|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
33/2024/NQ-HĐND
|
|
Loại văn bản:
|
Nghị quyết
|
|
Nơi ban hành:
|
Tỉnh Thanh Hóa
|
|
Người ký:
|
Đỗ Trọng Hưng
|
|
Ngày ban hành:
|
10/07/2024
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Số công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN
TỈNH THANH HÓA
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
33/2024/NQ-HĐND
|
Thanh Hóa, ngày
10 tháng 7 năm 2024
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ
VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG PHỤ LỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND
NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
KHÓA XVIII, KỲ HỌP THỨ 20
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính
phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày
22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ các Nghị định của Chính phủ: Số
34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 154/2020/NĐ-CP ngày
31 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số
59/2024/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định, số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm
2020 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng
7 năm 2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố
và công trình công cộng;
Căn cứ Thông tư số 36/2006/TT-BVHTTDL ngày 20
tháng 3 năm 2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch) hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố
và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11
tháng 7 năm 2005 của Chính phủ;
Xét Tờ trình số 141/TTr-UBND ngày 02 tháng 7 năm
2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung phụ
lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của
Hội đồng nhân dân tỉnh; Báo cáo thẩm tra số 488/BC-VHXH ngày 05 tháng 7 năm
2024 của Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại
biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Bổ sung 838 tên vào
Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội
đồng nhân dân tỉnh, cụ thể như sau:
1. Tên địa danh (Tên một địa điểm, vùng đất nổi tiếng,
có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của đất nước, của tỉnh
Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết
nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534.
2. Từ có ý nghĩa tiêu biểu: 11.
3. Tên di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
của tỉnh Thanh Hóa: 53.
4. Tên phong trào cách mạng (các sự kiện lịch sử,
chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa): 20.
5. Tên danh nhân: 220, trong đó:
a) Danh nhân đất nước: 18.
b) Danh nhân, nhân vật lịch sử được suy tôn tại
Thanh Hóa: 202, trong đó:
- Danh nhân, nhân vật lịch sử là người ngoài tỉnh
có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa: 07.
- Danh nhân, nhân vật lịch sử Thanh Hóa: 163.
- Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân: 31.
- Anh hùng lao động: 01.
(Chi tiết tại Phụ
lục số I kèm theo)
Điều 2. Sửa đổi 22 tên tại
phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa ban hành ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07
tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh.
(Chi tiết tại Phụ
lục số II kèm theo)
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Nghị quyết này
và các quy định hiện hành của pháp luật tổ chức triển khai thực hiện.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của
Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu
Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc tổ chức triển khai, thực hiện Nghị quyết
này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh
Hóa khóa XVIII, kỳ họp thứ 20 thông qua ngày 10 tháng 7 năm 2024, có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2024./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch;
- Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh;
- Ủy ban MTTQ tỉnh và các sở, ban, ngành cấp tỉnh;
- Các VP: Tỉnh ủy, Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành cấp tỉnh;
- TTr HĐND, UBND các huyện, thị xã, thành phố;
- Công báo tỉnh;
- Lưu: VT.
|
CHỦ TỊCH
Đỗ Trọng Hưng
|
PHỤ LỤC I
BỔ SUNG NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND
NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số 33/2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội
đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
(Tổng số: 838 tên
các địa danh, sự kiện, danh nhân)
I. TÊN ĐỊA DANH (Tên một địa điểm,
vùng đất nổi tiếng, có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của
đất nước, của tỉnh Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân;
tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534 địa
danh.
1. Tên địa danh nổi tiếng của
đất nước: 02 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Hàm Long
|
Hàm Long[1]
: Tên một di tích cách mạng nổi tiếng, đây là nơi thành lập chi bộ Đảng cộng
sản đầu tiên tại Việt Nam (gồm 7 người là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh,
Nguyễn Phong Sắc, Đỗ Ngọc Du, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Cung và Nguyễn Tuân do
đồng chí Trần Văn Cung (Quốc Anh) làm Bí thư) (tháng 03/1929) - tổ chức
tiền thân của Đảng; sự ra đời của Chi bộ Cộng sản - Chi bộ 5D Hàm Long, Hà Nội
là một hạt nhân tạo nên sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chấm dứt
thời kỳ cách mạng trong tình trạng bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước;
là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng Việt
Nam, thúc đẩy sự phát triển của cách mạng cả nước trong đó có tỉnh Thanh Hóa.
Từ năm 1959, địa chỉ này đã trở thành di tích lịch sử cách mạng kháng chiến của
Hà Nội. Nay địa chỉ này thuộc di tích lịch sử cách mạng thuộc Bảo tàng Hà Nội.
|
Hàm Long
|
|
2
|
Sông Mã
|
Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có
chiều dài 512 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần
trên lãnh thổ Lào dài 102 km. Thanh Hóa là địa phận Sông Mã chạy qua theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu
rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ theo 2 nhánh (nhánh phía Nam vẫn gọi là sông Mã, nhánh
phía Bắc gọi là sông Lèn) ở Lạch Hới (cửa Hới). Đây là con sông lớn, có tiềm
năng lớn về phát điện; thực hiện nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho khoảng
27.355 ha đất nông nghiệp (của 7 huyện: Cẩm Thủy, Bá Thước, Vĩnh Lộc, Yên Định,
Thiệu Hóa, Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa) và thực hiện chống lũ cho hạ du;
Sông Mã có chiều dài chảy trên đất Thanh Hóa dài nhất, Sông Mã được ví là
dòng sông hồn cốt của xứ Thanh. Hiện “Sông Mã” đã được dùng đặt tên cho một đại
lộ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa là Đại lộ Nam Sông Mã.
|
Sông Mã
|
2.
Tên địa danh lịch sử - văn hóa của tỉnh Thanh Hóa[2]: 103 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Châu Lương Chánh
|
Châu Lương Chánh[3] tên châu cũ thuộc phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc
huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, châu Lương
Chánh có 8 tổng (tổng Hoài Chính, tổng Quy Chính, tổng Thuận Chính, tổng
Tòng Chính, tổng Tam Lô, tổng An Thọ, tổng Nhân Sơn, tổng Thiện Thổ), gồm
43 xã.
|
Lương Chánh
|
|
|
2
|
Cồn Chân Tiên
|
Cồn Chân Tiên thuộc thành phố Thanh Hóa, tên một
địa điểm khảo cổ học thuộc phường Thiệu Khánh; đây là địa chỉ khảo cổ đánh dấu
sự mở đầu cho giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn ở Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Chân Tiên
|
|
|
3
|
Di chỉ Gò Trũng
|
Di chỉ Gò Trũng thuộc xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc.
Di chỉ khảo cổ học Gò Trũng được phát hiện năm 1976, khai quật năm 1977. Niên
đại khoảng gần 5.000 năm cách ngày nay, thuộc hậu kỳ đá mới và là di chỉ văn
hóa tiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Đa Bút.
|
Gò Trũng
|
|
|
4
|
Huyện Cổ Chiến
|
Huyện Cổ Chiến là tên gọi cũ của huyện Tĩnh Gia
(nay thuộc thị xã Nghi Sơn), là tên gọi trước đây của Thanh Đô trấn tỉnh
Thanh Hóa, bao gồm 7 huyện, 3 châu (mỗi châu 4 huyện). Tĩnh Gia có tên gọi là
huyện Cổ Chiến thuộc châu Cửu Chân.
|
Cổ Chiến
|
|
|
5
|
Huyện Lôi Dương và
Tổng Lôi Dương
|
Huyện Lôi Dương[4] tên huyện cũ thuộc phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Lôi Dương có 9 tổng
(tổng Lôi Dương, tổng Kiên Thạch, tổng Nam Cai, tổng Thượng Cốc, tổng Bất Náo,
tổng Tam Lộng, tổng Diên Hào, tổng Mục Sơn, tổng Bái Đô), gồm 177 xã, thôn,
giáp, sở.
|
Lôi Dương
|
|
|
Tổng Lôi Dương[5] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Lôi Dương có 29 xã, thôn, giáp.
|
|
6
|
Huyện Mỹ Hóa
|
Huyện Mỹ Hóa[6] tên huyện cũ thuộc phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Mỹ Hóa có 4 tổng (tổng
Dương Thủy, tổng Dương Sơn, tổng Lỗ Hương, tổng Đại Lý), gồm 78 xã, thôn,
trang, sở.
|
Mỹ Hóa
|
|
|
7
|
Huyện Quảng Tế và
Tổng Quảng Tế
|
Huyện Quảng Tế[7] tên huyện cũ thuộc phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Quảng Tế có 5 tổng
(tổng Quảng Tế, tổng Án Đổ, tổng Cổ Biện, tổng Trường Cát, tổng Phú Ổ), gồm
30 xã, trại.
|
Quảng Tế
|
|
|
Tổng Quảng Tế[8] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng Tế,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Quảng Tế có 8 xã, trại.
|
|
8
|
Huyện Thụy Nguyên
|
Huyện Thụy Nguyên[9] tên huyện cũ thuộc phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Thụy
Nguyên có 8 tổng (tổng Mật Vật, tổng Phù Chẩn, tổng Yên Trường, tổng Phú Hà,
tổng Thử Cốc, tổng Ngọc Lặc, tổng Phùng Thịnh, tổng Quảng Thi), gồm 131 xã,
thôn.
|
Thụy Nguyên
|
|
|
9
|
Huyện Tĩnh Gia
|
Huyện Tĩnh Gia nay thuộc thị xã Nghi Sơn. Năm
Minh Mệnh thứ 19 (năm 1838), các huyện Ngọc Sơn, Nông Cống và Quảng Xương thuộc
phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, toàn bộ huyện Ngọc Sơn trở
thành huyện Tĩnh Gia. Ngày 22/4/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị
quyết số 933/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập thị xã Nghi Sơn và các phường thuộc
thị xã Nghi Sơn trên cơ sở toàn bộ huyện Tĩnh Gia, thị xã Nghi Sơn được thành
lập với 16 phường, 15 xã.
|
Tĩnh Gia
|
|
|
10
|
Kinh đô Vạn Lại -
Yên Trường
|
Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường hay còn gọi với các
tên khác như hành cung Vạn Lại, hành điện Vạn Lại đây là một địa danh thuộc
huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa; là kinh đô của Đại Việt Nam
triều nhà Lê trong giai đoạn Nam-Bắc triều phân tranh của hai họ Lê - Mạc. Tại
đây, năm 1546, Trịnh Kiểm đã cho xây dựng hành điện, kinh đô tạm thời của triều
đình và rước vua Lê về đó ở. Và cũng từ đó, thế Nam - Bắc triều được hình
thành. Vạn Lại thực sự trở thành nơi đầu não của Nam triều trong một khoảng
thời gian khá dài, đóng vai trò trung tâm của đời sống chính trị, văn hóa thời
bấy giờ.
Cả Vạn Lại và Yên Trường nay đều thuộc đất huyện Thọ
Xuân ngày nay.
|
Vạn Lại - Yên Trường[10]
|
Đã đặt tên đường
|
|
11
|
Làng Đạt Tài
|
Làng Đạt Tài thuộc xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa.
Đây là địa chỉ hoạt động cách mạng của Tố Hữu trong thời kỳ đồng chí chỉ đạo phong
trào cách mạng của hai huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc; làng Đạt Tài cũng là làng
được biết đến với nghề truyền thống - nghề mộc nổi tiếng đất nước. Làng cũng
đã được Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng bằng có công với
nước năm 2001.
|
Đạt Tài
|
|
|
12
|
Tổng Án Đổ
|
Tổng An Đổ[11] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng
Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Án Đổ có 5 xã.
|
Án Đổ
|
|
|
13
|
Tổng An Thọ
|
Tổng An Thọ[12] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng An Thọ có 5 xã.
|
An Thọ
|
|
|
14
|
Tổng Bái Đô
|
Tổng Bái Đô[13] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Bái Đô có 8 xã.
|
Bái Đô
|
|
|
15
|
Tổng Bái Trạch
|
Tổng Bái Trạch[14] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Bái Trạch có 27 xã, thôn.
|
Bái Trạch
|
|
|
16
|
Tổng Bất Náo
|
Tổng Bất Náo[15] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Bất Náo có 14 xã, thôn.
|
Bất Náo
|
|
|
17
|
Tổng Bỉnh Bút
|
Tổng Bỉnh Bút[16] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Bỉnh Bút, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa có 9 xã, thôn, trang.
|
Bỉnh Bút
|
|
|
Tổng Bỉnh Bút[17] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Bỉnh Bút, huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa có 6 xã.
|
|
18
|
Tổng Cao Mật và
Làng Cao Mật
|
Tổng Cao Mật[18] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Cao Mật có 13 xã, thôn.
|
Cao Mật
|
|
|
Làng Cao Mật thuộc thôn 3, xã Vĩnh Thành, huyện
Vĩnh Lộc. Làng Cao Mật tên nôm là làng Giáng, đến thế kỷ XV có tên chữ là Cao
Mật. Từ ngày 06 tháng 12 năm 2020, tên của thôn 3 được đổi thành khu phố Cao
Mật - thị trấn Vĩnh Lộc.
|
|
19
|
Tổng Cao Vịnh
|
Tổng Cao Vịnh[19] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Cao Vịnh có 16 xã, thôn.
|
Cao Vịnh
|
|
|
20
|
Tổng Cao Xá
|
Tổng Cao Xá[20] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cao Xá có 26 xã, thôn.
|
Cao Xá
|
|
|
21
|
Tổng Cổ Biện
|
Tổng Cổ Biện[21] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng
Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Cổ Biện có 5 xã.
|
Cổ Biện
|
|
|
22
|
Tổng Cổ Nam
|
Tổng Cổ Nam[22] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan
Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa). Tổng Cổ Nam có
5 xã.
|
Cổ Nam
|
|
|
23
|
Tổng Cự Lữ
|
Tổng Cự Lữ[23] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cự Lữ có 9 xã.
|
Cự Lữ
|
|
|
24
|
Tổng Đặc Kiệt
|
Tổng Đặc Kiệt[24] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan
Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Đặc Kiệt có 4 xã.
|
Đặc Kiệt
|
|
|
25
|
Tổng Đại Bối
|
Tổng Đại Bối[25] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông
Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Đông Sơn). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Đại Bối có 14 xã, thôn, trang.
|
Đại Bối
|
|
|
26
|
Tổng Đại Lý và
Làng Đại Lý
|
Tổng Đại Lý[26] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Đại Lý có 19 xã, thôn, trang.
|
Đại Lý
|
|
|
Làng Đại Lý có từ đầu thế kỷ XIX thuộc tổng Đại Bối,
huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa. Năm 1900, đời Vua Thành Thái
thứ 12, làng Đại Lý thuộc tổng Đại Bối, huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng
Đại Lý thuộc xã Liên Hoa, năm 1947, thuộc xã Đại Bái. Từ năm 1953 đến nay,
làng Đại Lý thuộc xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp
nhập về thành phố Thanh Hóa.
|
|
27
|
Tổng Đăng Trường
|
Tổng Đăng Trường[27] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc,
phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Đăng Trường có 19 xã, thôn, sở.
|
Đăng Trường
|
|
|
28
|
Tổng Diên Hào
|
Tổng Diên Hào[28] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương,
phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Diên Hào có 24 xã.
|
Diên Hào
|
|
|
29
|
Tổng Đô Bái
|
Tổng Đô Bái[29] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Tổng Đô Bái có
15 xã, thôn, ấp.
|
Đô Bái
|
|
|
30
|
Tổng Đô Xá
|
Tổng Đô Xá[30] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đô Xá có 11 xã, thôn.
|
Đô Xá
|
|
|
31
|
Tổng Đông Bạn
|
Tổng Đông Bạn[31] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Đông Bạn có 11 xã, thôn, trang, phường.
|
Đông Bạn
|
|
|
32
|
Tổng Đồng Xá
|
Tổng Đồng Xá[32] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đồng Xá có 21 xã, thôn,
trang.
|
Đồng Xá
|
|
|
33
|
Tổng Đông Yên
|
Tổng Đông Yên[33] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Đông Yên có 14 xã, thôn, sở.
|
Đông Yên
|
|
|
34
|
Tổng Du Trường
|
Tổng Du Trường[34] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc,
phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Du Trường có 15 xã, thôn, trang, sở.
|
Du Trường
|
|
|
35
|
Tổng Dương Sơn
|
Tổng Dương Sơn[35] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Dương Sơn có 21 xã, thôn, trang.
|
Dương Sơn
|
|
|
36
|
Tổng Dương Thủy
|
Tổng Dương Thủy[36] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Dương Thủy có 23 xã, thôn.
|
Dương Thủy
|
|
|
37
|
Tổng Gia Dụ
|
Tổng Gia Dụ[37] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Gia Dụ có 8 xã.
|
Gia Dụ
|
|
|
38
|
Tổng Hành Vĩ
|
Tổng Hành Vĩ[38] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Hành Vĩ có 18 xã, thôn.
|
Hành Vĩ
|
|
|
39
|
Tổng Hòa Luật
|
Tổng Hòa Luật[39] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Hòa Luật có 11 xã.
|
Hòa Luật
|
|
|
40
|
Tổng Hoài Chính
|
Tổng Hoài Chính[40] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Hoài Chính có 4 xã.
|
Hoài Chính
|
|
|
41
|
Tổng Hữu Thủy
|
Tổng Hữu Thủy[41] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan
Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước).
Tổng Hữu Thủy có 5 xã.
|
Hữu Thủy
|
|
|
42
|
Tổng Kiên Thạch
|
Tổng Kiên Thạch[42] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Kiên Thạch có 22 xã.
|
Kiên Thạch
|
|
|
43
|
Tổng La Miết
|
Tổng La Miết[43] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng La Miết có 22 xã, thôn.
|
La Miết
|
|
|
44
|
Tổng Lạc Thiện
|
Tổng Lạc Thiện[44] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lạc Thiện có 20 xã,
thôn, sở.
|
Lạc Thiện
|
|
|
45
|
Tổng Lai Triều
|
Tổng Lai Triều[45] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lai Triều có 13 xã,
thôn.
|
Lai Triều
|
|
|
46
|
Tổng Lân Du
|
Tổng Lân Du[46] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc đất huyện Nông Cống và một
phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lân Du có 7 xã.
|
Lân Du
|
|
|
47
|
Tổng Lãng Lăng
|
Tổng Lãng Lăng[47] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lãng Lăng có 5 xã.
|
Lãng Lăng
|
|
|
48
|
Tổng Lê Nguyễn
|
Tổng Lê Nguyễn thuộc các xã Đông Yên, Đông Khê,
Đông Minh, Đông Thịnh, Đông Tiến, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn. Đây là
tên một tổng của huyện Đông Sơn đầu thế kỷ XIX, đến năm Minh Mệnh thứ 5
(1824) đổi tên thành tổng Thanh Hoa, sau đổi thành tổng Tuân Hóa.
|
Lê Nguyễn
|
|
|
49
|
Tổng Liên Cừ
|
Tổng Liên Cừ[48] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc,
phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Liên Cừ có 16 xã, thôn, trang.
|
Liên Cừ
|
|
|
50
|
Tổng Liên Trì
|
Tổng Liên Trì[49] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn,
phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Liên Trì có 39 xã, thôn.
|
Liên Trì
|
|
|
51
|
Tổng Lỗ Hương
|
Tổng Lỗ Hương[50] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ Hóa,
phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Lỗ Hương có 15 xã, thôn, sở.
|
Lỗ Hương
|
|
|
52
|
Tổng Lực Canh
|
Tổng Lực Canh[51] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan
Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước).
Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lực Canh có 4 xã.
|
Lực Canh
|
|
|
53
|
Tổng Mật Vật
|
Tổng Mật Vật[52] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy
Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc
Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mật Vật có 26 xã, thôn, trang, giáp.
|
Mật Vật
|
|
|
54
|
Tổng Mậu Lâm
|
Tổng Mậu Lâm[53] tên tổng cũ, một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn,
phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Mậu Lâm có 23 xã, thôn.
|
Mậu Lâm
|
|
|
55
|
Tổng Mông Sơn
|
Tổng Mông Sơn[54] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mông Sơn có 10
xã.
|
Mông Sơn
|
|
|
56
|
Tổng Mục Sơn
|
Tổng Mục Sơn[55] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Mục Sơn có 7 xã, thôn.
|
Mục Sơn
|
|
|
57
|
Tổng Nam Bạn
|
Tổng Nam Bạn[56] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Nam Bạn có 15 xã, thôn.
|
Nam Bạn
|
|
|
58
|
Tổng Nam Cai
|
Tổng Nam Cai[57] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Nam Cai, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa có 5 xã.
|
Nam Cai
|
|
|
Tổng Nam Cai[58] cũng là tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện
Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Nam Cai, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân có 18 xã, thôn.
|
|
59
|
Tổng Ngọ Xá
|
Tổng Ngọ Xá[59] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Ngọ Xá có 15 xã, thôn.
|
Ngọ Xá
|
|
|
60
|
Tổng Ngọc Động
|
Tổng Ngọc Động[60] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Ngọc Động có 9 xã.
|
Ngọc Động
|
|
|
61
|
Tổng Ngọc Xuyết
|
Tổng Ngọc Xuyết[61] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Ngọc Xuyết có 29 xã, thôn.
|
Ngọc Xuyết
|
|
|
62
|
Tổng Như Lăng
|
Tổng Như Lăng thuộc huyện Như Xuân, là tên một tổng
của châu Như Xuân, là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cầm Bá Thước trong
phong trào Cần Vương chống Pháp.
|
Như Lăng
|
|
|
63
|
Tổng Phi Lai
|
Tổng Phi Lai[62] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Phi Lai có 19 xã, thôn, trang.
|
Phi Lai
|
|
|
64
|
Tổng Phù Chẩn
|
Tổng Phù Chẩn[63] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên,
phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc).
Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phù Chẩn có 13 xã, thôn.
|
Phù Chẩn
|
|
|
65
|
Tổng Phú Hà
|
Tổng Phú Hà[64] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy
Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc
Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phú Hà có 11 xã, thôn, trại.
|
Phú Hà
|
|
|
66
|
Tổng Phú Ổ
|
Tổng Phú Ổ[65] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng
Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Phú Ổ có 5 xã.
|
Phú Ổ
|
|
|
67
|
Tổng Phùng Thịnh
|
Tổng Phùng Thịnh[66] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy
Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc
Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phùng Thịnh có 14 xã, thôn, trang,
giáp.
|
Phùng Thịnh
|
|
|
68
|
Tổng Quan Hoàng và
Chợ Quan Hoàng
|
Tổng Quan Hoàng[67] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quan Hoàng có
14 xã, thôn.
|
Quan Hoàng
|
|
|
Chợ Quan Hoàng thuộc huyện Vĩnh Lộc. Đây là chợ
quê truyền thống có từ khá lâu đời ở vùng đất giáp ranh hai huyện Cẩm Thủy và
Vĩnh Lộc đã từng được dân gian gần, xa của xứ Thanh ví gọi là chợ tình của
người Mường - Việt.
|
|
69
|
Tổng Quân Nhân
|
Tổng Quân Nhân là tên một tổng của châu Như Xuân,
là địa bàn hoạt động của nghĩa quân trong phong trào Cần Vương chống Pháp.
|
Quân Nhân
|
|
|
Tổng Quân Nhân[68] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc châu Thường
Xuân, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thường Xuân). Tổng Quân
Nhân có 7 xã.
|
|
70
|
Tổng Quang Chiêm
|
Tổng Quang Chiêm[69] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan
Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước).
Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quang Chiêm có 4 xã.
|
Quang Chiêm
|
|
|
71
|
Tổng Quang Chiếu
|
Tổng Quang Chiếu[70] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông Sơn,
phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phần lớn huyện Đông Sơn và thành phố
Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quang Chiếu có 19 xã, thôn.
|
Quang Chiếu
|
|
|
72
|
Tổng Quảng Thi
|
Tổng Quảng Thi[71] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy
Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc
Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quảng Thi có 26 xã, thôn.
|
Quảng Thi
|
|
|
73
|
Tổng Quy Chính
|
Tổng Quy Chính[72] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Quy Chính có 6 xã.
|
Quy Chính
|
|
|
74
|
Tổng Sa Lung
|
Tổng Sa Lung[73] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Sa Lung có 5
xã.
|
Sa Lung
|
|
|
75
|
Tổng Sóc Sơn và
Làng Sóc Sơn
|
Tổng Sóc Sơn[74] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Sóc Sơn có 6 xã, thôn.
|
Sóc Sơn
|
|
|
Làng Sóc Sơn thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc,
là quê hương của Trịnh Kiểm. Ông là một tướng tài giúp vua Lê dẹp Mạc thành
công nên được phong chức Đại tướng quân, Lưỡng Quốc công và Thượng tướng Thái
Quốc công. Trịnh Kiểm đã có công tạo ra hình thái Nhà nước kiểu mới ở Việt
Nam Vua Lê - Chúa Trịnh và ổn định chính trị, mở rộng bờ cõi, tổ chức thi cử
kén chọn nhân tài, phát triển kinh tế nông nghiệp, mở rộng giao lưu buôn bán,
tạo nên 12 đời Chúa giúp vua điều hành đất nước tạo nên thời Lê Trung Hưng
(1533-1788).
|
|
76
|
Tổng Tam Lô
|
Tổng Tam Lô[75] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Tam Lô có 5 xã.
|
Tam Lô
|
|
|
77
|
Tổng Tam Lộng
|
Tổng Tam Lộng[76] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Tam Lộng có 30 xã, thôn.
|
Tam Lộng
|
|
|
78
|
Tổng Thạch Giản
|
Tổng Thạch Giản[77] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Thạch Giản có 20 xã, thôn.
|
Thạch Giản
|
|
|
79
|
Tổng Thanh Xá và
Làng Thanh Xá
|
Tổng Thanh Xá[78] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc,
phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa
dư chí, tổng Thanh Xá có 7 xã, thôn, trang.
|
Thanh Xá
|
|
|
Làng Thanh Xá thuộc xã Tân Dân trước năm 1945 thuộc
phủ Ngọc Sơn, tổng Sen Trì (Liên Trì). Làng Thanh Xá là một trong sáu làng của
Tân Dân lúc bấy giờ, nay làng Thanh Xá có tên gọi là tổ dân phố Thanh Minh.
|
|
80
|
Tổng Thiện Thổ
|
Tổng Thiện Thổ[79] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Thiện Thổ có 5 xã.
|
Thiện Thổ
|
|
|
81
|
Tổng Thiết Ống
|
Tổng Thiết Ống[80] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thiết Ống có 6
xã.
|
Thiết Ống
|
|
|
82
|
Tổng Thủ Chính
|
Tổng Thủ Chính thuộc huyện Quảng Xương từ sau đời
Đồng Khánh (1888) cho đến trước năm 1945, nay thuộc các xã Quảng Lưu, Quảng
Giao, Quảng Lộc, Quảng Lợi, Quảng Thạch, Quảng Nham, Quảng Chính, Quảng
Trung.
|
Thủ Chính
|
|
|
83
|
Tổng Thử Cốc
|
Tổng Thử Cốc[81] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy
Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc
Lặc). Tổng Thử Cốc có 22 xã, thôn, trang.
|
Thử Cốc
|
|
|
84
|
Tổng Thủ Hộ
|
Tổng Thủ Hộ[82] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Quảng
Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quảng Xương). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Thủ Hộ có 28 xã, thôn, sở.
|
Thủ Hộ
|
|
|
85
|
Tổng Thuận Chính
|
Tổng Thuận Chính[83] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Thuận Chính có 4 xã.
|
Thuận Chính
|
|
|
86
|
Tổng Thượng Bạn
|
Tổng Thượng Bạn[84] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Thượng Bạn có 16 trang, giáp.
|
Thượng Bạn
|
|
|
87
|
Tổng Thượng Cốc
|
Tổng Thượng Cốc[85] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi
Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Thượng Cốc có 25 xã, thôn.
|
Thượng Cốc
|
|
|
88
|
Tổng Tòng Chính
|
Tổng Tòng Chính[86] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương
Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Tòng Chính có 9 xã.
|
Tòng Chính
|
|
|
89
|
Tổng Trạc Nhật
|
Tổng Trạc Nhật[87] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Trạc Nhật có 16 xã.
|
Trạc Nhật
|
|
|
90
|
Tổng Trung Bạn
|
Tổng Trung Bạn[88] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống
Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh
địa dư chí, tổng Trung Bạn có 25 xã, thôn.
|
Trung Bạn
|
|
|
91
|
Tổng Tự Cường
|
Tổng Tự Cường[89] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Tự Cường có 11 xã, trại.
|
Tự Cường
|
|
|
92
|
Tổng Từ Minh
|
Tổng Từ Minh[90] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng
Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Từ Minh có 14 xã, thôn.
|
Từ Minh
|
|
|
93
|
Tổng Tuần La
|
Tổng Tuần La[91] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Tuần La có 34 xã, thôn, phường, giáp.
|
Tuần La
|
|
|
94
|
Tổng Vân Lung
|
Tổng Vân Lung[92] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch
Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Vân Lung có 6 xã.
|
Vân Lung
|
|
|
95
|
Tổng Vận Quy
|
Tổng Vận Quy[93] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông
Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phần lớn huyện Đông Sơn và
thành phố Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vận Quy có 18 xã,
thôn.
|
Vận Quy
|
|
|
96
|
Tổng Vân Tập và
Làng Vân Tập
|
Tổng Vân Tập là tên tổng cũ, ra đời cuối thế kỷ
XIX, là một trong 5 tổng của huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
(nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Tổng
Vân Tập có 6 xã.
|
Vân Tập
|
|
|
Làng Vân Tập thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ
đời Vua Đồng Khánh (1885-1888) thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu
Hóa, trấn Thanh Hóa. Năm 1900 đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Vân Tập thuộc tổng
Đại Bối, huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng Vân Tập thuộc xã Liên Hoa, năm
1947 thuộc xã Đại Bái. Từ năm 1953 đến nay, làng Vân Tập thuộc xã Thiệu Vân,
huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây
là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
|
97
|
Tổng Vạn Thiện
|
Tổng Vạn Thiện[94] tên tổng cũ, một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông
Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần huyện
Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vạn Thiện có 23 xã, thôn.
|
Vạn Thiện
|
|
|
98
|
Tổng Vân Trai
|
Tổng Vân Trai[95] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm
Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước
và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vân Trai, huyện
Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa có 10 xã.
|
Vân Trai
|
|
|
Tổng Vân Trai[96] cũng là tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện
Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia có 31 xã, thôn,
giáp, tộc.
|
|
99
|
Tổng Văn Trinh
|
Tổng Văn Trinh[97] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Tổng Văn Trinh
có 27 xã, thôn.
|
Văn Trinh
|
|
|
100
|
Tổng Văn Trường
|
Tổng Văn Trường[98] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Văn Trường có 43 xã, thôn, giáp.
|
Văn Trường
|
|
|
101
|
Tổng Văn Xá và
Làng Văn Xá
|
Tổng Văn Xá[99] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện
Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần
huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Văn Xá có 28 xã, thôn,
giáp.
|
Văn Xá
|
|
|
Làng Văn Xá thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ
thế kỷ XIX. Trước năm 1945, làng Văn Xá thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng
Xương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Văn Xá thuộc xã Trần Hưng Đạo,
huyện Quảng Xương.
|
|
102
|
Tổng Viễn Chiếu
|
Tổng Viễn Chiếu thuộc huyện Đông Sơn. Trước năm
1945, năm Bảo Đại thứ 3 (1928), tổng Quang Chiếu đổi tên thành tổng Viễn Chiếu.
|
Viễn Chiếu
|
|
|
103
|
Tổng Yên Thái
|
Tổng Yên Thái[100] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng
Khánh địa dư chí, tổng Yên Thái có 47 xã, thôn, trang.
|
Yên Thái
|
|
3. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với
Thanh Hóa: 429 tên
3.1. Huyện Bá Thước: 16 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bản Kình Lộng
|
Bản Kình Lộng là một
trong những địa danh ghi dấu hoạt động và chiến thắng quân Minh của nghĩa
quân Lam Sơn. Nơi đây, vào năm Tân Sửu (1421) người con thứ của Lê Lai là Lê Lộ
từng tham gia các trận đánh ở sách Ba Lẫm, ải Kình Lộng đánh bại Trần Trí được
thăng là Tả Trung Quân Tổng đốc Chư quân sự. Bản Kình Lộng nay thuộc xã Điền
Lư, huyện Bá Thước.
|
Kình Lộng
|
|
2
|
Chợ Vạn Cha
|
Chợ Vạn Cha nay thuộc
làng Cha, xã Thiết Kế, huyện Bá Thước, chợ bên bờ sông Mã. Chợ là địa điểm
(trạm) đón tiếp bộ đội, dân công tham gia chiến dịch Điện Biên.
|
Vạn Cha
|
|
3
|
Đèo Úng Ải
|
Đèo Úng Ải là đèo nằm
trên địa bàn giao nhau giữa Mường ông và Mường Ai xưa, nay là nơi tiếp giáp
giữa hai xã Ban Công và xã Thiết Ống, huyện Bá Thước. Đây là địa danh gắn liền
với hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc chiến chống quân Minh xâm lược.
Cuối năm 1421, tham tướng Minh là Trần Trí cất 10 vạn quân, bao gồm cả quân
viễn chinh người Minh và ngụy binh từ Đông Quan tiến vào Thanh Hóa đánh quân
Lam Sơn; cuộc giao chiến giữa nghĩa quân của Lê Lợi và quân Minh diễn ra ở
đèo Úng Ải, quân Minh đại bại. Trần Trí cùng tàn quân thoát chết, rút lui.
|
Úng Ải
|
|
4
|
Dốc Bàn Đào
|
Dốc Bàn Đào thuộc địa
phận Điền Lư, Điền Quang, huyện Bá Thước. Một địa bàn động - sách ở miền núi
phía Tây Thanh Hóa. Đây là địa điểm mà các nhà sử học xác định là địa điểm Mường
Đào - Nơi đây từng là thành trì trong cuộc chiến chống quân Lương giữ nước Vạn
Xuân. Vào thế kỷ thứ VI (năm 545), Trần Bá Tiên mang binh lực lớn từ ngoài Bắc
tiến vào, để bảo toàn lực lượng, Lý Thiên Bảo (anh trai của vua Lý Nam Đế) đã
rút quân về khu vực rừng núi phía Tây Ái Châu (Mường Đào) để xây dựng thành
trì chống lại nhà Lương. Hiện nay ở gần Điền Lư, Điền Quang, trên con đường
chính đi ngược về phía Cành Nàng (thị trấn huyện Bá Thước) vẫn còn cái dốc
mang tên là dốc Bàn Đào.
|
Bàn Đào
|
|
5
|
Đồi Lai Láng
|
Đồi Lai Láng thuộc huyện
Bá Thước. Đây là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn. Từ thời xa xưa, vị
trí này đều có tên gọi liên quan đến quá trình khai thác kim loại quý, đặc biệt
là vàng. Tại địa điểm này, trong truyền thuyết ghi chép nơi xuất hiện khí cụ
người Mường gọi cây Chu Đá, lá Chu Đồng - hình tượng cây Chu Đá, lá Chu Đồng
là biểu trung của công cụ kim loại đồng do con người mới phát hiện ra[101]. Lê Lợi đã từng đứng ở vị
trí cây Chu Đá trên đỉnh đồi Lai Láng để quan sát quân giặc đóng ở đồn Quan
Da. Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, dân Mường Muồn đã dựng
lên ngôi đền thờ vua Lê ở trên đỉnh đồi Lai Láng.
|
Lai Láng
|
|
6
|
Hang Niên Kỷ
|
Hang Niên Kỷ là hang nằm
giữa xã Văn Nho và xã Kỳ Tân thuộc huyện Bá Thước, căn cứ chống Pháp của Hà
Văn Nho, Tống Duy Tân lãnh đạo.
|
Niên Kỷ
|
|
7
|
Hồ Duồng Công
|
Hồ Duồng Công thuộc xã
Điền Hạ, huyện Bá Thước, là công trình thủy lợi lớn được xây dựng năm 1961. Hồ
được ví như một “Vịnh Hạ Long” thu nhỏ của Bá Thước. Hồ có diện tích mặt hồ
57 ha, độ sâu 40 m. Từ trên cao nhìn xuống Duồng Công là một bức tranh sơn thủy
hữu tình. Nơi đây có nhiều dãy núi có độ cao 1.000 m kéo dài, có nhiều hang động
rất đẹp in bóng xuống mặt hồ. Cảnh sắc thiên nhiên nguyên sơ cùng những nét
văn hóa truyền thống của cư dân bản địa biến Duồng Công trở thành một điểm hấp
dẫn khách du lịch.
|
Duồng Công
|
|
8
|
Làng Tráng
|
Làng Tráng thuộc xã Lâm
Xa, huyện Bá Thước. Tại làng Tráng, năm 1984, trong cuộc điều tra khảo cổ miền
Tây tỉnh Thanh Hóa, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một loạt hang động
cổ sinh hóa thạch và qua các đợt khai quật nhiều hiện vật được xác định là
công cụ của “chủ nhân” văn hóa Sơn Vi muộn, kéo dài đến văn hóa Hòa Bình. Năm
2013, hang Làng Tráng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng
là di tích khảo cổ học theo Quyết định số 4788/QĐ-UBND ngày 31/12/2013.
|
Làng Tráng
|
|
9
|
Mường[102]
Ai
|
Mường Ai thuộc xã Hạ
Trung, huyện Bá Thước, là vùng Mường cổ của người Mường Trong được nhắc đến
nhiều trong sử thi Đẻ đất, đẻ nước.
|
Mường Ai
|
|
10
|
Mường Khô
|
Mường Khô thuộc huyện Bá
Thước là Điền Lư ngày nay. Đây là vùng đất cổ với dấu vết của nền văn hóa Sơn
Vi. Vùng đất này lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa của người Mường, trong đó có
lễ hội Mường Khô gắn với Quận Công Khâm sai Chánh thống lãnh Thượng đạo trấn
Thanh Hóa Hà Công Thái - là người có công lao rất lớn đối với vương triều
Nguyễn.
|
Mường Khô
|
|
11
|
Mường Khoòng
|
Mường Khoòng thuộc huyện
Bá Thước, là Mường cổ của người Thái, tên hành chính là tổng Cổ Lũng, quê
hương của danh nhân Hà Thọ Lộc - là đại thần có công giúp nhà Lê Trung Hưng
thời chiến tranh Lê - Mạc trong lịch sử Việt Nam.
|
Mường Khoòng
|
|
12
|
Mường Khôông
|
Mường Khôông[103] (xã Lương Nội xưa) thuộc tổng
Sa Lung. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 có tên là xã Quý Lương. Năm 1964 chia
xã Quý Lương thành 3 xã (Lương Nội, Lương Trung, Lương Ngoại). Đây là địa
danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Mường Khôông
|
|
13
|
Mường Ống
|
Mường Ống thuộc xã Thiết
Ống, huyện Bá Thước ngày nay, là Mường cổ của người Mường Trong được nhắc đến
nhiều trong sử thi Đẻ đất, đẻ nước.
|
Mường Ống
|
|
14
|
Núi Bù Mộng
|
Núi Bù Mộng thuộc xã Điền
Thượng, huyện Bá Thước. Đây là một trong những địa danh gắn với sự kiện chiến
thắng Bù Mộng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra tháng 11 năm 1420.
|
Bù Mộng
|
|
15
|
Thác Hiêu
|
Thác Hiêu thuộc địa phận
xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước. Thác nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông,
có phong cảnh đẹp thác nước, núi rừng, bản làng kết hợp với nhau thành không
gian cảnh quan sơn thủy hữu tình. Với thắng cảnh đẹp, Thác Hiêu là địa danh được
nhiều người biết đến, đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan.
|
Thác Hiêu
|
|
16
|
Trại Ba Lẫm
|
Trại Ba Lẫm thuộc Chiềng
Lẫm, xã Điền Lư, huyện Bá Thước. Đây là căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn trong
những năm 1420 - 1423 do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo. Theo sử sách cho biết,
tháng 12/1420, Lê Lợi tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm thuộc huyện Lỗi Giang
(vùng Quan Hóa, Bá Thước). Tại thôn Chiềng Lẫm còn lưu truyền sự tích cây mít
buộc voi của nhà vua (Cân mịt tanh voi).
|
Ba Lẫm
|
3.2. Thị xã Bỉm Sơn: 04 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cầu Chuyên Gia
|
Cầu Chuyên Gia thuộc
khu phố 3, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tên gọi quen thuộc, đã in sâu vào
tiềm thức của Nhân dân thị xã Bỉm Sơn; vị trí bên cạnh khu tập thể các chuyên
gia của nhà máy xi măng Bỉm Sơn đã sinh sống và làm việc.
|
Chuyên Gia
|
|
2
|
Cầu Đo Đạc
|
Cầu Đo Đạc thuộc phường
Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, cầu vượt qua suối Đo Đạc, nối đường Trần Phú, tên gọi
quen thuộc đã in sâu vào tiềm thức của Nhân dân thị xã Bỉm Sơn.
|
Đo Đạc
|
|
3
|
Chùa Trạch Lâm
|
Chùa Trạch Lâm thuộc thị
xã Bỉm Sơn (chùa Khánh Quang). Theo sử sách cũ thì ngôi chùa được kiến trúc
vào khoảng thế kỷ XVII do bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Đoan Quận công Nguyễn
Hoàng và là Chính Phi của Chúa Trịnh Tráng xây dựng. Ngôi chùa hiện nay không
còn nữa mà chỉ còn là những hồi âm trên sách vở... Nhưng nhờ vào chính sách
Tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ, ngôi chùa Khánh
Quang được xây dựng lại một cách quy mô, linh thiêng và thành kính trên một
khu đồi, gần nền chùa cũ, ngõ hầu thỏa mãn cuộc sống tâm linh của con người
luôn hướng về cái thiện...
Chùa Trạch Lâm đã được
đón tiếp Chuyết Công Hòa thượng (1590 - 1644) pháp hiệu là Chuyết Chuyết, người
đời Minh - Trung Quốc và cùng đệ tử thân tín là Thiền Sư Minh Hành (1595 -
1659) sang thuyết pháp ở Việt Nam. Vào khoảng năm 1630, Minh Hành theo sư phụ
từ vùng Quảng Nam - Thuận Hóa ra Thăng Long (Hà Nội) đã dừng chân trụ trì tại
chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa. Sau đó Chuyết Chuyết Thiền sư chuyển về trụ trì tại
chùa Ninh Phúc (Bắc Ninh). Năm 1644, Chuyết Chuyết Hòa thượng viên tịch. Nhục
thân của Ngài được đặt trong khám tại chùa Bút Tháp.
|
Trạch Lâm
|
|
4
|
Xã Hà Lan
|
Xã Hà Lan tên một đơn vị
hành chính cấp xã cũ thuộc thị xã Bỉm Sơn. Đất Hà Lan[104] xưa thuộc vùng Kẻ Gạo - làng Gạo là một làng Việt cổ.
Xã Hà Lan có đình làng Gạo - nơi thờ Tô Đại Liêu tôn Thần, Thái úy Tô Hiến
Thành - Thượng đẳng phúc thần. Tên địa danh người dân đã quen dùng từ xa xưa,
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Ngày 01/12/2019, xã Hà Lan được sáp nhập
vào phường Đông Sơn theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm
2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp
xã thuộc tỉnh Thanh Hóa.
|
Hà Lan
|
3.3. Huyện Cẩm Thủy: 03 địa danh.
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Làng Én
|
Làng Én[105] (mường Én) thuộc xã Cẩm
Quý, huyện Cẩm Thủy. Xã Cẩm Quý xưa thuộc tổng Mông Sơn. Vùng đất có bề dày lịch
sử văn hóa, đặc biệt xưa kia người Mường ở đây thường sử dụng cồng chiêng
trong việc tập hợp dân làng vận chuyển gỗ, xây dựng nhà cửa, đuổi thú dữ, giặc
giã, báo tang, cúng lễ, cưới xin, chúc tết, hội lễ, săn thú, đánh bắt cá...
Làng có ngôi đình (đình làng Én) được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 3014/QĐ-UBND ngày
14/09/2012.
|
Làng Én
|
|
2
|
Làng Hạ
|
Làng Hạ thuộc xã Cẩm
Sơn, huyện Cẩm Thủy, có di chỉ khảo cổ học Làng Hạ theo Quyết định số 83/QĐ-SVHTT
ngày 25/4/1993.
|
Làng Hạ
|
|
3
|
Làng Tường Yên
|
Làng Tường Yên[106], trước kia có tên là Biện
Sách Thượng (hay còn gọi là làng Bịn) có từ thời Hậu Lê, nay thuộc xã Cẩm
Vân, huyện Cẩm Thủy. Nơi đây có đình làng Tường Yên được Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số
2382/QĐ-UBND ngày 30/8/2006.
|
Tường Yên
|
3.4. Huyện Đông Sơn: 16 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cầu Ngọc Khê
|
Cầu Ngọc Khê là tên cổ của cầu bắc qua sông nhà
Lê, thuộc địa phận làng Ngọc Tích, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây là cây
cầu đẹp trước mặt di tích cấp tỉnh Đền Cả - Đế Thích. Hiện vẫn còn lưu giữ được
văn bia mô tả về cầu.
|
Ngọc Khê
|
|
2
|
Đình làng Minh Thành
|
Đình làng Minh Thành, đây là ngôi đình nổi tiếng,
nơi thờ vị thần Cao Sơn đại vương, duệ hiệu là Chiêu hiền phổ tế thượng đẳng
tối linh thần đại vương do các triều đại phong kiến phong tặng, thuộc xã Đông
Quang, huyện Đông Sơn. Đình làng Minh Thành được xếp hạng di tích lịch sử văn
hóa cấp tỉnh năm 2017. Đình hiện là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của
Nhân dân trong vùng, địa điểm đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Minh Thành
|
|
3
|
Kẻ[107] Bôn
|
Kẻ Bôn thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây
là vùng đất cổ được hình thành và phát triển từ rất sớm, nằm ở trung tâm của
huyện Đông Sơn và cũng gần như trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã.
Kẻ Bôn bao gồm 4 làng (Tứ Bôn): Phúc Triền, Ngọc Tích, Kim Bôi và Quỳnh Đôi.
Một địa danh có những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể nổi tiếng.
|
Kẻ Bôn
|
|
4
|
Kẻ Mơ
|
Kẻ Mơ (làng Mai Chữ)[108] là tên làng cổ có trước năm 1945, thuộc tổng Quang
Chiếu, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Từ năm 1953, thuộc xã Đông Nam, huyện
Đông Sơn, tên địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kẻ Mơ
|
|
5
|
Kẻ Rủn
|
Kẻ Rủn[109]
là tên gọi từ thời xưa của xã Đông Khê, huyện Đông Sơn. Thời Lê - Nguyễn thuộc
tổng Thạch Khê gồm các làng: Làng Rủn, Tam Xuyên, Bắc Giáp, Phù Khê, Phù
Bình. Vùng đất Kẻ Rủn rồi đến làng Rủn, cùng thời với tên gọi các vùng cư dân
lân cận như Kẻ Bôn, Kẻ Rỵ, Kẻ Chè... Từ năm Gia Long thứ 7 (1808), lỵ sở huyện
Đông Sơn chuyển về làng Rủn cho tới năm Minh Mệnh thứ 4 (1823). Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kẻ Rủn
|
|
6
|
Làng Mai Xuyên
|
Làng Mai Xuyên thuộc xã Đông Thịnh, huyện Đông
Sơn, là tên làng cổ thuộc tổng Lê Nguyễn. Theo Đồng Khánh địa dư chí, làng
Mai Xuyên[110] là một trong
16 xã, thôn thuộc tổng Tuân Hóa, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh
Hóa.
|
Mai Xuyên
|
|
7
|
Làng Ngọc Lậu
|
Làng Ngọc Lậu là một làng cổ, thuộc xã Đông Thịnh,
huyện Đông Sơn. Theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Ngọc Lậu[111] là một trong 16 xã, thôn thuộc tổng Tuân Hóa, huyện
Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây là nơi diễn ra Đại hội đại
biểu lần thứ V của Đảng bộ huyện Đông Sơn vào ngày 07/01/1959 tại đình làng
Ngọc Lậu.
|
Ngọc Lậu
|
|
Kẻ Lậu (thôn Ngọc Lậu) trước thuộc xã Doãn Xá, về
sau thuộc xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, là tên làng cổ chứa đựng nhiều giá
trị lịch sử văn hóa.
|
|
8
|
Làng Quan Đức
|
Làng Quan Đức thuộc tổng Thạch Khê, nay là làng Trường
Xuân, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, là tên một làng cổ.
|
Quan Đức
|
|
9
|
Làng Quỳnh Bôi
|
Làng Quỳnh Bôi là tên làng cổ thuộc Cổ Bôn xưa,
theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Quỳnh Bôi[112] là một trong 16 xã, thôn thuộc tổng Thanh Khê, huyện
Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông
Sơn. Nơi đây có núi Quỳnh (một danh sơn được ghi trong sử sách), dưới chân
núi có đền thờ Bạch Vân Sơn Thần (Thần Cáo Bạch phù giúp Đăng Quận Công Nguyễn
Khải đánh thắng quân nhà Mạc) và phủ Mẫu đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
|
Quỳnh Bôi
|
|
10
|
Làng Triệu Tiền
|
Làng Triệu Tiền thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông
Sơn, quê hương của tướng quân Thiều Thốn - một nhân vật nổi tiếng dưới thời
Trần mà sử sách cũ ghi chép và ca ngợi.
|
Triệu Tiền
|
|
11
|
Làng Xích Lộ
|
Làng Xích Lộ thuộc xã Đông Nam, huyện Đông Sơn.
Nơi đây đã đi vào ca dao lưu truyền cho đến ngày nay: Ao Vạn Lộc, dọc Đồng
Pho, chùa Mao Xá, đá Núi Nhồi, vôi Xích Lộ, cỗ Chợ Mới.
|
Xích Lộ
|
|
12
|
Làng Xuân Lưu
|
Làng Xuân Lưu thuộc tổng Quảng Chiếu, hiện nay trở
thành phố Xuân Lưu, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn. Ở đây có đình Xuân
Lưu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp
tỉnh tại Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 25/01/2019, là nơi sinh hoạt văn hóa,
nơi hội họp việc làng, đồng thời cũng là nơi thờ thần hoàng làng. Hiện nay
trong đình làng có thờ Trung Quốc tôn thần (con trai Hoàng đế Lê Ngọc) và thờ
hai vị Hậu thần là: Thái Bảo Quận công Nguyễn Đình Thuần và Thống đốc Chi binh
Vũ Bá Trác.
|
Xuân Lưu
|
|
13
|
Xã Ngọc Bôi
|
Xã Ngọc Bôi đổi thành xã Kim Bôi, nay là làng Kim
Bôi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây là tên xã cổ thuộc Cổ Bôn xưa, năm
Minh Mạng thứ V (1824).
|
Ngọc Bôi
|
|
14
|
Xã Ngọc Đôi
|
Xã Ngọc Đôi thuộc Cổ Bôn xưa, là tên xã cổ thuộc
làng Ngọc Tích, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Năm Minh Mạng thứ V (1824) xã
Ngọc Đôi đổi thành xã Ngọc Tích. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử cấp tỉnh
như: Đình Ngọc Tích, đền Cả, đền thờ các quận công họ La, đền thờ tiến sĩ Cao
Cử.
|
Ngọc Đôi
|
|
15
|
Xã Phù Liễn
|
Xã Phù Liễn là tên một xã cổ, thuộc tổng Thạch
Khê, nay thuộc xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn.
|
Phù Liễn
|
|
16
|
Xã Phúc Thọ
|
Xã Phúc Thọ là tên xã thuộc Cổ Bôn xưa. Năm Minh
Mạng thứ V (1824), xã Phúc Thọ đổi thành xã Phúc Triền, nay là làng Phúc Triền,
xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Nơi đây có di tích cấp quốc gia đền thờ Nguyễn
Văn Nghi - Thầy dạy của hai đời Vua thời Lê Trung Hưng.
|
Phúc Thọ
|
3.5. Huyện Hà Trung: 14 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Làng Đông Bình
|
Làng Đông Bình, trước
có tên là Đông Đô, theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Đông Bình[113] là 1 trong 16 xã, thôn thuộc
tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là
địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đông Bình
|
|
2
|
Làng Kim Sơn
|
Làng Kim Sơn[114] là làng có từ xa xưa, trước
cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Kim Âu, tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ
Thiệu Thiên, đến năm 1954 chuyển về xã Ngọc Âu, huyện Hà Trung, nay thuộc xã
Hà Đông, huyện Hà Trung. Tại làng Kim Sơn có đình làng được nhiều người biết
đến, hiện đình làng Kim Sơn được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám
đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần
được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 219/VHQĐ ngày 25/9/1995. Địa
danh Kim Sơn là địa danh Nhân dân vẫn quen dùng từ xưa đến nay, đã ăn sâu vào
tiềm thức của Nhân dân.
|
Kim Sơn
|
|
3
|
Làng Ngọc Đới
|
Làng Ngọc Đới, trước là
Bảo Đới, tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn. Đến cuối thế kỷ XIII, làng Ngọc Đới[115] thuộc vùng đất xã Hà Long,
huyện Hà Trung. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngọc Đới
|
|
4
|
Làng Tâm Quy
|
Làng Tâm Quy là một làng
cổ, theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Tâm Quy[116] là một trong 15 xã, thôn thuộc tổng Nam Bạn, huyện
Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay thuộc xã Hà Tân, huyện Hà Trung. Làng Tâm Quy là
địa điểm lịch sử mà lão tướng Đô Dương và cừ súy bảo tướng quân Chu Bá (tướng
của Hai Bà Trưng) chặn đánh quân Mã Viện, gây cho địch nhiều tổn thất (vào
năm 40 đầu Công nguyên). Tâm Quy trong thời kỳ cách mạng 1930 - 1945 cũng là
một địa chỉ đỏ có nhiều cuộc họp quan trọng của Tỉnh ủy được tổ chức bí mật tại
đây.
|
Tâm Quy
|
|
5
|
Làng Yên
|
Làng Yên hay gọi là Yên
Thôn là làng có từ lâu đời. Theo Đồng Khánh địa chí, làng Yên[117] vốn là 1 trong 14 xã,
thôn, sở của huyện Nga Sơn; thời kỳ năm 1945, được chuyển về huyện Tống Sơn, nay
thuộc xã Hà Hải, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làng có di tích đình làng
Yên, chùa Long Yên được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa và kiến
trúc nghệ thuật tại Quyết định số 716/QĐ-VHTT ngày 12/11/2002.
|
Làng Yên
|
|
6
|
Phố Cừ
|
Phố Cừ nơi có Cầu Cừ,
nay thuộc xã Yên Dương (Hà Dương cũ), huyện Hà Trung. Tên địa danh người dân
đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phố Cừ
|
|
7
|
Phố Gũ
|
Phố Gũ thuộc xã Lĩnh Toại
(Hà Phú cũ), huyện Hà Trung. Tên địa danh người dân đã quen dùng từ xa xưa,
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phố Gũ
|
|
8
|
Thôn Thổ Khối
|
Thôn Thổ Khối thuộc xã
Hà Dương, huyện Hà Trung, là nơi có vị trí trọng yếu cả về thế công lẫn thế
thủ, được Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lựa chọn làm địa điểm
lui binh chiến lược trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược
nước ta lần thứ 2 (1285). Ông đã mưu trí, quyền biến tổ chức cuộc rút lui tài
tình từ Thiên Trường vào Thanh Hóa, bảo vệ và đưa hai Vua cùng bộ chỉ huy
quân sự nhà Trần về ẩn náu tại Thổ Khối. Trong thời gian tại đây, ông chiêu mộ
quân lương, ngày đêm tập luyện binh sĩ, chờ đợi thời cơ. Đến tháng 5/1285, nhận
thấy thời cơ phản công đã đến, ông cùng các tướng lĩnh kéo quân ra bắc, làm
nên chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương... đưa cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai toàn thắng.
|
Thổ Khối
|
|
9
|
Thôn Tiên Hòa
|
Thôn Tiên Hòa thuộc
Thanh Xá, xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung, là địa danh tiêu biểu cho phong trào đấu
tranh ngăn chặn tình trạng tăng thuế tùy tiện thời kỳ 1930-1945 trên địa bàn
huyện Hà Trung.
|
Tiên Hòa
|
|
10
|
Thôn Trang Các
|
Thôn Trang Các hay còn
gọi là thôn Kim Trang là nơi có chùa Trang Các, tên một thôn cũ nằm trong tổng
Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc. Đầu thế kỷ XX được chuyển về huyện Tống Sơn, phủ Hà
Trung. Từ năm 1954, thuộc xã Hà Phong, huyện Hà Trung. Nay vùng đất thuộc thị
trấn Hà Trung. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Trang Các
|
|
11
|
Thôn Yến Vĩ
|
Thôn Yến Vĩ[118] là một trong 16 thôn, xã
thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay là xã Hà Long, huyện
Hà Trung.
|
Yến Vĩ
|
|
12
|
Trang Hoàng Vân
|
Trang[119] Hoàng Vân[120] có từ thế kỷ XIX đời vua
Gia Long, là một trong 16 thôn, xã thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ
Hà Trung, nay thuộc vùng đất xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là địa danh đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân[121].
|
Hoàng Vân
|
|
13
|
Xã Hà Yên
|
Xã Hà Yên [122] trước Cách mạng tháng 8
năm 1945, là vùng đất thuộc thôn An Xá, xã Lãng Vinh và thôn Đình Trung thuộc
xã Bùi Xá, tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Từ năm 1945 -1954, thuộc
xã Hoạt Giang, huyện Hà Trung. Tên xã Hà Yên có từ năm 1954 đến nay. Xã Hà
Yên nay là xã Yên Dương, huyện Hà Trung, xã có đặc sản mắm tép tiến Vua nổi
tiếng được nhiều người biết đến đồng thời trên địa bàn xã có đình Trung được
xếp hạng kiến trúc nghệ thuật Quốc gia đã trở thành một điểm tham quan du lịch
hấp dẫn. Địa danh Hà Yên đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hà Yên
|
|
14
|
Xã Kim Âu
|
Xã Kim Âu, có từ năm Tự
Đức thứ 14 (1861) vì kiêng đồng âm tên húy Triệu Tổ Nguyễn Kim nên đổi là Ngọc
Âu, là một trong những xã của tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa. Đầu
thế kỷ XX được chuyển về huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Sau năm 1954 thuộc
vùng đất xã Hà Ngọc và Hà Đông. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Kim Âu
|
3.6. Huyện Hậu Lộc: 34 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Ấp Hoa Lạc
|
Ấp Hoa Lạc thuộc xã
Phong Lộc, huyện Hậu Lộc. Ngày đầu thời kỳ lập làng, lập ấp tên là “Ấp Hoa Lạc”.
Sau nhiều thập kỷ, ấp “Hoa Lạc” được đổi tên là “Phù Lạc” tồn tại đến nay.
|
Hoa Lạc
|
|
|
2
|
Cầu Nam Khê
|
Cầu Nam Khê là cầu vượt
qua kênh De thuộc địa phận huyện Hậu Lộc. Cầu Nam Khê có từ lâu đời, địa danh
này đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nam Khê[123]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
3
|
Chợ Choàng
|
Chợ Choàng thuộc xã Phú
Lộc, huyện Hậu Lộc. Chợ được mở từ đời vua Thành Thái, là một trong ba chợ lớn
nhất tỉnh Thanh Hóa lúc bấy giờ: Nhất chợ Bản (Yên Định), nhì chợ Hoàng (Nga
Sơn), ba chợ Choàng (Hậu Lộc). Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Chợ Choàng
|
|
|
4
|
Chợ Dầu
|
Chợ Dầu thuộc địa phận
làng Do Trung, nay là thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, là một trong những chợ
lớn của huyện Hậu Lộc, với nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng, có nhiều đặc sản
vùng biển. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Chợ Dầu
|
|
|
5
|
Chợ Phủ
|
Chợ Phủ thuộc huyện Hậu
Lộc, chợ có từ thời nhà Lý, chợ đặt ở lỵ phủ Hà Trung (cũ) nên được gọi là chợ
Phủ. Chợ có bốn cái đình to vừa là nơi thờ cúng, vừa làm nơi họp chợ. Hiện nay
chợ được xây dựng khang trang, phục vụ nhu cầu mua bán hàng ngày của Nhân dân
các xã quanh vùng của hai huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa. Địa danh có từ xa xưa,
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Chợ Phủ
|
|
|
6
|
Đình Phong Mục
|
Đình Phong Mục là di
tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2010, thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc.
Địa danh được nhiều người biết đến, quen thuộc với Nhân dân trong vùng, đã ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phong Mục
|
|
|
7
|
Đường Tam Quan
|
Đường Tam Quan thuộc huyện
Hậu Lộc, đường vào mộ ba ông tướng họ Lý (dưới chân núi Tùng), thuộc xã Triệu
Lộc, huyện Hậu Lộc. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Tam Quan
|
|
|
8
|
Kênh 2/9
|
Kênh 2/9 thuộc huyện Hậu
Lộc. Kênh đưa nước từ mương Mười Xã về sông Trà Giang, qua sông nước xanh rồi
đổ ra sông Lạch Trường, tiêu úng cho các vùng đồi và một số xã vùng màu của
huyện Hậu Lộc. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kênh 2/9
|
|
|
9
|
Kênh De
|
Kênh De thuộc huyện Hậu
Lộc, kênh chảy theo hướng Bắc - Nam nối liền sông Lèn, nhận lũ của sông Lèn đổ
ra sông Lạch Trường. Là đường giao thông thủy quan trọng cho tàu thuyền trong
huyện và ngoài huyện. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Kênh De
|
|
|
10
|
Kỳ Đà
|
Kỳ Đà thuộc xã Phong Lộc,
huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của làng Kỳ Sơn, (gồm thôn Kỳ Sơn, thôn Chùa ngày
nay). Tên Kỳ Đà có từ thời vua Lê Thánh Tông năm (1460). Sau Cách mạng tháng
8 năm 1945, Kỳ Đà đổi tên thành làng Kỳ Sơn. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kỳ Đà
|
|
|
11
|
Làng Bồ Điền
|
Làng Bồ Điền nay là
làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc. Nơi đây, từ thế kỷ thứ III là căn
cứ của Bà Triệu chống quân Đông Ngô xâm lược. Bà Triệu cùng ba tướng họ Lý, là
người làng Phú Điền đã chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt trên mảnh đất
này. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bồ Điền
|
|
|
12
|
Làng Bùi
|
Làng Bùi ở xã Tiến Lộc,
huyện Hậu Lộc, là làng cổ có lịch sử hình thành và phát triển hơn một nghìn
năm. Làng có nghề rèn truyền thống nổi tiếng và hệ thống di tích tiêu biểu
như nghè làng Bùi. Năm 2015, nghè làng Bùi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 345/QĐ-UBND
ngày 30/1/2015. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng Bùi
|
|
|
13
|
Làng Do Trung
|
Làng Do Trung tên làng
của thị trấn Hậu Lộc cũ, có từ rất lâu đời, nơi đây nổi tiếng có nhiều dưa, cảnh
quan đẹp, thanh bình. Nhân dân làng Do Trung có truyền thống cách mạng. Làng
có ông Bùi Vơn là một trong năm thành viên sáng lập ra Huyện ủy Hậu Lộc, có
hai người làm Bí Thư Tỉnh ủy Thanh Hóa là ông Bùi Đạt và ông Hoàng Văn Hiều.
Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Do Trung
|
|
|
14
|
Làng Hoành Trung
|
Làng Hoành Trung[124], trước Cách mạng tháng 8
năm 1945, gồm 8 xóm thuộc tổng Liên Cừ, từ năm 1954 đến nay là xã Hoa Lộc,
huyện Hậu Lộc. Đây là làng có từ xa xưa đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hoành Trung
|
|
|
15
|
Làng Kẻ Ghì
|
Làng Kẻ Ghì thuộc xã
Phong Lộc, huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của làng Kỳ Sơn. Tên Kẻ Ghì có từ thế kỷ
XII - XIII. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kẻ Ghì
|
|
|
16
|
Làng Kiến Long
|
Làng Kiến Long thuộc xã
Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là vùng quê giàu truyền thống lịch sử,
văn hóa và cách mạng. Đặc biệt làng có nghè làng Kiến Long - nơi thờ Đại càn
quốc gia Nam hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần. Năm 2018, nghè được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định
số 415/QĐ-UBND ngày 30/01/2018. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Kiến Long
|
|
|
17
|
Làng Phú Nhi
|
Làng Phú Nhi thuộc xã
Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc, tên làng cổ đồng thời là tên cụm di tích cách mạng
được xếp hạng là di tích cấp tỉnh năm 1998. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Phú Nhi
|
|
|
18
|
Làng Sơn
|
Làng Sơn thuộc xã Tiến
Lộc, huyện Hậu Lộc, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 có tên là Tất Tác Sơn,
là một trong các làng lớn của xã Tiến Lộc, tọa lạc ở trung tâm xã, có lịch sử
hình thành cách đây trên dưới một ngàn năm. Làng có nghề rèn truyền thống nổi
tiếng và hệ thống di tích tiêu biểu như đình làng Sơn. Năm 2019, đình làng
Sơn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích kiến
trúc nghệ thuật tại Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 25/1/2019. Địa danh có từ
xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng Sơn
|
|
|
19
|
Làng Xuân Hội
|
Làng Xuân Hội thuộc xã Tiến
Lộc, huyện Hậu Lộc có lịch sử ra đời hàng trăm năm. Làng được hình thành từ
Hoa Thị Trang - địa danh khi mới khai canh lập làng, đến đầu triều Nguyễn có
tên là làng Xuân Hội. Là một làng cổ chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn
hóa. Đặc biệt làng có nghè làng Xuân Hội được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử theo Quyết định số 415/QĐ-UBND ngày
30/01/2018. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Xuân Hội
|
|
|
20
|
Ngõ[125]
Bồ Ngòn
|
Ngõ Bồ Ngòn thuộc huyện
Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa,
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Bồ Ngòn
|
|
|
21
|
Ngõ Chùa
|
Ngõ Chùa thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Chùa
|
|
|
22
|
Ngõ Củi
|
Ngõ Củi thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Củi
|
|
|
23
|
Ngõ Liễu
|
Ngõ Liễu thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Liễu
|
|
|
24
|
Ngõ Mạc
|
Ngõ Mạc thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Mạc
|
|
|
25
|
Ngõ Nang
|
Ngõ Nang thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Nang
|
|
|
26
|
Ngõ Nhãn
|
Ngõ Nhãn thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Nhãn
|
|
|
27
|
Ngõ Nhồi
|
Ngõ Nhồi thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Nhồi
|
|
|
28
|
Ngõ Thị
|
Ngõ Thị thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Thị
|
|
|
29
|
Ngõ Y Môn
|
Ngõ Y Môn thuộc huyện Hậu
Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngõ Y Môn
|
|
|
30
|
Sông Trà Giang
|
Sông Trà Giang thuộc huyện
Hậu Lộc, là con sông được đào từ thời Tiền Lê, chảy theo hướng Bắc Nam, nối
sông Lèn ở đập Lộc Động, xã Phong Lộc với sông Ấu ở ngã ba Ghềnh (xã Mỹ Lộc)
của Hậu Lộc. Là công trình thủy lợi tiêu nước lớn nhất trong huyện, vừa dự trữ
nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đây là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Trà Giang
|
|
|
31
|
Thôn Hanh Cát
|
Thôn Hanh Cát thuộc xã
Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của thôn ở xã Liên Thành, quê Mẹ Tơm nhân vật
đã đi vào bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Hanh Cát
|
|
|
32
|
Trận địa Đông Ngàn
|
Trận địa Đông Ngàn thuộc
huyện Hậu Lộc, gắn với Trung đội dân quân gái Hoa Lộc, đơn vị anh hùng trong
thời kỳ chống chiến tranh phá hoại miền Bắc với thành tích 3 lần bắn rơi máy
bay Mỹ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đông Ngàn
|
|
|
33
|
Xã Châu Lộc
|
Xã Châu Lộc thuộc huyện
Hậu Lộc, là tên gọi có từ xa xưa, là xã vùng bán sơn địa phía cực tây của huyện
Hậu Lộc, cách trung tâm huyện lỵ 13 km. Năm 2019, thực hiện Nghị quyết số
786/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Châu Lộc
sáp nhập với xã Triệu Lộc. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Châu Lộc
|
|
|
34
|
Xã Văn Lộc
|
Xã Văn Lộc là tên xa
xưa của xã nằm về phía Tây Nam của huyện Hậu Lộc, cách trung tâm thị trấn 4km
về phía Nam. Năm 2019 xã Văn Lộc sáp nhập với xã Thuần Lộc thành xã Thuần Lộc.
Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Văn Lộc
|
|
3.7. Huyện Hoằng Hóa: 09 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Cầu Đông Lưu
|
Cầu Đông Lưu là cầu vượt
qua sông Chu nối giữa hai xã Hoằng Đông và xã Hoằng Lưu thuộc huyện Hoằng
Hóa.
|
Đông Lưu[126]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
2
|
Làng Phượng Mao
|
Làng Phượng Mao thuộc
xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa. Trước đây có tên gọi là Tuấn Mau, làng được
hình thành từ thế kỷ XV, thời Lê sơ, do hai vị tướng có công giúp vua Lê dẹp
giặc, đó là Lê Công Trinh và Lê Công Phụ được nhà vua ban đất ở đây để khai
dân, lập ấp và được ban 36 đạo sắc phong, hiện nay còn lưu giữ 23 đạo sắc. Đến
thời Nguyễn, làng có tên là Phượng Mao, xã Cẩm La, tổng Lỗ Hương, huyện Mỹ
Hóa. Làng có một số công trình văn hóa tâm linh được nhân dân lưu truyền qua
nhiều thế hệ, đó là đình, nghè thờ Lê Công Trinh, Lê Công Phụ, hiện nay còn
có văn chỉ và 23 sắc phong. Tháng Hai (Âm lịch) hằng năm, Nhân dân trong làng
lại tổ chức mở hội tế hai vị thần đã có công giúp vua Lê đánh giặc.
|
Phượng Mao
|
|
|
3
|
Làng Vĩnh Gia
|
Làng Vĩnh Gia[127] thời Lý gọi là Cổ Đô xã, rồi
Nhân Cõi khu, làng Cuội; đầu thời Nguyễn đã có tên thôn Vĩnh Gia[128], xã Lỗ Hương thuộc tổng Lỗ
Hương, nay thuộc xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa. Làng có những di tích lịch
sử khá nổi tiếng như chùa Vĩnh Phúc Tự (hay còn gọi là chùa Gia); nghè thờ
Tam vị Đại vương (Tô Hiến Thành, Trần Khát Chân và Tôn Thành Hoàng làng) được
Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại
Quyết định số 163/VHQĐ ngày 20/4/1994. Nghè Vĩnh Gia, hiện còn lưu giữ được
nhiều câu đối và nhiều đạo sắc phong vua ban cho tam vị đại vương được thờ tại
nghè và 1 tấm bia đá là những tư liệu, hiện vật quý giá. Đây là địa danh được
Nhân dân trong và ngoài tỉnh biết đến, tên Vĩnh Gia đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Vĩnh Gia
|
|
|
4
|
Làng Cự Đà
|
Làng Cự Đà thuộc xã Hoằng
Minh trước đây và nay là Hoằng Đức, huyện Hoằng Hóa, là nơi thành lập chi bộ
Đảng đầu tiên của huyện Hoằng Hóa, làng đã được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tặng Bằng có công với nước năm 2002.
|
Cự Đà
|
|
|
5
|
Làng Hạ Vũ
|
Làng Hạ Vũ thuộc xã Hoằng
Đạt, huyện Hoằng Hóa. Là địa chỉ cách mạng, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu
nước làng Hạ Vũ là pháo đài bảo vệ phía đông cầu Hàm Rồng, cầu Tào, cầu Cách,
xí nghiệp đóng thuyền, dép lốp, kho lương thực và Ủy ban hành chính huyện
đóng trên địa bàn làng Hạ Vũ. Làng được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tặng Bằng có công với nước năm 2001.
|
Hạ Vũ
|
|
|
6
|
Làng Liên Châu
|
Làng Liên Châu thuộc xã
Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, nơi có phong trào Việt Minh trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945 rất mạnh, làng Liên Châu được coi là “chiếc nôi của cách mạng”
ở huyện Hoằng Hóa, là nơi quân Nhật và chính quyền tay sai 05 lần đưa quân về
đàn áp và đều bị đánh bại, góp phần làm nên thắng lợi của khởi nghĩa giành
chính quyền huyện Hoằng Hóa ngày 24/7/1945 sớm nhất cả tỉnh. Làng được Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Bằng có công với nước năm 1964.
|
Liên Châu
|
|
|
7
|
Làng Phúc Tiên
|
Làng Phúc Tiên[129], làng có từ xa xưa, trước có
tên gọi là Thượng Thọ, trước Cách mạng tháng 8 -1945, làng Phúc Tiên là một
trong 4 làng thuộc xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Dương Thủy, nay thuộc xã Hoằng Quỳ,
huyện Hoằng Hóa. Hiện làng có đình làng Phúc Tiên được Nhân dân trong và
ngoài tỉnh biết đến, đình được xây dựng vào năm 1826, thờ Đô thống tướng quân
Lê Phụng Hiểu. Năm 2017, đình được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp
hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày
20/01/2017.
|
Phúc Tiên
|
|
|
8
|
Làng Trọng Hậu
|
Làng Trọng Hậu còn được
biết đến với tên cổ là Kẻ Trọng, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa. Làng có lịch
sử hình thành từ rất sớm nên chứa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa, trong
đó có ngôi đình làng Trọng Hậu xây dựng từ thời Nguyễn - nơi tôn thờ Thành
Hoàng làng Lê Phụng Hiểu. Đây là một trong những ngôi đình còn giữ được nhiều
giá trị kiến trúc đặc sắc thời Nguyễn. Năm 2015, đình được Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết
định số 345/QĐ-UBND ngày 30/1/2015.
|
Trọng Hậu
|
|
|
9
|
Làng Trù Ninh
|
Làng Trù Ninh[130] (Vạn Ninh, Trù Thôn) thuộc
xã Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa, là vùng đất cổ được hình thành cách đây khoảng
500 năm, có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa. Hằng năm vào ngày mùng 2
Tết Nguyên đán làng tổ chức lễ hội đua thuyền truyền thống. Làng còn có đền,
chùa làng Trù Ninh được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2002. Đây là cụm di
tích là một quần thể kiến trúc các di tích bao gồm: Đền thờ Cao Sơn thờ Cao
Sơn Thượng Đẳng Thần, chùa Bái Ninh thờ Phật, phủ Mẫu được Giám đốc Sở Văn
hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận
là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định
số 69/QĐ-VHTT ngày 8/2/2002.
|
Trù Ninh
|
|
3.8. Huyện Lang Chánh: 07 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Bản Chiềng Chải
|
Bản Chiềng Chải là một
địa danh có từ thời cổ xưa, trước thuộc xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, từ
năm 1991 được sáp nhập vào thị trấn Lang Chánh[131]. Bản Chiềng Chải là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Chiềng Chải
|
|
|
2
|
Động Giao Lão
|
Động Giao Lão thuộc xã
Giao An, huyện Lang Chánh. Thời Lê thuộc động Giao Lão, thời Nguyễn thuộc Mường
Nang, tổng Thiên Thổ, châu Lang Chính. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, có tên
là Giao An. Giao Lão là địa danh gắn với hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn.
|
Giao Lão
|
|
|
3
|
Đường Bảo Ninh Lương
|
Đường Bảo Ninh Lương
theo sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: Bảo Ninh Lương ở xã Mỹ Chánh, châu
Lang Chánh. Năm Minh Mạng thứ 18, quân Kinh Lý đến địa phương này đóng quân
phòng thủ, sau khi giặc cướp tạm yên, rút quân về tỉnh, bèn dùng bảo này làm
lỵ sở của châu. Bảo Ninh Lương xưa, nay thuộc xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh
kề với trung tâm thị trấn huyện Lang Chánh hiện nay.
|
Bảo Ninh Lương[132]
|
Đã đặt tên đường
|
|
4
|
Làng Mường Khạt
|
Làng Mường Khạt thuộc
xã Đồng Lương, huyện Lang Chánh, thời Nguyễn thuộc tổng Quy Chánh, châu Lương
Chính. Đây là địa danh lịch sử có Thung Voi nơi diễn ra các trận chiến đấu của
nghĩa quân Lam Sơn (thế kỷ XV). Nơi tìm thấy bia hộp nói về hoạt động của
danh tướng Đinh Bị trong khởi nghĩa Lam Sơn.
|
Mường Khạt
|
|
|
5
|
Xã Mường Chính
|
Xã Mường Chính, huyện
Lang Chánh trước đây gồm 4 xã. Địa danh này là một trong những địa danh diễn
ra trận đánh lớn của nghĩa quân Lam Sơn. Năm 1419 trong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, nghĩa quân đã đóng ở Hà Sơn rồi mai phục sẵn ở Mường Chính để diệt giặc.
|
Mường Chính[133]
|
Đã đặt tên đường
|
|
6
|
Xã Quang Hiến
|
Xã Quang Hiến có từ thời
Tây Sơn, thuộc đất Mường Chính, tổng Tùy Chính, châu Lương Chính. Xã Quang Hiến
được Chính phủ quyết định tách ra từ xã Quyết Thắng vào tháng 6 năm 1966.
Quang Hiến xưa kia là vùng đất trung tâm của châu Lang Chánh, là xã Mỹ Chánh
xưa, có Mường Chánh hay Mường Tầm là một Mường lớn làm nền tảng cho việc
thành lập châu Lang Chánh sau này. Vùng đất này đã từng in dấu chân của Lê Lợi
cùng tướng quân Lê Thạch (cháu Lê Lợi) và nghĩa quân Lam Sơn. Hón Oi - nơi vẫn
lưu truyền có 12 cửa trạm mà Lê Lợi đã dấu quân, luyện tập binh mã chiến đấu
chống giặc Minh xâm lược.
|
Quang Hiến[134]
|
Đã đặt tên đường
|
|
7
|
Xã Văn Hiến
|
Xã Văn Hiến là tên xã
trước đây, thời Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn, vùng đất Quang Hiến ngày nay thuộc
đất Mường Chính, tổng Tùy Chính, châu Lương Chính. Từ năm Minh Mệnh năm thứ
18(1837) thuộc xã Mỹ Chánh, tổng Tùy Chính, châu Lang Chánh. Sau đó là hai
xã: Vinh Quang và Văn Hiến. Tháng 8 năm 1951 sáp nhập ba xã: Vinh Quang, Văn
Hiến và Trí Nang để thành lập xã Quyết Thắng (trang 105,106 Địa chí huyện
Lang Chánh).
|
Văn Hiến[135]
|
Đã đặt tên đường
|
3.9. Huyện Mường Lát: 04 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bản Đoàn Kết
|
Bản Đoàn Kết thuộc xã
Tén Tằn, huyện Mường Lát; sau khi xã Tén Tằn sáp nhập vào thị trấn Mường Lát
vào năm 2019, hiện nay đổi tên thành khu phố Đoàn Kết - thị trấn Mường Lát,
huyện Mường Lát, tên một bản của đồng bào Khơ Mú.
|
Bản Đoàn Kết[136]
|
|
2
|
Bản Mường Púng
|
Bản Mường Púng thuộc xã
Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh có từ xưa, nay là Bản Pùng (thuộc
Mường Púng xưa) thuộc xã Quang Chiểu.
|
Mường Púng
|
|
3
|
Bản Mường Sim
|
Bản Mường Sim nay thuộc
Bản Sim, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh từ xưa.
|
Mường Sim
|
|
4
|
Bản Sài Khao
|
Bản Sài Khao nằm ở độ
cao hơn 1.500 mét so với mực nước biển, trong những tháng năm kháng chiến oai
hùng, chính bản làng nghèo này là nơi Trung đoàn Tây Tiến hành quân ghé ngang
và gửi giấc mộng nhớ thương cho người nơi hậu phương. Vùng đất này đến nay vẫn
lưu giữ những dấu tích mà bộ đội Tây Tiến khi dừng chân, lập căn cứ đã để lại.
|
Sài Khao
|
3.10. Huyện Nga Sơn: 27 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Cầu Lạch Sung
|
Cầu Lạch Sung là cầu vượt
qua sông Lèn nối giữa 02 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc.
|
Lạch Sung[137]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
2
|
Cầu Thanh Bình
|
Cầu Thanh Bình là cầu
vượt qua sông nối giữa huyện Nga Sơn và Hậu Lộc.
|
Thanh Bình[138]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
3
|
Đình Chí Đức
|
Đình Chí Đức: Tên một
ngôi đình, thuộc huyện Nga Sơn, là căn cứ cách mạng đây là nơi diễn ra Đại hội
chi bộ xã Nga Thanh lần thứ I, lần thứ II, lần thứ III và lần thứ IV. Đình
Chí Đức được xếp hạng di tích lịch sử cách mạng năm 2009.
|
Chí Đức
|
|
|
4
|
Đình làng Hậu Trạch
|
Đình làng Hậu Trạch thuộc
xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, ngôi đình được xây dựng vào thời “Đại Nam Thành
Thái ngũ niên” năm Quý Tỵ (1893) cao, to, đẹp nhất nhì nước Đại Nam thuở ấy.
Được vua cho phép xây 5 bậc đá (Phép này chỉ dành riêng cho làng có quan đầu
triều. Cả nước chỉ có 2 ngôi đình được phép như vậy).
|
Hậu Trạch
|
|
|
5
|
Đình Mậu Thịnh
|
Đình Mậu Thịnh thuộc địa
phận làng Mậu Thịnh, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn. Thời kỳ kháng chiến chống
Pháp (1886-1887) ngôi đình là một trong những căn cứ thuộc hệ thống các căn cứ
của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Ba Đình,
đình Mậu Thịnh trở thành một căn cứ hội họp, đóng quân và tích trữ lương thực
của nghĩa quân Ba Đình.
|
Mậu Thịnh
|
|
|
6
|
Đình Mỹ Khê
|
Đình Mỹ Khê thuộc địa
phận làng Mỹ Khê, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1886
- 1887) ngôi đình là một trong những căn cứ thuộc hệ thống các căn cứ của cuộc
khởi nghĩa Ba Đình.
|
Mỹ Khê
|
|
|
7
|
Làng Chiêm Ba
|
Làng Chiêm Ba[139] là tên làng cổ, làng được
hình thành cách đây trên 500 năm, trước là một trong 23 xã, thôn thuộc tổng Mậu
Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Vạn Chiêm (xưa) huyện Nga Sơn, phủ Hà
Trung cũ, nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Chiêm Ba
|
|
|
8
|
Làng Chính Đại
|
Làng Chính Đại[140], đây là làng có từ trước
Cách mạng tháng 8 năm 1945, là 1 trong 3 làng thuộc xã Kiên Giáp, tổng Tân
Phong, nay là xã Nga Điền, huyện Nga Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Chính Đại
|
|
|
9
|
Làng Đậu Nguyên
|
Làng Đậu Nguyên thuộc
xã Nga Mỹ cũ (nay là thị trấn Nga Sơn), huyện Nga Sơn. Theo lịch sử làng có
tên ban đầu là làng Đậu Ngoại, thành lập từ thế kỷ thứ XV với các dòng họ Trần,
sau đó là họ Mai, họ Nguyễn.
|
Đậu Nguyên
|
|
|
10
|
Làng Đông Kinh
|
Làng Đông Kinh là tên làng
cổ, thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, trong làng có nghè Đông thờ Đông Hải
Đại vương Đoàn Thượng, làng có lễ hội truyền thống tổ chức vào ngày 14/2 âm lịch.
|
Đông Kinh
|
|
|
11
|
Làng Hồ Đông
|
Làng Hồ Đông thuộc xã
Nga Thành, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, làng Hồ Đông là cửa ngõ phía Đông Bắc của xã, phải chịu nhiều cuộc
càn quét của địch, đặc biệt là cuộc càn quét với quy mô lớn của địch diễn ra
vào ngày 26/3/1953. Nhân dân trong làng vốn có truyền thống yêu nước, căm thù
giặc đã cùng với dân quân, du kích, bộ đội dũng cảm kiên cường chặn đánh quyết
liệt các cuộc càn quét của địch. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước,
có 106 thanh niên nam, nữ trong làng đã tham gia bộ đội, thanh niên xung
phong, có 11 người con là liệt sỹ, 5 thương binh; Nhân dân trong làng được tặng
thưởng 47 huân, huy chương các loại.
|
Hồ Đông
|
|
|
12
|
Làng Hồ Nam
|
Làng Hồ Nam thuộc xã
Nga Thành, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, làng Hồ Nam nằm trên trục đường mà địch từ Điền Hộ, Mai An Tiêm kéo
quân vào Liên Sơn (xã Nga Liên ngày nay), do đó Nhân dân trong làng thường
xuyên bị địch cướp phá nhà cửa, hoa màu. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc
Mỹ, Nhân dân trong làng đã tiễn hàng chục thanh niên tham gia bộ đội chiến đấu
trên khắp các chiến trường. Kết thúc hai cuộc kháng chiến, Nhân dân trong
làng được nhà nước tặng thưởng 84 huân, huy chương các loại.
|
Hồ Nam
|
|
|
13
|
Làng Hợp Long
|
Làng Hợp Long[141] là làng được hình thành từ
xa xưa, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc tổng Cao Vịnh, sau là một
trong 4 làng thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn. Hiện tại làng có một ngôi
nghè thờ Thành Hoàng làng Đoàn Dương Tử (Đoàn Dưỡng Dục) nghè được nhiều người
biết đến. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hợp Long
|
|
|
14
|
Làng Mại Đức
|
Làng Mại Đức thuộc xã
Nga Hưng cũ, huyện Nga Sơn. Năm 1831-1832 đời vua Minh Mạng thứ XI chia nước ta
làm 31 tỉnh thuộc chính quyền Trung ương. Làng Mại Đức được xác lập trên bản
đồ hành chính với 8 xóm: Xóm Rù, xóm Câu, xóm Vạn, xóm Đồng, xóm Sâu, xóm
Nghè, xóm Bề, xóm Độn. Làng có 6 dòng họ lớn cùng sinh sống: Họ Dương Đình, họ
Nguyễn Văn, họ Nguyễn Hữu, họ Mai Văn, họ Phạm Văn, họ Trịnh.
|
Mại Đức
|
|
|
15
|
Làng Mật Kỳ
|
Làng Mật Kỳ thuộc xã
Nga Trường, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong làng có nghè Tam Biểu (vì
dân làng phải ba lần làm biểu tấu vua xin đất và kinh phí xây dựng lại Nghè
do Nghè cũ bị cháy, lần thứ ba mới được vua chuẩn tấu) thờ ông Đoàn tây tổ chức
vào ngày 15/2 âm lịch.
|
Mật Kỳ
|
|
|
16
|
Làng Mậu Xuân
|
Làng Mậu Xuân thuộc tổng
Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Vạn Chiêm (xưa), nay là xã Nga Văn,
huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trước đây Nhân dân trong làng hay gọi là làng
Mậu hay phủ Mậu. Theo sách tên làng xã Việt Nam cuối thế kỷ XIX thì tổng Mậu
Lâm được gọi từ thời Lê Sơ (1428-1527). Như vậy tên làng Mậu Xuân đã có cách
đây hơn 600 năm.
|
Mậu Xuân
|
|
|
17
|
Làng Ngưu Sơn
|
Làng Ngưu Sơn thuộc xã Nga
An, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ được đặt từ khoảng năm 1880.
|
Ngưu Sơn
|
|
|
18
|
Làng Thành
|
Làng Thành thuộc xã Nga
Thành, huyện Nga Sơn, nơi có đình làng thành được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng tại Quyết định số
3250/QĐ-UBND ngày 31/10/2005.
|
Làng Thành
|
|
|
19
|
Làng Thổ Hoàng
|
Làng Thổ Hoàng thuộc tổng
Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa), nay là xã Nga Văn,
huyện Nga Sơn, đây là tên làng cổ. Trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Nhân dân
trong làng đã tích cực đào hầm, hào giao thông, đồn lũy dọc theo con kênh ở
phía tây làng, xuống núi Thúc để trú ẩn, làm đường hào vận chuyển lương thực
và chi viện cho căn cứ Ba Đình.
|
Thổ Hoàng
|
|
|
20
|
Làng Trung Điền
|
Làng Trung Điền thuộc
xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, làng có từ năm đầu công nguyên
do ông Mai An lập ra và ông được phong là Thành Hoàng làng, được Nhân dân
trong làng thờ phụng.
|
Trung Điền
|
|
|
21
|
Làng Vân Hoàn
|
Làng Vân Hoàn thuộc xã
Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, là một làng cổ, bệnh viện dã chiến trong kháng chiến
chống Pháp của huyện Nga Sơn đóng tại đình làng Vân Hoàn.
|
Vân Hoàn
|
|
|
22
|
Làng Văn Lâm
|
Làng Văn Lâm thuộc tổng
Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa), nay là xã Nga Văn,
huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,
Nhân dân làng Văn Lâm có 350 người tham gia bộ đội, chiến đấu ở các chiến trường,
được Nhà nước tặng thưởng 125 huân, huy chương các loại cho Nhân dân trong
làng.
|
Văn Lâm
|
|
|
23
|
Làng Xa Loan
|
Làng Xa Loan thuộc tổng
Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa) nay là xã Nga Văn, huyện
Nga Sơn, là tên làng cổ, làng ra đời cách đây hàng nghìn năm (từ thời Đinh,
Lý).
|
Xa Loan
|
|
|
24
|
Làng Xuân Đài
|
Làng Xuân Đài thuộc xã
Nga Thủy, huyện Nga Sơn. Tại đây có đền thờ Trần Hưng Đạo còn gọi là Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng năm 1860 (thời vua Tự Đức). Vào năm Bảo
Đại nhị niên (1927), đền được xây dựng lại trên khu đất trung tâm làng Xuân
Đài, xã Nga Thủy. Đền được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2004.
|
Xuân Đài
|
|
|
25
|
Núi Giá
|
Núi Giá thuộc làng Điền
Hộ, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, là căn cứ đồn tiền tiêu của khởi nghĩa Ba Đình
có chức năng như trạm quan sát thông tin nằm cách khu căn cứ trung tâm núi
Thúc khoảng 800m.
|
Núi Giá
|
|
|
26
|
Núi Thúc
|
Núi Thúc thuộc làng Điền
Hộ, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, là khu căn cứ trung tâm, là vị trí trọng yếu của
cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Nơi đây từng diễn ra các trận chiến đấu ác liệt giữa
nghĩa quân Ba Đình và thực dân Pháp, nơi ghi dấu những chiến công vang dội của
nghĩa quân Ba Đình trong lịch sử đồng thời là nơi hội họp tụ nghĩa, nơi tập hợp
sức mạnh của các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh.
|
Núi Thúc
|
|
|
27
|
Thôn Thượng Thọ
|
Thôn Thượng Thọ thuộc
xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, được thành lập vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) do
ông Nguyễn Hữu Đài cùng một số người khác lập nên. Nơi đây là căn cứ của đồn
Thượng trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình (do vị trí làng xung quanh có những lũy
tre vây kín, phù hợp thành lũy, vì vậy trở thành kiến trúc quân sự của căn cứ
Ba Đình). Đồn Thượng do lãnh binh Nguyễn Viết Toại chịu trách nhiệm. Thời kỳ
kháng chiến chống Pháp (1886 -1887) Thượng Thọ là một trong những căn cứ thuộc
hệ thống các căn cứ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Trong những năm diễn ra cuộc
khởi nghĩa Ba Đình, Thượng Thọ trở thành một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất
trong thời kỳ Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX của cả nước.
|
Thượng Thọ
|
|
3.11. Thị xã Nghi Sơn: 74 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cầu Đông
|
Cầu Đông thuộc xã Triêu
Dương (nay là phường Hải Ninh), thị xã Nghi Sơn. Đầu thế kỷ XIX, thôn cầu Đông
thuộc xã Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
|
Cầu Đông
|
|
2
|
Cầu Hang
|
Cầu Hang thuộc phường
Ninh Hải, thị xã Nghi Sơn, gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng của dân
tộc ta, đặc biệt là với Nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
|
Cầu Hang
|
|
3
|
Cầu Tam Văn
|
Cầu Tam Văn thuộc phường
Hải Bình, thị xã Nghi Sơn. Năm 1928, do có con hói sâu ngăn cách giữa hai
làng Liên Thịnh và Liên Hưng (xã Hải Bình) gây khó khăn cho việc đi lại. Nhân
dân trong làng góp sức xây dựng và đặt tên là cầu Tam Văn. Ngày nay, cầu Tam
Văn vẫn còn (thuộc địa phận tổ dân phố Liên Hưng), hai bên cầu dân cư đông
đúc, mặt đường rộng rãi và được bê tông hóa.
|
Tam Văn
|
|
4
|
Châu Khê
|
Châu Khê thuộc thị xã
Nghi Sơn, đầu thế kỷ XIX, thôn Chu Khê thuộc xã Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện
Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Năm 1948, là nơi diễn ra Đại hội Đảng bộ huyện Tĩnh
Gia lần thứ nhất.
|
Châu Khê
|
|
5
|
Đảo Biện Sơn
|
Đảo Biện Sơn thuộc thị
xã Nghi Sơn, còn gọi là hòn Biện, đảo Nghi Sơn, từ thế kỷ XI, đây là địa danh
rất nổi tiếng trong lịch sử đất nước, gắn liền với cuộc hành quân của các
hoàng đế thời kỳ Lý, Trần, Lê trong các cuộc Nam chinh bằng đường biển để bảo
vệ biên cương Tổ quốc. Năm 1788, Biện Sơn được chọn làm điểm cực Nam của
phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm
lược.
|
Biện Sơn
|
|
6
|
Đê Hoàng Các
|
Đê Hoàng Các thuộc 2 xã
Mai Lâm và xã Tĩnh Hải, thị xã Nghi Sơn, thực hiện chủ trương của triều đình
Lê Sơ khôi phục sản xuất nông nghiệp, Lê Nhân Quý tiến hành đắp đê Hoàng Các,
ngăn mặn, khai khẩn ven biển ở quê hương. Theo tộc phả, vào cuối đời Thánh
Tông, đầu đời Hiến Tông, ông đắp con đê Hoàng Các từ Tháp Sơn đến cồn Mả
Nghè, thôn Vinh Quang dài gần 1km. Đê hoàn thành có tác dụng thau chua, rửa mặn
tạo nên một khu đồng ruộng phì nhiêu trải dài từ đê Hoàng Các đến chân núi
Đòn, ước khoảng hơn một nghìn mẫu Bắc Bộ, nay thuộc thị xã Nghi Sơn.
|
Hoàng Các
|
|
7
|
Làng Am
|
Làng Am thuộc xã Hải
Nhân, thị xã Nghi Sơn. Tên một làng cổ nay thuộc thôn Bắc Hải, có từ thế kỷ
thứ XVII.
|
Làng Am
|
|
8
|
Làng Ba Làng
|
Làng Ba Làng thuộc phường
Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn, theo tên làng, xã Việt Nam thế kỷ XIX, Ba Làng là
tên gọi một làng biển của xã Du Xuyên trước kia thuộc tổng Vân Trai, huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là phường Hải Thanh, có đặc sản nước mắm ngon nổi tiếng
xứ Thanh. Tên gọi Ba Làng xưa đã in đậm vào tâm thức của người dân nơi đây.
|
Ba Làng
|
|
9
|
Làng Bài
|
Làng Bài [142] (còn có tên là làng Bài Liệt),
là một trong sáu làng thuộc xã Anh Sơn, huyện Tĩnh Gia, nay là thị xã Nghi
Sơn. Làng có đình làng Bài được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng
là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày
31/01/2013. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng Bài
|
|
10
|
Làng Bạng
|
Làng Bạng thuộc phường
Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, là vùng đất giáp Bạn (giáp biển) còn có tên gọi
là Giáp Bạn, biển trai (vùng đất giàu có) làng được thành lập từ thế kỷ 17
cách ngày nay khoảng 360 năm. Nghề nghiệp chính của Nhân dân trong làng là sản
xuất nông nghiệp nhưng xưa kia nhờ có sông Kênh Than đi qua, giáp với Lạch Bạng
rất thuận cho thuyền bè ở mạn trong ra, mạn ngoài vào buôn bán nên đã sớm
hình thành việc buôn bán ở làng, tạo ra khung cảnh một làng quê trên bến dưới
thuyền, tấp nập người qua lại.
|
Làng Bạng
|
|
11
|
Làng Bộ Đầu
|
Làng Bộ Đầu[143] trước năm 1945, thuộc xã Du
Độ, tổng Tuần La, nay thuộc phường Hải Bình, thị xã Nghi Sơn. Năm 1946, xã Du
Độ đổi tên thành xã Trấn Hải, năm 1954 chia xã Trấn Hải thành hai xã Hải Bình
và Tĩnh Hải. Làng Bộ Đầu sau này được tách làm ba thôn: Liên Hưng, Liên Thịnh
và Nam Hải. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bộ Đầu
|
|
12
|
Làng Cao Lư
|
Làng Cao Lư[144] là tên gọi cũ của thôn Thắng
Hải, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, trước năm 1945 thuộc tổng Tuần La; nay là
thôn Thắng Hải, xã Tĩnh Hải, thị xã Nghi Sơn. Làng Cao Lư từ xóm 6 đến xóm 9.
Đây là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cao Lư
|
|
13
|
Làng Chỉ Trung
|
Làng Chỉ Trung tên làng
cổ thuộc xã Đồng Loan, tổng Duyên La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là thị
xã Nghi Sơn, đến cuối thế kỷ XIX, thôn Chỉ Trung thuộc xã Đồng Đội, tổng Tuần
La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thuộc địa
bàn xã Trường Lâm. Tháng 9/1954, làng Chỉ Trung thuộc địa bàn xã Mai Lâm, huyện
Tĩnh Gia, nay là tổ dân phố Tân Thành, phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn.
|
Chỉ Trung
|
|
14
|
Làng Chùa
|
Làng Chùa[145] là tên gọi cũ của thôn 6,
xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia, nay là thôn Hồng Kỳ, xã Định Hải, thị xã Nghi
Sơn. Đây là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng Chùa
|
|
15
|
Làng Cộng Phú
|
Làng Cộng Phú là tên một
làng cổ, có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh
Gia, nay là thị xã Nghi Sơn. Trung tâm Phủ lị Tĩnh Gia chuyển về đóng ở làng
Cộng Phú khoảng năm 1939 - 1940.
|
Cộng Phú
|
|
16
|
Làng Đá Bạc
|
Làng Đá Bạc được đổi
tên thành thôn 9, xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn, là tên gọi một làng nay là
thôn Hồng Kỳ, xã Định Hải. Tên làng Đá Bạc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Đá Bạc
|
|
17
|
Làng Đông Hải
|
Làng Đông Hải thuộc thị
xã Nghi Sơn, tháng 8 năm 1954, xã Hải Thượng thành lập gồm các làng: Hà Nẫm,
Thượng, Trung (Thượng Trung) và Biện Sơn. Làng Thượng lúc đó có 3 làng, trong
đó có làng Đông Hải, nay là các tổ dân phố Bắc Hải và Liên Hải.
|
Đông Hải
|
|
18
|
Làng E
|
Làng E[146] là tên một trong 2 làng cũ
(gọi là làng Yam), thôn Bắc Hải, xã Hải Nhân, huyện Tĩnh Gia; trước năm 1945,
thuộc tổng Vân Trai, nay là thôn Bắc Hải, xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn. Đây
là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng E
|
|
19
|
Làng Hà Nẫm
|
Làng Hà Nẫm thuộc xã Hải
Thượng (cũ), nay thuộc xã Hải Hà, thị xã Nghi Sơn. Năm 1984, xã Hải Thượng
tách ra làm 3 xã Hải Thượng, Nghi Sơn, Hải Hà. Xã Hải Hà bao gồm làng Hà Nẫm
và Hợp tác xã Quyết Tâm hợp thành. Hà Nẫm còn là một trong ba cửa lạch của thị
xã Nghi Sơn là: Lạch Hà Nam, Lạch Bạng, Lạch Ghép.
|
Hà Nẫm
|
|
20
|
Làng Hiếu Hiền
|
Làng Hiếu Hiền thuộc xã
Hải Châu, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Theo sử cũ, làng Hiếu
Hiền xưa có tên là Kẻ Hàn ra đời vào thế kỷ XV dưới triều vua Lê Thánh Tông
do một võ quan triều đình về đây khai khẩn dụng làng, lập ấp và đặt tên là Hiếu
Hiền, nghĩa là trung hiếu và tài giỏi. Ông được tôn làm Thành Hoàng làng được
Nhân dân truyền lại trong văn tế là: “Ông Chưởng Hữu Tướng quân đại vương”.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Hiếu Hiền đã thành lập 3 hợp tác xã
nông nghiệp. Năm 1973, hợp thành hợp tác xã Bắc Châu. Đến năm 1991, đổi thành
thôn Bắc Châu. Từ tháng 6 năm 2020, trở thành tổ dân phố Bắc Châu, phường Hải
Châu, thị xã Nghi Sơn.
|
Hiếu Hiền
|
|
21
|
Làng Hồ Phú
|
Làng Hồ Phú gồm 6 thôn
phía Bắc xã Hải Lĩnh, thị xã Nghi Sơn, được hình thành từ đầu thế kỷ XII, hiện
nay vẫn được Nhân dân quen gọi.
|
Hồ Phú
|
|
22
|
Làng Khả La
|
Làng Khả La thuộc thị xã
Nghi Sơn, năm 1945, xã Hải Bình gồm 4 làng: Như Áng, Khả La, Du Độ và Bộ Đầu.
Năm 1999, tên làng Khả La được đổi tên là thôn Đoan Hùng (nay là tổ dân phố
Đoan Hùng). Ngày nay, mặc dù đã được đổi tên nhưng trên cổng nhà văn hóa của
thôn vẫn có tên làng Khả La như một cách để con cháu nhớ về cội nguồn của
mình.
|
Khả La
|
|
23
|
Làng Khánh Trạch
|
Làng Khánh Trạch thuộc
thị xã Nghi Sơn, là vùng đất phía Đông Nam xã Bình Minh (nay là phường Bình
Minh) là điểm nhô ra gần cửa sông Bà Hòa (sông Bạng nay) là vùng giáp Bạng.
Cư dân sinh sống lâu đời có nhiều ngành nghề truyền thống, như đi biển, đi trẩy,
làm ruộng, chặt củi, đốt than, làm bánh bún và buôn bán. Nhiều gia đình giàu
có, sắm thuyền, đào lạch để vận chuyển mắm chượp ra xứ Bắc Kỳ buôn bán. Nhân
dân làng Khánh Trạch qua nhiều thế hệ luôn chí thú làm ăn, xây dựng quê hương
và giữ gìn nét đẹp văn hóa. Làng có đền Khánh Trạch và chùa Thiên Vương.
|
Khánh Trạch
|
|
24
|
Làng Kim Cốc
|
Làng Kim Cốc thuộc xã Đồng
Đội, tổng Tuần La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia; sau Cách mạng tháng 8 năm
1945, thuộc địa bàn xã Trường Lâm. Tháng 9/1954, làng Kim Cốc thuộc địa bàn
xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia nay thuộc 2 tổ dân phố Kim Sơn, Kim Phú, phường
Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn. Tên làng Kim Cốc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Kim Cốc
|
|
25
|
Làng Kỳ Lọng
|
Làng Kỳ Lọng thuộc xã
An Mỹ, tổng Văn Trường, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Cuối thế kỷ XIX, thuộc
địa bàn xã Yên Mỹ, tổng Yên Thái, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng
tháng 8 năm 1945, thôn Kỳ Lọng thuộc địa bàn xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia. Từ
tháng 6/1954, thuộc địa bàn xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia. Hiện nay thôn Kỳ Lọng
thuộc địa bàn thôn Hồng Kỳ, xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn.
|
Kỳ Lọng
|
|
26
|
Làng Nạp Cá
|
Làng Nạp Cá[147] thuộc xã Định Hải, huyện Tĩnh
Gia, sau được tách thành thôn 1 và thôn 2, xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn. Đây
là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nạp Cá
|
|
27
|
Làng Nguyệt Chư
|
Làng Nguyệt Chư[148] thuộc xã Liên Trì, tổng
Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là thôn 10, xã Ngọc Lĩnh, thị xã
Nghi Sơn. Đây là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nguyệt Chư
|
|
28
|
Làng Nhân Vũ
|
Làng Nhân Vũ thuộc xã
Nguyệt Quật, tổng Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, là tên một làng cổ,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nay thuộc phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn.
|
Nhân Vũ
|
|
29
|
Làng Ô Cách
|
Làng Ô Cách thuộc xã
Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, là làng cổ, ăn sâu vào
tiềm thức của Nhân dân, nay là thôn 9, xã Ngọc Lĩnh, thị xã Nghi Sơn.
|
Ô Cách
|
|
30
|
Làng Phong Thái
|
Làng Phong Thái thuộc
xã Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, thuộc địa bàn của tổ
dân phố 1,2,3, phường Hải An ngày nay. Tên làng Phong Thái đã ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Phong Thái
|
|
31
|
Làng Phú Long
|
Làng Phú Long thuộc xã
Định Hải, sau được đổi tên thành thôn 8, xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia (nay là
thị xã Nghi Sơn). Tên làng Phú Long đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Long
|
|
32
|
Làng Phú Thái
|
Làng Phú Thái thuộc xã
Định Hải, thị xã Nghi Sơn, sau được tách thành thôn 3 và thôn 4, xã Định Hải.
Tên làng Phú Thái đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Thái
|
|
33
|
Làng Phúc Mỹ
|
Làng Phúc Mỹ là làng cổ,
trước thuộc xã Liên Trì, tổng Liên Trì, phủ Tĩnh Gia nay là thôn 8, xã Ngọc
Lĩnh, thị xã Nghi Sơn. Tên làng Phúc Mỹ đã ăn sâu vào tâm thức của Nhân dân.
|
Phúc Mỹ
|
|
34
|
Làng Sen Hồ
|
Làng Sen Hồ là làng cổ,
trước thuộc tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là thôn 16, xã
Ngọc Lĩnh, thị xã Nghi Sơn. Tên làng Sen Hồ đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Sen Hồ
|
|
35
|
Làng Thịnh Hùng
|
Làng Thịnh Hùng thuộc
thị xã Nghi Sơn, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Tân Dân được thành lập,
trước đó xã Tân Dân thuộc phủ Ngọc Sơn, tổng Sen Trì (Liên Trì). Làng Thịnh Hùng
là một trong 6 làng của Tân Dân lúc bấy giờ, nay làng Thịnh Hùng có tên gọi
là tổ dân phố Hồ Thịnh.
|
Thịnh Hùng
|
|
36
|
Làng Thọ Cửu
|
Làng Thọ Cửu là làng cổ,
trước thuộc xã Tân Dân, trước 1945 thuộc phủ Ngọc Sơn, tổng Sen Trì (Liên Trì).
Làng Thọ Cửu là một trong 6 làng của Tân Dân lúc bấy giờ, nay làng Thọ Cửu có
tên gọi là tổ dân phố Tiền Phong.
|
Thọ Cửu
|
|
37
|
Làng Thọ Quan
|
Làng Thọ Quan, là làng
cổ, trước thuộc địa bàn xã Nguyệt Quật, tổng Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ
Tĩnh Gia, nay thuộc phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn.
|
Thọ Quan
|
|
38
|
Làng Thổ Sơn
|
Làng Thổ Sơn là làng cổ,
trước thuộc địa bàn xã Vân Liễn, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia,
nay thuộc phường Nguyên Bình. Từ năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), Thổ Sơn trở
thành Trung tâm Phủ lị Tĩnh Gia.
|
Thổ Sơn
|
|
39
|
Làng Thượng Chiểu
|
Làng Thượng Chiểu là
làng cổ, trước thuộc tổ dân phố Hồng Phong, Đại Thắng. Làng ở vị trí trung
tâm phường Hải Lĩnh, được vua Minh Mạng đặt tên là Thượng Chiếu (do cụm dân
cư sản xuất chiếu cói rất nổi tiếng) sau này phát âm không rõ và đổi thành
“Chiểu” cho đến nay. Hiện nay vẫn được Nhân dân quen dùng.
|
Thượng Chiểu
|
|
40
|
Làng Thượng Trung
|
Làng Thượng Trung là một
trong bốn làng của Hải Thượng cũ, sau khi Hải Thượng tách ra thành 3 xã là Hải
Thượng, Hải Hà và Nghi Sơn vào năm 1984.
|
Thượng Trung
|
|
41
|
Làng Tiên Vực
|
Tiên Vực, là làng cổ,
trước thuộc xã Liên Xá, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc
tổ dân phố 4, phường Hải An. Tên làng Tiên Vực đã ăn sâu vào tâm thức của
Nhân dân.
|
Tiên Vực
|
|
42
|
Làng Trung Dịch
|
Làng Trung Dịch, là
làng cổ, trước thuộc xã Đồng Đội, tổng Tuần La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
Tháng 10/1945, xã Tĩnh Hải được thành lập gồm làng Trung Dịch, làng Cao Lư,
làng Trung Dịch từ xóm 10 đến xóm 12 nay là tổ dân phố Trung Sơn.
|
Trung Dịch
|
|
43
|
Làng Văn Liễn
|
Làng Văn Liễn nay thuộc
thôn Nhân Sơn, xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn, tên một làng có từ thế kỷ thứ
XVII.
|
Văn Liễn
|
|
44
|
Làng Văn Mỹ
|
Làng Văn Mỹ thuộc thôn
Nam Châu, thị xã Nghi Sơn. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 là làng Văn Mỹ,
Đa Văn. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành hợp tác xã Văn Hoàng - Liên
Châu. Sau đó là Tân Liên Hoa, năm 1973 thành hợp tác xã Nam Châu. Đến năm
1991 đổi thành thôn Nam Châu.
|
Văn Mỹ
|
|
45
|
Làng Viện Trung
|
Làng Viện Trung là làng
cổ, trước thuộc phường Hải An, thị xã Nghi Sơn, còn gọi là Xuân Viện Trung,
là tên gọi một làng thuộc xã Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ
Tĩnh Gia. Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Viện Trung thuộc xã Việt
Hòa. Năm 1948 thuộc xã Triêu Dương. Tháng 8/1954, làng Viện Trung tách ra khỏi
xã Triêu Dương sáp nhập với làng Xuân Thái, Xuân Viện Đông thuộc xã Hải Châu
thành lập xã Hải An. Thôn Viện Trung nay là tổ dân phố 3,5 phường Hải An.
|
Viện Trung
|
|
46
|
Núi Lâm Động
|
Núi Lâm Động thuộc xã Phú
Sơn, thị xã Nghi Sơn, chỉ tên một đỉnh núi với độ cao hơn 800m so với mực nước
biển. Trong kháng chiến chống Mỹ, núi Lâm Động có vị trí quan trọng, là nơi
đóng quân của bộ đội ta để bảo vệ đảo Mê (bảo vệ các vị trí chiến lược, vùng
trời, vùng biển phía Nam của huyện như: Cảng Nghi Sơn, cầu Hổ, cầu Đồi).
|
Lâm Động
|
|
47
|
Thôn Cư Nhân
|
Thôn Cư Nhân thuộc xã
Xuân Lâm, thị xã Nghi Sơn. Đầu thế kỷ XIX, thôn Cư Nhân thuộc xã Vân Trai, tổng
Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
|
Cư Nhân
|
|
48
|
Thôn Đồng Bói
|
Thôn Đồng Bói là tên gọi
cũ của thôn Nam Sơn, thuộc xã Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn ngày nay, năm 1976, thực
hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề khai hoang phục
hóa mở rộng diện tích canh tác. Thực hiện chủ trương của Huyện ủy và Ủy ban
nhân dân huyện Tĩnh Gia, đồng thời đây cũng là nguyện vọng của Nhân dân mong
muốn khai phá vùng đất phía Tây Nam huyện Tĩnh Gia, vùng đất khai hoang chủ yếu
là: Đồng Lảnh (thôn Đông Sơn), Đồng Bói (thôn Nam Sơn), Trại Bò (thôn Trung
Sơn), Bái Lợn (thôn Bình Sơn); Rừng Cấm (thôn Bắc Sơn và Bình Sơn).
|
Đồng Bói
|
|
49
|
Thôn Đồng Lảnh
|
Thôn Đồng Lảnh là tên gọi
cũ của thôn Đông Sơn, thuộc xã Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn ngày nay. Năm 1976,
thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề khai hoang phục
hóa mở rộng diện tích canh tác. Thực hiện chủ trương của Huyện ủy và Ủy ban
nhân dân huyện Tĩnh Gia, đồng thời đây cũng là nguyện vọng của Nhân dân mong
muốn khai phá vùng đất phía Tây Nam huyện Tĩnh Gia, vùng đất khai hoang chủ yếu
là: Đồng Lảnh (thôn Đông Sơn), Đồng Bói (thôn Nam Sơn), Trại Bò (thôn Trung
Sơn), Bái Lợn (thôn Bình Sơn); Rừng Cấm (thôn Bắc Sơn và Bình Sơn).
|
Đồng Lảnh
|
|
50
|
Thôn Đồng Từ
|
Thôn Đồng Từ thuộc xã Hải
Nhân, thị xã Nghi Sơn ngày nay, tên gọi Bờ Đồng có từ trước năm 1954 sau ghép
với phố Đào Duy Từ để thành thôn Đồng Từ (xã Hải Nhân).
|
Đồng Từ
|
|
51
|
Thôn Dũ Hiền
|
Thôn Dũ Hiền thuộc xã Hải
Nhân, thị xã Nghi Sơn. Đầu thế kỷ XIX, thôn Dũ Hiền thuộc xã Chu Bàn, tổng
Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
|
Dũ Hiền
|
|
52
|
Thôn Hào Vịnh
|
Thôn Hào Vịnh nay thuộc
xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn. Cuối thế kỷ XIX, thuộc địa bàn xã Yên Mỹ, tổng
Yên Thái, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn
Hào Vịnh thuộc địa bàn xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia. Hiện nay, thôn Hào Vịnh
thuộc địa bàn thôn Hồng Quang, xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn.
|
Hào Vịnh
|
|
53
|
Thôn Hậu Thôn
|
Thôn Hậu Thôn thuộc xã
Ngọc Lĩnh, thị xã Nghi Sơn, trước đây là tên một thôn thuộc xã Sen Hồ, tổng
Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là thôn 13, xã Ngọc Lĩnh.
|
Hậu Thôn
|
|
54
|
Thôn Hiều Môn
|
Làng Hiều Môn thuộc khu
vực phía nam xã Hải Lĩnh, thị xã Nghi Sơn nay thuộc tổ dân phố Đại Quang và một
phần diện tích tổ dân phố Đại Thắng. Hiện tên gọi Hiều Môn vẫn được Nhân dân
quen dùng.
|
Hiều Môn
|
|
55
|
Thôn Hồ Nam
|
Thôn Hồ Nam thuộc thị
xã Nghi Sơn, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, năm 1945 thuộc làng Hồ Thượng,
xã Tân Dân, phủ Ngọc Sơn, tổng Sen Trì (Liên Trì). Sau năm 1955, làng Hồ Thượng
đổi tên thành thôn Hồ Nam. Ngày 11/7/2018 thôn Hồ Nam sáp nhập với thôn Hồ
Đông thành thôn Hồ Thượng, nay là tổ dân phố Hồ Thượng, thị xã Nghi Sơn.
|
Hồ Nam
|
|
56
|
Thôn Hữu Lại
|
Thôn Hữu Lại, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc xã Đồng Đội, tổng Duyên La,
huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Đến cuối thế kỷ XIX, thôn Hữu Lại thuộc xã Đồng
Đội, tổng Tuần La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm
1945, thuộc địa bàn xã Trường Lâm. Tháng 9/1954, làng Hữu Lại thuộc địa bàn
xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia. Hiện nay, địa bàn thôn Hữu Lại thuộc địa bàn phường
Mai Lâm bao gồm các tổ dân phố Hữu Nhân, Hữu Tài, Hải Lâm, Mai Lâm.
|
Hữu Lại
|
|
57
|
Thôn Năng Cải
|
Thôn Năng Cải, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Đầu thế kỷ XIX, thôn Năng Cải thuộc địa
bàn xã Hải Châu, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Trước năm 1823,
phủ lỵ Tĩnh Gia đóng ở thôn Năng Cải, nay là khu vực chợ Kho của phường Hải
Ninh; từ năm 1823, chuyển về Thổ Sơn, xã Vân Trai (nay thuộc phường Nguyên
Bình, thị xã Nghi Sơn).
|
Năng Cải
|
|
58
|
Thôn Nhân Trai
|
Thôn Nhân Trai, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc xã Vân Trai, tổng Vân Trai,
huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn.
|
Nhân Trai
|
|
59
|
Thôn Phù Cư
|
Thôn Phù Cư, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc xã Trà Lâm (gồm các thôn: Phù
Cư, Lan Trà, Hữu Lộc, Thanh Thủy, Giảng Tín), thị xã Nghi Sơn. Kháng chiến chống
Pháp thắng lợi, ngày 12 tháng 9 năm 1954 quyết định chia các xã lớn thành xã
nhỏ, xã Xuân Lâm được chia thành 2 xã: xã Trúc Lâm (gồm các thôn Đại Thủy, Hữu
Lộc, Giảng Tín, Lan Trà). Thôn Phù Cư được ghép vào thôn Lan Trà.
|
Phù Cư
|
|
60
|
Thôn Quan Nội
|
Thôn Quan Nội, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, đầu thế kỷ XIX thuộc xã Phù Sa, tổng Vân
Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
|
Quan Nội
|
|
61
|
Thôn Thanh Thủy
|
Thôn Thanh Thủy, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc xã Trà Lâm (gồm các thôn: Phù
Cư, Lan Trà, Hữu Lộc, Thanh Thủy, Giảng Tín), kháng chiến chống Pháp thắng lợi,
ngày 12 tháng 9 năm 1954, quyết định chia các xã lớn thành xã nhỏ, xã Xuân
Lâm được chia thành 2 xã: xã Trúc Lâm (gồm các thôn Đại Thủy, Hữu Lộc, Giảng
Tín, Lan Trà). Thôn Thanh Thủy được ghép vào thôn Giảng, nay thuộc thị xã
Nghi Sơn.
|
Thanh Thủy
|
|
62
|
Thôn Văn Lâm
|
Thôn Văn Lâm, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc địa bàn xã Đồng Đội, tổng
Duyên La, rồi Tuần La, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Năm Thành Thái thứ 7
(1895), thôn Văn Lâm đổi thành thôn Văn Yên. Thôn Văn Yên thuộc địa bàn xã
Ninh Hải, nay thuộc xã Hải Yến, thị xã Nghi Sơn.
|
Văn Lâm
|
|
63
|
Thôn Văn Yên
|
Thôn Văn Yên, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, tên gọi thôn Văn Yên có từ cuối thế kỷ
XIX vốn là một dải đất ven biển ở phía Đông Bắc thôn Ngọc Đường, xã Ninh Hải.
Từ khá lâu đời, cư dân nơi khác đến định cư làm nghề ngư bãi ngang và buôn
bán, trong đó hải sản là mặt hàng chủ yếu, nay thuộc thôn Ngọc Đường, xã Ninh
Hải, thuộc thị xã Nghi Sơn.
|
Văn Yên
|
|
64
|
Thôn Viện Đông
|
Thôn Viện Đông, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, đầu thế kỷ XIX, Viện Đông là tên gọi một làng
thuộc xã Liên Trì, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng
tháng 8 năm 1945, thôn Viện Đông thuộc xã Hồng Thái, huyện Tĩnh Gia; năm 1948
thuộc xã Hải Châu. Từ tháng 8 năm 1954, thuộc địa bàn xã Hải An, nay thuộc tổ
dân phố 1, 2, 3 phường Hải An.
|
Viện Đông
|
|
65
|
Thôn Yên Châu
|
Thôn Yên Châu, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Khoảng năm Tự Đức thứ 8 (1855) do một dân
cư sở tại và dân từ làng Cự Nham (Quảng Xương) và Liên Trì (Ngọc Sơn) lập nên
với tên gọi là thôn Hoài Yên. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn Yên Châu
thuộc địa phận làng Hoài Yên, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau
Cách mạng tháng Tám, hợp tác xã Yên Châu, xã Hải Châu được thành lập. Năm
1966, hợp tác xã Yên Châu vinh dự được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ luân lưu.
Đến năm 1991, hợp tác xã Yên Châu đổi thành thôn Yên Châu. Từ tháng 6 năm
2020, trở thành tổ dân phố Yên Châu, phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn.
|
Yên Châu
|
|
66
|
Xã Du Độ
|
Xã Du Độ, tên gọi xưa,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, đầu thế kỷ XIX thuộc tổng Duyên La, huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia. Đến năm 1945, là một làng thuộc xã Hải Bình (Như Áng, Khả
La, Du Độ và Bộ Đầu). Làng Du Độ sau được đổi tên là thôn Tiền Phong (nay là
tổ dân phố Tiền Phong).
|
Du Độ
|
|
67
|
Xã Hào Môn
|
Xã Hào Môn tên gọi xưa,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Đầu thế kỷ XIX, xã Hào Môn thuộc tổng Liên
Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc thôn Hồng Quang, xã Định Hải, thị
xã Nghi Sơn.
|
Hào Môn
|
|
68
|
Xã Hùng Sơn
|
Xã Hùng Sơn, tên gọi xưa,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, được thành lập 1954 gồm các thôn Liên Sơn,
Đông, Ngọc Sơn, Thượng, Thái thuộc thị xã Nghi Sơn. Ngày 16/10/2019, xã Hùng
Sơn sáp nhập vào xã Các Sơn và lấy tên là xã Các Sơn. Tên Hùng Sơn mãi in đậm
trong tâm thức của người dân nơi đây.
|
Hùng Sơn
|
|
69
|
Xã Lê Xá
|
Xã Lê Xá, tên gọi xưa,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Đầu thế kỷ XIX, xã Lê Xá thuộc tổng Vân Trai,
huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc phường Hải Hòa, thị xã Nghi Sơn.
|
Lê Xá
|
|
70
|
Hợp tác xã Liên Hải
|
Hợp tác xã Liên Hải là
tên hợp tác xã sản xuất và đánh bắt cá thuộc xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, nay
là thị xã Nghi Sơn. Hợp tác xã ra đời từ những năm 1960, từ khi thành lập hợp
tác xã, nghề cá ở đây ngày càng được phát triển, đời sống Nhân dân được nâng lên,
góp phần tích cực vào thành công phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trên địa
bàn huyện Tĩnh Gia những năm 60 của thế kỷ XX. Tên hợp tác xã Liên Hải đã ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Liên Hải
|
|
71
|
Xã Liên Xá
|
Xã Liên Xá, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước thuộc tổng Liên Trì, huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, gồm các thôn: Hồ Trung, Hồ Trung Trình, Hồ Thượng, Hồ
Trung Thượng, Nhân Vực, Hồ Bảo. Trung tâm Phủ lị Tĩnh Gia chuyển về đóng ở
Liên Xá năm Tự Đức thứ 3 (1849), nay thuộc phường Tân Dân, thị xã Nghi Sơn.
|
Liên Xá
|
|
72
|
Xã Trà Lâm
|
Xã Trà Lâm, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân (gồm các thôn: Phù Cư, Lan Trà, Hữu Lộc,
Thanh Thủy, Giảng Tín), có từ trước 1954, nay là xã Trúc Lâm, thị xã Nghi
Sơn.
|
Trà Lâm
|
|
73
|
Xã Trấn Hải
|
Xã Trấn Hải tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, là tên gọi trước đây của xã Hải Bình. Từ
tháng 4 năm 1946 đến tháng 7 năm 1947, thực hiện chủ trương của cấp trên sáp
nhập các xã nhỏ thành xã lớn nên xã Trấn Hải và xã Tĩnh Hải hợp nhất lấy tên
là xã Hải Bình, thuộc thị xã Nghi Sơn.
|
Trấn Hải
|
|
74
|
Xã Triêu Dương
|
Xã Triêu Dương, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Tên gọi này có từ xa xưa, năm 1948 sáp nhập
các xã Việt Hòa, Tân Dân và Ngọc Lĩnh thành lập xã Triêu Dương. Năm 1954, xã Triêu
Dương chia thành 3 xã Triêu Dương, Ngọc Lĩnh, Tân Dân và một phần xã Hải An.
Năm 2019, xã Triêu Dương sáp nhập vào xã Hải Ninh, nay là phường Hải Ninh, thị
xã Nghi Sơn.
|
Triêu Dương
|
3.12. Huyện Ngọc Lặc: 05 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Châu Ngọc[149]
|
Châu Ngọc, tên gọi xưa,
ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Trước năm 1900 thuộc Mường Chẹ, sau thuộc tổng
Yên Trường và 2/3 tổng Quảng Trị thuộc phủ Thiệu Hóa, huyện Thụy Nguyên. Châu
Ngọc là tên gọi vùng đất chủ yếu của huyện Ngọc Lặc ngày nay.
|
Châu Ngọc
|
|
2
|
Làng Ngọc Châu
|
Làng Ngọc Châu, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước đây gọi là làng Bống thuộc xã Kiên Thọ,
huyện Ngọc Lặc, là quê hương của Lê Hiểm, một công thần khai quốc triều Hậu
Lê, có đóng góp vào thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn. Hiện nay, đền thờ vẫn
còn dấu vết ở làng Thành Sơn (làng Giác, xã Kiên Thọ) vùng đất này còn là nơi
lưu truyền huyền thoại về "Chúa Lam Sơn" và nghĩa quân Lam Sơn,
trong đó có huyền thoại về thanh gươm thần của Lê Lợi.
|
Ngọc Châu
|
|
3
|
Làng Riếng
|
Làng Riếng, tên gọi
xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nơi đây có đền làng Riếng (tiếng Mường gọi
là Lôồng Riềng) thờ Thánh Gióng - vị thánh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng
dân gian Việt Nam, đền được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng
là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 180/QĐ-UBND ngày 15/1/2016. Nay
làng Riếng thuộc xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc.
|
Làng Riếng
|
|
4
|
Làng Thành Sơn
|
Làng Thành Sơn là làng
cổ, quê hương của Lê Lai và gia tộc Lê Lai, Lê Lư, Lê Lộ, Lê Lâm - đều là
dũng tướng tài giỏi, đóng góp cho khởi nghĩa Lam Sơn đi đến thắng lợi. Làng
Thành Sơn nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc.
|
Thành Sơn
|
|
5
|
Mường[150]
Chẹ
|
Mường Chẹ, tên một
trong bốn vùng Mường cổ của Thanh Hóa, trước năm 1945 thuộc xã Cao Khê, Mỹ
Khê, nay thuộc xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc.
|
Mường Chẹ
|
3.13. Huyện Như Thanh: 05 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng
|
Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng
thuộc xã Thanh Kỳ, huyện Như Thanh, là căn cứ của đội quân Lang Bôn người
Thái, được Nguyễn Phương hợp nhất xây dựng thành căn cứ trong phong trào Cần Vương
chống Pháp ở Nam Nông Cống. Ngày 26/4/1886, Tê Ri Ông (Terrillon) đã tiến
hành cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Ổn Lâm-Kỳ Thượng. Tú Phương và
Tôn Thất Hàm tổ chức nghĩa binh, chống cự ác liệt, vì vũ khí quân giặc tối
tân, nghĩa quân chống lại không nổi, một năm sau, căn cứ bị hoàn toàn thất thủ,
các thủ lĩnh bị bắt, nhiều người bị chém đầu.
|
Ổn Lâm - Kỳ Thượng
|
|
2
|
Cầu Châu
|
Cầu Châu là tên cây cầu
thuộc huyện Như Thanh, cầu được hình thành từ những năm 1893, khi chính quyền
địa phương và Tổng đốc Thanh Hóa, Toàn quyền Đông Dương thành lập châu Như
Xuân (gồm 4 tổng: Tổng Như Lăng, tổng Xuân Du, tổng Lãng Lăng, tổng Hạ Thưởng)
tiến hành xây dựng châu lỵ tại Bến Sung và làm tuyến đường (nối với đường 10
ngày nay) và xây dựng cây cầu qua tuyến đường đặt tên là Cầu Châu. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cầu Châu
|
|
3
|
Đền Phủ Sung
|
Đền Phủ Sung thuộc thị
trấn Bến Sung, xã Hải Vân, huyện Như Thanh, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân,
gắn với di tích Phủ Sung có từ thế kỷ XIX, di tích nằm ở trung gian nơi gặp gỡ
của miền ngược và miền xuôi, nơi bắt đầu của chặng hành trình về với Bến En
xanh.
|
Phủ Sung
|
|
4
|
Đồi 20
|
Đồi 20 tên gọi xưa, ăn
sâu vào tiềm thức Nhân dân, là căn cứ cách mạng, là địa danh trồng cây cà phê
nổi tiếng. Từ thời Pháp, khi người Pháp đến khảo sát địa hình đất, loại đất
này hợp với cây cà phê và người Pháp phân lô trồng cây cà phê lô số 20, từ đó
lấy tên là Đồi 20. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đồi 20 trở thành điểm trực chiến
của dân quân du kích xã Hải Vân. Nay Đồi 20, thuộc xã Hải Vân, huyện Như
Thanh.
|
Đồi 20
|
|
5
|
Đồi Lô Cả
|
Đồi Lô Cả thuộc huyện
Như Thanh, nơi đây thực dân Pháp đã xây dựng đồn điền cà phê tại các khu vực đồi
20, 21 và các vùng lân cận, chúng tìm người Việt để cai quản, chăm sóc đồn điền,
đồng thời mộ phu trồng cà phê. Người từ khắp nơi đổ về cư ngụ tại vùng Xuân
Điền, thị trấn Bến Sung ngày nay do một quan tây Alô cai quản, cũng bắt nguồn
từ đó Nhân dân thường gọi đồi Lô Cả cho đến nay.
|
Lô Cả
|
3.14. Huyện Như Xuân: 07 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Hang Đồng Mười
|
Hang Đồng Mười thuộc xã
Xuân Hòa, huyện Như Xuân, là một trong những nơi hoạt động của các chí sĩ yêu
nước trong phong trào Cần Vương chống Pháp và có sự liên kết chặt chẽ với các
nghĩa quân của Lương Ngọc Toản và Nguyễn Phương. Đây cũng là nơi đặt xưởng
quân khí đầu tiên của quân đội ta, sau bị Pháp đánh bom, chuyển về Lò Cao
kháng chiến Hải Vân.
|
Đồng Mười
|
|
2
|
Núi Bù Mun
|
Núi Bù Mun thuộc xã Hóa
Quỳ, huyện Như Xuân. Núi Bù Mun là địa bàn hoạt động của Cầm Bá Thước và thủ
lĩnh người Thổ là Lê Đình Tại trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Địa bàn
hoạt động của nghĩa quân chủ yếu ở 2 tổng Lãng và Như Lăng và có sự kết hợp
chặt chẽ với các đội quân ở phía tây Nghệ An. Dưới chân núi là nơi sinh sống
của đồng bào 4 dân tộc: Thái, Mường, Thổ, Kinh với bản làng trù phú.
|
Bù Mun
|
|
3
|
Núi Pù Hàm
|
Núi Pù Hàm là tên một đỉnh
núi ở huyện Như Xuân cao 1.119m, là dãy núi tự nhiên phân định ranh giới giữa
hai huyện Như Xuân và Quỳ Châu (Nghệ An). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Pù Hàm
|
|
4
|
Thác Cổng Trời
|
Thác Cổng Trời thuộc xã
Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự nhiên đặc sắc, nơi đây
có dãy núi Bù Mùn cao hơn 1.000m. Thác Cổng Trời khởi nguồn từ các khe suối lớn
nhỏ thuộc dãy núi Bù Mùn, thác có độ cao từ 10 - 12m. Hiện tại đang được
chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và
hướng dẫn khách tham quan du lịch. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Cổng Trời
|
|
5
|
Thác Đồng Quan
|
Thác Đồng Quan thuộc
thôn Đồng Quan, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự
nhiên, khởi đầu từ núi Bù Mùn có độ cao hơn 1.000 m: Thác có độ cao gần 700 m
có 5 tầng thác: Thác Tiên, thác Trượt, thác Tà Sáy, thác Đất Đỏ, thác Tà Phục.
Mỗi tầng thác có độ cao từ 12-15m có nước chảy quanh năm. Hiện tại đang được
chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và
hướng dẫn khách tham quan du lịch. Thác đã được xếp hạng di tích danh lam thắng
cảnh cấp tỉnh. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đồng Quan
|
|
6
|
Xã Quảng Dạ
|
Xã Quảng Dạ thuộc huyện
Như Xuân, nay là xã Xuân Bình, Bãi Trành, trong thời kỳ Pháp thuộc có phong
trào đấu tranh mạnh mẽ chống lại các chủ đồn điền mở rộng diện tích cà phê,
cao su... Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Quảng Dạ
|
|
7
|
Xã Yên Cát
|
Xã Yên Cát là một xã lớn
có trước năm 1954 của huyện Như Xuân, nay thuộc địa bàn các xã Hóa Quỳ, thị
trấn Yên Cát...Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khu an toàn khu Đồng Ớt,
xã Yên Cát (nay thuộc địa bàn xã Hóa Quỳ). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Yên Cát
|
3.15. Huyện Nông Cống: 09 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bến Chuồng
|
Bến Chuồng là địa danh
thuộc xã Công Chính của huyện Nông Cống. Ngã ba Bến Chuồng đi 3 hướng, 1 hướng
đi thị trấn Nông Cống, 1 hướng đi thị xã Nghi Sơn và 1 hướng đi xã Yên Mỹ
(nông trường Yên Mỹ cũ) qua dốc Bò Lăn sang Nghệ An và đường mòn Hồ Chí Minh.
Bến Chuồng là địa điểm tập kết lương thực, vũ khí của lực lượng thanh niên
xung phong tỉnh Thanh Hóa, nơi đây có cầu Chuồng bắc qua sông Thị Long nằm
trên đường huyết mạch 12B lên Bò Lăn, vì vậy cung đường Chuồng - Bò Lăn là trọng
điểm đánh phá liên tục không ngừng của máy bay, pháo từ tàu chiến Mỹ trong những
năm chiến tranh phá hoại chống Mỹ. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Bến Chuồng
|
|
2
|
Căn cứ Hương Trì
|
Căn cứ Hương Trì, đây
là một địa danh cách mạng trong phong trào Cần Vương của huyện Nông Cống.
Phong trào này hoạt động rầm rộ, sau này phát triển lớn thành Ổn Lâm - Kỳ Thượng,
tên địa danh gắn liền với nhân vật Tú Phương. Khi Tú Phương được Tôn Thất Thuyết
giao cho chức Tham Biện Sơn Hải Phòng quân vụ, kiêm cả phủ Tĩnh Gia (gồm ba
huyện: Nông Cống - Tĩnh Gia - Quảng Xương), ông liên hệ với cụ Nguyễn Xuân Ôn
là lãnh tụ Cần Vương ở Nghệ An, xây dựng căn cứ Hương Trì. Là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hương Trì
|
|
3
|
Chùa Vĩnh Thái[151]
|
Chùa Vĩnh Thái thuộc xã
Hoàng Giang, huyện Nông Cống gắn với di tích lịch sử cách mạng, đồng thời là
cơ sở hoạt động cách mạng hai huyện Nông Cống và Thọ Xuân giai đoạn 1930-1945.
Địa danh gắn liền với cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh giai đoạn (1939-1941)
khi ông được phân công về miền Trung củng cố xây dựng xứ ủy Trung Kỳ.
|
Vĩnh Thái
|
|
4
|
Đồn điền Bãi Áng
|
Đồn điền Bãi Áng thuộc
huyện Nông Cống, do tư sản người Pháp làm chủ, xưa kia đồn điền này lớn, mấy
ngàn ha. Từ Cổ Định vào Bãi Áng, dọc theo núi Nưa trong lòng đất là một vệt
dài quặng cromitte. Trước năm 1945, chủ người Pháp bán cho ông Hàn, sau đó
bán cho Tôn Thất Tiễn. Ngày nay, địa danh Bãi Áng vẫn được quen dùng và là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bãi Áng
|
|
5
|
Làng Cổ Đôi
|
Làng Cổ Đôi thuộc xã
Hoàng Giang, huyện Nông Cống, là tên làng nổi tiếng khoa bảng của huyện Nông
Cống xưa, (dân gian có câu Nông Cống Cổ Đôi - Cổ Định) đã đi vào tiềm thức
người dân Nông Cống.
|
Cổ Đôi
|
|
6
|
Làng Đông Cao
|
Làng Đông Cao thuộc xã
Trung Chính, huyện Nông Cống, là làng văn hóa đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa và
là làng văn hóa thứ 2 của cả nước. Làng có di tích đình làng Đông Cao (nơi thờ
Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt) được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp
hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 4732/QĐ-UBND ngày
30/12/2013.
|
Đông Cao
|
|
7
|
Làng Phú Đa Hậu
|
Làng Phú Đa Hậu, là
làng cổ, nay thuộc xã Tượng Văn, huyện Nông Cống, là một trong những làng ra đời
từ rất sớm mang nhiều giá trị lịch sử văn hóa. Đặc biệt làng có đình làng Phú
Đa Hậu, nơi thờ Thần Hoàng làng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn
hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 215/QĐ-SVHTT ngày
16/6/2000 và và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích
cấp tỉnh tại Quyết định số 3022/QĐ-UBND ngày 14/09/2012.
|
Phú Đa Hậu
|
|
8
|
Làng Vũ Yên
|
Làng Vũ Yên là làng cổ,
nay thuộc xã Minh Thọ, huyện Nông Cống. Tên làng có từ xa xưa, đã ăn sâu vào
tiềm thức của Nhân dân.
|
Vũ Yên
|
|
9
|
Xã Minh Thọ
|
Xã Minh Thọ thuộc huyện
Nông Cống. Tên địa danh hành chính xã Minh Thọ trước khi thực hiện Nghị Quyết
số 935/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh
địa giới hành chính mở rộng thị trấn huyện Nông Cống gồm toàn bộ dân số và diện
tích của xã Minh Thọ.
|
Minh Thọ
|
3.16. Huyện Quan Hóa: 13 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bản Khằm
|
Bản Khằm, tên gọi xưa
đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Bản có di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp
tỉnh. Đây là nơi thờ Thượng tướng Thống lĩnh Quân Khằm Ban, người có công giữ
nước, đánh đuổi giặc Minh, giữ yên bờ cõi, nay thuộc xã Hồi Xuân, huyện Quan
Hóa.
|
Bản Khằm
|
|
2
|
Cầu Na Sài
|
Cầu Na Sài thuộc thị trấn
Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, cây cầu bắc qua sông Mã, nối xã Phú Nghiêm với thị
trấn Hồi Xuân. Nằm trên Quốc lộ 15, cầu Na Sài có vị trí rất quan trọng trong
sự phát triển của tỉnh, nhất là phát triển kinh tế - xã hội các huyện phía
Tây Thanh Hóa, đồng thời góp phần làm thay đổi diện mạo vùng quê Quan Hóa. Địa
danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa.
|
Na Sài
|
|
3
|
Đồn Poọng Nưa
|
Đồn Poọng Nưa thuộc huyện
Quan Hóa, là đồn quân sự của thực dân Pháp, được xây dựng năm 1947 tại xã Hiền
Kiệt. Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan
Hóa.
|
Poọng Nưa
|
|
4
|
Hang Phi
|
Hang Phi nằm ở thị trấn
Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, nằm trong quần thể di tích hang Lũng Mu. Hang Phi
là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. Địa danh Hang Phi là địa
danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa.
|
Hang Phi
|
|
5
|
Hồ Pha Đay
|
Hồ Pha Đay thuộc bản
Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, là hồ tự nhiên có độ cao so với mặt nước biển
khoảng 700 mét, xung quanh hồ là quần thể rừng già nguyên sinh với nhiều cây
gỗ lớn, có thể tổ chức các hoạt động cắm trại, chèo thuyền, bè mảng, thả lưới,
quăng chài, câu cá, chụp hình...Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết
đến. Địa danh Hồ Pha Đay là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân huyện Quan Hóa.
|
Pha Đay
|
|
6
|
Hồ Vinh Quang
|
Hồ Vinh Quang là hồ tự
nhiên thuộc địa phận bản Vinh Quang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, có diện
tích khoảng 5 ha. Địa danh Hồ Vinh Quang là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào
tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa.
|
Hồ Vinh Quang[152]
|
|
7
|
Mường Khằng
|
Mường Khằng là tên gọi của
một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khằng nay
là địa bàn xã Thiên Phủ. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường
Thanh Hóa.
|
Mường Khằng
|
|
8
|
Mường Khiết
|
Mường Khiết là tên gọi
của một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khiết
nay thuộc địa bàn xã Hiền Chung, xã Hiền Kiệt huyện Quan Hóa. Địa danh này đã
ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa.
|
Mường Khiết
|
|
9
|
Mường Le
|
Mường Le, tên gọi quen
thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Le nay là địa
bàn các xã Trung Thành, xã Thành Sơn, thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã
ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa.
|
Mường Le
|
|
10
|
Mường Páng
|
Mường Páng, tên gọi
quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Páng nay
là địa bàn xã Trung Sơn, thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm
thức của đồng bào Mường Thanh Hóa.
|
Mường Páng
|
|
11
|
Mường Tuồng
|
Mường Tuồng, tên gọi
quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Tuồng nay
là địa bàn các xã Nam Tiến, xã Nam Động thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã
ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa.
|
Mường Tuồng
|
|
12
|
Mường Ánh
|
Mường Ánh là tên gọi của
một trong những vùng Mường cổ, thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Ánh nay
là địa bàn các xã Phú Lệ, Phú Sơn, Phú Thanh, Phú Xuân. Địa danh này đã ăn
sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa.
|
Mường Ánh
|
|
13
|
Xã Nam Động
|
Xã Nam Động thuộc huyện
Quan Hóa, là tên xã của huyện Quan Hóa nơi người Mường chiếm đa số với 1.639
người (chiếm 62,43% tổng dân cư toàn xã), sau đó là Thái với 765 người (chiếm
29,14% tổng dân cư toàn xã).
|
Nam Động
|
3.17. Huyện Quan Sơn: 08 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cầu Phà Lò
|
Cầu Phà Lò thuộc xã
Trung Thượng, huyện Quan Sơn. Cầu Phà Lò là nơi bị giặc đánh phá ác liệt nhằm
cắt đứt huyết mạch giao thông nối đôi bờ sông Lò, ngăn con đường giao thông của
ta sang nước bạn Lào. Ngày 10/02/1966, lực lượng dân quân xã Trung Hạ, Tam Lư
đã bắn cháy một máy bay F105 của Mỹ bằng súng bộ binh tại trận địa phòng
không bảo vệ cầu Phà Lò trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cầu Phà Lò được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số
2514/QĐ-UBND ngày 04/8/2011.
|
Phà Lò
|
|
2
|
Động Nang Non
|
Động Nang Non thuộc huyện
Quan Sơn, là động nằm trong núi đá cao ở xã Sơn Lư nay là thị trấn Sơn Lư,
huyện Quan Sơn. Với địa hình đồi núi tự nhiên kết hợp với sông Lò, bên trong
có hang động rộng 10m, chiều sâu 70 m, cao trên 70 m, trong động có nhiều thạch
nhũ đẹp. Tương truyền thế kỷ XV, khi Lê Lợi dẫn binh sang Lào để xuống Con
Cuông (Nghệ An) đánh giặc Minh sau đó đánh ra Bắc, khi qua đây, ông đã từng dừng
chân vào hang thăm thắng cảnh động Nang Non.
|
Nang Non
|
|
3
|
Mường Chu Sàn
|
Mường Chu Sàn là tên gốc
Mường Xia, gắn liền với truyền thuyết Tạo Mường, là trung tâm của khu vực
biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa, lúc bấy giờ gồm có các Mường như: Mường
Chanh, Mường Pùng, Mường Xim, Mường Chiềng Cồng, Mường Lát, Mường Ai, Mường
Lý (7 Mường nay thuộc huyện Mường Lát); Mường Khiết, Mường Khằng, Mường Tuồng
(3 Mường nay thuộc huyện Quan Hóa); Mường Xia, Mường Mìn, Mường Sại, Mường
Mò, Mường Hạ, Mường Chự (6 Mường nay thuộc huyện Quan Sơn). Tổng có 16 Mường
nhỏ thuộc Mường lớn Chu Sàn sau đổi tên thành Mường Xia. Ngoài ra còn có hai
Mường kết nghĩa là Mường Bén và Mường Sôi của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
Lào.
|
Chu Sàn
|
|
4
|
Mường Hạ
|
Mường Hạ là tên đơn vị
hành chính được thành lập năm Minh Mạng thứ 15 (1834). Là địa danh quen thuộc
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Mường Hạ ngày nay thuộc thị trấn Sơn Lư
và xã Sơn Hà thuộc huyện Quan Sơn.
|
Mường Hạ
|
|
5
|
Núi Pha Dùa
|
Núi Pha Dùa là núi thuộc
bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy, thuộc huyện Quan Sơn, có phong cảnh núi non hùng
vĩ thơ mộng gắn với câu chuyện tình bi ai của đôi trai tài gái sắc Mường Xia,
Mường Mìn. Tương truyền rằng, xưa kia là nơi đôi trai gái yêu nhau tha thiết.
Cô gái là nàng Lá Nọi - con gái một nhà lang đạo giàu có nổi tiếng khắp vùng
Mường Mìn. Chàng trai là con nhà tạo Mường Xia, nhưng gia đình khốn khó,
không tương xứng với ông tạo Mường Mìn. Mối tình của họ không được cha mẹ cô
gái chấp nhận, họ quyết gả bán cô cho một nhà tạo giàu sang. Không chấp nhận
hôn nhân không có tình yêu, bất chấp sự ngăn cấm của cha mẹ, anh em họ hàng,
họ vẫn đến với nhau bằng tình yêu tha thiết, thề nguyền mãi mãi bên nhau,
cùng chết bên nhau để biến vào núi Pha Dùa và lên đỉnh núi cao làm thần hai
Mường. Từ đó, mỗi độ xuân về trai gái Mường Xia có tục du xuân vào hang Dùa cầu
duyên, cùng nhau chơi cát bên chân núi, ném còn ngoài bãi sông và lắng nghe lời
tình tự của đôi trai gái Mường Xia - Mường Mìn năm xưa.
|
Pha Dùa
|
|
6
|
Núi Pha Phanh
|
Núi Pha Phanh thuộc huyện
Quan Sơn, là một dãy núi đá kéo dài từ bản Na Hồ, bản Xuân Sơn (xã Sơn Điện,
huyện Quan Sơn) xuống xã Nam Động về xã Nam Tiến (huyện Quan Hóa) dài hơn 30
km, tạo thành bức tường đá bảo vệ quê hương, bảo vệ căn cứ kháng chiến của ta
thời chống Pháp. Thời kỳ 1948 - 1953, Ủy ban hành chính kháng chiến xã Sơn Thủy
từng đặt ở khu vực núi Pha Phanh để lãnh chỉ đạo cuộc kháng chiến của địa
phương.
|
Pha Phanh
|
|
7
|
Núi Pù Mằn
|
Núi Pù Mằn là núi đất,
có độ cao 1.247m so với mực nước biển, thuộc bản Ngàm, xã Trung Thượng, huyện
Quan Sơn, là địa danh nổi tiếng của khu vực miền núi Thanh Hóa. Pù Mằn cùng với
Pù Kùn của bản Xum (xã Sơn Hà) và ngọ Nóc Ngua, bản Nà Đang (xã Phú Lâm) tạo
nên quần thể 3 đỉnh núi cao và thiêng của khu vực này. Ở đây có rất nhiều động
vật quý hiếm sinh sống (như: khỉ, vượn, sóc, gấu, nai, hổ, báo, đười ươi,...)
và có nhiều loại gỗ quý.
|
Pù Mằn
|
|
8
|
Sông Lò
|
Sông Lò thuộc huyện
Quan Sơn, là tên con sông bắt nguồn từ Mường Pao, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa
Phăn, Lào chảy qua huyện Quan Sơn, dài trên 62 km đổ ra Sông Mã. Sông Lò gắn
với nhiều dấu ấn lịch sử, di tích lịch sử cách mạng cầu Phà Lò bắc qua Sông
Lò được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2011.
|
Sông Lò
|
3.18. Huyện Quảng Xương: 17 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Đã đặt
|
|
1
|
Cầu Thạch Châu
|
Cầu Thạch Châu vượt qua
sông Yên nối giữa 02 xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xương và xã Hải Châu, huyện
Tĩnh Gia.
|
Thạch Châu[153]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
2
|
Đồn Điền
|
Đồn Điền thuộc huyện Quảng
Xương, tên gọi từ thời Hậu Lê của xã Quảng Thái. Địa danh này là tên gọi quen
thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đồn Điền
|
|
|
3
|
Làng Bồi Nguyên
|
Làng Bồi Nguyên có từ
năm 1954 thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen
thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bồi Nguyên
|
|
|
4
|
Làng Cự Nham
|
Làng Cự Nham (Kẻ Mom)
thuộc huyện Quảng Xương, tên xa xưa của xã Quảng Nham. Địa danh này là tên gọi
quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cự Nham
|
|
|
5
|
Làng Hải Nhuận
|
Làng Hải Nhuận thuộc
huyện Quảng Xương, tên cũ từ năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải. Địa danh này
là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hải Nhuận
|
|
|
6
|
Làng Mậu Xương
|
Làng Mậu Xương có từ xa
xưa, tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nay làng thuộc xã Quảng Lưu,
huyện Quảng Xương; làng có ngôi đền Mậu Xương nổi tiếng được nhiều người biết
đến, chùa Mậu Xương được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
|
Mậu Xương
|
|
|
7
|
Làng Nhân Hậu
|
Làng Nhân Hậu là làng
có từ xa xưa, xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, trước đây thuộc tổng Lưu Vệ (nay
thuộc xã Quảng Trạch) huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc,
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nhân Hậu
|
|
|
8
|
Làng Phú Đa
|
Làng Phú Đa thuộc xã Quảng
Đức xuất hiện từ đầu thời Nguyễn thuộc tổng Thái Lai, huyện Quảng Xương. Hiện
nay tên Phú Đa vẫn được dùng để gọi tên cho một vài làng trên địa bàn các xã,
thị trấn thuộc huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Đa
|
|
|
9
|
Làng Sênh
|
Làng Sênh thuộc huyện
Quảng Xương, tên có từ xưa, nay thuộc xã Quảng Nhân, có câu ca: “Đất mạ làng
Bùi, cùi dứa làng Sênh, cột đình làng Mậu”...để chỉ việc so sánh các đặc điểm,
đặc trưng của các địa phương, đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian.
|
Làng Sênh
|
|
|
10
|
Làng Thiên Linh
|
Làng Thiên Linh xưa thuộc
xã Thiên Linh, nay thuộc xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tên gọi Làng Riềng.
|
Thiên Linh
|
|
|
11
|
Thôn Khang Bắc
|
Thôn Khang Bắc có trước
năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương.
|
Khang Bắc
|
|
|
12
|
Thôn Lưu Hiền
|
Thôn Lưu Hiền có từ đầu
thế kỷ XIX, là tên gọi một thôn thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng
Xương. Nay là làng Lưu Hiền thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương. Địa danh
này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Lưu Hiền
|
|
|
13
|
Thôn Mỹ Trạch
|
Thôn Mỹ Trạch có từ đầu
thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng Trạch, huyện
Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Mỹ Trạch
|
|
|
14
|
Thôn Tiền Thịnh
|
Thôn Tiền Thịnh có từ đầu
thế kỷ XIX, thuộc xã Quang Tiền, tổng Thái Lai, phủ Tĩnh Gia nay thuộc xã Quảng
Đức, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Tiền Thịnh
|
|
|
15
|
Thôn Triều Công
|
Thôn Triều Công có từ đầu
thế kỷ XIX, thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương. Địa danh này là
tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Triều Công
|
|
|
16
|
Xã Ngọc Giáp
|
Xã Ngọc Giáp có từ đầu thế
kỷ XIX, thuộc tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng
Chính. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngọc Giáp
|
|
|
17
|
Xã Ngọc Trà
|
Xã Ngọc Trà có từ thời
Gia Long, nay thuộc xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi
quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngọc Trà
|
|
3.19. Huyện Thạch Thành: 07 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bãi Chào Cờ
|
Bãi Chào Cờ - bãi đất rộng
ven sông Bưởi giáp ranh giữa hai làng Trường Cát và Phú Sơn (nay thuộc khu phố
6, thị trấn Kim Tân) thuộc huyện Thạch Thành. Nơi đây Ủy ban nhân dân cách mạng
lâm thời huyện Thạch Thành đã tổ chức cuộc mít tinh lớn để ra mắt Nhân dân
trong huyện và biểu dương khí thế cách mạng khi Ủy ban nhân dân cách mạng lâm
thời huyện Thạch Thành được thành lập sau cuộc biểu tình giành chính quyền ở
huyện lỵ Kim Tân ngày 19/8/1945.
|
Chào Cờ
|
|
2
|
Làng Đồng Nga
|
Làng Đồng Nga là tên gọi
một làng cổ thuộc xã Thành Kim trước đây, được tách ra để thành lập thị trấn
Kim Tân (1990), nay địa phận thuộc một phần của khu phố 3, thị trấn Kim Tân,
huyện Thạch Thành. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đồng Nga
|
|
3
|
Làng Đồng Ngư
|
Làng Đồng Ngư là tên một
làng cổ thuộc xã Thành An, huyện Thạch Thành. Đồng thời, là tên một công
trình thủy lợi Hồ chứa nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân
06 xã khu vực Tây Bắc, huyện Thạch Thành. Đây là công trình lớn đầu tiên của
huyện trong thời kỳ đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (kế hoạch 05 năm
lần thứ nhất (1960 - 1965). Đây là địa danh quen thuộc, Nhân dân quen dùng.
|
Đồng Ngư
|
|
4
|
Làng Mường Đẹ
|
Làng Mường Đẹ thuộc
làng Quảng Giang, nay là xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành. Xưa kia gọi là
Làng Đẹ, Mường Đẹ, là nơi gắn liền với dòng họ Nguyễn Đình liên quan đến họ
Nguyễn Gia Miêu. Lịch sử ghi nhận nơi đây đã di dời làng phục vụ xây dựng sân
bay dã chiến Thạch Quảng năm 1972 và xây dựng Nông trường 26/3. Mường Đẹ cũng
là nơi anh hùng phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, điều khiển chiếc máy bay
MiG-21 tiêu diệt B-52 của Mỹ trong trận “Điện Biên Phủ trên không” đêm
28/12/1972.
|
Mường Đẹ
|
|
5
|
Làng Ngọc Đồng
|
Làng Ngọc Đồng thuộc
huyện Thạch Thành, trước năm 1945 thuộc tổng Trường Cát, nay là làng Hoàng
Thành, xã Thành Hưng. Trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX là một căn
cứ của nghĩa quân Cần Vương. Khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, giặc Pháp tấn
công lên khu vực này và đàn áp hết sức dã man dân làng, xác người ngổn ngang
thành bãi chôn chung cả làng, giặc Pháp đã buộc Triều Nguyễn xóa tên làng,
làng bị triệt hạ. Khoảng năm 1924 khi Hà Văn Ngoạn (người Vĩnh Lộc) làm Tri
huyện Thạch Thành cho khôi phục làng và lấy tên là làng Nhân Phúc, đến năm
1963, dân Hoằng Hóa lên định cư, làng đổi tên thành làng Hoàng Thành.
|
Ngọc Đồng
|
|
6
|
Làng Phú Lộc
|
Làng Phú Lộc thuộc huyện
Thạch Thành, trước năm 1945, thuộc tổng Trường Cát, nay thuộc xã Thành Hưng.
Làng Phú Lộc có Nghè và Mộ thờ các vị tướng thời Trần là Lê Phúc Hồng và Lê
Phúc Quý, có công đánh giặc Chiêm Thành; là quê hương của Nguyễn Trí Đạo (Quận
Đạo) - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, Chủ tịch Ủy ban hành
chính huyện Thạch Thành giai đoạn 1945-1949. Nhân dân làng Phú Lộc từng nuôi
giấu nhiều chiến sỹ cách mạng thời tiền khởi nghĩa, trong đó có đồng chí Trần
Tiến Quân là lãnh đạo Chiến khu Ngọc Trạo năm 1941.
|
Phú Lộc
|
|
7
|
Sách Khôi
|
Sách Khôi thuộc huyện
Thạch Thành, tên một đơn vị hành chính thời Lê Sơ, nay thuộc một phần đất huyện
Thạch Thành. Năm 1422, khi nghĩa quân Lam Sơn bị vây hãm ở Quan Du, Lê Lợi đã
rút về Sách Khôi chiến đấu chém chết tướng giặc Phùng Quý, buộc Mã Kỳ, Trấn
Trí phải tháo chạy về Đông Quan. Nghĩa quân đã bảo toàn được lực lượng.
|
Sách Khôi
|
3.20. Thành phố Sầm Sơn: 15 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Cầu Bến
|
Cầu Bến thuộc xã Quảng
Hùng, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cầu Bến
|
|
|
2
|
Cầu Bùi
|
Cầu Bùi thuộc xã Quảng
Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cầu Bùi
|
|
|
3
|
Cầu Cửa Hới
|
Cầu Cửa Hới là cầu vượt
qua sông Mã nối giữa huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cửa Hới[154]
|
Đã đặt tên công trình công cộng
|
|
4
|
Cống Sông Đơ
|
Cống Sông Đơ thuộc thị
xã Sầm Sơn, tên 1 cửa sông đổ ra biển, có âu thuyền tránh bão ở chân núi Trường
Lệ, giáp ranh phường Trường Sơn và phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Đây
là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Sông Đơ
|
|
|
5
|
Làng Cá Lập
|
Làng Cá Lập (làng Trấp)
nay thuộc các phường Quảng Cư, Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, được hình thành
trước thời Trần (thế kỷ XIII). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Cá Lập
|
|
|
6
|
Làng Du Vịnh
|
Làng Du Vịnh (sở Đồn Điền)
thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn, thành lập năm 1471-1472, thời vua
Lê Thánh Tông. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Du Vịnh
|
|
|
7
|
Làng Hới
|
Làng Hới thuộc phường
Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, nơi có đền thờ làng Hới được Giám đốc Sở Văn
hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận
là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định
số 249/VHQĐ ngày 17/10/1993. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Làng Hới
|
|
|
8
|
Làng Lộc Trung
|
Làng Lộc Trung (tên nôm
là làng Giữa) nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tên gọi có từ thời
Gia Long. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Lộc Trung
|
|
|
9
|
Làng Mỹ Lâm
|
Làng Mỹ Lâm thuộc xã Quảng
Đại, thành phố Sầm Sơn. Năm 1681, đời vua Lê Hy Tông, ông tổ dòng họ Phạm Văn
làm quan trong triều, giữ chức Tri Phủ Hoài Nhân khi về hưu ông đưa vợ con sinh
cơ lập nghiệp, và sau này cháu đời thứ tư của ông đội đơn triều đình xin phép
được lập làng Mỹ Lâm ngày nay. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Mỹ Lâm
|
|
|
10
|
Làng Nho Quan
|
Làng Nho Quan thuộc phường
Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Khoảng thế kỷ XV, XVI, làng có tên là làng
Văn, đến thế kỷ XVIII, làng được đổi tên thành Nho Quan. Làng Nho Quan gồm 4
xã: Đông, Mới, Trại, Tây. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nho Quan
|
|
|
11
|
Làng Thủ Phú
|
Làng Thủ Phú (tổng Thủ
Hộ) thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ đầu thời Nguyễn. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Thủ Phú
|
|
|
12
|
Làng Triều Dương
|
Làng Triều Dương (tên
nôm là làng Trào) thuộc xã Triều Thanh Lộc, tổng Giặc Thượng, rồi Kính Thượng,
Cung Thượng, nay là phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn. Làng Triều Dương thờ
tổ sư nghề dệt là Bà Triều. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Triều Dương
|
|
|
13
|
Làng Trường Tân
|
Làng Trường Tân thuộc
xã Lương Xá, tổng Phủ Hộ, rồi tổng Phủ Chính, nay là xã Quảng Hùng, thành phố
Sầm Sơn. Đây là một trong những làng cổ được hình thành rất sớm ở vùng đất
ven biển tỉnh Thanh Hóa; đời vua Minh Mạng lấy tên là làng Trường Tân. Đây là
địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Trường Tân
|
|
|
14
|
Làng Xuân Phương
|
Làng Xuân Phương (tên
nôm là làng Lan) nay thuộc phường Quảng Châu, thành phố Sầm Sơn, làng do di
dân Chiêm Thành thời nhà Trần lập nên. Sang đầu thế kỷ XIX đến đời vua Đồng Khánh
là thôn Xuân Phương thuộc xã Giặc Hạ, tổng Giặc Thượng, sau đổi thành Kính
Thượng, rồi Cung Thượng. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Xuân Phương
|
|
|
15
|
Tân Đức
|
Tân Đức là tên con đường
thuộc khu phố Phúc Đức, ghép 02 xóm là xóm Tân và xóm Đức của xã Quảng Tiến
trước đây, nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Tân Đức
|
|
3.21. Thành phố Thanh Hóa: 58 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Bãi Gành
|
Bãi Gành thuộc xã Hoằng
Lý, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh cổ, là tên một địa điểm khảo cổ thời
kỳ văn hóa Đông Sơn, đã tìm thấy nhiều di vật bằng đồng: rìu, giáo, vòng
trang sức và các loại vũ khí như: rìu chiến, dao găm. Đây là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bãi Gành
|
|
|
2
|
Bôn Giàng[155]
|
Bôn Giàng thuộc thành
phố Thanh Hóa, được nối thông từ bến đò Giàng phường Thiệu Khánh qua Thiệu
Vân, Thiệu Giao và làng Bôn xã Đông Thanh huyện Đông Sơn, nối với quốc lộ 45.
Đây là địa danh của tuyến đường Nhân dân thường quen gọi từ xa xưa, là tuyến
đường chiến lược trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
|
Bôn Giàng
|
|
|
3
|
Cát Đằng[156]
|
Cát Đằng thuộc thành phố
Thanh Hóa, tên Cát Đằng được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc
xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố
Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cát Đằng
|
|
|
4
|
Cát Hòa[157]
|
Cát Hòa thuộc thành phố
Thanh Hóa, tên Cát Hòa được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc
xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố
Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn
sâu vào tiềm thức Nhân dân, hiện Nhân dân vẫn quen dùng.
|
Cát Hòa
|
|
|
5
|
Cát Khang
|
Cát Khang là địa điểm
(tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Khang được Nhân dân lấy tên của
một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng
Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Cát Khang đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân
dân.
|
Cát Khang
|
|
|
6
|
Cát Phú
|
Cát Phú là địa điểm
(tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Phú được Nhân dân lấy tên của
một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012 xã Quảng
Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nhân dân dùng tên Cát Phú để gọi cho tuyến
đường qua xã Quảng Cát.
|
Cát Phú
|
|
|
7
|
Cát Thành
|
Cát Thành thuộc thành
phố Thanh Hóa, tên địa điểm (tuyến đường), tên Cát Thành được Nhân dân lấy
tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm
2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm được Nhân
dân đã quen gọi từ xa xưa.
|
Cát Thành
|
|
|
8
|
Cát Tiến
|
Cát Tiến thuộc thành phố
Thanh Hóa, tên Cát Tiến được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc
xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố
Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên Cát Tiến gọi cho tuyến đường đi qua khu vực
này.
|
Cát Tiến
|
|
|
9
|
Cát Yên
|
Cát Yên thuộc thành phố
Thanh Hóa, tên Cát Yên được Nhân dân lấy từ tên của một xóm có từ năm 1954
thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành
phố Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên gọi Cát Yên cho tuyến đường đi qua
khu vực này.
|
Cát Yên
|
|
|
10
|
Chiến Lược
|
Chiến Lược thuộc thành
phố Thanh Hóa, được nối từ đường quốc lộ 1A cũ (nay là đường Văn Tiến Dũng đến
bến Phà 2 thuộc xã Hoằng Lý (nay là phường Tào Xuyên) thành phố Thanh Hóa, là
con đường vận tải trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Địa điểm (tuyến đường)
Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Chiến Lược
|
|
|
11
|
Đồng Bài[158]
|
Đồng Bài thuộc thành phố
Thanh Hóa, là tên địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đồng Bài
|
|
|
12
|
Đồng Bái[159]
|
Đồng Bái, tên một địa điểm
(tuyến đường) được lấy tên từ một xứ đồng đã trồng trọt rau màu và đã nuôi dưỡng
các thế hệ con cháu ăn học thành tài, sau này cánh đồng này đã được Nhân dân
đầu tư xây dựng thành một khu dân cư, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố
Thanh Hóa.
|
Đồng Bái[160]
|
Đã đặt tên đường
|
|
13
|
Đồng Mai[161]
|
Đồng Mai thuộc thành phố
Thanh Hóa, tên Đồng Mai được Nhân dân lấy từ tên của xứ Đồng Mai có từ trước
năm 1945, thuộc tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia. Từ năm 1954
đến 2012 thuộc xã Quảng Tâm, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Tâm sáp nhập
về thành phố Thanh Hóa. Đây là tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân,
hiện Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa và nay vẫn thường dùng.
|
Đồng Mai
|
|
|
14
|
Hợp tác xã Đại Phú
|
Hợp tác xã Đại Phú thuộc
thành phố Thanh Hóa, là tên của một hợp tác xã nông nghiệp thuộc phường Thiệu
Khánh, đây là hợp tác xã nông nghiệp tiêu biểu trong những năm 1977,1978 có
những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen
thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi.
|
Đại Phú
|
|
|
15
|
Hợp tác xã Hồng Phong
|
Hợp tác xã Hồng Phong
thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của hợp tác xã đầu tiên được thành lập năm
1954 của xã Quảng Tâm, nay là phường Quảng Tâm.
|
Hồng Phong
|
|
|
16
|
Hợp tác xã Kiều Thắng
|
Hợp tác xã Kiều Thắng
được thành lập từ năm 1960. Đây là một trong những hợp tác xã nông nghiệp đầu
tiên của xã Hoằng Đại, tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản
lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và
chăn nuôi.
|
Kiều Thắng
|
|
|
17
|
Hợp tác xã Kiều Tiến
|
Hợp tác xã Kiều Tiến được
thành lập từ năm 1960. Đây là hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã Hoằng Đại,
tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được
tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi.
|
Kiều Tiến
|
|
|
18
|
Làng Cổ Ninh
|
Làng Cổ Ninh có từ năm
1945, thuộc xã Liên Hoa, huyện Đông Sơn, nay là thành phố Thanh Hóa. Năm 1947
- 1953 thuộc xã Đại Bái, từ năm 1953 đến nay làng Cổ Ninh thuộc xã Thiệu Vân,
huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây
là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cổ Ninh
|
|
|
19
|
Làng Đại Độ
|
Làng Đại Độ có từ năm
1953, thuộc thành phố Thanh Hóa. Tháng 11 năm 1953, xã Đông Hưng được chia
tách thành 2 xã Đông Hưng và Đông Tân, xã Đông Tân có 6 làng gồm làng Đống,
làng Yên Hoạch, làng Viện Giang, làng Lộc Giang, làng Phù Lưu và làng Đại Độ.
Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đại Độ
|
|
|
20
|
Làng Đại Khánh
|
Làng Đại Khánh thuộc
thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Vồm, đầu thế kỷ XIX tên là xã Đại Khánh
thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn. Đây là một địa danh cổ có từ xưa. Đây là
địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đại Khánh
|
|
|
21
|
Làng Đại Tiền
|
Làng Đại Tiền thuộc thành
phố Thanh Hóa, có từ đầu thế kỷ XIX. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Đại
Tiền thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946,
thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng
Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng
Đại được thành lập, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm
2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đại Tiền
|
|
|
22
|
Làng Doanh Xá
|
Làng Doanh Xá nay thuộc
phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Chành, đầu thế kỷ
XIX tên là xã Doanh Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, là địa danh cổ. Đây là
địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Doanh Xá
|
|
|
23
|
Làng Duy Tiếu
|
Làng Duy Tiếu từ khi mới
hình thành là một làng lớn gồm làng Hưng Đồng, làng Duy Hưng và nay là phố 6,
phố 7 phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đường Duy Tiếu chạy qua địa bàn
của hai phố.
|
Duy Tiếu[162]
|
Đã đặt tên đường
|
|
24
|
Làng Đồng Me
|
Làng Đồng Me có từ cuối
thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước năm 1960 làng Đồng Me thuộc xã
Thiệu Tân, năm 1960 làng Đồng Me sáp nhập về xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa.
Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đồng Me
|
|
|
25
|
Làng Đức Hậu
|
Làng Đức Hậu có từ khi
mới hình thành và được Nhân dân thường dùng, nay thuộc phường Quảng Hưng,
thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Đức Hậu[163]
|
Đã đặt tên đường
|
|
26
|
Làng Nhân Phong
|
Làng Nhân Phong nay thuộc
phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Nhân Phong đã có từ khi mới hình
thành và được Nhân dân thường dùng. Hiện tên Nhân Phong được đặt cho tuyến đường
thuộc phường Quảng Hưng.
|
Nhân Phong[164]
|
Đã đặt tên đường
|
|
27
|
Làng Hà Phương
|
Làng Hà Phương có từ đầu
thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước Cách mạng tháng Tám 1945 làng Hà
Phương thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946
thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng
Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng
Đại được thành lập, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm
2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hà Phương
|
|
|
28
|
Làng Hiểu Lâm
|
Làng Hiểu Lâm nay thuộc
xã Thiệu Vân, thành phố Thanh Hóa, tên làng cổ có từ thời Lê. Đây là địa danh
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hiểu Lâm
|
|
|
29
|
Làng Hưng Giang
|
Làng Hưng Giang thuộc
thành phố Thanh Hóa, tên của một làng có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng,
huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa.
Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hưng Giang
|
|
|
30
|
Làng Hưng Thuận
|
Làng Hưng Thuận có từ
khi mới hình thành, sau này làng đã đổi thành nhiều tên khác nhau, nay thuộc phường
Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Hiện tên Hưng Thuận đã dùng đặt tên cho tuyến
đường thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa.
|
Hưng Thuận[165]
|
Đã đặt tên đường
|
|
31
|
Làng Hưng Xá
|
Làng Hưng Xá được lấy
tên của hai làng trước đây, sau này sáp nhập thành một phố đó là làng Văn Xá
và làng Hưng Thọ. Hiện tên Hưng Xá được đặt cho tuyến đường chạy qua làng
Hưng Xá và làng Hưng Thọ nhưng chung một phố, được gọi là phố 4, phường Quảng
Hưng, thành phố Thanh Hóa.
|
Hưng Xá[166]
|
Đã đặt tên đường
|
|
32
|
Làng Lam Hà
|
Làng Lam Hà thuộc thành
phố Thanh Hóa, làng có từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Lam Hà thuộc
xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi
là xã Hoằng Lộc, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được
thành lập, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng
Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Lam Hà
|
|
|
33
|
Làng Mân Trung
|
Làng Mân Trung thuộc
thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện
Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Mân Trung thuộc xã Đông Lĩnh,
huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến
2012, thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về
thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Mân Trung
|
|
|
34
|
Làng Nhân Thọ
|
Làng Nhân Thọ thuộc
thành phố Thanh Hóa, làng có từ thế kỷ XIX, trước năm 1945 làng Nhân Thọ thuộc
tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thuộc xã Trần
Hưng Đạo, huyện Quảng Xương. Năm 1948 xã Trần Hưng Đạo sáp nhập với xã Tống
Duy Tân thành xã Quảng Hưng (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Đây là địa danh
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Nhân Thọ
|
|
|
35
|
Làng Phú Ân
|
Làng Phú Ân thuộc thành
phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Đọ. Đây là một địa danh cổ có từ xưa nằm ở
phía Tây phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng có từ thời nhà Nguyễn, trước năm
1900, làng Phú Ân thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên. Năm
1900, đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Phú Ân thuộc huyện Thụy Nguyên. Sau năm
1945, làng thuộc xã Đại Tân huyện Thiệu Hóa, năm 1953 làng thuộc phường Thiệu
Khánh, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố
Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Ân
|
|
|
36
|
Làng Phú Cốc
|
Làng Phú Cốc có từ cuối
thế kỷ XIX sau này tách thành làng Cốc Hạ và Cốc Thượng, thuộc tổng Bố Đức,
huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, năm 1948 thuộc xã Đông Hương, huyện Đông Sơn.
Năm 1971, xã Đông Hương được sáp nhập về thị xã Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Cốc
|
|
|
37
|
Làng Tam Thọ
|
Làng Tam Thọ thuộc xã Đông
Vinh, thành phố Thanh Hóa. Năm 1937 các nhà khảo cổ đã phát hiện khu lò gốm cổ
và tiến hành khai quật, sau đó tên làng đã được lấy đặt tên cho di chỉ gốm -
gọi là di chỉ gốm Tam Thọ. Năm 2004 được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa
và khảo cổ cấp tỉnh. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Tam Thọ
|
|
|
38
|
Làng Thạch Đường
|
Làng Thạch Đường nay
thuộc xã Đông Vinh, thành phố Thanh Hóa, tên một làng cổ có từ thời Lê. Đây
là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Thạch Đường
|
|
|
39
|
Làng Thanh Dương
|
Làng Thanh Dương thuộc
thành phố Thanh Hóa, làng nằm ở phía đông phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng
có từ thế kỷ XIX, từ năm 1945 trở về trước, làng Thanh Dương thuộc tổng Đại Bối,
phủ Thiệu Hóa, năm 1947 đến 1953, làng Thanh Dương thuộc xã Tân Dương, từ năm
1953, đến nay, làng Thanh Dương thuộc phường Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa.
Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh
ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Thanh Dương
|
|
|
40
|
Làng Thủ Phác
|
Làng Thủ Phác nay thuộc
phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Thủ Phác đã có từ khi mới hình
thành và được Nhân dân thường dùng. Đặt tên đường Thủ Phác là để các thế hệ
sau này luôn nhớ về cội nguồn.
|
Thủ Phác[167]
|
Đã đặt tên đường
|
|
41
|
Làng Vân Nhưng
|
Làng Vân Nhưng thuộc
thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện
Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Vân Nhưng thuộc xã Đông Lĩnh,
huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến
2012 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về
thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Vân Nhưng
|
|
|
42
|
Làng Việt Yên
|
Làng Việt Yên thuộc
thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Trần (1226 - 1400), lúc mới thành lập
làng Việt Yên có tên là Kẻ Vọt (Cồn Vọt). Thời Hậu Lê gọi là làng Việt Yên, đầu
thế kỷ XIX là thôn Việt Yên. Trước năm 1945, làng Việt Yên thuộc tổng Lưu
Thanh, phủ Quảng Xương. Sau năm 1945, làng Việt Yên thuộc xã Phan Đình Phùng,
huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Đông được sáp nhập về thành phố Thanh
Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Việt Yên
|
|
|
43
|
Lý Cát[168]
|
Lý Cát thuộc thành phố
Thanh Hóa, là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa thuộc phường
Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Lý Cát
|
|
|
44
|
Thôn Lam Cầu
|
Thôn Lam cầu có từ đầu
thế kỷ XIX, thuộc tổng Bái Trạch. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn Lam cầu
được đổi tên thành làng Hoằng Hóa nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Lam Cầu
|
|
|
45
|
Thôn Lộc Giang
|
Thôn Lộc Giang thuộc
thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn Lộc
Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947 xã Đông Hưng được
thành lập, thời điểm này thôn Lộc Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11 năm 1953
xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn Lộc Giang
được gọi là làng Lộc Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm 2012 xã Đông Tân
sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Lộc Giang
|
|
|
46
|
Thôn Viện Giang
|
Thôn Viện Giang thuộc
thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn
Viện Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947, xã Đông Hưng
được thành lập, thời điểm này thôn Viện Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11
năm 1953, xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn
Viện Giang được gọi là làng Viện Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm
2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào
tiềm thức của Nhân dân.
|
Viện Giang
|
|
|
47
|
Xã Tân Hiệp
|
Xã Tân Hiệp thuộc thành
phố Thanh Hóa, là tên một xã thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là xã kết
nghĩa với phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa.
|
Tân Hiệp
|
|
|
48
|
Xóm Đông Thành
|
Xóm Đông Thành là tên của
một xóm có từ năm 1953 thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã
Quảng Đông sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Đông Thành
|
|
|
49
|
Xóm Hạnh Phúc
|
Xóm Hạnh Phúc thuộc
thành phố Thanh Hóa, trước năm 1946 xóm Hạnh Phúc gọi là làng Đống thuộc xã Hưng
Yên, phủ Đông Sơn. Sau năm 1954, làng Đống gọi là xóm Hạnh Phúc thuộc xã Đông
Tân, huyện Đông Sơn. Từ năm 1992 đến nay, xóm Hạnh Phúc đổi thành thôn Tân Hạnh.
Năm 2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hạnh Phúc
|
|
|
50
|
Xóm Hưng Đồng
|
Xóm Hưng Đồng thuộc
thành phố Thanh Hóa, tên của một xóm có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện
Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa.
Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hưng Đồng
|
|
|
51
|
Xóm Hưng Phúc
|
Xóm Hưng Phúc có từ năm
1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được
sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Hưng Phúc
|
|
|
52
|
Xóm Hưng Thịnh
|
Xóm Hưng Thịnh có từ
năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được
sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Hưng Thịnh
|
|
|
53
|
Xóm Hưng Thọ
|
Xóm Hưng Thọ có từ năm 1954,
thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập
về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hưng Thọ
|
|
|
54
|
Xóm Hưng Tiến
|
Xóm Hưng Tiến có từ năm
1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được
sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa
danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hưng Tiến
|
|
|
55
|
Xóm Thắng Sơn
|
Xóm Thắng Sơn thuộc
thành phố Thanh Hóa, xóm có từ tháng 6/1959, theo chủ trương của Đảng để thuận
tiện cho việc xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp cấp thấp quy mô xóm, xã
Đông Hưng cũ của thành phố Thanh Hóa tổ chức thành 9 xóm, trong đó có xóm Thắng
Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Thắng Sơn
|
|
|
56
|
Xóm Thịnh Vạn
|
Xóm Thịnh Vạn thuộc
thành phố Thanh Hóa, xóm có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, huyện Quảng
Xương, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Từ năm 1945 đến 1954, thuộc xã Quảng Thắng,
năm 1954 đến 2012, thuộc xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng
Thịnh được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm
thức của Nhân dân.
|
Thịnh Vạn
|
|
|
57
|
Văn Chỉ[169]
|
Văn Chỉ thuộc thành phố
Thanh Hóa, là tên tuyến đường Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa nhưng chưa chính
thức được đặt tên. (Văn Chỉ là nơi tôn vinh đạo học và diễn ra các hoạt động
tế lễ, hay cổ vũ khuyến khích học hành thi cử của làng. Hiện nay ở phường Thiệu
Dương vẫn còn bia Văn Chỉ).
|
Văn Chỉ
|
|
|
58
|
Văn Thọ
|
Văn Thọ được lấy tên của
hai làng trước đây là làng Văn Xá và làng Hưng Thọ, sau này sáp nhập thành một
phố, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Văn Thọ đã được dùng đặt
tên cho tuyến đường chạy giữa hai làng nhưng chung một phố.
|
Văn Thọ[170]
|
Đường
|
3.22. Huyện Thiệu Hóa: 15 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Chợ Đu
|
Chợ Đu thuộc xã Thiệu
Chính, huyện Thiệu Hóa, là địa danh lịch sử gắn liền với truyền thống yêu nước,
truyền thống cách mạng của địa phương. Trước kia, trong khởi nghĩa Lam Sơn,
nghĩa quân của Lê Lợi đã từng về đây chiêu mộ binh sĩ. Trong thời kì Đảng còn
hoạt động bí mật, chợ Đu trở thành điểm hẹn để các chiến sĩ cộng sản gặp gỡ,
trao đổi tài liệu. Đặc biệt, cuộc mít tinh, tuần hành lớn ở chợ Đu ngày 14
tháng 7 năm 1939 do Tỉnh ủy tổ chức đã đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao của
phong trào cách mạng trong thời kì đấu tranh dân sinh, dân chủ ở Thanh Hóa,
Chợ Đu còn là nơi Việt Minh tiến hành rải truyền đơn, diễn thuyết xung phong
trong những ngày chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Cũng chính tại đây, chi bộ Đảng đã
thành lập “chỉ điểm hưng nghiệp xã" để gây quỹ Đảng. Có thể nói rằng: Chợ
Đu đóng vai trò cửa ngõ, tiếp nhận, để phát triển các cơ sở Đảng trong vùng,
là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong phong trào cách mạng của 2 tổng
Xuân Lai và Xuân Phong nói riêng, Thiệu Hóa nói chung.
|
Chợ Đu
|
|
2
|
Đình Đồng Bào
|
Đình Đồng Bào thuộc
làng Đồng Bào[171], xã Thiệu Minh,
rồi xã Minh Tân, huyện Thiệu Hóa (nay là thị trấn Hậu Hiền, huyện Thiệu Hoá,
tỉnh Thanh Hóa). Nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử, nhiều cuộc mít
tinh đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân địa phương. Đặc biệt, đình
đã chứng kiến nhiều đợt huy động sức người, tiễn đưa các lớp con, em thanh
niên trong làng chi viện cho chiến trường miền Nam đánh đế quốc Mỹ cứu nước,
đóng góp sức của cho kháng chiến, xây dựng quê hương đất nước.
|
Đồng Bào
|
|
3
|
Đình Đồng Minh
|
Đình Đồng Minh thuộc
làng Đồng Minh[172], xã Thiệu
Minh, huyện Thiệu Hóa (nay là thị trấn Hậu Hiền, huyện Thiệu Hóa) thờ Thành
Hoàng làng - thần Thiên Lôi, trước năm 1945 là nơi hội họp, nơi nổ ra cuộc đấu
tranh đòi giảm thuế thân, nơi luyện tập, cất giấu vũ khí thô sơ được giữ bí mật
chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân của đội tự vệ
cứu quốc Hà Thanh. Tại đây, năm 1948 Quân khu 3 mở trường Trung học Phan Tây
Hồ, Tỉnh ủy mở trường Trung học Trần Phú, Trung ương mở các lớp huấn luyện
cán bộ Việt Minh.
|
Đồng Minh
|
|
4
|
Đình Lam Vĩ
|
Đình Lam Vĩ thuộc làng
Lam Vĩ[173], xã Thiệu Vũ, huyện
Thiệu Hóa, là di tích cách mạng rất tiêu biểu, nhiều sự kiện lịch sử của thời
kỳ cách mạng (1930 - 1945, 1946 - 1954) đáng nhớ đã diễn ra tại ngôi đình Lam
Vĩ này.
Trong kháng chiến chống
Pháp, đình Lam Vĩ là nơi tập trung huy động sức người, sức của cho tiền tuyến,
nơi phát động các “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ dân quân tự túc”, “Lúa khao quân”,
công trái quốc gia, công phiếu kháng chiến, thuế nông nghiệp, dân quân, tòng
quân...
Năm 1948, Thủ tướng Phạm
Văn Đồng thay mặt Chính phủ về tại đình Lam Vĩ để truyền đạt chủ trương của
Chính phủ với Ủy ban hành chính kháng chiến liên khu IV và Ủy ban hành chính
kháng chiến tỉnh Thanh Hóa (khi đó đóng ở làng Lam Vĩ) để phát động việc xây
dựng hậu phương và kháng chiến trường kỳ. Sau đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã
có cuộc nói chuyện với Nhân dân Lam Vĩ và Nhân dân các làng lân cận để kêu gọi
mọi tầng lớp quần chúng đoàn kết một lòng ủng hộ kháng chiến.
|
Lam Vĩ
|
|
5
|
Làng Viên Nội
|
Làng Viên Nội[174] thuộc xã Thiệu Viên, huyện
Thiệu Hóa là nơi đặt trụ sở làm việc của Tỉnh ủy Thanh Hóa (thời kỳ 1967 -
1973). Nơi đây gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng của tỉnh trong thời kỳ từ
năm 1967 đến năm 1973 như: Ngày 6 - 9 -1969, tại hội trường lớn của tỉnh
(làng Viên Nội, xã Thiệu Viên, huyện Thiệu Hóa), Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh,
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại, hàng ngàn đại biểu, Nhân dân đại diện cho các dân tộc, tôn giáo,
các ngành, các địa phương từ khắp nơi trong tỉnh về dự lễ truy điệu.
Cuối năm 1969, tại đây
đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 7 (từ ngày 21/10/1969 đến
4/11/1969); Từ ngày 4/6 đến ngày 6/4/1971, nơi đây đã diễn ra Đại hội toàn
quân tỉnh Thanh Hóa; ngoài ra, đây còn là nơi đón tiếp nhiều đoàn đại biểu quốc
tế nước bạn Lào, Campuchia và ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, những lời
kêu gọi Nhân dân trong tỉnh ra sức sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh
phá hoại của giặc Mỹ góp phần thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thống
nhất đất nước của cả dân tộc.
|
Viên Nội
|
|
6
|
Làng Yên Lộ
|
Làng Yên Lộ[175], xưa còn gọi là làng An Lộ.
Trước năm 1945, làng Yên Lộ thuộc về tổng Phù Chẩn, huyện Thụy Nguyên, phủ
Thiệu Hóa, nay thuộc xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa. Làng có chùa Yên Lộ là di
tích lịch sử cách mạng ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong thời kỳ Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa hoạt động bí mật (1930 - 1945). Tại di tích, những năm 1935 -
1936, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã nhiều lần tổ chức hội nghị củng cố tổ chức, phong
trào, địa điểm họp kín của các cán bộ cách mạng trong tỉnh, huyện, tổng. Đây
là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Yên Lộ
|
|
7
|
Làng Đoán Quyết
|
Làng Đoán Quyết[176] có từ thế kỷ XIX đến trước
năm 1945, thuộc xã Đông Lễ, tổng Mật Vật, huyện Thụy Nguyên, nay là xã Thiệu Phúc,
huyện Thiệu Hóa. Làng có Văn Từ - Bia Ký, làng Đoán Quyết được Giám đốc Sở
Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận
là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định
số 255/QĐ-VHTT ngày 28/1/2004. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Đoán Quyết
|
|
8
|
Làng Đông Lỗ
|
Làng Đông Lỗ[177] có từ thế kỷ X, đầu thế kỷ
XIX là làng Cựu thuộc xã Đông Lễ, tổng Mật Vật, huyện Thụy Nguyên, nay là xã
Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa. Làng có nghè làng Đông Lỗ được Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số
180/QĐ-UBND ngày 15/1/2016. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Đông Lỗ
|
|
9
|
Làng Kẻ Chè
|
Làng Kẻ Chè[178] (có tên gọi khác là làng
Trà Sơn Đông) thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, là làng cổ, nơi có nghề
đúc đồng nổi tiếng. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kẻ Chè
|
|
10
|
Làng Kẻ Rị
|
Làng Kẻ Rị[179] (có tên gọi khác là làng
Phủ Lý) có từ thế kỷ X, là làng cổ, quê hương nhà sử học Lê Văn Hưu. Đây là địa
danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kẻ Rị
|
|
11
|
Làng Phúc Lộc
|
Làng Phúc Lộc[180] tên nôm là làng Chuộc, đầu
thế kỷ XIX, thuộc tổng Phù Chẩn, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc thôn Phúc Lộc,
xã Thiệu Tiến, huyện Thiệu Hóa) là một địa chỉ đỏ trong lịch sử đấu tranh
cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân huyện Thiệu Hóa. Tại nhà thờ họ Vương (di
tích lịch sử cách mạng) đã diễn ra Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt
Nam đầu tiên của huyện Thiệu Hóa, ngày 10 tháng 7 năm 1930. Đây là một trong
ba chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa. Đây là địa danh
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phúc Lộc
|
|
12
|
Làng Tam Xá
|
Làng Tam Xá thuộc xã
Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tên làng Tam Xá có từ năm 1900, thuộc tổng Đại Bối,
huyện Đông Sơn, nay thuộc xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, đây là địa danh cổ,
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Tam Xá
|
|
13
|
Làng Tân Bình
|
Làng Tân Bình[181] từ đầu thế kỷ XIX đến trước
năm 1945 là Bình Ngô thuộc tổng Phù Chẩn, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc xã Thiệu
Ngọc, huyện Thiệu Hóa, làng có đình làng Tân Bình được Giám đốc Sở Văn hóa -
Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di
tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số 230/QĐ-VHTT ngày 08/7/1995 và và
được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích kiến trúc nghệ
thuật cấp tỉnh tại Quyết định số 181/QĐ-UBND ngày 17/01/2011. Đây là địa danh
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Tân Bình
|
|
14
|
Ngã Ba Chè
|
Ngã Ba Chè thuộc huyện
Thiệu Hóa, một ngã ba giao thông nổi tiếng ở trong tỉnh được đặt tên từ thời Pháp
thuộc cho đến nay. Đây là địa danh quen thuộc, đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Ngã Ba Chè
|
|
15
|
Núi Bằng Trình
|
Núi Bằng Trình là ngọn
núi đá có hình thù và màu sắc rất đẹp nổi lên ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã,
sông Chu, là 1 trong 10 cảnh đẹp nằm trong quần thể di tích thắng cảnh Bàn A
Sơn nổi tiếng của xứ Thanh và cả nước thuộc địa bàn xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu
Hóa được nhiều sử sách ghi chép. Năm 2008, thắng cảnh núi Bằng Trình và chùa
Thái Bình được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích
danh lam thắng cảnh tại Quyết định số 3332/QĐ-UBND ngày 22/10/2008. Năm 2019,
được công nhận là điểm du lịch của tỉnh.
|
Bằng Trình
|
3.23. Huyện Thọ Xuân: 15 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Chợ Neo
|
Chợ Neo thuộc xã Bắc
Lương, huyện Thọ Xuân. Nơi đây diễn ra cuộc biểu tình thị uy lớn cuối thời kỳ
vận động dân chủ (1939) do Đảng bộ tỉnh tổ chức đã gây được tiếng vang lớn. Tại
làng Neo, năm 1930 cũng thành lập được chi bộ Đảng Cộng sản. Đây là địa danh
đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Chợ Neo
|
|
2
|
Làng Giữa
|
Làng Giữa[182] thuộc xã Xuân Quang, huyện
Thọ Xuân, làng có đình làng Giữa được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 69/QĐ-CT ngày
10/01/2005. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Làng Giữa
|
|
3
|
Làng Hương Nhượng
|
Làng Hương Nhượng thuộc
xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân ngày nay, làng được hình thành từ xa xưa, đã ăn sâu
vào tiềm thức của Nhân dân. Làng có đình làng Hương Nhượng được Giám đốc Sở
Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận
là di tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số 158/QĐ-VHTT ngày 22/5/2001
và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích kiến trúc nghệ
thuật cấp tỉnh tại 148/QĐ-UBND ngày 17/01/2011. Đình làng Hương Nhượng là địa
danh được nhiều người biết đến.
|
Hương Nhượng
|
|
4
|
Làng Kim Ốc
|
Làng Kim Ốc[183] thuộc xã Xuân Hòa, huyện
Thọ Xuân, là làng cách mạng tiêu biểu của huyện, của tỉnh thời kỳ 1930 -
1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Kim Ốc
|
|
5
|
Làng Lễ Nghĩa
|
Làng Lễ Nghĩa[184] trước Cách mạng tháng 8
năm 1945 thuộc xã Trung Vực (nay là xã Xuân Thành, huyện Thọ Xuân). Đình làng
Lê Nghĩa được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số
49/QĐ-VHTT ngày 17/01/2003 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp
hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh tại Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày
17/01/2011. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Lễ Nghĩa
|
|
6
|
Làng Long Linh
|
Làng Long Linh[185] thuộc xã Trường Xuân, huyện
Thọ Xuân, là một làng có phong trào cách mạng tiêu biểu ở trong tỉnh thời kỳ
1930-1945. Năm 1934, tờ báo Hồn lao động - Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ
Thanh Hóa được xuất bản bí mật tại đây. Đây là làng có nhiều chiến sĩ du kích
Ngọc Trạo, là “Làng Đỏ” tiêu biểu, đi đầu trong phong trào xây dựng lực lượng
tự vệ cứu quốc trước năm 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Long Linh
|
|
7
|
Làng Ngọc Trung
|
Làng Ngọc Trung thuộc
xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu
ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Ngọc Trung
|
|
8
|
Làng Phong Cốc
|
Làng Phong Cốc[186] trước Cách mạng tháng 8 năm
1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân Minh,
huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa
trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Phong Cốc
|
|
9
|
Làng Phú Tình
|
Làng Phú Tình thuộc xã
Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở
Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Phú Tình
|
|
10
|
Làng Phúc Bồi
|
Làng Phúc Bồi[187] thuộc xã Thọ Lập, huyện Thọ
Xuân, là làng cách mạng tiêu biểu thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn
sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phúc Bồi
|
|
11
|
Làng Quang Hoa
|
Làng Quang Hoa[188] trước Cách mạng tháng 8
năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân
Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở
Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Quang Hoa
|
|
12
|
Làng Thuần Hậu
|
Làng Thuần Hậu[189] trước Cách mạng tháng 8
năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân
Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở
Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Thuần Hậu
|
|
13
|
Làng Xá Lê
|
Làng Xá Lê[190] trước Cách mạng tháng 8
năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay thuộc xã Xuân Minh,
huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa
trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Xá Lê
|
|
14
|
Làng Xuân Phả
|
Làng Xuân Phả[191] là một làng cổ thuộc xã
Xuân Trường, huyện Thọ Xuân. Nơi đây còn bảo lưu các trò diễn truyền thống
như Tú Huần, Bình Ngô Phá Trận, Xiêm Thành, Chăm Pa...mà các nhà nghiên cứu gọi
chung là “Trò Xuân Phả”. Trò diễn này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
đưa vào danh mục là di sản phi vật thể cấp Quốc gia tại Quyết định số
3247/QĐ-BVHTTDL ngày 16/9/2016. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Xuân Phả
|
|
15
|
Làng Xuân Phố
|
Làng Xuân Phố (là xóm
Thọ Khang), thuộc xã Xuân Trường, huyện Lôi Dương, sau năm 1965 thành lập thị
trấn Thọ Xuân (gọi tắt là Phủ Thọ) là một địa danh nổi tiếng trước đây.
|
Xuân Phố
|
3.24. Huyện Thường Xuân: 16 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cầu Bến Nhạ
|
Cầu Bến Nhạ thuộc xã Tân
Thành, huyện Thường Xuân, là địa danh có ý nghĩa lịch sử trong kháng chiến chống
Mỹ, là nơi trung chuyển lương thực, vũ khí đạn dược của tuyến giao thông huyết
mạch 15A (nay là đường mòn Hồ Chí Minh) nhằm chi viện cho chiến trường miền
Nam. Đây là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ nhằm cắt đứt tuyến
giao thông huyết mạch này.
|
Bến Nhạ
|
|
2
|
Châu Thường
|
Châu Thường (còn gọi là
châu Thường Xuân thuộc huyện Thường Xuân), từ năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), là
tên của huyện Thường Xuân ngày nay.
|
Châu Thường
|
|
3
|
Đồi Pú Pen
|
Đồi Pú Pen thuộc xã Vạn
Xuân, huyện Thường Xuân. Pú Pen (hay còn gọi là Pú Mướng) là ngọn đồi nơi có
đền thờ trời (Hướn Pen), hàng năm diễn ra lễ tục dâng trâu tế trời của dân tộc
Thái mường Chiếng Ván (tức Trịnh Vạn).
|
Pú Pen
|
|
4
|
Đồng Mới
|
Đồng Mới[192] thuộc huyện Thường Xuân,
tên gọi cũ của thị trấn Thường Xuân ngày nay. Đến năm 1988, trung tâm huyện
Thường Xuân chuyển từ xã Xuân Cẩm về ngã ba Đồng Chó và đổi tên là Đồng Mới, nay
là thị trấn Thường Xuân. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Đồng Mới
|
|
5
|
Hang Lãm
|
Hang Lãm thuộc huyện
Thường Xuân, trước kia là kho E - Binh trạm 10 đoàn 559, trạm trung chuyển lương
thực, vũ khí, đạn dược của đoàn 559 cho chiến trường miền Nam trong kháng chiến
chống Mỹ.
|
Hang Lãm
|
|
6
|
Hòn đá Mài Mực
|
Hòn đá Mài Mực thuộc
huyện Thường Xuân, nằm giữa dòng sông Chu, thuộc xã Xuân Mỹ trước đây (nay là
vùng hạ du hồ Cửa Đạt), tương truyền là nơi Lê Lợi hạ trại, dấu vết còn lại
là hòn đá Mài Mực.
|
Mài Mực
|
|
7
|
Làng Phụng Dưỡng
|
Làng Phụng Dưỡng thuộc
thôn Xuân Thắng, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, là tên có từ thời Lê gắn với
khởi nghĩa Lam Sơn.
|
Phụng Dưỡng
|
|
8
|
Mỹ Tế
|
Mỹ Tế thuộc huyện Thường
Xuân, là tên một địa danh lịch sử, là di chỉ khảo cổ tiền Đông Sơn.
|
Mỹ Tế
|
|
9
|
Ngọc Lâm
|
Ngọc Lâm[193] thuộc huyện Thường Xuân,
là tên cũ của khu phố 1, thị trấn Thường Xuân, được đặt tên từ trước năm
1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Ngọc Lâm
|
|
10
|
Núi Pù Gió
|
Núi Pù Gió thuộc huyện
Thường Xuân, Pù Gió (hay Pú Cho) cao 1.620m, là đỉnh núi cao nhất trong hệ thống
các đỉnh núi cao và các dãy núi dài của huyện Thường Xuân, nằm ở địa giới xã Vạn
Xuân, xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân và xã Đồng Văn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ
An. Đây là nơi có khí hậu rất đặc biệt luôn mát mẻ với các hệ sinh thái rừng
trên núi cao có các loài thực vật cổ sinh gồm cả những loài cho hoa đẹp như đỗ
quyên, các loài lan, đặc biệt tại đỉnh núi này còn có một xác máy bay của đế
quốc Mỹ bị bắn rơi trong chiến tranh.
|
Pù Gió
|
|
11
|
Núi Thé
|
Núi Thé thuộc xã Xuân
Cao, huyện Thường Xuân. Tại đây đã phát hiện được nhiều công cụ, dụng cụ bằng
đồng và các đồ gốm thuộc văn hóa Đông Sơn và hậu Đông Sơn. Di tích được coi
là di tích văn hóa Đông Sơn quan trọng nhất ở miền tây Thanh Hóa.
|
Núi Thé
|
|
12
|
Tân Long
|
Tân Long[194] thuộc huyện Thường Xuân,
là tên cũ của khu phố 5, thị trấn Thường Xuân, được đặt tên từ trước năm
1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Tân Long
|
|
13
|
Tổ Rồng
|
Tổ Rồng thuộc huyện Thường
Xuân, là tên một khúc sông Chu đoạn chảy qua thôn Thanh Long, Thanh Cao (xã Thọ
Thanh) và Xuân Minh (xã Xuân Cao), là một địa danh gắn liền với nhiều di tích
lịch sử của thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn.
|
Tổ Rồng
|
|
14
|
Trịnh Cao
|
Trịnh Cao thuộc huyện
Thường Xuân, là căn cứ trung tâm trong hệ thống căn cứ núi Chí Linh của nghĩa
quân Lam Sơn thuộc xã Xuân Khao trước đây (nay đã giải thể di dân xây dựng
công trình thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt).
|
Trịnh Cao
|
|
15
|
Xã Bát Mọt
|
Xã Bát Mọt[195] (còn gọi là Bất Một) là vùng
đất xưa thuộc Mường Húng, sau là Mường Mót. Thời Nguyễn - Minh Mệnh thứ 18
(1837) là xã Bất Một thuộc châu Thường Xuân. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945,
xã Bát Mọt thuộc huyện Thường Xuân. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
Năm 1926, Mađơlen
Côlani - nhà khảo cổ và địa chất học người Pháp đã tìm thấy dấu vết hoạt động
của con người thời tiền sử cách ngày nay khoảng 2 vạn năm tại xã Bát Mọt.
Côlani đã phát hiện được nơi cư trú của người nguyên thủy ở một hang động,
sau này đặt tên là hang Chuông. Qua tìm kiếm, khai quật được 96 di vật đá gồm
chày đá, hòn ghè, rìu thô hình đĩa, rìu ngắn, nạo đá...Đây là địa điểm cư trú
của người nguyên thủy cùng với dấu vết săn bắt và sản xuất.
|
Bát Mọt
|
|
16
|
Xã Xuân Cẩm
|
Xã Xuân Cẩm thuộc huyện
Thường Xuân. Trước kia là một xã, nay đã sáp nhập vào thị trấn Thường Xuân
theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
|
Xuân Cẩm
|
3.25. Huyện Triệu Sơn: 02 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Làng Phú Hào
|
Làng Phú Hào[196] là làng cổ thuộc tổng Bất
Náo, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, nay là xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn, là
nơi sinh và nơi thờ tự Lê lệnh công Lê Thì Hiến và các danh tướng họ Lê Thì
thời Lê Trung Hưng. Hiện nay, quần thể Di tích bia và lăng mộ Lê Thì Hiến được
Bộ Trưởng Bộ Văn hóa (nay là Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng
là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 2015/QĐ-BTBVH ngày
16/12/1993, nơi đây còn một đôi voi phục, một đôi tuấn mã, văn bia, hương án,
sập ngự... là những dấu tích quý giá còn sót lại và có giá trị cao đối với
ngành điêu khắc đá. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Phú Hào
|
|
2
|
Làng Tam Lạc
|
Làng Tam Lạc[197] thuộc xã Xuân Thọ, huyện
Triệu Sơn. Đây là địa danh Ủy ban kháng chiến Xuân Thọ đặt trụ sở làm việc tại
đình Tam Lạc thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945. Vào năm 1950, Sư đoàn
304, Đại đoàn Vinh Quang, đơn vị chủ lực quân thứ hai của Quân đội nhân dân
Việt Nam cũng được thành lập tại đây. Năm 1952, đình Tam Lạc thuộc làng Tam Lạc
còn là nơi tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Đại hội Chiến sĩ thi đua
toàn quân... Đình Tam Lạc không chỉ lưu giữ các giá trị văn hóa mà đây còn là
một “địa chỉ đỏ” về truyền thống lịch sử và cách mạng.
|
Tam Lạc
|
3.26. Huyện Vĩnh Lộc: 21 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Cán Cờ
|
Cán Cờ thuộc huyện Vĩnh
Lộc, là địa danh (con đường) đi vào thôn Đa Bút, được hình thành do Bà Chúa Nguyễn
Thị Ngọc Bảo vợ Trịnh Kiểm chiêu mộ người dân chỉ đắp trong 1 đêm hình thành
con đường. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Cán Cờ
|
|
2
|
Đền Tam Tổng
|
Đền Tam Tổng thuộc thôn
Phố Mới, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, cách Thành nhà Hồ khoảng gần 1 km về
phía Nam, nằm ngay bên trục đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) từ cửa Nam Thành
nhà Hồ đến Đàn tế Nam Giao. Đây là ngôi đền có từ lâu đời, được nhiều người
biết đến, địa danh quen thuộc của Nhân dân trong vùng.
|
Tam Tổng
|
|
3
|
Đình Yên Tôn Hạ
|
Đình Yên Tôn Hạ nằm ở
làng Hạ, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc. Đình được xây dựng từ triều Nguyễn, thờ
Cao sơn tôn thần. Năm 2008, đình Yên Tôn Hạ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số
3332/QĐ-UBND ngày 22/10/2008. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Yên Tôn Hạ
|
|
4
|
Hoa Nhai[198]
|
Hoa Nhai thuộc huyện
Vĩnh Lộc, tên gọi một con đường, tương truyền khi xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly
đã cho làm một con đường (đường Hoa Nhai hay đường Hoàng Gia) từ cửa Nam tới
chùa Tường Vân, đàn Nam Giao để các thân vương, quý tộc đến chùa lễ Phật cầu
phúc cho chúng sinh. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Hoa Nhai
|
|
5
|
La Thành
|
La Thành thuộc huyện
Vĩnh Lộc, là tên gọi một trong ba bộ phận của Thành nhà Hồ gồm: La Thành, Hào
Thành, Hoàng Thành. Trên địa bàn xã Vĩnh Thành (nay là thị trấn Vĩnh Lộc) có
đoạn thành Đại La (La Thành) là giáp ranh giữa làng Hà Lương và làng Cao Mật
dài khoảng 700m từ bờ sông Mã đến chân núi Đún (phía Tây), hiện nay được sử dụng
làm đường giao thông và san bằng làm đất thổ cư, đất canh tác.
|
La Thành
|
|
6
|
Làng Bồng Hạ
|
Làng Bồng Hạ[199] nay thuộc xã Minh Tân, huyện
Vĩnh Lộc. Trước đây gồm hai thôn: Thị thôn và Lại thôn. Năm Khải Định thứ 10
(1925), hai thôn nhập lại thành Bồng Hạ. Làng Bồng Hạ chính là trung tâm của
Biện Hạ trước đây. Biện Hạ chính là lỵ sở của huyện Vĩnh Lộc trong nhiều thời
kì. Đây là địa danh nhiều người biết đến, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bồng Hạ
|
|
7
|
Làng Bồng Trung
|
Làng Bồng Trung[200] thuộc xã Vĩnh Tân (nay là
xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc). Bồng Trung xưa có tên là Đông Biện phường, được
thành lập năm Hồng Thuận thời vua Lê Tương Dực, Kỷ Tỵ (1509-1510). Khi Hồ Quý
Ly xây thành An Tôn đã bắt nhiều người họ Mai ở đất Nga Sơn - Thanh Hóa đi
làm phu phen, tạp dịch xây thành. Người Nga Sơn đi qua vùng đất này thấy đất
đai màu mỡ, có núi sông, cảnh đẹp họ liền ở đây lập nghiệp cùng với các họ Đỗ,
họ Hoàng, họ Phạm sinh sống quy tụ dân cư lập nên làng Đông Biện. Đến cuối thế
kỷ XIX dưới triều vua Đồng Khánh, làng Đông Biện đổi thành làng Bồng Trung vì
chữ "Biện" là tên húy của nhà vua.
|
Bồng Trung
|
|
8
|
Làng Đông Môn
|
Làng Đông Môn[201] thuộc huyện Vĩnh Lộc. Lịch
sử hình thành và phát triển làng Đông Môn gắn liền với vương triều Hồ và
thành An Tôn. Trước triều Trần, vùng đất này trực thuộc đất quận Nhật Nam,
sang triều Hồ nằm trong động An Tôn. Đến thời Lê Trung Hưng thuộc phủ Quảng
Hóa và mãi tới thời Tây Sơn mới được gọi là Đông Môn thuộc xã Vĩnh Long, huyện
Vĩnh Lộc.
|
Đông Môn
|
|
9
|
Làng Hà Lương
|
Làng Hà Lương[202] thuộc thôn 5, xã Vĩnh
Thành, huyện Vĩnh Lộc, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc phủ Quảng Hóa,
tổng Cao Mật. Làng Hà Lương buổi đầu gọi là ấp A Lãng, rồi Lương Hà, Hà Lưỡng,
Hà Lãng...Sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ giành thắng lợi,
Tết Nguyên đán Mậu Ngọ (năm 1258), vua Trần Thái Tông phong thưởng cho các tướng
soái có công, đứng đầu là tướng Lê Tần và Hà Bổng. Cũng năm này, Lê Tần đổi
thành Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần được vua phong thái ấp ở Hà Lương đã đưa dòng
họ đến khẩn hoang, phát triển kinh tế và lập làng, tính đến nay đã là hơn 700
năm.
|
Hà Lương
|
|
10
|
Làng Kim Bôi
|
Làng Kim Bôi[203] còn có tên là làng Giang
Đông, thuộc xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc, trước năm 1953, thuộc tổng Sóc Sơn,
huyện Vĩnh Lộc. Làng có danh tướng Trịnh Khả là bậc khai quốc công thần, làm
quan dưới 3 triều vua Lê: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông được ban quốc tính họ
vua gọi là Lê Khả. Đây là địa danh nhiều người biết đến, ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Kim Bôi
|
|
11
|
Làng Nghĩa Kỳ
|
Làng Nghĩa Kỳ[204], còn có tên gọi khác là
làng Phúc Trường, xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc, trước năm 1953, thuộc tổng Sóc
Sơn, huyện Vĩnh Lộc. Là quê hương của đồng chí Trịnh Huy Quang - Người đã
tham gia tổ chức cách mạng đầu tiên ở xã, huyện Vĩnh Lộc, một số nơi trong tỉnh.
Đặc biệt nơi đây có đình làng Nghĩa Kỳ là nơi thờ Thành Hoàng Quản Gia Đô Bác
và là nơi diễn ra nhiều sự kiện cách mạng. Năm 2022, đình được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết
định số 3738/QĐ-UBND ngày 02/11/2022.
|
Nghĩa Kỳ
|
|
12
|
Làng Nhân Lộ
|
Làng Nhân Lộ thuộc thôn
2, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc. Nhân Lộ tên khởi đầu là làng Giò. Làng Giò
xưa kia là nơi hoang vu, rậm rạp đã được những cư dân đến trước khai phá rồi lập
nên làng xóm, sau này gọi là làng Nhân Lộ. Từ ngày 06 tháng 12 năm 2020, tên
của thôn 2 được đổi thành khu phố Nhân Lộ - thị trấn Vĩnh Lộc.
|
Nhân Lộ
|
|
13
|
Làng Phụng Công
|
Làng Phụng Công[205] thuộc thôn 7, xã Vĩnh
Thành, huyện Vĩnh Lộc, trước năm 1953, thuộc phủ Quảng Hóa, tổng Cao Mật.
Làng Phụng Công chính tên là Phượng Công, vì có đỉnh núi ở đầu làng như đầu
con chim Phượng, chân núi xòe ra ở cuối làng như đuôi con chim công, nên có
tên là Phượng Công. Vì “Phượng” cũng là “Phụng” nên dân gọi ra là Phụng Công
và gọi tắt là làng Công hay còn gọi là thôn 7. Từ ngày 06 tháng 12 năm 2020,
tên của thôn 7 được đổi thành khu phố Phụng Công - thị trấn Vĩnh Lộc.
|
Phụng Công
|
|
14
|
Làng Quang Biểu
|
Làng Quang Biểu[206] còn có tên gọi khác là
làng Bỉm thuộc xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc, trước năm 1953 thuộc tổng Sóc
Sơn, huyện Vĩnh Lộc. Trong thời kỳ chuẩn bị đấu tranh giành chính quyền về
tay Nhân dân, tờ báo “Tia sáng” tiếng nói của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được cơ
quan ấn loát từng đặt tại nhà ông Trịnh Văn Chế (làng Quang Biểu). Đặc biệt,
làng có Cụm di tích Đình - Phủ - Chùa được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin
(nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử
văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 44/QĐ-VHTT
ngày 17/1/2003 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di
tích cấp tỉnh tại Quyết định số 4146/QĐ-UBND ngày 13/12/2011.
|
Quang Biểu
|
|
15
|
Làng Thành Nhân
|
Làng Thành Nhân[207] thuộc thôn 1, xã Vĩnh
Thành, huyện Vĩnh Lộc, trước năm 1953, thuộc phủ Quảng Hóa, tổng Cao Mật. Từ
đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn lập vành đai trung du những đồn lính gọi là đồn
Sơn Phòng. Các cư dân đã đến xung quanh khu vực đồn Sơn Phòng khai phá đất
đai, lập nhà cửa, do đó nhiều đồn Sơn Phòng đã trở thành làng, trong đó có
làng Ấp, nay là làng Quảng Nhân. Từ ngày 06 tháng 12 năm 2020, tên của thôn 1
được đổi thành khu phố Thành Nhân - thị trấn Vĩnh Lộc.
|
Thành Nhân
|
|
16
|
Làng Vực
|
Làng Vực hay còn gọi là
Vực Thôn, trước thuộc xã Vĩnh Minh, nay thuộc xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc.
Đây là làng cổ có từ lâu đời, làng có ngôi đình cổ có giá trị về kiến trúc
nghệ thuật. Năm 2012, đình làng Vực được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh
Hóa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 2998/QĐ-UBND
ngày 14/9/2012. Đây là địa danh nhiều người biết đến, ăn sâu vào tiềm thức của
Nhân dân.
|
Làng Vực, Vực Thôn
|
|
17
|
Làng Yên Tôn Thượng
|
Làng Yên Tôn Thượng[208] trước năm 1945, thuộc phủ
Quảng Hóa, tổng Cao Mật, từ năm 1953 thuộc xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc. Làng
có từ lâu đời có bề dày về truyền thống lịch sử văn hóa. Đặc biệt, làng có
ngôi đình (đình Yên Tôn Thượng) ngay dưới chân núi Độn, trước mặt là dòng sông
Mã, liền kề phía Tây giáp núi An Tôn. Theo các đạo sắc phong và sách “Thanh
Hóa chư thần lục” cho biết đình làng Yên Tôn Thượng được xây dựng từ lâu đời,
đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) cho sửa lại. Với giá trị về kiến trúc nghệ
thuật, đình làng Yên Tôn Thượng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ
thuật theo Quyết định số 74/QĐ-VHTT ngày 8/2/2002 và được Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh tại Quyết
định số 4144/QĐ-UBND ngày 13/12/2011.
|
Yên Tôn Thượng
|
|
18
|
Ngõ Gạch
|
Ngõ Gạch thuộc xã Minh
Tân, huyện Vĩnh Lộc, là con đường chính giữa đi vào làng Bồng Trung được Nhân
dân quen dùng từ cuối thế kỷ XIX. Theo tương truyền: “làng Bồng Trung từ xưa
quy định, mỗi cặp trai, gái khi kết hôn phải đóng cho làng 100 viên gạch để
lát hai bên đường trục chính của làng”. Vì vậy Nhân dân trong làng quen gọi
con đường ấy là Ngõ Gạch.
|
Ngõ Gạch
|
|
19
|
Núi Đún Sơn
|
Núi Đún Sơn ngày nay
thuộc thị trấn Vĩnh Lộc, là tên gọi từ thời nhà Trần, đây là ngọn núi gắn với
sự kiện Thượng tướng Trần Khát Chân cùng với tướng lĩnh nhà Trần lập Hội:
"Minh Thệ" âm mưu sát hại Hồ Quý Ly, nhưng không thành. Trần Khát
Chân và các tướng lĩnh bị giết tại núi Đún Sơn (Đại Việt sử ký toàn thư
chép).
|
Đún Sơn
|
|
20
|
Thôn Bồng Thượng
|
Thôn Bồng Thượng[209] (làng Báo) thuộc xã Vĩnh
Hùng, huyện Vĩnh Lộc, là một trong ba thôn thuộc tổng Biện Thượng (Bồng Thượng),
quê hương nhà Trịnh. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân.
|
Bồng Thượng
|
|
21
|
Xã Xuân Áng
|
Xã Xuân Áng[210] nay là xã Vĩnh Long, huyện
Vĩnh Lộc. Theo sách Đồng Khánh địa dư chí, năm Tự Đức thứ 33 (1879) có tên xã
Xuân Áng. Từ năm 1953, thành lập các làng, xã của huyện Vĩnh Lộc, Xuân Áng là
một trong 9 làng của xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Thạch. Năm 1983, tách 2 huyện
Vĩnh Lộc và Thạch Thành, Xuân Áng thuộc huyện Vĩnh Lộc. Chùa Xuân Áng là nơi
thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Vĩnh Lộc (16/4/1934) được Giám đốc Sở
Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận
là di tích lịch sử cách mạng cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định
số 118/QĐ-SVHTT ngày 24/4/1995. Năm 1941, đây là nơi trú quân của đoàn du
kích Ngọc Trạo. Đình Xuân Áng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp
hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 3009/QĐ-UBND ngày
14/9/2012.
|
Xuân Áng
|
3.27, Huyện Yên Định: 08 địa danh
|
STT
|
Tên địa danh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bãi Lai
|
Bãi Lai thuộc huyện Yên
Định. Đây là một địa danh khi mới xây dựng nông trường Thống Nhất trước đây
và hiện nay đã đặt tên một cây cầu bắc qua sông Hép thuộc địa giới thị trấn
Thống Nhất, huyện Yên Định. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân
dân.
|
Bãi Lai
|
|
2
|
Chợ Bản
|
Chợ Bản trước thuộc
làng Bản, xã Định Tăng, huyện Yên Định, sau nhiều lần di chuyển địa điểm từ Định
Hải và thị trấn Quán Lào. Đến nay chuyển về đóng tại thôn Tân Ngữ 2, xã Định
Long - Một chợ truyền thống có từ lâu đời. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức
của Nhân dân.
|
Chợ Bản
|
|
3
|
Đình Làng Hổ
|
Đình Làng Hổ thuộc xã Định
Hưng nay là thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, nơi thờ công chúa Phương Hoa -
người có công lập làng. Năm 2017, với những giá trị lịch sử và văn hóa đình
làng Hổ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch
sử theo Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 20/01/2017.
|
Làng Hổ
|
|
4
|
Làng Kênh
|
Làng Kênh thuộc xã Định
Tân, huyện Yên Định được hình thành từ xóm Kênh. Theo lịch sử địa phương cho
biết, vào thời vua Gia Long (triều Nguyễn), xóm Kênh xin tách khỏi làng Tràng
Lang (làng Dài) để lập thành Kênh Thôn, là ngôi đình có giá trị về lịch sử.
Đình là nơi thờ Thành Hoàng làng, vị thần bảo hộ, mang lại bình yên cho Nhân
dân trong làng và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di
tích lịch sử theo Quyết định số 2517/QĐ-UBND ngày 04/8/2011.
|
Làng Kênh
|
|
5
|
Làng Lê
|
Làng Lê thuộc xã Yên
Thái, huyện Yên Định. Nơi đây có giống cải trồng trên bãi để muối dưa ăn rất
ngon, đây từng là đặc sản để tiến vua, Nhân dân gần xa vẫn quen gọi là Dưa Lê
(tức Dưa cải làng Lê).
|
Làng Lê
|
|
6
|
Làng Phù Hưng
|
Làng Phù Hưng[211] thuộc xã Yên Thái, huyện
Yên Định. Là làng cổ ra đời từ rất sớm, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn
hóa và cách mạng. Đặc biệt làng có đình làng Phù Hưng là di tích lịch sử văn
hóa và cách mạng theo Quyết định số 230/VHQĐ ngày 08/7/1995 và Quyết định số
171/QĐ-UBND ngày 17/01/2011.
|
Phù Hưng
|
|
7
|
Làng Thiết Đinh
|
Làng Thiết Đinh[212] thuộc xã Định Tường, huyện
Yên Định (nay là khu phố Thiết Đinh, thị trấn Quán Lào) được lập từ thời Tiền
Lê với ông tổ là Lê Huệ Nhỡn đến Lê Đình Kiên là đời thứ chín. Làng còn được
gọi là bản Đanh thuộc xứ xã bản (bản Vọc, bản Chùa, bản Chợ, bản Đanh).
|
Thiết Đinh
|
|
8
|
Phố Thăng Long
|
Phố Thăng Long thuộc
huyện Yên Định, là tên gọi của thủ đô Hà Nội xưa kia và là tên gọi của khu phố
Thăng Long thuộc thị trấn Thống Nhất từ khi được thành lập.
|
Thăng Long
|
II. TỪ CÓ Ý NGHĨA TIÊU BIỂU VỀ
CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI: 11 TỪ
|
STT
|
Từ
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Dũng Cảm
|
Dũng Cảm: Là tinh thần
chiến đấu quên mình vì tổ quốc hoặc vì nghĩa lớn cần phấn đấu.
|
Dũng Cảm
|
|
2
|
Hữu Nghị
|
Hữu Nghị: Có ý nghĩa gặp
gỡ, quan hệ giao lưu thân thiện tốt đẹp.
|
Hữu Nghị
|
|
3
|
Hy Vọng
|
Hy Vọng: Là điều mong
muốn ở thì tương lai tốt đẹp như ý muốn.
|
Hy Vọng
|
|
4
|
Như Ý
|
Như Ý: Là mong muốn của
con người, từ tập thể, cá nhân đến xã hội và đất nước, nội dung là làm việc
gì cũng được như ý muốn, ý nguyện.
|
Như Ý
|
|
5
|
Quyết Tâm
|
Quyết Tâm: Là ý chí,
nghị lực cao cả để thực hiện bằng được mục đích và việc làm đã xác định ra.
|
Quyết Tâm
|
|
6
|
Tiến Bộ
|
Tiến Bộ: Là tiến hơn
trước, nhanh hơn trước, chất lượng, kết quả hơn trước.
|
Tiến Bộ
|
|
7
|
Tiền Phong
|
Tiền Phong: Có ý nghĩa
gương mẫu, đi đầu, đi trước.
|
Tiền Phong
|
|
8
|
Trung Dũng
|
Trung Dũng: Là từ nói về
sự trung thành của con người với tổ quốc, Nhân dân và gia đình, bạn bè cùng
chung một mục đích, lý tưởng, đồng thời để tỏ rõ lòng trung thành thì phải
dũng cảm chiến đấu.
|
Trung Dũng
|
|
9
|
Thái Bình
|
Thái Bình: Là từ dùng để
chỉ trạng thái yên ổn, không có loạn lạc, chiến tranh.
|
Thái Bình
|
|
10
|
Thái Lai
|
Thái Lai: Là từ dùng để
chỉ tượng trưng cho sự hanh thông, sự lặp lại niềm vui, may mắn.
|
Thái Lai
|
|
11
|
Tương Lai
|
Tương Lai: Là kết quả,
việc làm dự kiến sau giai đoạn hiện tại.
|
Tương Lai
|
III. TÊN DI TÍCH LỊCH SỬ -
VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH CỦA TỈNH THANH HÓA: 53 di tích, danh lam thắng cảnh
1. Tên di tích lịch sử - văn
hóa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia trở lên: 35 di tích
|
STT
|
Tên di tích
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Bảng Môn Đình
|
Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng
Hóa. Bảng Môn Đình nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Bảng Môn Đình
không chỉ là nơi thờ Thành Hoàng làng mà còn là nơi quy tụ, vinh danh những
con người đỗ đạt thành tài của làng. Bảng Môn Đình trở thành biểu tượng sự hiếu
học của người Hoằng Lộc, được nhiều nơi biết đến. Năm 1990, Bảng Môn Đình đã
được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia.
|
Bảng Môn Đình
|
|
2
|
Chùa Cách
|
Chùa Cách (chùa Ngọc Đới) thuộc địa phận làng
Cách, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa Cách là ngôi chùa cổ, còn lưu giữ số lượng
tượng phong phú đa dạng về các loại hình, bao gồm 39 tượng gỗ, 4 thổ tượng và
nhiều đồ thờ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII-XIX. Chùa được Bộ Văn
hóa, Thể thao Du lịch xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc gia năm
2011.
|
Chùa Cách
|
|
3
|
Chùa Hình Sơn
|
Chùa Hinh Sơn thuộc địa bàn phường An Hưng, thành
phố Thanh Hóa. Chùa thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi
An Hoạch (núi Nhồi), chùa được tạo ra trong hang núi An Hoạch. Trên vách đá
trước cửa chùa khắc ba chữ “Hinh Sơn động”, cấu trúc chùa gồm Tiền đường,
Trung đường và Hậu cung. Trong chùa còn lưu giữ tấm bia ma nhai “Hinh Sơn cổ
tự bi” được khắc niên hiệu Kiến Phúc (1884) ghi về việc tu tạo chùa. Chùa thờ
Phật và Thánh Mẫu. Hậu cung có tượng Khổng Minh được khắc trực tiếp vào vách
hang. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992.
|
Hinh Sơn
|
|
4
|
Chùa Hoa Long
|
Chùa Hoa Long nằm ở thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, huyện
Vĩnh Lộc. Chùa còn được gọi là chùa Bản Thủy. Chùa được xây dựng từ thời Trần.
Khi khởi dựng, chùa quay mặt hướng Bắc, nằm bên cạnh hồ sen, bố cục theo hình
chữ nhị gồm hai tòa nhà Tiền đường và Hậu cung liên kết với nhau tạo thành một
khối thống nhất. Bên trái phía trước chùa là một dãy nhà ngang dùng làm nơi
cho sư trụ trì và khách thập phương nghỉ chân. Hiện nay, chùa Hoa Long còn
lưu giữ được đôi câu đối ghi lại sự kiện khởi dựng chùa thuở trước. Cụm di
tích chùa Hoa Long - đền thờ Trần Khát Chân được xếp hạng di tích lịch sử quốc
gia năm 2004.
|
Chùa Hoa Long
|
|
5
|
Chùa Hương Nghiêm
|
Chùa Hương Nghiêm (tức Hương Nghiêm tự) ở thôn 3,
xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn
hóa cấp Quốc gia từ năm 1990, là một trong số ít ngôi chùa có lịch sử ra đời
vào loại sớm nhất ở Thanh Hóa. Thời Nguyễn nơi đây thuộc xã Phủ Lý, tổng Vận
Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Vùng đất này, từ Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần
thường gọi là giáp Bối Lý.
|
Hương Nghiêm
|
|
6
|
Chùa Kênh
|
Di tích lịch sử bia Chùa Kênh (Hưng Phúc Tự) thuộc
xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn là di tích lịch sử quốc gia năm 1995. Chùa
Kênh được khởi công năm 1264, xây dựng hoàn chỉnh năm 1326. Đây là một công
trình kiến trúc độc đáo, gắn liền với một thời kỳ phát triển rực rỡ của đạo
Phật. Tấm bia đá Chùa Kênh là một công trình điêu khắc nghệ thuật, minh chứng
cho những chiến công vang dội của quân và dân Sầm Sơn - Quảng Xương, trong cuộc
kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỉ XIII.
|
Chùa Kênh
|
|
7
|
Chùa Sùng Nghiêm
Diên Thánh
|
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh nằm trên địa bàn làng
Duy Tinh, xã Thuần Lộc (trước đó là xã Văn Lộc). Chùa được xây dựng từ thời
Lý và được Bộ Văn hóa, Thể thao xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc
gia năm 1990.
|
Sùng Nghiêm
|
|
8
|
Chùa Tường Vân
|
Chùa Tường Vân hay còn gọi là chùa Giáng thuộc
khu phố 3, thị trấn Vĩnh Lộc. Hơn 600 năm tồn tại, gắn bó với vùng đất từng
là kinh đô nước Đại Ngu, vương triều nhà Hồ (1400 - 1407), chùa Tường Vân là
một trong những công trình kiến trúc quan trọng có giá trị nổi bật về ý nghĩa
văn hóa cũng như lịch sử. Khi xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly đã cho làm một con
đường từ cửa Nam tới chùa Tường Vân, đàn Nam Giao (đường Hoa Nhai hay đường
Hoàng Gia) để các thân vương, quý tộc đến chùa lễ Phật cầu phúc cho chúng
sinh, vì vậy chùa Tường Vân được coi là ngôi chùa quốc tự của vương triều Hồ.
Được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2009.
|
Tường Vân
|
|
9
|
Chùa Vích
|
Chùa Vích thuộc xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa
được xếp hạng di tích cách mạng cấp tỉnh 1994, di tích kiến trúc nghệ thuật quốc
gia năm 2008.
|
Chùa Vích
|
|
10
|
Đền Am Tiên
|
Đền Am Tiên là một ngôi đền nằm ở núi Nưa, phố Cổ
Định, thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cao 585 m so với mực nước
biển. Ngôi đền thuộc quần thể di tích lịch sử Quốc gia Am Tiên, trong đó bao
gồm núi Nưa, Đền Nưa và Am Tiên, có tổng diện tích 100 ha. Nơi này là nơi khởi
điểm dấy binh của Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng với anh trai là Triệu Quốc
Đạt khởi nghĩa chống Đông Ngô. Vào ngày 27 tháng 3 năm 2009, quần thể di tích
lịch sử Quốc gia Am Tiên đã được nhà nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc
gia. Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến.
|
Am Tiên
|
|
11
|
Đền An Lạc
|
Di tích lịch sử Đền An Lạc thuộc xã Hoằng Hải,
huyện Hoằng Hóa, đây là nơi thờ vị Khai quốc công thần Lê Lai “Suy trung đồng
đức, hiệp mưu, Bảo chính Lũng Nhai công thần” và các vị công thần thuộc dòng
tộc của Lê Lai như: Hiệp Quận công Lê Lạn (em của Lê Lai); 3 người con Lê Lai
(Thiếu úy Lê Lư, Thái bảo Lê Lộ, Thái úy Trung quốc công Lê Lâm) và Tể tướng
Lê Niệm (con Lê Lâm, cháu Lê Lai). Di tích đã được xếp hạng quốc gia năm
2001.
|
An Lạc
|
|
12
|
Đền Cây Vải
|
Đền Cây Vải thuộc Khu di tích lịch sử và thắng cảnh
Bỉm Sơn (bao gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng, đình làng Gạo, đồi Ông, đền
Sòng Sơn - Chín Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh Chim). Di tích hiện nay thuộc
phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tương truyền, đền thờ một người phụ nữ (gọi
là bà Giếng) - được giao nhiệm vụ mở quán hàng ở gốc vải to để làm nhiệm vụ cảnh
giới cho quân của Quang Trung khi đánh quân Thanh. Đền Cây Vải được xếp hạng
là di tích quốc gia năm 1993.
|
Cây Vải
|
|
13
|
Đền Đàm Lê
|
Đền Đàm Lê thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố
Thanh Hóa, di tích thờ Thái tổ Cao Hoàng đế và các Quận công họ Đàm. Kiến
trúc di tích hình chữ Nhị gồm Tiền đường và Hậu cung. Hai bên Tiền đường là nhà
Tả vu và Hữu vu. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993.
|
Đàm Lê
|
|
14
|
Đền Hổ Bái
|
Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Hổ Bái thuộc xã
Yên Bái, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ vị Lạc Hầu thời
Hùng Vương dựng nước trong lịch sử Việt Nam. Đây là một di tích có giá trị
nghiên cứu khoa học và giáo dục ý thức về cội nguồn dân tộc một cách sâu sắc.
Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993.
|
Hổ Bái
|
|
15
|
Đền Thanh Xuyên
|
Đền Thanh Xuyên thuộc xã Hải Thanh, huyện Tĩnh
Gia, nay là thị xã Nghi Sơn. Đền Thanh Xuyên thuộc cụm di tích kiến trúc nghệ
thuật và thắng cảnh Lạch Bạng (Đền Lạch Bạng, Thanh Xuyên, Du Xuyên và chùa
Đót Tiên), là nơi thờ Thần hoàng - Người họ Nguyễn có công lập làng, lập ấp.
Sự tích của Thần hoàng Thanh Xuyên được ghi lại trong tấm bia dựng ở đền. Di
tích được xếp hạng quốc gia năm 1990.
|
Thanh Xuyên
|
|
16
|
Đền thờ Đề Lĩnh
|
Đền thờ Đề Lĩnh thuộc thôn Trung, xã Lương Niệm,
phủ Quảng Xương, nay là tổ dân phố Khanh Tiến, phường Trung Sơn, thành phố Sầm
Sơn. Ngôi đền nằm trên gò đất cao, rìa làng thờ thần Hoàng làng Lương Trung:
Đường Công Quang Lộc, dân trong vùng thường gọi là Đề Lĩnh, ông là người làng
Bồng Báo thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Đền thờ
Đề Lĩnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử quốc
gia năm 1993.
|
Đề Lĩnh
|
|
17
|
Đền thờ Tây Phương
Đại tướng quân
|
Đền thờ Tây phương Đại tướng quân (còn có tên gọi
là đền Cá Lập) thuộc xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn (nay là phường Quảng Tiến,
thành phố Sầm Sơn). Cá Lập là tên đền và cũng là tên làng. Ngoài ra còn có
tên gọi là làng Trấp, đền thờ một vị tướng làm Thành Hoàng - Trần Đức và mười
vị phúc thần khác, các vị đều là người có công với dân với nước, khi chết được
làm thần. Để tưởng nhớ công lao to lớn của tướng quân Trần Đức, các triều đại
phong kiến Việt Nam truy phong ngài là: Tây phương Đại tướng quân và cho lập
đền thờ ông ngay tại quê nhà - thôn Cá Lập. Di tích được xếp hạng là di tích
lịch sử quốc gia năm 1999.
|
Tây Phương
|
|
18
|
Đình Phương Chính
|
Đình Phương Chính thuộc phường Đông Lĩnh thành phố
Thanh Hóa, đình thờ Thành Hoàng làng. Kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thế
kỷ XVIII có cấu trúc 2 tầng 8 mái, mỗi góc 4 cột bố trí đều nhau trên mặt bằng
hình vuông. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993.
|
Phương Chính
|
|
19
|
Đình Sét
|
Di tích kiến trúc Đình làng Sét thuộc xã Định Hải,
huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ Đức Thành Hoàng là ông họ
Trương gồm: Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ, Trương Đình Chinh có công phò
vua Lê và chúa Trịnh Kiểm (1545-1569), Trịnh Tùng (1570-1623). Ngoài ra các
ông còn có công giúp làng mở mang khai hóa thành lập làng. Di tích được xếp hạng
quốc gia năm 1995.
|
Đình Sét
|
|
20
|
Đình Thượng
|
Đình Thượng thuộc Cụm di tích nghệ thuật và thắng
cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), đình nằm trên địa bàn phường An Hưng,
thành phố Thanh Hóa. Đình là nơi thờ Thành Hoàng - Ông tổ nghề đục đá của
làng An Hoạch. Đình Thượng cấu trúc theo kiểu chữ Đinh gồm Tiền đình và Hậu
cung. Sân đình được bài trí tượng Võ sĩ, tượng quan hầu, voi đá, ngựa đá và
hương án đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992.
|
Đình Thượng
|
|
21
|
Đình Trung
|
Đình Trung nằm trên địa bàn xã Hà Yên (nay là xã
Yên Dương), huyện Hà Trung. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVII theo kiến trúc
truyền thống và là một trong những di tích khá nguyên vẹn về kiến trúc điêu
khắc. Đình làng thờ Thành Hoàng làng Tô Hiến Thành và là nơi lưu giữ những
giá trị văn hóa lâu đời của người dân địa phương. Hằng năm vào ngày 17, 18
tháng giêng Âm lịch, Nhân dân trong làng tổ chức lễ hội truyền thống để tỏ
lòng thành kính với vị Thành Hoàng làng. Năm 2004, đình làng Đình Trung được
xếp hạng Di tích cấp Quốc gia.
|
Đình Trung
|
|
22
|
Đông Đoài
|
Đông Đoài thuộc xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, đây
là nơi thờ 3 vị thần là: Du Dịch Đại vương, Càn Thiên công chúa và Chiêu Nghi
công chúa (tên thật của bà là Mai Thị Ngọc Tiến). Di tích được xếp hạng quốc
gia năm 1994.
|
Đông Đoài
|
|
23
|
Đồng Ngầm
|
Đồng Ngầm thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di chỉ
khảo cổ học nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc làng Nhuận Thạch).
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện và đào thám sát năm 1975, từ cuối năm 1979
- 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn hóa
phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng
Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá
và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng
Ngầm (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di
tích quốc gia năm 1993.
|
Đồng Ngầm
|
|
24
|
Đồng Vưng
|
Đồng Vưng thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di
chỉ khảo cổ học Đồng Vưng nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc
làng Nhuận Thạch). Di chỉ được phát hiện, đào thám sát năm 1975, từ cuối năm
1979 - 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn
hóa phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng
Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá
và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng
Vưng (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di
tích quốc gia năm 1993.
|
Đồng Vưng
|
|
25
|
Đường Thiên Lý
|
Đường Thiên Lý thuộc phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn,
thuộc khu di tích và thắng cảnh quốc gia Bỉm Sơn. Đường Thiên Lý nối giữa
Ninh Bình và Thanh Hóa đi qua đèo Ba Dội và động Cửa Buồng, ranh giới giữa
hai miền Bắc và miền Trung. Di tích đường Thiên Lý thuộc quần thể phòng tuyến
Tam Điệp, con đường Thiên Lý quanh co uốn lượn qua bãi lau lách, hai bên đường
là dãy núi đá sừng sững gợi lại những hình ảnh sống động và bước đường hành
quân thần tốc của những người anh hùng áo vải Tây Sơn.
|
Thiên Lý
|
|
26
|
Hang chùa Quan
Thánh
|
Hang Chùa Quan Thánh thuộc cụm di tích nghệ thuật
và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), di tích nằm trên địa bàn phường
An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Chùa do Lê Đình Truyền người sở tại dựng vào
năm Hoằng Định thứ 10 (1610), Trấn thủ Thanh Hóa là Nguyễn Trung Nghĩa tu bổ.
Kiến trúc chùa nằm trong lòng hang. Nơi đây thờ tượng Quan Vũ, Chu Xương đời
Hán Trung Quốc. Trong chùa có hệ thống các bia đá và các pho tượng khắc trên
vách đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992.
|
Quan Thánh
|
|
27
|
Hang Treo
|
Hang Treo là tên gọi hang đá thuộc xã Thành Tâm,
huyện Thạch Thành, nơi thành lập Đội du kích Ngọc Trạo - Tiền thân của lực lượng
vũ trang Thanh Hóa. Hiện nay, Hang Treo là một di tích thuộc cụm di tích Chiến
khu Ngọc Trạo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch
sử quốc gia năm 1994.
|
Hang Treo
|
|
28
|
Lăng Hoàng Khảo
|
Lăng Hoàng Khảo thuộc làng Trung Lập, xã Xuân Lập,
huyện Thọ Xuân, đây là nơi Đức Hoàng Khảo nhà Tiền Lê yên nghỉ. Ngài họ Lê,
húy Mịch là thân phụ Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Lăng được tôn tạo lại có
diện tích 250m2, mộ được xây bằng đá nguyên khối, tường bao chạm
hoa chanh, trụ gắn hoa sen, lưỡng hổ chầu uy nghiêm. Đây cũng là một trong
các địa điểm của quần thể di tích Lê Hoàn đã được xếp hạng di tích quốc gia
năm 1990.
|
Hoàng Khảo
|
|
29
|
Lăng Quốc Mẫu
|
Lăng Quốc Mẫu thuộc làng Yên Năng, xã Phú Yên
(nay là xã Xuân Phú), huyện Thọ Xuân, là nơi Hoàng Thái hậu nhà Tiền Lê yên
nghỉ - Người họ Đặng, húy Sen là thân mẫu Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Khu
lăng mộ được tôn tạo lại trong khuôn viên cũ với tổng diện tích 1.714,3m2.
Mộ Hoàng Thái hậu được làm bằng đá nguyên khối có tường bao quanh, chạm khắc
hoa chanh với nghê chầu, hổ phục, hoa sen hàm tiếu. Di tích đã được xếp hạng
cấp quốc gia năm 1990.
|
Quốc Mẫu
|
|
30
|
Nghè Vẹt
|
Nghè Vẹt thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. Nghè
Vẹt là nơi thờ 10 đời chúa Trịnh, gồm: Trịnh Khanh Vương Trịnh Kiểm, Bình An
Vương Trịnh Tùng, Thành Đô Vương Trịnh Tráng, Tây Đô Vương Trịnh Tạc, Bình
Vương Trịnh Căn, An Đô Vương Trịnh Cương, Uy Nam Vương Trịnh Giang, Minh Đô
Vương Trịnh Doanh, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, Đoan Đô Vương Trịnh Khải. Di tích
có kiểu kiến trúc thế kỷ XVII, hình “chuôi vồ”. Nghè Vẹt được xếp hạng di
tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1995.
|
Nghè Vẹt
|
|
31
|
Núi Bạch Thạch
|
Núi Bạch Thạch hay còn gọi là Núi Chiểu, xã Đông
Tiến, huyện Đông Sơn, là ngọn núi đá đẹp nổi tiếng xứ Thanh. Theo sử sách ghi
lại Núi Bạch Thạch có đền thờ Tướng quân Thiều Thốn - một tướng giỏi thời nhà
Trần. Núi Bạch Thạch (thuộc khu di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được
xếp hạng di tích quốc gia năm 1993.
|
Bạch Thạch
|
|
32
|
Núi Nấp
|
Di tích Núi Nấp, địa điểm thanh niên xung phong
thuộc xã Đông Hưng, thành phố Thanh Hóa. Trong lịch sử, Núi Nấp là địa điểm
trọng yếu của con đường vận chuyển hàng hóa, đạn dược chi viện cho tuyến miền
Nam. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận bắn phá ác liệt trong cuộc chiến
tranh phá hoại của Mỹ. Tại đây ngày 11/5/1967, 13 cô gái thanh niên xung
phong cùng với 4 công nhân đường sắt hy sinh tại chỗ, 27 nam, nữ thanh niên
xung phong khác bị thương do trận dội bom của Mỹ lên Núi Nấp. Di tích được xếp
hạng là di tích cấp quốc gia năm 1995.
|
Núi Nấp
|
|
33
|
Thạch Tuyền
|
Thạch Tuyền thuộc di tích nghệ thuật Đền Trung - đền
Đông Đoài - chùa Thạch Tuyền, thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, là
ngôi chùa cổ được xây dựng vào năm Cảnh Hưng (1740-1786) trùng tu năm 1936.
Trong chùa còn lưu giữ 10 pho tượng Phật cổ có cùng thời gian dựng chùa. Chùa
Thạch Tuyền, đền Trung, đền Đông Đoài đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
công nhận là di tích quốc gia năm 1994.
|
Thạch Tuyền
|
|
34
|
Từ đường Phúc
Quang
|
Di tích lịch sử Từ đường Phúc Quang thuộc xã Định
Hòa, huyện Thiệu Yên. Từ đường Phúc Quang là nơi thờ các vị Tổ họ Ngô Đồng
Phang và các vị khai quốc công thần triều Lê là Ngô Kinh và Ngô Từ. Di tích
được xếp hạng quốc gia năm 1995 và được cấp đổi năm 2016.
|
Phúc Quang
|
|
35
|
Vườn Trầu
|
Vườn Trầu thuộc Cụm di tích cách mạng Xuân Minh,
huyện Thọ Xuân, là khu vườn mà các Đảng viên Tân Việt Xuân Minh tổ chức làm
kinh tế (như trồng trầu và nuôi gà). Đồng thời ở đó có một cuộc gặp quan trọng
của các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ Thanh Hóa họp để kiểm điểm tình hình và cử
đồng chí Nguyễn Xuân Thúy đi Nghệ An để nhận chỉ thị của xứ ủy để chuẩn bị
cho cuộc đấu tranh ủng hộ Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Vườn Trầu cũng là điểm liên lạc
bắt mối của nhiều cán bộ cách mạng. Di tích được xếp hạng lịch sử cách mạng
quốc gia năm 1993.
|
Vườn Trầu
|
2. Tên danh lam thắng cảnh có
giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa: 18 danh lam thắng cảnh
|
STT
|
Tên danh lam thắng cảnh
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
|
1
|
Chùa Am Các
|
Chùa Am Các: Tên một
ngôi chùa, thuộc xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm
2013. Chùa tọa lạc trên núi Các, dân địa phương nhiều người gọi là “Cát”, bởi
cát, đất và đá trên núi quyện với nhau, khiến địa hình và khí hậu nơi đây rất
thích hợp phát triển rừng, với hàng trăm hec-ta xanh tốt rừng tái sinh còn được
bảo vệ. Chùa phong cảnh hữu tình, phía chân đền là hồ Hao Hao, phía trước là
đảo Nghi Sơn. Đây là điểm di tích danh thắng thu hút đông đảo Nhân dân và du
khách thập phương đến thăm quan.
|
Am Các
|
|
2
|
Danh thắng Hàn Sơn
|
Di tích đền Hàn Sơn là
tên một quần thể di tích nổi tiếng, có ảnh hưởng tín ngưỡng rộng, được Nhân
dân trong và ngoài tỉnh biết đến, hiện Hàn Sơn nằm trên địa bàn xã Hà Sơn,
huyện Hà Trung - di tích đền Hàn Sơn được xếp hạng Di tích cấp tỉnh.
|
Hàn Sơn
|
|
Danh thắng Hàn Sơn[213], là danh thắng nổi tiếng,
thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, là một trong năm điểm di tích thuộc cụm di
tích thắng cảnh Phong Mục đã được công nhận di tích cấp tỉnh. Nơi đây được ví
như chốn “Bồng lai tiên cảnh”, thiên nhiên hùng vĩ, sông núi hữu tình hoa
thơm trái ngọt. Đây là địa danh được nhiều người biết đến.
|
|
3
|
Đình Làng Hồ
|
Công trình kiến trúc
nghệ thuật Đình Làng Hồ thuộc xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh
theo Quyết định số 3987/QĐ-UBND ngày 12/11/2013.
|
Làng Hồ
|
|
4
|
Động An Khương
|
Động An Khương thuộc xã
Yên Khương, huyện Lang Chánh, tên có từ thời Lê, thời Nguyễn thuộc tổng Yên
Thọ, châu Lương Chính.
|
An Khương
|
|
5
|
Động Cửa Buồng
|
Động Cửa Buồng thuộc Khu
di tích lịch sử và thắng cảnh Bỉm Sơn (bao gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng,
đình làng Gạo, đồi Ông, đền Sòng Sơn - Chín Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh
Chim). Động Cửa Buồng thuộc địa phận phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Quần thể
di tích danh thắng động Cửa Buồng gồm núi Cửa Buồng, động Đào Nguyên và đường
Thiên Lý, nằm giữa núi Tượng Sơn và Điểu Sơn. Đây là địa điểm nhiều danh nhân
đã từng đặt chân đến và để lại dấu ấn của mình như Nguyễn Trãi, Hải Thượng
Lãn Ông... Động Cửa Buồng được xếp hạng là thắng cảnh quốc gia năm 1993.
|
Cửa Buồng
|
|
6
|
Động Phủ Thông
|
Khu di tích danh lam thắng
cảnh: Chùa Tiên, hồ Đồng Vụa, động Phủ Thông thuộc xã Nga An, huyện Nga Sơn,
đây là một quần thể thắng cảnh nổi tiếng ở xứ Thanh.
Động Phủ Thông là một hang
động trong một quả núi sót đứng độc lập; bên trong động, Nhân dân đã đưa hệ
thống thờ mẫu vào thờ. Di tích được xếp hạng là danh lam thắng cảnh quốc gia
năm 2002.
|
Phủ Thông
|
|
7
|
Hồ Cánh Chim
|
Hồ Cánh Chim thuộc khu
di tích lịch sử và thắng cảnh Bỉm Sơn (bao gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng,
đình làng Gạo, đồi Ông, đền Sòng Sơn - Chín Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh
Chim). Hồ Cánh Chim thuộc phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Sở dĩ có tên gọi là
hồ Cánh Chim bởi vì khi đứng trên đèo Ba Dội nhìn xuống thì hồ mang hình dáng
cánh chim bay vút lên cao. Hồ Cánh Chim mang trong mình nét đẹp hoang sơ, thơ
mộng. Hồ Cánh Chim được xếp hạng là thắng cảnh cấp quốc gia năm 1993.
|
Cánh Chim
|
|
8
|
Hồ Hao Hao
|
Hồ Hao Hao thuộc thị xã
Nghi Sơn, tên một hồ nước lớn nằm dưới chân núi Am Các, có trữ lượng nước lớn
quanh năm không bao giờ cạn; đây là địa điểm dẫn lên chùa Am Các; hồ Hao Hao
cùng với di tích Am Các và những làng Việt cổ dưới chân núi đã tạo nên một quần
thể danh lam thắng cảnh đẹp ở vùng đất phía Nam tỉnh Thanh Hóa. Quần thể di
tích địa điểm chùa Am Các, núi Am Các, hồ Hao Hao đã được Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tại
Quyết định số 1533/QĐ-UBND ngày 27/4/2018.
|
Hao Hao
|
|
9
|
Hòn Vọng Phu
|
Thắng cảnh Hòn Vọng Phu
thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi),
núi nằm trên địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Núi là một khối đá
giống hình một người phụ nữ đang bồng con trông ra biển. Hòn Vọng Phu còn có
tên là Vọng phu thạch. Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 46 (1785), Mãn Quận công
Lê Trung Nghĩa đã cho tu sửa. Niên hiệu Thành Thái (1890), Tổng đốc Thanh Hóa
Hà Đình Nguyễn Thuật đã cho khắc 4 chữ Hán lên thân của khối đá với nội dung
Kiệt nhiên trung trĩ. Núi Vọng Phu được xếp hạng thắng cảnh quốc gia năm
1992.
|
Vọng Phu
|
|
10
|
Núi Bàn A
|
Núi Bàn A thuộc phường
Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa. Một di tích văn hóa danh thắng đặc biệt nổi
tiếng khắp các miền trong cả nước đã được sử sách cũ ghi chép, ca ngợi. Danh
thắng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch) công nhận là di tích thắng cảnh cấp tỉnh năm 1989 và được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích thắng cảnh cấp tỉnh năm
2011.
|
Bàn A
|
|
11
|
Núi Đào Sơn
|
Núi Đào Sơn thuộc xã
Đông Tiến, huyện Đông Sơn, là ngọn núi đá đẹp nổi tiếng xứ Thanh. Trên đỉnh
ngọn núi Đào Sơn có lăng mộ của cụ Thiều Kim Tinh, tương truyền gọi là Phát
Tích Lăng, là Thủy tổ của họ Thiều ở tỉnh Thanh Hóa. Dưới chân núi có mộ tướng
quân Thiều Thốn và vợ của ông là công chúa Trần Thị Chiêu. Đào Sơn (thuộc khu
di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng quốc gia năm 1993.
|
Đào Sơn
|
|
12
|
Núi Đồi Ông
|
Núi Đồi Ông thuộc phường
Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, thuộc khu di tích lịch sử và thắng cảnh Bỉm Sơn (bao
gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng, đình làng Gạo, đồi Ông, đền Sòng Sơn - Chín
Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh Chim). Núi Đồi Ông là một trong 3 ngọn núi gồm
đồi Ông Đùng, gò Bia và núi Đồi Ông. Tương truyền 3 ngọn núi là nơi quân Tây
Sơn sử dụng làm nơi huấn luyện pháo binh. Núi Đồi Ông là nơi đặt bản doanh của
tướng quân Đại tư đồ Ngô Văn Sở khi rút quân từ Thăng Long về đây. Ông là một
võ tướng tài cao, đức trọng, có công lớn giúp vua Quang Trung - Nguyễn Huệ chống
quân Thanh. Khi ông mất Nhân dân nơi đây lập một am miếu thờ ông trên sườn đồi
để tưởng nhớ ân huệ của ông. Núi Đồi Ông được xếp hạng là danh thắng quốc gia
năm 1993.
|
Đồi Ông
|
|
13
|
Núi Gai
|
Núi Gai (còn gọi là Tượng
Sơn) thuộc huyện Hậu Lộc. Núi trải dài 1km, hướng Tây - Đông, là ranh giới giữa
các xã Triệu Lộc, Tiến Lộc (Hậu Lộc) với xã Hoằng Trung, Hoằng Trinh (Hoằng
Hóa). Núi gai là ngọn núi có di tích đền thờ Bà Triệu - Di tích quốc gia đặc
biệt.
|
Núi Gai; Tượng Sơn
|
|
14
|
Núi Ngưỡng Sơn
|
Núi Ngưỡng Sơn thuộc xã
Hà Ngọc, huyện Hà Trung, đây là danh thắng nổi tiếng trong cả nước gắn liền với
ngôi chùa nổi tiếng thời Lý là chùa Linh Xứng. Thắng cảnh núi Ngưỡng Sơn và địa
điểm chùa Linh Xứng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa công nhận di
tích lịch sử văn hóa - thắng cảnh cấp tỉnh tại Quyết định số 166/QĐ-UBND ngày
12/01/2006.
|
Ngưỡng Sơn
|
|
15
|
Núi Tùng Sơn
|
Núi Tùng Sơn thuộc huyện
Hậu Lộc, là dãy đồi núi dài hơn 2 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Tương truyền, đây là nơi Bà Triệu anh dũng hy sinh. Trên đỉnh núi có lăng mộ
Bà Triệu, chân núi có mộ 3 ông tướng họ Lý. Di tích đã được xếp hạng là di
tích quốc gia đặc biệt.
|
Tùng Sơn
|
|
16
|
Núi Tượng Sơn
|
Núi Tượng Sơn thuộc xã Hà
Tiến, huyện Hà Trung, đây là quần thể núi gồm 7 ngọn núi và các thung lũng
liên kết với nhau trong một không gian rộng 112 ha tạo thành hình thế một đôi
voi phục. Danh thắng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng di tích thắng
cảnh cấp tỉnh năm 2010.
|
Tượng Sơn
|
|
17
|
Quần thể Động Trường Lâm
|
Quần thể Động Trường
Lâm thuộc xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, là quần thể danh lam thắng cảnh được
tạo bởi hang động tự nhiên trong dãy núi đá, nằm ở phía cực Nam của tỉnh
Thanh Hóa và tiếp giáp với huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Quần thể động Trường
Lâm được ví như là “Bồng lai tiên cảnh” gồm có: Động Ngọc Hoàng, động Tiên và
núi Ngọc Nữ. Vẻ đẹp của danh thắng là do thiên nhiên tạo ra. Quần thể động
Trường Lâm được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích danh lam thắng cảnh tại Quyết định
số 287/VHQĐ ngày 15/11/1993 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cấp
bằng xếp hạng di tích thắng cảnh cấp tỉnh tại Quyết định số 2329/QĐ-UBND ngày
19/7/2011.
|
Trường Lâm
|
|
18
|
Thác Hón Lối
|
Thác Hón Lối thuộc xã
Giao Thiện, huyện Lang Chánh. Đây là thác tự nhiên, khu vực thác Hón Lối chủ
yếu là rừng nguyên sinh với các thảm thực vật, động vật phong phú. Đây chính là
một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn bởi khung cảnh sơn thủy hữu tình, khí
hậu trong lành, mát mẻ quanh năm. Thác Hón Lối được công nhận di tích danh
lam thắng cảnh cấp tỉnh năm 2019.
|
Hón Lối
|
IV. TÊN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG
(Sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm Iược có giá trị tiêu biểu của tỉnh
Thanh Hóa): 20 phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược.
|
STT
|
Tên sự kiện
|
Tóm tắt lý lịch
|
Tên dùng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Ba mươi tháng tám
(30/8)
|
Ngày 30 tháng 8 năm 1948 là ngày thành lập chi bộ
Như Xuân tại nhà đồng chí Đỗ Kế Sức (nay thuộc thị trấn Bến Sung) do đồng chí
Lê Đình Sằn, Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách miền Tây về dự và chỉ đạo, đồng chí
Nguyễn Xuân Liêm được chỉ định làm Bí thư.
|
Ba mươi tháng tám
(30/8)
|
|
|
2
|
Chi bộ Cố Gắng
|
Chi bộ Cố Gắng: Ngày 02/9/1947, ngày thành lập
Chi bộ Cộng sản đầu tiên - tiền thân của Đảng bộ thành phố Sầm Sơn (tại khu
phố Trung Chính, phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn) và lấy tên là Chi bộ Cố
Gắng.
|
Cố Gắng
|
|
|
3
|
Đồng Thanh
|
Đồng Thanh: Thực hiện chủ trương của Trung ương
và Quân ủy khu 4 quyết tâm bảo vệ Thanh Hóa, năm 1947, huyện ủy Đông Sơn quyết
định thành lập khu du kích Đồng Thanh gồm 4 thôn: Đại Đồng (nay là thị trấn Rừng
Thông), Thanh Oai, Viên Khê, Tuyên Hóa (nay là xã Đông Khê). Chiến khu Đồng
Thanh được hình thành là kết quả xây dựng lực lượng chiến tranh Nhân dân của
Huyện ủy Đông Sơn chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ và chi viện nơi khác nếu
cần.
|
Đồng Thanh
|
|
|
4
|
Hai mươi hai tháng
tư (22/4)
|
Ngày 22/4/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 về việc “Thành lập thị xã Nghi Sơn và các phường
thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thị xã Nghi Sơn giáp các huyện Như
Thanh, Nông Cống, Quảng Xương, tỉnh Nghệ An và biển Đông. Cùng với việc thành
lập thị xã Nghi Sơn là việc thành lập 16 phường thuộc thị xã. Như vậy, sau
khi thành lập thị xã Nghi Sơn có 31 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 phường
và 15 xã.
|
Hai mươi hai tháng
tư (22/4)
|
|
|
5
|
Hai mươi mốt tháng
tám (21/8)
|
Ngày hai mươi mốt tháng tám (21/8/1945): Là ngày
huyện Nông Cống khởi nghĩa thành công giành chính quyền, xóa bỏ hoàn toàn
chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng do ông Đặng
Văn Tường làm chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Nông Cống.
|
Hai mươi mốt tháng
tám (21/8)
|
|
|
Ngày hai mươi mốt tháng tám (21/8/1945): Ngày diễn
ra cuộc mít tinh và ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Thạch
Thành. Sau cuộc biểu tình giành chính quyền ở huyện lỵ Kim Tân đêm 18 rạng ngày
19/8/1945 thắng lợi trọn vẹn. Ngày 21/8, cuộc mít tinh lớn toàn huyện được tổ
chức tại huyện lỵ để ra mắt chính quyền mới. Tại cuộc mít tinh này, ông Nguyễn
Trí Đạo thay mặt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tuyên bố giải tán hệ thống
chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng gồm 05 thành viên do ông Nguyễn
Trí Đạo làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Thạch Thành.
|
|
6
|
Hai mươi tám tháng
ba (28/3)
|
Ngày 28/3/1950, được Tỉnh ủy Thanh Hóa ủy nhiệm,
Ban Miền Tây ra quyết định: Thành lập Đảng bộ huyện Quan Hóa. Ban Chấp hành đảng
bộ lâm thời gồm 05 đồng chí, do đồng chí Trần Đảng làm Bí thư, được giao
trách nhiệm chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất.
|
Hai mươi tám tháng
ba (28/3)
|
|
|
7
|
Hai mươi tháng tám
(20/8)
|
Ngày 20/8/1945, hàng vạn quần chúng và tự vệ
trong huyện tập trung tại sân vận động huyện chào đón Ủy ban nhân dân cách mạng
lâm thời huyện Tĩnh Gia. Đồng chí Lê Huy Tuần, Chủ tịch lâm thời huyện tuyên
bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời
huyện. Quần chúng vui mừng phấn khởi, tin tưởng đồng thanh hô vang khẩu hiệu
“Việt Nam độc lập muôn năm”, “Chính quyền cách mạng muôn năm”.
|
Hai mươi tháng tám
(20/8)
|
|
|
8
|
Mùng hai tháng một
(2/1)
|
Ngày 02-01-1946, tại nhà đồng chí Nguyễn Duy Phượng
ở làng Thái Tượng, xã Tượng Sơn (nay thuộc huyện Nông Cống), Chi bộ Cộng sản
huyện Tĩnh Gia được thành lập lại gồm 3 đồng chí: Lê Thế Sơn, Lương Đình Đạm
và Nguyễn Duy Phượng, do đồng chí Lê Thế Sơn làm Bí thư Chi bộ.
|
Mùng hai tháng một
(2/1)
|
|
|
9
|
Mùng hai tháng năm
(2/5)
|
Ngày mùng 2 tháng 5 năm 1967 là ngày ký kết hợp
tác đầu tiên giữa hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn.
|
Mùng hai tháng năm
(2/5)
|
|
|
10
|
Mùng mười tháng mười
một (10/11)
|
Mùng mười tháng mười một (10/11/1945): Ngày thành
lập Đảng bộ huyện Thạch Thành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đông chí Đặng
Văn Hỷ, Tỉnh ủy viên, Hội nghị Đảng bộ Vĩnh Thạch được triệu tập hợp tại nhà
ông Ngô Du, phố Kim Tân, xã Minh Đạo. Hội nghị đã quyết định tách Đảng bộ
Vĩnh Thạch, thành lập Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương ở Thạch Thành gồm 07 đồng
chí, làm nhiệm vụ lãnh đạo phong trào toàn diện của huyện như huyện Đảng bộ.
Đồng chí Phạm Văn Giản được chỉ định làm Bí thư Chi bộ, đồng thời làm Bí thư
Huyện ủy lâm thời. Từ đó, Đảng lãnh đạo chính quyền bằng đường lối, chủ
trương thông qua các kỳ Đại hội Đảng bộ.
|
Mùng mười tháng mười
một (10/11)
|
|
|
11
|
Mùng mười tháng
sáu (10/6)
|
Ngày mùng mười tháng sáu (10/6): Ngày thành lập
Chi bộ đảng đầu tiên huyện Yên Định.
|
Mùng mười tháng
sáu (10/6)
|
|
|
12
|
Mùng năm tháng tám
(5/8)
|
Ngày 05/8/1964, vào lúc 14h15, giặc Mỹ cho không
quân thuộc hạm đội 7 đánh phá từ Hòn Nẹ đến cửa Lạch Trường. Dân quân Ngư Lộc,
Hòa Lộc, Minh Lộc (Hậu Lộc) và Hoằng Trường (Hoằng Hóa), tự vệ Thủy sản Lạch
Trường, đồn 74 Công an nhân dân vũ trang dùng súng máy phối hợp cùng cao xạ của
tàu hải quân, súng 14.55 mm của Đại đội ra đa đánh trả, bắn rơi 2 chiếc máy
bay của địch, góp phần vào chiến thắng chung ngày 5/8/1964 của quân dân cả nước
đánh bại cuộc tấn công “Mũi tên xanh” của không quân Mỹ.
|
Mùng năm tháng tám
(5/8)
|
|
|
13
|
Mùng sáu tháng mười
hai (6/12)
|
Ngày 06-12-1930: Hội nghị thành lập Chi bộ Cộng sản
đầu tiên ở Tĩnh Gia được tiến hành tại nhà đồng chí Nguyễn Văn Giảng, thuộc
làng Hồ Thượng (nay thuộc phường Tân Dân, thị xã Nghi Sơn). Tham dự hội nghị
gồm có các đồng chí Ngô Đức Mậu, Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Trinh Thụ, Lương
Đình Đạm, Đỗ Khắc Toản, Lê Huy Tuần. Trong không khí trang nghiêm, đồng chí
Ngô Đức Mậu trình bày chủ trương thành lập Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ, tuyên bố
kết nạp 5 đồng chí có mặt trong hội nghị vào Đảng và tuyên bố thành lập Chi bộ
Cộng sản đầu tiên của Tĩnh Gia, do đồng chí Nguyễn Văn Giảng làm Bí thư Chi bộ.
|
Mùng sáu tháng mười
hai (6/12)
|
|
|
14
|
Mùng tám tháng năm
(8/5)[214]
|
Ngày 08-5 (dương lịch) hằng năm là ngày kỷ niệm
Danh xưng Thanh Hóa. Theo Nghị quyết số 112/NQ-HĐND ngày 11/7/2018 của Hội đồng
nhân dân tỉnh Thanh Hóa khóa XVII, tại kỳ họp thứ 6 về ngày kỷ niệm Danh xưng
Thanh Hóa.
|
Mùng tám tháng năm
(8/5)
|
|
|
15
|
Mười chín tháng
chín (19/9)
|
Mười chín tháng chín (19/9): Ngày thành lập đội
du kích Ngọc Trạo. Ngày 19/9/1941, tại Hang Treo một địa điểm của căn cứ Ngọc
Trạo, thay mặt Tỉnh ủy, Ban lãnh đạo chiến khu Ngọc Trạo đã thành lập Đội Du
kích Ngọc Trạo. Đây là đội du kích vũ trang thoát ly đầu tiên của Chiến khu
Ngọc Trạo. Đội du kích gồm 21 chiến sỹ ưu tú tiền thân của lực lượng vũ trang
Thanh Hóa sau này. Tại đây, lần đầu tiên xuất hiện cờ đỏ sao vàng. Đây là một
trong những lực lượng du kích thoát ly tập trung được thành lập sau Hội nghị
Trung ương 8/1941 của Đảng. Khi chiến khu thành lập, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy
Thanh Hóa, các cơ sở cách mạng trong tỉnh chọn lựa những người ưu tú nhất
trong đội tự vệ cử lên tham gia Chiến khu Ngọc Trạo.
|
Mười chín tháng
chín (19/9)
|
|
|
16
|
Mười hai tháng ba
(12/3)
|
Ngày 12/3/1940, Huyện ủy lâm thời Hậu Lộc được
thành lập tại thôn Trần Phú, xã Mỹ Lộc, bầu ra Bí thư và BCH lâm thời. Đây là
sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng của Hậu Lộc. Lần đầu
tiên Hậu Lộc có một tổ chức Đảng lãnh đạo thống nhất từ huyện xuống cơ sở để
đưa phong trào cách mạng trong huyện hòa nhập với phong trào chung của tỉnh.
|
Mười hai tháng ba
(12/3)
|
|
|
Ngày 12/3/1960, tại thị xã Thanh Hóa (nay là thành
phố Thanh Hóa), lễ kết nghĩa giữa hai tỉnh Thanh Hóa - Quảng Nam được long trọng
tổ chức. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, góp phần động viên, cổ vũ Đảng bộ
và Nhân dân hai tỉnh thực hiện thắng lợi đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng Việt Nam thời điểm đó là: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu
nước.
|
|
17
|
Mười lăm tháng hai
(15/02)
|
Ngày 15/02/1949, là ngày Chi bộ Cộng sản đầu tiên
- tiền thân của Đảng bộ huyện Lang Chánh ra đời. Đây là dấu mốc quan trọng
trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ và phong trào cách mạng của
đồng bào các dân tộc huyện Lang Chánh.
|
Mười lăm tháng hai
(15/02)[215]
|
Đã đặt tên đường
|
|
18
|
Mười sáu tháng tư
(16/4)
|
Ngày 16/4/1934 là ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu
tiên của huyện Vĩnh Lộc, do đồng chí Lê Văn Tân làm Bí thư, được thành lập ở
làng Xuân Áng nay là xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc do đồng chí Lê Chủ chủ trì.
|
Mười sáu tháng tư
(16/4)
|
|
|
19
|
Mười tám tháng hai
(18/2)
|
Ngày 18/2/1946: Tại nhà Hội Giảng cầu Quan, là
ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên Đảng bộ huyện Nông Cống, đồng chí Lê Thế
Nguyên (tức Trần Nguyện Đông) làm Bí thư Chi bộ, địa điểm này xây dựng tượng
đài thuộc xã Trung Chính, huyện Nông Cống.
|
Mười tám tháng hai
(18/2)
|
|
|
20
|
Ngày mùng một
tháng một (1/1)
|
Ngày 01/01/1931, một sự kiện trọng đại đã diễn ra
tại làng Hồ Thượng. Đại biểu của các cơ sở Đảng trong tỉnh đã tiến hành Hội
nghị tái thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ở nhà đồng chí Nguyễn Văn Giảng. Hội
nghị đã bầu 5 đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời. Trong đó, Chi bộ
Tĩnh Gia được bầu 2 đồng chí Ngô Đức Mậu giữ chức Bí thư tỉnh ủy và đồng chí
Nguyễn Văn Giảng là Tỉnh ủy viên.
|
Mùng một tháng một
(1/1)
|
|
V. TÊN DANH NHÂN: 220 danh
nhân
1. Danh nhân đất nước: 18
danh nhân
|
STT
|
Tên dùng
|
Quê quán
|
Tóm tắt lý lịch
|
|
1
|
Bùi Huy Bích
|
Hà Nội
|
Bùi Huy Bích (1744 - 1818) tự Hi Chương (hay Ảm Chương)
hiệu Tồn Am, quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội, làm quan triều Lê đến
chức tể tướng, ông còn là một nhà thơ, nhà biên soạn sách.
|
|
2
|
Hồ Biểu Chánh
|
Long An
|
Hồ Biểu Chánh (1885 - 1958) tên thật là Hồ Văn
Trung, quê làng Bình Thành, huyện Kiến Hòa, nay thuộc tỉnh Long An. Ông là
nhà văn lớn, có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với 64 cuốn tiểu thuyết, 12 tập
truyện ngắn, 12 vở hài kịch và 5 tập thơ...Ông đã có công lao đóng góp vào sự
hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
|
|
3
|
Lê Cố
|
Thanh Hóa
|
Lê Cố (? - ?), quê huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh
Hóa, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, có tên trong danh sách
35 vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà Lê, được phong tước Đường Quận
công.
|
|
4
|
Nguyễn Đỗ Cung
|
Hà Nội
|
Nguyễn Đỗ Cung (1912 - 1977), quê Sơn Tây nhưng
sinh ở làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ông nổi tiếng về sự nghiệp hội
họa, là viện trưởng đầu tiên Viện mỹ thuật, mỹ nghệ Việt Nam, sáng lập ra Viện
bảo tàng mỹ thuật, đồng thời cũng là một sáng lập viên Hội văn nghệ dân gian
Việt Nam.
|
|
5
|
Nguyễn Quý Đức
|
Hà Nội
|
Nguyễn Quý Đức (1647 - 1720) quê làng Đại Mỗ, huyện
Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông làm quan triều Lê,
là một nhà chính trị xuất sắc có nhiều công trạng với triều đình và đất nước.
|
|
6
|
Đoàn Nhữ Hài
|
Hải Hưng
|
Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1335), quê làng Hội Xuyên,
huyện Trường Tân, Hồng Châu nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng. Ông làm quan
dưới thời Trần, ông là một tài năng xuất sắc từ lúc còn thiếu niên, khá tiêu
biểu cho con người tri thức toàn diện của nước ta dưới thời Trần, đặc biệt
không bằng con đường khoa cử để tiến thân mà bằng thực học và bằng sự tích
lũy nhiều kiến thức, vận dụng chính xác vào thực tiễn.
|
|
7
|
Nguyễn Hành
|
Hà Tĩnh
|
Nguyễn Hành (1771 - 1824), quê làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, chính tên là Nguyễn Đạm. Ông học rộng biết nhiều,
có biệt tài về thơ, ông cùng Nguyễn Du được coi là hai trong số năm nhà thơ nổi
tiếng nhất thời bấy giờ (thường gọi là An Nam ngũ tuyệt).
|
|
8
|
Văn Ký
|
Nam Định
|
Vũ Văn Ký (Văn Ký) (1928 - 2020), quê Vụ Bản, tỉnh
Nam Định, lên 10 tuổi theo cha ở tại làng Bi Kiều, xã Trung Chính. Học hết tiểu
học, bố mất nhà nghèo, ở với chú, ngày ngày gánh hành cùng người thím đi chợ
Nưa. Tháng 10/1943 ông được đồng chí Trịnh Huy Tự giác ngộ vào Mặt Trận Việt
Minh huyện Nông Cống. Tháng 10/1944 ông bị bắt giam tại nhà tù Thanh Hóa.
Cách mạng thành công, ông được làm Trưởng Ban Tác chiến trong Ủy ban huyện
Nông Cống, ông đi học âm nhạc kháng chiến quân khu IV trở thành nhạc sĩ nổi
tiếng, được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022.
|
|
9
|
Nguyễn Bá Lân
|
Hà Nội
|
Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785), quê xã Cổ Đô, huyện
Tiên Phong nay là Cổ Để, huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Là một danh tướng
dưới triều Lê Hiến Tông, ông còn nổi tiếng là danh sĩ, được ca ngợi là một
trong bốn người giỏi ở Thăng Long (Trường An tứ hổ).
|
|
10
|
Đàm Văn Lễ
|
Bắc Ninh
|
Đàm Văn Lễ (1452 - 1505), quê làng Lãm Sơn, huyện
Quế Dương, nay thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm quan dưới triều
Lê, ông có nhiều đóng góp với văn hóa nước nhà, đồng thời ông còn là một nhà
thơ.
|
|
11
|
Dương Không Lộ
|
Thái Bình
|
Dương Không Lộ (1016 - 1094), quê làng Giao Thủy,
huyện Hải Thanh, tỉnh Thái Bình. Ông làm quan dưới triều Lý Nhân Tông và được
phong làm quốc sư, ông cũng được xem là vị tổ nghề đúc đồng.
|
|
12
|
Hoàng Ngân
|
Nam Định
|
Hoàng Ngân (1921 - 1949), quê Nam Định, tên thật là
Phạm Thị Vân là Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam đầu tiên, Đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm đầu tiên của báo Phụ nữ Việt Nam, một
trong những người đi đầu của phong trào phụ nữ Việt Nam, vợ của đồng chí
Hoàng Văn Thụ.
|
|
13
|
Lê Khả Phiêu
|
Thanh Hóa
|
Lê Khả Phiêu (1931 - 2020), quê xã Đông Khê, huyện
Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa VIII. Tháng 5/1950, ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam;
Ông đã tham gia chiến đấu và trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên các chiến trường
Bắc, Trung, Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia; tham gia các chiến
dịch lớn như: Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Tổng tiến công Tết Mậu Thân
(1968), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng hoàn toàn miền Nam (1975). Đặc biệt, ông đã có 10 năm tham gia giúp nước
bạn Campuchia đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt (1979 - 1989), giúp hồi sinh
dân tộc Campuchia. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII, ông được bầu
giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí
thư Quân ủy Quân sự Trung ương và giữ cương vị này đến Đại hội lần thứ IX của
Đảng (tháng 4/2001). Ông là đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa IX, X; được Đảng và Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng năm
1984, Trung tướng năm 1988, Thượng tướng năm 1992.
|
|
14
|
Hà Tông Quyền
|
Hà Tĩnh
|
Hà Tông Quyền (1798 - 1839), quê gốc ở Can Lộc,
Hà Tĩnh sau di cư ra làng Cát Động, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây làm quan dưới
triều Nguyễn, ông có tiếng về chính trị đồng thời ông cũng quan tâm đến văn
nôm, ông có ba tập thơ Vịnh Kiều.
|
|
15
|
Đào Công Soạn
|
Hưng Yên
|
Đào Công Soạn (1376 - 1456), quê làng Tiện Phiến,
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông làm quan triều Lê, có tài về ngoại giao
sang sứ nhà Minh nhiều lần, ông đã lần lượt phụ trách nhiều ngành công tác
trong triều.
|
|
16
|
Chu Thiên
|
Hà Nam
|
Chu Thiên (1913 - 1992) quê xã Yên Thành, huyện Ý
Yên, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà sử học, nhà văn, tinh thông cả Nho học và Tây học.
Nổi tiếng về những bộ tiểu thuyết lịch sử, trong đó phục dựng lại các biến cố,
các nhân vật lịch sử, làm sống lại nhiều phong tục tập quán của xã hội Việt
Nam truyền thống.
|
|
17
|
Bùi Viện
|
Thái Bình
|
Bùi Viện (1839 - 1878), quê làng Trình Phố, huyện
Trực Định (nay là huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), làm quan dưới thời vua Tự
Đức, là một trong những người đầu tiên xây dựng cảng Hải Phòng. Thành tựu của
ông để lại có ý nghĩa mở đầu đối với yêu cầu duy tân ở các mặt thủy quan,
thương mại hàng hải.
|
|
18
|
Ngô Thế Vinh
|
Nam Định
|
Ngô Thế Vinh (1802 - 1856), quê làng Bái Dương,
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tự là Trọng Dực, hiệu Trúc Đường, Dương Đình,
đỗ tiến sĩ 1829, làm quan triều Nguyễn, đồng thời ông còn là một nhà giáo dục
nổi tiếng nửa đầu thế kỷ XIX.
|
2. Danh nhân, nhân vật lịch sử
được suy tôn tại Thanh Hóa: 202 danh nhân
2.1. Danh nhân, nhân vật lịch
sử là người ngoài tỉnh có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa:
07 danh nhân
|
STT
|
Tên dùng
|
Quê quán
|
Tóm tắt lý lịch
|
|
1
|
Trương Văn Bang
|
Long An
|
Trương Văn Bang (1911 - 1981), quê quán làng Phước
Lại, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An). Ông nguyên Bí thư Đảng ủy Nông trường Lam Sơn (huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa); Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn,
nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.
|
|
2
|
Quách Đình Bảo
|
Thái Bình
|
Quách Đình Bảo (1434 - 1507), quê xã Phúc Khê,
huyện Thanh Lan, nay là xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đỗ
thám hoa (1463), làm quan triều Lê Thánh Tông, từ học sĩ Viện Hàn Lâm đến Thượng
thư bộ Lễ bộ Hình. Ông là anh trai Quách Hữu Nghiêm, hai anh em cùng tham gia
vịnh thơ khắc trong văn bia Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao ở Vĩnh Lăng Lam
Kinh. Ông còn là 28 vì sao sáng trên bầu trời thơ văn Đại Việt lúc đó như: Lê
Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm,
Lương Thế Vinh, Lê Hoằng Dục, Nguyễn Đình Mỹ... cho ra đời nhiều tập thơ: Hồng
Đức quốc âm thi tập, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Xuân văn thi tập...
ông là một thành viên tích cực của Tao đàn. Năm 1484, Lê Thánh Tông sai ông
ghi chép họ tên thứ bậc các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo năm thứ 3
(1442) triều Lê Thái Tông đến khoa Giáp Thìn Hồng Đức năm thứ 15 (1484), tổng
cộng 10 khoa, để bộ Công khởi công dựng bia Tiến sĩ (trong đó ghi chép rất
nhiều những danh sĩ người Thanh Hóa).
|
|
3
|
Nguyễn Sỹ Dũng
|
Bình Định
|
Nguyễn Sỹ Dũng (? - ?), quê Bình Định. Theo gia
phả dòng họ Nguyễn Sỹ ở làng Lộc Trung, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn,
Nguyễn Sỹ Dũng tên thật là Vũ Văn Dũng; quê làng Phù Mỹ, xã Bình Phú, huyện
Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông là hổ tướng số một trong 7 vị tướng tài của Vua
Quang Trung Nguyễn Huệ trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhà Thanh cuối
thế kỷ XVIII. Ông đã từng giữ chức Đại Tư Khấu, rồi Đại Tư Đồ dưới triều vua
Nguyễn Quang Toản (con Quang Trung) và là người có nhiều công lao trong việc
trấn thủ Bắc Thành (Hà Nội), chỉ huy nhiều trận đánh lớn chống thế lực thù địch
ở đàng trong của Nguyễn Ánh thời bấy giờ, nổi nhất là trận Thị Nại năm 1800 -
1801.
Sau khi vua Quang Trung mất, để tránh sự truy sát
của Nguyễn Ánh, ông đã đưa gia đình chạy ra vùng đất Lộc Trung, Thanh Hóa
(nay thuộc phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn) ẩn dật và đổi tên thành Nguyễn
Sỹ Dũng. Để tưởng nhớ công lao của Đô đốc Nguyễn Sỹ Dũng, Nhân dân làng Lộc
Trung lập đền thờ ông ở gần cửa Lạch Hới, phường Quảng Tiến ngày nay. Đền thờ
Nguyễn Sỹ Dũng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh tại
Quyết định số 164/VHQĐ ngày 25/9/1993 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số
4190/QĐ-UBND ngày 14/12/2011.
|
|
4
|
Lý Nhật Quang
|
Ninh Bình
|
Lý Nhật Quang (995 - 1057), quê tỉnh Ninh Bình,
là hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Vào nửa đầu thế kỷ XI, vua Lý đã cử ông
vào trấn ải phương Nam, ông thay mặt triều đình cai quản phía nam, để ổn định
xã hội và bảo vệ vùng phên dậu Đại Việt. Ông đã có công tổ chức và xây dựng
được vùng căn cứ hậu cần vững chắc dọc tuyến sông Bà Hòa (sông Lạch Bạng) và
dựng trại Bà Hòa (xã Trường Lâm) để dựng trại tập kết quân đội, cất giữ lương
thực, giúp vua Lý Thái Tông đánh thắng Chiêm Thành.
|
|
5
|
Đinh Đức Thiện
|
Nam Định
|
Thượng tướng Đinh Đức Thiện (? - ?), quê Nam Định,
ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ
trách công tác hậu cần kỹ thuật và vận tải thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Ông từng về huyện Thạch Thành và đã giúp huyện 03 máy phát điện phục vụ hoạt
động của cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện.
|
|
6
|
Vũ Xuân Thiều
|
Nam Định
|
Vũ Xuân Thiều (1945 - 1972), quê gốc ở huyện Hải
Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa học tập và huấn
luyện bay ở Liên Xô (trước đây), phi công Vũ Xuân Thiều trở về nước và được
biên chế về Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (E921). Tháng 12/1972, khi Mỹ mở rộng
cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào thành phố Hà Nội và
Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B-52. Đêm 28/12/1972,
Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay quân sự Cẩm Thủy (Thanh Hóa) bay đến vùng
trời Sơn La thì gặp máy bay B-52 của Mỹ đang đánh vào Hà Nội. Vũ Xuân Thiều tấn
công, máy bay B-52 của địch bốc cháy, vì ở cự ly quá gần anh đã hy sinh cùng
lúc lập chiến công. Tháng 12/1994, ông đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang Nhân dân.
|
|
7
|
Hoàng Kế Viêm
|
Quảng Bình
|
Hoàng Kế Viêm (1820 - 1909), quê làng Văn La, huyện
Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, ông làm quan cuối triều Nguyễn, là vị quan xuất
sắc về mặt võ, có công dẹp yên được một số vụ rối loạn ở Bắc Kỳ. Năm 1854 ông
được cử làm Bố chính Thanh Hóa. Ông còn quan tâm đến kinh tế như đào kênh thiết
cảng ở Nghệ An, khai khẩn đất hoang ở quê nhà.
|
2.2. Danh nhân, nhân vật lịch
sử Thanh Hóa: 163 danh nhân
|
STT
|
Tên dùng
|
Quê quán
|
Tóm tắt lý lịch
|
|
1
|
Hoằng Bát
|
Hoằng Hóa
|
Hoằng Bát (1198-?), quê
làng Thanh Nga, xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, có công cung cấp lương thực giúp
vua Trần Thái Tông đi đánh Chiêm Thành năm 1251, được vua ban tước Thực Lộc hầu.
|
|
2
|
Lê Biện
|
Thiệu Hóa
|
Lê Biện (1586 - ?) quê
Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay là thôn 4, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa). Năm 46
tuổi, ông đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi, niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631) đời vua
Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Lại khoa Đô cấp sự trung, tước Cẩm Nham tử.
|
|
3
|
Lang Văn Bôn
|
Như Thanh
|
Lang Văn Bôn (? - ?),
quê xã Thanh Kỳ, huyện Như Thanh, là người dân tộc Thái, người đất Kỳ Thượng.
Ông là thủ lĩnh quân sự có công xây dựng căn cứ Kỳ Thượng, sau này hợp nhất với
nghĩa quân của Tú Phương ở căn cứ Hương Trì tạo thành một căn cứ Ổn Lâm - Kỳ
Thượng vững chắc chống Pháp ở Nam Nông Cống.
|
|
4
|
Trịnh Bưu
|
Yên Định
|
Trịnh Bưu (1882 - ?),
quê làng Yên Định, tổng Yên Định (nay thuộc xã Định Tân, huyện Yên Định). Ông
đậu khoa thi hương năm Quý Mão (1903) đã từng làm tri huyện Bình khê (Bình Định).
Ông có biệt hiệu là Tam An, là người khí khái, thẳng thắn, dám phê bình tập Tổng
vịnh của vua Tự Đức là không hay nên đường quan lộ không bền. Ngoài ra, ông
còn có tư tưởng bài Tây, từ quan, Trịnh Bưu ra Hà Nội làm báo, thực nghiệp,
khai hóa... Ông có sáng tác rất nhiều bài thơ cho báo Thanh Nghệ Tĩnh tân văn
và nhiều thơ văn Hán - Nôm biểu hiện rõ tinh thần yêu nước, nhiều bài được chọn
lọc giới thiệu trên thơ văn yêu nước đầu thế kỷ XX.
|
|
5
|
Lưu Minh Châu
|
Hậu Lộc
|
Lưu Minh Châu (1922 -
1977), quê Hậu Lộc, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hậu Lộc trong
cách mạng tháng 8 năm 1945. Sau cách mạng, ông làm Bí thư thanh niên đầu tiên
của Hậu Lộc, Bí thư tỉnh đoàn Thanh Hóa, Bí thư Thành đoàn Hà Nội, Phó Ban
Dân Vận Trung ương, tham gia Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.
|
|
6
|
Võ Văn Chí
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Võ Văn Chí (? - ?), quê
làng Từ Quang, xã Hoằng Long cũ, nay là phường Long Anh, thành phố Thanh Hóa.
Năm 1894, ông thi đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái. Ông làm
quan Tri huyện.
|
|
7
|
Nguyễn Chiến
(Nguyễn Khắc Cầm)
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Chiến (Nguyễn Khắc
Cầm) (1918 - 1990), quê xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, ông là lão thành cách
mạng có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của huyện Hoằng
Hóa. Ông là Bí thư chi bộ Đảng Cộng sản huyện (4/1944); Bí thư Huyện ủy Hoằng
Hóa (4/1946).
|
|
8
|
Mai Thế Chuẩn
|
Nga Sơn
|
Mai Thế Chuẩn (1703 -
?), quê xã Thạch Giản, nay là xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ông sinh năm 1703 trong một gia đình, dòng họ nổi tiếng về học hành khoa cử
và làm quan. Năm Tân Hợi (1731), ông thi đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Sau khi
thi đỗ, ông được bổ nhiệm làm quan văn trong triều, thăng đến chức Hữu thị
lang kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, tước Hương lĩnh bá. Về sau, ông được giữ chức
Đốc lĩnh các đạo Tây Nam, rồi Sơn Tây. Do có nhiều công lao trong dẹp yên các
cuộc nổi dậy nên ông được tín nhiệm giao trọng trách trấn thủ Lạng Sơn - vùng
đất biên cương phía Bắc của Tổ quốc, là phên dậu, được mệnh danh là tấm áo
giáp bảo vệ Kinh thành Thăng Long từ phía Bắc.
|
|
9
|
Phạm Ngọc Chúc
|
Quan Hóa
|
Phạm Ngọc Chúc (? - ?),
quê huyện Quan Hóa, làm thượng tướng thống lĩnh quân. Ông được vua Lê Thế
Tông (1573 - 1599) phong hàm tả tướng Thái úy và giữ chức Đặc tiến thượng tướng
quân, quân dân Thái úy đại sứ ty, Quảng úy đại sứ tước phong Phú xuyên hầu trụ
quốc trung trật.
|
|
10
|
Tôn Thất Cơ
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Tôn Thất Cơ (? - ?),
quê thị xã Nghi Sơn, vốn dòng dõi hoàng tộc gần gũi với vua Bảo Đại. Do mắc lỗi
với Triều đình nhà Nguyễn, ông bị đày đi an trí tại đảo Nghi Sơn, huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1937, lãnh binh Tôn Thất Cơ đã có công
phá núi mở đường vào Biện Sơn (con đường ngày nay men theo triền núi đang sử
dụng). Ông có khắc bài thơ trên hòn đá cạnh bờ biển “Rừng xanh ta mở con đường”.
|
|
11
|
Lê Tự Cường
|
Hoằng Hóa
|
Lê Tự Cường (? - 1635),
quê thôn Tây, xã Đằng Cao, trấn Thanh Hóa (nay là thôn Tê, xã Hoằng Đạo, huyện
Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan dưới thời vua Lê - chúa Trịnh, ông
có công trong việc phò giúp nhà Lê, lập được nhiều công được thăng chức trung
quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Hải Quận công, trung quân Đô đốc Thiêm sự Hải quận
công sau thăng lên Thiếu bảo.
|
|
12
|
Tống Hữu Đại
|
Hà Trung
|
Tống Hữu Đại (? -
1665), quê huyện Hà Trung, làm trấn thủ cựu dinh, tức dinh Ái Tử từ năm 1635.
Năm 1665 ông mất, tước phong Đại Thắng hầu, được truy tặng Thắng Quận Công.
|
|
13
|
Tư Mã Hai Đào
|
Bá Thước
|
Tư Mã Hai Đào (? - ?),
quê làng Đào, xã Điền Quang, huyện Bá Thước. Theo truyền thuyết vào thế kỷ
XV, ông tham gia bảo vệ biên cương ở huyện Mường Lát. Ông được triều đình
phong quận công và Tư Mã trấn ải biên cương. Ông đã quyết định chọn Mường Xia
xây dựng thủ phủ sinh sống đến cuối đời. Đền thờ Tư Mã Hai Đào ở bản Chung
Sơn, xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, hiện đang đề nghị tỉnh xếp hạng di tích cấp
tỉnh.
|
|
14
|
Nguyễn Trí Đạo
|
Thạch Thành
|
Nguyễn Trí Đạo (Quận Đạo)
(1916-1991), quê huyện Thạch Thành. Ông là lão thành cách mạng, ông tham gia
đội du kích Ngọc Trạo năm 1941. Ông là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa, Ủy ban
cách mạng lâm thời, Ủy ban hành chính, Ủy ban kháng chiến huyện Thạch Thành từ
1945-1949.
|
|
15
|
Trần Hưng Đạt
|
Thanh Hóa
|
Trần Hưng Đạt (? -
1810), ông có tên khác là Trần Hưng Thân, người Thanh Hóa, tổ tiên ông là Trần
Phúc Tư, ông theo Nguyễn Hoàng vào định cư tại Thuận Hoá. Ông là người có học
vấn cao, có con gái gả làm phi tần của Nguyễn Ánh (tức là Thuận Thiên cao
Hoàng hậu). Ông làm việc tại Hàn Lâm viện, sau thăng làm Hữu Tham tri bộ Lễ.
Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) ông được truy tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại
phu, Thượng trụ quốc, Thiếu phó, Hà Hoa quận công, ban tên thụy là Ôn Cẩn.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Trần Hưng Đạt được gia tặng cần chính điện Đại
học sĩ, Thái phó, đổi phong là Thọ Quốc công.
|
|
16
|
Đỗ Tuấn Dẫy
|
Nông Cống
|
Đỗ Tuấn Dẫy (? - ?),
quê làng Ngọc Tháp, xã Cổ Đôi, nay là xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống. Ông từng
làm Cai tổng Văn Xá nên Nhân dân gọi là Cai Văn, sau thăng chức làm Bang Tá
Nông Cống nên gọi ông là Bang Văn. Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ông cùng
Tri huyện Tôn Thất Hàm và một số quan chức khác bỏ huyện đường về mộ quân Cần
Vương. Ông đóng căn cứ ở núi Hoàng Nghiêu, phục kích đánh địch ở Thị Long và
nhiều trận khác khiến giặc Pháp chịu nhiều tổn thất. Năm 1886 ông bị bắt và
quân Pháp đem ra chém ở cầu Hạc.
|
|
17
|
Trịnh Cao Đệ
|
Thiệu Hóa
|
Trịnh Cao Đệ (1630 -
1706) tức là Trịnh Đăng Đệ, quê xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc thị
trấn Thiệu Hóa, huyện Thiệu Hóa). Năm 21 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến
sĩ khoa xuất thân khoa thi Canh Dần, niên hiệu Khánh Đức thứ 2 (1650), đời
vua Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Thái thường Tự khanh. Sau khi mất, ông
được tặng Tả Thị lang, tước Hầu.
|
|
18
|
Nguyễn Tắc Dĩnh
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Tắc Dĩnh (1447 -
?), quê xã Lam Cầu, nay là thôn Lam Hà, xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa (nay là
thành phố Thanh Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất,
niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) vào năm 32 tuổi, làm quan đến chức Hộ bộ Tả thị
lang.
|
|
19
|
Lê Định
|
Thường Xuân
|
Lê Định (? - 1459), quê
xã Nông Vụ, tổng Bái Dương, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Dương, huyện Thường
Xuân), tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, lập được rất nhiều
công trạng, được xếp vào hàng những người có công đầu (đệ nhất công thần).
Khi Lê Lợi ban thưởng, ông được liệt vào hàng Bình Ngô khai quốc công thần và
phong làm Tả Kim Ngô vệ Thượng tướng quân, tự hiệu hầu, sau thăng Bảo chính
công thần, Nhập nội thiếu úy, Đại tư mã. Khi mất, được truy phong Mậu Liệt hầu,
rồi Hoàng tông Cường quận công, có lăng mộ tại đồi Công Phủ, điện thờ tại
thôn Thống Nhất 2, xã Xuân Dương.
|
|
20
|
Trịnh Đồ
|
Triệu Sơn
|
Trịnh Đồ (? - 1447),
quê xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Năm 1428,
do lập được nhiều công, ông được phong Ngân Thanh quang lộc đại phu, Tả xa kỵ,
vệ đại tướng quân, quan nội hầu, Thiếu bảo Dũng quận công. Năm Hồng Đức thứ
15 (1484) được truy phong Thái bảo Á liệt hầu....
|
|
21
|
Đỗ Phúc Đồng
|
Hậu Lộc
|
Đỗ Phúc Đồng (? - ?),
quê làng Thiều Xá, tổng Chi Nê (nay là làng Thiều Xá, xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hóa). Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Tháng 2/1429, ông được phong
Phụ quốc Vĩnh lộc Đại phu tướng quân. Vua Khải Định năm thứ 9 sắc phong “Dực
bảo Trung hưng Linh phù, phụ quốc Vinh Lộ Đại phu Đỗ tướng quân.
|
|
22
|
Lương Đại Đồng
|
Hoằng Hóa
|
Lương Đại Đồng (? - ?),
quê làng Hội Triều, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa. Cụ thân sinh của
ông là người gốc Trung Quốc sang Việt Nam từ năm 1311. Ông đỗ thái học sinh,
được phong tước Thái bảo thái văn hầu.
|
|
23
|
Đinh Công Đột
|
Ngọc Lặc
|
Đinh Công Đột (? - ?),
quê gốc ở huyện Ngọc Lặc. Ông còn có tên là Đinh Công Nhiếp, ông là con trai
Đinh Liệt, được cha phái vào Nông Cống tìm đất lộc điền vua ban. Ông và con
nuôi là Đào Khắc Thành đến đất cầu Quan dự định khai khẩn ở đây. Sau ba năm
khai phá do đất cầu Quan chật hẹp cho nên tìm đến chân núi Nưa khai hoang.
Vùng đất này gần làng Đống Cải (Nay là Đông Cao - Trung Chính) và ông đã dựa
vào đất này để làm cơ sở ban đầu cho họ Đinh gọi là Đống Cải Đinh tộc (tức tộc
họ Đinh làng Đống Cải). Ông cùng con cháu họ Đinh ở Kiên Thọ, Ngọc Lặc kiến tạo
làng xóm ở Đông Cao - Nông Cống trở nên trù phú. Đinh Công Đột là quan võ thời
Lê Sơ, chức Tả Thị Lang bộ Binh kiêm lãnh Tông Nhân phủ, tước Văn Thắng hầu,
sau khi mất được vinh phong Trung hưng Dực bảo công thần, tước Thắng Quận
công.
|
|
24
|
Lê Quảng Du
|
Thiệu Hóa
|
Lê Quảng Du (1437 - ?),
quê làng Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương (nay là thị trấn Hậu Hiền, huyện Thiệu
Hóa). Năm 39 tuổi, ông đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 6
(1475), đời vua Lê Thánh Tông. Ông từng đi sứ sang nhà Minh (năm 1492), sau
được thăng đến chức Giám sát Ngự sử.
|
|
25
|
Vũ Như Du
|
Thiệu Hóa
|
Vũ Như Du (? - ?), quê
làng Chí Cường, tổng Phùng Cầu (nay là xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa). Nhập
ngũ vào lúc các chúa Trịnh lo tuyển lựa, luyện tập và ưu đãi tướng tá và binh
sĩ nên đã tạo được đội quân thường trực mạnh, đánh trận dẻo dai, rất trung
thành với triều đình. Việc phong tước cho các tướng võ và binh sĩ có công khá
rộng rãi, quan võ cũng được hưởng đặc quyền như quan văn bởi Nhà nước Lê Trịnh
phải nắm quân đội mới tồn tại được lâu dài. Năm 1747, Vũ Như Du trong đội
quân của Triều đình do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy đi lập lại an ninh phía bắc
kinh thành Thăng Long.
|
|
26
|
Mai An Dũng
|
Vĩnh Lộc
|
Mai An Dũng (1512 - 1602),
quê làng Đông Biện (nay là xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc), là người có công an
táng mẹ của Trịnh Kiểm. Sau này nhà Trịnh hưng vượng, Trịnh Tùng phong cho
ông tước Quận Công, trông coi mồ mả cho nhà Trịnh, được dân làng lập miếu thờ,
tôn làm Thành Hoàng làng.
|
|
27
|
Nguyễn Xuân Dương
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Xuân Dương (1440
- ?), quê xã Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, nay là phường Long Anh, thành phố
Thanh Hóa. Năm 24 tuổi, ông đỗ Đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý
Mùi (1463) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan Tri huyện, sau đó làm quan ở
kinh đô.
|
|
28
|
Lê Duyên
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Duyên (? - ?), quê
thành phố Thanh Hóa. Ông cùng Lê Thùy và Lê Trung là 03 người con trai của Tướng
quân Lê Thành; các ông được sinh ra và lớn lên tại làng Định Hòa đã có công
phò Vua, giúp nước dưới triều Lê Sơ và đều được phong tước hiệu. Hiện đang được
thờ cùng tại đền thờ Tướng quân Lê Thành, làng Định Hòa, phường Đông Cương.
|
|
29
|
Đỗ Văn Gạo
|
Hoằng Hóa
|
Đỗ Văn Gạo (? - ?), quê
xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa. Ông gốc họ Đỗ, từ ngoài Bắc vào, sinh sống ở
làng Xuân Sơn, xã Dương Sơn (nay là làng Xuân Sơn, xã Hoằng Sơn). Dưới triều
vua Lê Hiển Tông (1740-1786), ông gia nhập quân đội, vì lập được công lao nên
ông được ban Bá hộ, là bậc Phấn lực tướng quân. Sau này, ông được vua Lê Hiển
Tông ban cho chức Thống lĩnh tiền Kỳ tướng quân, ban cho họ của nhà vua là Lê
Gạo.
|
|
30
|
Phan Độc Giác
|
Đông Sơn
|
Phan Độc Giác (? - ?),
quê làng Cẩm Tú, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Phan Độc Giác
là tướng quân dưới triều nhà Lý có công đánh đuổi giặc Chiêm Thành giữ vững bờ
cõi giang sơn, được phong Thành Hoàng làng. Đình - Nghè Tướng quân Phan Độc
Giác được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1993. Trải qua các
triều đại phong kiến, ông được vua ban 21 đạo sắc phong, hiện di tích đền thờ
ông còn lưu giữ 17 đạo sắc phong ở các triều Lê - Nguyễn.
|
|
31
|
Lê Doãn Giai
|
Hậu Lộc
|
Lê Doãn Giai còn gọi là
Doãn Bưu (1714 - ?), quê làng Y Bích, xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, đỗ Tiến sĩ năm
Quý Hợi (1743), chức Hàn lâm Hiệu lý. Ông là người có công trong việc phát
triển làng, xã như đã cho làng Vích tiền của để xây dựng lại nghè từ tranh
tre nứa lá bằng gạch ngói khang trang.
|
|
32
|
Trịnh Đồng Giai
|
Thiệu Hóa
|
Trịnh Đồng Giai (1697 -
?), quê xã Ngọc Hoạch, huyện Thụy Nguyên (nay là thôn Tân Sơn, xã Thiệu Ngọc,
huyện Thiệu Hóa). Năm 25 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa
thi Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721), đời vua Lê Dụ Tông. Ông làm
quan đến chức Hàn Lâm viện Đãi chế.
|
|
33
|
Đặng Kim Giám
|
Hậu Lộc
|
Đặng Kim Giám (1796 -
1857), quê xã Diêm Phố, huyện Hậu Lộc, đỗ Hương Cống (Cử nhân) năm Tân Tỵ
1821 đời Vua Minh Mạng năm thứ 2, làm Án sát Quảng Bình.
|
|
34
|
Lê Trần Giám
|
Hoằng Hóa
|
Lê Trần Giám (1725 -
1804), quê làng Phú Khê, xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm
1745 nhờ tài văn võ song toàn ông được tuyển dụng vào làm quan giữ chức phủ
quân Khâm Phụng, sau ông được thăng lên chức Thượng tướng quân làm Đô chỉ huy
Sứ, rồi lên chức Thị Vệ Lang tước trung võ hầu.
|
|
35
|
Lê Giám
|
Đông Sơn
|
Lê Giám (? - ?), quê xã
Đông Ninh, huyện Đông Sơn, làm quan dưới triều Lê Trung Hưng, đến chức Thái
Phó Thanh Quốc Công. Khi ông mất, vua gia phong là “Kiệt Tiết tuyên lực, Dương
võ uy dũng công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ đô chỉ
huy sứ Thị vệ sứ lễ thành hầu trụ quốc trung trật”, ban tên thụy là Trung Mẫn
Quận Công. Đền thờ Lê Giám tại làng Hữu Bộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh
Thanh Hóa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2013.
|
|
36
|
Phạm Văn Giản
|
Vĩnh Lộc
|
Phạm Văn Giản (1919 -
1979), quê thôn Cẩm Bào, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc. Ông nguyên là chiến sỹ
du kích Ngọc Trạo thời kỳ 1941, là Bí thư Huyện ủy đầu tiên của Đảng bộ huyện
Thạch Thành từ tháng 11/1945 đến cuối năm 1946. Ông nguyên là Vụ trưởng Vụ
Thanh tra Nông nghiệp.
|
|
37
|
Nguyễn Giới
|
Nga Sơn
|
Nguyễn Giới (? - ?),
quê xã Nga Văn, huyện Nga Sơn. Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
khoa thi năm Mậu Tuất (1598), dưới triều Lê Thế Tông, làm quan đến chức Hiến
sát sứ.
|
|
38
|
Nguyễn Hữu Hanh
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Hữu Hanh (? -
1930), quê làng Kim Bôi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Năm Nhâm Ngọ (1882)
ông thi đậu cử nhân võ, được triều đình Huế triệu vào làm quan. Ông được Tôn
Thất Thuyết giao trông coi xây dựng căn cứ Tân Sở ở Quảng Trị. Sau này ông đi
theo Tống Duy Tân tham gia xây dựng căn cứ Vân Đồn. Ông tham gia nhiều trận
đánh ở Vân Đồn gây cho địch nhiều thiệt hại.
|
|
39
|
Cầm Bá Hiển
|
Thường Xuân
|
Cầm Bá Hiển (? - ?),
quê huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là người dân tộc Thái, vốn sinh ra
trong một dòng tộc lớn, nối đời làm lang đạo cai quản vùng miền núi phía tây
tỉnh Thanh Hóa. Sau khi mất, được triều đình ban hai chữ “Trung Tiết” để nêu
cao tấm lòng trung thành, tiết nghĩa. Ông được triều đình cho xây dựng nhà thờ
ông tại quê hương xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân. Cầm Bá Hiển là một trong số
152 người được đặt linh vị ở bàn thờ hai bên gian giữa tại đền Trung Nghĩa,
kinh thành Huế. Hiện nay, đền thờ ông được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử
văn hóa cấp tỉnh.
|
|
40
|
Lê Văn Hiểu
|
Hoằng Hóa
|
Lê Văn Hiểu (1477 - ?),
quê làng Vĩnh Trị, nay là thôn Vĩnh Trị, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, nay
thuộc thành phố Thanh Hóa. Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa
Mậu Thìn (1508) niên hiệu Đoan Khánh 4, đời Lê Uy Mục, khi ông 32 tuổi và làm
quan đến chức Thiêm đô Ngự sử.
|
|
41
|
Trần Lê Hiệu
|
Thiệu Hóa
|
Trần Lê Hiệu (1784 -
1850), quê làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay là thôn 4, xã Thiệu Trung, huyện
Thiệu Hóa). Trong kỳ thi Hương, ông đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão, niên hiệu Gia
Long thứ 18 (1819), tại trường thi Thanh Hóa. Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm 38 tuổi
khoa Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mạng thứ 3 (1822). Ông làm quan đến chức Lang
trung ở Bộ công.
|
|
42
|
Trương Hữu Hiệu
|
Quảng Xương
|
Trương Hữu Hiệu (1632 -
1696), quê làng Thiên Linh, huyện Ngọc Sơn, nay là thôn Yên Cảnh, xã Quảng
Yên, huyện Quảng Xương. Năm 45 tuổi, Trương Hữu Hiệu dự thi khoa Bính Thìn,
niên hiệu Vĩnh Trị thứ 1 (1676) đời vua Lê Huy Tông, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến
sĩ xuất thân, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.
|
|
43
|
Nguyễn Gia Hòa
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Gia Hòa (? - ?),
quê làng Từ Quang, xã Hoằng Long cũ, nay là phường Long Anh, thành phố Thanh Hóa.
Thuở nhỏ có dũng khí, mưu lược, lớn lên ông tòng quân, được vào đội Túc vệ,
có tài thao lược nên thăng chức Chỉ huy sứ, nhiều lần lập công, đương thời nổi
danh là bậc tướng giỏi. Thời Lê niên hiệu Vĩnh Tộ (1619 - 1629), ông được
phong tước Thủy Quận Công, được Nhân dân trong làng lập đền thờ và có bia ghi
công trạng của ông (Đền thờ đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2011).
|
|
44
|
Nguyễn Chí Hòa
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Chí Hòa (1755 -
1818), quê huyện Đông Sơn, ông làm quan dưới triều Vua Gia Long, trải qua thời
gian được nhận chức hiệp trấn các xứ Tuyên Quang, Sơn Nam, Hải Dương .... ông
mất ở Hải Dương, thọ 63 tuổi. Khi mất được phong tặng Đoan Nha Công Thần,
Thông Chương Đại Phu, Tư chính thương khanh.... Tước Thọ Như Hầu, tên Thụy là
Trung Thanh. Đền thờ Thọ Như Hầu Nguyễn Chí Hòa nằm ở thôn Phúc Triền, xã
Đông Thanh, huyện Đông Sơn, được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh
năm 2011.
|
|
45
|
Lý Công Hoằng
|
Hậu Lộc
|
Lý Công Hoằng (? - ?), quê
huyện Hậu Lộc, là một trong 03 ông tướng họ Lý tham gia khởi nghĩa Bà Triệu
năm 248. Hiện tại, mộ của 3 ông vẫn còn ở chân núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện
Hậu Lộc - là một trong những điểm của quần thể di tích lịch sử văn hóa và kiến
trúc nghệ thuật đền Bà Triệu.
|
|
46
|
Nguyễn Hoành
|
Quảng Xương
|
Nguyễn Hoành (1741 -
?), quê làng Thiên Linh Đông (nay là xã Quảng Yên), huyện Quảng Xương. Nguyễn
Hoành tức Nguyễn Viết Hoành, năm Bính Ngọ (1786), ông thi trường Nghệ An, đỗ
Hương Cống, làm Cai huyện Nông Cống. Năm 1790, ông vào kinh đô Phú Xuân thi Y
khoa và đỗ đầu. Ông được vua Quang Trung sai giữ y vụ kiêm Ngự y chính rồi
Chánh cục Nam dược cục. Ông có công biên soạn sách “Nam dược bản thảo”, chỉnh
lý tập “Y học nhập môn ca” của Viện Thái y đời Hậu Lê thành “Y học toát yếu
quốc ngữ ca”.
|
|
47
|
Nguyễn Gia Hoành
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Gia Hoành (? -
?), quê làng Từ Quang, xã Hoằng Long cũ, nay là phường Long Anh, thành phố
Thanh Hóa, đỗ Ân khoa năm Mậu Thân (1848) đời Vua Tự Đức. Ông làm quan Tri
huyện.
|
|
48
|
Nguyễn Trọng Hoành
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Trọng Hoành (? -
?), quê xã Bột Thái (nay thuộc xã Hoằng Lộc), huyện Hoằng Hóa, là con thứ của
Tiến sĩ, Tham tụng, Quận công Nguyễn Ngọc Huyền. Nguyễn Trọng Hoành thi đỗ
Hương cống khoa Ất Mão, niên hiệu Long Đức thứ 4 (1735). Ông có công dẹp cuộc
nổi dậy của Hoàng Công Toản, được điều về Kinh, thăng Thượng thư bộ Hộ, tước
Tình Phái hầu. Khi ông mất được tặng phong Thái tử Thái bảo, Thượng trụ quốc,
Thượng trật.
|
|
49
|
Nguyễn Hữu Hồng
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Nguyễn Hữu Hồng (? -
?), quê thị xã Nghi Sơn, ông có công phò vua Lê Trung Hưng, đời Lê Cảnh Hưng,
được phong Dũng lực tướng quân, Trung liệt Đại tướng quân, hiệu Tư tráng sỹ.
Ông có công khai cơ lập nghiệp, đắp đê ngăn mặn, lấy đất cấy lúa nên được dân
làng phụng thờ. Đền thờ ông nay thuộc thôn Phượng Cát, xã Thanh Thủy. Di tích
được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
|
|
50
|
Vũ Thị Huệ
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Vũ Thị Huệ (? - ?), quê
làng Từ Quang, xã Hoằng Long cũ, nay là phường Long Anh, thành phố Thanh Hóa.
Bà là Cung Phi dưới triều vua Lê Thánh Tông, là vú nuôi của Vua Lê Hiến Tông
và các công chúa, hoàng tử triều Vua Lê Thánh Tông. Bà còn có công xây dựng
cho làng Từ Quang 12 bến nước để tạo cảnh đẹp cho làng và tạo sự giao lưu giữa
làng quê và sông nước. Lúc bà mất được ban sắc phong làm Phúc thần. Nhớ công
ơn bà, Nhân dân trong làng lập Phủ thờ Đức Bà với Duệ hiệu “Cố mẫu nhũ hương
Vũ Thị Huệ".
|
|
51
|
Nguyễn Huy
|
Vĩnh Lộc
|
Nguyễn Huy (? - ?), quê
xã Thiên Vực, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) ông
thi đỗ Hương tiến tại trường thi Thanh Hóa. Sau đó ông được bổ dụng làm Tri
huyện Bảo Lộc và Thanh Sơn rồi chuyển sang làm Tri phủ Quảng Ninh. Trải qua
nhiều năm làm Tri phủ nhiều nơi, ông được về kinh thành giữ chức Giám sát Ngự
sử. Năm Tự Đức thứ 17 (1864) ông được phong Biện lý bộ Công, thăng chức Quang
lộc tự khanh.
|
|
52
|
Hà Phạm Huy
|
Yên Định
|
Hà Phạm Huy (? - ?),
quê làng Đan Nê (nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Yên Định) đậu cử nhân năm 27 tuổi,
khoa Nhâm Tý 1912, từng làm quan trong Quốc sử quán triều Nguyễn, sau ra làm
tri huyện. Vì có tính cương trực và hay châm biếm nên cả thực dân Pháp và Nam
triều đều không ưa. Vì chán cảnh đời no thuộc, ông từ quan để sáng tác thơ
văn để chế giễu cảnh đời éo le, giả dối lúc đương thời. Nhiều bài thơ mà con cháu
trong dòng họ sưu tầm, tập hợp qua nhiều sách, báo cũ rất ý nghĩa.
|
|
53
|
Trịnh Cảnh Huy
|
Yên Định
|
Trịnh Cảnh Huy (? - ?),
quê làng Chân Bái (nay thuộc xã Yên Bái, huyện Yên Định). Ông đã làm tới chức
Tả đô đốc vệ cẩm y để bảo vệ hành cung Vạn Lại - Yên Trường (hồi thế kỷ XVI).
Trong một lần nhà Mạc mang 700 chiến thuyền vào đánh căn cứ Biện Thượng (Vĩnh
Lộc nay) với ý đồ mở đường đánh chiếm kinh đô Vạn Lại - Yên Trường của nhà Lê
- Trịnh, ông được giao trọng trách chỉ huy một lực lượng lớn án ngữ mai phục ở
hai bờ sông Lèn (gần ngã ba Bông) để chờ khi quân địch đến thì đánh tập kích
bất ngờ làm lực lượng thủy quân nhà Mạc tan tác tháo chạy hỗn loạn. Vì vậy,
ông được phong đến chức Phụ quốc thượng tướng quân, tước Hoàng Quận công. Khi
mất được thờ ở đền Hàn Sơn (Hà Sơn, Hà Trung).
|
|
54
|
Đỗ Khải
|
Thiệu Hóa
|
Đỗ Khải (? - ?) quê
làng Phùng Thịnh, huyện Thụy Nguyên (nay là xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hóa).
Trong kỳ thi Hương, ông đỗ cử nhân khoa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 1 (1848),
tại trường thi Thanh Hóa. Ông đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2
(1849). ông làm quan đến chức Tri huyện.
|
|
55
|
Nguyễn Khải
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Khải (? - ?),
quê xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, là người có công giúp nhà Lê diệt nhà Mạc.
Dưới thời Vua Lê Kính Tông (1600-1619), Nguyên Khải được phong “Hiệp mưu
dương võ công thần, trung quân đô đốc phủ, phó tướng Đăng Quận Công”, rồi
thăng lên Thái Bảo, Binh bộ Thượng Thư. Đến thời vua Lê Thần Tông (1619 -
1643), ông giữ chức Thái phó, Binh bộ Thượng thư, bậc “quốc lão tham dự triều
chính”. Đền thờ Nguyễn Khải được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh
năm 2011.
|
|
56
|
Trịnh Tứ Khải
|
Yên Định
|
Trịnh Tứ Khải (? - ?),
quê thôn Hổ Bái, xã Yên Bái, huyện Yên Định, ông là con trai của Trịnh Mãi.
Thời vua Lê Tương Dực (1509 - 1516), Trịnh Tứ Khải được giữ chức quan Xa Vệ
thần vũ, điện tiền chỉ huy lực lượng thiện nghệ bảo vệ kinh đô. Đến đời vua
Lê Chiêu Tông (1516 - 1522), ông được phong là phụ quốc thượng tướng quân.
Khi mất ông được gia phong là Thái Bảo quốc công, thọ 67 tuổi, được triều
đình cho lập đền thờ để dân thờ tự.
|
|
57
|
Lê Bá Khang
|
Thiệu Hóa
|
Lê Bá Khang (? - ?) quê
Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay là thôn 4, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa). Ông
đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511), đời vua Lê Tương
Dực. Ông làm quan đến chức Tham chính.
|
|
58
|
Khằm Ban
|
Quan Hóa
|
Khằm Ban (? - ?)[216], ông gốc họ Phạm thuộc
dòng họ Phạm Tộc thần từ bi dựng niên hiệu Duy Tân thứ 1 (1907), đây vốn là một
dòng họ lớn trong ngũ châu. Ông là thủy tổ dòng họ Phạm ở đất Mường Đà. Thuở
nhỏ ở trong Phá Khâm (thuộc vùng Hồi Xuân ngày nay), nghe vua Lê Thái Tổ khởi
nghĩa bình định giặc Ngô (Minh), ông bèn soái lĩnh quân giúp nước, trải qua
nhiều trận có công, vua phong cho là Thống Lĩnh Thượng Tướng quân. Ông có
công đánh đuổi quân Minh ở Trường Khu, xuất trại viện lập trụ Đồng phân mốc ở
đỉnh cao Phân Mao (biên giới Việt Lào ngày nay), vì thế mà việc hai nước được
bình. Sau đó ông từ quan trở về quê hương, vua Lê nhớ về công lao của ông bèn
lệnh cho Tiến Sĩ là Phò Mã đang trấn giữ phương Nam tiễn ông trở về. Ông đã
đi các nơi trên vùng Thượng du chọn đất làm thái ấp riêng, đã tìm từ vùng Kim
Trĩ trở lên đều không có đất nào có thể khai cơ lập nghiệp. Một ngày đồn trú
doanh trại ở cửa sông Lò, thấy đất Hồi Xuân có núi Xuân Sơn phía sau, ông xin
vua ban cho thái ấp ở vùng này (Hồi Xuân). Khi ông mất, Nhân dân bầu hậu làm
Phúc thần lập đền thờ cúng, đền thờ ông ở Hồi Xuân đã được xếp hạng di tích cấp
tỉnh.
|
|
59
|
Lê Khiêm
|
Triệu Sơn
|
Lê Khiêm (1541 - 1623),
quê xã Bảo Đà, huyện Lôi Dương (nay là xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn), ông đỗ Đệ
nhất giáp Chế khoa Ất Tỵ (1565) đời vua Lê Anh Tông, làm chức Tham chính, tước
Hầu (đây là Chế khoa niên cũng có sách ghi đỗ Tiến sĩ).
|
|
60
|
Nguyễn Đăng Khoa
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Đăng Khoa (? -
?), quê xã Đông Hòa, huyện Đông Sơn, làm quan dưới triều Lê Trung Hưng, được
phong là Bậc Đôn hậu dực vận tán trị công thần; sau tiến phong là bậc kim tử
vinh lộc đại phu, ty lễ giám, chưởng giám kiêm các giám ty sứ, trung quân đô
đốc, phủ tả đô đốc, trấn thủ xứ Thanh Hoa, tước Thọ Quận Công. Từ đường họ
Nguyễn Đăng thờ Quận Công Nguyễn Đăng Khoa trên địa phận xã Đông Hòa, huyện
Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm
1999.
|
|
61
|
Nguyễn Văn Khuê
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Văn Khuê (? -
?), quê xã Bất Quần, huyện Quảng Xương (nay là phường Quảng Thịnh, thành phố
Thanh Hóa). Năm 1610, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân.
|
|
62
|
Lê Bá Khuê
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Bá Khuê (? - ?), quê
Lam Sơn, sau chuyển xuống làng Bố Vệ nay thuộc phường Đông Vệ, tiến sĩ xuất
thân khoa thi Mậu Thìn (1508) thời vua Lê Uy Mục, là người có công xây cầu
Anh (nay là cầu Kiều Đại 1) bắc qua sông nhà Lê, được ghi công như một phúc
thần của làng.
|
|
63
|
Lại Văn Khuông
|
Hà Trung
|
Lại Văn Khuông (? - ?),
quê xã Hà Dương, huyện Hà Trung. Ông sống cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII,
làm quan dưới thời chúa Nguyễn và là người có công được phong tới chức Khiêm
Võ Hầu.
|
|
64
|
Bình Khương
|
Vĩnh Lộc
|
Nàng Bình Khương (? - ?),
quê huyện Vĩnh Lộc. Đền nàng Bình Khương thuộc thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long có
sự tích liên quan trực tiếp đến lịch sử xây dựng Thành nhà Hồ.
Tương truyền, nàng Bình
Khương khi nghe tin chồng đã bị chôn sống liền tìm tới động An Tôn. Khi biết
chồng đã chết, nàng Bình Khương đau khổ và uất hận vô cùng đã đập đầu vào đá
để kêu oan cho chồng. Trước cái chết tiết liệt của nàng Bình Khương, triều
đình xem xét tìm nguyên nhân tại sao bức tường thành phía Đông cứ xây lên cao
lại bị đổ và nguyên nhân chính là do dưới chân đoạn tường thành phía Đông có
địa chất không ổn định, có mạch nước ngầm lớn thường có cát đùn nên đoạn tường
cứ xây xong lại bị sụt lở. Để khắc phục sự cố đó, Hồ Nguyên Trừng con trai của
Hồ Quý Ly, tổng chỉ huy xây thành đã cho lát một phiến đá to, rộng dưới chân
móng và xây lên. Năm 1903, tổng đốc Thanh Hóa là Vương Duy Trinh một đêm nằm
mộng gặp một người con gái khóc lóc kêu oan cho chồng mình. Tỉnh giấc, ông
bèn hỏi thăm trong vùng và được biết người con gái đó là nàng Bình Khương vì
vậy ông đã cho quyên tiền xây dựng ngôi đền khang trang, đồng thời cho dựng
bia tại đền ghi lại sự tích Cống Sinh - Bình Khương cùng với vần thơ ca ngợi:
Tấm lòng trinh tiết in vào đá/ Lưu mãi muôn đời vạn tiếng thơm.
|
|
65
|
Vũ Kiêm
|
Thiệu Hóa
|
Vũ Kiêm (1615 - 1683), quê
làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay là thôn 4, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa).
Năm 22 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất, niên
hiệu Phúc Thái thứ 4 (1646), đời của Lê Chân Tông. Ông làm quan đến chức Tham
chính Sơn Tây. Trải qua 4 đời vua Chân Tông, Thần Tông, Huyền Tông, Gia Tông,
ông chủ yếu làm việc ở ngoài triều, được sử sách đánh giá là người mẫn cán, xử
việc công minh, có lối sống giản dị được Nhân dân kính trọng.
|
|
66
|
Phan Huy Kiêm
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Phan Huy Kiêm (? - ?), quê
xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn (nay là phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn, tỉnh
Thanh Hóa). Tên tự là Kỷ Chi, ông đỗ kỳ thi hương năm Thiệu Trị thứ 3 (1843),
được đưa vào giữ chức Kiểm thảo Hàn Lâm viện. Ông là vị quan có năng lực, trải
qua các chức. Sau được thăng lên chức Thị lang Bộ hộ, kiêm quản Ấn triện Đô
sát viện. Sau khi mất, được truy thụ là Tả phó đô Ngự sử.
|
|
67
|
Nguyễn Di Kiệt
|
Hậu Lộc
|
Nguyễn Di Kiệt (1459 -
?), quê làng Y Bích - Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất
thân năm Canh Tuất, đời vua Lê Thánh Tông (1490), làm quan đến chức Lại bộ Tả
Thị lang.
|
|
68
|
Lê Nhân Kiệt
|
Triệu Sơn
|
Lê Nhân Kiệt (1635 -
?), quê xã Cổ Định, huyện Nông Cống (nay là thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn).
Ông đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1661) đời vua Lê Thần Tông lúc 24 tuổi, làm chức
Hình khoa đô cấp sự trung, Tước nam.
|
|
69
|
Lê Kim
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Lê Kim (? - ?), quê
làng Kim Cốc, xã Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn. Ông là con trai Lê Nhân Quý, làm
quan hàng Tam phẩm rồi phó tướng, Kim đô chỉ huy sứ, tước Nam khi mất được vua
phong Minh nghĩa công thần trụ quốc Thượng tướng quân. Ông còn có công khai
hoang mở ấp, đắp đê ngăn mặn (đê Hoàng Các) góp phần hưng thịnh cả một vùng rộng
lớn.
|
|
70
|
Nguyễn Kính
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Kính (1629 - ?),
quê làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, nay là thành phố Thanh
Hóa. Năm 33 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu
(1661) đời Vua Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Giám sát.
|
|
71
|
Lê Khắc Kỷ
|
Hoằng Hóa
|
Lê Khắc Kỷ (1610 - ?),
quê làng Phù Quang, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, nay là thành phố Thanh
Hóa. Ông đỗ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất (1646) niên hiệu
Phúc Thái thứ 4 đời Lê Nhân Tông, sau được phong làm Giám sát Ngự Sử.
|
|
72
|
Nguyễn Đồng Lâm
|
Thiệu Hóa
|
Nguyễn Đồng Lâm (1679 -
?) quê làng Ngọc Hoạch, huyện Thụy Nguyên (nay là thôn Tân Sơn, xã Thiệu Ngọc,
huyện Thiệu Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần,
niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), đời vua Lê Dụ Tông. Ông làm quan đến chức
Giám sát Ngự sử.
|
|
73
|
Lê Xuân Lan
|
Hoằng Hóa
|
Lê Xuân Lan (1916 -
1983), quê thôn Đông Thành, xã Hoằng Tiến, là một nhà giáo tâm huyết, được
các thế hệ học sinh và Nhân dân quý trọng. Ông thuộc tốp người đầu tiên của tổng
Ngọc Chuế đậu Prime (tiểu học) và đậu Đíp - lôm (Trường học cơ sở) thời Pháp
thuộc. Không chỉ là thầy giáo giỏi, ông còn là cán bộ cách mạng kiên trung,
là một trong những lãnh đạo chủ chốt tiền bối của quê hương Hoằng Hóa, Chủ tịch
Ủy ban kháng chiến huyện từ tháng 6/1950 - 7/1954. Tên ông được đặt cho Quỹ
Khuyến học Lê Xuân Lan được thành lập ngày 28/8/2008 theo Quyết định số
1883/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hoằng Hóa nhằm mục đích, ý
nghĩa khuyến học, khuyến tài, đặc biệt là những học sinh nghèo vượt khó, góp phần
ươm mầm tài năng, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao xây dựng quê hương, đất
nước.
|
|
74
|
Trần Lê Lân
|
Triệu Sơn
|
Trần Lê Lân (1694 - ?),
quê xã Tam Lộng, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Thọ, huyện Triệu Sơn), ông đỗ
Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731) đời vua Lê Duy Phường khi 38 tuổi, làm quan đến
chức Hàn lâm đãi chế.
|
|
75
|
Đào Lang
|
Yên Định
|
Đào Lang (? - ?), quê
làng Bùi Đỉnh nay thuộc xã Yên Phú, huyện Yên Định. Theo thần tích ở nghè thờ
ông tại làng cho biết ông là vị tướng dưới 2 triều Đinh - Tiền Lê. Người có
công dẹp loạn 12 sứ quân cho Đinh Bộ Lĩnh và có công giúp Lê Hoàn đánh Tống
Bình Chiêm. Năm 983, ông được Lê Hoàn giao trọng trách chỉ huy việc đào kênh
Đồng Cổ để mở đường Nam tiến như sử sách xưa ghi chép. Chính Đào Lang cũng là
người có công lập ra làng Bùi Đỉnh nên khi mất được dân lập đền thờ và tôn
vinh là Thành Hoàng làng.
|
|
76
|
Yên Đôn Lễ
|
Yên Định
|
Yên Đôn Lễ (1512 -
1574), quê thôn Phúc Thôn, xã Định Long, huyện Yên Định. Ông thi đỗ tiến sĩ
niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532) đời Mạc Đặng Dung. Ông làm quan đến chức thượng
thư bộ binh, được phong tước hầu. Năm 63 tuổi, ông mất được triều đình ban tước
Khuông quận công vào thế kỷ XVI.
|
|
77
|
Trần Nghĩa Lộ
|
Hậu Lộc
|
Trần Nghĩa Lộ (? - ?),
quê Bái Hà Xuân, nay thuộc xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Mùi
(1499) làm quan chức Tự Khanh.
|
|
78
|
Tống Sư Lộ
|
Triệu Sơn
|
Tống Sư Lộ (1473 - ?),
quê Tân Mộc, huyện Nông Cống (nay là xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn). Ông đỗ Tiến
sĩ khoa Ất Sửu (1505) đời vua Lê Uy Mục lúc 33 tuổi, từng giữ chức Tham
chính.
|
|
79
|
Phạm Phúc Lộc
|
Cẩm Thủy
|
Phạm Phúc Lộc (? - ?),
quê huyện Cẩm Thủy, Lê triều Thái Bảo điện tiền tả tướng quân là Tả Đô đốc Phủ
Khải Minh hầu Phạm Tướng công, vì có công trung hưng lại nhà Lê nên được triều
đình nhà Lê Trung Hưng phong tước hầu.
|
|
80
|
Lê Quang Lộc
|
Vĩnh Lộc
|
Lê Quang Lộc (? - ?),
quê huyện Vĩnh Lộc. Theo thần phả Đền Đề Lĩnh, di tích đã được xếp hạng quốc
gia, gia phả dòng họ Lê ở làng Bồng Báo, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Tướng
công Đền Đề Lĩnh Lê Công Quang Lộc tên là Lê Quang Lộc, người làng Bồng Báo,
xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là một võ tướng thời Lê, có
tước quan được xếp hạng “Tứ trụ triều đình” thời vua Lê Tương Dực (1510 -
1516). Năm 25 tuổi, ông được Vua giao khai phá và trấn giữ vùng cửa biển xung
yếu Sầm Sơn. Ông dựng làng, khai mở đất luyện binh, dạy võ và lập gia thất.
Vì vậy, ông được phong là Tổ sư lò võ vật làng Lương Trung nổi tiếng xứ
Thanh; ngoài ra, ông còn dạy cho Nhân dân trong vùng làm bánh dày. Khi ông mất,
vua cho lập đền thờ trên vùng đất tối linh từ của làng Lương Trung, giao cho
Nhân dân bốn mùa cúng tế và mở hội làng tưởng niệm hàng năm vào ngày giỗ
chính kỵ của Ngài. Ngôi đền thờ tướng công Lê Quang Lộc chính là đền Đề Lĩnh
thuộc thôn Trung, xã Lương Niệm, phủ Quảng Xương, nay là tổ dân phố Khanh Tiến,
phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn.
|
|
81
|
Lê Thị Lự
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Lê Thị Lự (? - ?), quê
thị xã Nghi Sơn, hiệu là Khánh Duyên, là công chúa hiển linh được Nhân dân làng
Lê (phường Hải Hòa) thờ phụng. Sinh thời, bà nổi tiếng là một người vợ đảm
đang, trinh thục, giữ trọn trinh tiết với chồng. Sau khi mất, vì bà rất linh ứng,
thường giúp đỡ, phù hộ che chở cho Nhân dân sống yên ổn làm ăn, mùa màng tươi
tốt nên bà được Nhân dân tôn làm Thành Hoàng làng. Năm Cảnh Hưng thứ 14
(1753), bà được vua Lê Hiển Tông phong sắc: “Đại Quận nhu thuận địch huệ phu
hữu hiển linh diên huống từ nhân thụy Khánh Duyên công chúa hiển linh tôn thần”.
Đến thời Nguyễn, niên hiệu Khải Định thứ 2 (1918) bà được phong "Trai
tĩnh trung đẳng thần”, niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) được gia phong:
“Trang hy thượng đẳng thần”. Bà có công trong việc khai canh, định cư, lập
làng mở mang làng Lê để khai cơ lập nghiệp. Bà còn giúp dân trồng trọt, làm
ăn sinh sống góp phần xây dựng và phát triển vùng đất Lê Xá nay là tổ dân phố
Vinh Tiến, phường Hải Hòa, thị xã Nghi Sơn. Di tích được xếp hạng là di tích
lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
|
|
82
|
Lê Luân
|
Thọ Xuân
|
Lê Luân (? - 1454) quê
xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân. Một võ quan có đóng góp cho khởi nghĩa Lam
Sơn. Từ năm Giáp Thìn (1424) đến năm Đinh Mùi (1427), ông là một võ tướng
luôn xông pha trên các chiến trường như: Trận đánh Khả Lưu (Nghệ An), Tốt Động
(Hà Nội), Chi Lăng, Xương Giang (Lạng Sơn, Bắc Giang). Tháng 2 năm Mậu Thân
(1428), vua ban thưởng, Lê Luân được phong Thiếu úy đồng tổng quan, Vệ Thiên
Quan đại tri phủ.
|
|
83
|
Trịnh Minh Lương
|
Yên Định
|
Trịnh Minh Lương (1644
- ?), quê làng Chân Bái (thôn Hổ Bái), xã Yên Bái, nay thuộc xã Yên Trường, huyện
Yên Định. Ông đỗ khoa thi Hương năm 1679, đỗ đầu kỳ thi tỉnh, thi Hội ông đỗ
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thân 1680 đời vua Lê Huy Tông.
Làm quan đến chức Hiến sát sứ. Khi mất được phong phúc thần.
|
|
84
|
Nguyễn Thất Lý
|
Hà Trung
|
Nguyễn Thất Lý (? -
1592), quê làng Bình Lâm, xã Hà Lâm, huyện Hà Trung. Ông theo Tổng tiết chế
Trịnh Tùng, đánh dẹp Mạc được phong Thượng tướng quân, tước Thái Quận công.
Năm 1591, ông được phong chức Đề đốc thân quân thần vũ, Tứ vệ quân vụ, Khâm
sai tiết chế thủy binh, Thái bảo. Năm 1592, Nguyễn Thất Lý được thăng chức tả
thủy vệ kiêm Tứ vệ quân vụ.
|
|
85
|
Trình Minh
|
Thọ Xuân
|
Trình Minh (? - ?), quê
làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, ông là người ham học, tinh thông
võ nghệ, là khởi tổ của dòng họ Trình ở làng Chuế Khu xưa và là người có công
lập nên làng Ngọc Xuyết Khu (còn gọi là Kim Xuyết, Ngọc Xuyết) ngày nay gọi
là thôn Ngọc Chuế, xã Hà Châu, huyện Hà Trung. Người có công giúp vua Đinh
Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân ở thế kỷ thứ X, được triều Lý phong cho chức
“Tự khanh, tên chữ là Phúc Nhạc, Trung đẳng thần”. Dưới thời Lê - Nguyễn, ông
còn được nhà vua phong sắc ca ngợi công đức, đặc biệt còn được phong Thần
Hoàng làng Ngọc Xuyết.
|
|
86
|
Lý Công Mỹ
|
Hậu Lộc
|
Lý Công Mỹ (? - ?), quê
huyện Hậu Lộc, là một trong 03 ông tướng họ Lý tham gia khởi nghĩa Bà Triệu
năm 248. Hiện tại mộ của 3 ông vẫn còn ở chân núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu
Lộc.
|
|
87
|
Trương Công Mỹ
|
Yên Định
|
Trương Công Mỹ (? - ?),
quê huyện Yên Định, là người có công trong hai lần kháng chiến chống Nguyên
Mông, được vua Trần gả con gái là công chúa Bạch Mã. Hai người được phong đất
ở vùng Kiểu (nay thuộc xã Yên Trường, huyện Yên Định). Khi mất, ông được dân
lập đền thờ và phong làm Thành Hoàng của làng.
|
|
88
|
Nguyễn Trung Nghĩa
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Trung Nghĩa (? -
?) quê xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, ông là người có công tham gia khởi nghĩa
Lam Sơn cùng Lê Lợi chống giặc Minh thế kỷ XV. Kháng chiến thắng lợi, ông được
phong ấp tại Mộc Nhuận cùng Tuy Quốc Công Nguyễn Nhữ Soạn. Ông là người có công
khai hoang lập ấp lập ra làng Trung Bình Đông (thôn Yên Bằng, xã Đông Yên
ngày nay). Khi ông mất, được Nhân dân tôn thờ là Thành Hoàng làng. Đền thờ
Nguyễn Trung Nghĩa được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm
2006.
|
|
89
|
La Thế Nghiệp
|
Hậu Lộc
|
La Thế Nghiệp (1485 -
?), quê xã Lục Trúc, nay thuộc xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, đỗ Tiến sĩ khoa Tân
Mùi năm 1511 đời vua Lê Tương Dực, làm quan đến chức Hiến sát sứ.
|
|
90
|
Lê Thị Ngọc Ngỗi
|
Hoằng Hóa
|
Chính vương Lê Thị Ngọc
Ngỗi (1606 - ?), quê xã Phú Vinh nay là xã Hoằng Vinh, huyện Hoằng Hóa, tên
húy là Bảo Đức, năm 19 tuổi được dâng vào phủ Chúa làm Vương phi chúa Thanh
Đô vương Trịnh Tráng. Năm Đức Long 3 (1631), bà sinh ra Phó đô tướng Thái úy
Ninh Quốc công Trịnh Toàn. Bà cho hưng công tu tạo cầu Cộng ở quê hương.
|
|
91
|
Lê Thận Ngôn
|
Hoằng Hóa
|
Lê Thận Ngôn (1834 -
1897), tên tự là Cổ Đam, tên húy là Thận Ngôn, người làng Cát Xuyên, xã Hoằng
Cát, huyện Hoằng Hóa. Ông đỗ cử nhân khoa thi năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức
thứ 14 (1861) được bổ làm Giáo thụ phủ Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng sau được bổ
chức Giáo thụ phủ Quảng Hóa.
|
|
92
|
Trần Hữu Nho
|
Thiệu Hóa
|
Trần Hữu Nho (? - ?)
quê làng Cổ Đô, huyện Đông Sơn (sau thuộc xã Thiệu Đô, nay thuộc thị trấn Thiệu
Hóa). Ông đỗ Hoàng giáp khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490), đời
vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang.
|
|
93
|
Tống Nho
|
Triệu Sơn
|
Tống Nho (1638 - ?),
quê Tiên Mộc, huyện Nông Cống nay là xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn. ông đỗ Tiến
sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời vua Lê Huyền Tông lúc 33 tuổi, từng giữ chức
Tham chính.
|
|
94
|
Lê Đình Nhơn
|
Yên Định
|
Lê Đình Nhơn[217] tức Quản Phơn (? - ?), quê
làng Thiết Đanh nay thuộc xã Định Tường, huyện Yên Định. Khi vua Hàm Nghi ban
chiếu Cần Vương chống Pháp xâm lược, ông trở về quê tập hợp lực lượng để hưởng
ứng. Sau hội nghị Bồng Trung (1885), ông được phân công đi xây dựng căn cứ Mã
Cao dưới sự chỉ huy của Hà Văn Nhất và Trần Xuân Soạn rồi được phân công phụ
trách chỉ huy đồn “Đa Nẫm” (nay thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Định). Từ Đa Nẫm,
ông được lệnh mang quân đi tập kích địch ở Dọc Nghè (Định Tường) rồi thừa thắng
tấn công đồn Si (Định Bình) nhưng vì lực lượng chênh lệch, ông bị giặc pháp bắt
và chém đầu ở vườn quýt (bêu đầu cầu Si).
|
|
95
|
Đội Nhữ
|
Thành phố Sầm Sơn
|
Đội Nhữ (18?? - 18??),
quê làng Trường Lệ nay thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Đội Nhữ
hay còn gọi là Đề Đởn, tên thật là Hoàng Đình Đởn là cử nhân võ thời vua Tự Đức.
Năm 1885, sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại, ông là người đã
hộ giá vua Hàm Nghi bỏ kinh thành ra vùng rừng núi, phát chiếu Cần Vương chống
Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt trở về kinh thành, ông theo Tôn Thất Thuyết
và Trần Xuân Soạn chạy về Thanh Hóa. Cuối thế kỷ XIX, Thanh Hóa là một trong
những địa phương có phong trào Cần Vương bùng nổ mạnh mẽ khắp nơi, các trung
tâm khởi nghĩa phát triển rộng khắp với việc hình thành các đội nghĩa quân dưới
sự chỉ huy của các sĩ phu, văn thân yêu nước. Đội Nhữ được Tôn Thất Thuyết và
Trần Xuân Soạn giao nhiệm vụ liên hệ để hợp nhất các cánh quân của Quảng
Xương như cánh quân của Đề đốc Mậu Quang Tiền, cánh quân của Quảng Nham, Cự
Nham...
|
|
96
|
Lê Khắc Nhượng
|
Nông Cống
|
Lê Khắc Nhượng (1476 -
?), quê huyện Nông Cống. Ông là anh Hoàng giáp Lê Đình Vệ, người làng Thổ Giá
huyện Nông Cống, nay là Thổ Vị, xã Tế Thắng, huyện Nông Cống, thi đỗ Đệ nhị
giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ
4 (1508) đời Lê Uy Mục, làm quan chức Hữu thị lang. Về sau, con cháu có di dời
lên sống tại Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, thành lập chi họ Lê Đình trên vùng đất
này.
|
|
97
|
Nguyễn Duy Nịnh
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Nguyễn Duy Nịnh (? -
?), quê xã Thanh Sơn, thị xã Nghi Sơn. Ông tham gia triều chính đời vua Lê Thần
Tông, có công phò vua giúp nhà Lê mở mang đất nước, củng cố bờ cõi. Ông làm
quan đến chức thị hầu nội tiếp, làm Tổng trấn Thanh Hóa, được phong Phấn lực
tướng quân, chức quan “Thiên hộ”. Ông có công phá giặc ở Sơn Nam được triều
đình ban thưởng, được triều đình phong kiến ban tặng 6 sắc phong, được phụng
thờ theo điển lễ. Đền thờ Nguyễn Duy Nịnh được xếp hạng di tích lịch sử - văn
hóa cấp tỉnh.
|
|
98
|
Yên Đôn Phác
|
Yên Định
|
Yên Đôn Phác (1512 - ?),
quê huyện Yên Định. Ông đỗ tiến sĩ năm Tân Sửu 1541 niên hiệu Quảng Hòa thứ 1
đời Mạc Phúc Hải. Ông làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư và được ban tước
Ninh Khê Hầu.
|
|
99
|
Nguyễn Phan
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Phan (1711 -
1784), quê Hà Dương, Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa. Ông là một công thần cuối thời
Lê - Trịnh, một nhà quân sự có tài, đánh đâu thắng đó, góp phần vào sự ổn định
tình hình xã hội phong kiến Đàng Ngoài trong những năm giữa thế kỷ XVIII.
Trong 37 năm theo cuộc đời binh nghiệp, ông đã được triều đình phong kiến Lê
- Trịnh phong chức 34 lần và tặng thưởng 24 ngân bài.
|
|
100
|
Phạm Phổ
|
Hậu Lộc
|
Phạm Phổ (? - ?), quê
xã Trương Xá cũ, huyện Hậu Lộc, đỗ cử nhân (Hương Cống) năm 1821, làm tới chức
Bố Chánh Tuyên Quang. Ông là cha Phạm Thanh, Phạm Bành.
|
|
101
|
Nguyễn Đình Phổ
|
Thiệu Hóa
|
Nguyễn Đình Phổ (? -
?), quê huyện Thụy Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa), ông còn có tên là Nguyễn
Đình Định. Xuất thân trong gia đình dòng dõi binh nghiệp, năm 1802 ông tham
gia quân thứ giữ chức Cai Đội. Nguyễn Đình Phổ từng được bổ dụng chức Trấn thủ
2 trấn Hải Dương và Thanh Ba (Thanh Hóa). Sau làm Tổng đốc Ninh - Thái, năm
1834 đánh dẹp loạn đảng, sau đó ốm mất tại lỵ sở.
|
|
102
|
Đỗ Xuân Phong
|
Thiệu Hoá
|
Đỗ Xuân Phong (1877 - 1951),
quê làng Đoán Quyết, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc xã Thiệu Phúc, huyện Thiệu
Hóa. Trong kỳ thi Hương, ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân thứ 6
(1912), tại trường thi Thanh Hóa. Ông đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu, niên hiệu Duy
Tân thứ 7 (1913), lúc 37 tuổi. Ông làm tri huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
|
|
103
|
Trần Văn Phú
|
Thiệu Hóa
|
Trần Văn Phú (1749 -
1830), quê Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên (nay là trị trấn Thiệu Hóa, huyện Thiệu
Hóa). Ông làm quan thời Lê Trung Hưng, chức Phó Thiên hộ, Trì uy Tướng quân,
Thủ ngự Tổng tri Phi kỵ úy kiêm Tổng Tri, hạng Trung chế, đồng thời là cha của
Vệ úy Túc Vũ vệ Trần Văn Vĩnh quan thời Nguyễn, được phong “Tín nghĩa Đô úy
Phó quản cơ, tên thụy là Tráng Nghĩa”.
|
|
104
|
Lê Công Phụ
|
Hoằng Hóa
|
Lê Công Phụ (Linh Quang
tôn Thần) (? - ?), quê thôn Phượng Mao, xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa. Là
danh tướng có công lao to lớn giúp vua Lê chống lại giặc Minh, sau đó cùng
vua Lê Nhân Tông dẹp giặc Đồn Bàn, được triều đình ban thưởng và ban đất ở
vùng Phượng Mao để lập đồn điền, khai hoang lập ấp. Vì vậy, sau khi mất, được
dân làng thờ phụng và tôn làm Thành Hoàng làng. Trải qua thời gian và chiến
tranh, nghè thờ thần bị phá hủy, người dân rước thần về thờ phụng tại đình
làng. Năm 1991, đình làng Phượng Mao đã được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin
(nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là là di tích kiến
trúc nghệ thuật cấp tỉnh tại Quyết định số 35/VHQĐ ngày 24/12/1991.
|
|
105
|
Nguyễn Xuân Phương
|
Hà Trung
|
Nguyễn Xuân Phương (? -
?), quê huyện Hà Trung, ông là Bí thư chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên huyện Hà
Trung được thành lập ở Gác chuông chùa Trần (xã Hà Ngọc), thành lập vào ngày
10/10/1930. Ông là tri thức yêu nước tham gia vào hội Xích sinh (tức hội Học
sinh đỏ), là một trong những người đầu tiên của huyện tuyên truyền đường lối
cách mạng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
|
|
106
|
Đinh Chương Phượng
|
Hậu Lộc
|
Đinh Chương Phượng
(1918 - 1980), quê huyện Hậu Lộc. Ông là con thứ 2 của nhà cách mạng Đinh Chương
Dương, là lão thành cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa hoạt động nhiều nơi
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Bí thư chi bộ đầu tiên của huyện Hậu Lộc, Chi bộ
Lộc Tiên - Y Bích (thành lập ngày 6/1/1935). Sau cách mạng, ông giữ chức Trưởng
ty công an Hà Đông, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Đông, thẩm phán của Tòa
án nhân dân tối cao.
|
|
107
|
Lê Thế Quán
|
Thiệu Hóa
|
Lê Thế Quán (? - ?) quê
làng Bái Giao, huyện Đông Sơn (nay là thôn Bái Giao, xã Thiệu Giao, huyện Thiệu
Hóa). Trong kỳ thi Hương, ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý, niên hiệu Minh Mạng thứ
21 (1840), tại trường thi Nghệ An. Ông đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần, niên hiệu
Thiệu Trị thứ 2 (1842). Ông làm quan đến chức Đồng tri phủ.
|
|
108
|
Lương Tuyên Quang
|
Hoằng Hóa
|
Lương Tuyên Quang (1556
- 1632), quê thôn Hội Triều, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa. Ông về thôn
Đông Lý, xã Sen Hồ, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là thôn Đông Lý, xã Ngọc
Lĩnh, thị xã Nghi Sơn sinh cơ lập nghiệp. Ông là một công thần thời Lê -Trịnh
được tiến phong Kim tử Vinh lộc đại phu, tước là Phó Nghĩa Tử, được triều
đình phong sắc làm phúc thần cho thôn Đồng Lý, xã Liên Hồ, huyện Ngọc Sơn, phủ
Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa phụng thờ. Di tích được xếp hạng là di tích lịch sử
- văn hóa cấp tỉnh.
|
|
109
|
Trương Đức Quang
|
Hoằng Hóa
|
Trương Đức Quang (1478
- ?), quê Chuế Thôn, xã Ngọc Xuyết, sau là Kim Xuyết, tổng Kim Xuyết nay là
thôn Hùng Tiến, xã Hoằng Yến, huyện Hoằng Hóa. Năm 25 tuổi đỗ Đệ Nhị giáp tiến
sĩ xuất thân (Hoàng Giáp), khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống năm 1502 đời
Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Đề hình giám sát ngự sử, ông là tấm gương
tiêu biểu trong số những người “khổ học”, “cần học” của truyền thống hiếu học
huyện Hoằng Hóa.
|
|
110
|
Lê Đình Quát
|
Thiệu Hoá
|
Lê Đình Quát (? - ?)
quê làng Kim Hoạch, huyện Lương Giang (nay là thôn Minh Thượng, xã Thiệu
Công, huyện Thiệu Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh
Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21(1490), đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến
chức Đô Ngự sử.
|
|
111
|
Nguyễn Đình Quế
|
Thiệu Hóa
|
Nguyễn Đình Quế
(1637-?), quê làng Lam Vĩ, xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, ông còn có tên là
Nguyễn Đình Tường, là con trai duy nhất, lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ, song là
người học hành chăm chỉ, siêng năng luyện tập võ nghệ. Ông còn là người phong
tư hùng dũng, sức mạnh hơn người, lỗi lạc và có chí lớn. Ông thường nói rằng:
“người con trai mà không làm được công việc oanh liệt, chỉ làm một tên phu ở
hương thôn, như thế là sống thừa mà thôi” rồi ông tham gia quân đội, giúp vua
Lê đánh giặc lập công và được làm đến chức Phụ Quốc Thượng tướng quân Đô đốc
phủ, Tả Đô đốc đồng Tri Thái bảo, tước Tường Quận công (sau khi mất được Nhân
dân bầu hậu Phúc thần, triều đình ban sắc cho Nhân dân thờ cúng và phong cho
thần là Dũng lược Đại Vương).
|
|
112
|
Lê Đình Sằn
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Lê Đình Sằn (? - ?), quê
xã Thanh Sơn, huyện Tĩnh Gia nay là thị xã Nghi Sơn. Năm 1948 - 1954, ông được
giữ chức Bí thư Huyện ủy Tĩnh Gia, rồi Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Ban miền Tây
trực tiếp chỉ đạo Đại hội thành lập Đảng bộ huyện Như Xuân tại doanh trại của
An toàn khu Đồng Ớt, xã Yên Cát (nay là xã Hóa Quỳ) năm 1949. Từ năm 1957-
1958, ông làm Phó trưởng ban Tổ chức khu ủy IV. Từ năm 1960, ông là Thường vụ
Tỉnh ủy, phụ trách Tĩnh Gia. Từ năm 1960 - 1963, ông là Tỉnh ủy viên, Trưởng
ban Kiểm tra Tỉnh ủy, được truy nhận lão thành cách mạng.
|
|
113
|
Lê Văn Sứ
|
Nông Cống
|
Lê Văn Sứ (? - ?), quê
huyện Nông Cống. Nhân dân gọi ông là Bát Thuận, người làng Tiền Hậu, xã Minh
Nghĩa, huyện Nông Cống. Ông là nhân vật tham gia phong trào Cần Vương, đóng
căn cứ ở núi Chay và cho nghĩa quân canh giữ đồn Mả Cật ở làng Tiền Hậu và cồn
Vừng ở làng Trường Quang, xã Minh Nghĩa. Ông là người chỉ huy Nghĩa quân cả một
vùng, tham gia đánh trận Đồn Mung (nay xã Trung Thành).
|
|
114
|
Doãn Đình Tá
|
Triệu Sơn
|
Doãn Đình Tá (1478 - ?),
quê xã Cổ Định, huyện Nông Cống (nay là thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn). Ông đỗ
Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499) đời vua Lê Hiến Tông lúc 22 tuổi, ông làm quan đến
chức Công Bộ thượng thư, hàm Thiếu bảo. Là người có công, khi Trịnh Tráng lên
ngôi coi ông là ân nhân ban cho ông chức Hiến sát sứ, tước nhân quận công.
|
|
115
|
Quản Tâm
|
Thạch Thành
|
Quản Tâm (? - ?), quê
xã Thành Kim nay là thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành. Trong phong trào Cần
Vương, ông đã chiêu tập binh sĩ, làm lễ tế cờ, đóng quân tại đồi lau chống địch.
Giặc Pháp đã đưa quân từ đồn Phong Ý (Cẩm Thủy) và đồn Bỉm Sơn lên đàn áp, Quản
Tâm và nghĩa quân chống trả quyết liệt nhưng bị thất bại và đã anh dũng hy
sinh.
|
|
116
|
Lưu Thế Tán
|
Yên Định
|
Lưu Thế Tán (? - ?),
quê làng Chân Bái, huyện Yên Định. Theo gia phả họ Lưu và văn bia dựng năm Cảnh
Trị thứ 4 (1666) cho biết thì Lưu Thế Tán từng đi theo Trịnh Tùng phù Lê, diệt
Mạc, lập được nhiều chiến công trong việc bảo vệ vùng căn cứ Biện Thượng, nay
thuộc huyện Vĩnh Lộc - quê hương nhà Trịnh. Ông được phong tới chức Phụ quốc
thượng tướng quân. Khi mất, ông được triều đình truy tặng chức Thái Phó Đại
Tư Mã và cho dân quê nhà lập đền để thờ tự.
|
|
117
|
Phạm Ngưu Tất
|
Cẩm Thủy
|
Phạm Ngưu Tất (? - ?), quê
thôn Thạch Lam, xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thủy. Tả dực phấn tướng quân Phạm
Tương Công (tên tục Ngưu Tất), theo gia phả dòng họ Phạm ở Thạch Lẫm thì Phạm
Tướng Công (tức Ngưu Tất) là người theo Trần Khát Chân đánh quân Chiêm Thành
xâm lấn Đại Việt thế kỷ XIV, vì có công đã được phong tước hầu.
|
|
118
|
Nguyễn Hữu Thái
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Hữu Thái (1792 -
1855), quê Đại Lộc, xã Hoằng Vinh, huyện Hoằng Hóa. Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ
6 (1825) ông thi Hương đỗ Cử nhân. Ông là vị quan tài năng, rất mực thanh
liêm, từng giữ nhiều trọng trách trong triều. Lúc đương triều được triều thần
ngưỡng vọng, về hưu được quê hương mến mộ. Ông làm quan đến chức: Phụng Nghị
đại phu, Giám sát ngự sử đạo Nam Nghĩa Quảng Nam - Quảng Ngãi.
|
|
119
|
Nguyễn Phúc Thái
|
Hà Trung
|
Nguyễn Phúc Thái (1649
- 1691), quê gốc Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa, nay
là xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là Chúa Nguyễn thứ 5 của chính quyền Đàng
Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi 1687-1691), nối ngôi Chúa Hiền Nguyễn
Phúc Tần. Trong những năm trị vì, chúa Nguyễn Phúc Thái nổi tiếng là người có
tính tình rộng lượng, khoan hòa, biết chiêu hiền đãi sỹ, cho mở các khóa thi
để tìm kiếm tuyển chọn nhân tài cho đất nước, đặc biệt, Chúa rất quan tâm đến
đời sống Nhân dân, đưa ra những chính sách khai khẩn đất đai, khuyến khích
phát triển nông nghiệp.
|
|
120
|
Nguyễn Đức Thân
|
Hậu Lộc
|
Nguyễn Đức Thân tức
Nguyễn Văn Sen (1911 - 1984), quê huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông hoạt động
cách mạng chủ yếu ở các tỉnh Đông Nam Bộ. Tháng 4/1948, ông làm Bí thư tỉnh ủy
tỉnh Long Châu Hậu, năm 1950, Bí thư Tỉnh ủy của tỉnh Long Châu Hà. Sau đó giữ
nhiều chức vụ quan trọng khác của tỉnh này. Ông mất năm 1984.
|
|
121
|
Hoàng Khắc Thận
|
Hậu Lộc
|
Hoàng Khắc Thận (1505 -
?), quê xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa
Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) đòi Mạc Đăng Dung, làm quan chức Lại
Bộ Thượng thư, tước Hoành Trung Hầu.
|
|
122
|
Nguyễn Chiến Thắng
|
Nga Sơn
|
Nguyễn Chiến Thắng (1919-
2007), quê huyện Nga Sơn, là lão thành cách mạng - Bí thư Chi bộ Đảng cộng sản
đầu tiên của huyện Nga Sơn được thành lập tháng 10/1945. Di tích Vườn Chè -
nơi thành lập Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện Nga Sơn là khu đất của
gia đình ông.
|
|
123
|
Lê Nguyên Thành
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Nguyên Thành (1868 -
1951), quê làng Đông Tác, thành phố Thanh Hóa. Sau khi đỗ tú tài, chính quyền
Nam Triều dụ dỗ cụ ra làm quan nhưng cụ khước từ và ở nhà dạy học. Ông là chiến
sĩ yêu nước, là lãnh tụ phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908.
|
|
124
|
Lý Công Thành
|
Hậu Lộc
|
Lý Công Thành (? - ?),
quê huyện Hậu Lộc, là một trong 03 ông tướng họ Lý tham gia khởi nghĩa Bà Triệu
năm 248. Hiện tại mộ của ba ông vẫn còn ở chân núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện
Hậu Lộc.
|
|
125
|
Nguyễn Trọng Thao
|
Thiệu Hóa
|
Nguyễn Trọng Thao (1801
- 1860), quê huyện Thụy Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa), tỉnh Thanh Hóa. Xuất
thân trong gia đình dòng dõi binh nghiệp, năm Gia Long 14 (1815), ông gia nhập
quân đội. Sau này được thăng lên chức Đề đốc quân vụ, ông mất tại nơi đóng
quân. Bài vị của ông được thờ ở đền Hiền Lương.
|
|
126
|
Hoàng Đình Thể
|
Hậu Lộc
|
Hoàng Đình Thể (? -
1786), quê làng Bộ Đầu, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc. Danh tướng có đóng góp ở
triều đại Lê - Trịnh. Hoàng Đình Thể đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa (tiến
sỹ võ) năm Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 đời vua Lê Hiển Tông (1752).
Tháng 9 năm Kỷ Sửu (1769), khi Lê Duy Mật - một tôn thất nhà Lê khởi binh chống
lại triều đình Lê - Trịnh ở Trấn Ninh (Nghệ An), Hoàng Đình Thể giữ ấn Binh,
đốc quân Tuyên Quang và Hưng Hóa cùng Nguyễn Phan, Bùi Thế Đạt tấn công Lê
Duy Mật để bảo vệ triều đình Lê - Trịnh.
|
|
127
|
Nguyễn Khắc Thiệu
|
Hà Trung
|
Nguyễn Khắc Thiệu (1764
- 1816), quê Gia Miêu, Hà Trung. Ông làm quan dưới triều Nguyễn, tháng 10 năm
1795 ông được vào Viện Thị thư, lại thăng chức Nội thị thư viện. Tháng 10 năm
1807, nhà Nguyễn mở khoa thi Hương ông được cử làm Đề điều trường thi Bắc
Thành, rồi làm Đề điều trường thi Hải Dương. Năm 1809, ông tham gia vào việc
trông coi đê chính ở Bắc Thành.
|
|
128
|
Lê Khắc Thuần
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Khắc Thuần (1668 -
1730), quê làng Phù Quang, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa. Năm 43 tuổi,
ông đỗ Đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Dần (1710) đời Lê Hy
Tông. Ông làm quan đến chức Hình khoa cấp sự trung.
|
|
129
|
Lê Thức
|
Triệu Sơn
|
Lê Thức (1628 - ?), quê
Tam Lộng, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Thọ, huyện Triệu Sơn). Ông đỗ Tiến
sĩ khoa Kỷ Hợi (1659) đời Lê Thần Tông lúc 32 tuổi, làm chức Hiến sứ. Ông có
một bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục...
|
|
130
|
Lê Nhân Thực
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Lê Nhân Thực (? - ?),
quê thị xã Nghi Sơn. Ông là công thần thời Lê sơ, được phong chức Quản lĩnh hầu,
kiêu kị úy trí thắng, ông là một võ quan, do lập được công trạng ông được Nhà
Lê ban tước hầu. Theo sắc phong Quản lĩnh hầu là chức quan võ chỉ huy một sở,
hàm ngũ phẩm sau đó được phong tước đặc tiến Kim tử Vinh Lộc.
|
|
131
|
Lê Quốc Thực
|
Yên Định
|
Lê Quốc Thực (? - 981),
quê thôn Cẩm Trướng, xã Định Công, huyện Yên Định. Lê Quốc Thực hay còn gọi
là Lê Tướng Công, là bộ tướng của Đinh Bộ Lĩnh có nhiều công lao trong việc dẹp
loạn 12 sứ quân. Khi Đinh Bộ Lĩnh mất, ông lại tiếp tục ủng hộ Lê Hoàn đánh Tống,
bình Chiêm. Ông từng được nhà Đinh phong 3 chữ vàng là “Đinh Can Thành” (Vị
tướng giỏi can trường của nhà Đinh). Ông mất ngày mùng 5 tháng 10 năm 981
trong trận chiến với quân nhà Tống. Đền thờ ông tại thôn Cẩm Trướng, xã Định
Công, huyện Yên Định được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo
vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 230/VH-QĐ ngày 08/7/1995 và được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa tại Quyết
định số 174/QĐ-UBND ngày 17/01/2011.
|
|
132
|
Lê Thùy
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Thùy (? - ?), quê
thành phố Thanh Hóa. Ông cùng Lê Duyên và Lê Trung là 03 người con trai của
Tướng quân Lê Thành; các ông được sinh ra và lớn lên tại làng Định Hòa đã có công
phò Vua, giúp nước dưới triều Lê Sơ và đều được phong Tước hiệu. Hiện đang được
thờ cùng tại Đền thờ Tướng quân Lê Thành, làng Định Hòa, phường Đông Cương.
|
|
133
|
Mai Thị Ngọc Tiến
|
Nga Sơn
|
Mai Thị Ngọc Tiến (? -
1717), quê làng Thạch Tuyền, xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn. Bà là người học rộng
tài cao có thể giúp Vua trong việc trị nước, bà được phong là “Chiêu Dung
Công Chúa”, được ở lại trong cung để dạy bảo các Hoàng Tử, Công Chúa vào đời
Vua Lê Hy Tông hiệu Vĩnh Trị đệ nhất niên (năm Bính Thân 1676). Khi bà mất
vào đời Vua Lê Dụ Tông đệ tam niên (năm Đinh Dậu 1717), Vua Lê Dụ Tông rất nhớ
công ơn của bà đã dạy bảo chăm sóc mình từ nhỏ, Vua coi bà như mẹ mình và
phong sắc cho bà là bậc Hoàng Thái Hậu, coi bà như Quốc mẫu, cho tạc tượng và
lập đền thờ tại quê nhà.
|
|
134
|
Trương Quang Tiền
|
Thiệu Hóa
|
Trương Quang Tiền (tức
Trương Luân Đạo) (1615 - 1677), quê làng Kim Hoạch, huyện Thụy Nguyên (nay là
xã Thiệu Công, huyện Thiệu Hóa). Năm 26 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ
xuất thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa thứ 6 (1640), đời vua Lê Thần
Tông. Ông làm quan đến chức Đông các hiệu thư, tước Mai lâm tử.
|
|
135
|
Phan Kiêm Toàn
|
Thiệu Hóa
|
Phan Kiêm Toàn[218] (1615 - ?), quê huyện Thụy
Nguyên sau thuộc xã Thiệu Tâm (nay là thị trấn Hậu Hiền, huyện Thiệu Hóa).
Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi (1643), làm đến chức
Thượng thư Bộ hình.
|
|
136
|
Vũ Bá Trác
|
Thanh Hóa
|
Vũ Bá Trác (? - ?), quê
Thanh Hóa, làm quan dưới Triều Lê Trung Hưng. Ông thi Hương năm Quý Mão
(1783) đậu Cử nhân, giữ chức Thống đốc chi binh. Ông được thờ tại đình Xuân
Lưu, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đình đã được xếp hạng
di tích cấp tỉnh.
|
|
137
|
Đặng Xuân Tráng
|
Hà Trung
|
Đặng Xuân Tráng (? -
?), quê huyện Hà Trung, là một trong hai vị thủ lĩnh (Nguyễn Viết Toại, Đặng
Xuân Tráng) tiêu biểu của huyện Hà Trung trong phong trào Cần Vương chống thực
dân Pháp, có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng và chiến đấu ở cứ điểm
Ba Đình nổi tiếng.
|
|
138
|
Nguyễn Trật
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Trật (1581 -
1661), quê làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa (nay là thành phố
Thanh Hóa). Năm 20 tuổi (1600) ông thi đỗ Hương cống. Năm 51 tuổi, ông đỗ Đệ
Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Hợi (1623) đời Vua Lê Thần Tông. Ông
làm quan đến chức Công khoa đô cấp sự trung.
|
|
139
|
Vũ Trật
|
Thiệu Hóa
|
Vũ Trật (1463 - ?), quê
làng Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương, sau thuộc xã Thiệu Tâm (nay là thị trấn Hậu Hiền,
huyện Thiệu Hóa). Năm 25 tuổi, ông đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng
Đức thứ 18 (1487), đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Giám sát ngự
sử.
|
|
140
|
Bà Triều
|
Thành phố Sầm Sơn
|
Bà Triều (? - ?), quê
thành phố Sầm Sơn, tương truyền Bà là tổ sư nghề dệt săm xúc và tơ lụa, có sắc
phong từ đời Vua Lê Thánh Tông (giai đoạn 1460 - 1497) với Thánh vị “Hùng Triều
thánh tổ, Ưng đồ đại vương, Thượng đẳng tối linh thần”. Bà được Nhân dân
thành kính, tôn thờ vì đã có công truyền dạy cho Nhân dân Sầm Sơn cách dệt xăm
xúc đánh moi và lưới rùng để đánh bắt cá đem lại cuộc sống ấm no cho dân
làng. Để tưởng nhớ công ơn của bà, Nhân dân Sầm Sơn đã lập đền thờ Bà Triều tại
khu phố Công Vinh, phường Quảng Cư và khu phố Vĩnh Thành, phường Trung Sơn. Đền
thờ Bà Triều, phường Trung Sơn và phường Quảng Cư thành phố Sầm Sơn được Giám
đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại
Quyết định số 316/VHQĐ ngày 04/9/1995.
|
|
141
|
Mai Thị Triều
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Bà Mai Thị Triều (? -
?), quê thôn Thượng Thọ, Giáp Mai (làng Mai) xã Hào Môn, huyện Ngọc Sơn nay
là tổ dân phố Thống Nhất, phường Ninh Hải, thị xã Nghi Sơn. Bà Mai Thị Triều
thụy là Mẫu Khanh phu nhân hay còn gọi là Quý Thanh Tuyên từ ngọc nữ. Bà là
con người nhân hậu, tài đức hơn người, có công hộ quân đánh giặc, hộ lương
nuôi quân, phát chẩn cứu bần, được phong Hậu Thần. Đền thờ Mai Thị Triều được
xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
|
|
142
|
Lê Công Trinh
|
Hoằng Hóa
|
Lê Công Trinh (? - ?)
(Linh Thông Tôn Thần), quê thôn Phượng Mao, xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa.
Là vị tướng nhà Lê, có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh,
sau phò vua Lê Nhân Tông, có công lớn trong dẹp giặc Đồn Bàn, được triều đình
ban thưởng và cho phép lập đồn điền, khai khẩn đất hoang, chiêu dân lập ấp.
Theo truyền thuyết, sau khi Ngài qua đời thường hiện thánh giúp đỡ Nhân dân địa
phương, hiển linh âm phù vua Lê đánh Nhà Mạc. Những công lao to lớn của Ngài
đối với quê hương, đất nước đều vang danh qua các triều đại.
|
|
143
|
Nguyễn Nhân Trứ
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Nguyễn Nhân Trứ (1612 -
?), quê làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa. Ông đỗ Đệ Tam
Giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất (1634), đời Lê Thần Tông, giữ chức
công bộ Tả Thị Lang, tước Hoằng Phái hầu khi mất được tăng chức Thượng Thư.
|
|
144
|
Lưu Trung
|
Thọ Xuân
|
Lưu Trung (? - ?), quê
xã Đàm Thi, huyện Lương Giang, nay là làng Quảng Thi, xã Xuân Thiên, huyện Thọ
Xuân. Lưu Trung đến Lam Sơn tụ nghĩa tháng 3 năm Đinh Dậu (1417), ông cùng 13
người khác đội cỏ khô bơi theo dòng nước lấy được Linh Xa của bố vua (Lê Lợi)
về tang ở Động Chiêu Nghi như cũ. Lưu Trung tham gia nhiều trận đánh góp phần
cùng nghĩa quân Lam Sơn giải phóng đất nước. Năm Thuận Thiên Thứ nhất Mậu Thân
(1428) Lưu Trung được giữ chức Đồng Tổng quản vệ Quy hóa. Năm thuận thiên thứ
5 (1432) ông được thăng bảo chính công thần nhập nội, hạ quốc oai vệ chủ quân
sự. Sau được phong chức Tư Mã.
|
|
145
|
Lê Trung
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Trung (? - ?), quê thành
phố Thanh Hóa. Ông cùng Lê Thùy và Lê Duyên là 03 người con trai của Tướng
quân Lê Thành; các ông được sinh ra và lớn lên tại làng Định Hòa đã có công
phò Vua, giúp nước dưới triều Lê Sơ và đều được phong Tước hiệu. Hiện đang được
thờ cùng tại Đền thờ Tướng quân Lê Thành, Làng Định Hòa, phường Đông Cương.
|
|
146
|
Nguyễn Trừng
|
Đông Sơn
|
Nguyễn Trừng (? - ?),
quê xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông làm quan dưới triều Lê
Thần Tông được phong Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, nhập thị kinh diên bộ tòng,
hình bộ Tả thị lang, tức Lộc Diên Hầu, tên thụy là Thuần Trung tướng công ...
Đền thờ Nguyễn Trừng được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2011.
|
|
147
|
La Tu
|
Hậu Lộc
|
La Tu (? - ?), quê xã
Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng Giáp), khoa Giáp Dần
(1374) đời Trần Duệ Tông (cùng khoa với Nguyễn Ứng Long - cha đẻ Nguyễn
Trãi), từng làm tri phủ Thanh Hóa. Ông là hậu duệ của Áp lãng chân nhân La Viện.
|
|
148
|
Nguyễn Thị Ngọc Tú
|
Thị xã Bỉm Sơn
|
Nguyễn Thị Ngọc Tú (? -
?), là con gái của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và là Chính phi Thanh Đô vương
Trịnh Tráng. Sau khi làm nội cung của Trịnh Tráng (1623), bà về thăm quê
hương ở huyện Tống Sơn, nhân đó bỏ tiền công đức dựng chùa Khánh Quang (Trạch
Lâm). Trong chùa có tượng Vương phi tức là bà.
|
|
149
|
Trịnh Văn Tuấn
|
Thiệu Hóa
|
Trịnh Văn Tuấn (1585 -
?), quê làng Tuấn Kiệt, huyện Thụy Nguyên (nay là thôn Tuấn Kiệt, xã Thiệu
Phú, huyện Thiệu Hóa). Năm 56 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu
Dương Hòa thứ 6 (1640), đời vua Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Hàn lâm
Hiệu thảo ( Bài ký bia Tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa thứ 6
(1640), được khắc và dựng bia tại Văn miếu, vào ngày 16 tháng 11, niên hiệu
Thịnh Đức thứ 1 (1653), đời vua Lê Thần Tông).
|
|
150
|
Lê Bá Tùng
|
Đông Sơn
|
Lê Bá Tùng (1892 -
1948), quê làng Hàm Hạ, nay thuộc thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, là một
trong ba Đảng viên đầu tiên của Chi bộ Hàm Hạ (Chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh
Thanh Hóa).
|
|
151
|
Đỗ Tương
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Đỗ Tương (? - ?) (Đậu
Đình Tương), quê làng Giản Tín, xã Trúc Lâm, thị xã Nghi Sơn. Ông đỗ Tiến sỹ
khoa Ất Mùi năm 1475.
|
|
152
|
Chàng Út
|
Nông Cống
|
Chàng Út (? - ?), quê
huyện Nông Cống. Họ Lê tên húy là Hữu, hiệu Chàng Út, tôn phong Tham Xung Tá
Quốc, là con trai của Thái Thú Cửu Chân Lê Ngọc. Thời Tùy Đại Nghiệp
(603-617), khi nhà Đường tiêu diệt nhà Tùy, ngài cùng cha và ba anh em đứng
lên chọn vùng Đông Sơn - Nông Cống làm chiến khu riêng chống lại nhà Đường.
Trong ba anh em, ngài là con út xuất chúng hơn cả. Về sau, thất trận ngài hóa
ở đền Mưng, xã Trung Thành bên bờ sông Lãng Giang (nay là sông Cầu Quan thuộc
Nông Cống), Nhân dân tôn là Thánh Lưỡng (đọc chệch âm là Lãng thành Lưỡng).
Ngày nay, dân hai bên tả hữu sông Cầu Quan có rất nhiều làng thờ ông, toàn tỉnh
có 57 nơi thờ riêng (Nông Cống 43 nơi).
|
|
153
|
Hoàng Duy Văn
|
Hoằng Hóa
|
Hoàng Duy Văn (? - ?),
quê Phú Vinh, Hoằng Vinh, huyện Hoằng Hóa. Ông làm quan cuối thời Lê - Trịnh,
năm niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783), vì lập được nhiều công tích được triều
đình nghị bàn thăng cho hai cấp Bá hộ Phó Thiên hộ. Về sau thăng chức Phó Vệ
úy.
|
|
154
|
Lê Đình Vệ
|
Nông Cống
|
Lê Đình Vệ (1448 - ?),
quê làng Thổ Giá, huyện Nông Cống, nay là Thổ Vị, xã Tế Thắng, huyện Nông Cống.
Ông là em Hoàng giáp Lê Khắc Nhượng, thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân
(Hoàng giáp) khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508) đời Lê Uy Mục
(hai anh em thi đỗ đồng khoa). Khi làm quan văn ông giữ chức Đông các Đại học
sĩ. Còn quan võ là Phụ quốc Thượng tướng quân, hàm chánh tam phẩm.
|
|
155
|
Nguyễn Vi
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Vi (1608 - ?),
quê làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa (nay là thành phố Thanh
Hóa). Ông đỗ tiến sĩ khoa Đinh Sửu 1637 đời Lê Thần Tông, ông được ban chức lại
khoa đô đốc sư trung thành Lại khoa Đô cấp sự trung.
|
|
156
|
Lê Viêm
|
Thành phố Sầm Sơn
|
Lê Viêm (1849 - 1889),
quê thành phố Sầm Sơn, tự Lê Văn Hân, hiệu Quả Nghị. Ông sinh ra trong một gia
đình giàu truyền thống yêu nước. Theo các tài liệu, trong phong trào văn thân
giữa thế kỷ XIX, làng Hòa Chúng có ông Lê Viêm, thường gọi là Hương Thộ và Vũ
Kim Huy, thường gọi là Đường Hiêng liên kết với lãnh tụ Lãnh Phiên (Vũ Đình
Phiên, người làng Xuân Phương, xã Quảng Châu) chiêu tập nghĩa quân đánh Pháp.
Riêng làng Hòa Chúng, Lê Viêm đã tập hợp được trên 80 dân binh địa phương đứng
lên chống Pháp trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX và hợp sức với đội
quân của Lãnh Phiên. Lê Viêm được giao phụ trách quân lương. Ông tham gia nhiều
trận đánh, trong đó lớn nhất là trận đánh tại chợ Cầu Trỏi thuộc làng Hòa
Chúng ngày 8/3/1886 khiến cho quân địch hoang mang dao động. Sau đó, Lê Viêm
tham gia nghĩa quân Ba Đình được giữ chức "Đốc vận quân lượng" lo vận
chuyển lương thực, vũ khí. Khi căn cứ Ba Đình bị vỡ, Lê Viêm cùng một số
nghĩa quân khác rút lên vùng trung du tiếp tục đánh Pháp. Sau cách mạng tháng
8 năm 1945, tên Lê Viêm còn được đặt cho tên một xã trước khi có tên xã Quảng
Thọ.
|
|
157
|
Nguyễn Vĩnh
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Vĩnh (? - ?),
quê xã Lam Cầu, tổng Bái Cầu, huyện Hoằng Hóa, nay là thôn Lam Hà, xã Hoằng Đại,
huyện Hoằng Hóa. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất
(1646), niên hiệu Phúc Thái 4, đời Lê Chân Tông, ông làm quan chức Tham chính,
tước Nam.
|
|
158
|
Nguyễn Trọng Vĩnh
|
Vĩnh Lộc
|
Nguyễn Trọng Vĩnh
(1916-2019), quê xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc. Ông tham gia cách mạng từ sớm,
tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, được công nhận là lão thành
cách mạng. Là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III,
nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa đầu những năm 1970, là Thiếu tướng Quân đội
nhân dân Việt Nam và là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974 đến 1987.
Ông được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
|
|
159
|
Trần Văn Vĩnh
|
Thiệu Hóa
|
Trần Văn Vĩnh (1783 -
1876), quê xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa). Ông có chí tang bồng, có tài thao lược cung kiếm, tung hoành vó
ngựa xa trường, võ nghệ tinh tường theo hầu phủ soái, trù liệu luyện binh góp
công lao cho quân đội dưới thời vua Minh Mệnh được quân hùng tướng mạnh, đánh
đâu thắng đó. Cụ Vĩnh cũng được vua khen tặng về lòng trung nghĩa, hết lòng
trung quân ái quốc và đặc biệt thăng cho chức Phấn Dũng tướng quân thần sách
quân Hậu doanh, tuyển Phong hậu vệ phó vệ úy, trật tòng tam phẩm. Cụ được vua
Minh Mệnh ban cho cáo mệnh, tôn sùng nhất tâm nhất đức, hết lòng vì binh
nhung, chẳng quản gian khó, công lao càng thêm rạng rỡ, lan tỏa muôn phương.
Báo đáp công lao, để lại tiếng thơm muôn thuở.
|
|
160
|
Hoàng Doãn Vũ
|
Thiệu Hóa
|
Hoàng Doãn Vũ (1475 -
?), quê làng Đại Bối, huyện Đông Sơn (nay là thôn Đại Bái, xã Thiệu Giao, huyện
Thiệu Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, năm 34
tuổi niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508), đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức
Hữu thị lang.
|
|
161
|
Nguyễn Thời Vụ
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Nguyễn Thời Vụ (? - ?),
quê làng Kim Cốc, xã Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn. Vào những năm đầu thế kỷ
XVIII, ông cùng Trần Công Sủng và Lê Nhân Quý (người cùng làng Kim Cốc) có
công trong việc đắp đê ngăn mặn, đắp đường, khai phá rừng rậm thành cánh đồng,
xây dựng đình làng, chiêu dân lập ấp. Ông được tặng sắc phong là “Yên Trung
Tôn Thần” thời Long Đức Lê Thần Tông. Hiện nay nhà thờ ông và dòng họ Nguyễn
Tông đã tồn tại hơn 400 năm tại làng Kim Cốc (nay là tổ dân phố Kim Phú, phường
Mai Lâm).
|
|
162
|
Phong Xà
|
Thọ Xuân
|
Phong Xà (? - ?), quê
làng Ngọc Trung, xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, tương truyền ông là ông tổ nghề
ca công của nước ta. Tại đây từng có đến thờ ông. Hàng năm, các phường ca khắp
mọi miền đất nước đều về dự ngày giỗ để tỏ lòng biết ơn.
|
|
163
|
Hoàng Đăng Xuân
|
Hậu Lộc
|
Hoàng Đăng Xuân (1678 -
?), quê xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc. Ông đỗ Tiến sĩ năm Ất Mùi (1715), làm đến
chức Thừa chính sứ. Khi mất tặng chức Tả Thị Lang.
|
2.3. Anh hùng lực lượng vũ
trang Nhân dân: 31 anh hùng
|
STT
|
Tên dùng
|
Quê quán
|
Tóm tắt lý lịch
|
|
1
|
Lương Văn Biêng
|
Quan Hóa
|
Lương Văn Biêng (1949 -
1993), quê Bản Ken, xã Nam Động (nay là Bản Ken 1, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa).
Ông nhập ngũ tháng 7/1967 khi ông 18 tuổi, trong thời gian tham gia kháng chiến
do có nhiều thành tích trong chiến đấu ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vào ngày 15/01/1976 khi ông 27 tuổi.
Sau đó, ông cùng gia đình chuyển vào Nam sinh sống. Do vết thương cũ tái phát
và mắc bệnh hiểm nghèo, ông đã mất năm 1993 tại Đăk Lăk khi ông mới 44 tuổi.
|
|
2
|
Lê Xuân Bồng
|
Hoằng Hóa
|
Lê Xuân Bồng (1947 -
1995), quê xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ tháng 2/1965, có nhiều
thành tích trong chỉ huy và chiến đấu, ngày 15/1/1976, ông được phong Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Ông mất năm 1995.
|
|
3
|
Lò Văn Bường
|
Thường Xuân
|
Lò Văn Bường (1924 -
2019), quê thôn Cộc Chẻ, Xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, ông là người dân tộc
Thái.
Năm 1948, ông tham gia
kháng chiến chống Pháp, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, ông từng giữ chức
Trung đội Phó bộ binh thuộc đoàn 335, bộ đội tình nguyện, hoạt động tại miền
Tây giúp bạn. Năm 1956, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Ông là cựu chiến binh lao động sản xuất giỏi. Ông mất năm 2019.
|
|
4
|
Lê Đình Chinh
|
Thành phố Thanh Hóa
|
Lê Đình Chinh (1960 - 1978),
quê xã Hoằng Quang (nay là thành phố Thanh Hóa). Lê Đình Chinh sớm tham gia lực
lượng công an vũ trang, ông hy sinh trong trận gây rối ở biên giới phía Bắc,
góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên
phòng Ải Bắc. Ngày 31/12/1978, được truy tặng danh hiệu là Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
|
|
5
|
Lê Văn Đa
|
Thạch Thành
|
Lê Văn Đa (1948 -
1969), quê huyện Thạch Thành. Ông nhập ngũ tháng 4 năm 1967, hy sinh ngày 22
tháng 02 năm 1969. Cấp bậc, chức vụ khi hy sinh: Thượng sĩ - Trung đội trưởng
đội đặc công nước Thị đội Hội An (Quảng Nam), hy sinh trong trận đánh vào
trung tâm nội ô tiêu diệt cơ quan đầu não của Mỹ ngụy tại Hội An, Quảng Nam.
Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
năm 2018.
|
|
6
|
Trần Quang Đắp
|
Thiệu Hóa
|
Trần Quang Đắp (1946 -
1967), quê xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa. Nhập ngũ tháng 4/1965; Đơn vị đại
đội 21 trinh sát, Trung đoàn 165, sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Hy sinh ngày
21/11/1967. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
theo Quyết định số 803/QĐ ngày 25/4/2013 của Chủ tịch nước.
|
|
7
|
Mai Văn Dậu
|
Nga Sơn
|
Mai Văn Dậu (1923 -
2018), quê thôn Hợp Long 1, xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, được
phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2018.
|
|
8
|
Bùi Ngọc Đủ
|
Quảng Xương
|
Bùi Ngọc Đủ (1942 -
2017), quê xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương. Năm 1961, ông nhập ngũ đi B và được
biên chế vào Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 821, Sư đoàn 324. Suốt từ đó đến năm
1969, ông cùng đồng đội tham gia gần 100 trận đánh trên các chiến trường, lập
nhiều chiến công, được tặng nhiều huân - huy chương các loại. Năm 1970, ông
vào chiến trường Tây Nguyên. Ngày 24/2/1972, ông chỉ huy tiểu đoàn pháo binh
2 đánh vào Đăk Tô - Tân Cảnh. Ngày 20/4/1975, ông cùng sư đoàn tham gia chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh vào Bình Phước, Củ Chi và giải phóng Sài Gòn
ngày 30/4/1975. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, là Thiếu tá làm Phó
ban Tổ chức huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Sau đó, ông giữ nhiều chức vụ khác
nhau và chỉ huy 17 trận đánh với Fulrô. Năm 1995, ông nghỉ hưu, làm Chủ tịch
Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội khuyến học huyện Mang Yang. Ông Bùi Ngọc Đủ
đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000. Ông mất năm
2017.
|
|
9
|
Nguyễn Minh Đức
|
Hoằng Hóa
|
Nguyễn Minh Đức (1918 -
1967), quê xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa. Ông là Anh hùng lực lượng vũ
trang Nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ.
|
|
10
|
Phạm Viết Đức
|
Hoằng Hóa
|
Phạm Viết Đức (1936 -
2022), quê xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ năm 1956, công tác trong
Nhà máy Q159 chuyên sản xuất phụ tùng sửa chữa xe máy. Với tinh thần lao động
hăng say, đồng chí đã có nhiều sáng kiến tăng năng suất lao động, chất lượng
sản phẩm, tiết kiệm vật liệu và bảo vệ trang thiết bị nhà máy. Ngày
1/10/1971, đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.
|
|
11
|
Lưu Thế Hà
|
Yên Định
|
Lưu Thế Hà (1961 -
1981), quê xã Yên Bái, nay là Yên Trường, huyện Yên Định, ông sinh ra trong
gia đình cán bộ (Bố là phó hiệu trưởng trường cấp 3, các anh chị là cán bộ ở nhiều
ngành). Học xong cấp 3, ông tham gia lực lượng an ninh vũ trang và công tác tại
tỉnh Lâm Đồng. Qua quá trình công tác, ông được bầu là chiến sỹ thi đua của
đơn vị. Năm 1981, ông được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân
dân.
|
|
12
|
Lê Hữu Hãnh
|
Vĩnh Lộc
|
Lê Hữu Hãnh (1948 -
2018), quê huyện Vĩnh Lộc. Ông nguyên là phó tham mưu trưởng lữ đoàn 229 - Bộ
tư lệnh công binh. Ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân, huân chương chiến công hạng Nhất, huân chương chiến công hạng Nhì, huân chương
chiến công hạng Ba, huy chương quân kỳ chiến thắng, huân chương chiến sĩ vẻ
vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
|
|
13
|
Lê Trọng Huyên
|
Thiệu Hóa
|
Lê Trọng Huyên (1934 -
1972), quê huyện Thiệu Hóa, là thiếu tá phi công hy sinh trong khi đang thực
hiện nhiệm vụ chiến đấu trên bầu trời miền Bắc với máy bay Mỹ. Ông đã được
truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tại Quyết định
số 161/KT-CTN ngày 28/4/2020, ông là 1 trong khoảng 20 người là anh hùng liệt
sĩ trong số hơn 80 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là người Thanh Hóa.
|
|
14
|
Lê Hỷ
|
Thạch Thành
|
Lê Hỷ (1935 - 2022),
quê khu phố 1 Liên Sơn, thị trấn Kim Tân (trước đây là Thôn 1 Liên Sơn, xã
Thành Kim), huyện Thạch Thành. Nguyên quán: xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa, tỉnh
Thanh Hóa.
Tháng 01 năm 1954, ông
nhập ngũ. Năm 1966, ông cùng đơn vị được điều vào chiến trường Quảng Trị
(Vĩnh Linh) để nghiên cứu đánh B52. Ngày 17/9/1967, ông cùng đồng đội thuộc
Trung đoàn 238 đã bắn rơi được chiếc B52 đầu tiên, trong đó ông là người trực
tiếp đã phóng 02 quả tên lửa vào mục tiêu. Ngày 22/12/1967, đơn vị ông bắn
rơi thêm 01 chiếc B52, tổng cộng đã bắn rơi 6 máy bay ở Vĩnh Linh, trong đó
ông tham gia bắn rơi được 04 máy bay B52. Ông đã được tặng thưởng nhiều huân,
huy chương cao quý, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước phong tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2015.
|
|
15
|
Hà Văn Kẹp
|
Bá Thước
|
Hà Văn Kẹp (1942 -
2021), quê xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; ông là người dân tộc Thái, nhập ngũ
tháng 02/1961. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ông là Chuẩn
úy, Trung đội phó trinh sát thuộc Tiểu đoàn 923, Đoàn 959 (Bộ đội tình nguyện
giúp Lào), Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông được Nhà nước phong tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu
nước ngày 01/01/1967.
|
|
16
|
Cao Văn Khang
|
Hoằng Hóa
|
Cao Văn Khang (1944 -
1987), quê xã Hoằng Khánh (nay là Hoằng Xuân), huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ
tháng 4/1963, trong công tác, đồng chí đã không sợ hy sinh, nguy hiểm, cùng tổ
công binh 3 người do ông phụ trách tháo gỡ được 715 quả bom và bom nổ chậm,
trong đó có 50 quả bom tạ trong vòng 16 tháng, đã thu hàng tấn thuốc nổ cho
đơn vị. Đặc biệt là người tìm tòi nghiên cứu, tháo gỡ được loại bom bi, rồi
phổ biến kinh nghiệm đi các nơi, trong khi chỉ mới biết trên lý thuyết một số
loại bom cũ. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba và
được bầu là chiến sỹ thi đua của đơn vị. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, đồng chí
Cao Văn Khang được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
|
|
17
|
Nguyễn Đình Khơi
|
Yên Định
|
Nguyễn Đình Khơi (1951
- 1978), quê huyện Yên Định, nay là thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, ông là
liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, có hai Huân chương chiến công
hạng Ba, một Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba, truy tặng Huân chương
chiến công hạng Nhì, đã hy sinh ngày 17 tháng 11 năm 1978 tại mặt trận Tây
Nam Tổ quốc.
|
|
18
|
Nguyễn Ngọc Khuyến
|
Hậu Lộc
|
Nguyễn Ngọc Khuyến
(1949 - 2007), quê xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Ông là người lính cao xạ, có mặt
trên nhiều chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ, ở những trận địa ác liệt
nhất như Cầu Ghép, Hoàng Mai, Bến Thủy, Ngã Ba Đồng Lộc, đường 9 Nam Lào, Huế,
Quảng Trị, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông cùng đồng đội bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắt
sống 2 phi công, được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba, Huy hiệu
Bác Hồ, ba lần là Chiến sỹ quyết thắng. Ngày 01/11/1971, ông được phong tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2007.
|
|
19
|
Lê Hữu Kiển
|
Quảng Xương
|
Lê Hữu Kiển tức Lê Quốc
Bảo (1925 - 2006), quê xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương. Ông nhập ngũ tháng
10/1954 liên tục chiến đấu ở chiến trường khu V đến tháng 5/1959 trở lại chiến
trường Tây Nguyên. Từ năm 1959 - 1965 phụ trách đội vũ trang tuyên truyền, với
cương vị chỉ huy trưởng đã chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương nhanh chóng
phát triển lực lượng, tích cực đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn
tên, hỗ trợ đắc lực cho phong trào quần chúng nổi dậy diệt ác ôn. Lê Hữu Kiển
được tặng 02 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương chiến
công giải phóng hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua. Lê Hữu Kiển được Chủ tịch
nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất
tại Đắk Lắk.
|
|
20
|
Hoàng Văn Kỹ
|
Hoằng Hóa
|
Hoàng Văn Kỹ (1939 -
1967), quê quán xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Ông bắn rơi 4 máy bay Mỹ, hy
sinh trong trận đánh không cân sức ngày 5/6/1967 với máy bay Mỹ trên vùng trời
Vĩnh Phúc, là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ.
|
|
21
|
Đặng Đình Lống
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Đặng Đình Lống (1942 -
1964), quê phường Hải Châu, nay là thị xã Nghi Sơn. Ông là liệt sỹ thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân năm 2005.
|
|
22
|
Phan Bá Mạnh
|
Nông Cống
|
Phan Bá Mạnh (1952 -
1979), quê huyện Nông Cống. Liệt sĩ Phan Bá Mạnh, trung úy, đại đội trưởng Đại
đội 10 bộ binh Lạng Sơn, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông lập được nhiều
thành tích trong công cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống bọn xâm lược
mới ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc. Ông được tặng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1979.
|
|
23
|
Tống Xuân Nhuận
|
Nông Cống
|
Tống Xuân Nhuận (1922 -
1996), quê xã Trường Trung, huyện Nông Cống, được truy tặng Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông từng giữ Phó Ty
Công an Thanh Hoá (1959 - 1967), Trưởng Ty Công an Thanh Hóa (4/1979 - 1981),
Giám đốc Công an tỉnh Thanh Hoá (1981 - 6/1988).
|
|
24
|
Ngô Khắc Quyền
|
Thường Xuân
|
Ngô Khắc Quyền (1956 -
1978), quê quán xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân. Ông là trung sĩ, trung đội
trưởng bộ binh, đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 273, sư đoàn 341, quân
đoàn 4. Từ tháng 9/1977 đến ngày 18/7/1978, ông chiến đấu ở biên giới Tây
Nam, tham gia chiến đấu trên 80 trận, diệt 35 tên địch, thu 40 khẩu súng các
loại. Ngày 18/7/1978, tại trận đánh ở Búa Lớn (Tây Ninh) ông bị thương nặng
hy sinh tại tỉnh Tây Ninh. Năm 1981 ông được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Ông hy sinh ngày 18/7/1978 tại mặt trận biên giới Tây Nam.
|
|
25
|
Ngô Văn Tác
|
Yên Định
|
Ngô Văn Tác (1939 -
2014), quê xã Định Hòa, huyện Yên Định. Năm 1959 nhập ngũ vào bộ đội, là
Trung úy, trưởng xe kiêm sỹ quan điều khiển thuộc tiểu đoàn 71 tên lửa, trung
đoàn 285, sư đoàn 369, quân chủng phòng không, không quân. Ông tham gia chiến
đấu 44 trận ở nhiều tỉnh miền Bắc góp phần bắn rơi 22 máy bay Mỹ, chống lại tên
lửa Sơ - rai của địch dùng để phá tên lửa của ta, ba lần đạt Chiến sỹ thi
đua, hai lần Chiến sỹ quyết thắng.
Năm 1969, ông được tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2014.
|
|
26
|
Hà Văn Thanh
|
Thường Xuân
|
Hà Văn Thanh (1948 -
2002), quê xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân; là người dân tộc Thái, ông tham
gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông là Đảng viên, thượng sĩ, Trung đội phó
Đại đội 11 ô tô vận tải, Tiểu đoàn 51, binh trạm 34, đoàn 559. Từ năm 1969 đến
năm 1972, ông lái xe vận chuyển đến tuyến đường 559. Trong suốt những năm
tháng trên chiến trường, ông đã lái 38.221 km an toàn, ông được tặng thưởng 3
huân chương chiến công hạng 3, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 5 lần là Chiến
sĩ thi đua, 42 bằng khen.
Với nhiều chiến công xuất
sắc, ngày 3 tháng 9 năm 1973, ông được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong chống Mỹ cứu nước tại Quyết định số
324/SV ngày 03/9/1973 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ông mất
năm 2002.
|
|
27
|
Nguyễn Văn Thất
|
Quảng Xương
|
Nguyễn Văn Thất (1955 -
1975), quê xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương. Ông là Chiến sỹ Đại đội 1, Z23, Lữ
đoàn 136, Đặc công biệt động, Bộ Tham mưu Miền Quân khu 7, hy sinh năm 1975.
Do lập được nhiều chiến
công, nhất là trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 09/10/2014 Chủ tịch nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân cho Liệt sỹ Nguyễn Văn Thất tại Quyết định số: 2557/QĐ-CTN
ngày 09/10/2014.
|
|
28
|
Lê Thụy
(tức Lê Hữu Thúy)
|
Hoằng Hóa
|
Lê Thụy (1926 - 2000)
(tức Lê Hữu Thúy), quê xã Hoằng Quang, Hoằng Hóa (nay là thành phố Thanh
Hóa), là một tình báo viên chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã
được nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân năm 1996.
|
|
29
|
Phạm Văn Tiềm
|
Thị xã Nghi Sơn
|
Phạm Văn Tiềm (1952 -
1973), quê phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn ngày nay, ông là liệt sỹ thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân năm 2013.
|
|
30
|
Lê Văn Trung
|
Thiệu Hóa
|
Lê Văn Trung (1928 -
2022), quê xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hóa, nhập ngũ tháng 11/1966. Ông đã từng
đảm nhận cấp bậc chuẩn úy, trạm trưởng sửa chữa xe máy thuộc Trung đoàn 216,
Bộ tư lệnh công binh. Từ năm 1966 đến 1978, làm nhiệm vụ sửa chữa ô tô, xe
máy phục vụ đơn vị chiến đấu và công tác ở nước bạn Lào. Ông được tặng thưởng
1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải
phóng hạng Ba, 5 lần được bầu là Chiến sĩ quyết thắng, 10 lần được bầu là Chiến
sĩ thi đua, được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày
6/11/1978.
|
|
31
|
Lê Văn Ức
|
Hoằng Hóa
|
Lê Văn Ức (1950 -
2021), quê xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ năm 1968, có nhiều công
lao trong chỉ huy, chiến đấu và bảo vệ lực lượng đảm bảo an toàn khi địch bắn
phá ác liệt. Ngày 20/9/1971, đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
|
2.5. Anh hùng lao động: 01
anh hùng
|
STT
|
Tên dùng
|
Quê quán
|
Tóm tắt lý lịch
|
|
1
|
Nguyễn Văn Huê
|
Nông Cống
|
Nguyễn Văn Huê (1926 - 2018),
quê Trường Trung, huyện Nông Cống. Ông là Nhà giáo tiêu biểu của tỉnh Thanh
Hóa nói riêng và cả nước nói chung, Trong những năm chống chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng ông đã xây dựng Trường cấp 1 Hải
Nhân (Tĩnh Gia) trở thành lá cờ đầu phong trào thi đua yêu nước trong hệ thống
trường phổ thông toàn miền Bắc, năm 1967, ông vinh dự được Chủ tịch nước
phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa III,
IV, V.
|
PHỤ LỤC II
SỬA ĐỔI PHỤ LỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH
CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ
90/2017/NQ-HĐND NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số 33/2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội
đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
(Tổng số: 22 tên)
|
STT
|
Tên đơn vị
|
Tên[219]
|
Trích yếu phần sửa đổi
(Dẫn nguồn tài liệu có liên quan)
|
Số trang trong Phụ lục
|
Ghi chú
|
|
1
|
Thành phố Sầm Sơn
(03 tên)
|
Độc Cước
|
Đền Độc Cước là đền thờ
vị thần mang cùng tên, một vị thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đền Độc
Cước nằm trên đỉnh núi mang tên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ ở thành
phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh bãi biển Sầm Sơn. Đền mang tên Độc Cước
(nghĩa là một chân), gắn liền với sự tích chàng trai khổng lồ đã tự xé đôi
thân mình để vừa đánh giặc quỷ biển ngoài khơi và đánh giặc trong đất liền cứu
dân làng. Đền Độc Cước được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt. (Quyết định
số 1954/QĐ-TTg ngày 31/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc xếp hạng di
tích quốc gia đặc biệt).
|
20
|
Bổ sung di tích quốc
gia đặc biệt. Bổ sung lý lịch.
|
|
Trường Lệ
|
Núi Trường Lệ thuộc địa
phận phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố
Thanh Hóa 17 km về phía Đông Nam.
Núi Trường Lệ được cấu
thành từ những dải núi xếp liên tiếp nhau, hướng từ phía đất liền vươn dần ra
tới biển. Núi Trường Lệ được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. (Quyết định
số 1954/QĐ-TTg ngày 31/12/2019).
|
21
|
Bổ sung di tích quốc
gia đặc biệt. Bổ sung lý lịch.
|
|
Cô Tiên
|
Đền Cô Tiên nằm trên đỉnh
hòn Đầu Voi cuối dãy núi Trường Lệ về phía Tây Nam. Hòn Đầu Voi là hòn thứ
năm trong hệ thống phân loại dân gian. Nó có tên chữ là “Tượng Đầu Sơn” cũng có
nghĩa núi Đầu Voi, vì dãy núi Trường Lệ đang chạy dài đến chỗ này chợt nhô ra
một hòn hình dáng như đầu con voi đang cúi mình uống nước. Đền Cô Tiên được xếp
hạng là di tích quốc gia đặc biệt. (Quyết định số 1954/QĐ-TTg ngày
31/12/2019).
|
41
|
Bổ sung di tích Quốc
gia đặc biệt. Bổ sung lý lịch.
|
|
2
|
Huyện Nga Sơn
(03 tên)
|
Hữu Loan
|
Là nhà thơ Việt Nam.
|
77
|
Cụm từ “nhà văn” chưa
chính xác sửa lại thành “nhà thơ”.
|
|
Mai An Tiêm
|
Mai An Tiêm (?-?), là
nhân vật có trong truyền thuyết; theo truyền thuyết Mai An Tiêm là con rể của
vua Hùng Vương, người đã trồng được giống dưa hấu quý, được coi là ông tổ của
nghề trồng dưa hấu tại Việt Nam. Ngày nay, tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn có đền
thờ ông và được Nhân dân địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 12 đến 15 tháng 3
âm lịch hàng năm.
|
98
|
Nội dung phần tóm tắt
lý lịch chưa chính xác: “Mai An Tiêm (?-?) quê Thanh Hóa là một nhân vật truyền
thuyết thời Hùng Vương, được hư cấu là một người gặp tiên và ở cùng tiên nữ
trong chốn tiên cảnh. Tương truyền nơi ông gặp tiên chính là Động Từ Thức”.
|
|
Mai Hữu Dụng
|
Quê làng Nga Lộ (xã Nga
Mỹ cũ), nay là tiểu khu Nga Lộ 2 thị trấn Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
|
119,120
|
Nội dung quê quán trong
phần tóm tắt lý lịch chưa chính xác: “...quê làng Nga Lộ, nay thuộc xã Ba Đình,
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
|
|
3
|
Huyện Mường Lát
(03 tên)
|
Đỉnh Hin Phăng
|
Đỉnh Hin Phăng, tên dãy
núi ở xã Tam Chung, huyện Mường Lát (Nghị định số 72-CP ngày 18/11/1996 của
Chính Phủ[220]).
|
16
|
Điều chỉnh Đỉnh Hin
Phăng của huyện Quan Hóa sang huyện Mường Lát.
|
|
Suối Sim
|
Suối Sim, tên con suối ở
huyện Mường Lát; bắt nguồn từ Lào, qua xã Mường Chanh, xã Quang Chiểu, khu phố
Tén Tằn và đổ vào Sông Mã (Nghị định số 72-CP ngày 18/11/1996 của Chính Phủ).
|
18
|
Điều chỉnh Suối Sim từ
huyện Quan Sơn sang huyện Mường Lát.
|
|
Quang Chiểu
|
Quang Chiểu, tên tổng của
châu Quan Hóa trước năm 1945, nay là địa bàn xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát
(Nghị định số 72-CP ngày 18/11/1996 của Chính Phủ).
|
18
|
Điều chỉnh Quang Chiểu
từ huyện Quan Hóa sang huyện Mường Lát.
|
|
4
|
Thị xã Nghi Sơn (03 tên)
|
Trần Oanh
|
Trần Oanh quê làng Ngọc
Đường, xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ông là cố xạ thủ bắn súng
giỏi nhất thế giới ở thế kỷ XX tại Tiệp Khắc, đã được phong danh thủ thể thao
thế giới. Tên ông đã được đặt tên cho một con đường ở thành phố Thanh Hóa.
|
133
|
Sửa đổi từ “danh nhân”
thành “xạ thủ”.
|
|
Lê Minh Huân
|
Anh hùng liệt sỹ Lê
Minh Huân (1936 - 1965), quê xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, là Anh hùng lực lượng
vũ trang Nhân dân. Ông nhập ngũ tháng 3/1953, là trung úy, trung đội trưởng,
thuộc Đại đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 không quân, Bộ Tư lệnh không
quân. Ông được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30/8/1995.
(Nguồn tư liệu do gia đình cung cấp).
|
150,151
|
Bổ sung tóm tắt lý lịch.
|
|
Vũ Tiến Trung
|
Vũ Tiến Trung (1944 -
1969), quê Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, là Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
Ông nhập ngũ năm 1962, là trung đội trưởng bộ binh, bộ đội địa phương Sài Gòn
- Gia Định. Ông tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, đánh sập 02 cầu, đánh chìm
01 tàu, diệt 17 tên địch. Vũ Tiến Trung được tặng thưởng Huân chương Chiến
công giải phóng hạng Nhất, 02 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. (Nguồn
tư liệu do gia đình cung cấp).
|
152
|
- Bổ sung năm mất: Vũ
Tiến Trung (1944 - 1969), bổ sung tóm tắt lý lịch.
|
|
5
|
Huyện Đông Sơn
(01 tên)
|
Tuân Hóa
|
Tuyên Hóa là tên một tổng
của huyện Đông Sơn trước năm 1945. Còn Tuân Hóa là tên một làng cổ của xã Đông
Minh huyện Đông Sơn, Thời Gia Long (1802 - 1819), làng Tuân Hóa thuộc tổng Lê
Nguyễn (Theo sách Địa chí huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, năm 2006).
|
7
|
Sửa đổi tên “Tuân Hóa”
thành “Tuyên Hóa”. Bổ sung tóm tắt lý lịch.
|
|
6
|
Huyện Quan Sơn
( 01 tên)
|
Bỏ Cúng
|
Sửa đổi tên địa danh “Bỏ
Cúng” thành “Bo Cúng”.
|
17
|
|
|
7
|
Huyện Thạch Thành
(01 tên)
|
Cổ Tế
|
“...Trung đội trực chiến
cùng nhân dân xã Thạch Long, huyện Thạch Thành đã nhiều lần bắn trả máy bay Mỹ...”.
|
19
|
Sửa đổi từ “bắn hạ” thành
“bắn trả”.
|
|
8
|
Huyện Hoằng Hóa
(01 tên)
|
Huyện Điện Bàn (Quảng Nam)
|
Huyện Điện Bàn (Quảng
Nam) kết nghĩa với huyện Hoằng Hóa.
|
37
|
Sửa đổi cụm từ “kết
nghĩa với huyện Tĩnh Gia” thành “kết nghĩa với huyện Hoằng Hóa”.
|
|
9
|
Huyện Thường Xuân
(01 ten)
|
Cầm Bá Thước
|
Sửa đổi tên “Bản Chiềng
Váng” thành “bản Chiếng Ván” (nguyên văn tiếng dân tộc Thái trắng).
|
97
|
|
|
10
|
Huyện Hậu Lộc
(01 tên)
|
Đinh Chương Long
|
Đinh Chương Long
(1912-?), là con trai đầu của nhà cách mạng Đinh Chương Dương. Năm 1925, khi còn
là niên thiếu được Bác Hồ chọn là một trong 8 thiếu niên tham gia huấn luyện
theo chương trình của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội và được Bác
đặt bí danh là Lý Văn Minh. Năm 1938, được Đảng và Bác cử đi học ở trường Đại
học Phương Đông ở Liên Xô. Năm 1941, Liên Xô bị Đức tấn công, phong tỏa, ông
cùng với các chiến sỹ quốc tế gồm những người đến từ nhiều quốc gia khác
nhau: Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Việt Nam, Braxin... .tham gia “Lữ đoàn quốc tế”
chiến đấu bảo vệ Matxcova. (Theo trang 557, 558 của Địa chí Hậu Lộc, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, năm 2018).
|
129
|
Bổ sung năm sinh (1912
- ?). Sửa đổi lý lịch: Đinh Chương Long “từng tham gia phong trào Cần Vương
chống Pháp và khởi nghĩa Ba Đình” là chưa đúng. Khởi nghĩa Ba Đình diễn ra
năm 1886 - 1887 trong khi Năm 1912 ông mới sinh.
|
|
11
|
Ông Hoàng Lê Hổ
(Thành phố Hồ Chí Minh)
|
Hoàng Lệ Kha
|
Sửa đổi tên “Hoàng Lệ
Kha” thành “Hoàng Lê Kha”.
|
70
|
|
|
12
|
Thành viên Ban biên soạn (03 tên)
|
Doãn Bằng Hài
|
Sửa đổi tên “Doãn Bằng
Hài” thành “Doãn Bang Hiến”.
|
122
|
|
|
Doãn Anh Khải
|
Sửa đổi tên “Doãn Anh
Khải” thành “Doãn Anh Khái”.
|
126
|
|
|
Lê Khắc Tuyến
|
Sửa đổi tên “Lê Khắc
Tuyến” đổi thành “Lê Khắc Khuyến”.
|
147
|
|
[1] Hàm
Long được dùng đặt tên cho một phố của phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa.
[2] Tại
mục này, cơ quan thường trực đang tập hợp đề xuất đưa vào tổng số các tên phủ,
tổng, châu có trong sách Đồng Khánh địa dư chí. Cụ thể, theo Đồng Khánh địa dư
chí có: 05 phủ (phủ Hà Trung, phủ Thiệu Hóa, phủ Tĩnh Gia, phủ Quảng Hóa, phủ
Thọ Xuân). Hiện tại 01 phủ: Quảng Hóa không còn được dùng, tuy nhiên đã có
trong Nghị Quyết số 90/2017/NQ-HĐND, 03 phủ hiện dùng tên của các huyện, thị;
01 phủ Tĩnh Gia đã không còn tên do sáp nhập. Cơ quan thường trực đề xuất đưa
tên Tĩnh Gia vào); có 128 tổng, trong đó có 03 tổng đến nay thuộc địa danh hành
chính Lào (tổng Trình Cố; tổng Chấp Yết; tổng Trình Phủ); bổ sung vào lần này
90 tên tổng; 31 tên tổng hiện một số có tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND; 02
tên tổng hiện đang là tên đơn vị hành chính cấp huyện (tổng Ngọc Lặc, tổng Yên
Định); Có 19 châu, huyện, trong đó đưa vào 05 châu, huyện (Mỹ Hóa, Thụy Nguyên,
Quảng Tế, Lôi Dương, Lương Chánh); có 02 tên đã có Nghị quyết số
90/2017/NQ-HĐND, 12 tên hiện các đơn vị hành chính cấp huyện, thị đang dùng
(huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Xương, Nông Cống,
Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quan Hóa, Cẩm Thủy, Thường Xuân).
[3] Dẫn
nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[4] Dẫn
nguồn: Trang 1143, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[5] Dẫn
nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[6] Dẫn
nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[7] Dẫn
nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[8] Dẫn
nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[9] Dẫn
nguồn: Trang 1099, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[10]
Vạn Lai - Yên Trường: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày
12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên, đổi tên đường, phố và
công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
[11]
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[12]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[13]
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[14]
Dẫn nguồn: Trang 1090, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[15]
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[16]
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[17]
Dẫn nguồn: Trang 1136, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[18]
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[19]
Dẫn nguồn: Trang 1087, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[20]
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[21]
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[22]
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[23] Dẫn
nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[24]
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[25]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[26]
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[27]
Dẫn nguồn: Trang 1096, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[28]
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[29]
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[30]
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[31]
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[32]
Dẫn nguồn: Trang 1123, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[33]
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[34]
Dẫn nguồn: Trang 1096, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[35]
Dẫn nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[36]
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[37]
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[38]
Dẫn nguồn: Trang 1089, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[39]
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[40]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[41]
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[42]
Dẫn nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[43] Dẫn
nguồn: Trang 1126, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[44]
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[45]
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[46]
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[47]
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[48]
Dẫn nguồn: Trang 1097, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[49]
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[50]
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[51]
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[52]
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[53]
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[54]
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[55]
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[56]
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[57]
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[58]
Dẫn nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[59]
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[60]
Dẫn nguồn: Trang 1136, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[61]
Dẫn nguồn: Trang 1091, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[62]
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[63] Dẫn
nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[64]
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[65]
Dẫn nguồn: Trang 1134, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[66]
Dẫn nguồn: Trang 1102, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[67]
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[68]
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[69]
Dẫn nguồn: Trang 1138, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[70]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[71]
Dẫn nguồn: Trang 1102, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[72]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[73]
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[74]
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[75]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí
[76]
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[77] Dẫn
nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[78]
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[79]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[80]
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[81]
Dẫn nguồn: Trang 1099, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[82]
Dẫn nguồn: Trang 1120, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[83]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[84]
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[85]
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[86]
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[87]
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[88]
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[89]
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[90]
Dẫn nguồn: Trang 1089, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[91]
Dẫn nguồn: Trang 1116, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[92]
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[93]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[94]
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[95]
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[96]
Dẫn nguồn: Trang 1116, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[97]
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[98]
Dẫn nguồn: Trang 1117, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[99]
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[100]
Dẫn nguồn: Trang 1115, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[101] Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải ghi
chép.
[102]
Mường: Là khu vực tự quản của một Lang đạo.
[103]
Dẫn nguồn: Trang 18, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[104]
Dẫn nguồn: Trang 15, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[105]
Dẫn nguồn: Trang 33, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2001.
[106]
Dẫn nguồn: Trang 38, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2001.
[107]
Kẻ - là từ chỉ một khu vực, một vùng đất tương đương với đơn vị hành chính như
làng, xã.
[108]
Dẫn nguồn: Trang 47, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[109]
Dẫn nguồn: Trang 45, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[110]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[111]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[112]
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[113]
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[114]
Dẫn nguồn: Trang 24, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[115]
Dẫn nguồn: Trang 29, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[116]
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[117]
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[118]
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[119]
Trang: Tên dùng để chỉ đơn vị hành chính dưới thời Nguyễn (trang, sở, xã,
thôn.)
[120]
Theo Địa chí huyện Hà Trung, trang 102 và Lịch sử Đảng bộ xã Hà Long, trang 20.
[121]
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[122]
Dẫn nguồn: Trang 40, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[123]
Nam Khê đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng
nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ
ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa.
[124]
Dẫn nguồn: Trang 46, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[125]
Năm 1221, làng Bồ Điền được đổi tên thành làng Phú Điền. Làng Phú Điền được
phân chia thành 12 ngõ lát đá, được đặt tên từng ngõ gồm: Ngõ Chùa, Ngõ Củi,
Ngõ Liễu, Ngõ Mạc, Ngõ Nang, Ngõ Nhãn, Ngõ Nhồi, Ngõ Thị, Ngõ Bồ Ngòn, Ngõ Củng,
Ngõ Y Môn lớn, Ngõ Y Môn bé. (Theo Lịch làng Phú Điền, trang 3).
[126]
Đông Lưu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018.
[127]
Dẫn nguồn: Trang 87, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[128]
Dẫn nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[129]
Dẫn nguồn: Trang 82, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[130]
Theo Làng xã Thanh Hóa, tập 1, trang 64.
[131]
Theo Quyết định số 185-TCCP ngày 13/4/1991 của Ban Tổ chức Chính phủ.
[132]
Bảo Ninh Lương: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020 của
Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn
Lang Chánh, huyện Lang Chánh.
[133]
Mường Chính: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020.
[134]
Quang Hiến: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020.
[135]
Văn Hiến: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020.
[136]
Từ Đoàn kết đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục là
danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Mường Lát muốn dùng từ Đoàn
Kết với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Bản Đoàn Kết.
[137]
Lạch Sung: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018.
[138]
Thanh Bình: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018.
[139]
Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[140]
Dẫn nguồn: Trang 75, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[141]
Dẫn nguồn: Trang 85, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa,
năm 2000.
[142]
Dẫn nguồn: Trang 196, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[143]
Dẫn nguồn: Trang 207, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[144]
Dẫn nguồn: Trang 199, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[145]
Dẫn nguồn: Trang 201, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[146]
Dẫn nguồn: trang 217, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[147]
Dẫn nguồn: Trang 201, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[148]
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[149]
Sau cách mạng tháng tám (1945) bỏ "châu" đổi thành huyện Ngọc Lặc.
[150]
Mường là một vùng (vùng mường, kiểu như: Mường Chẹ, Mường Bi, Mường Vang...)
[151]
Di tích cấp tỉnh, tuy nhiên đây là địa chỉ cách mạng có ý nghĩa, địa danh nhiều
người biết đến nên đề xuất đưa vào.
[152]
Từ Vinh Quang đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục
là danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa muốn dùng từ
Vinh Quang với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Hồ Vinh Quang.
[153]
Thạch Châu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018.
[154]
Cửa Hới: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018.
[155]
Bôn Giàng là tên một con đường.
[156]
Cát Đằng là tên một con đường.
[157]
Cát Hòa, Cát Khang, Cát Phú, Cát Thành, Cát Tiến là tên một con đường.
[158]
Đồng Bài: Là tên một tuyến đường.
[159]
Đồng Bái: Là tên một cánh đồng.
[160]
Đồng Bái: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[161]
Đồng Mai: Là tên một tuyến đường.
[162]
Duy Tiếu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[163]
Đức Hậu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[164]
Nhân Phong: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[165]
Hưng Thuận: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[166]
Hưng Xá: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[167]
Thủ Phác: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[168]
Lý Cát là tên một tuyến đường.
[169]
Văn Chỉ là tên một tuyến đường.
[170]
Văn Thọ: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019.
[171]
Dẫn nguồn: Trang 147, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[172]
Dẫn nguồn: Trang 146, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[173]
Dẫn nguồn: Trang 154, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[174]
Dẫn nguồn: Trang 153, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[175]
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[176]
Dẫn nguồn: Trang 184, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[177]
Dẫn nguồn: Trang 146, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[178]
Dẫn nguồn: Trang 151, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[179]
Dẫn nguồn: Trang 151, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[180]
Dẫn nguồn: Trang 150, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[181]
Dẫn nguồn: Trang 147, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[182]
Dẫn nguồn: Trang 183, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[183]
Dẫn nguồn: Trang 162, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[184]
Dẫn nguồn: Trang 183, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[185]
Dẫn nguồn: Trang 161, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[186]
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[187]
Dẫn nguồn: Trang 159, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[188]
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[189]
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[190]
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[191]
Dẫn nguồn: Trang 170, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[192]
Dẫn nguồn: Trang 217, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[193]
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[194]
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[195]
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[196]
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí.
[197]
Dẫn nguồn: Trang 251, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[198]
Hoa Nhai là tên một con đường cổ.
[199]
Dẫn nguồn: Trang 221, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[200]
Dẫn nguồn: Trang 230, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[201]
Dẫn nguồn: Trang 226, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[202]
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[203]
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[204]
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[205]
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[206]
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[207]
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[208]
Dẫn nguồn: Trang 225, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[209]
Dẫn nguồn: Trang 223, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[210]
Dẫn nguồn: Trang 226, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[211]
Dẫn nguồn: Trang 250, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[212]
Dẫn nguồn: Trang 240, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh
Hóa, năm 2000.
[213]
Theo Địa chí huyện Hậu Lộc trang 317.
[214]
Ngày 08/5 (dương lịch) hằng năm là ngày kỷ niệm Danh xưng Thanh Hóa được ban
hành tại Nghị quyết số 112/NQ-HĐND ngày 11/7/2018.
[215]
Mười lăm tháng hai (15/02): Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày
16/6/2020.
[216]
Dẫn nguồn theo dịch thuật lý lịch tại văn bia đặt tại đền thờ Tướng quân Khằm
Ban thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Phạm Tộc thần từ bi dựng niên hiệu Duy
Tân thứ 1 năm 1907 hiện dựng ở đền thờ.
[217]
Theo sách Địa chí Thanh Hóa tập IV. Nhân vật chí trang 637.
[218]
Phan Kiêm Toàn (theo sách Danh sĩ Thanh Hóa và việc học thời xưa, trang 61).
[219]
Từ “tên” dùng trong văn bản này được hiểu theo duy nhất một nghĩa, dùng viết tắt,
gọi tắt cho tên gọi của các cụm từ: Tên danh nhân, nhân vật lịch sử; tên phong
trào cách mạng; tên địa danh, tên danh từ có ý nghĩa tiêu biểu, tên di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
[220]
Nghị định của Chính phủ số 72-CP ngày 18 tháng 11 năm 1996 về việc điều chỉnh địa
giới hành chính các huyện Quan Hóa, Như Xuân, Đông Sơn, Thiệu Yên thuộc tỉnh
Thanh Hóa.
Nghị quyết 33/2024/NQ-HĐND sửa đổi phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa kèm theo Nghị quyết 90/2017/NQ-HĐND
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Nghị quyết 33/2024/NQ-HĐND ngày 10/07/2024 sửa đổi phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa kèm theo Nghị quyết 90/2017/NQ-HĐND
Văn bản liên quan
Ban hành:
05/05/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
12/05/2025
Ban hành:
25/05/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
27/05/2024
Ban hành:
15/12/2023
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
10/01/2024
Ban hành:
14/12/2023
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
26/03/2024
Ban hành:
31/12/2020
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
08/01/2021
Ban hành:
18/06/2020
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
08/07/2020
Ban hành:
16/06/2020
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
23/09/2020
Ban hành:
22/04/2020
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
07/05/2020
Ban hành:
31/12/2019
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
11/07/2020
Ban hành:
22/11/2019
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
12/12/2019
1.451
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|