|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3898/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày
18 tháng 12 năm 2025
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN "HƯỚNG DẪN SÀNG LỌC PHÁT HIỆN SỚM UNG
THƯ VÚ"
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật
Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023;
Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y
tế;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Bà mẹ và
Trẻ em, Bộ Y tế.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này tài liệu chuyên môn
"Hướng dẫn sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú".
Điều 2. Tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn sàng lọc phát hiện sớm
ung thư vú" được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi
toàn quốc.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 4. Các Ông (Bà): Chánh Văn phòng Bộ; Cục trưởng, Vụ trưởng các
Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y
tế các tỉnh, thành phố; Thủ trưởng Y tế các ngành và các cơ quan, đơn vị có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 4;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Lưu: VT, BMTE.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn
Tri Thức
|
HƯỚNG DẪN
SÀNG
LỌC PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3898/QĐ-BYT ngày 18 tháng 12 năm 2025 của
Bộ trưởng Bộ Y tế)
MỤC LỤC
CHỈ ĐẠO, BIÊN SOẠN HƯỚNG DẪN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU
I. DỊCH TỄ HỌC VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ UNG
THƯ VÚ
1. Dịch tễ học
2. Các yếu tố nguy cơ ung thư vú
3. Phân nhóm nguy cơ
II. DỰ PHÒNG UNG THƯ VÚ
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC PHÁT HIỆN
SỚM UNG THƯ VÚ
1. Tự khám vú
2. Khám lâm sàng
3. Chụp X-quang tuyến vú
4. Siêu âm tuyến vú
5. Chụp cộng hưởng từ tuyến vú
IV. LỊCH SÀNG LỌC
1. Phụ nữ nguy cơ trung bình
2. Phụ nữ nguy cơ cao
V. HƯỚNG XỬ TRÍ CÁC TÌNH HUỐNG KHI SÀNG
LỌC
VI. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÚ
1. Lâm sàng
2. Chẩn đoán hình ảnh tuyến vú
3. Mô bệnh học
4. Các biện pháp đánh giá giai đoạn
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHỈ ĐẠO, BIÊN
SOẠN HƯỚNG DẪN
Chỉ đạo biên soạn
|
GS.TS. Trần Văn thtrấn
|
Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng
Y khoa Quốc gia
|
|
PGS. TS. Nguyễn Tri Thức
|
Thứ trưởng Bộ Y tế
|
|
ThS. Đinh Anh Tuấn
|
Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y
tế
|
|
GS.TS. Lê Văn Quảng
|
Giám đốc Bệnh viện K
|
Tham gia biên soạn
|
PGS.TS. Lê Thanh Đức
|
Trưởng Khoa Nội 5, Bệnh viện K
|
|
PGs.TS.BS. Lê Hồng Quang
|
Trưởng Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện K
|
|
TS. Tống Trần Hà
|
Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ
Y tế
|
|
PGS.TS. Bùi Diệu
|
Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam
|
|
BS CKII. Vương Đình Bảo Anh
|
Phó Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ
|
|
PGs.TS. Vũ Văn Tâm
|
Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
|
|
PGS.TS. Trần Thị Thanh Hương
|
Phó Viện trưởng Viện Ung thư Quốc gia,
Bệnh viện K
|
|
BSCKII. Phạm Thị Thu Trang
|
Khoa Nội 5, Bệnh viện K
|
|
ThS. Bùi Thị Thu Hoài
|
Khoa Nội 5, Bệnh viện K
|
|
ThS. Nguyễn Thị Lý Linh
|
Khoa Nội 5, Bệnh viện K
|
|
ThS. Nguyễn Hương Giang
|
Viện Ung thư Quốc gia, Bệnh viện K
|
|
TS. Nguyễn Văn Thắng
|
Trưởng khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ
sản Trung ương
|
|
TS. Đặng Thị Hồng Thiện
|
Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh
viện Phụ sản Trung ương
|
|
TS. Nguyễn Thái Giang
|
Khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản
Trung ương
|
|
BS. CKII. Nguyễn Bá Phi Long
|
Khoa Ung bướu phụ khoa, Bệnh viện Từ
Dũ
|
|
BS. Nguyễn Tấn Đạt
|
Phòng Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Từ Dũ
|
|
BS. CKII. Nguyễn Trần Bảo Chi
|
Trưởng khoa Nhũ, Bệnh viện Hùng Vương
|
|
PGS.TS. Phạm Cẩm Phương
|
Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và
Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.
|
|
BS. CKII. Phan Thị Đỗ Quyên
|
Trưởng khoa Nội ung bướu 2, Bệnh viện Trung
ương Huế
|
|
BS. CKII. Trần Đặng Ngọc Linh
|
Trưởng khoa Xạ trị phụ khoa, Bệnh viện
Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
TS. Hoàng Thị Ngọc Hà
|
Giảng viên chính Bộ môn Chẩn đoán hình
ảnh, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
|
|
TS. Vũ Kiên
|
Phó Giám đốc Bệnh viện Ung bướu Hà Nội
|
|
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hà
|
Phó Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến, Bệnh
viện Ung bướu Hà Nội
|
Tổ thư ký biên tập
|
ThS. Nghiêm Thị Xuân Hạnh
|
Cục Bà mẹ và Trẻ em
|
|
ThS. Nguyễn Thị Bích Hằng
|
Cục Bà mẹ và Trẻ em
|
|
ThS. Nguyễn Thị Kiều Vân
|
Cục Bà mẹ và Trẻ em
|
DANH MỤC CÁC TỪ
VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
|
ACS
|
American Cancer Society - Hội Ung thư
Hoa kỳ
|
|
BI-RADS
|
Breast Imaging Reporting and Data
System - Hệ thống báo cáo và dữ liệu hình ảnh tuyến vú
|
|
CC
|
Cranio Caudal - từ trên xuống
|
|
CDC
|
Centers for Disease Control and
Prevention - Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ
|
|
ER
|
Estrogen Receptor - thụ thể estrogen
|
|
FSH
|
Follicle Stimulating Hormone - Nội
tiết tố kích thích nang trứng
|
|
GLOBOCAN
|
Global Cancer Observatory - Ghi nhận
ung thư toàn cầu
|
|
HBOC
|
Hereditary Breast and Ovarian Cancer
syndrome - Hội chứng ung thư vú - buồng trứng di truyền
|
|
LH
|
Luteinizing hormone - Nội tiết tố
hoàng thể hoá
|
|
MLO
|
Mediolateral Oblique - chếch trong
ngoài
|
|
MRI
|
Magnetic Resonance Imaging - Chụp cộng
hưởng từ
|
|
PET/CT
|
Positron Emission Tomography/Computed
Tomography
Chụp cắt lớp phát positron kết hợp với
cắt lớp vi tính
|
|
UTBM
|
Ung thư biểu mô
|
|
UTV
|
Ung thư vú
|
|
WHO
|
World Health Organization - Tổ chức Y
tế Thế giới
|
DANH MỤC CÁC SƠ
ĐỒ
Sơ đồ 1: Đánh giá ban đầu, xếp loại nguy
cơ và lịch sàng lọc cho từng đối tượng
Sơ đồ 2: Khám lâm sàng thấy u, tuổi ≥ 30
Sơ đồ 3: Khám lâm sàng thấy u, cục hoặc
khối, tuổi < 30
Sơ đồ 4: Khám lâm sàng thấy núm vú tụt,
không sở thấy khối u
Sơ đồ 5: Khám lâm sàng thấy chảy dịch đầu
vú, không có khối u
Sơ đồ 6: Khám lâm sàng thấy thay đổi da:
sần da cam, đỏ da, trầy da núm vú, tróc vảy, dạng chàm (eczema)
Sơ đồ 7: Đau vú
Sơ đồ 8: Khối ở nách
Sơ đồ 9: Khi nam giới có các triệu chứng
ở vú
Sơ đồ 10: Xử trí khi sinh thiết vú
Sơ đồ 11: Xử trí sau khi chọc hút dịch
khối u (đối với trường hợp BIRADS2 và lâm sàng nghi ngờ)
Sơ đồ 12: Xử trí kết quả hình ảnh
(X-quang vú và / hoặc siêu âm vú) ở bệnh nhân đau vú
Sơ đồ 13: Sàng lọc trên phụ nữ có thai
và cho con bú
LỜI NÓI ĐẦU
Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất
và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc mới ung thư vú có xu hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt
ở nhóm phụ nữ trẻ tuổi. Mặc dù y học đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều
trị, nhưng việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn vẫn khiến khả năng điều trị gặp
nhiều khó khăn, làm giảm đáng kể thời gian sống thêm và chất lượng sống của
bệnh nhân.
Sàng lọc phát hiện sớm là cách đánh giá
tình trạng sức khỏe của mỗi cá thể hay cộng đồng, nhằm phát hiện ung thư tiềm
ẩn hay tổn thương tiền ung thư để điều trị khỏi. Ung thư vú là bệnh có thể sàng
lọc phát hiện sớm trong cộng đồng vì hội đủ các điều kiện lý tưởng cho một chương
trình sàng lọc hiệu quả theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Ung
thư vú có giai đoạn tiền lâm sàng kéo dài trong nhiều năm, phương pháp sàng lọc
đơn giản, giá thành không cao, ít gây phiền toái cho người bệnh, độ nhạy và độ
đặc hiệu khá cao. Việc sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú không những giúp phòng
bệnh trong cộng đồng, tăng khả năng điều trị khỏi, giảm tỷ lệ tử vong do ung
thư vú, nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tiết kiệm ngân sách và nguồn lực
trong điều trị.
Năm 2022, Tổ chức Y tế thế giới đã ban
hành Sáng kiến toàn cầu về ung thư vú với mục đích giảm tỷ lệ tử vong do ung
thư vú 2,5% mỗi năm, nhằm ngăn chặn 2,5 triệu ca tử vong do ung thư vú trên
toàn cầu vào năm 2040. Ba mục tiêu trụ cột can thiệp của Sáng kiến này để các
quốc gia phấn đấu bao gồm:
- 60% ca ung thư xâm lấn được chẩn đoán
ở giai đoạn I/II;
- Xác định chẩn đoán ung thư trong vòng
60 ngày;
- 80% bệnh nhân được điều trị đa phương
thức.
Căn cứ các định hướng về phòng chống
bệnh không lây nhiễm và khuyến cáo chuyên môn ở cấp quốc gia và quốc tế, cũng
như các bằng chứng qua triển khai tại nhiều quốc gia có điều kiện tương tự, Bộ
Y tế ban hành tài liệu Hướng dẫn Sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú.
Tài liệu này cung cấp cho nhân viên y tế
chuyên ngành ung bướu, sản phụ khoa và các chuyên ngành có liên quan, người
quản lý y tế tại các cấp những hướng dẫn cơ bản về sàng lọc, phát hiện sớm và
hướng xử trí sau sàng lọc. Tài liệu sẽ là cơ sở để xây dựng tài liệu đào tạo,
theo dõi, giám sát, đánh giá các hoạt động sàng lọc, phát hiện sớm ung thư vú.
Người cung cấp dịch vụ cũng có thể coi đây là một công cụ để tự đánh giá việc
thực hiện các kỹ thuật chuyên môn của bản thân.
Các kỹ thuật sàng lọc, phát hiện sớm ung
thư vú đề cập trong Hướng dẫn này chỉ được thực hiện tại các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có giấy phép hoạt động và phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp (trừ
kỹ thuật tự khám vú có thể thực hiện tại nhà theo sự hướng dẫn của nhân viên y
tế); người cung cấp dịch vụ chỉ được thực hiện khi có chứng chỉ hành nghề/giấy
phép hành nghề có phạm vi phù hợp do cấp có thẩm quyền cấp.
Hướng dẫn Sàng lọc phát hiện sớm ung thư
vú được xây dựng và ban hành lần đầu tiên, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng cũng
không thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung và in ấn. Bộ Y tế (Cục Bà
mẹ và Trẻ em) mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu, để tài liệu được
hoàn thiện hơn trong thời gian tới.
Xin trân trọng cảm ơn!
|
|
ThS. BS. Đinh
Anh Tuấn
Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em
|
I. DỊCH TỄ HỌC VÀ CÁC
YẾU TỐ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ
1. Dịch tễ học
Hàng năm, trên thế giới có khoảng hơn
2,3 triệu trường hợp mới mắc và hơn 670.000 trường hợp tử vong do ung thư vú
(theo GLOBOCAN 2022). Ung thư vú (UTV) cũng xảy ra ở nam giới với tỷ lệ khoảng
1% tổng số bệnh nhân bị bệnh. Từ những năm 1980, tỷ lệ tử vong do UTV tại các
nước phát triển giảm đáng kể do việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm cùng với
các tiến bộ trong điều trị.
Phụ nữ châu Á có tỷ lệ mắc UTV thấp hơn
phương Tây nhưng tỷ lệ tử vong liên quan đến UTV lại cao hơn. Tại Việt Nam,
theo GLOBOCAN 2022, UTV là loại ung thư có số lượng bệnh nhân mắc mới cao nhất
trong các loại ung thư với 24.563 trường hợp, số người tử vong do bệnh (10.008
trường hợp) đứng hàng thứ 4 sau ung thư gan, ung thư phổi và ung thư dạ dày. Tỷ
lệ hiện mắc trong 5 năm là 146,6/100.000 dân (theo GLOBOCAN 2022).

Biểu đồ: Tỷ
suất mới mắc và tỷ suất tử vong chuẩn hoá theo tuổi của 15 bệnh ung thư hàng
đầu tại Việt Nam (theo GLOBOCAN 2022)
2. Các yếu tố
nguy cơ ung thư vú
2.1. Yếu tố
liên quan di truyền
Gen
Biến đổi (hay đột biến) một số gen có
thể làm tế bào chuyển thành ác tính. Năm 1994, người ta tìm thấy sự liên quan
giữa đột biến gen ức chế khối u BRCA1 và BRCA2 nằm trên nhiễm sắc
thể 17 và 13 với UTV, ung thư buồng trứng và một số loại ung thư khác ở cả phụ
nữ và nam giới (hội chứng ung thư vú - buồng trứng di truyền - HBOC). Do nằm
trên nhiễm sắc thể thường, các gen này có thể di truyền từ bố hoặc mẹ. Những
phụ nữ mang các gen này có nguy cơ cao bị UTV. Nguy cơ mắc UTV suốt đời (tính
đến 70-80 tuổi) ở người mang đột biến gen BRCA1 là 55-72%, BRCA2
là 45-69%. So với người bình thường, phụ nữ mang đột biến gen BRCA1/2 có nguy
cơ UTV cao gấp 4-6 lần.
Ngoài ra, một số gen khác bị biến đổi
cũng liên quan với nguy cơ UTV. Những hội chứng do các rối loạn về di truyền
như hội chứng Li-Traumeni (liên quan đến đột biến dòng mầm TP53), hội
chứng Cowden (liên quan đến đột biến PTEN), hội chứng Peutz-Jeghers
(liên quan đến đột biến STK11), hội chứng Muir - Torre, thất điều giãn
mạch (ataxia telangiectasia) cũng có thể làm xuất hiện UTV. Những nghiên cứu
gần đây cho thấy có khoảng 10% UTV do di truyền.
Một người có người thân (có quan hệ
huyết thống) mang các biến thể gen gây bệnh liên quan đến các hội chứng UTV di
truyền nên được tư vấn và làm xét nghiệm di truyền để xác định có đột biến gen
làm tăng nguy cơ mắc UTV hay không.
Gia đình
Trong các yếu tố nguy cơ gây UTV, nổi
bật nhất là tiền sử gia đình có người mắc UTV. Một phụ nữ có mẹ hoặc chị, em
gái hoặc con gái bị UTV thì có nguy cơ bị bệnh này cao gấp 2-3 lần so với các
phụ nữ khác. Nếu người trong gia đình bị UTV khi ở tuổi trẻ (<30 tuổi) thì
nguy cơ cao hơn. Nguy cơ cũng tăng khi trong gia đình có từ 2 người trở lên bị
mắc UTV. Ngay cả những người không mang các gen nhưng gia đình có người mắc UTV
cũng có nguy cơ mắc UTV cao hơn. Hiện nay, người ta chỉ có thể cho rằng hiện
tượng này do môi trường sinh hoạt chung hoặc do những gen mà chúng ta chưa biết
được gây nên hoặc cả hai.
Chủng tộc/sắc tộc
UTV vẫn là loại ung thư phổ biến nhất ở
phụ nữ thuộc mọi nhóm dân tộc/chủng tộc nhưng tại Hoa Kỳ, nguy cơ UTV cao nhất
xảy ra ở phụ nữ da trắng. Sự khác biệt về chủng tộc trong tỷ lệ UTV là do các
yếu tố liên quan đến lối sống. Tỷ lệ ung thư vú mới được chẩn đoán (trên
100.000 phụ nữ) lần lượt là 124 và 122 đối với phụ nữ da trắng và da đen. Tỷ lệ
mắc mới UTV ở phụ nữ Mỹ gốc Á thấp hơn so với phụ nữ da trắng và da đen với tỷ
lệ 106,4/100.000 phụ nữ nhưng lại có xu hướng tăng theo thời gian với mức tăng
hàng năm khoảng 2-2,7%, tăng cao nhất trong các nhóm chủng tộc.
2.2. Yếu tố bản
thân
Tuổi
Ở các nước Âu Mỹ, tuổi càng cao nguy cơ
mắc UTV càng tăng. Số bệnh nhân bắt đầu bị bệnh lúc trên 50 tuổi chiếm tới 77%
tổng số bệnh nhân UTV. Phụ nữ dưới 30 tuổi rất hiếm khi mắc UTV. Ví dụ, tại
Australia, tỷ lệ bị UTV chỉ có 0,6/100.000 phụ nữ 20-24 tuổi nhưng lên tới
298,4/100.000 phụ nữ 80-84 tuổi. Tại Mỹ, tỷ lệ mắc UTV khoảng 127/100.000 đối
với phụ nữ từ 40 đến 44 tuổi, nhưng tăng lên tới 450/100.000 ở phụ nữ 70-74
tuổi. Một nghiên cứu về tuổi mắc UTV ở phụ nữ Châu Á và các nước phương Tây cho
thấy phụ nữ Châu Á có tuổi mắc UTV cao nhất là 40-50 tuổi, trong khi các phụ nữ
phương Tây là 60-70 tuổi. Một nghiên cứu trên 5.905 phụ nữ UTV tại Hà Nội giai
đoạn 2010-2014 cho thấy, hai nhóm tuổi mắc UTV nhiều nhất là 40-49 tuổi (chiếm
25,4%) và 50-59 tuổi (chiếm 33,9%). Một nghiên cứu khác trên 3.502 phụ nữ UTV
tại Hà Nội giai đoạn 2014-2016 cũng cho kết quả tương tự với nhóm tuổi mắc UTV
nhiều nhất là 50-59 (chiếm 30,1%), tiếp theo là nhóm 40-49 tuổi (chiếm 24,8%).
Nhóm tuổi dưới 40 mắc UTV chiếm tỷ lệ thấp (13,5%), trong đó UTV dưới 30 tuổi
chỉ chiếm 1,7%. Bệnh nhân trên 70 tuổi chỉ chiếm 9,8%. Do đó, đề xuất bắt đầu
sàng lọc UTV trong cộng đồng người Việt Nam theo tuổi là từ 40 tuổi với nhóm có
nguy cơ trung bình.
Tiền sử cá nhân mắc ung thư vú
Tiền sử cá nhân mắc bệnh UTV xâm lấn
hoặc tại chỗ làm tăng nguy cơ phát triển UTV xâm lấn ở vú đối bên. Nguy cơ mắc
UTV đối bên thay đổi theo độ tuổi tại thời điểm chẩn đoán UTV (những người dưới
30 tuổi được chẩn đoán UTV và những người UTV thụ thể nội tiết âm tính có nguy
cơ cao hơn). Những người có tiền sử UTV và có người trong gia đình cũng mắc UTV
càng làm tăng thêm nguy cơ mắc UTV đối bên.
Tiền sử bị các bệnh tại vú
Viêm vú trong khi sinh đẻ và một số bệnh
vú lành tính như quá sản không điển hình (atypical hyperplasia) cũng là các yếu
tố tăng nguy cơ mắc UTV. Gần đây, với những tiến bộ về sàng lọc phát hiện sớm,
có nhiều phụ nữ được phát hiện ung thư biểu mô tại chỗ (chưa xâm lấn qua màng
đáy của ống tuyến và tiểu thùy). Những phụ nữ này được điều trị có thể khỏi
bệnh nhưng nguy cơ bị UTV cao hơn phụ nữ khác.
Mật độ tuyến vú
Phụ nữ có mật độ tuyến vú càng đặc nguy
cơ ung thư vú càng cao. Một người có mật độ tuyến vú đặc trên phim chụp X-quang
(BI-RADS D) có nguy cơ UTV cao hơn 4 đến 6 lần so với những phụ nữ ở độ tuổi
tương tự có mô vú nhiều mỡ (BI-RADS A).
2.3. Yếu tố nội
tiết
UTV là một trong số các ung thư có liên
quan mật thiết với nội tiết tố nữ, cụ thể là estrogen. Estrogen trong cơ thể
phụ nữ có thể là nội sinh được sản xuất chủ yếu tại buồng trứng hoặc estrogen
ngoại sinh từ các thuốc điều trị hiếm muộn/vô sinh, thuốc tránh thai... Một trong
những tác dụng của estrogen là làm tăng sinh các tế bào biểu mô tuyến vú, cần
thiết cho quá trình sinh sản, nuôi con. Tuy nhiên, nếu tế bào tuyến vú tiếp xúc
với estrogen quá nhiều, các tế bào tăng sinh mạnh kết hợp với các đột biến có
thể xảy ra trong quá trình phân chia tế bào sẽ có khả năng phát triển thành
UTV. Do đó những yếu tố làm tăng thời gian tiếp xúc của tuyến vú với estrogen
đều có thể làm tăng nguy cơ UTV. Có thể liệt kê một số yếu tố sau:
- Tuổi bắt đầu có kinh sớm làm tế bào
tuyến vú sớm tiếp xúc estrogen. Những người có kinh sớm cũng có nồng độ
estrogen cao hơn những người có kinh muộn. Phụ nữ có kinh sớm trước tuổi 13 có
nguy cơ UTV cao hơn những phụ nữ bắt đầu có kinh sau tuổi 15.
- Tuổi mãn kinh muộn hoặc đã mãn kinh
nhưng dùng nội tiết thay thế có chứa estrogen cũng làm tăng nguy cơ UTV. Trước
khi sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế người phụ nữ cần được sàng lọc các
yếu tố nguy cơ ung thư vú theo Hướng dẫn của Bộ Y tế và tư vấn của bác sỹ
chuyên khoa để cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích. Nguy cơ UTV có thể giảm một
nửa ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi so với mãn kinh sau 55 tuổi. Những phụ nữ
chưa mãn kinh nhưng phải cắt bỏ buồng trứng vì một lý do nào đó cũng giảm nguy
cơ UTV. Nguy cơ UTV tạm thời tăng lên khi phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai
kết hợp hoặc mới ngừng sử dụng (trong vòng 10 năm). Nguy cơ cao hơn ở người
dùng càng lâu và bắt đầu dùng từ khi còn rất trẻ, nhưng nguy cơ này sẽ trở về
bình thường khi ngừng sử dụng thuốc 10 năm. Tuy nhiên, ở phụ nữ trẻ (dưới 35),
việc sử dụng thuốc tránh thai vẫn mang lại nhiều lợi ích vượt trội so với nguy
cơ.
- Giữa mang thai và ung thư vú cũng có
mối liên quan. Những phụ nữ không sinh con có nguy cơ cao bị UTV gấp 1,4 lần
phụ nữ có sinh con. Phụ nữ mang thai đủ thời gian (không nạo, sảy) lần đầu sau
30 tuổi có nguy cơ bị bệnh gấp 2 đến 5 lần so với phụ nữ mang thai đủ thời gian
trước 30 tuổi.
- Không cho con bú cũng là một yếu tố
nguy cơ. Cứ 1 năm nuôi con bằng sữa mẹ nguy cơ UTV giảm 4%. Cơ chế bảo vệ này
là do việc cho con bú sữa mẹ có thể trì hoãn việc có kinh trở lại sau khi sinh.
- Trong điều trị hiếm muộn/vô sinh bằng
nội tiết, estrogen thường được dùng trong kích thích buồng trứng để phát triển
nang trứng và trong chu kỳ chuyển phôi (đặc biệt khi chuẩn bị nội mạc tử cung).
Tuy nhiên, liều dùng estrogen trong các trường hợp này thường ngắn hạn và có
kiểm soát; các nghiên cứu hiện tại cho thấy liệu pháp estrogen ngắn hạn trong điều
trị vô sinh không chứng minh rõ ràng là làm tăng nguy cơ UTV.
- Liệu pháp estrogen liều cao và dùng
kéo dài như ở phụ nữ chuyển giới (từ nam sang nữ), rối loạn phát triển sinh dục
(ví dụ hội chứng Turner), ức chế tiết FSH/LH trong một số bệnh (ví dụ ung thư
tuyến yên) có thể làm tăng nguy cơ UTV.
Nội tiết tố nam androgen (đặc biệt là
testosterone) cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Nồng độ
testosterone và androstenedione (tiền chất của testosterone và estrone) cao
trong máu làm tăng nguy cơ ung thư vú, đặc biệt là ung thư vú có thụ thể
estrogen (ER) dương tính. Nồng độ testosterone máu cứ tăng thêm 0.5nmol/L thì
nguy cơ ung thư vú có thể tăng khoảng 10-20%.
2.4. Yếu tố lối
sống
Ít vận động
Khoảng 10% UTV liên quan với ít vận
động. Nguy cơ UTV tăng khoảng 9% ở người ít vận động. Tăng cường hoạt động thể
chất có thể làm giảm nguy cơ UTV thông qua ảnh hưởng của nội tiết tố như giảm
nồng độ estrogen, insulin và yếu tố tăng trưởng insulin-1 trong huyết thanh.
Uống rượu và hút thuốc lá
Những phụ nữ uống rượu có nguy cơ bị UTV
tăng 10%. Nguy cơ tăng theo lượng rượu uống mỗi ngày. Nguy cơ mắc UTV cũng tăng
lên ở những người hút thuốc lá.
Béo phì
Những phụ nữ béo, đặc biệt khi đã mãn
kinh liên quan với nguy cơ UTV tăng. Người ta cho rằng estrogen được sinh ra
trong mô mỡ đã làm tăng nguy cơ UTV ở những người này.
2.5. Yếu tố vật
lý, hoá học
Tiền sử tiếp xúc với tia phóng xạ
Phụ nữ tiếp xúc với tia phóng xạ khi còn
trẻ như phải xạ trị tại vùng ngực vì các bệnh ác tính khác (như u lymphô ác
tính không Hodgkin hoặc Hodgkin) có nguy cơ bị UTV cao hơn những phụ nữ khác
gấp 12 lần. Những người sống sót sau trận bom nguyên tử hoặc tai nạn nhà máy
hạt nhân có liên quan đến tăng nguy cơ UTV. Độ tuổi dễ bị tổn thương nhất từ 10
đến 14 tuổi (trước tuổi dậy thì).
Tiền sử tiếp xúc với một số chất hoá học
Một số chất hoá học trong môi trường
sống như thực phẩm, mỹ phẩm, nhựa, thuốc trừ sâu,…có thể làm tăng nguy cơ ung
thư vú do khả năng gây rối loạn nội tiết, bắt chước estrogen hoặc gây tổn
thương ADN của tế bào. Một số chất hoá học phải kể đến như bisphenol A (BPA),
phthalates, polychlorinated biphenyls (PCBs), dioxin, paraben, thuốc trừ sâu
(DDT và dẫn xuất), perfluoroalkyl và polyfluoroalkyl (PFAS). Ngoài ra,
hydrocarbon thơm đa vòng có trong khói thuốc lá, khói xe, thịt cá hun
khói,…cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú.
3. Phân nhóm
nguy cơ
Mọi phụ nữ đều có nguy cơ mắc ung thư
vú, nguy cơ mắc UTV tăng theo tuổi và khi xuất hiện thêm các yếu tố nguy cơ như
ở mục 2. Các yếu tố nguy cơ ung thư vú. Nguy cơ UTV
có thể thay đổi trong suốt cuộc đời do sự xuất hiện của các yếu tố làm tăng
hoặc giảm nguy cơ UTV. Vì vậy, với mỗi lần đến khám phụ nữ đều phải được phân
nhóm nguy cơ UTV.
Việc phân nhóm nguy cơ UTV sẽ là cơ sở
đề xuất các phương thức và tần suất sàng lọc cũng như các xét nghiệm di truyền.
Hiện nay, tất cả các phụ nữ trong cộng đồng được xếp vào 2 nhóm nguy cơ: nguy
cơ trung bình và nguy cơ cao.
3.1. Nguy cơ trung bình
Là những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ
cao nào trong mục Nguy cơ cao.
3.2. Nguy cơ cao
Phụ nữ có một trong các yếu tố sau được
xếp có nguy cơ cao:
- Trong gia đình có ít nhất một người
quan hệ huyết thống bậc 1 (mẹ, chị/em gái hoặc con gái) mắc UTV.
- Mang đột biến gen làm tăng nguy cơ
UTV, ví dụ: BRCA1/2, PTEN, TP53, CDH1, PALB2, STK11.
- Tiền sử mắc UTV.
- Có tổn thương ung thư biểu mô tiểu
thùy tại chỗ hoặc quá sản không điển hình.
- Có tiền sử xạ trị vùng ngực ở độ tuổi
10 đến 30.
Ngoài ra, có thể tính nguy cơ ung thư vú
xâm lấn trong 5 năm và suốt đời của một người phụ nữ theo mô hình Gail. Theo
cách tính của mô hình này, phụ nữ có nguy cơ trong 5 năm ≥1,7% hoặc nguy cơ
suốt đời ≥20% được coi là có nguy cơ cao. Mô hình Gail đã được thử nghiệm trên
một lượng lớn phụ nữ da trắng và đã được chứng minh là cung cấp ước tính chính
xác về nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên dữ liệu trên nhóm phụ nữ Châu Á đang được
nghiên cứu. Tham khảo cách tính toán nguy cơ ung thư vú tại Phụ lục hoặc vào
đường link dưới đây, nhập các chỉ số để phần mềm tự động tính toán nguy cơ ung
thư vú:
http://www.mdapp.co/gail-model-for-breast-cancer-risk-calculator-576/
II. DỰ PHÒNG UNG THƯ VÚ
Dự phòng (bước 1) ung thư vú là biện
pháp phòng bệnh được thực hiện trước khi bệnh xảy ra, nhằm ngăn ngừa sự khởi
phát của bệnh bằng các loại bỏ hoặc giảm yếu tố nguy cơ. Với những yếu tố nguy
cơ đã nêu tại mục Các yếu tố nguy cơ ung thư vú mà
các nghiên cứu dịch tễ học tìm ra, khả năng phòng bệnh bước 1 đối với UTV còn
khá hạn chế. Có nhiều yếu tố không thể thay đổi như tuổi, có kinh sớm và mãn
kinh muộn hoặc các yếu tố khó thay đổi như phụ nữ độc thân, có thai muộn góp phần
quan trọng vào sinh bệnh trong khi những yếu tố về lối sống, sinh hoạt có thể
thay đổi được lại không phải những yếu tố nguy cơ cao. Tuy nhiên, chúng ta cần
cố gắng phòng ngừa bệnh với khả năng có thể như:
- Tránh hoặc hạn chế uống rượu, hút
thuốc lá.
- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.
- Tránh béo phì, duy trì chế độ ăn uống
cân bằng, tăng cường tập luyện thể lực, duy trì mức cân nặng hợp lý không những
có thể làm giảm nguy cơ UTV mà còn giúp phòng ngừa nhiều bệnh khác.
- Hạn chế sử dụng các thuốc nội tiết thay
thế có chứa estrogen và progesteron.
- Không nên sinh con đầu muộn hoặc không
sinh con.
- Các nghiên cứu đã cho thấy sử dụng
thuốc ức chế aromatase ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc tamoxifen ở phụ nữ chưa và đã
mãn kinh có thể giúp giảm nguy cơ bị UTV. Tuy nhiên, tamoxifen liên quan với
nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung, huyết khối, ra máu âm đạo, bốc hỏa và các
triệu chứng của mãn kinh. Do vậy, lợi ích của tamoxifen chưa vượt trội được các
nguy cơ của thuốc trên phụ nữ khỏe mạnh.
- Phẫu thuật cắt tuyến vú làm giảm đáng
kể nguy cơ UTV và là một lựa chọn thích hợp cho những người có nguy cơ cao (như
mang gen BRCA1/2) và cần được người phụ nữ thảo luận rất kỹ với các
chuyên gia tư vấn, bác sĩ phẫu thuật,... và gia đình trước khi quyết định.
- Tăng cường truyền thông, giáo dục sức
khoẻ cộng đồng để nâng cao nhận thức của người dân về tự khám vú và tầm quan
trọng của sàng lọc UTV định kỳ.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP
SÀNG LỌC PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ
Các phương pháp sàng lọc phát hiện sớm
ung thư vú bao gồm:
- Tự khám vú.
- Khám lâm sàng.
- Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh bao
gồm chụp X-quang tuyến vú, siêu âm tuyến vú, chụp cộng hưởng từ tuyến vú.
Các xét nghiệm chỉ điểm khối u như
CA15-3, CEA không có giá trị trong sàng lọc ung thư vú.
Một số cơ sở y tế chưa có đầy đủ các
phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang tuyến vú, MRI tuyến vú để sàng
lọc UTV có thể chỉ định siêu âm kết hợp với khám lâm sàng, ngược lại khi không
có siêu âm có thể khám lâm sàng kết hợp X-quang/MRI. Khi phát hiện tổn thương
nghi ngờ có thể chỉ định thêm các xét nghiệm chuyên sâu hơn hoặc chuyển tới các
bệnh viện chuyên khoa ung bướu với các phương tiện đầy đủ để chẩn đoán.
1. Tự khám vú
1.1. Khái niệm và vai
trò
Tự khám vú là phương pháp tự kiểm tra vú
để phát hiện sự thay đổi hoặc bất thường ở vú bằng cách quan sát (trực quan) và
sở nắn (cảm nhận) vú và các vùng xung quanh để tìm các khối u, tình trạng dày
lên hoặc các thay đổi khác.
Tự khám vú được coi là một phương pháp
phát hiện sớm ung thư vú nhưng không thay thế được các phương pháp sàng lọc
UTV. Người phụ nữ vẫn cần đến cơ sở y tế để được sàng lọc bằng khám lâm sàng và
các phương pháp cận lâm sàng theo lịch khám sàng lọc.
1.2. Kỹ thuật tự khám
vú
Khuyến cáo tự khám vú hàng tháng sau
sạch kinh 5 ngày đối với mọi phụ nữ từ 25 tuổi trở lên. Các bước tiến hành theo
thứ tự như sau:
Chuẩn bị: Cần cởi bỏ áo, nơi tiến hành
tự khám vú có thể ở phòng ngủ hoặc phòng tắm, có đầy đủ ánh sáng và có gương
soi, có thể ngồi trên ghế hoặc đứng miễn là thoải mái.
1.2.1. Tự khám vú khi đứng
Quan sát:
- Xuôi tay, quan sát xem có các thay đổi
ở vú như u cục, dầy lên, lõm da hoặc thay đổi mầu sắc da, các vết loét,...
- Đưa tay ra sau gáy, sau đó quan sát
lại.
- Chống tay lên hông làm cử động cơ ngực
lên xuống bằng động tác nâng vai lên hay hạ vai xuống. Động tác này làm cho các
thay đổi nếu có sẽ rõ hơn.
- Ấn nhẹ quầng vú xem có dịch chảy ra hay
không.
Sở nắn:
- Đưa tay phải ra sau gáy. Dùng tay trái
sở nắn vú phải, 4 ngón tay đặt sát vào nhau thành một mặt phẳng, ép đều đặn lên
các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành ngực theo hướng vòng xoáy ốc từ đầu
vú trở ra ngoài, hoặc theo hướng nan hoa đi từ núm vú ra ngoại vi và ngược lại.
- Kiểm tra từng vùng của vú cả về phía
hố nách.
- Làm tương tự với vú bên trái.
1.2.2. Tự khám vú khi nằm:
- Nằm ngửa thoải mái.
- Đặt một gối mỏng ở dưới lưng bên trái.
- Lặp quá trình khám như khi đứng ở
buồng tắm.
- Chuyển gối sang dưới lưng bên phải,
khám vú và nách phải.
|

|

|
|
Khám khi tắm
|
Quan sát
trước gương
|

Đứng và ép nhẹ
ngón tay lên vú, đưa theo vòng tròn

Khám khi nằm

Nắn nhẹ quầng
vú xem có dịch chảy
1.3. Các triệu chứng
báo hiệu ung thư vú
- Sở thấy khối u vú.
- Một bên vú dày chắc hơn bên kia.
- Một bên vú to lên.
- Một bên vú xệ xuống bất thường.
- Da vùng vú bị lồi lõm, co kéo bất
thường.
- Núm vú tụt.
- Thay đổi màu sắc trên da của vú.
- Hạch nách hoặc hố thượng đòn to.
- Chảy dịch một bên vú.
- Đau hoặc đỏ vú.
Các biểu hiện trên đây có thể của các
bệnh lành tính hoặc ác tính của vú nhưng cần khuyến cáo để phụ nữ trong cộng
đồng đi khám kịp thời.
2. Khám lâm
sàng
Khám lâm sàng là một biện pháp sàng lọc
ung thư vú, thực hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến ban đầu trở
lên và được khám bởi các bác sĩ được đào tạo về khám vú.
2.1. Chỉ định
- Phát hiện bất thường tại vú khi tự
khám vú tại nhà.
- Phụ nữ nguy cơ trung bình khám lâm
sàng 1-3 năm/lần từ 25 đến 39 tuổi, 1 năm/lần từ 40 tuổi.
- Phụ nữ nguy cơ cao khám lâm sàng 1 năm/lần
từ 25 tuổi.
2.2. Chống chỉ định
Không có.
2.3. Chuẩn bị
- Người thực hiện: bác sĩ được đào tạo
về khám vú.
- Phương tiện: phòng khám sạch sẽ, kín
đáo, có đầy đủ ghế ngồi và bàn khám ở cả 2 tư thế ngồi và nằm.
- Người bệnh: phụ nữ trong tuần đầu sau
sạch kinh, cởi bỏ áo toàn bộ nửa trên cơ thể.
2.4. Tiến hành kỹ thuật
2.4.1. Hỏi bệnh:
- Hỏi tiền sử gia đình, tiền sử bản
thân, các yếu tố nguy cơ UTV của người đến khám.
- Phân loại nguy cơ mắc ung thư vú và tư
vấn lịch sàng lọc cho người đến khám.
2.4.2. Quan sát:
- Người được khám ở tư thế ngồi, hai tay
buông xuôi, quan sát hai vú, so sánh về kích thước và hình dạng vú hai bên.
Những trường hợp kích thước một bên vú mới bị thay đổi nên được xem xét kỹ, bởi
có thể là kết quả của các tổn thương ác tính hoặc lành tính. Các khối u nằm ở
bề mặt có thể gây ra các khối lồi ở rìa vú hoặc co kéo da phía trên.
- Quan sát kỹ da vú xem có phù (sần da
cam), đỏ da, loét chảy dịch vàng hoặc chảy máu. Đỏ da trong ung thư vú thể viêm
thường tổn thương toàn bộ vú và phân biệt với viêm do nhiễm khuẩn là vú không
đau, không nóng.
- Quan sát núm vú bao gồm quan sát sự
đồng tâm, co kéo, loét và các thay đổi về màu da.
- Sau khi quan sát ở tư thế tay buông
xuôi nên yêu cầu người bệnh giơ tay lên để có thể quan sát nửa dưới của vú. Sau
đó để người bệnh chống tay vào hông, tư thế này giúp nổi rõ những vùng bị co
kéo một cách kín đáo mà ở tư thế tay buông xuôi khó phát hiện.
2.4.3. Sở nắn vú, hạch
- Người bệnh ở tư thế ngồi thẳng, tư thế
này giúp phát hiện các tổn thương mà khi khám ở vị trí nằm có thể không rõ (các
tổn thương ở phần gần hố nách của vú). Khi khám vú, một tay đỡ nhẹ nhàng ở
dưới, dùng bốn ngón tay của tay kia để khám. Không nên dùng hai ngón tay để bóp
tuyến vú vì như vậy sẽ có cảm giác có khối u trong vú.
- Sau khi khám ở tư thế thẳng đứng người
bệnh sẽ được khám ở tư thế nằm, tay bên khám nâng quá đầu. Với phụ nữ có vú rất
lớn nên kê một cái gối nhỏ hoặc một cái khăn gấp bên dưới vai của vú cần khám
để nâng tuyến vú lên. Khám vú có thể theo hình đồng tâm hoặc toả theo hình nan
hoa, phải đảm bảo khám toàn bộ vú. Tay di chuyển lên trên đến xương đòn, xuống
dưới đến khe liên sườn thấp, vào giữa đến sát xương ức và sang bên đến đường
nách giữa. Khi khám vú một tay cố định, tay kia dùng để khám, áp lực của bàn
tay thay đổi nhưng không nên quá mạnh gây khó chịu cho người bệnh.
- Nếu một khối u được phát hiện cần xác
định kích thước, vị trí, mật độ, khả năng di động, co kéo da trên u và ghi vào
sổ khám bệnh.
2.4.4. Khám hạch vùng
Gồm khám hạch nách và hạch thượng đòn,
người bệnh ở tư thế ngồi thẳng. Hạch bên phải được khám bằng tay trái của người
thầy thuốc, tay phải của người bệnh gấp và được kê lên. Nách bên trái được khám
tương tự. Khi sở thấy hạch nách cần ghi nhận các đặc điểm về số lượng, kích
thước, mật độ, sự di động, đau hay không đau. Nếu các hạch nhỏ (≤1cm), mềm, di
động (đặc biệt khi có ở cả hai bên) thì hiếm khi có khả năng ác tính. Trái lại,
hạch thượng đòn to có thể sở thấy được là điều không bình thường và nên có các
đánh giá sâu hơn.
3. Chụp X-quang
tuyến vú
Chụp X-quang tuyến vú là biện pháp tốt
nhất, duy nhất được chứng minh làm giảm tử vong trong UTV. Chụp X-quang tuyến
vú có thể phát hiện ung thư từ 1,5 năm đến 4 năm trước khi ung thư trở nên rõ
ràng trên lâm sàng.
3.1. Chỉ định
- Chụp định kỳ 1 năm/lần trong sàng lọc
phát hiện sớm UTV trong những trường hợp sau:
+ Phụ nữ ≥40 tuổi có nguy cơ UTV trung
bình.
+ Bắt đầu 8 năm sau xạ trị nhưng không
trước 25 tuổi ở phụ nữ có tiền sử xạ trị vùng ngực từ 10 đến 30 tuổi.
+ Bắt đầu 10 năm trước khi người trẻ
nhất trong gia đình bị, không trước 30 tuổi hoặc bắt đầu chậm nhất ở tuổi 40
(tùy theo điều kiện nào đến trước) đối với phụ nữ có tiền sử cá nhân hoặc gia
đình mắc UTV hoặc có các nguy cơ về di truyền học (mang gen, hội chứng di
truyền). Ví dụ: một người trong gia đình có nguy cơ về di truyền học hoặc phát
hiện mắc ung thư vú năm 35 tuổi thì những người khác trong gia đình có chỉ định
chụp X-quang tuyến vú sàng lọc từ năm 30 tuổi. Hoặc một người trong gia đình
phát hiện mắc ung thư vú năm 55 tuổi thì những người khác trong gia đình có chỉ
định chụp X-quang tuyến vú sàng lọc bắt đầu từ năm 40 tuổi.
+ Bắt đầu từ khi chẩn đoán ung thư biểu
mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc quá sản không điển hình nhưng không trước 30 tuổi.
- Chụp kiểm tra định kỳ theo dõi tất cả
các tổn thương có thể thấy trên phim.
- Những phụ nữ có dấu hiệu bất thường
tại vú như sở thấy u, tiết dịch bất thường đầu núm vú, tụt núm vú, đau vú, hạch
nách bất thường, các ung thư tại các cơ quan khác nghi di căn từ vú đến…
- Chụp X quang định vị kim dây dẫn hướng
sinh thiết mở chẩn đoán mô bệnh học, chụp kết hợp với chụp ống tuyến sữa cản
quang…
3.2. Chống chỉ định
- Những trường hợp đang có dấu hiệu viêm
tấy, áp xe tuyến vú, vỡ loét.
- Tuần đầu sau phẫu thuật tại vú, sau
sinh thiết tại vú.
- Lưu ý: các trường hợp có đặt túi ngực
cần chụp theo kỹ thuật Eklund.
3.3. Chuẩn bị
- Người thực hiện: kỹ thuật viên X-quang
được đào tạo về chụp X-quang tuyến vú.
- Phương tiện: máy chụp X-quang tuyến
vú.
- Người bệnh: phụ nữ trong tuần đầu sau
sạch kinh, cởi áo bộc lộ nửa trên cơ thể.
3.4. Tiến hành
- Người bệnh đứng hoặc ngồi trước máy,
kỹ thuật viên đặt ngực lên tấm đỡ.
- Nén nhẹ vú bằng tấm ép nhựa để dàn đều
mô vú, giảm liều tia X, tăng chất lượng hình ảnh.
- Mỗi bên vú chụp ở 2 tư thế CC (cranio
caudal- từ trên xuống) và MLO (mediolateral oblique- chếch trong ngoài).
- Kiểm tra hình ảnh chụp và lưu trữ hoặc
in ảnh ra.
- Chuyển ảnh cho bác sĩ chẩn đoán hình
ảnh để đọc phim.

Chụp X-quang
tuyến vú
Chụp X-quang tuyến vú ở
phụ nữ đặt túi ngực
Kỹ thuật Eklund nên được tiến hành ở tất
cả phụ nữ có túi ngực. Nhân viên chẩn đoán hình ảnh cần được đào tạo và huấn
luyện về kỹ thuật Eklund.
Cần thực hiện theo các bước sau để loại
bỏ túi ngực ra khỏi mô vú trước khi chụp:

A: Kéo mô vú ra xa khỏi túi ngực (người
được chụp có thể đổ người về phía trước)
B: Đẩy túi ngực về sau và ép thêm tấm
nén
C. Khi túi ngực được tách hoàn toàn khỏi
mô vú, ép tối đa tấm nén để quan sát được nhiều mô vú.
3.5. Phân loại kết quả
Phân loại kết quả chụp X-quang tuyến vú
theo BI-RADS (Breast Imaging Reporting and Data System). Những bất thường khi
chụp X-quang tuyến vú bao gồm: khối, vôi hóa, không đối xứng, biến dạng cấu
trúc.
3.5.1. Đánh giá chưa
hoàn tất:
BI-RADS 0: Cần đánh giá thêm bằng chẩn
đoán hình ảnh khác và/hoặc cần so sánh với chụp X-quang tuyến vú các lần trước.
3.5.2. Đánh giá hoàn
tất:
BI-RADS 1: Bình thường, tiếp tục kiểm
tra định kỳ.
BI-RADS 2: Phát hiện tổn thương lành
tính (không phải ung thư), nhưng vẫn cần theo dõi định kỳ.
BI-RADS 3: Khả năng lành tính cao. Nguy
cơ ung thư thấp (<2%), nhưng cần siêu âm hoặc chụp X-quang tuyến vú lại
trong vòng 6 tháng tới để theo dõi.
BI-RADS 4: Có yếu tố nghi ngờ ác tính.
Cần sinh thiết để xác định chính xác. Mức độ này có thể được chia thành 4A
(nguy cơ thấp), 4B (trung bình), 4C (cao).
BI-RADS 5: Có nguy cơ cao là ung thư.
Cần phải sinh thiết để xác nhận.
BI-RADS 6: Đã được chẩn đoán ung thư vú
xác định.
Với những phụ nữ có mô vú đặc BI-RADS C/D
khả năng phát hiện tổn thương trên X-quang kém, do đó cần chỉ định siêu âm phối
hợp trong sàng lọc phát hiện sớm UTV.
3.6. Hạn chế của chụp
X-quang tuyến vú
- Chỉ áp dụng được ở các cơ sở y tế có
máy chụp X-quang vú.
- Khó đánh giá tổn thương đối với tuyến
vú có nhu mô đặc.
- Khó đánh giá tổn thương ở vùng sát
thành ngực.
- Khó đánh giá ở bệnh nhân đặt túi ngực.
- Có tia bức xạ ion hoá.
- Khó phân biệt tổn thương lành và ác
tính, cần phối hợp thêm với siêu âm/MRI hoặc sinh thiết.
- Phụ thuộc vào chất lượng hình ảnh,
năng lực của người chụp, người đọc.
4. Siêu âm
tuyến vú
Siêu âm tuyến vú không nên là phương
pháp đơn độc trong sàng lọc ung thư vú. Đây là phương tiện quan trọng khi kết
hợp với chụp X-quang tuyến vú. Việc siêu âm bổ sung đã làm tăng độ nhạy và làm
giảm độ đặc hiệu trong phát hiện ung thư vú. Ở những phụ nữ có mật độ vú đặc
(được đánh giá bằng chụp X- quang tuyến vú), siêu âm vú cần được chỉ định khi
sàng lọc do có thể phát hiện ung thư vú giai đoạn đầu mà chụp X-quang tuyến vú
không thấy tổn thương. Không giống như chụp X-quang tuyến vú và cộng hưởng từ,
siêu âm cần ít tài nguyên và cơ sở hạ tầng hơn, giúp dễ tiếp cận hơn, đặc biệt
là ở các vùng nông thôn. Bản chất không có bức xạ của siêu âm cũng đảm bảo an
toàn trong quá trình sàng lọc lặp đi lặp lại, rất quan trọng với dân số trẻ
tuổi.
4.1. Chỉ định
- Kết hợp với X-quang vú để đánh giá các
tổn thương u vú sở thấy trên lâm sàng.
- Đánh giá hình thái, cấu trúc để chẩn
đoán phân biệt u nang với u đặc.
- Người bệnh có mật độ tuyến vú đặc, phụ
nữ chưa có gia đình, chưa có con, nuôi con không cho bú...,
- Các trường hợp có đặt túi ngực, hạn
chế chẩn đoán trên phim chụp X-quang.
- Những trường hợp có dấu hiệu viêm, đau
vú, vỡ loét, áp xe.
- Chảy dịch đầu vú (cần kết hợp với chụp
X-quang vú và chụp ống tuyến sữa cản quang).
- Chỉ định tầm soát định kỳ ưu tiên cho
phụ nữ nguy cơ cao dưới 30 tuổi
- Siêu âm kiểm tra định kỳ theo dõi tổn
thương.
- Hướng dẫn can thiệp chẩn đoán (chọc
hút tế bào kim nhỏ, sinh thiết kim lõi…).
4.2. Chống chỉ định
Không có.
4.3. Các tổn thương
phát hiện trên siêu âm
Một số phát hiện có thể thấy trên siêu
âm như u nang, u xơ tuyến, u mỡ, hạch, các u lành khác.
- Nang tuyến vú là tổn thương thường
thấy trên siêu âm với kích thước và hình dạng khác nhau, thường là lành tính.
- U xơ tuyến hoặc các khối u đặc khác
đôi khi cần được đánh giá sâu hơn để loại trừ ác tính.
- U mỡ thường là lành tính, khối u có bờ
rõ, giảm âm. U mỡ không cần đánh giá sâu thêm trừ khi có triệu chứng hoặc gây
khó chịu.
Siêu âm cũng có thể tình cờ phát hiện
hạch và cần đánh giá thêm để loại trừ ung thư. Tuy nhiên hạch sưng lên cũng có
thể là kết quả của viêm nhiễm.
Tùy vào đặc điểm các tổn thương phát
hiện được và khai thác bệnh sử, lâm sàng, các yếu tố nguy cơ để phối hợp thêm
biện pháp đánh giá khác như chụp X- quang, chụp cộng hưởng từ, sinh thiết. Các
tổn thương thấy được trên siêu âm vú cũng được phân loại BI-RADS như trong chụp
X-quang tuyến vú.

Tổn thương vú được phát hiện bằng siêu
âm, biểu hiện một nốt đặc không đồng nhất, giảm âm, bờ tua gai và không rõ
ràng.
4.4. Hạn chế của siêu
âm vú
- Phụ thuộc vào người thực hiện.
- Hạn chế đánh giá tổn thương sát thành
ngực.
- Khó phát hiện vi vôi hoá nhỏ.
- Không đánh giá tốt được tổn thương lan
rộng, đa ổ.
5. Chụp cộng hưởng từ
tuyến vú
Trong sàng lọc phát hiện sớm UTV, chụp
cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú có độ nhạy cao hơn chụp X-quang tuyến vú. Tuy
nhiên, độ đặc hiệu của MRI thường thấp hơn, cho các kết quả dương tính giả dẫn
đến sinh thiết không cần thiết và có thể chẩn đoán quá mức. Chụp MRI vú có giá
trị sàng lọc đối với nhóm có nguy cơ cao mắc ung thư vú.
5.1. Chỉ định
- Khuyến cáo nên chụp MRI tuyến vú có
hoặc không có thuốc đối quang từ hàng năm kết hợp với X-quang tuyến vú cho các
phụ nữ có nguy cơ cao:
+ Bắt đầu 8 năm sau xạ trị nhưng không
trước 25 tuổi ở phụ nữ có tiền sử xạ trị vùng ngực từ 10 đến 30 tuổi.
+ Người mang đột biến gen BRCA1/2, bắt
đầu 10 năm trước khi người trẻ nhất trong gia đình bị, không trước 25 tuổi hoặc
bắt đầu chậm nhất ở tuổi 40 (tùy theo điều kiện nào đến trước). Ví dụ: Một
người mang đột biến gen BRCA1/2, có người trẻ nhất trong gia đình mắc ung thư
vú năm 30 tuổi thì chỉ định MRI tuyến vú trong sàng lọc từ 25 tuổi. Hoặc một
người mang đột biến gen BRCA1/2, có người trẻ nhất trong gia đình mắc ung thư
vú năm 55 tuổi thì chỉ định MRI tuyến vú trong sàng lọc từ 40 tuổi.
+ Bắt đầu từ khi chẩn đoán ung thư biểu
mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc quá sản không điển hình nhưng không trước 30 tuổi.
- Bệnh nhân từ 40 tuổi không chụp được
X-quang tuyến vú hoặc bị hạn chế đánh giá trên X-quang vú như mật độ tuyến vú
đặc, có đặt túi ngực làm hạn chế chẩn đoán trên X-quang vú.
- Khi có tổn thương nghi ngờ nhưng khó
xác định trên X-quang và siêu âm vú.
5.2. Chống chỉ định
- Có cấy thiết bị kim loại không tương
thích với MRI như máy tạo nhịp tim, van tim nhân tạo, máy khử rung tim, clip
nội sọ kim loại, mảnh đạn, dị vật kim loại…
- Người suy thận nặng (khi chụp MRI có
tiêm thuốc đối quang từ).
- Dị ứng với thuốc đối quang từ.
- Phụ nữ có thai (vì thuốc qua hàng rào
rau thai) nhưng vẫn có thể chỉ định chụp MRI nếu không tiêm thuốc.
- Người bị hội chứng sợ không gian kín,
người không nằm yên lâu/không hợp tác.
5.3. Các tổn thương
trên MRI vú
Các tổn thương thấy được trên MRI vú
cũng được phân loại BI-RADS như trong chụp X-quang tuyến vú.
5.4. Hạn chế của MRI vú
- Giá thành cao, khó thực hiện ở cấp
khám chữa bệnh ban đầu hoặc cơ bản.
- Độ nhạy cao, đặc hiệu thấp dẫn đến
những can thiệp quá mức.
- Không phát hiện tốt vi vôi hoá bằng
X-quang vú.
- Cần tiêm thuốc đối quang từ.
- Một số người có chống chỉ định với
MRI.
- Thời gian chụp dài, tư thế chụp không
thoải mái.
IV. LỊCH SÀNG LỌC
1. Phụ nữ nguy cơ trung bình
- Từ 25 đến 39 tuổi: Tự khám vú hàng
tháng và khám lâm sàng 1-3 năm/lần.
- Từ 40 -70 tuổi: Sàng lọc 1 năm/lần gồm
khám lâm sàng, chụp X-quang tuyến vú, kết hợp siêu âm với phụ nữ có mô vú đặc.
- Trên 70 tuổi: dừng sàng lọc khi tuổi
thọ kỳ vọng dưới 10 năm hoặc phụ nữ mắc các vấn đề về sức khoẻ không thể thực
hiện được các biện pháp điều trị ung thư vú.
2. Phụ nữ nguy cơ cao
Bắt đầu sàng lọc từ 25 tuổi với lịch
sàng lọc 1 năm/lần, khám lâm sàng, chụp X-quang vú, có thể chụp cộng hưởng từ
vú (xem chi tiết tại Sơ đồ 1).
V. HƯỚNG XỬ TRÍ CÁC
TÌNH HUỐNG KHI SÀNG LỌC
Sơ đồ 1: Đánh giá ban đầu, xếp loại nguy
cơ và lịch sàng lọc cho từng đối tượng

Sơ đồ 2: Khám lâm sàng
thấy u, tuổi ≥ 30

*: Các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ bao
gồm u mật độ chắc, ranh giới không rõ, nhiều thuỳ múi, co kéo da xung quanh, co
kéo tụt núm vú, u xâm lấn da, u vỡ loét chảy dịch; hạch nách to, chắc, di động
hạn chế; chảy dịch máu đầu vú,..
Sơ đồ 3: Khám lâm sàng
thấy u, cục hoặc khối, tuổi < 30

Sơ đồ 4: Khám lâm sàng
thấy núm vú tụt, không sở thấy khối u

Sơ đồ 5: Khám lâm sàng
thấy chảy dịch đầu vú, không có khối u

Sơ đồ 6: Khám lâm sàng
thấy thay đổi da: sần da cam, đỏ da, trầy da núm vú, tróc vảy, dạng chàm
(eczema)

Ghi chú:
1 Nếu lâm sàng
ít nghĩ đến UTV và nghĩ nhiều đến nhiễm trùng, có thể điều trị kháng sinh 7-10
ngày theo hướng viêm tuyến vú, sau đó khám lại sớm đánh giá đáp ứng. Nếu lâm
sàng ít nghĩ đến bệnh Paget hoặc nghi ngờ bệnh chàm, có thể điều trị thử bằng
corticoid, sau đó khám lại sau 1-4 tuần đánh giá đáp ứng.
2 Ung thư vú thể
viêm là một chẩn đoán lâm sàng và không phụ thuộc vào kết quả sinh thiết dương
tính.
3 Sinh thiết da
lành tính ở bệnh nhân nghi ngờ UTV thể viêm không thể loại trừ ác tính, nên
đánh giá thêm.
Sơ đồ 7: Đau vú

Sơ đồ 8: Khối ở nách

Ghi chú:
1 Chụp X-quang
vú được khuyến cáo khi ≥30 tuổi, <30 tuổi chụp X-quang khi siêu âm có nghi
ngờ.
2 Nếu nghi ngờ u
lympho, mẫu mô có thể cần xử lý đặc biệt và /hoặc phẫu thuật cắt u.
Sơ đồ 9: Khi nam giới
có các triệu chứng ở vú

Sơ đồ 10: Xử trí khi
sinh thiết vú

Sơ đồ 11: Xử trí sau
khi chọc hút dịch khối u (đối với trường hợp BIRADS 2 và lâm sàng nghi ngờ)

Sơ đồ 12: Xử trí kết
quả hình ảnh (X-quang vú và / hoặc siêu âm vú) ở bệnh nhân đau vú

Sơ đồ 13: Sàng lọc trên
phụ nữ có thai và cho con bú

Lưu ý:
1 X-quang không
có chống chỉ định khi mang thai do liều bức xạ ion nhận được khi chụp X-quang
vú thấp hơn nhiều lần so với ngưỡng gây quái thai ở thai nhi. Nhưng do tỷ lệ mắc
UTV liên quan đến thai kỳ thấp và độ nhạy, độ đặc hiệu của X- quang trong thai
kỳ thấp nên có thể trì hoãn trong thời gian ngắn đến sau khi mang thai.
2 Chụp MRI vú có
tiêm chất đối quang từ không được khuyến cáo ở phụ nữ đang mang thai do thuốc
đi qua rau thai.
3 MRI vú có tiêm
chất đối quang từ được khuyến cáo chụp ở phụ nữ đang cho con bú vì thuốc rất ít
bài tiết qua sữa mẹ.
* Siêu âm đơn thuần không phải là phương
pháp sàng lọc UTV có thể thay thế được X-quang vú.
VI. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ
VÚ
Chẩn đoán ung thư vú dựa vào các phương
pháp sau:
1. Lâm sàng
Dựa vào đặc điểm khối u khi khám lâm
sàng. Các triệu chứng, dấu hiệu nghi ngờ ác tính bao gồm u mật độ chắc, ranh
giới không rõ, nhiều thuỳ múi, co kéo da xung quanh, co kéo tụt núm vú, u xâm
lấn da, u vỡ loét chảy dịch; hạch nách to, chắc, di động hạn chế; chảy dịch máu
đầu vú,...
2. Chẩn đoán hình ảnh tuyến vú
Dựa vào chụp X- quang tuyến vú, siêu âm,
MRI tuyến vú. Các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên chẩn đoán hình ảnh bao gồm:
tổn thương khối bờ không đều, tua gai, hình dạng bất đối xứng, vi vôi hoá,
không đồng nhất, mô tuyến bị kéo lệch, thâm nhiễm mô xung quanh, xâm lấn da, cơ
ngực, quầng vú, co kéo núm vú, hạch bất thường (vỏ dày không đều, mất cấu trúc
mỡ rốn hạch),…
3. Mô bệnh học
- Chẩn đoán xác định ung thư vú khi có
sự hiện diện của các tế bào ác tính trong xét nghiệm mô bệnh học từ bệnh phẩm
sinh thiết.
- Sinh thiết u vú có thể bằng một trong
các phương pháp như sinh thiết kim lõi, sinh thiết kim có hỗ trợ hút chân
không, sinh thiết định vị kim dây hoặc sinh thiết mở. Việc sinh thiết không những
chẩn đoán xác định thể mô bệnh học trong UTV, mà còn đánh giá được độ mô học,
tình trạng thụ thể nội tiết, HER2 và Ki67. Có thể tiếp cận vùng cần sinh thiết
bằng cách sở nắn hoặc dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, X-quang,
MRI, chụp cắt lớp vi tính). Loại chẩn đoán hình ảnh được sử dụng để hướng dẫn
sinh thiết phụ thuộc vào loại phương tiện nào có thể quan sát tốt nhất khu vực
bất thường, cũng như thoải mái nhất cho bệnh nhân.
4. Các biện pháp đánh giá giai đoạn
- Siêu âm ổ bụng: phát hiện di căn gan,
hạch ổ bụng.
- X-quang phổi: phát hiện di căn phổi.
- Siêu âm cổ: phát hiện di căn hạch cổ.
- Cắt lớp vi tính: Có thể chụp cắt lớp
vi tính ngực, bụng, chậu khi khó phân biệt các tổn thương lành tính và thứ phát
trên chụp X-quang và siêu âm.
- Xạ hình xương: chỉ định khi có nghi
ngờ di căn xương.
- MRI não: chỉ định khi có nghi ngờ di
căn não
- PET/CT: khảo sát toàn bộ cơ thể để
phát hiện di căn xa.
PHỤ
LỤC
Bảng đánh giá nguy cơ ung thư vú - Mô hình Gail 1989
- Công thức tính nguy cơ ung thư vú:
Nguy cơ tương đối (Relative
Risk)
= Tuổi bắt đầu hành kinh × Số lần sinh thiết × Tuổi sinh con đầu tiên và số
người thân mắc ung thư vú × Kết quả sinh thiết.
Nguy cơ trong 5 năm (Five Year
Risk)
= Nguy cơ tương đối × Tuổi và chủng tộc.
- Các biến số có giá trị như sau:
|
Mô hình Gail dự đoán
nguy cơ ung thư vú
|
Giá trị
|
|
Tuổi bắt đầu hành
kinh
|
1.0 (≥ 14 tuổi);
1.1 (12-13 tuổi);
1.21 (<12 tuổi).
|
|
Số lần sinh thiết
|
Nếu dưới 50 tuổi:
1.0 (Không sinh thiết);
1.7 (1 lần sinh thiết);
2.88 (≥ 2 lần sinh thiết).
|
|
Nếu ≥50 tuổi:
1.0 (không sinh thiết);
1.27 (1 lần sinh thiết);
1.62 (≥ 2 lần sinh thiết).
|
|
Tăng sinh không điển
hình
|
1.0 (Không sinh thiết);
0.93 (Không phát hiện tăng sinh không
điển hình ở mẫu sinh thiết nào);
1.0 (không phát hiện tăng sản dị
thường và tình trạng tăng sản không xác định đối với ít nhất một mẫu sinh
thiết);
1.82 (Có tăng sinh không điển hình ở
ít nhất 1 mẫu sinh thiết)
|
|
Tuổi và chủng tộc
|
Tuổi
|
Chủng tộc: Da
đen
|
Chủng tộc: Da
trắng
|
|
20-24
|
0.014
|
0.012
|
|
25-29
|
0.050
|
0.049
|
|
30-34
|
0.120
|
0.134
|
|
35-39
|
0.224
|
0.278
|
|
40-44
|
0.310
|
0.450
|
|
45-49
|
0.355
|
0.584
|
|
50-54
|
0.416
|
0.703
|
|
55-59
|
0.511
|
0.859
|
|
60-64
|
0.562
|
1.018
|
|
65-69
|
0.586
|
1.116
|
|
70-74
|
0.646
|
1.157
|
|
75-79
|
0.713
|
1.140
|
|
80-84
|
0.659
|
1.006
|
|
Tuổi sinh con đầu
tiên và số người thân mắc ung thư vú
|
Có mẹ, con
gái hoặc chị/em gái bị ung thư vú
|
|
Sinh con đầu
tiên
|
Không
|
Một
|
≥1
|
|
Không sinh
con
|
1.55
|
2.76
|
4.91
|
|
<20 tuổi
|
1.00
|
2.61
|
6.80
|
|
20-24 tuổi
|
1.24
|
2.68
|
5.78
|
|
25-29 tuổi
|
1.55
|
2.76
|
4.91
|
|
≥30 tuổi
|
1.93
|
2.83
|
4.17
|
|
|
|
|
|
|
- Nguy cơ cao mắc ung thư vú được xác
định khi: nguy cơ phát triển ung thư vú trong 5 năm vượt quá 1,7%.
- Mô hình Gail 1989 được sử dụng để tính
toán nguy cơ cho các đối tượng:
+ Phụ nữ từ 20 - 84 tuổi,
+ Không có tiền sử ung thư vú, ung thư
biểu mô tuyến vú tại chỗ (DCIS) hoặc ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS),
+ Không mang đột biến gen BRCA1, BRCA2.
Ví dụ: Người phụ nữ 40 tuổi, da trắng,
bắt đầu hành kinh 14 tuổi, sinh con lần đầu 29 tuổi, gia đình không có người
thân ung thư vú, có sinh thiết 1 lần không phát hiện bất thường.
Nguy cơ tương đối = 1 x 1,7 x 0,93 x
1,55 = 2,45
Nguy cơ 5 năm = 0,45 x 2,45 = 1,1
- Sử dụng bảng trên để tính toán nguy cơ
ung thư vú hoặc vào đường link dưới đây, điền các chỉ số để phần mềm tự động
tính toán nguy cơ ung thư vú:
https://www.mdapp.co/gail-model-for-breast-cancer-risk-calculator-576/
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Tình hình bệnh ung thư tại Việt Nam
theo GLOBOCAN 2022 [internet]. Available from: https://nci.vn/tin-tuc/tinh-hinh-benh-ung-thu-tai-viet-nam-theo-globocan-2022-58.
2. The Global Cancer Observatory [internet].
Globocan 2022 (version 1.1); 08.02.2024 Available from: https://gco.iarc.who.int/media/globocan/factsheets/populations/704-viet-nam-fact-
sheet.pdf.
3. NCCN Guidelines Version 2.2025.
Breast Cancer Screening and Diagnosis.
4. Stanley P L Leong, et al, Is breast
cancer the same disease in Asian and Western countries?, World J Surg, 2010,
Oct;34(10):2308-24.doi: 10.1007/s00268-010-0683-1.
5. Nguyễn Thị Mai Lan, 2020, Nghiên cứu
tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2014-2016, Luận án tiến sỹ y
học.
6. Bùi Diệu và CS, Xu hướng bệnh unh thư
vú ở Việt Nam đến năm 2020, Tạp chí Y học Việt Nam. Tháng 5- số 1/2012.
7. Nguyễn Thị Ngân, 2020, Thực trạng và
xu hướng mắc bệnh ung thư vú phụ nữ tại Hà Nội trong 5 năm 2010-2014, Luận văn
thạc sỹ y tế công cộng.
8. NCCN verson 2. 2025. Genetic/Familial
High-Risk Assessment: Breast, Ovarian, Pancreatic, and Prostate.
9. Breast Cancer Risk Reduction. NCCN
verson 1. 2025. Saslow D, Boetes C, Burke W, et al. American Cancer Society
guidelines for breast screening with MRI as an adjunct to mammography. CA
Cancer J Clin 2007; 57:75.
10. O'Flynn EA, Ledger AE, deSouza NM.
Alternative screening for dense breasts: MRI. AJR Am J Roentgenol 2015;
204:W141.
11. Iacob R, Iacob ER, Stoicescu ER,
Ghenciu DM, Cocolea DM, Constantinescu A, Ghenciu LA, Manolescu DL. Evaluating
the Role of Breast Ultrasound in Early Detection of Breast Cancer in Low- and
Middle-Income Countries: A Comprehensive Narrative Review. Bioengineering.
2024; 11(3):262.
12. Joshi, P.; Sharma, R. Benign Lesions
on Screening Mammography: Increasing Diagnostic Confidence in a Hitherto Unscreened
Population. J. Clin. Diagn. Res. 2017, 11, TC14-TC17.
13. Masciadri, N.; Ferranti, C. Benign breast
lesions: Ultrasound. J. Ultrasound 2011, 14, 55-65.
14. Jemal A, Thomas A, Murray T, et al,
2002, CA Cancer J Clin. 2002; 52:23-47.
15. Ries L, Eisner M, Kosary C, et cal.
SEER Cancer Statistics Review, 1973-1999. Bathesda, MD: National Cancer Institute;
2002.
16. American Cancer Society
Recommendations for the Early Detection of Breast Cancer, cancer.org |
1.800.227.2345.
17. Oeffinger KC, Fontham ET, Etzioni R,
et al. Breast cancer screening for women at average risk: 2015 guideline update
From the American Cancer Society. JAMA. 2015;314(15):1599-1614.
18. Lowry KP, Coley RY, Miglioretti DL,
et al. Screening performance of digital breast tomosynthesis vs digital
mammography in community practice by patient age, screening round, and breast
density. JAMA Netw Open. 2020;3(7):e2011792.
19. Hendrick RE. Radiation doses and cancer
risks from breast imaging studies. Radiology. 2010;257(1):246-253.
20. Rose SL, Tidwell AL, Bujnoch LJ, et
al. Implementation of breast tomosynthesis in a routine screening practice: An
observational study. AJR Am J Roentgenol. 2013;200(6):1401-1408.
21. Rosenberg RD, Hunt WC, Williamson
MR, et al. Effects of age, breast density, ethnicity, and estrogen replacement
therapy on screening mammographic sensitivity and cancer stage at diagnosis:
Review of 183,134 screening mammograms in Albuquerque, New Mexico. Radiology
1998;209:511-518.
22. Venkataraman S, Slanetz PJ, Lee CI. Breast
imaging for cancer screening: Mammography and ultrasonography. UpToDate. 2024. Accessed
at https://www.uptodate.com/contents/breast-imaging-for-cancer- screeningmammography-and-ultrasonography
on September 29, 2024.
23. Venkataraman S, Slanetz PJ, Lee CI. Breast
imaging for cancer screening: Mammography and ultrasonography. UpToDate. 2024. Accessed
at https://www.uptodate.com/contents/breast-imaging-for-cancer- screeningmammography-and-ultrasonography
on September 30, 2024.
24. Lee CI, Chen LE, Elmore JG.
Risk-based breast cancer screening - Implications of breast density. Medical
Clinics of North America. 2017;101(4):725-741.
25. Kerlikowske K, Ichikawa L,
Miglioretti DL, et al. Longitudinal measurement of clinical mammographic breast
density to improve estimation of breast cancer risk. J Natl Cancer Inst.
2007;99(5):386-395.
26. PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu và CS. Ung
thư học, 2015, Nhà xuất bản Y học, tr 41-49.
27. Bộ Y tế. Tài liệu bổ sung hướng dẫn
hoạt động dự phòng, sàng lọc phát hiện sớm và quản lý ung thư vú, ung thư cổ tử
cung tại cộng đồng thuộc Đề án 818 đến năm 2030. Quyết định số 1639/QĐ-BYT ngày 19/3/2021 của Bộ Y tế.
28. Endogenous Hormones and Breast
Cancer Collaborative Group. Sex hormones and risk of breast cancer in
premenopausal women: a collaborative reanalysis of individual participant data from
seven prospective studies. Lancet Oncol. 14(10):1009-19, 2013.
29. Zhang X, Tworoger SS, Eliassen AH,
Hankinson SE. Postmenopausal plasma sex hormone levels and breast cancer risk
over 20 years of follow-up. Breast Cancer Res Treat. 137(3):883-92, 2013.
30. Gail Model for Breast Cancer Risk
[internet]. https://www.mdcalc.com/calc/3647/gail-model-breast-cancer-risk#pearls-pitfalls.