|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 42/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2026
|
LUẬT
DỮ LIỆU
Luật Dữ liệu số
60/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Dữ liệu.[1]
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về dữ liệu
số; xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử
lý, sử dụng dữ liệu số; Trung tâm dữ liệu quốc gia; Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc
gia; sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu số; quản lý nhà nước về dữ liệu số; quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt
động về dữ liệu số.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam.
2. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực
tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động dữ liệu số tại Việt Nam.
Điều
3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
1. Dữ liệu số là dữ
liệu về sự vật, hiện tượng, sự kiện, bao gồm một hoặc kết hợp các dạng âm
thanh, hình ảnh, chữ số, chữ viết, ký hiệu được thể hiện dưới dạng kỹ thuật số
(sau đây gọi là dữ liệu).
2. Dữ liệu dùng chung là dữ
liệu được tiếp cận, chia sẻ, khai thác, sử dụng chung trong các cơ quan Đảng,
Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
3. Dữ liệu dùng riêng là dữ
liệu được tiếp cận, chia sẻ, khai thác, sử dụng trong phạm vi nội bộ của cơ
quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội.
4. Dữ liệu mở là dữ liệu mà
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu đều được tiếp cận, chia sẻ, khai thác,
sử dụng.
5. Dữ
liệu gốc là dữ liệu được tạo lập trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân hoặc thu thập, tạo lập từ số hóa bản chính giấy tờ, tài liệu, các
dạng vật chất khác.
6. Dữ
liệu quan trọng là dữ liệu có thể tác động đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại,
kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, sức khỏe và an toàn cộng đồng thuộc danh mục do
Thủ tướng Chính phủ ban hành.
7. Dữ liệu cốt lõi là dữ liệu
quan trọng trực tiếp tác động đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế vĩ
mô, ổn định xã hội, sức khỏe và an toàn cộng đồng thuộc danh mục do Thủ tướng
Chính phủ ban hành.
8. Xử lý dữ liệu là quá trình
tiếp nhận, chuyển đổi, tổ chức dữ liệu và các hoạt động khác về dữ liệu để phục
vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
9. Cơ sở dữ liệu là tập hợp
các dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, chia sẻ, quản lý và cập
nhật.
10. Cơ
sở dữ liệu tổng hợp quốc gia là cơ sở dữ liệu được tổng hợp từ cơ sở dữ liệu
quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác.
11. Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu là hạ tầng kết nối, tích hợp, chia sẻ và điều phối dữ liệu
giữa Trung tâm dữ liệu quốc gia với các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
12. Chủ
thể dữ liệu là cơ quan, tổ chức, cá nhân được dữ liệu phản
ánh.
13. Chủ
quản dữ liệu là cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động
xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác dữ liệu theo yêu cầu của chủ sở hữu dữ
liệu.
14. Chủ
sở hữu dữ liệu là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng và trao đổi giá trị của dữ liệu do mình
sở hữu.
15.
Quyền của chủ sở hữu dữ liệu đối với dữ liệu là quyền tài sản theo quy định
của pháp luật về dân sự.
16. Mã
hóa dữ liệu là việc áp dụng các phương pháp, thuật toán mã hóa hoặc giải pháp kỹ
thuật để chuyển đổi dữ liệu từ định dạng nhận biết được sang định dạng không nhận biết được.
17. Giải mã dữ liệu là việc áp dụng các phương pháp, thuật toán mã hóa hoặc giải
pháp kỹ thuật để chuyển đổi dữ liệu được mã hóa từ định dạng không nhận biết được
sang định dạng nhận biết được.
18. Điều phối dữ liệu là
hoạt động tổ chức điều động và phân phối dữ liệu, quản lý, giám sát, tối ưu hóa
luồng dữ liệu chia sẻ giữa các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu.
Điều 4. Áp dụng Luật Dữ liệu
1. Trường
hợp luật khác ban hành trước ngày Luật Dữ liệu có hiệu lực thi hành có quy định
về hoạt động xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu; sản
phẩm, dịch vụ về dữ liệu; quản lý nhà nước về dữ liệu, trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động về dữ liệu mà không trái với nguyên
tắc của Luật này thì thực hiện theo quy định của luật đó.
2. Trường hợp
luật khác ban hành sau ngày Luật Dữ liệu có hiệu lực thi hành có quy định khác
với quy định của Luật Dữ liệu thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc
không thực hiện theo quy định của Luật Dữ liệu và nội dung thực hiện theo quy định
của luật khác đó.
Điều 5. Nguyên tắc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử
dụng dữ liệu
1. Tuân thủ quy định của Hiến
pháp, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; bảo đảm
quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
2. Bảo đảm
công khai, minh bạch, bình đẳng trong tiếp cận, khai thác và sử dụng dữ liệu
theo quy định của pháp luật.
3. Thu thập,
cập nhật, điều chỉnh dữ liệu chính xác, có tính kế thừa; bảo đảm tính toàn vẹn,
tin cậy, an ninh, an toàn.
4. Bảo vệ
dữ liệu được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ với xây dựng, phát triển dữ liệu.
5. Lưu trữ,
kết nối, điều phối, chia sẻ, khai thác, sử dụng dữ liệu bảo đảm hiệu quả, đơn
giản, thuận tiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện dịch vụ công, thủ
tục hành chính và các hoạt động khác.
Điều 6. Chính sách của Nhà nước về dữ liệu
1. Dữ liệu là tài nguyên, Nhà nước có chính sách huy động mọi
nguồn lực để làm giàu dữ liệu, phát triển dữ liệu trở thành tài sản.
2. Ưu tiên xây dựng, phát triển dữ liệu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội phục vụ chuyển đổi số quốc
gia và phát triển kinh tế số gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ
yếu.
3. Đầu tư xây dựng và phát triển Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia,
Trung tâm dữ liệu quốc gia đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số,
xã hội số.
4. Tập
trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực,
trình độ của người làm công
tác về dữ liệu; có cơ chế thu hút nhân lực có trình độ cao để xây dựng và phát
triển dữ liệu quốc gia.
5. Khuyến
khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu
tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, ứng
dụng trong lĩnh vực dữ liệu; xây dựng trung tâm lưu trữ, xử lý dữ liệu tại Việt
Nam; phát triển thị trường dữ liệu.
6. Hoạt động
của cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác do
cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội quản lý được bảo đảm từ nguồn lực của Nhà nước và các nguồn hợp
pháp khác. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tài
trợ, hỗ trợ để xây dựng, quản trị, vận hành cơ sở dữ liệu.
Điều
7. Hợp tác quốc tế về dữ liệu
1. Tuân thủ pháp luật Việt
Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
và thỏa thuận quốc tế về dữ liệu trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi,
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
2. Nội dung hợp tác quốc tế
về dữ liệu bao gồm: đào tạo nguồn nhân lực; nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa
học và công nghệ trong xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ
liệu; chuyển giao công nghệ tiên tiến, đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu;
tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về dữ liệu và các hoạt động
khác về trao đổi dữ liệu xuyên biên giới.
3. Việc giải quyết các yêu
cầu cung cấp dữ liệu của cơ quan thực thi pháp luật hoặc tư pháp nước ngoài đối
với dữ liệu của tổ chức, cá nhân Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
xem xét, quyết định.
Điều 8. Quản lý nhà nước về dữ liệu
1. Nội
dung quản lý nhà nước về dữ liệu bao gồm:
a) Xây dựng,
ban hành, tổ chức thực hiện Chiến lược dữ liệu quốc gia; văn bản quy phạm pháp
luật về dữ liệu; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật,
chất lượng dữ liệu;
b) Tuyên
truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dữ liệu; hướng dẫn cơ quan quản lý cơ
sở dữ liệu, hệ thống thông tin trong xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử
lý, sử dụng dữ liệu;
c) Quản
lý, giám sát các hoạt động xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng
dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu;
d) Báo
cáo, thống kê về dữ liệu; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về dữ liệu;
sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; quản lý, giám sát, phát triển thị trường dữ liệu;
đ) Thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dữ liệu;
e) Đào tạo,
bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế về dữ liệu.
2. Trách
nhiệm quản lý nhà nước về dữ liệu được quy định như sau:
a) Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về dữ liệu;
b) Bộ
Công an là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về dữ liệu, trừ quy định tại điểm c khoản này;
c) Bộ Quốc
phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dữ liệu
thuộc phạm vi quản lý.
Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dữ
liệu cơ yếu thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật về cơ yếu;
d) Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình xây dựng, phát triển cơ sở dữ liệu; phối hợp với Bộ Công an thực
hiện quản lý nhà nước về dữ liệu;
đ) Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh xây dựng, phát triển cơ sở dữ liệu; thực hiện quản lý nhà nước
về dữ liệu tại địa phương.
Điều 9. Xây dựng, phát triển dữ liệu trong các cơ quan Đảng, Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
1. Việc
xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu trong các cơ
quan Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
2. Tỉnh ủy,
thành ủy trực thuộc trung ương thực hiện xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị,
xử lý, sử dụng dữ liệu theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều
10. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Lợi dụng việc xử lý dữ
liệu, quản trị dữ liệu, phát triển, kinh doanh, lưu hành sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu
để xâm phạm đến
lợi ích quốc gia, dân tộc, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Cản trở hoặc ngăn chặn trái
pháp luật quá trình xử lý dữ liệu, quản trị dữ liệu hoặc tấn công, chiếm đoạt, phá
hoại cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ quản
lý, xử lý, quản
trị, bảo vệ dữ liệu.
3. Giả mạo, cố ý làm sai lệch, làm mất, làm hư hỏng
dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
4. Cố ý cung cấp dữ liệu sai lệch hoặc không cung cấp
dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Chương II
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, BẢO
VỆ, QUẢN TRỊ, XỬ LÝ, SỬ SỤNG DỮ LIỆU; QUỸ PHÁT TRIỂN DỮ LIỆU QUỐC GIA
Điều
11. Thu thập, tạo lập dữ liệu
1. Dữ liệu được thu thập, tạo lập từ các nguồn bao
gồm: trực tiếp tạo lập; số hóa giấy tờ, tài liệu và các dạng vật chất khác.
Dữ liệu gốc được tạo lập
có giá trị sử dụng như bản chính giấy tờ, tài liệu, các dạng vật chất khác được
số hóa.
2. Việc thu thập, tạo lập dữ liệu
đối với cơ quan
Đảng, Nhà nước,
Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được quy định như sau:
a) Thu thập, tạo lập dữ liệu để
xây dựng cơ sở
dữ liệu theo quy định của pháp luật hoặc quyết định
của cấp có thẩm quyền và sử dụng thống nhất bảng
mã danh mục dùng chung, thống nhất với dữ liệu chủ trong cơ sở dữ liệu quốc gia;
b) Dữ liệu
có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại;
c) Dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu, thực
hiện thủ tục hành chính, giải quyết dịch vụ công phải được tạo lập, số
hóa theo quy định của pháp luật;
d) Thu thập từ kết quả giải quyết thủ tục hành chính; thu thập từ số hóa giấy tờ, tài liệu và các dạng vật chất khác; thu thập qua phương thức điện tử; thu thập trực tiếp từ tổ
chức, cá nhân;
đ) Việc thực hiện chuyển đổi
giấy tờ, tài liệu số hoá thành dữ diệu phải
tuân thủ theo quy định của pháp luật về lưu trữ; chỉ được thu thập dữ liệu từ giấy tờ, tài liệu là bản gốc,
bản chính hoặc bản sao hợp pháp trong trường hợp
không còn bản gốc, bản chính; dữ liệu được thu
thập, tạo lập phải bảo đảm việc xác thực, truy nguyên được đến bản số hóa giấy tờ, tài liệu.
3. Quyền và trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân đối với hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu được
quy định như sau:
a) Được thu thập, tạo lập
dữ liệu để phục vụ cho hoạt động của mình phù hợp với quy định của pháp luật;
b) Được bảo vệ các quyền đối
với chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về
dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Chịu trách nhiệm đối với dữ liệu do mình thu thập, tạo lập theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành quyết định lộ trình tạo lập, số hóa dữ liệu phục vụ hoạt động chuyển đổi
số theo Chiến lược dữ liệu quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
5. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên
quan tổng hợp và công bố danh sách các cơ quan cung cấp dữ liệu, danh mục dữ liệu
được cung cấp, bảng mã danh mục dùng chung để cơ quan, tổ chức, cá nhân tra cứu,
khai thác.
Điều
12. Bảo đảm chất lượng dữ liệu
1. Bảo đảm chất lượng dữ
liệu là bảo đảm tính chính xác, hợp lệ, toàn vẹn, đầy đủ, cập nhật kịp thời, thống
nhất của dữ liệu.
2. Cơ quan nhà nước quản lý cơ sở dữ liệu có trách
nhiệm sau đây:
a) Hướng dẫn, triển khai, áp dụng
đồng bộ tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo đảm
chất lượng dữ liệu, quy trình bảo đảm chất lượng
dữ liệu để áp dụng đối với cơ sở dữ liệu do cơ quan quản lý;
b) Thường xuyên kiểm tra,
giám sát, khắc phục sai sót; thực hiện đồng bộ dữ liệu trong phạm vi cơ quan và
phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thường xuyên cập nhật, điều
chỉnh, bảo đảm chất lượng dữ liệu trong khai thác, sử dụng.
Điều
13. Phân loại dữ liệu
1. Cơ
quan nhà nước phải phân loại dữ liệu dựa trên yêu cầu quản trị, xử lý, bảo vệ dữ
liệu, bao gồm:
a) Phân
loại theo tính chất chia sẻ dữ liệu gồm: dữ liệu dùng chung, dữ liệu dùng
riêng, dữ liệu mở;
b) Phân
loại theo tính chất quan trọng của dữ liệu gồm: dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan
trọng, dữ liệu khác;
c) Phân
loại theo tiêu chí khác đáp ứng yêu cầu quản trị, xử lý, bảo vệ dữ liệu do chủ
quản dữ liệu quyết định.
2. Chủ sở
hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này phải
phân loại dữ liệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và được phân loại dữ
liệu theo các tiêu chí khác.
3. Chính phủ quy định tiêu chí xác định dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng.
Điều 14. Hoạt động lưu trữ dữ liệu
1. Cơ quan nhà nước chịu
trách nhiệm tổ chức lưu trữ dữ liệu bảo đảm an toàn.
2. Tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này là chủ sở hữu dữ
liệu được quyền
quyết định việc lưu trữ dữ liệu do mình thu thập, tạo lập, sở hữu; trường hợp lưu trữ dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng phải
bảo đảm tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật này.
3. Cơ sở dữ liệu quốc gia
phải được lưu
trữ dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia.
4. Cơ sở dữ liệu chuyên
ngành và cơ sở dữ liệu khác của cơ quan nhà nước được lưu trữ dữ liệu trên hạ tầng
của Trung tâm dữ liệu quốc gia hoặc hạ tầng của cơ quan, tổ chức khác đáp ứng
tiêu chuẩn về trung tâm dữ liệu. Đối với dữ liệu dùng riêng và dữ liệu thuộc
lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu thực hiện lưu trữ dữ liệu trên
cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia khi được sự đồng ý của chủ sở hữu
dữ liệu.
Tổ chức, cá nhân không thuộc
quy định tại khoản 1 Điều này là chủ sở hữu dữ liệu được quyền thỏa thuận lưu
trữ dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia bằng hợp đồng
cung cấp dịch vụ giữa tổ chức, cá nhân đó với tổ chức cung cấp dịch vụ khai
thác dữ liệu, cơ sở hạ tầng tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.
5. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
15. Quản trị, quản lý dữ liệu
1. Quản trị dữ liệu bao gồm: xây dựng chính sách, kế hoạch, chương trình, quy
trình, tiêu chuẩn về dữ liệu của chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu để quản lý dữ liệu
một cách liên tục, hiệu quả, bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, toàn vẹn, nhất
quán, thống nhất, được chuẩn hóa, an toàn, bảo mật, kịp thời của dữ liệu.
2. Quản
lý dữ liệu là việc tổ chức thực hiện quản trị dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều
này.
3. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ
quản dữ liệu là cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Trung tâm dữ liệu
quốc gia thực hiện quản trị, quản lý dữ liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này.
4. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ
quản dữ liệu là tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 3 Điều này căn
cứ vào điều kiện thực tế thực hiện quản trị, quản lý dữ liệu do mình thu thập,
tạo lập, sở hữu.
5. Chính phủ quy định chi
tiết khoản 3 Điều này.
Điều 16. Truy cập, truy
xuất dữ liệu
1. Việc truy cập, truy xuất dữ liệu phải tuân thủ quy
định, quy trình kỹ thuật về truy cập, truy xuất dữ liệu; bảo đảm an ninh, an
toàn và đúng mục đích.
2. Cơ quan nhà nước phải cung cấp
công cụ và phân quyền truy cập, truy xuất dữ liệu
để bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ dữ liệu. Khuyến
khích chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu khác thực hiện cung cấp công cụ truy
cập, truy xuất dữ liệu.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
17. Kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu
1. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu kết nối, chia sẻ dữ liệu cho người dùng dữ liệu theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận, bằng
cách trực tiếp hoặc thông qua một bên trung gian.
2. Cơ quan nhà nước thực
hiện điều phối dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm dữ liệu chia sẻ an toàn,
đồng bộ, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an
ninh, đối ngoại; sẵn sàng để kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép khai thác dữ liệu theo quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chia sẻ dữ liệu dùng
riêng do các Bộ,
cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trong trường hợp đột xuất, cấp bách trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ hoặc trường hợp cần thiết khác để giải quyết
những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
4. Chính phủ quy định việc hỗ trợ chủ sở hữu dữ liệu
không thuộc quy định tại khoản 2 Điều này khi thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu
cho cơ quan nhà nước theo quy định của Luật này.
Điều
18. Cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước
1. Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và
ngoài nước cung cấp dữ liệu thuộc quyền sở hữu cho cơ quan nhà nước.
2. Tổ chức, cá nhân phải cung cấp
dữ liệu cho cơ quan nhà nước khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý trong
các trường hợp sau đây:
a) Ứng
phó với tình trạng khẩn cấp;
b) Khi có
nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp;
c) Thảm họa;
d) Phòng,
chống bạo loạn, khủng bố.
3. Cơ quan nhà nước nhận được dữ liệu có trách
nhiệm sau đây:
a) Sử dụng dữ liệu đúng mục
đích;
b) Bảo đảm an ninh, an toàn dữ
liệu, bảo vệ dữ liệu, lợi ích hợp pháp khác của chủ thể dữ liệu, tổ chức, cá
nhân cung cấp dữ liệu theo quy định của pháp luật;
c) Hủy dữ liệu ngay khi dữ
liệu đó không còn cần thiết cho mục đích đã yêu cầu và thông báo cho chủ thể dữ
liệu, tổ chức, cá nhân đã cung cấp dữ liệu;
d) Thông báo việc lưu trữ,
sử dụng dữ liệu khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân cung cấp dữ liệu, trừ trường
hợp bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
19. Phân tích, tổng hợp dữ liệu
1. Cơ quan nhà nước phải phân tích, tổng hợp dữ liệu từ nguồn dữ liệu tự tạo lập hoặc được chia sẻ, cung cấp,
khai thác, sử dụng để phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội.
2. Tổ chức, cá nhân không thuộc quy
định tại khoản 1
Điều này được phân tích, tổng hợp dữ liệu từ nguồn dữ liệu được phép truy cập,
sử dụng.
3. Khuyến khích chủ sở hữu
dữ liệu, chủ quản dữ liệu phát triển các tiện ích, công cụ, ứng dụng phân tích,
tổng hợp dữ liệu cung cấp cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác để phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội và các hoạt động khác.
Điều
20. Xác nhận, xác thực dữ liệu
1. Xác nhận dữ liệu được
thực hiện bởi chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ
xác thực điện tử.
Dữ liệu được xác nhận có
giá trị chứng minh sự tồn tại, thời gian, nơi lưu trữ của dữ liệu trên không
gian mạng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
2. Xác thực dữ liệu được
thực hiện bởi chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu tạo lập dữ liệu gốc, tổ chức
cung cấp dịch vụ xác thực điện tử, Trung tâm dữ liệu quốc gia. Dữ liệu đã được
xác thực có giá trị tương đương với dữ liệu gốc được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu
quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác trong phạm vi và thời
gian nhất định.
3. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
21. Công khai dữ liệu
1. Việc công khai dữ liệu
phải bảo đảm phản ánh đúng dữ liệu từ nguồn dữ liệu gốc, thuận lợi cho tổ chức,
cá nhân trong việc khai thác, sử dụng, chia sẻ.
2. Dữ liệu được công khai, công
khai có điều kiện, không được công khai phải căn cứ vào thông tin được dữ liệu
phản ánh theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin.
3. Hình thức công khai dữ
liệu, bao gồm: đăng tải dữ liệu trên cổng
dữ liệu, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, phương tiện thông tin
đại chúng và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan nhà nước có
trách nhiệm công bố danh mục dữ liệu mở và tổ chức công khai dữ liệu mở theo quy định tại Điều này
để tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng, chia sẻ. Thời điểm công khai dữ liệu đối
với từng lĩnh vực được thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
22. Mã hóa, giải mã dữ liệu
1. Dữ liệu thuộc danh mục bí mật
nhà nước phải được mã hóa bằng mật mã của cơ yếu khi lưu trữ, truyền, nhận,
chia sẻ trên mạng máy tính.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân được sử dụng một hoặc nhiều giải pháp mã hóa và quy trình mã hóa, giải mã
phù hợp với hoạt động quản trị, quản lý dữ liệu của mình.
3. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu quyết định
việc mã hóa, giải mã dữ liệu.
4. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền được quyền áp dụng các biện pháp để giải mã dữ liệu
mà không cần chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu đồng ý trong các trường hợp
sau đây:
a) Tình
trạng khẩn cấp;
b) Khi có
nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp;
c) Thảm họa;
d) Phòng,
chống bạo loạn, khủng bố.
5. Chính
phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 4 Điều này.
Điều 23. Chuyển, xử lý dữ liệu
xuyên biên giới
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự do chuyển dữ
liệu từ nước ngoài về Việt Nam, xử lý dữ liệu của nước ngoài tại Việt Nam, được
Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.
2. Chuyển, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng xuyên biên giới bao gồm:
a) Chuyển dữ liệu đang lưu
trữ tại Việt Nam tới hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt
Nam chuyển dữ liệu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam để xử lý dữ liệu.
3. Việc chuyển, xử lý dữ liệu quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ
thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của
pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
24. Hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị,
xử lý, sử dụng dữ liệu
1. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong xây dựng,
phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu phải phù hợp với chiến lược
phát triển dữ liệu quốc gia; phát huy nội lực trong hoạt động khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo; tuân thủ nguyên tắc xây dựng, phát triển, bảo vệ,
quản trị, xử lý, sử dụng dữ
liệu theo quy định của Luật này.
2. Các nền tảng khoa học và công nghệ trong xây dựng, phát triển, bảo vệ,
quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu bao gồm: trí tuệ nhân tạo, điện toán
đám mây, chuỗi khối, truyền thông dữ liệu, Internet vạn vật, dữ liệu lớn và
công nghệ hiện đại khác.
3. Tập
trung nguồn lực quốc gia cho hoạt động phát triển, ứng dụng nền tảng khoa học và công nghệ trong xây dựng,
phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu phục vụ chuyển đổi số quốc
gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội.
4. Chính phủ
quy định việc quản lý, phát triển, thử nghiệm có kiểm soát các hoạt động nghiên
cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong xây dựng, phát triển,
bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu.
Điều 25.
Xác định và quản lý rủi ro phát sinh trong xử lý dữ liệu
1. Rủi ro phát sinh trong
xử lý dữ liệu bao gồm: rủi ro quyền riêng tư, rủi ro an ninh mạng, rủi ro nhận dạng
và quản lý truy cập, rủi ro khác trong xử lý dữ liệu.
2. Cơ quan nhà nước phải
xác định, thiết lập cơ chế cảnh báo sớm về rủi ro phát sinh trong xử lý dữ liệu,
xây dựng biện pháp để bảo vệ dữ liệu.
3. Chủ quản dữ liệu không
thuộc quy định tại khoản 2 Điều này tự đánh giá, xác định rủi ro và thực hiện
các biện pháp để bảo vệ dữ liệu; kịp thời khắc phục rủi ro phát sinh và thông
báo cho chủ thể dữ liệu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
4. Chủ quản dữ liệu cốt
lõi, dữ liệu quan trọng phải định kỳ tiến hành đánh giá rủi ro đối với các hoạt
động xử lý dữ liệu đó theo quy định và thông báo
tới đơn vị chuyên trách về an ninh mạng[2] thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và cơ quan có liên quan để
phối hợp thực hiện việc bảo vệ an ninh dữ liệu[3].
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Các hoạt động khác
trong xử lý dữ liệu
1. Chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản
dữ liệu thu hồi, xóa hoặc hủy dữ liệu của mình đã cung cấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Chủ quản dữ liệu có trách nhiệm thiết lập quy trình, triển
khai các biện pháp, phương thức thu hồi, xóa hoặc hủy dữ liệu theo yêu cầu của
chủ thể dữ liệu.
2. Cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện điều chỉnh,
cập nhật dữ liệu thường xuyên, liên tục; quyết định lưu trữ lịch sử quá trình thực hiện kết hợp,
điều chỉnh, cập nhật, sao chép, truyền đưa, chuyển giao, thu hồi, xóa, hủy dữ
liệu do mình quản lý.
3. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ
quản dữ liệu không thuộc quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện kết hợp, điều
chỉnh, cập nhật, sao chép, truyền đưa, chuyển giao dữ liệu theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
27. Bảo vệ dữ liệu
1. Biện pháp bảo vệ dữ liệu được
áp dụng trong toàn bộ quá trình xử lý dữ liệu, bao gồm:
a) Xây dựng
và tổ chức thực hiện chính sách, quy định bảo vệ dữ liệu;
b) Quản
lý hoạt động xử lý dữ liệu;
c) Xây dựng
và triển khai các giải pháp kỹ thuật;
d) Đào tạo,
bồi dưỡng, phát triển, quản lý nguồn nhân lực;
đ) Các biện
pháp bảo vệ dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan nhà nước phải bảo vệ dữ liệu trong ngành, lĩnh vực
do mình quản lý, tuân thủ các chính sách chung về quốc phòng, an ninh; thiết lập
hệ thống bảo vệ dữ liệu thống nhất để đánh giá rủi ro an ninh dữ liệu, giám sát
và cảnh báo sớm.
3. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ
quản dữ liệu quản lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng phải tuân thủ các quy
định về bảo vệ dữ liệu.
4. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
28. Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu
1. Tiêu
chuẩn về dữ liệu gồm tiêu chuẩn đối với hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm,
hệ thống quản lý, vận hành, xử lý, bảo đảm chất lượng dữ liệu, bảo vệ dữ liệu
được công bố, thừa nhận áp dụng tại Việt Nam.
2. Quy
chuẩn kỹ thuật về dữ liệu gồm quy chuẩn kỹ thuật đối với hệ thống thông tin, phần
cứng, phần mềm, hệ thống quản lý, vận hành, xử lý, bảo đảm chất lượng dữ liệu,
bảo vệ dữ liệu được xây dựng, ban hành và áp dụng tại Việt Nam.
3. Bộ
Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan ban hành danh mục tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu; trừ danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ
liệu thuộc lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.
4. Cơ
quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải xây dựng
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu theo danh mục đã ban hành theo quy định
tại khoản 3 Điều này.
Điều 29. Quỹ phát triển dữ liệu
quốc gia
1. Quỹ phát triển dữ liệu
quốc gia là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được hình thành ở trung
ương để thúc đẩy phát triển, khai thác, ứng dụng, quản trị dữ liệu quốc gia.
2. Quỹ phát triển dữ liệu
quốc gia được hình thành từ các nguồn tài chính sau đây:
a) Hỗ trợ từ nguồn ngân
sách nhà nước;
b) Nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và
ngoài nước;
c) Nguồn tài chính hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật.
3. Quỹ phát triển dữ liệu quốc gia hoạt động theo nguyên tắc
sau đây:
a) Không vì mục đích lợi
nhuận;
b) Quản lý, sử dụng đúng mục
đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch;
c) Hỗ trợ cho các hoạt động
xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu;
d) Được chi cho các hoạt động
khi ngân sách nhà nước bố trí chưa đáp ứng yêu cầu.
4. Chính phủ quy định việc thành lập, quản lý, sử dụng Quỹ phát
triển dữ liệu quốc gia.
Chương
III
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM DỮ LIỆU QUỐC GIA; CƠ SỞ DỮ LIỆU TỔNG HỢP QUỐC GIA
Mục 1. XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN TRUNG
TÂM DỮ LIỆU QUỐC GIA
Điều 30. Cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia
1. Cơ sở
hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia được thiết kế, xây dựng, sử dụng đáp ứng
các yêu cầu sau đây:
a) Bảo đảm
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về trung tâm dữ liệu; yêu cầu kỹ thuật quốc tế;
phù hợp với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông; bảo đảm chống bom đạn,
khủng bố, thiên tai; bảo vệ môi trường; tiết kiệm năng lượng;
b) Có giải
pháp bảo đảm an ninh, bảo mật để kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn tấn công, đột
nhập, phá hoại; bảo đảm mức độ sẵn sàng của hệ thống, thiết kế hệ thống với mức
dự phòng nhằm sẵn sàng trong trường hợp mở rộng khi cần thiết;
c) Bảo đảm
các thành phần công nghệ thông tin chính của Trung tâm dữ liệu quốc gia, bao gồm:
Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; Nền tảng
chia sẻ, điều phối dữ liệu; Cổng dịch vụ công quốc gia; hạ tầng công nghệ xử lý dữ liệu và phân bổ
tài nguyên; hệ thống phân
tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo điều hành; hệ thống, phần mềm quản
lý, khai thác, cung cấp dịch vụ dữ liệu, cổng dữ liệu mở, cổng dịch vụ dữ liệu;
các nền tảng, phần mềm, hệ thống
nghiệp vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định.
2. Cơ sở dữ liệu quốc gia phải sử dụng cơ sở hạ tầng
của Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Căn cứ vào
nhu cầu, cơ sở dữ liệu thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu và
cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác sử dụng cơ sở hạ tầng của Trung
tâm dữ liệu quốc gia.
3. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Trách nhiệm của Trung tâm dữ liệu quốc gia
1. Tích hợp,
đồng bộ, lưu trữ, phân tích, khai thác dữ liệu của các cơ quan nhà nước theo quy
định của pháp luật nhằm tạo lập, quản trị Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
2. Quản trị,
vận hành hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin và sàn dữ liệu tại Trung
tâm dữ liệu quốc gia; cung cấp hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin
cho các cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội khi có nhu cầu sử dụng.
3. Tổ chức vận
hành, quản trị, lưu trữ, quản lý, khai thác, điều phối dữ liệu trong Cơ sở dữ
liệu tổng hợp quốc gia cho cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội để
thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc theo yêu cầu của chủ sở hữu dữ liệu,
chủ quản dữ liệu, chủ thể dữ liệu phù hợp với quy định của pháp luật.
4. Giám sát việc bảo đảm chất lượng dữ
liệu, hoạt động điều phối dữ liệu; xây dựng các hệ thống chỉ số đo lường và
đánh giá hiệu suất cho hoạt động quản trị dữ liệu.
5. Thực hiện
biện pháp bảo vệ dữ liệu.
6. Nghiên cứu
khoa học về dữ liệu, ứng dụng công nghệ trong xử lý dữ liệu, cung cấp hạ tầng
công nghệ, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong xử lý dữ
liệu; xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo về khoa học
dữ liệu; phát triển hoạt động đổi mới sáng tạo về khoa học dữ liệu; phát triển
hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo về khoa học và công nghệ trên nền tảng
dữ liệu của Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
7. Tổ chức
thực hiện các nội dung hợp tác quốc tế về dữ liệu.
8. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Bảo đảm nguồn lực xây dựng, phát triển Trung tâm dữ liệu quốc
gia
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở hạ
tầng, cơ sở vật chất, đất
đai, trụ sở, công trình, công nghệ, bảo đảm ngân sách cho xây dựng và quản lý nhà nước về dữ
liệu, quản trị dữ liệu, xây dựng, quản lý và vận hành Trung tâm dữ liệu quốc
gia, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
2. Hoạt động
của Trung tâm dữ liệu quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí
hợp pháp khác.
3. Nhà nước
bảo đảm nguồn nhân lực cho các hoạt động của Trung tâm dữ liệu quốc gia; có cơ
chế thu hút, đãi ngộ đối với nhân lực chất lượng cao.
4. Trung tâm
dữ liệu quốc gia được bảo đảm nguồn lực để thực hiện nâng cấp, bảo trì, sửa chữa
cơ sở hạ tầng, thiết bị do Trung tâm dữ liệu quốc gia đầu tư.
Mục 2. CƠ SỞ DỮ LIỆU TỔNG HỢP QUỐC GIA
Điều
33. Xây dựng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia được Chính phủ xây
dựng và quản lý tập trung, thống nhất tại Trung tâm dữ liệu quốc gia và đáp ứng
các yêu cầu sau đây:
1. Tuân thủ tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật về dữ liệu, công nghệ thông tin
có liên quan;
2. Bảo đảm an ninh mạng[4],
bảo vệ dữ liệu cá nhân, thuận lợi cho việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, khai
thác, sử dụng;
3. Bảo đảm hoạt động ổn định,
liên tục, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành, cơ sở dữ liệu khác và hệ thống thông tin khác;
4. Bảo đảm quyền khai thác
dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
5. Bảo đảm yêu cầu tích hợp,
đồng bộ, lưu trữ, khai thác, chia sẻ và điều phối dữ liệu tổng hợp từ các cơ sở
dữ liệu và thực hiện việc phân tích chuyên sâu các dữ liệu, hỗ trợ công tác xây
dựng cơ chế, chính sách và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
6. Phục vụ việc hỗ trợ,
phát triển sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
Điều
34. Thu thập, cập nhật, đồng bộ dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc
gia
1. Dữ liệu được thu thập,
cập nhật, đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, bao gồm:
a) Dữ liệu mở;
b) Dữ liệu dùng chung của cơ quan nhà nước;
c) Dữ liệu dùng riêng của
cơ quan nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để phục vụ nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu, phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
d) Dữ liệu của cơ quan Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội khi được chủ sở hữu dữ liệu đồng ý;
đ) Dữ liệu khác do tổ chức,
cá nhân cung cấp.
2. Nguồn thu thập, cập nhật,
đồng bộ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, bao gồm:
a) Từ quá trình thực hiện
thủ tục hành chính, dịch vụ công;
b) Được cập nhật, chia sẻ,
đồng bộ từ các cơ sở dữ liệu khác;
c) Được số hóa, cung cấp,
tích hợp bởi cá nhân, tổ chức;
d) Nguồn khác theo quy định
của pháp luật.
3. Trung tâm dữ liệu quốc gia
phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan kiểm tra dữ liệu khi thu thập,
cập nhật, đồng bộ để bảo đảm tính chính xác, thống nhất. Trường hợp dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác không thống nhất với dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu
tổng hợp quốc gia, Trung tâm dữ liệu quốc gia phối hợp với cơ quan có liên quan
kiểm tra, đối soát dữ liệu và cập nhật, đồng bộ trong các cơ sở dữ liệu.
4. Thủ tướng Chính phủ quyết định lộ trình xây dựng, phát triển
cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và lộ trình thực hiện việc thu thập, cập nhật, đồng bộ dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu tổng
hợp quốc gia.
Điều
35. Khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
1. Cơ sở dữ liệu tổng hợp
quốc gia được xây dựng phục vụ việc khai thác, sử dụng chung đáp ứng hoạt động
của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội; phục vụ thực
hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ; phục vụ công tác thống kê, hoạch định chính sách, xây dựng
quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,
cơ yếu, đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý vi phạm pháp luật; phục vụ nhu cầu
khai thác, sử dụng, ứng dụng dữ liệu của tổ chức, cá nhân.
2. Dữ liệu trong Cơ sở dữ
liệu tổng hợp quốc gia có giá trị khai thác và sử dụng như dữ liệu gốc.
3. Chủ thể khai thác và sử
dụng dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, bao gồm:
a) Cơ quan Đảng, Nhà nước,
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được khai
thác và sử dụng dữ liệu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó;
b) Chủ thể dữ liệu được
khai thác và sử dụng dữ liệu phản ánh về chủ thể dữ liệu đó;
c) Tổ chức và cá nhân
không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này được khai thác và sử dụng dữ
liệu như sau: tự do khai thác và sử dụng dữ liệu mở; khai thác và sử dụng dữ liệu
cá nhân khi được sự đồng ý của Trung tâm dữ liệu quốc gia và cá nhân là chủ thể
dữ liệu được khai thác; khai thác và sử dụng dữ liệu khác khi được sự đồng ý của
Trung tâm dữ liệu quốc gia.
4. Việc khai thác và sử dụng
dữ liệu thực hiện qua các phương thức sau đây:
a) Kết nối, chia sẻ dữ liệu
giữa cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu, hệ thống
thông tin khác với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia;
b) Cổng dữ liệu quốc gia,
Cổng Dịch vụ công quốc gia, cổng thông tin điện tử, hệ thống thông tin giải quyết
thủ tục hành chính;
c) Nền tảng định danh và
xác thực điện tử;
d) Ứng dụng định danh quốc
gia;
đ) Thiết bị, phương tiện, phần
mềm do Trung tâm dữ liệu quốc gia cung cấp;
e) Phương thức khác.
5. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều
36. Kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
1. Các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống
thông tin khác của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội kết
nối với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu;
Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc
gia; nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ
liệu cấp bộ, cấp tỉnh, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin.
2. Việc kết
nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu
khác phải bảo đảm hiệu quả, an toàn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
3. Việc kết
nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia với hệ thống thông
tin khác được thực hiện trên cơ sở thống nhất bằng văn bản giữa Bộ Công an và
chủ sở hữu dữ liệu.
4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Điều 37. Cung cấp dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
1. Cơ quan
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác
cung cấp dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này.
2. Nhà nước
bảo đảm điều kiện cần thiết để thực hiện việc tiếp nhận dữ liệu do cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp.
3. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Điều 38. Phí khai thác, sử dụng dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp
quốc gia và cơ sở dữ liệu khác do cơ quan nhà nước quản lý
1. Cơ
quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và
cơ sở dữ liệu khác do cơ quan nhà nước quản lý không phải nộp phí.
2. Tổ chức,
cá nhân khai thác, sử dụng dữ liệu của mình trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc
gia và cơ sở dữ liệu khác do cơ quan nhà nước quản lý không phải nộp phí.
3. Tổ chức,
cá nhân không thuộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này khai thác, sử dụng
dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và cơ sở dữ liệu khác do cơ quan
nhà nước quản lý phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Chương IV
SẢN PHẨM, DỊCH
VỤ VỀ DỮ LIỆU
Điều 39. Sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu
1. Sản phẩm,
dịch vụ về dữ liệu trong hoạt động trung gian dữ liệu, phân tích, tổng hợp dữ
liệu, xác thực điện tử, sàn dữ liệu thực hiện theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
2. Dịch vụ
xác thực điện tử thực hiện việc xác thực dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu quốc
gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống định danh và xác thực điện tử do đơn
vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước đáp ứng điều kiện cung cấp dịch vụ.
3. Tổ chức
cung cấp sản phẩm, dịch vụ trung gian dữ liệu, phân tích, tổng hợp dữ liệu được
hưởng ưu đãi như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới
sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, công nghiệp công nghệ số.
4. Các sản
phẩm, dịch vụ khác về dữ liệu trong hoạt động giao dịch điện tử, viễn thông, an
ninh mạng,[5]
công nghiệp công nghệ số, cơ yếu, công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên
công nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 40. Sản phẩm, dịch vụ trung gian dữ liệu
1. Sản phẩm, dịch vụ trung gian dữ liệu là sản phẩm, dịch vụ
nhằm thiết lập mối quan hệ thương mại giữa chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu
và bên sử dụng sản phẩm, dịch vụ, thông qua thỏa thuận nhằm mục đích trao đổi,
chia sẻ, truy cập dữ liệu, thực hiện các quyền của chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu
dữ liệu, người dùng dữ liệu.
2. Tổ chức
cung cấp sản phẩm, dịch vụ trung gian dữ liệu phải được đăng ký hoạt động và quản
lý theo quy định của pháp luật về đầu tư; trừ trường hợp cung cấp sản phẩm, dịch
vụ trung gian dữ liệu trong nội bộ tổ chức.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 41. Sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu
1. Sản phẩm
phân tích, tổng hợp dữ liệu là kết quả của quá trình phân tích, tổng hợp dữ liệu
thành thông tin chuyên sâu hữu ích ở các cấp độ khác nhau theo yêu cầu của bên
sử dụng sản phẩm. Dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu là hoạt động phân tích, tổng
hợp dữ liệu theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ.
2. Tổ chức kinh
doanh sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ
liệu có thể gây nguy hại đến quốc phòng, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng phải đăng ký hoạt động, quản lý theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Trường hợp có kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành để kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu phải
được quản lý theo quy định của pháp luật.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 42. Sàn dữ liệu
1. Sàn dữ
liệu là nền tảng cung cấp tài nguyên liên quan đến dữ liệu để phục vụ nghiên cứu,
phát triển khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên
quan đến dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; là môi trường để giao dịch,
trao đổi dữ liệu và các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu.
2. Tổ chức
cung cấp dịch vụ sàn dữ liệu là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
đáp ứng điều kiện cung cấp dịch vụ và được cấp phép thành lập theo quy định của
pháp luật.
3. Dữ liệu không được phép giao dịch
bao gồm:
a) Dữ liệu
gây nguy hại đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu;
b) Dữ liệu
không được chủ thể dữ liệu đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Dữ liệu
khác bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 43. Trách nhiệm của tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ trung gian dữ liệu, phân tích, tổng hợp dữ liệu, sàn dữ liệu
1. Cung cấp
dịch vụ cho tổ chức, cá nhân trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng cung cấp dịch
vụ.
2. Bảo đảm
kênh tiếp nhận thông tin và việc sử dụng dịch vụ thông suốt, liên tục.
3. Thực
hiện quản lý, kiểm tra, giám sát an toàn dữ liệu, bảo mật dữ liệu thường xuyên;
phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro dữ liệu; giám sát hành vi có thể ảnh hưởng
đến việc bảo vệ dữ liệu.
4. Tuân
thủ quy định của[6]
pháp luật về an
ninh mạng, pháp luật về giao dịch điện tử và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
5. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN
THI HÀNH[7]
Điều 44. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên
quan
1. Sửa đổi, bổ sung Phụ lục số 01 về Danh mục phí, lệ phí ban hành
kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14,
Luật số 16/2023/QH15, Luật số 20/2023/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 33/2024/QH15 và Luật số 35/2024/QH15 như sau:
a) Bổ sung số thứ tự 6 vào sau số thứ tự 5 mục IV phần A như sau:
|
6
|
Phí
khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
|
Bộ Tài chính
|
b) Bổ sung số thứ tự 5 vào sau số thứ tự 4.2 mục XIII phần A như sau:
|
5
|
Phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia,
cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác
|
Bộ Tài chính
|
2.
Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản, điều của Luật Giao dịch điện tử số
20/2023/QH15 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm a khoản 4 Điều 42 như sau:
“a) Kết nối,
chia sẻ qua các hệ thống trung gian bao gồm: Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu
của Trung tâm dữ liệu quốc gia; Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; hạ
tầng kết nối, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh theo Khung kiến trúc tổng thể quốc
gia số;”;
b) Bãi bỏ
khoản 8 Điều 3 và Điều 41.
Điều 45. Hiệu lực thi hành
Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 46. Quy định chuyển tiếp
1. Cơ quan
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia đã đầu tư xây dựng hoặc thuê dịch vụ cơ sở hạ tầng
dữ liệu trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục sử dụng hệ thống,
thiết bị đã đầu tư hoặc thuê dịch vụ cho đến khi Trung tâm dữ liệu quốc gia đủ điều
kiện tiếp nhận, cung cấp cơ sở hạ tầng cho cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định
của Luật này.
2. Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình thực hiện
việc tiếp nhận, chuyển đổi, sử dụng cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc
gia đối với cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều này.
|
|
XÁC
THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng.”.
[2]
Cụm từ “, an toàn thông tin” được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều
43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[3]
Cụm từ “an toàn, an ninh dữ liệu” được thay thế bằng cụm từ “an ninh dữ liệu”
theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[4]
Cụm từ “an ninh, an toàn thông tin” được thay thế bằng cụm từ “an ninh mạng”
theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 43 của Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[5]
Cụm từ “an toàn thông tin mạng,” được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều
43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
[6]
Cụm từ “pháp luật về an toàn thông tin mạng,” được bãi bỏ theo quy định tại điểm
đ khoản 5 Điều 43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[7]
Điều 44 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 44. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
2. Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật An ninh mạng
số 24/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.