|
BỘ TƯ PHÁP
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 43/VBHN-BTP
|
Hà Nội, ngày 07
tháng 01 năm 2026
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH VỀ BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT, TUYÊN TRUYỀN VIÊN PHÁP
LUẬT
Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày
22 tháng 7 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật,
tuyên truyền viên pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2016, được sửa
đổi, bổ sung bởi:
Thông tư số 11/2025/TT-BTP ngày
25 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều
của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Thông tư số 24/2025/TT-BTP ngày
27 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số
điều của các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ và thông tư có liên quan
thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm
2025.
Căn cứ Luật phổ biến, giáo dục
pháp luật ngày 20 tháng 6 năm 2012; Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng
3 năm 2013 của
Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số
28/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ
phổ biến, giáo dục pháp luật;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban
hành Thông tư quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật[1].
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Thông tư này quy định về việc
công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền
viên pháp luật và một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật,
tuyên truyền viên pháp luật.
Điều 2. Phạm
vi hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
1. Báo cáo viên pháp luật của Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận (sau đây gọi
là báo cáo viên pháp luật Trung ương) thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật
trên phạm vi toàn quốc.
2. Báo cáo viên pháp luật của
cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt
trận tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là báo cáo viên pháp luật
tỉnh) thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương nơi công nhận báo cáo viên pháp luật.
3.[2] (được bãi bỏ)
4. Tuyên truyền viên pháp luật ở
xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là tuyên truyền viên pháp luật) thực hiện phổ
biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi công nhận tuyên
truyền viên pháp luật.
Chương II
CÔNG NHẬN, MIỄN NHIỆM
BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT
Điều 3.
Công nhận báo cáo viên pháp luật
1.[3] (được bãi bỏ)
2.[4] (được bãi bỏ)
3.[5] (được bãi bỏ)
4.[6] (được bãi bỏ)
5.[7] (được bãi bỏ)
6.[8] (được bãi bỏ)
7. Báo cáo viên pháp luật có
các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 36 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật kể
từ khi Quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật có hiệu lực thi hành.
Điều 4. Miễn
nhiệm báo cáo viên pháp luật
1. Các trường hợp miễn nhiệm
báo cáo viên pháp luật bao gồm:
a) Tự nguyện xin thôi làm báo
cáo viên pháp luật vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do chính
đáng khác;
b) Không còn là cán bộ, công chức,
viên chức, sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc chuyển công tác khỏi
cơ quan, tổ chức đã[9] công nhận
báo cáo viên pháp luật;
c) Không còn đủ tiêu chuẩn quy
định tại khoản 2 Điều 35 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật;
d) Từ chối không thực hiện hoạt
động phổ biến, giáo dục pháp luật theo sự phân công của cơ quan, tổ chức, đơn vị
quản lý trực tiếp mà không có lý do chính đáng từ 03 lần trở lên;
đ) Thực hiện một trong các hành
vi bị cấm quy định tại Điều 9 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật;
e) Bị Tòa án kết án và bản án
đã có hiệu lực pháp luật;
g) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
2.[10] (được bãi bỏ)
3.[11] (được bãi bỏ)
4.[12] (được bãi bỏ)
5.[13] (được bãi bỏ)
6.[14] (được bãi bỏ)
Chương
III
CÔNG NHẬN, CHO THÔI LÀM
TUYÊN TRUYỀN VIÊN PHÁP LUẬT
Điều 5.[15] (được
bãi bỏ)
Điều 6. Cho
thôi làm tuyên truyền viên pháp luật
1. Các trường hợp cho thôi làm
tuyên truyền viên pháp luật bao gồm:
a) Tự nguyện xin thôi làm tuyên
truyền viên pháp luật vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do chính
đáng khác;
b) Thực hiện một trong các hành
vi bị cấm theo quy định tại Điều 9 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Bị Tòa án kết án và bản án
đã có hiệu lực pháp luật;
d) Mất năng lực hành vi dân sự
hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi
dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
2.[16] (được bãi bỏ)
3.[17] (được bãi bỏ)
4.[18] (được bãi bỏ)
Chương IV
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT, TUYÊN TRUYỀN VIÊN PHÁP LUẬT
Điều 7. Biện
pháp củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên pháp
luật, tuyên truyền viên pháp luật
1. Bộ, ngành, đoàn thể, cơ
quan, tổ chức[19] công nhận báo
cáo viên pháp luật và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:
a) Thường xuyên rà soát, củng cố,
kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
b) Cung cấp văn bản quy phạm
pháp luật, thông tin, tài liệu pháp luật chuyên ngành cho báo cáo viên pháp luật,
tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư
pháp (đối với Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương), Sở Tư pháp (đối với cơ quan, tổ
chức cấp tỉnh)[20] hoặc chỉ đạo
công chức tư pháp
- hộ tịch (đối với Ủy ban nhân
dân cấp xã) tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng
nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
d)[21] Định kỳ 06 tháng, hằng năm hoặc đột xuất, báo cáo Bộ Tư
pháp (đối với Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương), Sở Tư pháp (đối với cơ quan, tổ
chức cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã) về kết quả xây dựng, quản lý, tập huấn
và triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ
báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý.
2. Tổ chức pháp chế, đơn vị được
giao phụ trách công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp luật chủ trì, tham
mưu giúp lãnh đạo Bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện
nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
3.[22] Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hướng
dẫn cơ quan, tổ chức cùng cấp thực hiện trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều
này và có nhiệm vụ sau đây:
a) Chủ trì tổ chức tập huấn, bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp
luật cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản
lý;
b) Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ
chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ phổ
biến, giáo dục pháp luật cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
thuộc phạm vi quản lý;
c) Định kỳ 6 tháng, hằng năm hoặc
đột xuất, Sở Tư pháp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp về kết quả
xây dựng, quản lý, tập huấn và triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật ở
địa phương; Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tư pháp về kết quả xây dựng, tập
huấn, quản lý và sử dụng có hiệu quả đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật tại địa
phương.
4. Công chức tư pháp - hộ tịch
chủ trì, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã triển khai thực hiện trách nhiệm
quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Thời gian thực hiện báo cáo
quy định tại điểm d khoản 1, điểm c khoản
3 Điều này được thực hiện theo
quy định của Bộ Tư pháp hướng dẫn về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp.
Điều 8. Biện
pháp quản lý, sử dụng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
1. Bộ, ngành, đoàn thể, cơ
quan, tổ chức[23] công nhận báo
cáo viên pháp luật và Ủy ban nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc
trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn, kế hoạch, chương trình
hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi
quản lý;
b) Kiểm tra, sơ kết, tổng kết,
khen thưởng, xử lý vi phạm về hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
c) Tạo điều kiện về thời gian,
kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện bảo đảm cho báo cáo viên pháp luật, tuyên
truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý thực hiện hoạt động phổ biến, giáo
dục pháp luật;
d) Rà soát, thẩm định và chịu
trách nhiệm về tính chính xác của việc rà soát, thẩm định đối với danh sách người
dự kiến đề xuất cơ quan có thẩm quyền công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp
luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật; bảo đảm đội ngũ báo
cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật có đủ tiêu chuẩn và hoạt động
hiệu quả;
đ) Giới thiệu báo cáo viên pháp
luật tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức,
đơn vị về lĩnh vực hoạt động chuyên môn chuyên sâu mà báo cáo viên pháp luật được
phân công kiêm nhiệm; cử tuyên truyền viên pháp luật tham gia thực hiện hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn cơ sở;
e) Không cử và giới thiệu báo
cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thực hiện hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật khi thuộc trường hợp bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
hoặc chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hành vi quy định tại điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 4 và điểm b, điểm d khoản 1 Điều 6 của
Thông tư này.
2. Sở Tư pháp,[24] công chức tư pháp - hộ tịch
giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp; tổ chức pháp chế, đơn vị được giao phụ trách
công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp luật giúp Thủ trưởng Bộ, ngành, đoàn
thể, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của
Thông tư này thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này và có
trách nhiệm sau đây:
a) Phân công, giới thiệu báo
cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý cho cơ
quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu để thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật;
b) Công bố công khai danh sách
báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; Quyết định công nhận báo
cáo viên pháp luật, Quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật, Quyết định
công nhận tuyên truyền viên pháp luật, Quyết định cho thôi làm tuyên truyền
viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý trên Cổng thông tin điện tử/Trang thông
tin điện tử hoặc niêm yết tại trụ sở của cơ quan, tổ chức, đơn vị (trường hợp
không có Cổng thông tin điện tử/Trang thông tin điện tử);
c) Định kỳ 06 tháng, hằng năm
hoặc đột xuất khi có yêu cầu Bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức quy định tại
khoản 1, khoản 2 Điều 3 Thông tư này, tổ chức pháp chế hoặc
đơn vị được giao công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp luật báo cáo cơ
quan Tư pháp cùng cấp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp) về kết quả hoạt động của báo cáo
viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý; Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư
pháp - hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Tư pháp cấp trên về
kết quả hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thuộc
phạm vi quản lý. Thời gian thực hiện báo cáo theo quy định của Bộ Tư pháp hướng
dẫn về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp.
Điều 9. Biện
pháp bảo đảm về tài chính cho hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật
1. Kinh phí bảo đảm cho công
tác quản lý và hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
do ngân sách nhà nước cấp hằng năm trong dự toán kinh phí chi về phổ biến, giáo
dục pháp luật theo quy định của pháp luật ngân sách và các nguồn kinh phí hợp
pháp khác.
2. Thù lao cho hoạt động của
báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật được thực hiện theo quy định
của pháp luật về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách
nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Hằng năm, Bộ Tư pháp, tổ chức
pháp chế, đơn vị được giao phụ trách công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp
luật của Bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều
3 của Thông tư này, Sở Tư pháp,[25]
công chức tư pháp - hộ tịch phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp lập dự toán
kinh phí bảo đảm cho hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên
pháp luật thuộc quyền quản lý, trình Bộ Tài chính, lãnh đạo cơ quan, tổ chức,
đơn vị hoặc Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[26]
Điều 10.
Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
1. Thông tư này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2016 và thay thế Thông tư số 21/2013/TT-BTP ngày
18 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trình tự, thủ tục công
nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền
viên pháp luật và một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật,
tuyên truyền viên pháp luật.
2. Báo cáo viên pháp luật đã được
công nhận theo quy định của Thông tư số 21/2013/TT-BTP ngày 18 tháng 12 năm
2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm
báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật và
một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 35 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục là báo cáo viên pháp luật,
không phải công nhận lại.
Điều 11.
Trách nhiệm thi hành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; thủ trưởng các đơn vị
thuộc Bộ Tư pháp; lãnh đạo tổ chức pháp chế, các đơn vị được giao phụ trách
công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận; Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để biết);
- Cổng Pháp luật quốc gia;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp;
- CSDL quốc gia về pháp luật (để đăng tải);
- Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính - Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT, PB&TG.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Thanh Ngọc
|
[1] Thông tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn
đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị định số
112/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp;
Căn cứ Nghị định số
120/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm
quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 121/2025/NĐ-CP
ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong
lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số
39/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban
hành Thông tư sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp”.
Thông tư số 24/2025/TT-BTP sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ
và thông tư có liên quan thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số
39/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số
150/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường,
đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Căn cứ Nghị định số
62/2020/NĐ-CP của Chính phủ về vị trí việc làm và biên chế công chức;
Căn cứ Nghị định số
106/2020/NĐ-CP của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc
trong đơn vị sự nghiệp công lập;
Căn cứ Nghị định số
120/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị
sự nghiệp công lập được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 83/2024/NĐ-CP, Nghị định
số 283/2025/NĐ-CP;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ
Tổ chức cán bộ;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư sửa đổi,
bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ và
thông tư có liên quan thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.”
[2] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[3] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[4] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[5] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[6] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[7] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[8] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[9] Cụm
từ “đề nghị” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[10]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số 11/2025/TT-BTP
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý
nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[12]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[13]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[15]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[16]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[17]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[18]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[19]
Cụm từ “đề nghị” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[20]
Cụm từ “Phòng Tư pháp (đối với cơ quan, tổ chức cấp huyện)” được bãi bỏ theo quy
định tại khoản 2 Điều 10 của Thông tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ
một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21]
Điểm này được sửa đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[22] Khoản
này được sửa đổi theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[23]
Cụm từ “đề nghị” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[24]
Cụm từ “Phòng Tư pháp” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Thông
tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc
lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[25]
Cụm từ “Phòng Tư pháp” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Thông
tư số 11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc
lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[26] Điều 10. Hiệu lực thi hành của Thông tư số
11/2025/TT-BTP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025
được sửa đổi số thứ tự và tên Điều thành “Điều 11. Hiệu lực thi hành” theo quy
định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 24/2025/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ
và thông tư có liên quan thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 12 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 11. Hiệu lực thi
hành
1. Thông tư này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Thông tư này hết hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 trừ các trường hợp sau:
a) Nghị định số
120/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm
quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Tư pháp, Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy
định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp được
kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ hoặc một phần thì quy định có liên quan tại
Thông tư này được cho phép kéo dài thời gian áp dụng.
b) Luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, nghị quyết
của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư khác của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp có quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự,
thủ tục quy định tại Thông tư này được thông qua hoặc ban hành kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025 và có hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 thì các quy định
tương ứng trong Thông tư này hết hiệu lực tại thời điểm các văn bản quy phạm
pháp luật đó có hiệu lực.
3. Trong thời gian các quy định
của Thông tư này có hiệu lực, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà
nước, trình tự, thủ tục trong Thông tư này khác với các văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan thì thực hiện theo quy định tại Thông tư này.”
Điều 7 và Điều 8 của Thông tư số
24/2025/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của
các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ và thông tư có liên quan thuộc phạm
vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2025 quy định
như sau:
“Điều 7. Hiệu lực thi
hành
Thông tư này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2025.
Điều 8. Trách nhiệm thi
hành
1. Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh,
thành phố, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan, tổ chức có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn,
vướng mắc, đề nghị các cơ quan, đơn vị phản ánh bằng văn bản về Bộ Tư pháp để
hướng dẫn, giải quyết theo quy định.”