|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1553/QĐ-UBND
|
Hà Tĩnh, ngày 15
tháng 6 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
BAN HÀNH ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN
2026 - 2030, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035
ỦY BAN
NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật ngày 19/02/2025 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày
25/6/2025);
Căn cứ Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật ngày 20/6/2012;
Căn cứ các Nghị định
của Chính phủ: số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và
biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật; số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý
văn bản quy phạm pháp luật; số 187/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và
Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và
xử lý văn bản quy phạm pháp luật; số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về tổ chức
thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị quyết số
66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi
hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới;
Căn cứ Nghị quyết số
140/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về
đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong kỷ nguyên mới;
Thực hiện Chương trình
hành động số 45-CTr/TU ngày 03/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị
quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng
và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới;
Thực hiện Chương trình
hành động số 01-CTr/TU ngày 20/10/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kǶ 2025-2030; Quyết
định số 117-QĐ/TU ngày 26/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về ban hành
Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh năm 2026;
Thực hiện Kết luận của
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Hội nghị lần thứ 13 tại Kết luận số 74-KL/TU
ngày 26/5/2026;
Theo đề nghị của Giám
đốc Sở Tư pháp tại văn bản số 1441/TTr-STP ngày 10/6/2026; ý kiến thống nhất
đồng ý (bằng phiếu biểu quyết) của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh và thành
viên UBND tỉnh.
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng
và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030,
định hướng đến năm 2035.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành;
Chánh Văn phòng UBND
tỉnh; Giám đốc Sở Tư pháp; Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh;
Chủ tịch UBND các xã, phường và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 2;
- Bộ Tư pháp;
- TTr. Tỉnh ủy, TTr. HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- UB MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Đoàn ĐBQH tỉnh;
- Ban Tổ chức, Ban Nội chính - Tỉnh ủy;
- Ban Pháp chế HĐND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh;
- Đảng ủy, HĐND các xã, phường;
- Các PCVP UBND tỉnh;
- Trung tâm TT và Xúc tiến, HTĐT tỉnh;
- Lưu: VT, NC3.
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ
Huy Thành
|
ĐỀ
ÁN
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ
TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030,
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035
(kèm
theo Quyết định số 1553/QĐ-UBND ngày 15/06/2026 của UBND tỉnh)
PHẦN
I
MỞ
ĐẦU
I.
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ sở chính trị
Trong giai đoạn phát
triển mới của đất nước, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi
hành pháp luật được xác định là khâu đột phá chiến lược của quản trị quốc gia,
đồng thời là điều kiện nền tảng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
Nhân dân. Trong bối cảnh đó, việc ban hành các chủ trương, định hướng lớn nhằm
đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trở thành yêu cầu cấp
thiết.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày
09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
xác định rõ mục đích cụ thể đến năm 2030 là “hoàn thiện cơ bản thể chế về
quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể
trong xã hội”.
Ngày 30/4/2025, Bộ
Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và
thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới,
trong đó đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật
là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ
nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Kết luận số 09-KL/TW
ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới có nêu quan điểm
chỉ đạo: “Đẩy mạnh việc hoàn thiện quy định của pháp luật phục vụ kiến tạo
phát triển, phát huy vai trò dẫn dắt, “đi trước mở đường” của pháp luật, đưa
thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh. Chú trọng ban hành các chính
sách đặc thù, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm hình thành các lực lượng sản
xuất, phương thức sản xuất, lĩnh vực kinh tế mới và khuyến khích, thúc
đẩy phát triển các ngành, nghề, các địa bàn, nhóm đối tượng được xác định ưu
tiên phát triển”.
Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định một trong những đột phá
chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 là: “Đột phá mạnh mẽ về
thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông,
giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”.
Đối với tỉnh Hà Tĩnh, Chương
trình hành động số 45/CTr-TU ngày 03/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện
Nghị quyết số 66-NQ/TW đã đưa ra mục tiêu: “Đến năm 2030, xây dựng hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của tỉnh đồng bộ, thống nhất, công khai, minh
bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm cơ
sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan sau
sắp xếp tổ chức bộ máy; tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, mở đường cho
kiến tạo phát triển. Tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách đáp ứng yêu cầu
phát triển trong giai đoạn mới, nhất là cơ chế, chính sách phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đầu tư kinh doanh”.
Nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiếp tục đặt ra yêu
cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; đổi mới
phương thức lãnh đạo, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực phát triển; đẩy mạnh cải
cách hành chính, chuyển đổi số, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hoàn
thiện thể chế phát triển.
Để triển khai các chủ
trương, định hướng của Trung ương, của Tỉnh, cần phải tập trung thực hiện đồng
bộ các nhiệm vụ quan trọng về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, trọng tâm
là thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW; xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp
với yêu cầu phát triển mới; rà soát hệ thống văn bản QPPL của Tỉnh, kịp thời
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định không còn phù hợp; tăng cường kiểm tra, giám
sát việc tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong theo
dõi, đánh giá và thống kê tình hình tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời bảo
đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật.
Trong bối cảnh đó, công
tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật phải được xác định là nhiệm vụ trọng
tâm, xuyên suốt, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; là tiêu chí đánh giá
mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, trong đó ngành
Tư pháp giữ vai trò tham mưu nòng cốt, các sở, ban, ngành, chính quyền cấp xã
và người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thực hiện.
Việc xây dựng và triển
khai Đề án là bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng, đồng thời tạo công cụ điều
hành thống nhất của UBND tỉnh nhằm nâng cao chất lượng thể chế địa phương, siết
chặt kỷ luật trong tổ chức thi hành pháp luật và bảo đảm cơ sở pháp lý phát
triển kinh tế - xã hội của Tỉnh trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở pháp lý
Điều 112 Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ trách nhiệm của chính
quyền địa phương trong việc tổ chức và bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật,
quyết định các vấn đề của địa phương theo quy định của luật và chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Trên cơ sở đó, tại các Điều 15,
16, 17 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã cụ thể hóa trách nhiệm
của HĐND, UBND và Chủ tịch UBND tỉnh trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và
pháp luật, đồng thời xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của chính quyền
địa phương trong quản lý nhà nước và bảo đảm hiệu lực thi hành pháp luật trên
địa bàn. Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2025 tiếp tục thể chế đầy đủ, kịp thời
chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là chủ trương đổi mới tư duy, quy trình
xây dựng văn bản QPPL, mở rộng thẩm quyền ban hành văn bản QPPL. Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật năm 2012 và một số Nghị định của Chính phủ như: số 28/2013/NĐ-CP
ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật; số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL; số
79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản
QPPL; số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 78/2025/NĐ-CP và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP; số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025
về tổ chức thi hành văn bản QPPL đã quy định nhiều nội dung liên quan đến tổ
chức thi hành pháp luật.
3. Cơ sở thực tiễn
Qua rà soát tổng thể hệ
thống văn bản QPPL của Tỉnh từ năm 1991 đến nay và kết quả theo dõi, đánh giá
cho thấy công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh đã
đạt được những kết quả tích cực. Hệ thống văn bản QPPL từng bước được hoàn
thiện, bao quát hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước; trong đó một số lĩnh vực
có số lượng văn bản ban hành tương đối lớn như tài chính, nội vụ, xây dựng,
nông nghiệp và môi trường, góp phần tạo khung pháp lý phục vụ quản lý, điều
hành và phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Công tác tổ chức thi hành pháp
luật từng bước đi vào nền nếp; hoạt động kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn
bản được chú trọng thực hiện. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn
còn một số hạn chế như: hệ thống văn bản của Tỉnh chủ yếu quy định chi tiết văn
bản của Trung ương, chưa đề xuất được nhiều cơ chế, chính sách mới mang tính
định hướng, tạo động lực phát triển; chất lượng một số văn bản chưa cao, còn
chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính khả thi, không còn phù hợp nhưng chưa được
sửa đổi, bổ sung dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong xây dựng và tổ chức thực
hiện; việc tổ chức thi hành pháp luật chưa đồng đều; một số quy định, thủ tục
hành chính còn rườm rà, chưa tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Những
tồn tại, hạn chế đó cho thấy công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
của Tỉnh vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra tại các Nghị quyết của Đảng,
đồng thời chưa đáp ứng yêu cầu của các quy định pháp luật hiện hành về công tác
xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.
Trong bối cảnh hệ thống
pháp luật có nhiều thay đổi, yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng cao, nhiệm vụ phát
triển của Tỉnh ngày càng lớn; đồng thời Hà Tĩnh đang đẩy mạnh thu hút đầu tư,
chuyển đổi số và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, việc ban hành Đề án
là cần thiết nhằm nhận diện rõ các điểm nghẽn, đề ra giải pháp trọng tâm, trọng
điểm, tạo cơ sở để UBND tỉnh điều hành thống nhất công tác xây dựng và tổ chức
thi hành pháp luật. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng chính sách, văn bản
QPPL và tăng cường trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.
II.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Đề án tập trung nghiên
cứu công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, bao gồm:
Công tác xây dựng văn bản QPPL (quy trình xây dựng, ban hành văn bản; nội dung,
chất lượng văn bản; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị); công tác tổ chức
thi hành pháp luật (ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và
biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản QPPL; phổ biến, giáo dục văn bản
QPPL; hướng dẫn áp dụng, tiếp nhận, xử lý, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn
bản QPPL).
2. Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá thực trạng
công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh từ năm 1991
(thời điểm tái lập tỉnh Hà Tĩnh) đến năm 2025, trọng tâm là giai đoạn 2020 -
2025; xác định nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm
2035.
PHẦN
II
THỰC
TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT
I.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1.
Công tác chỉ đạo, điều hành
Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua các thời kỳ đều hiến định rõ trách nhiệm của
chính quyền địa phương trong việc ban hành văn bản QPPL nhằm tổ chức thi hành
Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Đặc biệt, Hiến
pháp năm 2013 tại Điều 112 đã khẳng định: chính quyền địa phương có trách nhiệm
tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết
định các vấn đề của địa phương theo thẩm quyền do luật định và chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
Quán triệt và triển
khai thực hiện các quy định của Hiến pháp, từ khi tái lập Tỉnh đến nay, nhất là
từ khi có Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015, Tỉnh đã
chú trọng tổ chức thực hiện việc ban hành văn bản QPPL theo đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục; từng bước nâng cao chất lượng văn bản, bảo đảm tính hợp
hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và khả thi. Qua đó, góp phần cụ thể
hóa kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng
thời phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước, điều
hành phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp
luật trên địa bàn.
Thời gian qua, công tác
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh luôn nhận được sự quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và UBND tỉnh. Hoạt động
chỉ đạo, điều hành từng bước được thực hiện theo hướng tập trung, thống nhất,
giữa hoàn thiện thể chế với cải cách hành chính, chuyển đổi số và sắp xếp tổ
chức bộ máy. Thông qua việc ban hành và triển khai các kế hoạch, chương trình
công tác hằng năm, cùng với cơ chế theo dõi, kiểm tra, giám sát thường xuyên,
nhiều nhiệm vụ được triển khai kịp thời, một số nhiệm vụ hoàn thành trước thời
hạn, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các sở, ban, ngành và địa
phương trong thực hiện nhiệm vụ.
Nhằm tiếp tục hoàn
thiện thể chế, tạo nền tảng pháp lý phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh hướng đến mục tiêu tăng trưởng 02 con số, góp phần đưa Hà Tĩnh trở thành
cực tăng trưởng mới của vùng Bắc Trung Bộ, Tỉnh ủy và HĐND tỉnh đã ban hành
nhiều văn bản chỉ đạo, định hướng nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật. Bám sát chương trình công tác của Chính phủ, các Bộ,
ngành Trung ương và yêu cầu phát triển của địa phương, hằng năm UBND tỉnh ban
hành Kế hoạch xây dựng văn bản QPPL của HĐND và UBND tỉnh, Kế hoạch theo dõi
tình hình thi hành pháp luật trọng tâm liên ngành, làm cơ sở để các cơ quan,
đơn vị chủ động triển khai, đồng thời kiểm soát tiến độ và chất lượng thực
hiện.
Sau khi Bộ Chính trị
ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình
hành động số 45/CTr-TU ngày 03/7/2025 về thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW; trên
cơ sở đó, ngày 13/8/2025, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 444/KH-UBND để kịp
thời triển khai thực hiện trên địa bàn. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy,
UBND tỉnh và sự tham gia tích cực của các sở, ban, ngành, địa phương, công tác
chỉ đạo điều hành đã được triển khai kịp thời, nhất quán góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
2.
Công tác xây dựng văn bản QPPL
2.1. Thực hiện quy
trình ban hành văn bản QPPL
Quy trình xây dựng và
ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh từng bước đi vào nền nếp. Việc đăng ký
xây dựng văn bản ở cấp tỉnh cơ bản thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, gắn với yêu
cầu quản lý nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Công tác lấy ý
kiến góp ý đối với dự thảo văn bản thực hiện đảm bảo đúng quy định, thông qua
nhiều hình thức đa dạng, tập trung vào các nội dung có tác động trực tiếp đến
quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Hoạt động thẩm định dự thảo văn bản QPPL
được thực hiện chặt chẽ, 100% văn bản được cơ quan tư pháp thẩm định trước khi
ban hành, bảo đảm đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ
thống pháp luật và sự phù hợp với thực tiễn địa phương.
Đặc biệt, từ khi Luật
Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực,
việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh được thực hiện ngày
càng nghiêm túc, bài bản và đúng quy trình; kỷ luật, kỷ cương trong công tác
này được tăng cường rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng văn bản, hạn chế sai
sót về thẩm quyền, nội dung và kỹ thuật trình bày.
2.2. Số lượng và chất
lượng văn bản
Hệ thống văn bản QPPL
của Tỉnh từng bước được hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, bao
quát hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước trên địa bàn. Các văn bản được ban
hành cơ bản bảo đảm kịp thời, hợp pháp, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa
phương, góp phần quan trọng phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền
các cấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an
sinh xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Trong giai đoạn 1991 - 2025, HĐND,
UBND tỉnh đã ban hành 1.127 văn bản QPPL, gồm 268 nghị quyết, 838 quyết định và
21 chỉ thị (riêng giai đoạn 2015-2025, HĐND và UBND tỉnh đã ban hành 200 nghị
quyết và 489 quyết định), cơ bản bao quát các lĩnh vực kinh tế - xã hội; trong
đó, văn bản quy định chi tiết chiếm trên 80%, còn lại văn bản quy định chính
sách của Tỉnh và biện pháp quản lý nhà nước. Số liệu cụ thể từng lĩnh vực/đơn
vị tham mưu từ năm 1991-2025 như sau:

Từ năm 1991 đến năm
2025, cấp xã đã ban hành 5.705 văn bản QPPL, trong đó giai đoạn 2020 - 2025 ban
hành 205 văn bản QPPL. Trên thực tế, số lượng văn bản QPPL của cấp xã không
nhiều do các lĩnh vực quản lý chủ yếu đã được điều chỉnh thống nhất bởi văn bản
của Trung ương và cấp tỉnh.
Mặc dù Luật Ban hành văn
bản QPPL năm 2025 đã mở rộng thẩm quyền ban hành văn bản của cấp xã, nhưng các
nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã phần lớn chỉ
mang tính cụ thể hóa, triển khai quy định của cấp trên. Theo hướng dẫn của Bộ
Tư pháp, các nội dung này được thể hiện bằng văn bản hành chính thay vì văn bản
QPPL, vì vậy thực tiễn ban hành văn bản QPPL ở cấp xã còn ít.
3. Công tác tổ chức thi
hành pháp luật
Công tác tổ chức thi
hành pháp luật trên địa bàn tỉnh đã được các sở, ban, ngành cấp tỉnh và chính
quyền địa phương quan tâm triển khai, gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp năm 1992. Thông qua việc cụ thể hóa và tổ
chức thực hiện các văn bản QPPL của Trung ương, bước đầu đã hình thành nền nếp
trong quản lý nhà nước bằng pháp luật; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật
của cán bộ, Nhân dân từng bước được nâng lên. Nhờ đó, công tác này đã đạt được
những kết quả nhất định, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm
trật tự, kỷ cương và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh. Đặc biệt, sau khi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và Nghị
định số 59/2012/NĐ-CP được ban hành, công tác tổ chức thi hành pháp luật đã có
bước chuyển biến rõ nét. Các văn bản này đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối
đồng bộ, xác định rõ nội dung, trách nhiệm và cơ chế tổ chức thực hiện; qua đó
góp phần nâng cao tính chủ động, thống nhất trong triển khai, từng bước khắc
phục tình trạng phân tán, thiếu đồng bộ trước đây, nâng cao hiệu quả và chất
lượng công tác tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Hằng năm, UBND tỉnh ban
hành kế hoạch công tác tư pháp, xác định rõ nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp
luật (PBGDPL) và triển khai các đề án, chương trình phù hợp thực tiễn địa
phương. Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh phát huy tốt vai trò tham mưu trong định hướng
nội dung tuyên truyền, nhờ đó công tác PBGDPL đạt được những kết quả tích cực.
Bên cạnh hình thức truyền thống, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số với nhiều hình thức mới, sáng tạo, hiệu quả,
đặc biệt là trong giai đoạn 2020 - 2025[1]; thực hiện Thông cáo báo chí và xây
dựng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền có sức lan tỏa rộng rãi, góp
phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL và tăng cường tính công khai, minh bạch
của hệ thống văn bản.
Công tác tập huấn, bồi
dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ được quan tâm thực hiện, từng bước nâng
cao nhận thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ và chất lượng tham mưu của đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị được
triển khai nghiêm túc, nhiều nội dung được cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, xử
lý, tiếp thu, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động tổ
chức thi hành pháp luật, tạo cơ sở quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống văn
bản QPPL trên địa bàn tỉnh.
Công tác kiểm tra việc
tổ chức thi hành pháp luật được triển khai theo kế hoạch, tập trung các lĩnh
vực dễ phát sinh vi phạm, có nhiều phản ánh, kiến nghị hoặc ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Công tác thu thập thông
tin về thi hành pháp luật được triển khai thông qua các nguồn báo cáo, kiểm
tra, khảo sát, làm việc trực tiếp, thông tin từ công tác tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phản ánh trên phương tiện thông tin đại chúng. Thông
qua công tác này đã kịp thời phát hiện bất cập của văn bản QPPL và việc tổ chức
thi hành, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
hoặc ban hành mới. Kết quả thu thập thông tin cũng là căn cứ quan trọng để xác
định lĩnh vực trọng tâm theo dõi, kiểm tra, lựa chọn nội dung khảo sát chuyên
đề và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Công tác tự kiểm tra,
kiểm tra văn bản QPPL được thực hiện tương đối kịp thời, góp phần phát hiện và
xử lý các sai sót về thẩm quyền, nội dung, thể thức và kỹ thuật trình bày[2].
Công tác rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản QPPL được triển khai đảm bảo
quy định, qua đó phát hiện, xử lý các quy định không còn phù hợp và từng bước
hoàn thiện hệ thống pháp luật của Tỉnh[3].
4. Nguồn lực xây dựng
và tổ chức thi hành pháp luật
Nhìn chung, đội ngũ cán
bộ làm công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh từng
bước được củng cố, kiện toàn về số lượng và nâng cao về trình độ chuyên môn, cơ
bản đáp ứng yêu cầu tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Các sở, ban, ngành
cấp tỉnh có 164 cán bộ tham mưu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (21
người chuyên ngành luật, 143 người có trình độ đại học chuyên ngành khác, trong
đó có 11 cán bộ pháp chế). Nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL được quan
tâm với 72 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 1.414
Tuyên truyền viên pháp
luật và 13.328 hòa giải viên ở cơ sở. Tại Sở Tư pháp có 31 biên chế đều có
trình độ từ Cử nhân Luật trở lên (trong đó có 10 Thạc sĩ Luật); đội ngũ tham
mưu công tác xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL là 11 người.
Ở cấp xã, tổng số cán
bộ làm công tác tư pháp là 181 người, đa số có trình độ từ Đại học trở lên,
từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tỉnh đã quan tâm bố trí
kinh phí phục vụ công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. HĐND tỉnh đã
ban hành các văn bản quy định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây
dựng văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh theo Nghị
quyết của HĐND tỉnh về mức chi cho công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp
luật, PBGDPL.
Trên cơ sở đó, hằng năm
ngân sách tỉnh bố trí trung bình khoảng 400 triệu đồng cho công tác xây dựng văn
bản QPPL; một số địa phương bố trí nguồn riêng trung bình khoảng 40-50 triệu
đồng/năm, một số đơn vị bố trí chung trong kinh phí công tác tư pháp từ 100 đến
250 triệu đồng/năm. Từ năm 2024 đến nay, nguồn kinh phí đã được quan tâm, đặc
biệt với cấp tỉnh được cấp trung bình là 1,6 tỷ đồng/năm, góp phần bảo đảm các
hoạt động khảo sát, xây dựng chính sách, tổ chức hội nghị, hội thảo, lấy ý
kiến, thẩm định, rà soát văn bản. Việc triển khai các quy định mới về nội dung
chi, định mức chi theo Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị định số 289/2025/NĐ-CP,
với mức tăng hơn nhiều lần so với trước đây đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng
cao chất lượng hoạt động xây dựng văn bản QPPL.
Cơ sở vật chất, trang
thiết bị làm việc, hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản được quan tâm đầu tư, bảo
đảm điều kiện làm việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Các Cổng/Trang
thông tin điện tử của Tỉnh và sở, ngành đã tích hợp chuyên mục lấy ý kiến dự
thảo văn bản QPPL. Việc khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
được thực hiện tương đối hiệu quả. Văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh được cập
nhật kịp thời, đầy đủ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (đến nay đã cập
nhật 100%), góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật,
tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong tra cứu, tiếp cận thông tin
pháp luật.
5. Phối hợp trong công
tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Công tác phối hợp giữa
các cơ quan, đơn vị trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn
tỉnh cơ bản được triển khai nghiêm túc, từng bước đi vào nền nếp. Việc UBND
tỉnh ban hành các Quy chế phối hợp[4] đã góp phần xác lập rõ cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan, đơn vị, địa phương, tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện. Ở cấp
tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp, Văn phòng
UBND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh và cơ quan liên quan trong việc trao đổi
chuyên môn, cung cấp hồ sơ, lấy ý kiến và hoàn thiện dự thảo văn bản theo quy
định. Tại cấp cơ sở, cùng với sự hỗ trợ chuyên môn của Tư pháp cơ sở, các cơ
quan, đơn vị đã chủ động trao đổi, tham vấn về thẩm quyền, nội dung, hình thức
văn bản; phối hợp lấy ý kiến đối tượng chịu tác động và các tổ chức, cá nhân
liên quan.
Công tác phối hợp giữa
các sở, ban, ngành và địa phương trong tổ chức thi hành pháp luật cũng được chú
trọng. Các cơ quan, đơn vị đã tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp trong
công tác phổ biến, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật cũng như trong hoạt
động rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL. Qua đó góp phần bảo đảm các quy định
pháp luật được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên địa bàn tỉnh.
II.
HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT
1.
Hệ thống văn bản QPPL của Tỉnh còn thiếu các chính sách để kiến tạo phát triển
Qua rà soát cho thấy,
các văn bản QPPL của Tỉnh thời gian qua chủ yếu được ban hành để quy định chi
tiết, cụ thể hóa các văn bản của Trung ương; số lượng văn bản đề xuất cơ chế,
chính sách mới còn hạn chế, chưa thật sự mang tính định hướng phát triển, tạo
lợi thế cạnh tranh, khơi thông nguồn lực hoặc giải quyết hiệu quả các vấn đề
đặc thù của địa phương. Trong tổng số văn bản QPPL từ năm 1991 đến nay, văn bản
quy định cơ chế, chính sách của Tỉnh chỉ chiếm khoảng 15%.
Phạm vi và mức độ tác
động của một số chính sách trong các lĩnh vực trọng điểm của Tỉnh còn hạn chế,
chưa tạo được động lực phát triển rõ nét, còn thiếu trọng tâm, dẫn đến việc
triển khai trong thực tiễn còn dàn trải, nguồn lực hỗ trợ bị phân tán.
Một số nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh vẫn
chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ thông qua các cơ chế, chính sách để tổ
chức triển khai thực hiện. Chẳng hạn như, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2020 - 2025) xác định một trong năm chương trình
trọng điểm là “phát triển du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mǜi nhọn
của tỉnh”. Mặc dù đã ban hành một số chính sách liên quan đến phát triển du
lịch, song việc cụ thể hóa chủ trương của Nghị quyết còn chậm; nội dung chính
sách chưa thật sự đầy đủ, chưa tạo được động lực đủ mạnh để thúc đẩy phát triển
du lịch trên địa bàn tỉnh.
Kết quả rà soát cho
thấy còn 169 văn bản QPPL của Tỉnh trên các lĩnh vực như: tài chính, nội vụ,
nông nghiệp và môi trường, khoa học và công nghệ,... cần được sửa đổi, bổ sung,
thay thế, bãi bỏ hoặc công bố hết hiệu lực. Con số này phản ánh khá rõ áp lực
hoàn thiện thể chế của Tỉnh trong giai đoạn tới và đòi hỏi phải có lộ trình xử
lý theo thứ tự ưu tiên thay vì dàn đều, thiếu trọng tâm.
2.
Việc thực hiện quy trình xây dựng văn bản QPPL ở một số trường hợp chưa phù
hợp, chưa bảo đảm yêu cầu gắn với thực tiễn và chưa chú trọng đúng mức công tác
đánh giá tác động chính sách
Việc thực hiện quy
trình xây dựng văn bản QPPL ở một số trường hợp chưa bảo đảm yêu cầu gắn với
thực tiễn; công tác phân tích, đánh giá tác động chính sách, khảo sát thực tế
trong quá trình chuẩn bị dự thảo văn bản còn hình thức, chưa cung cấp đầy đủ căn
cứ thực tiễn cho việc đề xuất, lựa chọn phương án chính sách. Công tác đánh giá
tác động chính sách và đánh giá tác động thủ tục hành chính trong một số trường
hợp còn mang tính hình thức, chưa đi sâu phân tích tác động kinh tế - xã hội,
chi phí tuân thủ và tính khả thi của chính sách. Hoạt động điều tra, khảo sát,
thu thập thông tin và dữ liệu phục vụ phân tích chính sách chưa được thực hiện
thường xuyên, dẫn đến việc nhận diện vấn đề và lựa chọn phương án chính sách
trong một số trường hợp chưa thật sự toàn diện, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản
lý hoặc yêu cầu xử lý tình huống phát sinh.
Việc lấy ý kiến đối
tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách đối với một số dự thảo văn bản
chưa bảo đảm tính thực chất; nội dung xin ý kiến còn dàn trải, chưa xác định rõ
các vấn đề trọng tâm cần tham vấn. Việc góp ý của một số cơ quan, đơn vị còn
chung chung, thiếu phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn. Công tác tổng hợp,
tiếp thu và giải trình ý kiến góp ý trong một số trường hợp chưa được thực hiện
đầy đủ, khoa học, làm giảm hiệu quả của quá trình phản biện và phối hợp liên
ngành trong xây dựng chính sách.
Việc tuân thủ quy định
về thành phần hồ sơ trong quy trình xây dựng văn bản tại một số cơ quan, đơn vị
chưa nghiêm túc; vẫn còn tình trạng hồ sơ gửi thẩm định thiếu các tài liệu bắt
buộc như: báo cáo đánh giá tác động chính sách, bản đánh giá thủ tục hành
chính, báo cáo tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã
hội, bản so sánh, thuyết minh dự thảo văn bản. Một số trường hợp chậm tổ chức
lấy ý kiến, chậm gửi hồ sơ thẩm định hoặc chậm hoàn thiện dự thảo văn bản, ảnh
hưởng đến tiến độ và chất lượng tham mưu ban hành văn bản.
3.
Chất lượng chính sách chưa đồng đều, tính khả thi của một số chính sách chưa
cao
Một số chính sách chậm
đi vào cuộc sống, khả năng hấp thụ còn thấp; tỷ lệ giải ngân chưa cao; một số
nội dung hỗ trợ không phát sinh hoặc phát sinh rất ít đối tượng thụ hưởng, đối
tượng thụ hưởng khó tiếp cận như cơ chế chính sách trong một số lĩnh vực kinh
tế, đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội[5],…
Bên cạnh đó, một số văn
bản chưa dự kiến đầy đủ nguồn lực bảo đảm thi hành, không có đối tượng tham gia
đăng ký để hưởng chính sách[6]. Một số cơ chế, chính sách mới chỉ có
quy định mang tính giải quyết vấn đề phát sinh trước mắt, chưa được nghiên cứu,
đánh giá đầy đủ tác động tổng thể, dài hạn, dẫn đến khi ban hành chưa dự liệu
hết các tình huống phát sinh trong thực tiễn nên phải sửa đổi, bổ sung trong
thời gian ngắn[7].
4.
Tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu, chưa được đánh giá ngang tầm với
xây dựng pháp luật
Một số cơ quan, đơn vị,
địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức thi hành pháp luật; việc
xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong quản lý nhà nước chưa
thật sự rõ nét. Vì vậy, sau khi văn bản được ban hành, khâu tổ chức triển khai
ở một số nơi còn chậm, thiếu chiều sâu và chưa gắn với kiểm tra kết quả thực
hiện.
Công tác tổ chức thi
hành pháp luật tại một số sở, ban, ngành và địa phương chưa được triển khai một
cách toàn diện, còn mang tính thụ động, chủ yếu thực hiện khi có văn bản hoặc
kế hoạch được ban hành. Chưa hình thành quy trình tổ chức thi hành pháp luật
đồng bộ từ khâu truyền thông chính sách sớm, hướng dẫn thi hành, theo dõi kết
quả thực hiện, đến việc thu thập, xử lý vướng mắc và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Việc tổ chức triển khai
thi hành một số văn bản QPPL chưa đảm bảo kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ
biến chính sách chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến người dân, doanh nghiệp và đối
tượng thụ hưởng chưa nắm rõ quyền lợi, chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về chính
sách.
Hoạt động truyền thông
dự thảo chính sách, dự thảo văn bản QPPL chủ yếu vẫn được thực hiện thông qua
việc đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Tỉnh và ban hành văn bản lấy ý
kiến, trong khi việc tổ chức các hội nghị, tọa đàm chuyên sâu, các hình thức
đối thoại trực tiếp hoặc thông qua chương trình truyền hình, phóng sự để trao
đổi, lấy ý kiến về dự thảo chính sách còn hạn chế.
Công tác tự kiểm tra,
rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa
được thực hiện thường xuyên, đầy đủ và kịp thời. Hoạt động kiểm tra văn bản
chưa gắn kết chặt chẽ với công tác rà soát, hệ thống hóa và tổ chức thi hành
pháp luật, dẫn đến việc phát hiện, xử lý văn bản có nội dung chưa phù hợp còn
chậm. Việc rà soát ở một số đơn vị còn mang tính hình thức, lúng túng trong
cách thực hiện nên chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc xác định hiệu lực, lập
và công bố danh mục văn bản hết hiệu lực ở một số trường hợp còn chưa chính
xác, chưa kịp thời theo quy định.
Chất lượng và hiệu quả
của công tác tập huấn, bồi dưỡng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Một số
chương trình tập huấn còn nặng về lý thuyết, thiếu nội dung thực hành, ví dụ
minh họa và bài tập xử lý tình huống cụ thể gắn với công tác quản lý, điều
hành, giải quyết thủ tục hành chính, giải quyết tranh chấp và tiếp nhận, xử lý
phản ánh, kiến nghị, dẫn đến việc tiếp thu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn
công tác tại cơ sở còn hạn chế. Việc xây dựng và tổ chức kế hoạch bồi dưỡng
chuyên sâu theo từng ngành, lĩnh vực của các sở, ngành chuyên môn chưa thực sự
chủ động và đồng bộ. Phần lớn các hoạt động bồi dưỡng hiện nay vẫn tập trung
vào các lớp tập huấn chung hoặc lồng ghép nhiều nội dung, chưa chú trọng tổ
chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu theo lĩnh vực quản lý, do đó chưa đáp ứng yêu
cầu nâng cao kỹ năng, năng lực thực thi nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức
trực tiếp làm công tác chuyên môn tại các sở, ngành và địa phương.
Công tác kiểm tra việc
tổ chức thi hành pháp luật chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Nội dung kiểm tra ở
một số trường hợp còn tập trung vào hồ sơ, thủ tục, chưa đi sâu đánh giá kết
quả thực hiện, mức độ tuân thủ pháp luật và nguyên nhân của các khó khăn, vướng
mắc phát sinh tại cơ sở; việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận kiểm tra
cũng chưa thường xuyên, chưa gắn rõ trách nhiệm khắc phục.
5.
Cơ chế tiếp nhận, phản hồi và khai thác thông tin thực tiễn phục vụ hoàn thiện
pháp luật còn hạn chế
Mặc dù đã vận hành Hệ
thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL, tuy nhiên, hiệu quả khai
thác các kênh thông tin này còn hạn chế. Từ ngày 31/5/2025 (thời điểm bắt đầu
vận hành Hệ thống) đến ngày 31/5/2026, Hệ thống chỉ ghi nhận 04 phản ánh, kiến
nghị và đều không thuộc phạm vi tiếp nhận, xử lý; con số này cho thấy cơ chế
truyền thông, hướng dẫn sử dụng và khai thác phản hồi chính sách từ thực tiễn
còn rất yếu.
Bên cạnh đó, việc tiếp
nhận và xử lý kiến nghị bằng hình thức trực tiếp giữa các cơ quan, đơn vị chưa
được triển khai đồng bộ. Một số sở, ban, ngành và địa phương chưa xác định rõ
đây là nhiệm vụ thường xuyên, chưa bố trí đầu mối theo dõi, tổng hợp và xử lý
kiến nghị về văn bản QPPL. Chất lượng phản hồi kiến nghị chưa đồng đều; trong
một số trường hợp việc trả lời còn dừng ở mức hướng dẫn áp dụng pháp luật, chưa
gắn với việc rà soát, đánh giá nội dung văn bản để phát hiện các quy định bất
cập, chồng chéo hoặc không còn phù hợp theo nội dung kiến nghị. Do đó, các phản
ánh, kiến nghị chưa thực sự được khai thác như một nguồn thông tin quan trọng
phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL.
Ngoài ra, việc thu thập
thông tin về tình hình thi hành văn bản QPPL vẫn chủ yếu dựa vào chế độ báo cáo
định kỳ, trong khi các phương thức thu thập thông tin trực tiếp, đa chiều từ
thực tiễn như điều tra, khảo sát, thông tin từ báo chí, cổng thông tin điện tử,
hoạt động thanh tra, kiểm tra hoặc phản ánh của người dân, doanh nghiệp chưa
được khai thác hiệu quả. Nội dung báo cáo còn mang tính mô tả, thiếu phân tích
sâu về những vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp
luật; đồng thời cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị
chưa chặt chẽ. Phản ánh từ người dân, doanh nghiệp và cơ sở chưa trở thành đầu
vào thường xuyên của quá trình hoàn thiện pháp luật, các quy định pháp luật dễ
chậm được điều chỉnh so với yêu cầu thực tiễn, dẫn đến tình trạng một số quy
định chồng chéo, không còn phù hợp nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
6. Nguồn lực thực hiện
công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
Đội ngũ công chức thực
hiện nhiệm vụ tham mưu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại các sở, ban,
ngành và địa phương còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Việc bố trí nhân
lực chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở một số lĩnh vực chuyên môn sâu; nhiều vị
trí việc làm liên quan đến xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL, theo dõi
thi hành pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết tranh chấp pháp lý
chưa được bố trí đủ công chức theo vị trí việc làm được phê duyệt, dẫn đến tình
trạng kiêm nhiệm và áp lực công việc lớn.
Bên cạnh đó, trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác pháp luật còn chưa đồng
đều; số lượng cán bộ được đào tạo chuyên sâu về pháp luật, phân tích chính
sách, đánh giá tác động chính sách, kiểm soát chất lượng văn bản và xử lý các
vấn đề pháp lý phức tạp còn hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu mới
tập trung vào cập nhật quy định pháp luật mới, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nâng
cao năng lực theo tinh thần đổi mới của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Ở cấp xã, đội ngũ công
chức tư pháp còn thiếu và chưa đồng đều; biên chế hiện mới đạt khoảng 74% so
với chỉ tiêu được giao. Một số địa phương chỉ bố trí 01 - 02 công chức phụ
trách, vẫn còn trường hợp chưa có trình độ chuyên ngành luật; năng lực của một
bộ phận công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong bối cảnh khối lượng công
việc ngày càng gia tăng do yêu cầu cải cách hành chính và phát triển kinh tế -
xã hội, thực trạng này đang tạo áp lực lớn đối với công tác tham mưu, xây dựng
và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Kinh phí thực hiện nhiệm
vụ xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chủ yếu được bố trí trong dự toán chi
thường xuyên của các cơ quan, đơn vị nên mức phân bổ còn thấp, chưa đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ ngày càng tăng dẫn đến nhiều hoạt động quan trọng như khảo sát
thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, tổ chức hội nghị lấy ý kiến đối tượng
chịu tác động… chưa được triển khai đầy đủ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Cơ sở vật chất phục vụ
công tác này chưa được đầu tư đồng bộ, đặc biệt ở cấp cơ sở. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp
luật còn chưa hiệu quả; hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu pháp luật
chưa được đầu tư đầy đủ, chưa hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên
thông, bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”. Công tác lưu trữ, cập nhật,
thống kê và tổng hợp số liệu vẫn chủ yếu thực hiện thủ công, làm tăng khối
lượng công việc và giảm tính chính xác, kịp thời trong công tác báo cáo, tham
mưu. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, theo dõi, đánh giá tình hình thi
hành văn bản QPPL, đồng thời làm giảm tính kịp thời và minh bạch trong quá
trình tổ chức thực hiện.
7. Cơ chế phối hợp và
huy động trí tuệ xã hội cho xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa rõ nét,
hiệu quả chưa cao
Việc phối hợp giữa cơ
quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình xây
dựng văn bản ở một số trường hợp vẫn chủ yếu tập trung vào việc thực hiện các
thủ tục theo quy định, chưa phát huy đầy đủ vai trò tham gia của các cơ quan
liên quan trong việc góp ý, xây dựng chính sách ngay từ giai đoạn đầu xây dựng
văn bản. Vai trò giám sát, phản biện xã hội và việc tập hợp, phản ánh ý kiến,
kiến nghị của Nhân dân đối với việc thực hiện pháp luật ở một số lĩnh vực chưa
được đầy đủ, việc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý các khó khăn,
vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành pháp luật có thời điểm còn chưa
kịp thời.
Công tác phối hợp trong
PBGDPL giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự chặt chẽ, chưa tập
trung theo chuyên đề, nhóm đối tượng và lĩnh vực pháp luật trọng tâm; việc đánh
giá hiệu quả phối hợp chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có cơ chế cụ thể
làm căn cứ theo dõi, điều chỉnh. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước
với doanh nghiệp công nghệ, đơn vị viễn thông trong xây dựng, vận hành các nền
tảng số phục vụ PBGDPL còn hạn chế.
Bên cạnh đó, việc huy
động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, đội ngũ luật sư, luật
gia, chuyên gia pháp lý, giảng viên, các tổ chức xã hội, cộng đồng doanh nghiệp
và Nhân dân trong quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế;
cơ chế tham vấn chính sách chuyên sâu, thường xuyên chưa được hình thành rõ
nét.
III.
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ
1. Nguyên nhân khách
quan
- Hệ thống pháp luật
của Trung ương thay đổi nhanh, phạm vi điều chỉnh rộng; số lượng văn bản do
Trung ương ban hành lớn, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là khi
thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, dẫn đến áp lực lớn cho địa phương
trong việc cập nhật, rà soát, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống văn
bản QPPL.
- Một số quy định của
Trung ương giao địa phương quy định chi tiết để tổ chức thực hiện nhưng chưa rõ
về nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản hoặc giao địa phương quy định chi tiết
rất nhiều nội dung trong đó có những nội dung mới và khó, dẫn đến lúng túng
trong quá trình triển khai thực hiện. Một số văn bản của Trung ương có hiệu lực
thi hành ngay khi ban hành nên địa phương không thể kịp thời ban hành văn bản quy
định chi tiết để có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản giao quy định chi tiết
theo đúng quy định.
- Trước yêu cầu đổi mới
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Hà Tĩnh đang đứng trước nhiều
thời cơ và yêu cầu phát triển mới, với mục tiêu trở thành một cực tăng trưởng
quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ, phát huy lợi thế kinh tế biển, phát triển
kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại gắn
với Khu kinh tế Vũng Áng. Trong bối cảnh đó, Tỉnh đồng thời phải giải quyết
nhiều nhiệm vụ lớn như: tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành hiệu quả
chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển
đổi số, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút đầu tư và phát
triển doanh nghiệp, hỗ trợ cơ sở. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng, hoàn
thiện kịp thời hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản QPPL của Tỉnh, trong khi
nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành
pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế.
2. Nguyên nhân chủ quan
- Nhận thức của một bộ
phận cơ quan, đơn vị và người đứng đầu về vai trò của công tác xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật chưa đầy đủ; ở một số nơi vẫn xem đây chủ yếu là nhiệm
vụ của cơ quan tư pháp hoặc nhiệm vụ mang tính thủ tục.
- Chất lượng tham mưu ở
một số khâu còn hạn chế, nhất là đánh giá tác động chính sách, khảo sát thực
tiễn, lấy ý kiến đối tượng chịu tác động, giải trình tiếp thu; cơ chế phối hợp,
chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chưa thật sự chặt chẽ.
- Công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ làm công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa theo kịp
yêu cầu thực tiễn; nội dung, phương pháp bồi dưỡng chưa chú trọng phát triển
các kỹ năng chuyên sâu như phân tích chính sách, đánh giá tác động, dự báo và
xử lý vấn đề pháp lý phức tạp.
- Cơ chế bảo đảm nguồn
lực cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa thực sự phù hợp;
việc ưu tiên bố trí kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật còn hạn
chế, chưa tương xứng với khối lượng và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
PHẦN
III
QUAN
ĐIỂM, MỤC TIÊU, TÁC ĐỘNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
A. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
- Việc đổi mới, nâng
cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn
tỉnh phải được triển khai trên cơ sở quán triệt đầy đủ các quan điểm, chủ
trương của Đảng về hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quản lý Nhà nước bằng
pháp luật, đặc biệt là tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW; đồng thời, phải bám
sát yêu cầu phát triển của Tỉnh, yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 02 cấp
và đảm bảo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm
quyền, rõ sản phẩm.
- Thể chế phải đi trước
một bước, mở đường cho phát triển, công tác xây dựng văn bản QPPL của Tỉnh phải
chuyển từ tư duy quy định quản lý sang tư duy kiến tạo thể chế phát triển, chủ
động phát hiện các điểm nghẽn thể chế trong thực tiễn để kịp thời đề xuất cơ
chế, chính sách phù hợp, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, sản xuất
kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
- Quá trình xây dựng văn
bản QPPL phải chú trọng lấy ý kiến đầy đủ các đối tượng chịu tác động, sử dụng
dữ liệu thực tiễn. Việc xây dựng văn bản QPPL phải gắn chặt với tổng kết thực
tiễn, bảo đảm mỗi chính sách được ban hành đều có cơ sở khoa học, cơ sở thực
tiễn và khả năng triển khai trong thực tế.
- Tổ chức thi hành pháp
luật giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm thể chế được triển khai đồng bộ,
thống nhất và phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn quản lý nhà nước,
chất lượng của hệ thống pháp luật không chỉ được đo bằng số lượng văn bản ban
hành mà quan trọng hơn là mức độ đi vào cuộc sống của văn bản QPPL.
- Đổi mới công tác xây
dựng và tổ chức thi hành pháp luật phải gắn với chuyển đổi số và hiện đại hóa
công tác quản lý nhà nước trong đó cần phải số hóa hệ thống văn bản, xây dựng
cơ sở dữ liệu pháp luật của Tỉnh, ứng dụng công nghệ thông tin tổ chức thi hành
pháp luật.
- Coi công tác xây dựng
và tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ chung của toàn bộ hệ thống chính trị,
trong đó chính quyền các cấp giữ vai trò tổ chức thực hiện, cơ quan tư pháp giữ
vai trò tham mưu, điều phối, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân
tham gia phản biện, góp ý và giám sát. Việc huy động trí tuệ của xã hội và phát
huy cơ chế phối hợp liên ngành sẽ góp phần nâng cao chất lượng chính sách và hiệu
quả tổ chức thi hành pháp luật.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đổi mới toàn diện, thực
chất công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
theo hướng kỷ cương, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, khả thi và có thể đo
lường được; bảo đảm pháp luật thực sự trở thành công cụ phát triển, hỗ trợ cải
thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Đến năm
2030, cơ bản hình thành hệ thống quản trị pháp luật của Tỉnh theo hướng hiện
đại, dựa trên dữ liệu và đánh giá hiệu quả thực thi, trong đó công tác xây dựng
pháp luật được thực hiện theo phương pháp phân tích chính sách khoa học, công
tác tổ chức thi hành pháp luật được quản trị bằng cơ chế theo dõi, đánh giá
thường xuyên; pháp luật của Tỉnh thực sự trở thành công cụ điều hành phát
triển, bảo đảm kỷ cương, pháp quyền trong quản lý nhà nước.
Định hướng đến năm
2035, xây dựng Hà Tĩnh trở thành địa phương có hệ thống văn bản QPPL minh bạch,
ổn định, có chất lượng cao, có khả năng dự báo và thích ứng tốt với yêu cầu
phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị Nhà nước, tạo môi trường pháp
lý thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Nâng cao chất
lượng công tác xây dựng văn bản QPPL
Từng bước nâng cao chất
lượng chính sách và văn bản QPPL của Tỉnh minh bạch và khả thi, bảo đảm các văn
bản được ban hành đúng thẩm quyền, đúng quy trình, phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đến năm 2030:
- 100% dự thảo văn bản
QPPL thuộc thẩm quyền cấp tỉnh được lấy ý kiến theo đúng quy định; phấn đấu tối
thiểu 50% dự thảo chính sách được lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học trước khi
trình ban hành.
- Phấn đấu giảm tối
thiểu 30% số văn bản QPPL phải sửa đổi, bổ sung trong vòng 24 tháng kể từ khi
ban hành do bất cập về chất lượng chính sách hoặc kỹ thuật xây dựng văn bản.
Định hướng đến năm
2035: tất
cả các chính sách của Tỉnh đều được nghiên cứu, phân tích tác động đầy đủ trước
khi ban hành. Từng bước xây dựng cơ chế phản biện chính sách thường xuyên với
sự tham gia của chuyên gia, người dân và doanh nghiệp.
2.2.2. Nâng cao hiệu
lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật
Bảo đảm pháp luật được
triển khai kịp thời, nghiêm minh, thống nhất trên địa bàn tỉnh; hình thành cơ
chế tổ chức thi hành pháp luật theo hướng lấy kết quả thực hiện làm thước đo,
có theo dõi, đánh giá, phản hồi và xử lý trách nhiệm rõ ràng.
Đến năm 2030:
- 100% văn bản được ban
hành hoặc lồng ghép kế hoạch tổ chức thi hành, phổ biến, quán triệt theo thời
hạn phù hợp.
- 100% văn bản QPPL
được theo dõi tình hình tổ chức thi hành pháp luật thường xuyên.
- 100% phản ánh, kiến
nghị liên quan đến văn bản QPPL được tiếp nhận, xử lý dứt điểm hoặc phản hồi
theo quy định.
- Hằng năm, thực hiện
rà soát 100% số văn bản QPPL còn hiệu lực để kịp thời phát hiện và xử lý các
quy định không còn phù hợp.
Định hướng đến năm
2035: vận
hành có hiệu quả hệ thống tổ chức thi hành pháp luật dựa trên dữ liệu số, cho
phép đánh giá thường xuyên mức độ thực thi và hiệu quả của chính sách. Thiết
lập cơ chế phản hồi chính sách từ thực tiễn giữa chính quyền, doanh nghiệp và
người dân.
2.2.3. Xây dựng đội ngǜ
cán bộ làm công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chuyên nghiệp
Từng bước kiện toàn tổ
chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật
tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh theo hướng chuyên nghiệp, đủ năng lực
tham mưu chính sách và tổ chức thi hành pháp luật. Chỉ số đo lường đến năm 2030:
- Đến Quý II năm 2027,
100% cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh bố trí cán bộ làm công tác pháp chế
theo quy định.
- 100% cán bộ làm công
tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
định kỳ hằng năm.
- Tăng tối thiểu 20% số
cán bộ có trình độ chuyên sâu về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật so với
giai đoạn trước.
Định hướng đến năm
2035: Hình
thành đội ngũ chuyên gia pháp luật và chính sách của Tỉnh, có năng lực nghiên
cứu, phân tích và đề xuất chính sách phục vụ phát triển địa phương.
2.2.4. Đẩy mạnh chuyển
đổi số trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Đến năm 2030, tăng
cường chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp
luật, ưu tiên số hóa dữ liệu, kết nối thông tin và hình thành công cụ điều hành
phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo.
- 100% văn bản QPPL của
Tỉnh được số hóa và tích hợp trên cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, Công báo
điện tử của tỉnh.
- 100% hoạt động tổng
hợp, theo dõi, báo cáo về rà soát, kiểm tra và theo dõi thi hành văn bản QPPL ở
cấp tỉnh được thực hiện trên môi trường số; từng bước chuẩn hóa, mở rộng kết
nối đến cấp xã theo lộ trình phù hợp.
Định hướng đến năm
2035: hình
thành hệ thống quản trị pháp luật số của Tỉnh, kết nối với cơ sở dữ liệu pháp
luật quốc gia và các hệ thống quản lý nhà nước khác.
3. Đánh giá tác động
của Đề án
3.1. Tác động đến công
tác quản lý nhà nước về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Đề án tác động trực
tiếp đến công tác quản lý nhà nước về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật theo
hướng tăng tính tập trung, thống nhất, rõ trách nhiệm và dựa trên kết quả đầu
ra. Đề án sẽ góp phần khắc phục tình trạng phân tán trong tham mưu chính sách,
nâng chất lượng hồ sơ, kiểm soát tốt hơn tiến độ và chất lượng văn bản, đồng
thời tạo cơ sở cho việc theo dõi, đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật
bằng dữ liệu và chỉ tiêu cụ thể.
3.2. Tác động đến nhận
thức, ý thức chấp hành pháp luật
Đề án có tác động trực
tiếp đến nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật thông qua việc chuyển mạnh từ
cách làm tuyên truyền dàn trải sang truyền thông chính sách theo nhóm đối
tượng, đúng thời điểm và gắn với các vấn đề người dân, doanh nghiệp đang quan
tâm. Khi văn bản được xây dựng sát thực tiễn hơn, được hướng dẫn, phổ biến kịp
thời hơn và có cơ chế phản hồi rõ ràng hơn, mức độ đồng thuận và tuân thủ pháp
luật trong xã hội sẽ được nâng lên.
3.3. Tác động đến sự
phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
Về mặt kinh tế, Đề án
góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và dự báo tốt hơn cho
hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; qua đó hỗ trợ tháo gỡ điểm nghẽn thể
chế, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính thuận lợi trong tiếp cận chính sách và
nâng cao năng lực cạnh tranh của Tỉnh.
Về mặt xã hội, Đề án
góp phần bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tăng
cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ; hạn chế tình trạng chính sách
đúng nhưng tổ chức thực hiện chậm hoặc kém hiệu quả; đồng thời củng cố niềm tin
của xã hội đối với pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.
B. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và
điều hành công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
1.1. Tăng cường vai trò
lãnh đạo của cấp ủy đảng trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
- Ban hành, tổ chức
thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của cấp ủy về công tác xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật; kịp thời cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công
tác hằng năm, bảo đảm bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
- Tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát của cấp ủy đối với việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp
luật tại các cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, bất
cập; xử lý hoặc kiến nghị xử lý các vi phạm, vướng mắc phát sinh trong quá
trình thực hiện.
1.2. Nâng cao trách
nhiệm của người đứng đầu
- Tổ chức triển khai
thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quy chế làm việc của UBND tỉnh, xây dựng và hoàn
thiện Quy chế tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã; bảo đảm thực hiện đầy đủ
các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong từng khâu của công tác xây
dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá
việc thực hiện Quy chế; gắn trách nhiệm cá nhân với tiến độ, chất lượng và kết
quả thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
- Duy trì nền nếp giao
ban có nội dung chuyên đề về công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở
cấp tỉnh và tại từng cơ quan, đơn vị; đề cao vai trò, trách nhiệm của người
đứng đầu trong việc trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kịp thời nắm bắt khó
khăn, vướng mắc, xử lý các vấn đề phát sinh và kiểm soát tiến độ thực hiện
nhiệm vụ pháp luật theo lĩnh vực phụ trách.
- Chỉ đạo xây dựng kế
hoạch và phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong từng
khâu của quy trình xây dựng văn bản QPPL và tổ chức thi hành pháp luật, đồng
thời tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện. Tăng cường kiểm soát quyền
lực, nhất là tại các khâu dễ phát sinh tiêu cực như xây dựng chính sách, soạn
thảo, thẩm định, ban hành văn bản và tổ chức thực hiện, gắn với cơ chế kiểm
tra, giám sát thường xuyên. Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, kịp thời
phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, “cài cắm” lợi ích
nhóm, lợi ích cục bộ trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm
công khai, minh bạch, đúng quy định, phù hợp với Quy định số 178- QĐ/TW ngày
27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
- Thực hiện nghiêm việc
đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể và cá nhân gắn với
kết quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; đề cao trách nhiệm
người đứng đầu, lấy chất lượng văn bản, hiệu quả thực hiện và mức độ hài lòng
của người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí quan trọng trong công tác thi đua,
khen thưởng và xem xét trách nhiệm.
1.3. Chủ động xây dựng
thể chế, chính sách phục vụ phát triển
- Công tác xây dựng và
tổ chức thi hành pháp luật phải được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của Tỉnh, gắn với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, khơi thông các nguồn lực và nâng
cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
Trên cơ sở Nghị quyết Đại
hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, ưu tiên tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ
thống văn bản QPPL trong các lĩnh vực trọng tâm như: phát triển công nghiệp -
xây dựng, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng
và logistics; phát triển Khu kinh tế Vũng Áng trở thành trung tâm công nghiệp -
năng lượng - cảng biển - logistics của khu vực; phát triển kinh tế tư nhân, cải
thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; thúc đẩy kinh tế số, chuyển đổi
số, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển nông nghiệp thông
minh, nông nghiệp theo chuỗi giá trị; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường,
thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việc xây dựng, ban hành
văn bản QPPL phải gắn với thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của Tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GRDP, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thực hiện các mục tiêu phát
triển bền vững. Đồng thời, bảo đảm sự gắn kết với các đề án, chương trình lớn
của Tỉnh như: Đề án mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng; Đề án phát triển doanh nghiệp
Hà Tĩnh đến năm 2030; Đề án phát triển quỹ đất tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2025 -
2030; Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tỉnh Hà Tĩnh đến năm
2030 và những năm tiếp theo; Đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ
hoạt động bảo vệ môi trường giai đoạn 2026 - 2030; Đề án xây dựng nông thôn mới
và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2030; Đề án phát triển các ngành công
nghiệp văn hóa tỉnh Hà Tĩnh; Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Hà Tĩnh giai
đoạn 2026 - 2030 gắn với yêu cầu của các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XX… Chủ động rà soát, phân tích, dự báo nhu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành
mới văn bản trên cơ sở các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và
các chiến lược lớn của Tỉnh như: phát triển “một trung tâm động lực”, “ba hành
lang kinh tế”, “bốn ngành trọng điểm”, “ba vùng đô thị”, cùng các đột phá về
chuyển đổi số, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Việc xây dựng văn bản
QPPL ngoài việc kịp thời cụ thể hóa các quy định của Trung ương, cần tập trung
chủ động phát hiện, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nhất là trong những lĩnh
vực tác động trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển của Tỉnh.
1.4. Thiết lập cơ chế
điều hành tập trung, thống nhất
- Giao Sở Tư pháp là cơ
quan thường trực tham mưu UBND tỉnh điều phối thống nhất công tác xây dựng và
tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh; định kỳ tham mưu UBND tỉnh họp
chuyên đề (hoặc lồng ghép nội dung trong cuộc họp UBND tỉnh) để rà soát tiến độ
xây dựng văn bản, tình hình tổ chức thi hành pháp luật, các điểm nghẽn thể chế
và phương án xử lý. Văn phòng UBND tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp theo dõi tiến
độ, đôn đốc thực hiện và lồng ghép kết quả công tác pháp luật với điều hành
chung của UBND tỉnh.
- Triển khai cơ chế
soạn thảo tập trung, chuyên nghiệp đối với các dự thảo văn bản QPPL nếu thấy
cần thiết (Chủ tịch UBND tỉnh quyết định) nhằm nâng cao chất lượng nội dung và
tính khả thi của văn bản QPPL; huy động đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn
sâu, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng xây dựng pháp luật; bảo đảm sự phối hợp
chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan liên quan ngay từ đầu.
2.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về nâng cao chất lượng xây dựng chính sách và văn bản
QPPL
2.1. Đổi mới việc thực hiện
quy trình xây dựng văn bản QPPL theo hướng khoa học, thực chất, nâng cao chất
lượng từ giai đoạn đầu vào của chính sách
- Tổ chức thực hiện đầy
đủ, đúng quy trình xây dựng văn bản QPPL; nâng cao chất lượng đề xuất chính
sách, đánh giá tác động chính sách và đánh giá tác động thủ tục hành chính; tăng
cường khảo sát thực tiễn, lấy ý kiến đối tượng chịu tác động, chuyên gia, nhà
khoa học; bảo đảm việc tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý thực chất. Hồ sơ trình
thẩm định phải được kiểm soát chặt ngay từ đầu, không để tình trạng đủ về hình
thức nhưng yếu về cơ sở thực tiễn và tính khả thi.
- Trước khi đề xuất sửa
đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản QPPL, cần tổ chức sơ kết, tổng kết việc
thi hành các quy định hiện hành để làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc
và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, tổng hợp, cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu, căn
cứ thực tiễn và pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định bảo đảm
đúng đắn, toàn diện và sát thực tế.
2.2. Đổi mới cơ chế
tham vấn và phản biện chính sách
- Thực hiện cơ chế phản
biện xã hội và tham vấn chính sách ngay từ giai đoạn đề xuất chính sách. Đối
với các dự thảo quan trọng, có phạm vi tác động rộng, cơ quan chủ trì soạn thảo
tổ chức các cuộc phản biện, đối thoại hoặc tham vấn chuyên đề để làm rõ các vấn
đề lớn, nội dung còn có ý kiến khác nhau và điều kiện bảo đảm thi hành.
- Đa dạng hóa các hình
thức tham vấn chính sách trong quá trình xây dựng văn bản QPPL thông qua việc
tổ chức các hội thảo, tọa đàm, đối thoại chính sách, khảo sát thực tiễn và lấy
ý kiến trực tuyến đối với các dự thảo có tác động lớn đến phát triển kinh tế -
xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống Nhân dân; bảo đảm lựa chọn
đúng đối tượng tham gia, tập trung vào các nội dung chính sách trọng tâm để kịp
thời phát hiện bất cập, qua đó hoàn thiện dự thảo theo hướng khả thi và phù hợp
với thực tiễn.
- Xây dựng mạng lưới
chuyên gia, nhà khoa học theo lĩnh vực để tham vấn thường xuyên. Đối với các
chính sách quan trọng, cơ quan soạn thảo sẽ đặt hàng các báo cáo phản biện độc
lập để có cái nhìn đa chiều, phản biện lại các phương án chính sách do cơ quan
Nhà nước đề xuất.
- Nâng cao trách nhiệm
của các cơ quan, đơn vị trong việc tham gia góp ý xây dựng văn bản QPPL, bảo
đảm việc tham gia ý kiến được thực hiện nghiêm túc, có chất lượng, thông qua
việc tổ chức lấy ý kiến tập thể lãnh đạo và các phòng chuyên môn, đồng thời thể
hiện rõ quan điểm đối với các nội dung của dự thảo văn bản.
2.3. Tăng cường chất
lượng thẩm định, kiểm tra và tự kiểm tra văn bản
- Nâng cao trách nhiệm
của cơ quan soạn thảo văn bản QPPL trong việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, đúng thành
phần, bảo đảm chất lượng để cơ quan thẩm định có thời gian nghiên cứu, đánh giá
toàn diện. Bảo đảm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định nghiêm túc, minh bạch;
các nội dung không tiếp thu phải làm rõ cơ sở pháp lý và thực tiễn.
- Việc thẩm định phải
gắn với trách nhiệm cá nhân, bảo đảm độc lập, khách quan và có kiến nghị rõ
ràng đối với từng vấn đề còn bất cập. Chủ động mời đại diện các Ban của HĐND
tham gia các cuộc họp thẩm định dự thảo Nghị quyết.
- Nâng cao chất lượng
nội dung báo cáo thẩm định, tập trung phân tích, đánh giá toàn diện sự cần
thiết ban hành, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản
với hệ thống pháp luật; đồng thời đi sâu xem xét nguồn tài chính, nguồn nhân
lực, việc phân cấp, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, việc ứng dụng,
thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nội
dung thẩm định phải rõ ràng, có lập luận, căn cứ cụ thể và thể hiện đầy đủ quan
điểm chính thức của cơ quan thẩm định.
- Tăng cường tự kiểm
tra, kiểm tra văn bản sau ban hành, nhất là những văn bản liên quan trực tiếp
đến người dân, doanh nghiệp hoặc lĩnh vực dễ phát sinh vướng mắc nhằm kịp thời
phát hiện và đề xuất xử lý các quy định có dấu hiệu trái pháp luật, mâu thuẫn,
chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn. Công tác kiểm tra cần gắn chặt
với kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật, phản ánh, kiến nghị của tổ chức,
cá nhân và thông tin từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo để kịp thời nhận diện các quy định phát sinh vướng mắc trong quá trình áp
dụng.
- Phát huy vai trò cơ
quan đầu mối của Sở Tư pháp, tăng cường hướng dẫn, đôn đốc và tổ chức kiểm tra
văn bản theo thẩm quyền; kịp thời tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử
lý đối với các văn bản có nội dung chưa phù hợp.
2.4. Rà soát, chuẩn hóa
toàn bộ hệ thống văn bản của Tỉnh
Thực hiện tổng rà soát hệ
thống văn bản QPPL theo Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 ngày 03/4/2026 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL, Quyết định số
05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo về ban hành Kế hoạch triển khai tổng
rà soát hệ thống văn bản QPPL, Thông báo số 2331/TB-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban
Chỉ đạo Tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL kết luận Phiên họp lần thứ nhất của
Ban Chỉ đạo, Công điện số 32/CĐ-TTg ngày 19/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL.
Tiếp tục thực hiện rà
soát có trọng tâm theo từng nhóm lĩnh vực và từng nhóm vấn đề chính sách; trước
mắt ưu tiên xử lý các văn bản bị tác động bởi việc sắp xếp tổ chức bộ máy, vận
hành chính quyền địa phương 02 cấp, thay đổi căn cứ pháp lý hoặc phát sinh
nhiều vướng mắc trong thực tiễn, đặc biệt là các văn bản được nêu tại Phụ lục
II Đề án này. Việc rà soát phải gắn với thứ tự ưu tiên, thời hạn xử lý và trách
nhiệm cơ quan tham mưu, tránh dàn trải và kéo dài. Tổ chức triển khai hệ thống
hóa văn bản QPPL theo đúng quy định tại Luật Ban hành văn bản QPPL và các văn
bản hướng dẫn thi hành.
Thực hiện rà soát văn
bản QPPL ngay khi có căn cứ theo quy định, đồng thời rà soát, đánh giá các quy
định hiện hành nhằm kịp thời phát hiện, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành
mới văn bản QPPL, qua đó tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế.
3.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới căn bản công tác tổ chức thi hành pháp luật
3.1. Xác định tổ chức
thi hành pháp luật là khâu trọng tâm trong quản lý nhà nước bằng pháp luật
- Cơ quan chủ trì soạn
thảo có trách nhiệm chủ động tổ chức triển khai thi hành văn bản ngay sau khi
được ban hành; kịp thời tổ chức phổ biến, tập huấn, hướng dẫn áp dụng và theo
dõi việc thực hiện, bảo đảm văn bản được triển khai thống nhất và hiệu quả
trong thực tiễn.
- Theo dõi, đôn đốc
việc tổ chức thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong
quá trình áp dụng để xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định, bảo đảm các quy
định của văn bản được triển khai thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong thực
tiễn.
3.2. Thiết lập cơ chế
gắn kết giữa xây dựng văn bản QPPL với tổ chức thi hành pháp luật
- Xây dựng hoặc hướng
dẫn về quy trình quản lý tổ chức thi hành pháp luật gồm 6 khâu (truyền thông
chính sách sớm; hướng dẫn triển khai; tổ chức thực hiện; theo dõi kết quả; tiếp
nhận phản hồi; xử lý văn bản).
- Tổ chức quán triệt,
hướng dẫn các sở, ban, ngành và địa phương áp dụng thống nhất quy trình quản lý
tổ chức thi hành pháp luật trong quá trình triển khai văn bản QPPL.
- Theo dõi, đánh giá
hiệu quả của việc thực hiện quy trình quản lý tổ chức thi hành pháp luật tại
các sở, ban, ngành và địa phương.
3.3. Tăng cường theo
dõi thi hành văn bản QPPL theo chuyên đề, lĩnh vực trọng tâm
- Ban hành Kế hoạch
theo dõi việc thi hành văn bản QPPL xác định rõ lĩnh vực trọng tâm, chuyên đề
như: đầu tư, đất đai, tài nguyên, xây dựng, tài chính - ngân sách, khoa học -
công nghệ, chuyển đổi số, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, chính quyền địa
phương hai cấp…
- Tổ chức các đoàn khảo
sát, kiểm tra thực tế việc thi hành pháp luật tại một số địa phương, đơn vị
trong lĩnh vực trọng tâm, chuyên đề để xác định vướng mắc, bất cập trong thực
tiễn.
- Phân tích, đánh giá
nguyên nhân của các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật
trong từng lĩnh vực, địa phương; xác định rõ nguyên nhân từ quy định pháp luật,
từ tổ chức thực hiện hoặc từ điều kiện thực tiễn.
- Nâng cao chất lượng
kết luận và kiến nghị sau kiểm tra công tác tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm
xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và lộ
trình, biện pháp khắc phục cụ thể.
- Theo dõi, đôn đốc và
kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các
trường hợp chậm triển khai hoặc không thực hiện đầy đủ, bảo đảm tính nghiêm
minh, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động kiểm tra.
3.4. Đổi mới công tác
PBGDPL theo hướng gắn với chính sách và nhu cầu xã hội
- Công tác PBGDPL phải
chuyển từ tuyên truyền dàn trải sang truyền thông chính sách có trọng tâm, đúng
đối tượng, đúng thời điểm. Tập trung phổ biến kịp thời các chính sách, quy định
mới liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người dân và doanh nghiệp; ưu
tiên các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, khiếu kiện, tranh chấp. Nội dung tuyên
truyền cần giảm lý thuyết, tăng tình huống pháp lý, hỏi - đáp, hướng dẫn thực
hành và phải được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng.
- Bên cạnh việc phát
huy các hình thức truyền thống thì đẩy mạnh đổi mới công tác PBGDPL theo hướng
hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Tăng cường ứng dụng công
nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác PBGDPL; đa dạng hóa các
hình thức PBGDPL trên nền tảng số, từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong
cung cấp thông tin pháp luật. Tối ưu hóa hệ thống Cổng/Trang thông tin điện tử,
bảo đảm kết nối, liên thông với Cổng Pháp luật Quốc gia; khai thác triệt để ưu
thế của các nền tảng mạng xã hội chính thống (Zalo, TikTok, Facebook) và ứng
dụng di động. Tăng cường tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến;
ứng dụng công nghệ số trong công tác tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật và
bồi dưỡng kỹ năng PBGDP. Ưu tiên xây dựng, số hóa các tài liệu PBGDPL như
infographic, video ngắn, tài liệu hỏi - đáp điện tử, podcast... nhằm đơn giản
hóa những quy định phức tạp, tạo nguồn thông tin dễ tiếp cận, dễ hiểu và dễ
thực thi. Nghiên cứu xây dựng chatbot giải đáp pháp luật và triển khai các hoạt
động ứng dụng, chuyển đổi số, công nghệ số khác bảo đảm phù hợp với điều kiện
thực tiễn của địa phương.
- Đổi mới công tác chỉ
đạo, điều hành, vai trò của Hội đồng Phối hợp PBGDPL và cơ quan quản lý nhà nước.
Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Phối hợp PBGDPL; phát huy
hiệu quả vai trò của Hội đồng Phối hợp PBGDPL và thực hiện đầy đủ trách nhiệm
của thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL trong hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai
thực hiện công tác PBGDPL thuộc phạm vi quản lý. Tập trung rà soát, xây dựng
các mô hình tuyên truyền, PBGDPL mới, hiệu quả, đặc biệt là các mô hình ứng
dụng chuyển đổi số để nhân ra diện rộng.
4.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng cơ chế phản hồi chính sách và sử dụng thông
tin thực tiễn để hoàn thiện pháp luật
4.1. Tiếp nhận, xử lý
phản ánh, kiến nghị về pháp luật theo hướng thực chất
- Xây dựng quy trình
thống nhất từ tiếp nhận, phân loại, xử lý, phản hồi, tổng hợp, kiến nghị sửa
đổi chính sách.
- Vận hành hiệu quả Hệ
thống thông tin tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL theo quy định.
Tích hợp Hệ thống này vào Ứng dụng công dân số i-HaTinh. Tăng cường tuyên
truyền, phổ biến để người dân, doanh nghiệp biết, tiếp cận và sử dụng các tiện
ích của Hệ thống thông qua các hình thức phù hợp như: niêm yết công khai tại
trụ sở các cơ quan, đơn vị; lồng ghép trong các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL,
hội nghị, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ.
- Tổ chức theo dõi, đôn
đốc thường xuyên việc xử lý các đề nghị, kiến nghị của các sở, ban, ngành và
địa phương liên quan đến văn bản QPPL; kịp thời tổng hợp, rà soát, tham mưu sửa
đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định không còn phù hợp, chồng chéo,
mâu thuẫn hoặc không còn tính khả thi, có nguy cơ phát sinh “điểm nghẽn thể
chế”, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL của Tỉnh theo hướng đồng bộ,
thống nhất, khả thi và phù hợp với thực tiễn.
4.2. Nâng cao hiệu quả
thu thập, khai thác và xử lý thông tin phục vụ tổ chức thi hành pháp luật
- Thiết lập đầu mối
tiếp nhận, tổng hợp và quản lý thông tin phản ánh, kiến nghị từ các nguồn: khảo
sát, đối thoại doanh nghiệp, tiếp xúc cử tri, báo chí, nền tảng số, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên, hiệp hội ngành nghề.
- Thiết lập cơ chế phối
hợp giữa cơ quan tư pháp, cơ quan thanh tra, kiểm tra và các sở, ban, ngành cấp
tỉnh để chia sẻ thông tin kịp thời, tránh trùng lặp, phân tán dữ liệu. Bên cạnh
đó, phát huy vai trò của cơ quan chủ trì trong điều phối, tổng hợp thông tin về
thi hành văn bản QPPL.
- Đẩy mạnh tổ chức điều
tra, khảo sát chuyên đề về tình hình thi hành văn bản QPPL. Theo đó, các cơ
quan, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch khảo sát hằng năm hoặc theo chuyên đề,
tập trung vào những lĩnh vực trọng tâm, phức tạp, có nhiều phản ánh, kiến nghị
hoặc phát sinh vướng mắc trong thực tiễn. Việc điều tra, khảo sát cần
được thực hiện bằng nhiều hình thức linh hoạt như phát phiếu khảo sát, tổ chức
tọa đàm, lấy ý kiến trực tiếp từ cơ quan thực thi, doanh nghiệp và người dân;
kết hợp khai thác thông tin từ báo chí, hệ thống phản ánh, kiến nghị và kết quả
kiểm tra, thanh tra. Thông qua đó, kịp thời thu thập thông tin đa chiều, khách
quan, sát thực tiễn, làm cơ sở đánh giá đúng tình hình thi hành văn bản QPPL,
phát hiện những bất cập, chồng chéo, thiếu khả thi để kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện phù hợp, hiệu quả.
4.3. Gắn chặt phản hồi
thực tiễn với sửa đổi, bổ sung chính sách
- Thông tin, phản ánh
từ thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật phải được coi là nguồn dữ liệu đầu vào
quan trọng cho hoạt động rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản QPPL. Đối với các vấn đề được phản ánh nhiều lần, kéo dài hoặc tác
động lớn đến môi trường đầu tư, kinh doanh, đời sống dân sinh và hiệu lực quản
lý nhà nước, phải tổng hợp, báo cáo và đưa vào danh mục xử lý ưu tiên của UBND
tỉnh.
- Gắn công tác xây dựng
văn bản QPPL với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tổ
chức thi hành pháp luật. Đổi mới tư duy xây dựng chính sách theo hướng kiến tạo
phát triển, đồng hành và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp; gắn với mục tiêu cải
cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Việc xây dựng văn
bản QPPL phải được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ sự cần thiết ban hành,
bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của Tỉnh trong từng giai đoạn.
- Xây dựng và triển
khai Kế hoạch rà soát văn bản QPPL hằng năm, đồng thời tổ chức rà soát theo
chuyên đề, lĩnh vực hoặc địa bàn, nhất là đối với các lĩnh vực có nhiều biến
động chính sách hoặc phát sinh vướng mắc trong quá trình thi hành. Các cơ quan,
đơn vị thực hiện rà soát văn bản QPPL thường xuyên; khi phát sinh căn cứ rà
soát phải kịp thời tổ chức rà soát theo quy định. Kết quả rà soát và danh mục văn
bản QPPL còn hiệu lực, hết hiệu lực, ngưng hiệu lực được công bố hằng năm, bảo
đảm đầy đủ, đúng quy định.
- Gắn chặt công tác rà
soát văn bản QPPL với hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, kết quả giải quyết
phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, cũng như các kết luận thanh tra,
kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
- Tổng hợp, phân tích
các lỗi phổ biến trong công tác xây dựng văn bản QPPL thông qua hoạt động kiểm
tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản; phân loại theo các nhóm như: thẩm quyền,
nội dung, thể thức và kỹ thuật trình bày, hiệu lực thi hành… Trên cơ sở đó, xây
dựng Sổ tay hoặc tài liệu hướng dẫn cung cấp cho các cơ quan tham mưu xây dựng
văn bản nhằm hạn chế sai sót và nâng cao chất lượng văn bản.
- Đánh giá kết quả thực
hiện chính sách; thực hiện sơ kết, tổng kết việc thi hành các văn bản QPPL, đặc
biệt là các chính sách để đánh giá toàn diện hiệu quả chính sách, nhận diện
nguy cơ tham nhũng, lợi ích nhóm và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật.
5.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về chuyển đổi số và xây dựng mô hình quản trị pháp
luật hiện đại của Tỉnh
5.1. Xây dựng cơ sở dữ
liệu pháp luật của Tỉnh đồng bộ, thống nhất
Thực hiện số hóa văn
bản QPPL còn hiệu lực và dữ liệu phục vụ tổ chức thi hành pháp luật; chuẩn hóa
thông tin theo lĩnh vực, thời điểm, hiệu lực, cơ quan ban hành, tình trạng xử
lý; kết nối, đồng bộ với cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia và các hệ thống dữ
liệu chuyên ngành của Tỉnh. Cơ sở dữ liệu phải vừa phục vụ quản lý nội bộ, vừa
phục vụ công khai, tra cứu và tiếp cận pháp luật cho người dân, doanh nghiệp.
5.2. Thiết lập công cụ
trực quan hóa dữ liệu về quản trị pháp luật phục vụ điều hành của UBND tỉnh
Xây dựng bảng điều hành
quản trị pháp luật của Chủ tịch UBND tỉnh trên môi trường số để phục vụ chỉ
đạo, điều hành. Bảng điều hành cần tập trung vào các nhóm thông tin trọng yếu,
có khả năng cập nhật định kỳ và sử dụng được trong thực tiễn như: tiến độ xây
dựng văn bản; tiến độ xử lý văn bản sau rà soát; tình hình tổ chức thi hành
pháp luật ở các lĩnh vực trọng tâm; phản ánh, kiến nghị về chính sách; mức độ
hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị.
5.3. Từng bước hình
thành mô hình Hệ thống quản trị pháp luật tỉnh Hà Tĩnh
Từng bước xây dựng Hệ
thống quản trị pháp luật của tỉnh Hà Tĩnh trên nền tảng dữ liệu số và các công
cụ điều hành hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng xây dựng chính sách và hiệu quả
tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Hệ thống quản trị pháp
luật của Tỉnh được hình thành trên cơ sở tích hợp và vận hành đồng bộ các công
cụ sau:
- Cơ sở dữ liệu pháp
luật của Tỉnh, phục vụ quản lý thống nhất, tra cứu, rà soát và cập nhật hệ
thống văn bản QPPL của Tỉnh;
- Hệ thống theo dõi
tình hình thi hành pháp luật, giúp phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc
phát sinh trong quá trình triển khai thi hành pháp luật ở các ngành, lĩnh vực
và địa phương;
- Bảng điều hành
(Dashboard) phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ lãnh đạo tỉnh theo dõi
tiến độ xây dựng văn bản, tình hình thi hành pháp luật và kết quả xử lý các vấn
đề phát sinh.
Trên cơ sở các công cụ
nêu trên, từng bước hình thành mô hình quản trị pháp luật của Tỉnh theo chu
trình khép kín, bảo đảm sự liên thông giữa các khâu trong quá trình xây dựng và
tổ chức thi hành pháp luật, gồm:
(1) Phát hiện và xác
định vấn đề từ thực tiễn quản lý và đời sống xã hội;
(2) Nghiên cứu, xây
dựng và hoàn thiện chính sách;
(3) Ban hành văn bản
QPPL hoặc văn bản áp dụng pháp luật;
(4) Tổ chức triển khai
và hướng dẫn thi hành;
(5) Theo dõi, kiểm tra
và đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật;
(6) Tiếp nhận phản ánh,
kiến nghị từ cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp;
(7) Phản hồi và hoàn
thiện chính sách, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật của Tỉnh.
Thông qua việc hình
thành hệ thống quản trị pháp luật theo chu trình khép kín nêu trên, công tác
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật của Tỉnh từng bước được đổi mới theo
hướng quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, tăng cường tính minh bạch, nâng cao
trách nhiệm giải trình và khả năng phản ứng chính sách trước những yêu cầu phát
triển của Tỉnh trong giai đoạn mới.
6.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kiện toàn tổ chức, phát triển nguồn nhân lực và
điều kiện bảo đảm thực hiện
6.1. Kiện toàn tổ chức
pháp chế, nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy làm công tác pháp luật
Rà soát, kiện toàn tổ
chức pháp chế trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; bảo đảm bố trí công
chức làm công tác pháp chế theo quy định; ưu tiên bổ sung biên chế theo hướng
tập trung cho các khâu quan trọng như xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn
bản, theo dõi thi hành văn bản QPPL, chuyển đổi số pháp luật. Trên cơ sở biên
chế hiện có, mỗi cơ quan, đơn vị xây dựng vị trí việc làm theo quy định và bố
trí ít nhất 01 biên chế có đủ năng lực, trình độ phụ trách tham mưu công tác
xây dựng văn bản QPPL và tổ chức thi hành pháp luật.
6.2. Xây dựng đội ngũ
cán bộ pháp luật có năng lực chính sách và quản trị pháp luật
- Đào tạo, bồi dưỡng
theo hướng phát triển năng lực phân tích chính sách, kỹ năng tham vấn, thẩm
định, rà soát, xử lý tình huống pháp lý, khai thác dữ liệu và vận hành công cụ
số. Hình thành mạng lưới cán bộ nòng cốt về công tác xây dựng và tổ chức thi
hành pháp luật ở cấp tỉnh và cấp xã; từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia,
cộng tác viên kiểm tra, rà soát văn bản QPPL.
- Tổ chức các đoàn học
tập kinh nghiệm về công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại một số
địa phương thực hiện hiệu quả, chất lượng trong công tác này cho đối tượng là
cán bộ làm công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại cấp tỉnh, cấp
xã.
- Ưu tiên tuyển dụng,
bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ có trình độ cao, đặc biệt là những người tốt
nghiệp loại xuất sắc tại cơ sở đào tạo ngành luật uy tín trên cả nước, người có
học vị tiến sĩ hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo chuyên ngành luật tại
nước ngoài vào làm việc tại Sở Tư pháp và các cơ quan chuyên môn, nhằm nâng cao
chất lượng tham mưu, xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật của Tỉnh trong bối
cảnh hội nhập và phát triển.
6.3. Bảo đảm kinh phí,
cơ sở vật chất và điều kiện kỹ thuật
Bố trí kinh phí thực
hiện Đề án theo hướng tập trung, có trọng tâm, ưu tiên cho các nhiệm vụ thiết
yếu như: thẩm định, góp ý, rà soát hệ thống văn bản; xây dựng cơ sở dữ liệu
pháp luật; chuyển đổi số; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khảo sát, đánh giá, phản
biện chính sách; kiểm tra, theo dõi thi hành văn bản QPPL. Đồng thời đầu tư hạ
tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, kho dữ liệu và thiết bị làm việc
phù hợp để bảo đảm khả năng vận hành thực chất, tránh đầu tư dàn trải.
PHẦN
IV
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
I.
NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bảo đảm sự lãnh đạo
của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của UBND tỉnh đối với công tác
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
2. Bảo đảm phân công rõ
trách nhiệm, rõ cơ quan chủ trì, rõ thời hạn và rõ kết quả đầu ra, gắn trách
nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị với kết quả thực hiện.
3. Gắn việc triển khai Đề
án với thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Chương trình hành động của Tỉnh ủy
và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
4. Bảo đảm công tác xây
dựng và tổ chức thi hành pháp luật được thực hiện theo phương pháp quản trị
hiện đại, dựa trên dữ liệu, đánh giá hiệu quả thực thi và phản hồi từ thực
tiễn.
5. Phát huy vai trò của
toàn bộ hệ thống chính trị; trong đó Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu, điều phối,
các sở, ngành và chính quyền cấp xã là chủ thể tổ chức thực hiện.
II.
TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN
1. Sở Tư pháp
1.1. Là cơ quan thường
trực tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Đề án; chủ trì tham mưu
ban hành kế hoạch triển khai hằng năm, theo dõi tiến độ, tổng hợp kết quả, đôn
đốc, kiểm tra và kịp thời tham mưu xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh
trong quá trình thực hiện.
1.2. Chủ động nghiên
cứu, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ của Đề
án; kịp thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong
quá trình triển khai thực hiện; kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung, nhiệm
vụ của Đề án khi cần thiết để bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
1.3. Chủ trì, phối hợp
với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch xây dựng
văn bản QPPL của Tỉnh; rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; theo dõi tình hình
thi hành văn bản QPPL; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL.
1.4. Phối hợp với Sở
Tài chính trong việc tham mưu UBND tỉnh bố trí, quản lý và sử dụng kinh phí
thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật.
1.5. Chủ trì, phối hợp
với các sở, ban, ngành và địa phương tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề
án, đánh giá toàn diện kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và
nguyên nhân; trên cơ sở đó tham mưu UBND tỉnh đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp
tiếp tục thực hiện hoặc điều chỉnh, bổ sung nội dung Đề án cho phù hợp với tình
hình thực tiễn; tổ chức các cuộc họp chuyên đề về công tác xây dựng văn bản
QPPL.
2. Sở Nội vụ
2.1. Theo thẩm quyền
chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án.
2.2. Chủ trì phối hợp
với Sở Tư pháp và các sở, ban, ngành có liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất
việc củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế thực hiện công tác xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật, pháp chế của các sở, ban, ngành theo các quy định của
Trung ương, của Tỉnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
3. Sở Tài chính
3.1. Theo thẩm quyền
chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án.
3.2. Trên cơ sở đề xuất
của Sở Tư pháp và các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh
phí thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước.
3.3. Chủ trì rà soát và
đề xuất các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
4. Văn phòng UBND tỉnh
4.1. Theo thẩm quyền
chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án.
4.2. Phối hợp với Sở Tư
pháp xem xét, kiểm tra việc đăng ký xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh;
theo dõi tiến độ trình, bảo đảm các dự thảo văn bản được đưa vào chương trình,
kế hoạch và trình đúng thời hạn theo Quy chế làm việc của UBND tỉnh.
4.3. Cung cấp đầy đủ
các văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành (bao gồm bản PDF và bản Word) cho Sở Tư
pháp để thực hiện tự kiểm tra và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp
luật.
4.4. Phối hợp Sở Tư
pháp trong việc tham mưu UBND tỉnh tổ chức các phiên họp chuyên đề về công tác
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (hoặc lồng ghép nội dung trong cuộc họp
UBND tỉnh); theo dõi, đôn đốc các sở, ngành thực hiện các nhiệm vụ của Đề án
gắn với chương trình công tác của UBND tỉnh; phối hợp xây dựng hệ thống
dashboard theo dõi tiến độ xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật của Tỉnh.
5. Các sở, ban, ngành
liên quan
5.1. Chủ động tổ chức
triển khai thực hiện Đề án theo chức năng, nhiệm vụ được giao, hằng năm xây
dựng kế hoạch cụ thể để triển khai nhiệm vụ kịp thời, hiệu quả.
5.2. Chủ trì thực hiện
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong phạm vi lĩnh vực quản lý. Thực
hiện đầy đủ quy trình đánh giá tác động chính sách khi đề xuất xây dựng văn bản
QPPL.
5.3. Chủ động rà soát,
phát hiện và xử lý hoặc kiến nghị xử lý các văn bản QPPL có nội dung chồng
chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp với thực tiễn, kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ
sung, thay thế hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền.
5.4. Thực hiện nghiêm
công tác tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản QPPL, bảo
đảm đúng trình tự, thời hạn; coi kết quả xử lý kiến nghị là kênh quan trọng
phục vụ công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật của Tỉnh.
5.5. Phối hợp chặt chẽ
với Sở Tư pháp và các cơ quan liên quan trong công tác kiểm tra việc tổ chức
thi hành pháp luật, cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu; nghiêm túc thực hiện
và khắc phục kịp thời các kết luận, kiến nghị sau kiểm tra.
5.6. Tổ chức thực hiện
việc thu thập đầy đủ, kịp thời thông tin về tình hình thi hành văn bản QPPL
thuộc lĩnh vực quản lý từ các nguồn theo quy định; chủ động tiếp nhận, xử lý
hoặc kiến nghị xử lý các phản ánh, kiến nghị, kết quả khảo sát, thanh tra, kiểm
tra trong phạm vi thẩm quyền; tổng hợp, báo cáo kết quả thu thập và xử lý thông
tin, đề xuất xử lý theo quy định.
5.7. Định kỳ hoặc đột
xuất báo cáo UBND tỉnh, Sở Tư pháp về tình hình, kết quả triển khai thực hiện
các nhiệm vụ của Đề án theo lĩnh vực quản lý.
6. UBND các xã, phường
6.1. Tổ chức triển khai
thực hiện Đề án tại địa phương; xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện thực
tế; bảo đảm các văn bản QPPL được quán triệt, triển khai đầy đủ, thống nhất đến
cán bộ, công chức và Nhân dân trên địa bàn.
6.2. Thực hiện nghiêm
túc việc tổ chức thi hành pháp luật ở cơ sở, nhất là trong các lĩnh vực liên
quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; kịp
thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành để báo cáo cấp có
thẩm quyền xem xét, xử lý.
6.3. Tham gia đầy đủ
các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ do cấp trên
tổ chức; chủ động tự học tập, cập nhật kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã.
6.4. Thực hiện việc
tiếp nhận, tổng hợp và phản ánh kịp thời các đề nghị, kiến nghị của người dân,
doanh nghiệp về văn bản QPPL, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu,
xử lý theo quy định.
6.5. Chấp hành nghiêm
các hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên, cung cấp thông tin, tài
liệu phục vụ kiểm tra; tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến
nghị sau kiểm tra.
6.6. Thực hiện chế độ
thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình tổ chức thi hành pháp luật
tại địa phương theo yêu cầu của UBND tỉnh và cơ quan chuyên môn.
6.7. Bố trí kinh phí
đảm bảo thực hiện công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật theo quy
định.
7. Đề nghị Ban Nội
chính Tỉnh ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh phối hợp tổ chức thực hiện
các nội dung tại Đề án này
7.1. Đề nghị Ban Nội
chính Tỉnh ủy
Tham mưu Tỉnh ủy,
Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trong quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, gắn với việc thực hiện Nghị
quyết số 66-NQ/TW, Chương trình hành động số 45- CTr/TU; kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các nhiệm vụ về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật theo Quy định số 178-QĐ/TW.
Tham mưu tăng cường
công tác phối hợp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã
hội nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp
luật trên địa bàn tỉnh.
7.2. Đề nghị Ban Tuyên
giáo và Dân vận Tỉnh ủy: phối hợp thực hiện tốt công tác thông tin,
tuyên truyền, phổ biến đề án gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW,
Chương trình hành động số 45-CTr/TU, tạo sự thống nhất trong nhận thức và đồng
thuận xã hội; định hướng các cơ quan báo chí, truyền thông mở các chuyên trang,
chuyên mục về đổi mới xây dựng pháp luật; thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng của Nhân dân về các quy định pháp luật mới để kịp thời định hướng tư
tưởng; chủ động ngăn chặn, xử lý các thông tin xuyên tạc về các chủ trương,
chính sách trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật; phối hợp với Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật, tăng cường giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
trong quá trình xây dựng pháp luật; xây dựng mô hình “Dân vận khéo”, khuyến
khích và nhân rộng các mô hình, điển hình về chấp hành pháp luật và tham gia
xây dựng chính quyền.
7.3. Đề nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh: tiếp tục quan tâm, tăng cường giám sát văn bản
QPPL và việc tổ chức thi hành pháp luật; phối hợp cung cấp thông tin, kết quả
giám sát việc thi hành văn bản QPPL theo quy định nhằm nâng cao hiệu quả công
tác tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.
8. Đề nghị Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên: tăng cường thực hiện
phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản QPPL; tham gia góp ý kiến về chính
sách, dự thảo văn bản QPPL; tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân và kịp thời
gửi đến cơ quan có thẩm quyền; phối hợp cung cấp thông tin, kết quả giám sát
việc thi hành văn bản QPPL nhằm góp phần nâng cao chất lượng xây dựng văn bản
QPPL, bảo đảm các chính sách, quy định pháp luật phù hợp thực tiễn, phản ánh ý
chí, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành
pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Các tổ chức xã hội -
nghề nghiệp có trách nhiệm tăng cường, chủ động và thường xuyên tuyên truyền,
phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
liên quan đến lĩnh vực hoạt động cho hội viên. Tổ chức tiếp nhận, tổng hợp,
phản ánh kịp thời, đầy đủ các thông tin, kiến nghị, khó khăn, vướng mắc phát
sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, báo cáo cơ quan có thẩm quyền
để xem xét, xử lý. Chủ động tham gia góp ý, đề xuất giải pháp cụ thể nhằm khắc
phục những bất cập, mâu thuẫn trong thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật, bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
thúc đẩy phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực hoạt động.
9. Đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh: phối hợp với Sở Tư pháp và các sở, ban, ngành
liên quan thực hiện hiệu quả Đề án theo quy định.
10. Đề nghị Trường
Chính trị Trần Phú: phối
hợp thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng, hướng
dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
III.
CƠ CHẾ PHỐI HỢP THỰC HIỆN
1. Cơ chế điều phối
chung
UBND tỉnh chỉ đạo thống
nhất việc thực hiện Đề án; Sở Tư pháp là cơ quan đầu mối điều phối; các sở,
ban, ngành và UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp thực hiện theo nguyên tắc rõ
cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn và rõ kết quả đầu ra.
2. Cơ chế họp chuyên đề
Hằng năm, UBND tỉnh tổ
chức ít nhất 01 hội nghị hoặc phiên họp chuyên đề về công tác xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật để đánh giá tiến độ thực hiện Đề án, rà soát điểm
nghẽn, xác định nhiệm vụ ưu tiên và xử lý các vấn đề liên ngành phát sinh trong
quá trình thực hiện..
3. Cơ chế theo dõi và
đánh giá
Việc theo dõi, đánh giá
kết quả thực hiện Đề án được thực hiện thông qua chế độ báo cáo định kỳ, kiểm
tra chuyên đề, kết quả xử lý văn bản sau rà soát, kết quả tiếp nhận - xử lý
phản ánh, kiến nghị từng bước tích hợp trên môi trường số để phục vụ điều hành.
IV.
NGUỒN LỰC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
Nguồn lực thực hiện Đề
án bao gồm:
1. Ngân sách nhà nước
Kinh phí thực hiện Đề
án được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà
nước về phân cấp ngân sách.
2. Nguồn nhân lực
Khuyến khích huy động
sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ
chức nghề nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể xã hội có liên quan
trong quá trình xây dựng, phản biện, tổ chức thi hành và đánh giá pháp luật.
V.
LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN
1. Giai đoạn 2026 -
2030
- Tập trung xây dựng và
hoàn thiện các cơ chế, quy trình để triển khai thống nhất Đề án trên địa bàn
tỉnh.
Trong đó, rà soát, ban
hành các quy định, hướng dẫn cần thiết để tổ chức thực hiện Đề án; thực hiện
quy trình xây dựng chính sách và quy trình xây dựng văn bản QPPL của địa phương
theo hướng khoa học, minh bạch, nâng cao chất lượng ngay từ khâu đề xuất chính
sách.
Đồng thời, xây dựng và
từng bước hình thành cơ sở dữ liệu pháp luật của Tỉnh, bảo đảm việc cập nhật,
khai thác, tra cứu các văn bản QPPL và thông tin pháp lý được thuận lợi, phục
vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
- Đánh giá kết quả đạt
được, những khó khăn, vướng mắc và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp
để bảo đảm Đề án được triển khai hiệu quả.
- Tổ chức tổng kết,
đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Đề án giai đoạn 2026 - 2030; làm rõ kết
quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề xuất nhiệm vụ,
giải pháp cho giai đoạn tiếp theo trên cơ sở số liệu, kết quả đo lường và yêu
cầu thực tiễn.
2. Giai đoạn 2030 -
2035
- Xây dựng và hoàn
thiện mô hình Hệ thống quản trị pháp luật của Tỉnh
Trên cơ sở kết quả thực
hiện giai đoạn trước, nghiên cứu xây dựng và từng bước hoàn thiện mô hình Hệ
thống quản trị pháp luật của Tỉnh, bao gồm: hệ thống xây dựng chính sách và
pháp luật, hệ thống tổ chức thi hành pháp luật, cơ sở dữ liệu pháp luật và bộ
công cụ đánh giá chất lượng quản trị pháp luật.Việc xây dựng mô hình nhằm hình
thành cơ chế quản trị pháp luật đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp
luật với tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước bằng pháp luật.
- Triển khai vận hành
Hệ thống quản trị pháp luật của Tỉnh
Tổ chức triển khai vận
hành Hệ thống quản trị pháp luật của Tỉnh trên phạm vi toàn tỉnh; tiếp tục hoàn
thiện quy trình, công cụ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan; cập nhật, chuẩn
hóa cơ sở dữ liệu pháp luật, hệ thống tổ chức thi hành pháp luật và bộ chỉ số
đánh giá, bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, phục vụ hiệu quả công tác quản lý
nhà nước và công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong giai đoạn
phát triển mới của Tỉnh./.