|
BỘ KHOA HỌC
VÀ
CÔNG NGHỆ
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 4484/QĐ-BKHCN
|
Hà Nội, ngày
28 tháng 12 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN LUẬT NĂNG LƯỢNG
NGUYÊN TỬ SỐ 94/2025/QH15
BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Căn cứ Luật Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15 ngày
27 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2025 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học
và Công nghệ;
Căn cứ Quyết định số 2663/QĐ-TTg ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật
Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15;
Theo đề nghị của Cục trưởng
Cục An toàn bức xạ và hạt nhân và Vụ trưởng Vụ Pháp chế.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Tài liệu hướng dẫn Luật Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Chánh
Văn phòng, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Vụ trưởng Vụ Pháp chế và
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng (để biết);
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Sở KHCN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Cổng Thông tin điện tử của Bộ (để đưa tin);
- Lưu: VT, ATBXHN.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Lê Xuân Định
|
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
LUẬT NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
(LUẬT SỐ 94/2025/QH15)
(Tài liệu tham khảo)
I. Lời
nói đầu
Tài liệu này được biên soạn
nhằm hỗ trợ các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhanh chóng nắm bắt tinh thần, mục
tiêu điều chỉnh và những định hướng chính sách cốt lõi của Luật Năng lượng nguyên tử năm 2025 (Luật số 94/2025/QH15) được Quốc hội khóa XV thông qua
tại Kỳ họp thứ 9 ngày 27 tháng 6 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2026 và thay thế cho Luật Năng lượng
nguyên tử năm 2008. Trong quá trình nghiên cứu, khai thác và sử dụng tài liệu
này để phục vụ công tác chuyên môn, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối
chiếu, tham chiếu với văn bản Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn
thi hành để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và thống nhất trong áp dụng pháp luật.
1. Mục đích biên soạn
a) Làm rõ các quy định của Luật Năng lượng nguyên tử 2025: giải thích, diễn
giải một số nội dung, thuật ngữ chuyên môn, điểm mới và nội dung sửa đổi, bổ
sung so với Luật Năng lượng nguyên tử năm
2008.
b) Hướng dẫn tổ chức thực hiện
các quy định của Luật đối với từng nhóm đối tượng liên quan, góp phần nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử.
c) Tạo sự thống nhất trong
nhận thức và áp dụng pháp luật; hỗ trợ công tác tuyên truyền, phổ biến và tập
huấn thi hành Luật.
2. Phạm vi áp dụng
Tài liệu này được sử dụng để
hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương và địa phương; các doanh nghiệp,
tổ chức và các cá nhân có hoạt động liên quan đến phát triển, ứng dụng năng lượng
nguyên tử; bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; thanh
sát hạt nhân; quản lý chất thải phóng xạ và ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt
nhân tại Việt Nam; đồng thời phục vụ cho hoạt động phổ biến, tuyên truyền và hướng
dẫn thực thi pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc nhiệm vụ chuyên môn
có liên quan.
3. Cách sử dụng tài liệu
Các cơ quan quản lý, các tổ
chức, cá nhân có liên quan nghiên cứu tài liệu hướng dẫn để tổ chức triển khai
thực hiện theo quy định. Tài liệu chỉ mang tính tham khảo, giúp hiểu nhanh nội
dung chính của quy định. Khi áp dụng vào thực tế, cần đối chiếu với Luật Năng lượng nguyên tử năm 2025 để bảo đảm
chính xác. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc, đề nghị liên hệ về Bộ Khoa học và
Công nghệ (Cục An toàn bức xạ và hạt nhân) để phối hợp thực hiện.
II. Các
thuật ngữ và định nghĩa quan trọng
1. An toàn bức xạ là
việc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn nguồn bức xạ, chống lại tác hại của bức
xạ, ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả của chiếu xạ đối với con người, môi
trường.
2. An toàn hạt nhân là
việc thực hiện biện pháp bảo đảm tuân thủ điều kiện vận hành, ngăn ngừa sự cố
hoặc giảm thiểu hậu quả sự cố do thiết bị hạt nhân, vật liệu hạt nhân gây ra
cho con người, môi trường.
3. An ninh hạt nhân là
việc phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi trộm cắp, phá hoại, xâm nhập
trái phép, vận chuyển và chuyển giao bất hợp pháp hoặc hành vi gây nguy hại
khác liên quan đến nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân hoặc
cơ sở quản lý, sử dụng, vận hành chúng.
4. An ninh nguồn phóng xạ
là việc thực hiện biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi trộm
cắp, phá hoại, tiếp cận, vận chuyển và chuyển giao bất hợp pháp hoặc hành vi
gây nguy hại khác liên quan đến nguồn phóng xạ.
5. Bức xạ ion hóa (sau
đây gọi là bức xạ) là chùm hạt hoặc sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất.
6. Chiếu xạ là sự tác
động của bức xạ vào con người, môi trường, động vật, thực vật hoặc đối tượng vật
chất khác.
7. Chất phóng xạ là
chất phát ra bức xạ do quá trình phân rã phóng xạ của hạt nhân nguyên tử và có
nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ lớn hơn mức thanh lý theo quy định
của pháp luật.
8. Chất thải phóng xạ là
chất thải chứa chất phóng xạ hoặc vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ phải thải bỏ.
9. Chu trình nhiên liệu hạt
nhân là các hoạt động liên quan đến việc tạo ra năng lượng hạt nhân, bao gồm:
khai thác, chế biến quặng urani hoặc thori; làm giàu urani; chế tạo nhiên liệu
hạt nhân; sử dụng nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân; tái chế nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng đến hoạt động xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ,
nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng sinh ra từ việc tạo ra năng lượng hạt nhân
và hoạt động nghiên cứu, phát triển có liên quan.
10. Hoạt độ phóng xạ là
đại lượng biểu thị số lượng hạt nhân phân rã phóng xạ trong một đơn vị thời
gian.
11. Kiểm xạ là việc
đo liều, suất liều chiếu xạ hoặc nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ,
mức nhiễm bẩn phóng xạ ở một khu vực và môi trường xung quanh để đánh giá hoặc
kiểm soát mức độ chiếu xạ và luận giải kết quả đo.
12. Liều chiếu xạ là
một đại lượng đo năng lượng bức xạ được truyền vào và hấp thụ bởi một vật thể
hoặc mô sống.
13. Lò phản ứng hạt nhân là
hệ thống được thiết kế, chế tạo để tạo ra phản ứng phân hạch dây chuyền tự duy
trì, có kiểm soát.
14. Lò phản ứng hạt nhân
nghiên cứu là lò phản ứng hạt nhân để tạo ra nơtron, bức xạ khác sử dụng
cho mục đích nghiên cứu, phát triển, ứng dụng bức xạ, giáo dục và đào tạo.
15. Nhà máy điện hạt nhân
là nhà máy điện sử dụng một hoặc nhiều lò phản ứng hạt nhân để chuyển đổi
năng lượng hạt nhân thành năng lượng điện.
16. Nhiên liệu hạt nhân là
vật liệu hạt nhân được chế tạo làm nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân.
17. Nhiên liệu hạt nhân
đã qua sử dụng là nhiên liệu đã được chiếu xạ và được di dời vĩnh viễn khỏi
vùng hoạt lò phản ứng.
18. Thiết bị bức xạ là
thiết bị phát ra bức xạ hoặc có khả năng phát ra bức xạ, được sử dụng cho mục
đích nhất định.
19. Thiết bị hạt nhân là
lò phản ứng hạt nhân, thiết bị chuyển hóa, làm giàu urani, thiết bị chế tạo
nhiên liệu hạt nhân hoặc thiết bị xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
20. Văn hóa an toàn là
hệ thống chuẩn mực, quy tắc và hành vi được hình thành và phát triển của tổ chức,
cá nhân nhằm bảo đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân luôn được đặt lên hàng
đầu.
21. Văn hóa an ninh là
hệ thống chuẩn mực, quy tắc và hành vi được hình thành và phát triển của tổ chức,
cá nhân nhằm bảo vệ vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân, cơ sở hạt nhân và
thông tin liên quan khỏi các mối đe dọa về an ninh.
22. Vật liệu hạt nhân là
plutoni, trừ loại có hàm lượng đồng vị plutoni-238 trên 80%; urani-233; urani
giàu đồng vị 235 hoặc 233; urani chứa hỗn hợp các đồng vị có tỷ lệ như urani tự
nhiên nhưng không phải loại urani ở dạng quặng hoặc bã quặng; bất kỳ vật liệu
nào chứa một hay nhiều loại kể trên.
23. Vật liệu hạt nhân nguồn
là một trong các vật liệu sau đây: urani, thori dưới dạng quặng hoặc đuôi
quặng; urani chứa thành phần đồng vị urani-235 ít hơn urani tự nhiên; quặng chứa
thori, urani bằng hoặc lớn hơn 0,05% tính theo trọng lượng; hợp chất của thori
và urani khác chưa đủ hàm lượng để được xác định là vật liệu hạt nhân.
24. Vật liệu phóng xạ là
chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, chất thải phóng xạ.
25. Vật thể bị nhiễm bẩn
phóng xạ là vật thể có chất phóng xạ bám trên bề mặt hoặc trong thành phần
của nó một cách không mong muốn có nồng độ hoạt độ phóng xạ hoặc tổng hoạt độ
phóng xạ lớn hơn mức thanh lý theo quy định của pháp luật.
III. Nội
dung chính
Luật Năng lượng nguyên tử năm 2025 gồm có 73
điều, bố cục thành 8 chương như sau:
Chương I. Những quy định
chung
Chương II. Phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử
Chương III. An toàn bức xạ,
bảo vệ bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân
Chương IV. Nhà máy điện hạt
nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu
Chương V. Thông báo, khai
báo, cấp phép, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Chương VI. Thanh sát hạt
nhân
Chương VII. Ứng phó sự cố bức
xạ, sự cố hạt nhân và bồi thường thiệt hại bức xạ, thiệt hại hạt nhân
Chương VIII. Điều khoản thi
hành
Luật quy định toàn diện về
phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, bao gồm an
toàn bức xạ, an toàn và an ninh hạt nhân; quản lý nhà máy điện hạt nhân và lò
phản ứng hạt nhân; ứng phó sự cố; bồi thường thiệt hại; thanh sát hạt nhân; và
quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Luật áp dụng cho tổ chức,
cá nhân trong nước và nước ngoài tiến hành hoạt động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử tại Việt Nam.[1]
Luật xác định nguyên tắc áp
dụng trong trường hợp có sự chồng chéo với các văn bản pháp luật khác (Điều 3). Luật nhấn mạnh việc tuân thủ các nguyên tắc bảo đảm an
toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân quy định tại Điều
6, bao gồm: trách nhiệm chính của tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức
xạ; bảo đảm lợi ích lớn hơn rủi ro; giới hạn liều chiếu xạ theo quy định và tối
ưu hóa bảo vệ bức xạ; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; bảo
đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân.
Chính sách của Nhà nước
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử gồm phát triển năng lượng nguyên tử phục vụ
kinh tế – xã hội và môi trường; ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa nguồn vốn; bảo đảm
ngân sách cho nghiên cứu, quan trắc phóng xạ và xử lý chất thải phóng xạ; nâng
cao năng lực bảo đảm an toàn – an ninh; ưu đãi nhân lực và đầu tư cơ sở vật chất;
khuyến khích tiếp nhận công nghệ cao và tăng tỷ lệ nội địa hóa; tăng cường năng
lực cho cơ quan an toàn hạt nhân quốc gia; đồng bộ phát triển hạ tầng tại địa
phương có cơ sở hạt nhân; thúc đẩy hợp tác quốc tế và truyền thông xã hội về
năng lượng nguyên tử.
Luật quy định về chuyển đổi
số trong toàn bộ hoạt động quản lý lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Nền tảng số
quốc gia phải bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu về cấp phép, quản lý nguồn phóng
xạ, thiết bị bức xạ, quan trắc phóng xạ và báo cáo chuyên ngành. Việc tiếp cận
và khai thác dữ liệu phải tuân thủ pháp luật về bảo mật, an toàn thông tin và
an ninh mạng. Tổ chức, cá nhân phải cập nhật dữ liệu đầy đủ; Nhà nước bảo đảm
nguồn lực vận hành nền tảng số.
Về quản lý nhà nước, Chính
phủ thống nhất quản lý lĩnh vực năng lượng nguyên tử và phân công một cơ quan
trung ương làm đầu mối. Bộ, ngành và địa phương thực hiện quản lý trong phạm vi
thẩm quyền. Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia được quy định tách bạch
chức năng quản lý an toàn – an ninh với việc phát triển năng lượng nguyên tử.
Luật liệt kê các hành vi bị
nghiêm cấm, bao gồm: lợi dụng hoạt động năng lượng nguyên tử xâm phạm an ninh
quốc gia; chế tạo hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân; tiến hành công việc bức xạ
không phép; sản xuất hoặc kinh doanh hàng hóa có hoạt độ phóng xạ vượt mức; nhập
khẩu chất thải phóng xạ; vi phạm quy định an toàn – an ninh; phá hoại, chiếm đoạt
vật liệu phóng xạ; che giấu hoặc cung cấp thông tin sai lệch về sự cố bức xạ;
làm giả hồ sơ nhằm trục lợi hoặc cản trở quản lý nhà nước.
1. Nội
dung 1. Phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
Luật Năng lượng nguyên tử 2025 đã thể chế hóa
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia,
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ
Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân,…Các quy định từ Điều 10
đến Điều 13 tập trung vào chiến lược, quy hoạch, phát triển nhân lực, xây dựng
tiềm lực khoa học và công nghệ và xã hội hóa hoạt động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử. Luật xác định rõ cơ chế xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển
năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; chính sách phát triển nguồn nhân lực;
tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ và khuyến khích sự tham gia của xã hội
và doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Điều 10
quy định việc lập Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục
đích hòa bình, được xây dựng dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Chiến lược phải nêu quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực thực
hiện. Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử có trách
nhiệm tổ chức lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Quy hoạch phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử là quy hoạch chuyên ngành có tính chất kỹ thuật, được lập
dựa trên chiến lược quốc gia, chiến lược năng lượng nguyên tử và quy hoạch các
ngành có liên quan. Quy hoạch xác định định hướng dài hạn, mục tiêu tổng quát
và mục tiêu cụ thể. Cơ quan quản lý nhà nước trung ương lập, thẩm định, trình
phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch. Quy hoạch được điều chỉnh khi có thay
đổi trong chiến lược, quy hoạch cấp cao hơn hoặc yêu cầu từ các nghị quyết, nhiệm
vụ cấp bách, dự án quan trọng quốc gia. Trường hợp cần thiết, việc điều chỉnh
có thể thực hiện theo trình tự rút gọn.
Điều 11
nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm. Nhà nước có chương
trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; khuyến
khích sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế. Nhà nước áp dụng
chính sách ưu đãi, thu hút nhân lực chất lượng cao; ưu tiên tuyển dụng sinh
viên xuất sắc thuộc chuyên ngành năng lượng nguyên tử vào cơ quan quản lý và cơ
sở nghiên cứu của Nhà nước. Người được cử đi đào tạo được hưởng hỗ trợ; vai trò
của cơ sở đào tạo và nghiên cứu được nâng cao. Đối với người làm việc trong
lĩnh vực này hưởng lương ngân sách, Nhà nước bảo đảm phụ cấp nghề nghiệp và chế
độ độc hại, nguy hiểm.
Điều 12
quy định về xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, trong đó Nhà nước ưu tiên
đầu tư phát triển công nghệ hạt nhân chiến lược, tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên
cứu và ứng dụng. Nhà nước thực hiện các chương trình khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo quốc gia về năng lượng nguyên tử, đầu tư trọng điểm và khuyến
khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội và phát triển điện hạt nhân. Các chính sách hỗ trợ và ưu đãi
được áp dụng nhằm củng cố tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia trong lĩnh vực
này.
Điều 13
thúc đẩy xã hội hóa hoạt động năng lượng nguyên tử, thông qua đa dạng hóa loại
hình tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo, tổ chức tiến hành công việc
bức xạ và tổ chức dịch vụ hỗ trợ. Doanh nghiệp và tổ chức sự nghiệp được lập Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ để đầu tư nghiên cứu, ứng dụng. Các tổ chức,
cá nhân tham gia đầu tư vào nghiên cứu, đào tạo, công việc bức xạ và dịch vụ hỗ
trợ được hưởng ưu đãi theo quy định. Các hình thức thu hút nguồn lực xã hội bao
gồm thành lập tổ chức nghiên cứu, đầu tư công - tư, vay vốn cho cơ sở hạ tầng,
hợp tác quốc tế lập phòng thí nghiệm chung, cho thuê - liên doanh, mua trả chậm
thiết bị bức xạ, tài trợ - viện trợ, xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công và các
hình thức khác theo luật định.
2. Nội
dung 2. Bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân
Chương III của
Luật Năng lượng nguyên tử quy định về an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ, an
toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, bao trùm từ các loại công việc bức xạ, cơ sở
bức xạ, kiểm soát chiếu xạ, an ninh nguồn phóng xạ và vật liệu hạt nhân, cho đến
vận chuyển vật liệu phóng xạ, cơ sở hạt nhân, quản lý chất thải phóng xạ và
nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
Trước hết, Luật xác định
“công việc bức xạ” (Điều 14) gồm vận hành thử và vận hành
nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng nghiên cứu; vận hành thiết bị chiếu xạ; sử dụng,
lưu giữ nguồn phóng xạ; sản xuất, chế biến chất phóng xạ, làm giàu urani, chế tạo
nhiên liệu hạt nhân; thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản có tính phóng xạ;
xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và
nhiên liệu đã qua sử dụng; thay đổi quy mô, chấm dứt hoạt động cơ sở bức xạ, cơ
sở hạt nhân; xuất nhập khẩu chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt
nhân; vận chuyển vật liệu phóng xạ… và các công việc khác do Chính phủ quy định.
Bên cạnh đó là hoạt động dịch
vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử (Điều 15) như đào tạo
an toàn bức xạ; lắp đặt, bảo dưỡng thiết bị; đo liều cá nhân, đánh giá hoạt độ;
kiểm định, hiệu chuẩn, tẩy xạ, kiểm xạ; thử nghiệm thiết bị bức xạ… Cơ sở bức xạ
(Điều 16) bao gồm nơi vận hành máy gia tốc, thiết bị chiếu
xạ dùng nguồn phóng xạ, cơ sở sản xuất chất phóng xạ, cơ sở xử lý - lưu giữ -
chôn cất chất thải phóng xạ và các cơ sở tương tự khác.
Về đánh giá an toàn, Luật
yêu cầu tổ chức, cá nhân khi xin cấp phép công việc bức xạ phải lập báo cáo
đánh giá an toàn (trừ một số trường hợp đặc biệt), cơ sở bức xạ phải lập báo
cáo phân tích an toàn trước khi xây dựng và khi thay đổi quy mô, chấm dứt hoạt
động; đồng thời phải có báo cáo thực trạng an toàn định kỳ hằng năm hoặc theo
yêu cầu (Điều 17).
Kiểm soát chiếu xạ (Điều 18) chia thành chiếu xạ nghề nghiệp (nhân viên bức xạ),
chiếu xạ y tế (người bệnh, người chăm sóc, tình nguyện viên nghiên cứu) và chiếu
xạ công chúng. Tất cả phải tuân theo nguyên tắc lợi ích lớn hơn rủi ro và tối
ưu hóa bảo vệ bức xạ theo Điều 6.
Điều 19 đặt
ra yêu cầu an ninh đối với nguồn phóng xạ và vật liệu hạt nhân: tổ chức, cá
nhân phải xây dựng văn hóa an ninh; đánh giá mối đe dọa và áp dụng biện pháp bảo
vệ phù hợp với mức nguy hiểm; kiểm đếm định kỳ; có phương án ứng phó mất an
ninh; bảo mật thông tin, kể cả an ninh mạng. Đối với vật liệu hạt nhân, còn phải
áp dụng nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu, chương trình bảo đảm chất lượng cho hệ
thống bảo vệ thực thể. Khi nguồn hoặc vật liệu bị thất lạc, chiếm đoạt, phá hoại,
bỏ rơi hoặc chuyển giao bất hợp pháp, chủ quản và người phát hiện có trách nhiệm
báo ngay cho các cơ quan có thẩm quyền và phối hợp tìm kiếm, thu hồi.
Điều 20
quy định tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải kiểm xạ khu vực làm
việc một cách định kỳ, có hệ thống; thiết bị đo phải phù hợp quy chuẩn, được bảo
dưỡng, hiệu chuẩn; hồ sơ kiểm xạ phải được lập và lưu giữ. Khi chấm dứt hoạt động
cơ sở bức xạ (Điều 21), cơ sở phải thực hiện tháo dỡ, tẩy xạ,
xử lý nguồn bức xạ, chất thải theo kế hoạch đã được phê duyệt, tự chịu mọi chi
phí; cơ quan cấp phép kiểm tra và công nhận kết thúc trách nhiệm.
Luật cũng quy định về chiếu
xạ hiện hữu (Điều 22) từ nguồn tự nhiên hoặc tồn dư quá khứ/sự
cố; giao Chính phủ phân công bộ, ngành xác định khu vực có nguy cơ, đánh giá,
phối hợp địa phương lập và triển khai biện pháp can thiệp. Việc quan trắc phóng
xạ môi trường (Điều 23) được yêu cầu đối với tổ chức có
nguy cơ phát tán chất phóng xạ; dữ liệu phải chia sẻ trên Nền tảng số quốc gia;
mạng lưới quan trắc, cảnh báo được phát triển theo quy hoạch.
Trong y tế (Điều
24), việc dùng thiết bị bức xạ và thuốc phóng xạ phải tuân nguyên tắc kiểm
soát chiếu xạ; không áp dụng giới hạn liều cho người bệnh nhưng phải bảo đảm an
toàn cho nhân viên, người hỗ trợ và công chúng; xây dựng chương trình bảo đảm
chất lượng, mức liều tham chiếu chẩn đoán, quản lý liều bệnh nhân, điều tra sự
cố y khoa… Thiết bị bức xạ y tế phải được chế tạo, kiểm định theo quy định;
nhân viên bức xạ phải được đào tạo và có chứng chỉ.
Điều 25
quy định chi tiết trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức được cấp phép, người
phụ trách an toàn bức xạ và nhân viên bức xạ: từ xây dựng nội quy, bố trí nhân
sự phụ trách an toàn, đào tạo, khám sức khỏe, theo dõi liều, tổ chức ứng phó sự
cố… tới việc sử dụng phương tiện bảo vệ, quyền từ chối làm việc khi điều kiện
không an toàn và nghĩa vụ báo cáo, khắc phục sự cố.
Đối với thăm dò, khai thác,
chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính phóng xạ (Điều 26–27),
tổ chức, cá nhân phải lập báo cáo đánh giá an toàn, quan trắc phóng xạ môi trường,
bảo vệ, phục hồi môi trường; kết quả thẩm định là cơ sở để cấp phép thăm dò,
khai thác, quyết định dự án chế biến và đóng cửa mỏ.
Đối với cơ sở hạt nhân (Điều 33–35), Luật nêu rõ yêu cầu an toàn, an ninh từ khâu chọn
địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành tới chấm dứt hoạt động; phải kiểm soát
chiếu xạ, phát thải; ngăn ngừa sự cố, thất lạc, chiếm đoạt, phá hoại; có báo
cáo phân tích an toàn được duy trì suốt vòng đời dự án. Người đứng đầu cơ sở hạt
nhân chịu trách nhiệm cao nhất về an toàn, an ninh, bảo vệ môi trường; bảo đảm
nguồn lực, xây dựng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng, quan trắc phóng xạ
môi trường, báo cáo định kỳ, xây dựng kế hoạch an ninh, triển khai hệ thống bảo
vệ thực thể và kịp thời xử lý, báo cáo khi có vi phạm. Đồng thời, cơ quan nhà
nước và cơ sở hạt nhân phải thông tin, tuyên truyền, cung cấp thường xuyên tình
trạng an toàn - an ninh cho người dân địa phương, thiết lập cơ chế tiếp nhận ý
kiến trên nền tảng số.
3. Nội
dung 3. Xuất khẩu, nhập khẩu và vận chuyển vật liệu phóng xạ
Tại Mục 3
Chương III của Luật quy định các yêu cầu pháp lý liên quan đến vận chuyển,
vận chuyển quá cảnh, nhập khẩu và xuất khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt
nhân, cũng như kiểm soát hàng hóa có chứa hoặc nhiễm phóng xạ. Các nội dung
chính được quy định từ Điều 28 đến Điều 32 như sau:
Quy định trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân khi vận chuyển vật liệu phóng xạ. Trước khi vận chuyển, các đơn vị
phải xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo đảm an toàn, an ninh và kế hoạch ứng
phó sự cố. Kế hoạch ứng phó sự cố trong vận chuyển phải được cơ quan an toàn bức
xạ và hạt nhân quốc gia thẩm định. Chính phủ sẽ hướng dẫn chi tiết hơn việc thực
hiện các yêu cầu này. (Điều 28)
Điều 29
điều chỉnh hoạt động quá cảnh trên lãnh thổ Việt Nam của tàu biển hoặc phương
tiện sử dụng năng lượng nguyên tử; và việc vận chuyển quá cảnh vật liệu phóng xạ,
thiết bị hạt nhân. Các trường hợp này, ngoại trừ nguồn phóng xạ mức nguy hiểm
trung bình hoặc thấp, phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép và chịu sự giám
sát của cơ quan có thẩm quyền. Các đơn vị vận tải không được từ chối vận chuyển
vật liệu phóng xạ hoặc thiết bị hạt nhân khi chúng đã đạt điều kiện và được cấp
phép vận chuyển hợp lệ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết danh mục và cách thức quản
lý đối với nguồn phóng xạ mức nguy hiểm trung bình và thấp.
Hoạt động kiểm soát nhập khẩu,
xuất khẩu vật liệu phóng xạ và thiết bị hạt nhân được quy định tại Điều 30. Hoạt động nhập - xuất khẩu các loại hàng hóa này chỉ
được phép khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép. Cơ quan hải quan phải
ưu tiên làm thủ tục cho các lô hàng đã được phép nhập - xuất khẩu, đồng thời chịu
trách nhiệm xử lý vi phạm theo mức độ hậu quả. Các tổ chức, cá nhân vi phạm quy
định về nhập khẩu có thể bị yêu cầu khắc phục trước khi thông quan, tái xuất hoặc
bị tịch thu. Trường hợp vi phạm khi xuất khẩu cũng sẽ bị xử lý tương ứng. Chính
phủ sẽ hướng dẫn chi tiết về cấp phép và cơ chế phối hợp giữa hải quan, cơ quan
an toàn bức xạ và các cơ quan liên quan.
Điều 31
quy định việc kiểm soát hàng hóa tiêu dùng đã chiếu xạ. Những hàng hóa không nằm
trong danh mục được phép nhập khẩu hoặc đã bị chiếu xạ vượt mức quy định thì
không được nhập khẩu. Hàng tiêu dùng được phép nhập khẩu nhưng đã chiếu xạ hoặc
chứa chất phóng xạ phải ghi nhãn rõ ràng. Chính phủ sẽ hướng dẫn cụ thể việc thực
hiện điều khoản này.
Điều 32
quy định kiểm soát hàng hóa nhập khẩu có dấu hiệu chứa chất phóng xạ hoặc nhiễm
phóng xạ. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường hoặc có cảnh báo sớm, cơ quan an
toàn bức xạ phối hợp với cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra. Nếu xác định hàng
hóa nhiễm hoặc chứa chất phóng xạ, hải quan phải tạm dừng thủ tục và thông báo
cho chủ hàng để xử lý. Các biện pháp có thể áp dụng gồm: bảo đảm an toàn ngay lập
tức để giảm thiểu tác hại; hoặc buộc tái xuất. Nếu không xác định được chủ
hàng, có thể phải kích hoạt kế hoạch ứng phó sự cố đối với nguồn phóng xạ ngoài
kiểm soát. Chủ hàng hoặc đơn vị vận chuyển chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả tại
cửa khẩu. Chính phủ sẽ quy định chi tiết quy trình và danh mục hàng hóa phải kiểm
xạ.
Tổng thể, các quy định trong
Mục 3 nhằm bảo đảm an toàn, an ninh trong vận chuyển và quản
lý vật liệu phóng xạ, phòng ngừa và xử lý sự cố phóng xạ trong thương mại và
quá cảnh, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan.
4. Nội
dung 4. Quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng
Mục 5 của
Chương III quy định về quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử
dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng nhằm bảo đảm an toàn, an ninh và bảo
vệ môi trường.
Điều 36
xác định các hoạt động quản lý chất thải và nhiên liệu đã qua sử dụng gồm thu
gom, phân loại, xử lý, lưu giữ và chôn cất. Việc quản lý phải tuân thủ các
nguyên tắc: bảo vệ con người và môi trường; không tạo gánh nặng cho thế hệ
tương lai; giảm thiểu chất thải phát sinh; xem xét cả nguy cơ sinh học, hóa học;
kiểm soát tới hạn và tản nhiệt dư; áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc
tiêu chuẩn quốc tế phù hợp; bảo đảm nguồn lực tài chính. Địa điểm xử lý, chôn cất
cấp quốc gia và cấp tỉnh phải được xác định trong các quy hoạch liên quan. Cơ
quan trung ương về năng lượng nguyên tử chủ trì xây dựng phần quy hoạch này.
Điều 37
quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân làm phát sinh chất thải: khai báo và
xin cấp phép; thực hiện chuyển giao bắt buộc hoặc tự nguyện khi cần thiết; và bảo
đảm chi phí cho toàn bộ quá trình quản lý chất thải, nguồn đã qua sử dụng và
nhiên liệu đã qua sử dụng.
Điều 38
quy định tổ chức xử lý, lưu giữ, chôn cất phải là doanh nghiệp hoặc tổ chức hợp
pháp, được cấp phép tiến hành công việc bức xạ; có phương án bảo đảm tài chính;
và bảo đảm an toàn, an ninh trong suốt vòng đời hoạt động. Chính phủ quy định
chi tiết việc thu gom, xử lý, lựa chọn địa điểm và trách nhiệm của các cơ quan
liên quan.
Điều 39
yêu cầu việc xuất khẩu chất thải và nhiên liệu đã qua sử dụng phải được cấp
phép, quốc gia nhập khẩu phải đồng ý và có năng lực quản lý an toàn; nhập khẩu
nguồn đã qua sử dụng chỉ được phép khi đáp ứng điều kiện về hoạt độ, nguồn gốc
và mục đích sử dụng.
Điều 40
quy định thủ tục thanh lý vật thể nhiễm bẩn phóng xạ và nguồn đã qua sử dụng
khi đạt mức an toàn cho phép; tổ chức, cá nhân phải quản lý đúng quy định hoặc
chuyển giao cho cơ sở được cấp phép.
5. Nội
dung 5. Nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu
Luật Năng lượng nguyên tử năm 2025 dành chương IV để quy định đầy đủ về nhà máy điện hạt nhân và lò phản
ứng hạt nhân nghiên cứu.
Tại Mục 1
Chương IV quy định toàn bộ quá trình xây dựng và quản lý nhà máy điện hạt
nhân từ chủ trương đầu tư, lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành thử,
vận hành thương mại đến chấm dứt hoạt động (còn gọi là toàn bộ vòng đời của nhà
máy điện hạt nhân).
Trước hết, mọi hoạt động
liên quan đến nhà máy điện hạt nhân phải tuân thủ pháp luật về năng lượng
nguyên tử, pháp luật điện lực và các pháp luật liên quan khác. Cơ quan an toàn
bức xạ và hạt nhân quốc gia có vai trò thẩm định an toàn - an ninh, cấp phép
xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt động, đồng thời giám sát,
thanh tra các giai đoạn.
Việc quyết định chủ trương đầu
tư và lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi phải tuân thủ pháp luật về đầu tư và
xây dựng, đồng thời bổ sung nội dung khảo sát địa điểm, thiết kế sơ bộ và đánh
giá sơ bộ tác động phóng xạ. Địa điểm xây dựng phải được khảo sát kỹ về địa chất,
môi trường, dân cư, các yếu tố an ninh - quốc phòng và khả năng ứng phó sự cố.
Địa điểm chỉ được phê duyệt khi phù hợp quy hoạch, bảo đảm an toàn cho dân cư
và môi trường, cũng như bảo đảm an ninh quốc gia.
Thiết kế nhà máy phải tuân
thủ nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu, sử dụng công nghệ tiên tiến, vận hành tin
cậy và đáp ứng yêu cầu an toàn - an ninh trong từng giai đoạn thiết kế. Thiết kế
chịu sự thẩm định của cơ quan chuyên môn về năng lượng nguyên tử.
Trong giai đoạn xây dựng, chủ
đầu tư phải có giấy phép xây dựng, báo cáo phân tích an toàn, hệ thống quản lý
chất lượng và kế hoạch an ninh. Các điều chỉnh thiết kế có ảnh hưởng đến an
toàn phải được chấp thuận.
Vận hành thử gồm thử không tải
và thử có nhiên liệu; việc cấp phép vận hành thử yêu cầu báo cáo an toàn,
chương trình thử, nhân sự được đào tạo, kế hoạch ứng phó sự cố và giấy phép môi
trường. Sau vận hành thử, nhà máy phải được cấp phép để vận hành thương mại khi
đáp ứng toàn bộ yêu cầu về an toàn, tài chính và quản lý chất lượng.
Chấm dứt hoạt động gồm tẩy xạ,
tháo dỡ và xử lý chất thải; kế hoạch phải được chuẩn bị từ giai đoạn thiết kế
và được phê duyệt. Nhà máy chỉ được công nhận hoàn tất khi thực hiện đầy đủ kế
hoạch này.
Việc giám sát an toàn và an
ninh được thực hiện xuyên suốt bởi cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia,
cùng sự phối hợp của cơ quan công an và quốc phòng.
Mục 2 Chương
IV quy định toàn bộ yêu cầu pháp lý đối với việc đầu tư, xây dựng, vận hành
và chấm dứt hoạt động lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu. Cơ quan an toàn bức xạ
và hạt nhân quốc gia giữ vai trò trung tâm trong thẩm định an toàn - an ninh,
phê duyệt địa điểm, cấp phép xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt
động; đồng thời thực hiện thanh tra, giám sát trong suốt vòng đời của cơ sở.
Việc lựa chọn địa điểm, thiết
kế, xây dựng và vận hành phải tuân thủ các quy định tương tự nhà máy điện hạt
nhân, bao gồm: khảo sát địa điểm về địa chất, môi trường, dân cư và an ninh;
phê duyệt địa điểm trước hoặc cùng thời điểm quyết định đầu tư; thiết kế bảo đảm
an toàn bức xạ - hạt nhân, áp dụng công nghệ phù hợp; thẩm định và phối hợp
theo điều khoản pháp luật hiện hành.
Xây dựng lò phản ứng phải có
giấy phép xây dựng và đáp ứng đầy đủ điều kiện về an toàn và an ninh, quản lý
chất lượng, năng lực chủ đầu tư và kế hoạch chấm dứt hoạt động. Mọi điều chỉnh
thiết kế trong quá trình thi công phải được phê duyệt theo quy định.
Vận hành thử và vận hành
chính thức phải tuân thủ yêu cầu về báo cáo an toàn, giới hạn vận hành, năng lực
nhân sự được đào tạo và chương trình huấn luyện. Trường hợp dừng lò dài hạn, phải
lập chương trình bảo trì bảo đảm an toàn - an ninh. Chấm dứt hoạt động thực hiện
theo quy trình về tẩy xạ, tháo dỡ, quản lý chất thải và trách nhiệm tài chính
theo quy định.
6. Nội
dung 6. Thông báo, khai báo, cấp phép
Nội dung về thông báo, khai
báo, cấp phép được quy định tại Mục 1 Chương V, cụ thể như
sau:
Mục 1
quy định cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động bức xạ và hạt nhân, bao gồm:
thông báo, khai báo, cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ (Điều
14), cấp giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
(Điều 15), cấp chứng chỉ, sửa đổi, thu hồi giấy phép. Mục
đích nhằm bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân từ giai
đoạn chuẩn bị xây dựng đến sử dụng/vận hành thực tế.
Điều 55
quy định về thông báo và khai báo: Tổ chức, cá nhân dự kiến tiến hành công việc
bức xạ phải thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt
nhân. Các trường hợp phải khai báo gồm: có chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, thiết
bị bức xạ hoặc vật liệu hạt nhân vượt mức miễn trừ theo quy định. Thời hạn khai
báo là 10 ngày làm việc kể từ khi phát sinh. Việc chuyển giao hoặc chuyển nhượng
nguồn phóng xạ phải khai báo trong 30 ngày. Chính phủ sẽ hướng dẫn chi tiết
trình tự khai báo, mức miễn trừ và hình thức thông báo.
Điều 56
quy định về cấp Giấy phép tiến hành công việc bức xạ và Giấy đăng ký dịch vụ hỗ
trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử: Tất cả tổ chức, cá nhân tiến hành công việc
bức xạ thuộc Điều 14 phải được cấp giấy phép, trừ trường hợp
được miễn theo quy định. Các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng
nguyên tử phải đăng ký hoạt động theo Điều 15. Khi nộp hồ
sơ đề nghị cấp giấy phép hoặc đăng ký dịch vụ, tổ chức và cá nhân phải nộp phí,
lệ phí theo pháp luật. Chính phủ quy định điều kiện, thẩm quyền, hồ sơ và thời
hạn giấy phép.
Điều 57
quy định về Chứng chỉ nhân viên bức xạ và Chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng
dụng năng lượng nguyên tử: Cá nhân trực tiếp thực hiện dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử phải có chứng chỉ hành nghề. Những vị trí công việc cần chứng
chỉ nhân viên bức xạ do Chính phủ quy định. Hồ sơ xin cấp chứng chỉ phải nộp lệ
phí theo quy định. Chính phủ cũng hướng dẫn điều kiện cấp, thủ tục, thẩm quyền
và thời hạn của các loại chứng chỉ này.
Điều 58
quy định về việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn và thu hồi giấy phép: Khi có nhu cầu
sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn giấy phép tiến hành công việc bức xạ hay đăng ký
dịch vụ hỗ trợ, tổ chức và cá nhân phải nộp hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền. Giấy
phép có thể bị thu hồi trong các trường hợp sau:
- Không duy trì điều kiện bảo
đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân;
- Không bảo đảm điều kiện về
nhân lực, thiết bị cho hoạt động dịch vụ hỗ trợ;
- Vi phạm nội dung giấy
phép, thực hiện sai phạm vi hoạt động;
- Giả mạo giấy tờ hồ sơ cấp
phép;
- Sửa chữa, tẩy xóa giấy
phép làm sai lệch nội dung;
- Cơ quan cấp phép cấp sai
thẩm quyền hoặc sai do lỗi kỹ thuật;
- Tổ chức chấm dứt hoạt động,
phá sản hoặc bị thu hồi đăng ký doanh nghiệp. Tổ chức, cá nhân bị thu hồi giấy
phép vẫn có thể được xem xét cấp lại nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định
pháp luật. Hồ sơ sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn phải nộp phí, lệ phí theo quy định.
Chính phủ sẽ hướng dẫn thêm về trường hợp cần sửa đổi - bổ sung giấy phép, thẩm
quyền và quy trình thực hiện.
7. Nội
dung 7. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Mục 2 của
Chương V (Điều 59 - Điều 61) của Luật quy định cơ chế thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nhằm bảo đảm an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân trong mọi hoạt động liên quan; là căn cứ
pháp lý để Chính phủ quy định chi tiết một số đặc thù đối với công tác này.
Thanh tra về an toàn bức xạ
và hạt nhân là việc đánh giá, kết luận và kiến nghị xử lý đối với việc tuân thủ
pháp luật về năng lượng nguyên tử, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,
cũng như việc tuân thủ quy tắc, tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử. Hoạt động thanh tra phải tuân thủ quy định của pháp luật
về thanh tra[2] và pháp luật năng
lượng nguyên tử, do thanh tra viên hoặc người có chuyên môn tiến hành, có trang
thiết bị phù hợp và bảo đảm không trùng lặp với thanh sát hạt nhân. Tần suất
thanh tra phải phù hợp mức độ rủi ro của công việc bức xạ.
Đối với nhà máy điện hạt
nhân, thanh tra phải bảo đảm an toàn cao nhất cho con người và môi trường; tuân
thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn của IAEA; không làm gián đoạn vận hành của nhà
máy trừ khi có nguy cơ mất an toàn. Nội dung thanh tra gồm: tuân thủ tiêu chuẩn
an toàn trong thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì và tháo dỡ; quản lý nhiên
liệu hạt nhân; tình trạng an toàn bức xạ trong và ngoài nhà máy; tính toàn vẹn
của lò phản ứng; việc thực hiện kế hoạch ứng phó sự cố; công tác phòng cháy, chữa
cháy; an ninh hạt nhân; quan trắc phóng xạ môi trường; quản lý chất thải phóng
xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng. Thanh tra đột xuất phải được tiến hành khi
phát hiện bất thường về an toàn - an ninh, nguy cơ sự cố hoặc theo cảnh báo quốc
tế từ các nhà máy có công nghệ tương tự.
Theo Điều 60,
thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử chịu
trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc tuân thủ chính sách, pháp luật trong phạm vi
quản lý. Hoạt động kiểm tra phải đúng trình tự, khách quan, công khai, sử dụng
thiết bị chuyên dụng và không cản trở hoạt động của cơ sở. Kiểm tra cũng không
được trùng lặp với thanh tra hoặc thanh sát hạt nhân. Yêu cầu và nội dung kiểm
tra đối với nhà máy điện hạt nhân được áp dụng tương tự như quy định về thanh tra
tại Điều 59.
Điều 61
quy định tổ chức, cá nhân vi phạm trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử sẽ bị xử
lý tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm. Cơ quan thanh tra,
kiểm tra có quyền yêu cầu khắc phục ngay tình trạng mất an toàn; tạm đình chỉ
hoạt động một phần hoặc toàn bộ nhà máy điện hạt nhân; thu hồi hoặc kiến nghị
thu hồi giấy phép tiến hành công việc bức xạ và giấy đăng ký dịch vụ hỗ trợ
theo quy định tại Điều 58. Chính phủ sẽ hướng dẫn chi tiết
việc thực thi các quy định này.
8. Nội
dung 8. Thanh sát hạt nhân
Thanh sát hạt nhân là việc
kiểm soát sử dụng vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu và thiết
bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và hoạt động khác có liên quan
nhằm ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật
liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu và thiết bị trong chu trình
nhiên liệu hạt nhân.
Chương VI của
Luật Năng lượng nguyên tử quy định về hoạt động thanh sát hạt nhân tại Việt
Nam, nhằm bảo đảm việc tuân thủ các điều ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt
nhân mà Việt Nam là thành viên như Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
(1982), Hiệp định thanh sát hạt nhân (1989). Hoạt động thanh sát hạt nhân trên
lãnh thổ Việt Nam do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) phối hợp với
cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện. Theo khoản 2 Điều 62,
Cơ quan đầu mối này là Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia (Hiện nay là
Cục An toàn bức xạ và hạt nhân thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ), có trách nhiệm
cung cấp thông tin cho IAEA, thực hiện nghĩa vụ theo các điều ước liên quan,
xác minh thông tin khai báo của các tổ chức, cá nhân chịu thanh sát, kiểm tra
việc tuân thủ pháp luật và các điều ước quốc tế. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu
trách nhiệm xây dựng và quản lý hệ thống quốc gia về kế toán và kiểm soát vật
liệu hạt nhân, cũng như tiếp nhận, đề xuất chấp thuận và hỗ trợ cấp thị thực
cho thanh sát viên quốc tế.
Đối tượng chịu thanh sát bao
gồm các tổ chức và cá nhân quản lý cơ sở hạt nhân; lưu giữ, sử dụng, xuất khẩu,
nhập khẩu vật liệu hạt nhân, vật liệu nguồn, vật liệu phi hạt nhân và các thiết
bị đặc biệt liên quan đến chu trình nhiên liệu hạt nhân; cũng như các đơn vị thực
hiện hoặc dự kiến thực hiện nghiên cứu, triển khai liên quan đến chu trình
nhiên liệu hạt nhân, kể cả khi không sử dụng vật liệu hạt nhân.
Hoạt động thanh sát phải được
tiến hành thường xuyên, liên tục, không gây cản trở hoạt động bình thường của
các tổ chức, cá nhân và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam cùng các điều ước quốc
tế có liên quan. Chính phủ sẽ quy định cụ thể trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa
các Bộ, ngành liên quan trong hoạt động thanh sát hạt nhân.
Tổ chức và cá nhân chịu
thanh sát phải tuân thủ các yêu cầu về thanh sát, bảo vệ thực thể, bảo đảm an
ninh vật liệu và cơ sở hạt nhân, đồng thời tạo điều kiện đầy đủ cho thanh sát
viên quốc tế và đại diện cơ quan quốc gia tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác
minh cần thiết.
Thanh sát viên quốc tế do
IAEA đề cử, được Việt Nam xem xét chấp thuận và cấp thị thực ưu tiên. Trong quá
trình hoạt động tại Việt Nam, họ phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và được hưởng
quyền ưu đãi, miễn trừ theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế.
9. Nội
dung 9. Ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; bồi thường thiệt hại bức xạ, thiệt
hại hạt nhân
Sự cố bức xạ là tình trạng mất
an toàn bức xạ hoặc mất an ninh nguồn phóng xạ. Sự cố hạt nhân là tình trạng mất
an toàn hoặc mất an ninh đối với vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân. Việc
xác định mức độ sự cố và thông báo công khai phải thực hiện theo quy định của
Chính phủ nhằm bảo đảm tính thống nhất và kịp thời trong truyền thông.
Quy định về ứng phó sự cố bức
xạ, sự cố hạt nhân và bồi thường thiệt hại bức xạ, thiệt hại hạt nhân tại Chương VII gồm 2 mục, cụ thể:
Mục 1 Chương
VII quy định các nguyên tắc và cơ chế ứng phó sự cố bức xạ và sự cố hạt
nhân, bao gồm xác định mức độ sự cố, xây dựng kế hoạch ứng phó ở nhiều cấp và xử
lý tình trạng khẩn cấp.
Điều 66
quy định hệ thống kế hoạch ứng phó gồm ba cấp:
- Sự cố cấp cơ sở: áp
dụng khi sự cố xảy ra trong phạm vi một cơ sở bức xạ hoặc cơ sở hạt nhân.
- Sự cố cấp tỉnh: áp
dụng khi sự cố vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở hoặc ảnh hưởng đến toàn địa
phương.
- Sự cố cấp quốc gia:
áp dụng khi sự cố ở quy mô lớn, vượt quá khả năng cấp tỉnh hoặc liên quan nhiều
tỉnh.
Kế hoạch ứng phó ở mọi cấp
phải xác định bộ máy tổ chức chỉ huy, các tình huống giả định, phương án ứng
phó, cơ chế huy động nguồn lực và chương trình diễn tập. Chính phủ hướng dẫn
chi tiết quy trình xây dựng, phê duyệt kế hoạch và trách nhiệm của các tổ chức,
cá nhân.
Điều 67
quy định về tình trạng khẩn cấp bức xạ và hạt nhân. Đây là các tình huống đặc
biệt nghiêm trọng, bao gồm:
- Sự cố gây rò rỉ, phát tán
phóng xạ mạnh, ảnh hưởng rộng từ cấp tỉnh trở lên hoặc ra ngoài biên giới.
- Sự cố xảy ra ở nước ngoài
nhưng gây tác động nghiêm trọng đến môi trường hoặc con người tại Việt Nam.
Việc ban bố tình trạng khẩn
cấp tuân theo pháp luật về tình trạng khẩn cấp.[3]
Ngoài ra, Chính phủ có quyền
ban hành các biện pháp đặc thù phù hợp với tính chất của sự cố bức xạ và hạt
nhân, nhằm bảo đảm xử lý hiệu quả và giảm thiểu thiệt hại.
Mục 2 Chương
VII quy định về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp xảy ra thiệt hại do
bức xạ và do sự cố hạt nhân. Thiệt hại bức xạ là tổn thất về con người, tài sản,
môi trường và chi phí khắc phục hậu quả từ sự cố mất an toàn bức xạ. Việc bồi
thường, mức bồi thường và thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo pháp luật dân sự.
Thiệt hại hạt nhân bao gồm tổn
thất đối với con người, tài sản, môi trường và thiệt hại kinh tế phát sinh do
khắc phục sự cố hạt nhân trong toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Chủ đầu tư trong giai
đoạn vận hành thử hoặc tổ chức vận hành chịu trách nhiệm bồi thường khi chứng
minh được thiệt hại bắt nguồn từ sự cố tại cơ sở của mình. Trách nhiệm cũng áp
dụng đối với vật liệu hạt nhân bị mất, bị đánh cắp hoặc bị bỏ rơi. Trong quá
trình vận chuyển, trách nhiệm thuộc về bên gửi cho đến khi bên nhận tiếp nhận,
trừ khi có thỏa thuận chuyển trách nhiệm.
Tổ chức vận hành phải bồi
thường kể cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sự cố do chiến tranh hoặc khủng bố.
Mức bồi thường tuân thủ pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên, đồng thời ưu tiên bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Thời hiệu
khởi kiện là 30 năm đối với thiệt hại sức khỏe và 10 năm đối với thiệt hại
khác.
Chủ đầu tư hoặc tổ chức vận
hành phải mua bảo hiểm hoặc có biện pháp bảo đảm tài chính khác để đáp ứng
trách nhiệm bồi thường; Nhà nước hỗ trợ phần thiệt hại vượt quá mức trách nhiệm
của cơ sở hạt nhân./.
[1] Hoạt
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động đào tạo, nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; thiết kế,
xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt động cơ sở hạt nhân, cơ sở bức
xạ; thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính phóng xạ; sản
xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, chuyển nhượng, xuất khẩu, nhập
khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân
nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; quản lý chất thải phóng xạ, nguồn
phóng xạ đã qua sử dụng, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và dịch vụ hỗ trợ ứng
dụng năng lượng nguyên tử.
[2]
Hiện nay, có Luật Thanh tra ngày 25/6/2025 (Luật số 84/2025/QH15) vừa được Quốc
hội Khóa XV thông qua và 02 Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 216/2015/NĐ-CP
ngày 05/8/2025 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thanh
tra và Nghị định số 217/2015/NĐ-CP ngày 05/8/2025 về hoạt động kiểm tra
chuyên ngành.
[3]
Ngày 03/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Tình trạng khẩn cấp. Luật sẽ có hiệ
lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.