố cáo trước đó;
d) Xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc giải
quyết tố cáo.
Điều 38. Giải quyết tố cáo trong trường hợp quá thời hạn quy
định mà chưa được giải quyết
1. Trường
hợp quá thời hạn quy định tại Điều 30 của Luật này mà tố
cáo chưa được giải quyết, người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu
cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu
cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có văn bản yêu cầu người giải quyết tố cáo
báo cáo về quá trình giải quyết tố cáo, lý do về việc chậm giải quyết tố cáo và
xác định trách nhiệm giải quyết tố cáo.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp, người giải quyết tố cáo phải gửi
báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều này; tiếp tục giải quyết tố cáo theo yêu
cầu của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp và báo cáo kết quả giải quyết, trừ
trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
4. Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp theo dõi, đôn đốc việc giải quyết
tố cáo; thông báo cho người tố cáo biết về việc xem xét, giải quyết tố cáo; áp
dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết tố cáo theo
đúng thời gian quy định.
5. Trường
hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật nghiêm trọng,
có dấu hiệu không khách quan thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực
tiếp giải quyết vụ việc tố cáo.
Chính
phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 39. Hồ sơ giải quyết vụ việc tố cáo
1. Việc
giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Căn cứ vào vụ việc cụ thể, hồ sơ
giải quyết vụ việc tố cáo bao gồm:
a) Đơn
tố cáo hoặc văn bản ghi nội dung tố cáo; báo cáo hoặc biên bản kiểm tra, xác
minh thông tin cá nhân của người tố cáo, biên bản làm việc trực tiếp với người
tố cáo để xác minh nội dung tố cáo;
b) Quyết
định thụ lý tố cáo; văn bản giao xác minh nội dung tố cáo;
c)
Biên bản xác minh; kết quả giám định, thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được
trong quá trình xác minh;
d) Văn
bản giải trình của người bị tố cáo; biên bản làm việc với người bị tố cáo về nội
dung giải trình;
đ) Báo
cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo trong trường hợp người giải quyết tố cáo
giao cho người khác tiến hành xác minh nội dung tố cáo;
e) Quyết
định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo; quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo;
g) Kết
luận nội dung tố cáo hoặc quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo;
h) Quyết
định xử lý của người giải quyết tố cáo, văn bản kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý;
i) Các
tài liệu khác có liên quan.
2. Đối
với việc giải quyết lại vụ việc tố cáo, hồ sơ bao gồm những tài liệu quy định tại
khoản 1 Điều này và các tài liệu sau đây:
a) Đơn
tố cáo tiếp hoặc văn bản ghi nội dung tố cáo tiếp; văn bản yêu cầu hoặc kiến
nghị về việc giải quyết lại vụ việc tố cáo;
b) Kết
luận nội dung giải quyết lại vụ việc tố cáo;
c) Quyết
định xử lý của người giải quyết lại vụ việc tố cáo;
d) Các
tài liệu khác có liên quan trong quá trình giải quyết lại vụ việc tố cáo.
3. Hồ
sơ giải quyết vụ việc tố cáo phải được đánh số thứ tự. Việc lưu trữ, khai thác,
sử dụng hồ sơ giải quyết vụ việc tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp
luật, bảo đảm bí mật thông tin về người tố cáo.
Điều 40. Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo
1.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ra kết luận nội dung tố cáo, quyết định
xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện
việc công khai kết luận nội dung tố cáo, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử
phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công khai quyết định xử lý hành vi vi phạm
bị tố cáo.
2. Việc
công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
được thực hiện bằng một hoặc một số hình thức sau đây:
a)
Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố cáo công tác;
b)
Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của người đã giải quyết tố
cáo, người đã ra quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo;
c)
Đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc mạng thông tin nội bộ của người đã giải
quyết tố cáo, người đã ra quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo;
d)
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Việc
công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
phải bảo đảm không làm tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc
bí mật nhà nước.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương IV
GIẢI
QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG CÁC
LĨNH VỰC
Điều 41. Nguyên tắc xác định thẩm quyền
1. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên
quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm
giải quyết.
2. Tố
cáo nhiều hành vi vi phạm pháp luật thuộc chức năng quản lý nhà nước của nhiều
cơ quan thì các cơ quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
phối hợp để thống nhất xác định cơ quan có thẩm quyền chủ trì giải quyết hoặc
báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan có thẩm
quyền chủ trì giải quyết.
3. Tố
cáo về hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan
thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết.
Điều 42. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo
1.
Trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xác minh, kết luận nội dung tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được thực hiện theo
quy định tại các điều 22, 23, 24, 25, 26,
27, 28, 29, 30, 31, 33, 34, 35, 36, 37,
38, 39 và 40 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 43 của Luật này.
Trường
hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các
lĩnh vực thì việc xử lý hành vi vi phạm đó còn phải tuân thủ quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường
hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có quy định về thời hạn giải quyết
khác với quy định tại Điều 30 của Luật này thì thời hạn giải
quyết tố cáo không được vượt quá thời hạn xử lý vi phạm hành chính theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 43. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo có nội dung rõ
ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay
1. Đối
với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có
nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay thì việc giải quyết tố
cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Người
có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
b) Trường
hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực mà mình quản lý, người giải
quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo, áp dụng biện pháp cần
thiết để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và kịp thời lập biên bản
về hành vi vi phạm pháp luật; việc xác minh, kiểm tra thông tin về người tố cáo
được thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo thấy cần thiết cho quá
trình xử lý hành vi bị tố cáo;
c) Người
giải quyết tố cáo ra quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật theo thẩm quyền
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Hồ
sơ giải quyết vụ việc tố cáo được lập chung cùng hồ sơ xử lý vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Chương V
TRÁCH
NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾT LUẬN NỘI DUNG TỐ CÁO
Điều 44. Trách nhiệm của người giải quyết tố cáo
1.
Trên cơ sở kết luận nội dung tố cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, người
giải quyết tố cáo xử lý như sau:
a) Đối
với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người giải
quyết tố cáo xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xử lý kỷ luật, buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật
gây ra, áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật;
b) Đối
với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, người giải
quyết tố cáo xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý khác theo
quy định của pháp luật;
c) Xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật;
d) Đối
với hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm thì có văn bản chuyển hồ
sơ đến Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
2. Thẩm
quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các
biện pháp xử lý khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,
viên chức, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
3.[16]
Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm theo
dõi, đôn đốc hoặc giao cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc đơn vị tham mưu giải quyết
tố cáo theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo.
Điều 45. Trách nhiệm của người bị tố cáo
1. Thực
hiện kịp thời, đúng thời hạn và đầy đủ các nghĩa vụ đã được xác định tại kết luận
nội dung tố cáo.
2. Trường
hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ,
người bị tố cáo phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước người giải quyết tố cáo,
trước pháp luật về việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo.
Điều 46. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan
1. Thực
hiện kịp thời, đúng thời hạn và đầy đủ các nghĩa vụ có liên quan đã được xác định
tại kết luận nội dung tố cáo.
2.
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với người giải
quyết tố cáo để xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo theo quy định của
pháp luật.
3. Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo liên
quan đến trách nhiệm của mình.
Chương VI
BẢO
VỆ NGƯỜI TỐ CÁO
Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 47. Người được bảo vệ, phạm vi bảo vệ
1. Bảo
vệ người tố cáo là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí
công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người
tố cáo (gọi chung là người được bảo vệ).
2. Người
tố cáo được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, trừ trường hợp người tố cáo tự tiết
lộ.
3. Khi
có căn cứ về việc vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh
dự, nhân phẩm của người quy định tại khoản 1 Điều này đang bị xâm hại hoặc có
nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay họ bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố
cáo, người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền tự quyết định hoặc
theo đề nghị của người tố cáo quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
Điều 48. Quyền và nghĩa vụ của người được bảo vệ
1. Người
được bảo vệ có các quyền sau đây:
a) Được
biết về các biện pháp bảo vệ;
b) Được
giải thích về quyền và nghĩa vụ khi được áp dụng biện pháp bảo vệ;
c) Đề
nghị thay đổi, bổ sung, chấm dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ;
d) Từ
chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
đ) Được
bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong trường hợp người tố cáo đã đề nghị người giải quyết tố cáo, cơ quan khác
có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mà không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc
áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về
tính mạng, sức khỏe, tài sản, tinh thần cho người được bảo vệ.
2. Người
được bảo vệ có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp
hành nghiêm chỉnh yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ;
b) Giữ
bí mật thông tin về việc được bảo vệ;
c)
Thông báo kịp thời đến cơ quan áp dụng biện pháp bảo vệ về những vấn đề phát
sinh trong thời gian được bảo vệ.
Điều 49. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Người
giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc
làm của người được bảo vệ thuộc quyền quản lý và những nội dung bảo vệ khác nếu
thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp không thuộc thẩm quyền thì yêu cầu hoặc đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ.
2. Cơ
quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin
của người tố cáo.
3. Cơ
quan Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc
bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ.
4. Cơ
quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên
quan thực hiện việc bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ.
5. Ủy
ban nhân dân các cấp, Công đoàn các cấp, cơ quan, tổ chức khác, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền
áp dụng biện pháp bảo vệ thực hiện việc bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công
tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được
bảo vệ.
Mục 2. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC BẢO VỆ
Điều 50. Đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Khi
có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này thì người
tố cáo có văn bản đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ.
2. Văn
bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
b) Họ
tên, địa chỉ của người tố cáo; họ tên, địa chỉ của người cần được bảo vệ;
c) Lý
do và nội dung đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
d) Chữ
ký hoặc điểm chỉ của người tố cáo.
3. Trường
hợp khẩn cấp, người tố cáo có thể trực tiếp đến đề nghị hoặc thông qua điện thoại
đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ ngay nhưng sau đó nội
dung đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
Điều 51. Xem xét, quyết định bảo vệ người tố cáo
1. Khi
nhận được đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và xét thấy đề nghị bảo vệ là có căn
cứ, có tính xác thực hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo, người giải quyết tố
cáo thấy có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này
thì người giải quyết tố cáo kịp thời quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo
thẩm quyền hoặc đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ
cần thiết.
2. Khi
nhận được yêu cầu hoặc đề nghị của người giải quyết tố cáo, cơ quan có thẩm quyền
xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ.
3. Trường
hợp đề nghị của người tố cáo không có căn cứ hoặc xét thấy không cần thiết áp dụng
biện pháp bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ phải thông báo
bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người tố cáo hoặc gửi thông báo cho người giải
quyết tố cáo để giải thích rõ lý do cho người tố cáo.
Điều 52. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Cơ
quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
vệ.
2. Quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm các nội dung chính sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Căn
cứ ra quyết định;
c) Họ
tên, địa chỉ của người được bảo vệ;
d) Nội
dung, biện pháp bảo vệ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện biện
pháp bảo vệ;
đ) Thời
điểm bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.
3. Quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người được bảo vệ, người giải quyết
tố cáo và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
4. Sau
khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm thực hiện biện pháp bảo vệ phải tổ chức thực hiện ngay việc bảo vệ; trường
hợp cần thiết, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện
việc bảo vệ.
5. Thời
gian bảo vệ được tính từ thời điểm bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ cho đến
khi việc áp dụng biện pháp bảo vệ được chấm dứt theo quy định tại khoản 2 Điều 54 của Luật này.
Điều 53. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
1. Cơ
quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm sau đây:
a) Chủ
trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức việc áp dụng
các biện pháp bảo vệ; chịu trách nhiệm về quyết định của mình;
b) Lập,
quản lý, lưu trữ và khai thác hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của
pháp luật;
c)
Theo dõi, giải quyết những vướng mắc phát sinh; gửi báo cáo đến cơ quan có thẩm
quyền khi có yêu cầu.
2. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ có
trách nhiệm sau đây:
a) Thực
hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp
bảo vệ. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo hoặc
thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện
pháp bảo vệ;
b) Báo
cáo hoặc thông báo bằng văn bản về kết quả thực hiện việc bảo vệ cho cơ quan
quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 54. Thay đổi, bổ sung, chấm dứt việc áp dụng biện pháp
bảo vệ
1. Cơ
quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ có thể thay đổi, bổ sung việc áp
dụng biện pháp bảo vệ nếu xét thấy cần thiết hoặc trên cơ sở đề nghị bằng văn bản
của người được bảo vệ.
2. Việc
áp dụng biện pháp bảo vệ chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người
giải quyết tố cáo đã ra kết luận nội dung tố cáo hoặc quyết định đình chỉ việc
giải quyết tố cáo;
b) Cơ
quan đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quyết định chấm dứt áp dụng biện
pháp bảo vệ khi xét thấy căn cứ áp dụng biện pháp bảo vệ không còn hoặc theo đề
nghị bằng văn bản của người được bảo vệ.
c)[17]
Người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ
quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 48 của Luật này.
3. Quyết
định thay đổi, bổ sung, chấm dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người
được bảo vệ, người giải quyết tố cáo và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên
quan.
Điều 55. Hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Việc
bảo vệ người tố cáo phải được lập thành hồ sơ.
2. Căn
cứ vào vụ việc cụ thể, hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ của người tố cáo; yêu cầu hoặc đề nghị áp
dụng biện pháp bảo vệ của người giải quyết tố cáo;
b) Kết
quả xác minh thông tin về đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
c) Quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ;
d) Văn
bản đề nghị thay đổi, bổ sung, chấm dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ;
đ) Quyết
định thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ;
e) Văn
bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp áp dụng biện
pháp bảo vệ;
g) Báo
cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ;
h) Quyết
định chấm dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ;
i) Tài
liệu khác có liên quan đến việc áp dụng biện pháp bảo vệ.
Mục 3. CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ
Điều 56. Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin
Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết
tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp sau đây:
1. Giữ
bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo
trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp;
2. Lược
bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi
đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi
giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo;
3. Bố
trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật
thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan;
4. Áp
dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật;
5. Đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ
bí mật thông tin của người tố cáo.
Điều 57. Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm
1. Biện
pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ là cán bộ, công chức,
viên chức bao gồm:
a) Tạm
đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định
khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ;
b)
Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp
pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;
c) Xem
xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh
bị trù dập, phân biệt đối xử;
d) Xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.
2. Biện
pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao
động bao gồm:
a) Yêu
cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm,
các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;
b) Xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 58. Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh
dự, nhân phẩm
1. Đưa
người được bảo vệ đến nơi an toàn.
2. Bố
trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức
khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết.
3. Áp
dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại
đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ theo
quy định của pháp luật.
4. Yêu
cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm.
5. Biện
pháp khác theo quy định của pháp luật.
Chương VII
TRÁCH
NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 59. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công
tác giải quyết tố cáo
1.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm
vi cả nước; trực tiếp quản lý công tác giải quyết tố cáo của các cơ quan thuộc
hệ thống hành chính nhà nước.
2.
Thanh tra Chính phủ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ.
3. Các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về
công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 60. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội
1. Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, cơ
quan khác của Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
ở trung ương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quản lý công tác giải
quyết tố cáo; hằng năm gửi báo cáo về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi
quản lý của cơ quan, tổ chức mình đến Chính phủ để tổng hợp báo cáo Quốc hội.
2.[18]
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quản
lý công tác giải quyết tố cáo; hằng năm gửi báo cáo về công tác giải quyết tố
cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình đến Ủy ban nhân dân cùng cấp
để tổng hợp báo cáo Hội đồng nhân dân.
3. Căn
cứ vào Luật này, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm
toán Nhà nước, cơ quan khác của Nhà nước không thuộc hệ thống hành chính nhà nước,
cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn
việc thực hiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo trong phạm vi cơ quan,
tổ chức mình phù hợp với đặc thù tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức mình.
Điều 61. Trách nhiệm thông tin, báo cáo trong công tác giải
quyết tố cáo
1. Hằng
năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và gửi
báo cáo đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác giải quyết
tố cáo.
2. Các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo
Chính phủ về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan mình
theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Chính phủ.
3. Hằng
năm, Ủy ban nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan cấp trên trực
tiếp và thông báo đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về công tác giải
quyết tố cáo trong phạm vi địa phương và lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của
mình.
Chương VIII
KHEN
THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 62. Khen thưởng
Người
tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật thì được
khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 63. Xử lý hành vi vi phạm của người giải quyết tố cáo
Người
giải quyết tố cáo có hành vi quy định tại Điều 8 của Luật này
hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật trong việc giải quyết tố cáo thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của
pháp luật.
Điều 64. Xử lý hành vi vi phạm của người có trách nhiệm chấp
hành quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Người
có trách nhiệm chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo nếu không
chấp hành thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà không áp dụng biện pháp cần thiết để
xử lý kịp thời đối với người giải quyết tố cáo có hành vi vi phạm quy định tại Điều 63 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 65. Xử lý hành vi vi phạm của người tố cáo và những người
khác có liên quan
Người
tố cáo và những người khác có liên quan có hành vi quy định tại Điều
8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải
quyết tố cáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương IX
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH[19]
Điều 66. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
2. Luật
Tố cáo số 03/2011/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
3. Tố
cáo đã được thụ lý, đang xem xét và chưa có kết luận trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành thì được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo số
03/2011/QH13.
Điều 67. Quy định chi tiết
Chính
phủ quy định chi tiết Chương VI của Luật này và các điều, khoản được giao trong
Luật; quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân và Công
an nhân dân.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Doanh nghiệp số
59/2020/QH14 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Doanh nghiệp.”.
Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
số 34/2024/QH15.”.
Luật
Thanh tra số 84/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Thanh tra.”.
Luật số
136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại,
Luật Tố cáo có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13, Luật Khiếu
nại số 02/2011/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 42/2013/QH13, Luật số
81/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15, Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Luật số 59/2020/QH14, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15.”.
[2] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của
Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản
2 Điều 3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp
công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[4] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 8 Điều 3 của
Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản
2 Điều 3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp
công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[6] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản
2 Điều 3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp
công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[7] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều
3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công
dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[8] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản
7 Điều 2 của Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều
3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công
dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[10] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay thế bằng cụm từ
“doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy định tại khoản 3 Điều
217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2021.
[11] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay thế bằng cụm từ
“doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy định tại khoản 3 Điều
217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2021.
[12] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay thế bằng cụm từ
“doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy định tại khoản 3 Điều
217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2021.
[13] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay thế bằng cụm từ
“doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy định tại khoản 3 Điều
217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2021.
[14] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều
3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công
dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[15] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều
3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công
dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[16] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều
3 của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công
dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[17] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của
Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[18] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản
7 Điều 2 của Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19] Điều 217 và Điều 218 của Luật
Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định
như sau:
“Điều
217. Điều khoản thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
2.
Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành.
3. Thay thế cụm từ
“doanh nghiệp nhà nước” bằng cụm từ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
lệ” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 35 và điểm k khoản 1 Điều 37 của Luật Ngân
sách nhà nước số 83/2015/QH13; điểm a khoản 3 Điều 23 của Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 35/2018/QH14; điểm b khoản 2 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 45/2019/QH14;
điểm a khoản 2 Điều 43 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ
hỗ trợ số 14/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 50/2019/QH14;
Điều 19 của Luật Tố cáo số 25/2018/QH14; các điều 3, 20, 30, 34, 39 và 61 của
Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14.
4.
Chính phủ quy định việc đăng ký và hoạt động của hộ kinh doanh.
5.
Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản
lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh
hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.
Điều
218. Quy định chuyển tiếp
1.
Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện
góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo
quy định tại khoản 2 Điều 195 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu
chéo.
2.
Đối tượng là người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện theo ủy
quyền mà không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại điểm b khoản 5 Điều
14, khoản 3 Điều 64, khoản 3 Điều 93, khoản 3 Điều 101, các điểm a, b và
c khoản 3 Điều 103, điểm d khoản 1 Điều 155, điểm b khoản 5 Điều 162 và khoản 2
Điều 169 của Luật này được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đến hết thời gian còn lại
của nhiệm kỳ.”.
Điều 3
của Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều
3. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Việc
thi hành Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân được thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều
63 của Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025, quy định như sau:
“Điều
63. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2.
Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, trừ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 64 của Luật này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao và hướng dẫn thực hiện Luật
này.”.
Điều 4
của Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân,
Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026 quy định như sau:
“Điều
4. Điều khoản thi hành
Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.”.