|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1571/QĐ-UBND
|
Bắc Kạn, ngày 13
tháng 9 năm 2024
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA,
ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN ĐẾN NĂM 2030”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày
20 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Công đoàn ngày
20 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Quyết định số
416/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển
khai thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động
hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 2160/TTr-LĐTBXH ngày 09 tháng
9 năm 2024.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển
quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn đến năm 2030”.
Điều 2.
Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối
hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành
phố tổ chức triển khai thực hiện Đề án theo quy định.
Điều 3.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh; Giám đốc các sở, ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố
và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Phạm Duy Hưng
|
ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ
TRONG TÌNH HÌNH MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN ĐẾN NĂM 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1571/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2024 của
Ủy ban nhân dân tỉnh)
Phần I
THỰC TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ
ÁN
I. TÌNH
HÌNH CHUNG VỀ LAO ĐỘNG
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh,
đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, tỉnh Bắc Kạn có 148.755 người lao động đang tham
gia hoạt động kinh tế. Trong đó, số lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước
là 26.252 người, khu vực ngoài nhà nước là 121.793 người, khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài 710 người. Tỉnh Bắc Kạn hiện có 1.025 doanh nghiệp đang hoạt động với
tổng số lao động là 18.137 người; trong đó: phân theo ngành kinh tế: Nông nghiệp,
lâm nghiệp và thủy sản 160 doanh nghiệp, công nghiệp và xây dựng 408 doanh nghiệp,
dịch vụ 457 doanh nghiệp; phân theo loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư
nhân 221 doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 330 doanh
nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 192 doanh nghiệp,
công ty cổ phần 282 doanh nghiệp; số lao động được tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc là 23.403 người, chiếm 15,73% số người có quan hệ lao động; có 54 tổ chức
công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp với số lao động tham gia là 2.486/18.137 người
chiếm 13,70% số người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
II. THỰC
TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
1. Công
tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động
Số lượng biên chế hiện tại
trong các cơ quan quản lý nhà nước về lao động chưa đáp ứng được yêu cầu quản
lý nhà nước về quan hệ lao động. Cụ thể, theo quy định tại Thông tư số
10/2023/TT-BLĐTBXH ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội hướng dẫn về vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành lao động,
người có công và xã hội trong cơ quan, tổ chức thuộc ngành, lĩnh vực lao động,
người có công và xã hội, có vị trí việc làm “lao động tiền lương”, tuy nhiên hiện
nay các cán bộ, công chức phải thực hiện công tác kiêm nhiệm, chưa có cán bộ
chuyên trách về quan hệ lao động.
Hoạt động quản lý nhà nước về
quan hệ lao động chủ yếu thực hiện lồng ghép thông qua đối thoại, tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về lao động, các cuộc thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn doanh
nghiệp thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động, hoạt động hỗ trợ giải
quyết tranh chấp lao động và đình công.
Bộ luật Lao động có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định thêm trách nhiệm quản lý nhà nước trong việc
quản lý hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp; thành lập
hội đồng thương lượng tập thể. Do đó, yêu cầu về khối lượng, chất lượng công việc
của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, đặc biệt là cấp tỉnh tăng lên. Đòi hỏi
phải tăng cường đổi mới công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động mới đáp ứng
được nhu cầu thực tế.
2. Tổ chức
Công đoàn
Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo
của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, của Tỉnh ủy, các cấp Công đoàn trong tỉnh
đã từng bước phát huy được vai trò là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích chính
đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tổ chức các hoạt động gắn kết, tạo
không khí vui tươi cho người lao động (như: Tổ chức chương trình Tết sum vầy -
Kết nối yêu thương; thăm tặng quà người lao động có hoàn cảnh khó khăn nhân
Tháng công nhân, Tháng an toàn vệ sinh lao động...); tổ chức Hội nghị đối thoại
giữa lãnh đạo tỉnh và đoàn viên công đoàn; hướng dẫn, tư vấn nâng cao năng lực
cho cán bộ công đoàn cơ sở về thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, đối
thoại; tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến
người lao động; đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn theo hướng vì lợi ích
đoàn viên và người lao động; chú trọng tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện tốt
quy chế dân chủ ở cơ sở; tạo điều kiện để công nhân, lao động thực hiện được
quyền và nghĩa vụ của mình.
Tuy nhiên, đời sống văn hóa
tinh thần của người lao động tại nhiều cơ sở, doanh nghiệp còn hạn chế; môi trường
văn hóa ở nơi làm việc và nơi sinh sống của người lao động chưa được quan tâm
đúng mức; vẫn còn nhiều công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn cần được giúp
đỡ.
3. Tổ chức
đại diện người sử dụng lao động
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh
luôn tạo điều kiện trong việc thành lập và hoạt động của các tổ chức đại diện của
người sử dụng lao động. Một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động được
thành lập trên địa bàn tỉnh có hoạt động nổi bật như: Liên minh Hợp tác xã tỉnh,
Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh… Đây là các đơn vị đại diện
cho cộng đồng doanh nghiệp và giới sử dụng lao động đã triển khai và tổ chức được
nhiều hoạt động, chương trình hỗ trợ cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Các tổ chức được thành lập với
mục đích tập hợp, trao đổi liên kết, hợp tác, giúp đỡ giữa các doanh nghiệp, hợp
tác xã, chủ yếu trong việc xúc tiến thương mại, tìm kiếm nguồn hàng và cơ bản
đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, tuy nhiên còn hạn chế trong việc
tập trung hỗ trợ doanh nghiệp và lao động trong vấn đề phát triển quan hệ lao động.
4. Đối thoại,
thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể
4.1. Xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở
Những năm qua, các cấp công
đoàn đã chủ động phối hợp với người sử dụng lao động trong xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, thực tế một số lãnh đạo doanh nghiệp chưa
thực sự coi trọng công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức hội nghị
người lao động đôi khi còn mang tính hình thức, chất lượng chưa cao. Công tác
tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của các
cơ quan chức năng còn hạn chế, đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước, dẫn đến người
lao động và người sử dụng lao động chưa thực sự hiểu ý nghĩa, tầm quan trọng của
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
4.2. Đối thoại
Việc tổ chức đối thoại định kỳ
tại nơi làm việc được các cấp, các ngành và doanh nghiệp quan tâm triển khai thực
hiện; trong đó có vai trò của tổ chức công đoàn trong việc chủ động phối hợp tổ
chức đối thoại đạt hiệu quả. Hằng năm, có trên 80% doanh nghiệp có tổ chức công
đoàn tổ chức được hội nghị người lao động, hội nghị đối thoại. Việc tổ chức hội
nghị đối thoại chủ yếu ở các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có đông
lao động, còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (nhất là các doanh nghiệp dân
doanh) thường rất ít tổ chức đối thoại định kỳ.
4.3. Xây dựng và ban hành nội
quy lao động, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể
Đến thời điểm hiện tại, chỉ có
100/296 doanh nghiệp (có từ 10 lao động trở lên) ban hành nội quy lao động và
đăng ký với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, chiếm tỷ lệ 33,78%.
Qua kiểm tra, đa số thỏa ước
lao động tập thể được ký kết theo trình tự quy định của pháp luật, số lượng thỏa
ước lao động tập thể tăng dần qua các năm. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 50/54
doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở ký kết thỏa ước lao động tập thể. Tuy
nhiên, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể vẫn mang tính hình thức, còn tình
trạng doanh nghiệp chưa thực hiện đúng trình tự đối thoại, thương lượng và ký kết
thỏa ước lao động tập thể. Một số ít thỏa ước lao động tập thể có những quy định
có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn còn
nhiều thỏa ước lao động tập thể chủ yếu là sao chép lại các quy định của Bộ luật
Lao động nên chưa thực sự có ý nghĩa, tác dụng đối với người lao động.
5. Giải quyết
tranh chấp lao động và đình công
Trong thời gian qua, trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn không xảy ra cuộc đình công nào, các nội dung về đơn khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh về lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội gửi đến Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội; 100% đơn đã được giải quyết hoặc chuyển đến
cơ quan, đơn vị có thẩm quyền để giải quyết theo đúng quy định.
III. ĐÁNH
GIÁ CHUNG
1. Mặt được
- Nhận thức của các cấp, các
ngành, các cơ quan, đoàn thể và các doanh nghiệp trong tỉnh về quan hệ lao động
ngày càng được được nâng cao, nhất là đối với chủ sử dụng lao động trong việc
chấp hành pháp luật lao động, chú trọng thực hiện tốt các chế độ chính sách cho
người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
trong tình hình mới. Nhờ đó mà trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh không có
tình trạng đình công và tranh chấp lao động tập thể.
- Công đoàn các cấp đã có nhiều
hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đoàn viên, người lao động
trên địa bàn; góp phần tạo sự tin tưởng và thu hút người lao động tham gia hệ
thống công đoàn.
- Nhiều doanh nghiệp đã quan
tâm đến việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa thông qua việc thực hiện tốt
quy chế dân chủ ở cơ sở; hoạt động đối thoại của người lao động, người sử dụng
lao động dần được nâng lên cả về số lượng và chất lượng.
2. Hạn chế
- Vai trò của cơ quan quản lý
nhà nước trong việc phát triển quan hệ lao động mới chỉ tập trung vào chức năng
quản lý nhà nước, chưa chú trọng công tác hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
- Còn nhiều doanh nghiệp trốn
đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động;
tỷ lệ lao động được ký kết hợp đồng lao động còn thấp so với tổng số lao động
đang làm việc trong doanh nghiệp, tập trung chủ yếu là doanh nghiệp dân doanh;
nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật lao động
(đa số doanh nghiệp chưa thực hiện việc quan trắc môi trường lao động để xác định
các yếu tố có hại đến sức khỏe người lao động, chưa thực hiện việc bồi dưỡng bằng
hiện vật cho người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm; không
đăng ký khai báo thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao
động; công tác huấn luyện an toàn vệ sinh lao động tại hầu hết các doanh nghiệp
gặp khó khăn, nhiều doanh nghiệp chưa kịp thời huấn luyện an toàn vệ sinh lao động
cho người lao động...).
- Tỷ lệ doanh nghiệp có tổ chức
công đoàn và số đoàn viên tham gia chưa tương xứng so với tổng số doanh nghiệp
đã đi vào hoạt động và người lao động trên địa bàn tỉnh. Tổ chức công đoàn ở một
số nơi, nhất là công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp ngoài nhà nước chưa phát huy
được vai trò đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích người lao động
trong quan hệ lao động.
- Các tổ chức đại diện người sử
dụng lao động hoạt động chủ yếu về hỗ trợ xúc tiến thương mại cho những doanh
nghiệp, hợp tác xã là thành viên; những vấn đề về quan hệ lao động chưa được
quan tâm, chú trọng đúng mức.
- Hoạt động thương lượng và ký
kết thỏa ước lao động tập thể còn hạn chế. Thỏa ước lao động tập thể chưa thực
sự là kết quả của quá trình thương lượng mà thường chịu sự chi phối, tác động bởi
yêu cầu của người sử dụng lao động.
- Số doanh nghiệp ban hành và
đăng ký nội quy lao động với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội còn thấp; việc
thực hiện quy chế dân chủ tại doanh nghiệp còn mang tính hình thức.
- Lực lượng hòa giải viên lao động
tại một số địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
3. Nguyên nhân
Những tồn tại, hạn chế nêu trên
do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là nguyên nhân chủ quan:
- Bộ máy quản lý nhà nước còn hạn
chế: Thiếu về số lượng, thiếu cán bộ chuyên trách quan hệ lao động; cán bộ quản
lý nhà nước về lao động chưa được đào tạo bài bản về quan hệ lao động.
- Sự phối hợp giữa các ngành,
các cấp trong lĩnh vực quan hệ lao động chưa thật sự đồng bộ, chặt chẽ.
- Nhận thức của nhiều người sử
dụng lao động trong việc chấp hành pháp luật về lao động còn hạn chế.
- Đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
chủ yếu làm kiêm nhiệm, không ổn định, thường xuyên luân chuyển công tác nên hoạt
động công đoàn của công đoàn cơ sở còn gặp nhiều khó khăn. Hầu hết tiền lương
và thu nhập của cán bộ công đoàn cơ sở phụ thuộc vào người sử dụng lao động,
chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn khi tham gia đại diện, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động.
- Tổ chức công đoàn phát triển
chưa tương xứng với phát triển doanh nghiệp.
- Người sử dụng lao động chưa
quan tâm đúng mức đến việc nâng cao chế độ, quyền lợi, đời sống vật chất tinh
thần của người lao động dẫn đến quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và
người lao động ở một số doanh nghiệp chưa được hài hòa, tiến bộ.
IV. SỰ CẦN
THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
Hiện nay, tỉnh Bắc Kạn nói
riêng và Việt Nam nói chung đang thực hiện những bước chuyển đổi mạnh mẽ trong
quan hệ lao động để phù hợp với những nguyên lý cơ bản của quan hệ lao động
trong nền kinh tế thị trường, phù hợp với những nguyên tắc và quyền cơ bản
trong lao động, trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam có nghĩa vụ phải thực hiện.
Giai đoạn 2025 - 2030 là giai
đoạn quan trọng trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách mới về
quan hệ lao động. Sự phát triển quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ
trong giai đoạn này tác động sâu sắc đến quan hệ lao động, an ninh trật tự và
kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tiếp theo. Cụ thể:
- Các Hiệp định thương mại tự
do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đều có những điều khoản ràng buộc chặt
chẽ về quan hệ lao động kèm theo cơ chế thúc đẩy, giám sát thực thi[1].
- Những cam kết quốc tế về quan
hệ lao động phải được đảm bảo trong cả luật pháp và thực tiễn. Do vậy, từng địa
phương phải có trách nhiệm xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống quan hệ lao động
phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam.
- Quá trình triển khai thực hiện
Bộ luật Lao động năm 2019 với sự ra đời của các tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp đặt ra những yêu cầu mới về quản lý, hỗ trợ để các tổ chức này hoạt
động đúng pháp luật. Khi tổ chức được thành lập và hoạt động sẽ tiềm ẩn nhiều vấn
đề phức tạp, Nhà nước cần có biện pháp để chủ động hỗ trợ tổ chức này từ khi mới
thành lập và hoạt động.
- Việt Nam phê chuẩn Công ước số
98 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ
chức và thương lượng tập thể[2].
- Thực hiện Nghị quyết số
109/2023/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 41/TTg-QHĐP
ngày 10 tháng 01 năm 2024, trong đó giao chỉ tiêu “đến năm 2025, 100% các tỉnh,
thành phố xây dựng và triển khai Đề án phát triển quan hệ lao động trong tình
hình mới”.
- Thực hiện Quyết định số
28/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Kế
hoạch triển khai thực hiện Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến
năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Để có những giải pháp mang tính
đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng nhằm thúc đẩy phát
triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới; phát
huy đúng và đủ vai trò của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quản lý, hỗ trợ
quan hệ lao động, trung gian, hòa giải, trọng tài và xử lý các cuộc đình công,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động, đặc biệt với sự ra đời
và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp không thuộc hệ
thống của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thì việc tỉnh Bắc Kạn xây dựng và
ban hành Đề án “Phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong
tình hình mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2030” là cần thiết.
V. CĂN CỨ
PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03
tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới.
- Bộ luật Lao động số
45/2019/QH14 được Quốc hội khóa 14 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm
2019, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
- Luật Công đoàn số
12/2012/QH13 được Quốc hội khóa 8, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm
2012, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
- Nghị định số 145/NĐ-CP ngày
14 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
- Nghị quyết số 80/2019/QH14
ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập
thể. Công ước yêu cầu các quốc gia phải có hành động trong luật pháp và thực tiễn
để bảo vệ thích đáng các tổ chức của người lao động, tổ chức của người sử dụng
lao động khỏi các hành vi can thiệp, thao túng, phân biệt đối xử của bên kia;
khuyến khích và thúc đẩy thương lượng tập thể trong quan hệ lao động.
- Quyết định số 416/QĐ-TTg ngày
25 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực
hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường
sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong
tình hình mới.
Phần II
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
BẮC KẠN ĐẾN NĂM 2030
I. QUAN ĐIỂM,
MỤC TIÊU
1. Quan điểm
- Đảm bảo tính đồng bộ, thống
nhất trong chỉ đạo, thực hiện các giải pháp phát triển quan hệ lao động. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và hỗ trợ quan hệ lao động của cơ quan quản lý
nhà nước; phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn
định, tiến bộ.
- Phát triển quan hệ lao động đồng
thời phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tăng trưởng,
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phù hợp nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2030, xây dựng và vận
hành đồng bộ hệ thống quan hệ lao động của tỉnh phù hợp với cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích
chính đáng của các bên trong quan hệ lao động; củng cố và kiện toàn bộ máy,
biên chế, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về
quan hệ lao động đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra trong tình hình
mới, đặc biệt là việc thành lập và quản lý các tổ chức đại diện người lao động
và các vấn đề hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
b) Mục tiêu cụ thể
- Bảo đảm triển khai xây dựng,
củng cố và vận hành các thiết chế quan hệ lao động phù hợp với các quy định của
Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Công đoàn, các quy định của pháp luật liên quan
và các tiêu chuẩn, cam kết quốc tế gắn với quan hệ lao động.
- Phấn đấu hoàn thành các nhiệm
vụ đặt ra tại Chỉ thị số 37-CT/TW và Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số
37-CT/TW ban hành kèm theo Quyết định số 416/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2020 của
Thủ tướng Chính phủ.
- Hoàn thành việc phân công và
tổ chức thực hiện chức năng đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao
động, đảm bảo các cơ chế tiếp nhận, phân công và hỗ trợ giải quyết tranh chấp
lao động diễn ra hiệu quả.
- 100% cán bộ quản lý nhà nước
về quan hệ lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý và hỗ trợ
quan hệ lao động.
- 100% tổ chức của người lao động
tại doanh nghiệp (khi có yêu cầu) được hướng dẫn đăng ký thành lập; được hỗ trợ
đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể.
- Thường xuyên củng cố, kiện
toàn đội ngũ trọng tài viên lao động, hòa giải viên lao động; 100% trọng tài
viên lao động, hòa giải viên lao động được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về
quan hệ lao động và hòa giải tranh chấp lao động, đình công.
II. NHIỆM
VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
trong tình hình mới
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể
tỉnh, UBND các huyện, thành phố phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng và cấp ủy, tổ
chức Công đoàn cùng cấp tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đến toàn thể cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động nội dung Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng
9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ
lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.
- Nâng cao nhận thức về vị trí,
vai trò xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ gắn với ổn định
chính trị, xã hội, môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động trong
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Xác định rõ nhiệm vụ lãnh đạo,
chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ vừa cấp bách, vừa
lâu dài, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, người
lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội. Trên cơ sở đó có các biện pháp
lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển quan hệ lao động
trong thời gian tới, đồng thời đảm bảo bố trí nguồn nhân lực, kinh phí phù hợp
để triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra.
2. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động
- Tăng cường, củng cố,
kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về quan hệ lao
động ở cấp tỉnh, cấp huyện.
- Tăng cường vai trò hỗ
trợ phát triển quan hệ lao động của cơ quan nhà nước trong việc:
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch
và tổ chức triển khai có hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ
năng về quản lý, hỗ trợ quan hệ lao động cho cán bộ cơ quan quản lý nhà nước về
quan hệ lao động.
+ Tăng cường tuyên truyền, phổ
biến pháp luật lao động, Luật Công đoàn cho người lao động và người sử dụng lao
động, nhất là người lao động, người sử dụng lao động trong các khu công nghiệp,
cụm công nghiệp tạo điều kiện cho người lao động, người sử dụng lao động tiếp cận
thông tin chính thức, nâng cao ý thức giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đổi mới
nội dung, hình thức tuyên truyền, chú trọng thông tin trên mạng xã hội để tạo sự
chuyển biến thực sự trong việc chấp hành pháp luật của các bên trong quan hệ
lao động.
+ Tăng cường quản lý, hỗ trợ tổ
chức người lao động tại doanh nghiệp (sau khi có hướng dẫn cụ thể của Chính phủ
về thành lập tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở); kịp thời nắm bắt, cập
nhật tình hình hoạt động, bảo đảm các tổ chức này được thành lập và hoạt động
đúng chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích và tuân thủ pháp luật, giữ vững ổn
định chính trị xã hội.
+ Phát triển hệ thống thông tin
thị trường lao động để phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao
động và hỗ trợ các bên trong quá trình đối thoại, thương lượng tập thể.
- Tăng cường công tác phối
hợp, tham vấn ba bên trong việc hoạch định các chính sách, chia sẻ thông tin giữa
cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại diện
của người sử dụng lao động trong giải quyết những vấn đề liên quan đến lao động,
quan hệ lao động ở địa phương.
- Đẩy mạnh các hoạt động
thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, hướng dẫn và xử lý nghiêm các trường
hợp vi phạm nhằm thúc đẩy việc tuân thủ các quy định của pháp luật lao động
trong doanh nghiệp; đồng thời đổi mới nội dung và phương thức thanh tra, kiểm
tra để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, giảm thiểu các tranh chấp, tạo môi
trường thuận lợi cho xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
3. Nâng
cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động
- Đổi mới hoạt động và nâng cao
vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong công tác đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên công đoàn và người lao động.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động
và phát triển đoàn viên, chú trọng thành lập công đoàn cơ sở ngoài khu vực Nhà
nước, đa dạng hóa phương thức kết nạp người lao động, bảo đảm tính tự nguyện
khi gia nhập, hoạt động công đoàn; thu hút người lao động và tổ chức đại diện
người lao động tại doanh nghiệp tham gia vào hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam.
- Không ngừng nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở để Công đoàn thực sự là chỗ dựa vững chắc
của đoàn viên, người lao động trên cơ sở ưu tiên nguồn lực cho hoạt động thương
lượng tập thể, nhất là thương lượng về tiền lương, tiền thưởng, tăng cường thực
hiện đối thoại, tham vấn tại nơi làm việc, tích cực, chủ động sử dụng cơ chế
theo quy định để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
- Triển khai có hiệu quả các biện
pháp hỗ trợ, bảo vệ đoàn viên, cán bộ công đoàn và tổ chức Công đoàn cơ sở
trong doanh nghiệp trước sự phân biệt đối xử, can thiệp, thao túng từ phía người
sử dụng lao động nhằm làm suy yếu vai trò của tổ chức Công đoàn.
4. Thúc đẩy
các hoạt động đối thoại và thương lượng tập thể
- Hỗ trợ xây dựng và tăng cường
năng lực đối thoại, thương lượng cho các chủ thể quan hệ lao động, tập trung
nâng cao năng lực của các tổ chức đại diện người lao động trong đối thoại,
thương lượng tập thể. Đảm bảo các tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng
lao động có đủ năng lực để thực hiện đối thoại, thương lượng tập thể thực chất
theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Thúc đẩy các hoạt động đối
thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước tập thể cấp ngành và cấp nhóm doanh nghiệp
để hỗ trợ mở rộng phạm vi xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
ở cấp ngoài doanh nghiệp.
- Nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật của người lao động và người sử dụng lao động, bảo đảm các tranh chấp
phát sinh đều phải được giải quyết nhanh chóng, kịp thời theo đúng trình tự thủ
tục quy định của pháp luật, Nhà nước không can thiệp, làm thay vai trò của các
thiết chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định; giảm dần và tiến tới
xóa bỏ cơ chế giải quyết các cuộc đình công không theo trình tự thủ tục pháp luật
thông qua cơ chế can thiệp trực tiếp từ cơ quan hành chính nhà nước.
5. Nâng
cao năng lực và hiệu quả các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động
- Rà soát, kiện toàn, nâng cao
hiệu quả hoạt động của các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, bảo đảm
các tranh chấp lao động phát sinh được giải quyết đúng trình tự thủ tục, trong
đó tập trung vào các nhiệm vụ sau:
+ Rà soát chỉ đạo đối với các
doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên xây dựng nội quy lao động và đăng ký với
cơ quan lao động địa phương.
+ Thường xuyên rà soát, kiện
toàn đội ngũ hòa giải viên, trọng tài viên lao động đảm bảo số lượng và chất lượng
tham gia vào giải quyết các tranh chấp lao động, đồng thời hỗ trợ phát triển
quan hệ lao động đáp ứng yêu cầu thực tế.
+ Thiết lập đầu mối tiếp nhận
yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động của tỉnh và phân công nhiệm vụ giải quyết
tranh chấp lao động giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội với Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội cấp huyện bảo đảm sự kết nối, vận hành giữa đầu mối tiếp
nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động với các thiết chế hòa giải, trọng
tài lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp theo nguyên
tắc của quan hệ lao động, giảm thiểu các biện pháp can thiệp hành chính.
+ Từng bước nâng cao hiệu quả
hoạt động của thiết chế hòa giải viên lao động thông qua việc hỗ trợ, thúc đẩy
hòa giải viên lao động tham gia giải quyết các vụ việc tranh chấp lao động tập
thể, hỗ trợ giải quyết đình công không đúng trình tự thủ tục.
+ Từng bước đưa thiết chế Hội đồng
trọng tài lao động vận hành trong thực tiễn thông qua việc hướng dẫn, hỗ trợ trọng
tài viên lao động tham gia các hoạt động hỗ trợ phát triển quan hệ lao động
trên địa bàn tỉnh.
- Chủ động triển khai các biện
pháp bảo đảm an ninh, an toàn tại các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình
công (nếu có), không để đối tượng xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, gây rối an
ninh trật tự; xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng tranh chấp lao động, đình
công để vi phạm pháp luật.
6. Triển
khai thực hiện các chính sách phúc lợi cho người lao động
Tiếp tục triển khai thực hiện
có hiệu quả các chính sách về đầu tư phát triển nhà ở, xây dựng các công trình
phúc lợi xã hội (trường học, nhà trẻ, các thiết chế văn hóa), các thiết chế
công đoàn, các biện pháp cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
người lao động… để hỗ trợ tích cực cho việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn
định và tiến bộ.
Phần III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. KINH PHÍ
THỰC HIỆN
1. Kinh phí thực hiện các nhiệm
vụ của Đề án từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn huy động hợp pháp khác.
2. Đối với kinh phí từ nguồn
ngân sách nhà nước
- Ngân sách tỉnh đảm bảo kinh
phí thực hiện các hoạt động của Đề án do các sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh
được phân công thực hiện. Hằng năm, các cơ quan, đơn vị căn cứ nhiệm vụ được
giao, xây dựng dự toán kinh phí gửi Sở Tài chính để thẩm định, tổng hợp báo cáo
UBND tỉnh phê duyệt, trong đó ưu tiên lồng ghép với các nhiệm vụ thường xuyên
khác để thực hiện.
- Ngân sách huyện, thành phố đảm
bảo kinh phí để thực hiện các hoạt động của Đề án thuộc cấp huyện, thành phố
theo phân cấp ngân sách hiện hành. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội lập dự
toán kinh phí đảm bảo cho các hoạt động của Đề án trên địa bàn hằng năm gửi
Phòng Tài chính thẩm định, trình UBND huyện phê duyệt để tổ chức thực hiện.
II. PHÂN
CÔNG NHIỆM VỤ
1. Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội
- Là cơ quan thường trực, chủ
trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và các đơn vị liên quan,
các địa phương, doanh nghiệp triển khai thực hiện các nội dung của Đề án; định
kỳ hằng năm tổng hợp kết quả thực hiện Đề án, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội theo quy định.
- Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, đoàn thể tỉnh có liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn,
triển khai kịp thời các quy định của pháp luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội,
Luật An toàn vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành; kỹ năng đối
thoại, thương lượng tập thể cho người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức
đại diện người lao động tại doanh nghiệp.
- Tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội trong đó tập
trung vào những nội dung vi phạm thường xảy ra tranh chấp, xử lý nghiêm các
hành vi vi phạm liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; thường
xuyên theo dõi và kịp thời giải quyết các vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong
quan hệ lao động.
- Tham mưu cho UBND tỉnh kịp thời
kiện toàn, bổ nhiệm hòa giải viên lao động; bổ nhiệm trọng tài lao động khi có
thành viên hội đồng trọng tài lao động hoặc hòa giải viên lao động nghỉ chế độ
hoặc chuyển công tác. Tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
cho 100% lực lượng hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động; cán bộ quản
lý nhà nước về quan hệ lao động.
- Phối hợp với các sở, ban,
ngành, đoàn thể tỉnh, các địa phương tổ chức hội nghị đối thoại pháp luật với
doanh nghiệp, người lao động nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong
quá trình thực thi pháp luật lao động.
- Hướng dẫn, đôn đốc các doanh
nghiệp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật lao động. Nâng
cao năng lực hoạt động của thanh tra chuyên ngành lao động đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành
pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sử dụng nhiều
lao động.
- Phát triển và hoàn thiện hệ
thống thông tin thị trường lao động để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về
quan hệ lao động và hỗ trợ các bên trong quá trình đối thoại, thương lượng tập
thể.
- Tham mưu cho UBND tỉnh giải
quyết tranh chấp lao động và đình công trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp
luật.
2. Sở Tài chính
- Trên cơ sở đề xuất kinh phí
thực hiện Đề án của các cơ quan, đơn vị, tổng hợp, thẩm định và căn cứ khả năng
ngân sách địa phương, tham mưu cho UBND tỉnh bố trí kinh phí theo phân cấp ngân
sách và các quy định hiện hành.
- Phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội hướng dẫn thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng
kinh phí thực hiện Đề án theo quy định hiện hành của Nhà nước.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Thu hút các doanh nghiệp
trong và ngoài nước đầu tư phát triển các dự án trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện
thuận lợi để nhà đầu tư hoàn tất các thủ tục đầu tư dự án tại tỉnh Bắc Kạn.
- Tổ chức đối thoại giữa chính
quyền với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm giải quyết kịp thời những khó
khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
- Cung cấp thông tin về số lượng
lao động đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới cho Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội để phối hợp trong công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề.
4. Sở Nội vụ
Phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan rà soát, điều chỉnh vị trí việc
làm, bổ sung chức năng, nhiệm vụ hoạt động quản lý nhà nước về quan hệ lao động,
sau khi có hướng dẫn của bộ, ngành Trung ương, đảm bảo thực hiện có hiệu quả quản
lý nhà nước về quan hệ lao động.
5. Sở Thông tin và Truyền
thông
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ
quan báo chí trên địa bàn tỉnh và hệ thống thông tin cơ sở tăng cường thông
tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về lao động và quan hệ lao động.
- Phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc kết nối dữ liệu về người lao động, thông
tin thị trường lao động với Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm y tế, Trung tâm Phục vụ
hành chính công tỉnh và các doanh nghiệp sau khi có hướng dẫn của các bộ, ngành
Trung ương.
6. Sở Xây dựng
Phối hợp với các cơ quan có
liên quan kêu gọi nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng dự án nhà ở xã hội theo kế
hoạch phát triển nhà ở xã hội, kế hoạch phát triển nhà ở đã được UBND tỉnh phê
duyệt để giải quyết nhu cầu nhà ở cho người lao động tại các khu kinh tế, khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm thu hút và giữ chân người lao động ở lại làm
việc.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch
Phối hợp với Liên đoàn Lao động
tỉnh tham mưu, đề xuất các nội dung liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa,
nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục, thể thao trong công nhân lao động.
8. Công an tỉnh
- Triển khai các phương án, kế
hoạch bảo đảm an ninh trật tự tại Khu công nghiệp Thanh Bình, các cụm công nghiệp,
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động; chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện,
trao đổi thông tin với cơ quan liên quan, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các đối
tượng có hành vi lợi dụng, lôi kéo, kích động người lao động đình công trái
pháp luật, gây rối an ninh trật tự.
- Phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan triển khai các giải pháp bảo đảm
việc thành lập, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động theo đúng quy định
của pháp luật.
9. Ban Quản lý các Khu công
nghiệp tỉnh
- Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, đoàn thể, các đơn vị, địa phương có liên quan trong việc thực hiện
các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án thuộc địa bàn quản lý.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến
chính sách pháp luật lao động, trong đó tập trung vào những nội dung liên quan
trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động và
người lao động. Chủ động nắm tình hình và kịp thời giải quyết các vướng mắc,
mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động, không để tranh chấp lao động kéo
dài dẫn đến đình công.
- Thường xuyên kiểm tra, giám
sát việc chấp hành pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với
người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng
lao động; phối hợp với Liên đoàn Lao động trong việc thành lập công đoàn cơ sở
tại các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp sử dụng nhiều lao động, không để hình thành tổ chức đại diện người lao động
không đúng quy định trong các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp.
- Phối hợp với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội và các sở, ngành, đoàn thể, các đơn vị, địa phương liên
quan để giải quyết đình công xảy ra tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp.
10. Các sở, ban, ngành, đoàn
thể tỉnh có liên quan
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ
được giao, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án
nhằm phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên địa bàn tỉnh.
11. Bảo hiểm Xã hội tỉnh
- Thực hiện các giải pháp hạn
chế và xử lý tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh; báo cáo UBND tỉnh thực hiện biện pháp
cần thiết để xử lý vấn đề trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của người lao động.
- Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, đoàn thể, các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, đối thoại,
phổ biến các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
nhất là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người tham gia, đảm bảo cho người
lao động tiếp cận được đầy đủ thông tin của các chính sách này.
12. Đề nghị Liên đoàn Lao động
tỉnh
- Chỉ đạo Công đoàn cấp trên trực
tiếp cơ sở xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các giải pháp nhằm đạt chỉ
tiêu thành lập mới công đoàn cơ sở, kết nạp mới đoàn viên công đoàn. Trong đó cần
chủ động thu hút người lao động và tổ chức đại diện người lao động tại doanh
nghiệp khi được pháp luật cho phép thành lập tham gia vào hệ thống Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam ngay từ khi mới đăng ký thành lập.
- Phối hợp chặt chẽ với các sở,
ban, ngành, đơn vị liên quan và các doanh nghiệp triển khai thực hiện các nhiệm
vụ, giải pháp của Đề án. Chủ trì, phối hợp triển khai thực hiện các giải pháp:
Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động; thúc
đẩy các hoạt động đối thoại và thương lượng tập thể trong doanh nghiệp, nhóm
doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hoạt động chăm lo đời sống vật
chất và tinh thần, các dịch vụ thiết yếu cho người lao động.
- Tuyên truyền, hướng dẫn các cấp
công đoàn phối hợp, tham gia với người sử dụng lao động, thủ trưởng cơ quan,
đơn vị xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng, tập
huấn nhằm nâng cao kỹ năng thương lượng, đối thoại cho cán bộ công đoàn cơ sở,
góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
- Tăng cường giám sát việc thực
hiện pháp luật lao động, Luật Công đoàn tại các đơn vị, doanh nghiệp.
13. Đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức đoàn thể
- Tăng cường tuyên truyền, phổ
biến thực hiện chính sách, pháp luật về lao động và quan hệ lao động; phối hợp
quản lý và hỗ trợ thành viên, đoàn viên, hội viên khi tham gia thị trường lao động
và quan hệ lao động.
- Tham gia giám sát, đánh giá,
đề xuất các giải pháp hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
14. Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh,
Liên minh Hợp tác xã tỉnh
Phối hợp với các sở, ban,
ngành, đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thành phố thực hiện các nhiệm vụ, giải
pháp của Đề án. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ đối với doanh
nghiệp, đơn vị thành viên trong việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động,
tham gia hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể để thúc đẩy quan hệ lao động
hài hòa, ổn định và tiến bộ.
15. UBND các huyện, thành phố
- Chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối
hợp triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án; bố trí đầy đủ các
nguồn lực theo quy định để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Đề
án tại địa phương.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến
chính sách pháp luật lao động, trong đó tập trung vào những nội dung liên quan
trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động và
người lao động. Chủ động nắm tình hình và kịp thời giải quyết các vướng mắc,
mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động, không để tranh chấp lao động kéo
dài dài dẫn đến đình công.
- Chủ động phối hợp với Sở Lao
động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an và Liên đoàn Lao động cùng cấp giải
quyết đình công xảy ra trên địa bàn.
16. Các đơn vị, doanh nghiệp
và người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh
- Thực hiện nghiêm các quy định
của Bộ luật Lao động, Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Bảo hiểm
xã hội, các Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan đến quan hệ lao động. Phổ biến
đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động, việc làm, an toàn vệ sinh lao động
đến toàn thể người lao động của đơn vị, doanh nghiệp để tổ chức triển khai thực
hiện.
- Xây dựng và ban hành nội quy
lao động, quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc để thực hiện các quy định về
đối thoại tại nơi làm việc, thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy
định tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ; phổ biến công khai quy chế
dân chủ tới người lao động để giám sát việc triển khai, tổ chức thực hiện.
- Tạo mọi điều kiện và phối hợp
với tổ chức công đoàn nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để thành lập tổ chức
công đoàn cơ sở, nhằm tạo điều kiện để người lao động có thể tham gia đối thoại
với người sử dụng lao động theo quy định.
17. Chế độ thông tin, báo
cáo và đánh giá sơ kết, tổng kết
Các cơ quan, đơn vị, UBND các
huyện, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tổ chức triển khai thực
hiện Đề án này và định kỳ trước ngày 25/11 hằng năm gửi báo cáo về Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội theo quy định. Đề án được tổ chức đánh giá sơ kết vào năm 2027
và tổng kết vào năm 2030.
Trên đây là Đề án “Phát triển
quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn đến năm 2030”. Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có vướng mắc,
khó khăn, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội để hướng dẫn thực hiện hoặc tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ
đạo./.
[1] Kế
hoạch số 306/KH-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về triển
khai thực hiện cam kết của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam
tham gia đã có hiệu lực; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới.
[2] Quyết
định số 637/QĐ-TTg ngày 7 tháng 5 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước số 98 của Tổ chức lao động quốc tế ILO về áp
dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể.