|
BỘ
Y TẾ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
3347/QĐ-BYT
|
Hà
Nội, ngày 29
tháng
10
năm
2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU “HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN
CHUYÊN NGÀNH LÃO KHOA TẠI CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH - QUYỂN 1”
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật khám bệnh,
chữa bệnh năm 2023;
Căn cứ Nghị định số
313/2026/NĐ-CP ngày 08/8/2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Căn cứ Biên bản họp Hội
đồng nghiệm thu tài liệu“Hướng dẫn chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh - Quyển 1” của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh ngày
07/4/2026;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo
Quyết định này tài liệu “Hướng dẫn chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh - Quyển 1”.
Điều 2. Tài liệu “Hướng dẫn
chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh - Quyển 1”
được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Các ông, bà: Chánh Văn
phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Vụ trưởng và Cục trưởng các
Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế, Giám đốc các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y
tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng Y tế các Bộ, Ngành và
Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Các Bệnh viện, Viện có giường bệnh thuộc Bộ Y tế;
- Y tế các Bộ/ngành;
- Sở Y tế các tỉnh/Tp trực thuộc Trung ương;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Tổng hội Y học Việt Nam và các hội y khoa;
- Lưu VT, KCB.
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG THƯỜNG TRỰC
Vũ Mạnh Hà
|
HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN CHUYÊN NGÀNH LÃO KHOA TẠI CÁC
CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH - Quyển 1
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3347/QĐ-BYT ngày 29 tháng 10 năm 2026)
|
Chỉ
đạo biên soạn, thẩm định
|
|
|
TS.BS. Vũ
Mạnh Hà
|
Thứ
trưởng Thường trực Bộ Y tế
|
|
TS.BS. Hà
Anh Đức
|
Cục
trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
|
|
Chủ
biên
|
|
|
GS.TS.BS.
Trần Hữu Dàng
|
Chủ tịch
Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam
|
|
TS.BS.
Vương Ánh Dương
|
Phó Cục
trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
|
|
PGS.TS.
Nguyễn Trung Anh
|
Giám đốc
Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Chủ tịch
Hội Lão khoa Việt Nam
|
|
Tham
gia biên soạn, thẩm định
|
|
|
GS.TS
Phạm Thắng
|
Cố vấn
Ban chấp hành Hội Lão khoa Việt Nam
|
|
PGS.TS
Nguyễn Văn Trí
|
Chủ tịch
Hội Lão khoa Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
GS.TS
Nguyễn Đức Công
|
Phó Chủ
tịch Hội Lão khoa Việt Nam
|
|
GS.TS Lê
Quang Cường
|
Hội viên
Hội thần kinh Việt Nam
|
|
PGS.TS Lê
Đình Thanh
|
Giám đốc
Bệnh viện Thống Nhất
|
|
PGS.TS
Trần Viết Lực
|
Phó Giám
đốc Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
TS.
Nguyễn Tấn Dũng
|
Phó giám
đốc Bệnh viện C Đà Nẵng
|
|
PGS.TS Võ
Thành Toàn
|
Phó Giám
đốc Bệnh viện Thống Nhất
|
|
PGS.TS
Nguyễn Văn Tuấn
|
Viện trưởng
Viện Sức khoẻ Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS Lê
Thị Thanh Xuân
|
Phó Viện
trưởng, Trưởng Bộ môn Sức khoẻ Nghề nghiệp, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y
tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
|
|
PGS.TS
Nguyễn Thị Thu Hoài
|
Viện
trưởng Viện Tim Mạch, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS
Phan Thu Phương
|
Giám đốc
Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS
Nguyễn Văn Hùng
|
Giám đốc
Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS.
Nguyễn Trọng Hưng
|
Giám đốc
Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
PGS.TS Võ
Hồng Khôi
|
Giám đốc
Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS Vũ
Thị Thanh Huyền
|
Trưởng
khoa Nội tiết - Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
PGS.TS.
Nguyễn Thanh Bình
|
Trưởng
khoa Thần kinh và bệnh Alzheimer, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
PGS.TS
Nguyễn Văn Tân
|
Trưởng
khoa Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất
|
|
PGS.TS Đỗ
Đào Vũ
|
Phó Giám
đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
PGS.TS
Trần Thừa Nguyên
|
Trưởng
khoa Nội tổng hợp - Lão khoa, Bệnh viện Trung ương Huế
|
|
TS.
Nguyễn Thị Hoa
|
Trưởng
khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện Hữu Nghị
|
|
PGS.TS
Đặng Thị Việt Hà
|
Giảng
viên bộ môn Nội tổng hợp, Trường đại học Y Hà Nội
|
|
PGS.TS
Phan Đình Phong
|
Giảng
viên bộ môn Tim mạch, Trường đại học Y Hà Nội
|
|
PGS.TS
Cao Thanh Ngọc
|
Trưởng khoa
Nội cơ xương khớp, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
PGS.TS
Phạm Quang Thái
|
Trưởng
Văn phòng Tiêm chủng mở rộng miền Bắc, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
|
|
BSCKI.
Nguyễn Thị Thanh Lịch
|
Phó
trưởng phòng Phục hồi chức năng và Giám định, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ
Y tế
|
|
TS. Bùi
Thúc Quang
|
Trưởng khoa
Tim mạch can thiệp - Ngoại, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKII.
Nguyễn Văn Phi
|
Trưởng
khoa Sức khoẻ tâm thần, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Thanh Hoa
|
Chuyên
viên phòng Phục hồi chức năng và Giám định, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y
tế
|
|
PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Tâm
|
Phó khoa
Nội tiết - Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKII.
Nguyễn Thị Thu
|
Bác sĩ
khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai
|
|
Ths. Ngân
Thị Hồng Anh
|
Trưởng
khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
TS.
Nguyễn Xuân Thanh
|
Phó
trưởng khoa Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKII.
Tạ Hữu Ánh
|
Phó
trưởng khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKII.
Lê Chung Thuỷ
|
Phó
trưởng khoa Tim mạch - Hô hấp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Liên Hạnh
|
Trưởng
khoa Dinh dưỡng - tiết chế, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Quý Phong
|
Phó Giám
đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKII.
Phạm Thị Thu Hà
|
Khoa Nội
tiết và cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Thị Thu Hương
|
Giảng
viên Bộ môn Lão khoa, Trường Đại học Y Hà Nội
|
|
Thư ký
|
|
|
PGS.TS Vũ
Thị Thanh Huyền
|
Trưởng
khoa Nội tiết - Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
BSCKI.
Nguyễn Thị Thanh Lịch
|
Phó
trưởng phòng Phục hồi chức năng và Giám định, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ
Y tế
|
|
Ths.
Nguyễn Thanh Hoa
|
Chuyên viên
phòng Phục hồi chức năng và Giám định, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế
|
|
PGS.TS. Nguyễn
Ngọc Tâm
|
Phó khoa
Nội tiết - Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Quý Phong
|
Phó Giám
đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Lão khoa Trung ương
|
|
Ths.
Nguyễn Thị Thu Hương
|
Giảng
viên Bộ môn Lão khoa, Trường Đại học Y Hà Nội
|
LỜI NÓI ĐẦU
Già hóa dân số đang là
một trong những xu hướng quan trọng nổi bật nhất của thế kỷ 21, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với
mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Với tốc độ già hóa nhanh chóng, số lượng
người cao tuổi ngày càng tăng, kéo theo đó là gánh nặng bệnh tật phức tạp và
nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng nhiều hơn. Khác với các nhóm tuổi khác,
người cao tuổi thường mắc cùng lúc nhiều bệnh lý mạn tính, kết hợp với những
thay đổi về sinh lý, tâm lý và xã hội, tạo nên những bệnh cảnh lâm sàng đặc
thù, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện và chuyên biệt.
Nhận thức
rõ tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức chuyên sâu về thực hành lão khoa,
Bộ
Y tế đã chỉ đạo xây dựng và ban hành tài liệu "Hướng dẫn chuyên môn
chuyên ngành Lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh - Quyển 1".
Đây là tài liệu chuyên môn được biên soạn bởi các chuyên gia đầu ngành, nhằm
cung cấp kiến thức thực hành điều trị trong chuyên ngành lão khoa, nâng cao chất
lượng chăm sóc toàn diện người bệnh người cao tuổi. Tài liệu gồm hai phần nội
dung chính:
Một là,
hệ thống hóa các hội chứng lão khoa kinh điển và thường gặp nhất ở người cao
tuổi như hội chứng dễ bị tổn thương (frailty), sa sút trí tuệ, trầm cảm, ngã,
bất động, suy dinh dưỡng, loét do tì đè, rối loạn tiểu tiện và đại tiện, cùng
các vấn đề về thị giác, thính giác. Mỗi hội chứng đều được phân tích chi tiết
từ định nghĩa, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng đến hậu quả, giúp cán bộ
y tế dễ dàng nhận diện và có chiến lược can thiệp phù hợp.
Hai là,
đưa ra các khuyến cáo dự phòng dựa trên bằng chứng khoa học, bao gồm dự phòng
các cấp độ và các biện pháp can thiệp cụ thể như dinh dưỡng hợp lý, hoạt động
thể lực, duy trì chức năng nhận thức, kiểm soát đa bệnh lý và tối ưu hóa sử
dụng thuốc, đặc biệt là khuyến cáo có can thiệp về môi trường sống an toàn.
Cuốn tài
liệu được viết dành cho các bác sĩ, điều dưỡng, cán bộ y tế, sinh viên, học
viên sau đại học ngành y - những người trực tiếp chăm sóc và điều trị cho người
cao tuổi. Mục tiêu cuối cùng mà chúng tôi hướng đến không chỉ là giúp
người cao tuổi "sống lâu" hơn mà còn là "sống khỏe, sống vui và
sống có ích", góp phần giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Bộ Y tế
trân trọng cảm ơn, biểu dương và ghi nhận sự tích cực tham gia của Hội Lão khoa
Việt Nam, nỗ lực của các tổ chức, cá nhân, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ,
bác sĩ, cử nhân chuyên khoa, chuyên ngành đã tham gia xây dựng và góp ý cho tài
liệu “Hướng dẫn chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Quyển 1”, đồng thời Bộ Y tế cũng ghi nhận sự đóng góp lớn của Lãnh đạo,
Chuyên viên Cục Quản lý Khám, chữa bệnh và Lãnh đạo, tập thể cán bộ Bệnh viện
Lão khoa Trung ương đã tham gia hoạt động xây dựng tài liệu này.
Trong quá
trình biên soạn, biên tập, mặc dù Ban Biên soạn đã hết sức cố gắng nhưng tài
liệu khó tránh khỏi thiếu sót, Bộ Y tế mong nhận được sự góp ý, phản hồi của
các chuyên gia hành nghề. Các góp ý xin gửi về: Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ
Y tế, 138A phố Giảng Võ, phường Giảng Võ, thành phố Hà Nội.
Trân trọng
cảm ơn.
|
|
TS. BS Vũ Mạnh Hà
THỨ TRƯỞNG THƯỜNG TRỰC
BỘ Y TẾ
|
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
|
Chữ
viết tắt
|
Tiếng
Việt
|
Tiếng
Anh
|
|
3IQ
|
Bảng câu
hỏi 3 câu hỏi về tiểu không tự chủ
|
3
Incontinence Questions
|
|
4AT
|
Thang
đánh giá sảng nhanh với 4 tiêu chí
|
4 A’s
Test
|
|
5CST
|
Bài kiểm
tra đứng lên ngồi xuống 5 lần từ ghế
|
5 Times
Chair Stand Test
|
|
AWGS
|
Hiệp hội
sarcopenia châu Á
|
Asian
Working Group on Sarcopenia
|
|
BIA
|
Phân tích
trở kháng sinh học
|
Bioelectrical
Impedance Analysis
|
|
BMI
|
Chỉ số
khối cơ thể
|
Body Mass
Index
|
|
BZD
|
Nhóm
thuốc Benzodiazepin
|
Benzodiazepine
|
|
CAM
|
Phương
pháp đánh giá lú lẫn
|
Confusion
Assessment Method
|
|
CAM-ICU
|
Phương pháp
đánh giá sảng trong ICU
|
Confusion
Assessment Method for the Intensive Care Unit
|
|
CFS
|
Thang
điểm hội chứng dễ bị tổn thương trên lâm sàng
|
Clinical
Frailty Scale
|
|
CT
|
Cắt lớp
vi tính
|
Computer
Tomography
|
|
DSM-V
|
Cẩm nang
chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần lần thứ 5
|
Diagnostic
and Statistical Manual of Mental Disorders
|
|
DXA
|
Hấp thụ
tia X năng lượng kép
|
Dual
Energy Xray Absorptiometry
|
|
ĐGLKTD
|
Đánh giá
lão khoa toàn diện
|
Geriatric
Comprehensive Assessment (CGA)
|
|
DOS
|
Thang
đánh giá quan sát sảng
|
Delirium
Observation Screening Scale
|
|
ESPEN
|
European
Society for Clinical Nutrition and Metabolism
|
Hội
chuyển hóa và dinh dưỡng lâm sàng Châu Âu
|
|
FDA
|
Cơ quan
Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
|
Food and
Drug Administration
|
|
EFS
|
Thang
điểm hội chứng dễ bị tổn thương Edmonton
|
Edmonton
Frail Scale
|
|
EEG
|
Điện não
đồ
|
Electroencephalography
|
|
FRT
|
Bài kiểm
tra tầm với
|
Functional
Reach Test
|
|
GABA
|
Axit
Gamma-Aminobutyric
|
Gamma-Aminobutyric
Acid
|
|
GDS
|
Thang
điểm đánh giá trầm cảm ở người cao tuổi
|
Geriatric
Depression Scale
|
|
GPAQ
|
Bảng câu
hỏi toàn cầu về hoạt động thể lực
|
The
Global Physical Activity Questionnaire
|
|
GLIM
|
Global
Leadership Initiative on Malnutrition
|
Sáng kiến
lãnh đạo toàn cầu về suy dinh dưỡng
|
|
HĐTL
|
Hoạt động
thể lực
|
|
|
HCDBTT
|
Hội chứng
dễ bị tổn thương
|
Frailty
|
|
HGS
|
Cơ lực
tay
|
Hand Grip
Strength
|
|
HELP
|
Chương
trình chăm sóc người già tại bệnh viện
|
Hospital
Elder Life Program
|
|
ICU
|
Khoa hồi
sức tích cực
|
Intensive
Care Unit
|
|
IL-6
|
|
Interleukin-6
|
|
ICD-10
|
Phân loại
thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan: lần thứ 10
|
International
Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems: 10th
Revision
|
|
ICDSC
|
Danh sách
sàng lọc sảng trong chăm sóc tích cực
|
Intensive
Care Delirium Screening Checklist
|
|
IPAQ-SF
|
Bảng câu
hỏi quốc tế về hoạt động thể lực phiên bản ngắn
|
The
International Physical Activity Questionnaire Short Form
|
|
Nu-DESC
|
Thang
đánh giá sảng của điều dưỡng
|
Nursing
Delirium Screening Scale
|
|
MMSE
|
Trắc
nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu
|
Mini-Mental
State Examination
|
|
MNA-SF
|
Bảng đánh
giá dinh dưỡng tối thiểu
|
Mini
Nutritional Assessment Short Form
|
|
MoCA
|
Thang
đánh giá nhận thức Montreal
|
Montreal
Congitive Assessment
|
|
MRI
|
Cộng
hưởng từ
|
Magnetic
Resonance Imaging
|
|
MIND-USA
|
Nghiên
cứu sửa đổi tác động của rối loạn chức năng Thần kinh -Tâm lý - Hoa Kỳ
|
Modifying
the Impact of Neuropsychiatric Dysfunction - USA
|
|
ONS
|
Oral
nutrition supplements
|
Bổ sung
dinh dưỡng qua đường miệng
|
|
PADIS
|
Hướng dẫn
PADIS trong hồi sức tích cực
|
Pain,
Agitation/Sedation, Delirium, Immobility, Sleep
|
|
PTSD
|
Rối loạn
căng thẳng sau sang chấn
|
Post-Traumatic
Stress Disorder
|
|
PSQI
|
Thang
điểm đánh giá rối loạn giấc ngủ Pittsburgh
|
Pittsburgh
Sleep Quality Index
|
|
QTc
|
Khoảng QT
hiệu chỉnh
|
Corrected
QT Interval
|
|
RAPA
|
Bộ câu
hỏi đánh giá nhanh hoạt động thể lực
|
The Rapid
Assessment Of Physical Activity
|
|
REFS
|
Thang
điểm hội chứng dễ bị tổn thương Edmonton tự báo cáo
|
Reported
Edmonton Frail Scale
|
|
RASS
|
Thang
sàng lọc kích động - an thần Richmond
|
Richmond
Agitation-Sedation Scale
|
|
RADAR
|
Công cụ
Nhận biết trạng thái sảng cấp tính như một phần của thói quen
|
Recognizing
Acute Delirium As part of Routine
|
|
SPPB
|
Bộ công
cụ đánh giá hiệu năng thể chất ngắn gọn
|
Short
Physical Performance Battery
|
|
SCCM
|
Hiệp hội
Y học Chăm sóc Đặc biệt
|
Society of
Critical Care Medicine
|
|
TUG
|
Bài kiểm
tra đứng dậy và đi
|
Time Up
and Go Test
|
|
TKTC
|
Tiểu
không tự chủ
|
|
|
UB-2
|
Công cụ
sàng lọc 2 câu hỏi siêu ngắn
|
Ultra-Brief
2-item screen
|
MỤC LỤC
QUYẾT ĐỊNH
LỜI NÓI ĐẦU
MỤC LỤC
ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN
DIỆN VÀ TÌNH TRẠNG ĐA BỆNH LÝ 1
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
1.2. Mục tiêu của đánh
giá lão khoa toàn diện
1.3. Các thành tố của
đánh giá lão khoa toàn diện ở người cao tuổi
1.4. Đối tượng nên được
đánh giá lão khoa toàn diện
1.5. Đội ngũ thực hiện
đánh giá lão khoa toàn diện
1.6. Lợi ích cúa đánh
giá lão khoa toàn diện ở người bệnh cao tuổi
2. Công cụ đánh giá lão
khoa toàn diện ở người cao tuổi
2.1. Đánh giá về sức
khỏe thể chất
2.2. Đánh giá tình
trạng chức năng
2.3. Đánh giá về thần
kinh - tâm thần
2.4. Các vấn đề lão
khoa khác
2.5. Các vấn đề về xã
hội - môi trường sống
HỘI CHỨNG DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG (FRAILTY)
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1.Khái niệm
1.2. Dịch tễ học
1.3. Các yếu tố nguyên
nhân
2. SINH LÝ BỆNH
Cơ chế bệnh sinh của
hội chứng dễ bị tổn thương
2.1. Cấp độ 1 - Thay
đổi ở mức tế bào
2.2. Cấp độ 2- Rối loạn
điều hòa hệ thống
2.3. Cấp độ 3 - Suy yếu
hệ thống
3. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG
DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
3.1. Các giai đoạn lâm
sàng của hội chứng dễ bị tổn thương
3.1.1. Giai đoạn tiền
hội chứng dễ bị tổn thương (Pre-frailty)
3.1.2.Giai đoạn hội
chứng dễ bị tổn thương (frailty)
3.1.3. Giai đoạn biến
chứng của hội chứng dễ bị tổn thương
3.2. Sàng lọc và chẩn
đoán hội chứng dễ bị tổn thương
3.2.1. Sàng lọc hội
chứng dễ bị tổn thương:
3.2.2. Chẩn đoán hội
chứng dễ bị tổn thương
3.3. Các bộ công cụ
sàng lọc và chẩn đoán hội chứng dễ bị tổn thương
3.4. Cận lâm sàng
4. QUẢN LÝ, ĐIỀU TRỊ VÀ
DỰ PHÒNG
4.1. Nguyên tắc quản
lý, điều trị và dự phòng
4.2. Chương trình hoạt
động thể lực
4.3. Chế độ dinh dưỡng
4.4. Phát triển kế
hoạch quản lý toàn diện
5. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SARCOPENIA
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Khái niệm
sarcopenia
1.2. Dịch tễ học bệnh
sarcopenia
1.3. Phân loại
sarcopenia theo nguyên nhân
1.4. Sinh lý bệnh
sarcopenia
1.5. Các biến cố bất
lợi của sarcopenia
2. SÀNG LỌC SARCOPENIA
3. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
BỆNH SARCOPENIA
3.1. Các phương pháp
đánh giá
3.1.1. Đánh giá khối
lượng cơ:
3.1.2. Cơ lực tay (hand
grip strength - HGS):
3.1.3. Khả năng thực
hiện động tác: được coi là hệ quả của sarcopenia
3.2. Tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh Sarcopenia
4. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ
SARCOPENIA
4.1. Mục tiêu
4.2. Khuyến cáo điều
trị và dự phòng sarcopenia
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NGÃ VÀ RỐI LOẠN TƯ THẾ
DÁNG ĐI
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa:
1.2. Dịch tễ học:
1.3. Các yếu tố nguy cơ
1.3.1. Yếu tố bệnh lý
1.3.2.Yếu tố thuốc
1.3.3. Yếu tố môi
trường
2. ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ NGÃ
2.1. Đánh giá nguy cơ
ngã tại cộng đồng
2.2. Rối loạn dáng đi ở
người cao tuổi
2.3. Đối với nhóm nguy
cơ thấp:
2.4. Đối nhóm nguy cơ
trung bình:
2.5. Đánh giá nguy cơ
ngã tại bệnh viện và các viện dưỡng lão:
2.6. Đánh giá toàn diện
về ngã
3. CÁC BIỆN PHÁP CAN
THIỆP CỤ THỂ GIẢM NGUY CƠ NGÃ
3.1. Đánh giá các thuốc
3.2. Bổ sung vitamin D
3.3. Can thiệp về nguy
cơ trong nhà
3.4. Chương trình bài
tập phòng ngừa ngã
3.5. Tối ưu hóa việc
tham gia liên tục vào các can thiệp phòng ngừa ngã
4. THÔNG TIN VÀ GIÁO
DỤC CHO NGƯỜI NHẬN ĐÁNH GIÁ HOẶC CAN THIỆP PHÒNG NGỪA NGÃ
4.1. Áp dụng trong mọi
bối cảnh chăm sóc
4.2. Trong môi trường
bệnh viện nội trú
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC II
TÀI LIỆU THAM KHẢO
HỘI CHỨNG ĐAU
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
1.2. Dịch tễ học
1.3. Phân loại đau
1.4. Nguyên nhân đau
thường gặp ở người cao tuổi
2. ĐẶC ĐIỂM ĐAU VÀ
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ ĐAU Ở NGƯỜI CAO TUỔI
2.1. Đặc điểm đau ở
người cao tuổi
2.2. Những yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý đau ở người cao tuổi
2.2.1. Suy giảm nhận
thức và giao tiếp
2.2.2. Đa bệnh lý và đa
thuốc
2.2.3. Các yếu tố tâm
lý và xã hội
2.2.4. Những thay đổi
sinh lý, dược động học và dược lực học liên quan đến tuổi
3. ĐÁNH GIÁ ĐAU Ở NGƯỜI
CAO TUỔI
3.1. Nguyên tắc đánh
giá đau
3.2. Đánh giá đau toàn
diện
3.2.1. Đặc điểm đau
3.2.2. Đánh giá tác
động của đau
3.2.3. Đánh giá bệnh
đồng mắc và thuốc đang sử dụng
3.2.4. Đánh giá mục
tiêu điều trị, thái độ và kỳ vọng của người bệnh
3.2.5. Đánh giá hỗ trợ
gia đình và xã hội
3.3. Các công cụ đánh
giá đau
3.3.1. Người bệnh có
khả năng tự báo cáo
3.3.2. Người bệnh suy
giảm nhận thức hoặc hạn chế giao tiếp
4. ĐIỀU TRỊ ĐAU Ở NGƯỜI
CAO TUỔI
4.1. Điều trị bằng
thuốc
4.1.1. Nguyên tắc sử
dụng thuốc giảm đau ở người cao tuổi
4.1.2. Thuốc giảm đau
không opioid
4.1.3. Thuốc giảm đau
Opioid
4.1.4. Thuốc hỗ trợ
điều trị đau
4.2. Các thủ thuật can
thiệp giảm đau
4.3. Điều trị đau không
dùng thuốc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
1.2. Phân loại
1.2.1. Theo nguyên nhân
Theo Phân loại bệnh
quốc tế (ICD-10) phân loại sảng làm hai nhóm chính:
1.2.2. Theo đặc điểm
lâm sàng
1.2.3. Theo thời gian
diễn biến
1.2.4. Theo mức độ
1.3. Nguyên nhân và các
yếu tố nguy cơ
1.3.1. Các yếu tố nguy
cơ có khả năng thay đổi
1.3.2. Các yếu tố nguy
cơ không thể thay đổi
1.4. Cơ chế bệnh sinh
2. CHẨN ĐOÁN
2.1. Đặc điểm lâm sàng
2.1.1. Khởi phát và
diễn biến
2.1.2. Triệu chứng lâm
sàng
2. Chẩn đoán:
2.1. Đặc điểm lâm sàng:
2.2. Chẩn đoán:
2.3. Cận lâm sàng và
chẩn đoán nguyên nhân
2.4. Các thang đánh giá
2.5. Tiếp cận lâm sàng
3. QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ
3.1. Nguyên tắc chung
3.2. Điều trị trong môi
trường đa khoa
3.2.1. Các biện pháp
can thiệp không dùng thuốc
3.2.2. Các biện pháp
can thiệp không dùng thuốc
3.3. Điều trị trong đơn
vị hồi sức
3.4. Phối hợp đa ngành
trong quản lý sảng
4. DỰ PHÒNG
4.1. Nguyên tắc chung
4.2. Các biện pháp dự phòng
không dùng thuốc bao gồm:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐẠI TIỂU TIỆN KHÔNG TỰ
CHỦ
1. TIỀU TIỆN KHÔNG TỰ
CHỦ
1.1. Định nghĩa tiểu
không tự chủ ở người cao tuổi
1.2. Dịch tễ học của
TKTC ở người cao tuổi
1.3. Sinh lý bệnh và
nguyên nhân
1.3.1. Sinh lý bệnh của
TKTC
1.3.2. Nguyên nhân TKTC
1.3.2.1. Nguyên nhân
TKTC tạm thời
1.3.2.2. TKTC mạn tính
1.4. Phân loại TKTC
1.4.1. Phân loại theo
triệu chứng lâm sàng
1.4.2. Phân loại theo
cơ chế bệnh sinh
1.4.2.1. Bất thường cơ
detrusor
1.4.2.2. Bất thường cơ
thắt niệu đạo
1.4.2.3. Phân loại theo
nguyên nhân
1.4.2.4. Phân loại theo
thời gian diễn biến
1.5. Triệu chứng và
chẩn đoán
1.5.1. Khai thác tiền
sử và triệu chứng của bệnh
1.5.1.1. Triệu chứng
TKTC
1.5.1.2. Tiền sử
1.5.2. Chẩn đoán
1.5.2.1. Khám thực thể
1.5.2.2. Khám toàn thân
1.5.2.3. Khám vùng sinh
dục - hậu môn
1.5.2.4. Khám thần kinh
1.5.2.5. Đánh giá da và
mô mềm
1.5.2.6. Đánh giá khả
năng chăm sóc bản thân
1.5.2.6. Lưu ý ở người
cao tuổi
1.5.3. Các xét nghiệm
và cận lâm sàng
1.5.3.1. Các cận lâm
sàng thường quy
1.5.3.2. Chẩn đoán hình
ảnh và đo lường
1.5.3.3. Thăm dò niệu
động học
1.5.3.4. Các xét nghiệm
chuyên biệt khác (nếu cần)
1.5.3.5. Lưu ý ở người
cao tuổi
1.6. Hậu quả của TKTC
1.6.1. Hậu quả liên
quan đến sức khỏe thể chất
1.6.2. Hậu quả liên
quan đến tâm lí xã hội
1.6.3. Gánh nặng cho
người chăm sóc
1.7. Điều trị TKTC
1.7.1. Điều trị bảo tồn
1.7.1.1. Điều trị các
bệnh lý nền gây ra TKTC
1.7.1.2 .Thay đổi lối
sống
1.7.2. Luyện tập bàng
quang và thói quen đi tiểu
1.7.2.1. Bài tập cho cơ
vùng chậu
1.7.2.2. Tập luyện bàng
quang
1.7.2.3. Đi tiểu theo
nhịp
1.7.2.4. Điều chỉnh môi
trường và hỗ trợ chức năng
1.7.3. Các can thiệp
không xâm lấn
1.7.4. Sử dụng thuốc
1.7.4.1. Thuốc kháng hệ
muscarinic (kháng cholinergic)
1.7.4.2. Nhóm thuốc chủ
vận β3 (β3-agonists)
1.7.4.3. Thuốc đồng vận
alpha-adrenergic
1.7.4.4. Estrogens
1.7.4.5. Desmopressin
1.7.4.6. Chẹn alpha-
adrenergic
1.7.4.7. Thuốc ức chế
5α-Reductase
1.7.4.8. Thuốc chống
trầm cảm 3 vòng
1.7.4.9. Liệu pháp kết
hợp thuốc
1.7.5. Các dụng cụ hỗ
trợ
1.7.6.1. Bất thường cơ
thắt
1.7.6.2. Giảm dung tích
bàng quang
2. ĐẠI TIỆN KHÔNG TỰ
CHỦ
2.1. Định nghĩa đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
2.2. Dịch tễ học đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
2.3. Hậu quả của đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
2.4. Sinh lý bệnh
2.5. Nguyên nhân
2.6. Phân loại
2.7. Chẩn đoán
2.8. Điều trị
2.9. Tiên lượng và theo
dõi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
KHUYẾN CÁO DINH DƯỠNG
NÂNG CAO SỨC KHOẺ NGƯỜI CAO TUỔI
1. Vai trò của dinh
dưỡng đối với sức khoẻ người cao tuổi
2. Một số thay đổi sinh
lý ảnh hưởng đến dinh dưỡng người cao tuổi
2.1. Hệ tiêu hóa
2.2. Các chức năng tim
mạch, thận, thần kinh
2.3. Hệ miễn dịch
2.4. Loét tì đè
2.5. Chức năng và trạng
thái chức năng
2.6. Trầm cảm
2.7. Các thay đổi trong
chuyển hóa dinh dưỡng ở NCT:
3. Một số vấn đề dinh
dưỡng thường gặp ở người cao tuổi:
3.1. Suy dinh dưỡng ở
người cao tuổi
3.2. Thiếu hụt vitamin
và khoáng chất ở người cao tuổi
4. Chăm sóc dinh dưỡng
người cao tuổi trong bệnh viện
4.1. Sàng lọc suy dinh
dưỡng người cao tuổi:
4.2. Đánh giá dinh
dưỡng toàn diện
4.3. Chẩn đoán suy dinh
dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM (Global Leadership Initiative on Malnutrition)
4.4. Can thiệp dinh
dưỡng
4.5. Nhu cầu các chất
dinh dưỡng ở người cao tuổi:
4.6. Một số lưu ý trong
lựa chọn và chế biến thức ăn cho người cao tuổi:
5. Các khuyến nghị đối
với người cao tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc bị suy dinh dưỡng:
5.1. Bổ sung dinh dưỡng
đường miệng
5.2. Nuôi ăn qua sonde
và nuôi dưỡng tĩnh mạch
5.3. Can thiệp tập
luyện
5.4. Xác định, điều trị
và phòng mất nước
5.5. Hội chứng nuôi ăn
lại (refeeding)
5.6. Dinh dưỡng trong
chăm sóc giảm nhẹ giai đoạn cuối đời
TÀI LIỆU THAM KHẢO
HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở
NGƯỜI CAO TUỔI
1. ĐẠI CƯƠNG
2. Lợi ích của hoạt
động thể lực
2.1. Kiểm soát cân nặng
2.2. Giảm nguy cơ mắc
bệnh tim mạch
2.3. Giảm nguy cơ đái
tháo đường típ 2 và hội chứng chuyển hóa
2.4. Giảm nguy cơ mắc
một số loại ung thư
2.5. Tăng cường sức
khỏe của xương và cơ
2.6. Cải thiện sức khỏe
tâm thần và khí sắc
2.7. Cải thiện hoạt
động hàng ngày và phòng tránh ngã
2.8. Tăng tuổi thọ
3. Khuyến cáo chung tập
luyện và HĐTL
3.1. Các thành tố của
hoạt động thể lực
3.2. Khuyến cáo về kê
đơn hoạt động thể lực
3.3. Tập luyện thể lực
nhiều thành phần
4. Đánh giá trước khi
luyện tập thể lực
4.1. Sàng lọc và đảm
bảo an toàn trước khi tập luyện
4.2. Chuẩn bị trước khi
tập luyện
4.3. Theo dõi khả năng
dung nạp khi tập luyện
4.4. Nguyên tắc tăng
dần cường độ tập luyện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN DIỆN VÀ TÌNH TRẠNG ĐA
BỆNH LÝ
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Đánh giá lão khoa toàn
diện (ĐGLKTD) là phương pháp chẩn đoán liên ngành, đa chiều để xác định các nhu
cầu y khoa, tâm lý, xã hội và chức năng của một người cao tuổi nhằm phát triển
một kế hoạch tích hợp và phối hợp phù hợp với từng cá nhân. ĐGLKTD
được coi là tiêu chuẩn vàng trong chăm sóc lão khoa.
1.2. Mục tiêu của đánh
giá lão khoa toàn diện
ĐGLKTD được thực hiện ở
người bệnh cao tuổi nhằm xác định các vấn đề sức khỏe thể chất - tâm thần, tình
trạng chức năng, các hội chứng lão khoa và các vấn đề về xã hội, môi trường mà
có thể điều trị hoặc can thiệp được để thực hiện các biện pháp can thiệp có mục
tiêu, đa chuyên ngành trước khi xảy ra thêm tình trạng suy giảm chức năng hoặc
khuyết tật do các vấn đề này gây ra. Mục đích của ĐGLKTD là xây dựng kế hoạch
điều trị và theo dõi lâu dài cho người cao tuổi. Mục tiêu cụ thể của ĐGLKTD:
Mục tiêu lâm sàng:
- Sàng lọc lão khoa đa
chiều ở các quần thể người cao tuổi.
- Cải thiện quy trình
điều trị, quản lý và chăm sóc:
+ Cải thiện độ chính
xác chẩn đoán
+ Cải thiện điều trị y
tế: hướng dẫn lựa chọn các can thiệp để phục hồi hoặc bảo tồn chức năng.
+ Sắp xếp quản lý dài
hạn: khuyến nghị môi trường sống tối ưu, theo dõi sự thay đổi lâm sàng theo
thời gian
- Để cải thiện kết quả
của việc chăm sóc:
+ Cải thiện tình trạng
chức năng
+ Nâng cao chất lượng
cuộc sống
- Giảm chi phí chăm
sóc:
+ Giảm sử dụng các dịch
vụ không cần thiết
+ Kéo dài thời gian tại
nhà/cộng đồng
- Tiên lượng người bệnh
Mục tiêu khác:
- Xác định điều
kiện/thanh toán cho các dịch vụ quản lý, điều trị và chăm sóc người bệnh.
- Tiến hành nghiên cứu
để xác định đặc điểm cơ bản của người bệnh, hoặc kết quả của việc điều trị.
1.3. Các thành tố của
đánh giá lão khoa toàn diện ở người cao tuổi
- ĐGLKTD không chỉ bao
gồm việc xem xét các tình trạng bệnh tật như một đánh giá y tế tiêu chuẩn sẽ
làm, hoặc tình trạng khuyết tật, như một đánh giá phục hồi chức năng tiêu chuẩn
có thể làm, mà còn ở một loạt các lĩnh vực như được mô tả trong Bảng 1.2.
- Đáp ứng với nhu cầu
chăm sóc của các cộng đồng dân cư đa dạng, các mô hình ĐGLKTD cũng khác biệt
nhau về mức độ, cấu trúc và chức năng, được thực hiện tại các cơ sở khác nhau
như tại các đơn vị điều trị người bệnh nội trú giai đoạn cấp, đơn vị điều trị
bệnh mạn tính và phục hồi chức năng, bệnh viện ban ngày, phòng khám ngoại trú
và các dịch vụ thăm khám tại nhà. Mặc dù vậy, các mô hình ĐGLKTD đều có các đặc
điểm chung là bao gồm các đánh giá đa chiều, nhiều lĩnh vực, sử dụng các công
cụ được chuẩn hóa để lượng giá các khía cạnh thể chất, chức năng, tâm lý và xã
hội của người bệnh.

Hình 1.1. Các thành tố của đánh giá lão khoa
toàn diện
- Trong đó, các thành
tố chi tiết có thể khác nhau, tuy nhiên hầu như tất cả các ĐGLKTD đều bao gồm
các thành phần y tế - sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường, cũng như
các thành phần chức năng (ở cấp độ của các hoạt động chức năng hàng ngày (theo
thang điểm Activities of Daily Living - ADL) và các hoạt động chức năng hàng
ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ (theo thang điểm Instrumental Activities
of Daily Living - IADL).
Bảng 1.1. Các thành tố
chính của đánh giá lão khoa toàn diện
|
Thành
phần
|
Thành
tố chính
|
|
|
Đánh giá y
tế, thể chất
|
- Liệt kê
các bệnh đồng mắc, vấn đề sức khỏe
- Tình
trạng bệnh tật và mức độ nghiêm trọng của bệnh
- Thông
tin liệu pháp điều trị, sử dụng nhiều thuốc
- Tình
trạng dinh dưỡng
- Hội
chứng lão khoa
|
|
|
|
|
|
|
Đánh giá
hoạt động chức năng
|
- Hoạt
động chức năng hàng ngày
- Hoạt
động chức năng hàng ngày có sử dụng công cụ
- Mức độ
hoạt động thể lực
- Rối
loạn thăng bằng - dáng đi và ngã
|
|
|
Đánh giá tâm
lý
|
- Đánh giá tình trạng
nhận thức
- Đánh giá trạng thái
tâm thần
|
|
|
|
Đánh giá
xã hội, môi trường
|
- Nhu cầu hỗ trợ từ gia
đình, xã hội
- Đánh giá tài chính,
điều kiện nguồn lực chăm sóc
- An toàn nhà ở, môi
trường sống
- Khả năng tiếp cận với
dịch vụ cá nhân và y tế
|
|
|
|
|
- Nhóm lâm sàng thực
hiện quy trình này bằng cách sử dụng các thang đo và công cụ tiêu chuẩn hóa,
hoặc các bài kiểm tra đánh giá phù hợp với từng lĩnh vực. Phạm vi của ĐGLKTD
phụ thuộc vào môi trường chăm sóc và nguồn lực sẵn có.
1.4. Đối tượng nên được
đánh giá lão khoa toàn diện
- ĐGLKTD nên được triển
khai cho toàn bộ người cao tuổi, đặc biệt là người có nguy cơ cao và được hưởng
lợi từ cách tiếp cận này. Việc xác định đúng đối tượng cần đánh giá là bước
khởi đầu mang tính quyết định trong triển khai ĐGLKTD.
- ĐGLKTD có thể được áp
dụng trong nhiều bối cảnh chăm sóc và được thực hiện theo hai hình thức: chủ
động khi người cao tuổi chưa có bệnh cấp tính và khi có vấn đề sức khỏe cấp
tính. Mặc dù các nội dung cốt lõi của ĐGLKTD là thống nhất, bối cảnh triển khai
có thể ảnh hưởng đến mục tiêu và trọng tâm chăm sóc cho từng người bệnh. Triển
khai ĐGLKTD chủ động trong chăm sóc ban đầu giúp giảm tỷ lệ nhập viện và tái
nhập viện. Ngược lại, ĐGLKTD thực hiện tại các khoa lâm sàng trong bệnh viện
vẫn mang lại hiệu quả rõ rệt, bao gồm giảm tỷ lệ sảng và giảm nhu cầu chuyển
vào các cơ sở chăm sóc dài hạn.
- ĐGLKTD chủ động khi
người cao tuổi chưa có bệnh cấp tính
+ ĐGLKTD chủ động được
áp dụng cho người cao tuổi có nguy cơ suy giảm chức năng hoặc đang có hội chứng
dễ bị tổn thương, trong bối cảnh cộng đồng, chăm sóc ban đầu (trạm y tế xã,
phòng khám đa khoa, phòng khám bác sĩ gia đình), hoặc trong quá trình đánh giá
trước phẫu thuật.
+ Việc xác định đối
tượng cần được đánh giá ĐGLKTD có thể thông qua các hoạt động quản lý sức khỏe
người cao tuổi tại cộng đồng, sàng lọc nguy cơ suy giảm chức năng và đa bệnh
lý. Các công cụ sàng lọc tình trạng dễ bị tổn thương có thể được sử dụng để hỗ
trợ phân loại nguy cơ. Sau sàng lọc, cần đánh giá lâm sàng trực tiếp để xác
định mức độ suy giảm chức năng và chỉ định ĐGLKTD. Người cao tuổi có hội chứng
dễ bị tổn thương hoặc suy giảm chức năng được xem là nhóm ưu tiên thực hiện
ĐGLKTD. Trong bối cảnh chăm sóc ban đầu và tại cộng đồng, việc phát hiện sớm và
quản lý người cao tuổi có nguy cơ hoặc đã có suy giảm chức năng là một nhiệm vụ
trọng tâm.
- ĐGLKTD khi có vấn đề
sức khỏe cấp tính
+ ĐGLKTD nên được triển
khai khi người cao tuổi xuất hiện các vấn đề sức khỏe cấp tính. Các tình huống
thường gặp bao gồm: ngã, rối loạn nhận thức hoặc sảng, suy giảm chức năng đột
ngột, giảm khả năng vận động, nhiễm trùng cấp tính, đợt cấp của các bệnh lý mạn
tính không được kiểm soát, xuất hiện tiểu không tự chủ mới, hoặc gặp phản ứng
bất lợi liên quan đến thuốc.
+ Trong cộng đồng, các
tình huống này có thể được phát hiện và đánh giá ban đầu bởi bác sĩ đa khoa,
bác sĩ gia đình, cán bộ y tế xã trong quá trình khám bệnh tại nhà, hoặc các
dịch vụ cấp cứu ngoài bệnh viện. Trong bệnh viện, ĐGLKTD cần được triển khai
tại các khoa lâm sàng có tiếp nhận người cao tuổi, đặc biệt là khoa Cấp cứu,
khoa Nội, khoa Ngoại, và các đơn vị/chương trình chăm sóc người cao tuổi. Việc
thực hiện ĐGLKTD trong các bối cảnh này đạt hiệu quả cao nhất khi được triển
khai bởi nhóm chăm sóc đa chuyên ngành, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên
khoa và các bộ phận hỗ trợ.
1.5. Đội ngũ thực hiện
đánh giá lão khoa toàn diện
ĐGLKTD là một phương
pháp tiếp cận đa chuyên ngành, huy động sự tham gia của nhiều nhóm chuyên môn
khác nhau, trong đó mỗi thành viên đóng góp chuyên môn riêng biệt. Mặc dù thành
phần của nhóm có thể thay đổi tùy theo bối cảnh, các thành viên chủ chốt thường
bao gồm:
+ Nhóm bác sĩ (bác sĩ
lão khoa; bác sĩ chuyên khoa liên quan; bác sĩ gia đình có đào tạo/chuyên môn
sâu về chăm sóc người cao tuổi và hội chứng dễ tổn thương): thường đảm nhiệm
vai trò lãnh đạo chuyên môn chung cho toàn bộ nhóm đa chuyên ngành, chịu trách
nhiệm đánh giá y khoa tổng thể và xây dựng kế hoạch điều trị.
+ Điều dưỡng: theo dõi
các thay đổi về tình trạng sức khỏe, chăm sóc da, tình trạng dinh dưỡng, vận
động và hỗ trợ chăm sóc toàn diện cho người bệnh.
+ Nhóm chuyên gia y tế
hỗ trợ: bao gồm vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu và
chuyên gia dinh dưỡng, chuyên gia sức khỏe tâm thần, tình nguyện viên: tập trung
đánh giá và can thiệp về vận động, chức năng, giao tiếp, môi trường sống và
tình trạng dinh dưỡng,
+ Dược sĩ và kỹ thuật
viên dược: tối ưu hóa việc kê đơn thuốc và rà soát nguy cơ sử dụng nhiều thuốc.
+ Nhân viên công tác xã
hội: giải quyết các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe, nhu cầu chăm sóc, bảo
vệ người dễ bị tổn thương và kết nối các nguồn lực hỗ trợ trong cộng đồng.
1.6. Lợi ích cúa đánh
giá lão khoa toàn diện ở người bệnh cao tuổi
ĐGLKTD có nhiều lợi ích
trong quản lý, điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh cao tuổi.
+ ĐGLKTD giúp cải thiện
quá trình chăm sóc: cải thiện độ chính xác chẩn đoán, điều trị y tế, sắp xếp
quản lí dài hạn, cải thiện tình trạng chức năng, nâng cao chất lượng cuộc sống,
giúp giảm các biến cố bất lợi sức khỏe kể cả tử vong là rất rõ rệt ở các đối
tượng người bệnh cao tuổi có tình trạng sức khỏe kém, dễ bị tổn thương.
+ Tối ưu hóa điều trị y
tế và phục hồi chức năng
+ Hỗ trợ tránh các biến
chứng có thể xảy ra khi nhập viện
+ Về chi phí chăm sóc,
đánh giá lão khoa toàn diện giúp giảm sử dụng các dịch vụ không cần thiết và
kéo dài thời gian ở tại nhà, cộng đồng.
+ ĐGLKTD ở người bệnh
cao tuổi mang lại nhiều lợi ích khi được thực hiện sớm khi người bệnh đến khám,
ảnh hưởng lớn đến các chỉ định điều trị, dùng thuốc cũng như các can thiệp chẩn
đoán cũng như phác đồ điều trị. Phác đồ điều trị cho người bệnh có thể thay đổi
tùy thuộc vào kết quả của ĐGLKTD.
2. Công cụ đánh giá lão
khoa toàn diện ở người cao tuổi
2.1. Đánh giá về sức
khỏe thể chất
Bệnh đồng mắc
- Tất cả các bệnh mắc
kèm được ghi nhận qua hồ sơ quản lý người bệnh theo danh sách, bao gồm: bệnh
tim mạch (tăng huyết áp, suy tim, bệnh mạch vành), bệnh thận mạn tính, bệnh
phổi mạn tính (COPD/Hen phế quản), đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid,
bệnh hệ cơ xương khớp (thoái hóa khớp, loãng xương, gout), bệnh ung thư, ...
- Các bệnh đồng mắc của
người bệnh được đánh giá bằng chỉ số bệnh đồng mắc Charlson (Charlson
comorbidity index) hoặc số lượng bệnh mắc kèm cần được điều trị bằng thay đổi
lối sống, các biện pháp dùng thuốc hoặc không dùng thuốc.
Sử dụng nhiều thuốc
- Các thuốc người bệnh
đang sử dụng được ghi nhận bằng cách kiểm tra hồ sơ bệnh án, sổ khám bệnh và
hỏi người bệnh và người chăm sóc; gồm cả thuốc theo đơn và thuốc không cần kê
đơn.
- Sử dụng nhiều thuốc
là sử dụng từ 5 loại thuốc trở lên trong một ngày. Nhóm sử dụng rất nhiều loại
thuốc là sử dụng từ 10 loại thuốc trở lên mỗi ngày
Tình trạng dinh dưỡng
Sử dụng Bảng đánh giá
dinh dưỡng tối thiểu dành cho người bệnh cao tuổi MNA-SF (Mini Nutritional Assessment
Short Form)8
để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng, bảng gồm 6 câu hỏi về các lĩnh vực liên quan đến
dinh dưỡng: Giảm khả năng ăn uống/3 tháng qua do chán ăn, vấn đề tiêu hóa,
nhai, nuốt khó; Sút cân trong 3 tháng qua; Khả năng di chuyển; Căng thẳng tâm
lí hoặc bệnh lý cấp tính trong 3 tháng qua; Vấn đề về tâm lý/bệnh tâm thần; Chỉ
số khối cơ thể (Body mass index - BMI) hoặc chu vi bắp chân. Tổng điểm 12-14
điểm: tình trạng dinh dưỡng bình thường; 8-11 điểm: nguy cơ suy dinh dưỡng; 0-7
điểm: suy dinh dưỡng.
Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống ở
người bệnh cao tuổi có thể được đánh giá dựa theo thang điểm EQ- 5D- 5L,
EQ-VAS, SF-12, SF-36 hoặc các thang điểm chất lượng cuộc sống cho từng đối
tượng người bệnh khác nhau.
2.2. Đánh giá tình
trạng chức năng
Hoạt động chức năng
hàng ngày có/không sử dụng phương tiện, dụng cụ
- Thang điểm đánh giá
hoạt động hàng ngày (Activity Daily Living - ADL)10: Có thể phỏng vấn người bệnh hoặc người chăm
sóc về 6 hoạt động sinh hoạt hàng ngày: ăn uống, đi vệ sinh, mặc quần áo, chăm
sóc bản thân, đi lại, tắm rửa.
- Thang điểm đánh giá
hoạt động hàng ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ (Instrument Activity Daily
Living - IADL): Phỏng vấn người bệnh/người chăm sóc về 8 hoạt động sinh hoạt
hàng ngày của người bệnh khi sử dụng các dụng cụ phương tiện: sử dụng điện
thoại, mua bán, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo, sử dụng phương tiện giao
thông, sử dụng thuốc, khả năng quản lý chi tiêu.
- Chỉ số Barthel
Khả năng di chuyển,
dáng đi và thăng bằng
Có thể đánh giá bằng
các bài kiểm tra hoặc bộ công cụ như:
+ Bài kiểm tra đứng dậy
và đi (TUG - Time Up and Go test)
+ Bài kiểm tra đi bộ 4
mét
+ Bài kiểm tra đi bộ 6
mét
+ Bài kiểm tra đi bộ 6
phút
+ Bài kiểm tra tầm với
(FRT - functional reach test)
+ Bài kiểm tra đứng lên
ngồi xuống 5 lần từ ghế (5CST - 5 times chair stand test)
+ Bộ công cụ SPPB
(Short Physical Performance Battery)
Mức độ hoạt động thể
lực
- Mức độ hoạt động thể
lực có thể được đánh giá bằng bộ câu hỏi về mức độ hoạt động thể lực:
+ Bộ câu hỏi IPAQ-SF
(the International Physical Activity Questionnaire short form) gồm 7 câu hỏi về
hoạt động của người bệnh trong 7 ngày qua.
+ Bộ câu hỏi GPAQ
(Global Physical Activity Questionnaire)
+ Bộ câu hỏi RAPA (The
Rapid Assessment of Physical Activity)
2.3. Đánh giá về thần
kinh - tâm thần
Chức năng nhận thức
+ Có thể sàng lọc bằng
bộ công cụ Mini Cog, trắc nghiệm vẽ đồng hồ.
+ Chức năng nhận thức
được đánh giá bằng trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu
(Mini-Mental State Examination - MMSE)15 đã được chuẩn hóa sang
tiếng Việt.
+ Bộ công cụ MoCA
(Montreal Congitive Assessment)
Trầm cảm
Sử dụng thang điểm đánh
giá trầm cảm ở người cao tuổi GDS (Geriatric Depression Scale) phiên bản gồm 5
câu hỏi hoặc 15 câu hỏi.
Rối loạn giấc ngủ
Sử dụng thang điểm đánh
giá rối loạn giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI). Thang
điểm gồm 20 câu hỏi tự trả lời liên quan đến giấc ngủ.
2.4. Các vấn đề lão
khoa khác
Thị lực
Người bệnh được đánh
giá thị lực bằng bảng chữ theo Snellen test
Thính lực
Sử dụng Whisper test21 để kiểm tra thính lực
của người bệnh. Trước tiên đo bằng tiếng nói thầm, nếu có giảm nghe mới đo tiếp
bằng tiếng nói thường.
Tiểu không tự chủ
Chẩn đoán và phân loại
tiểu không tự chủ (TKTC) theo bộ câu hỏi 3IQ. Phỏng vấn người bệnh các triệu
chứng trong 3 tháng qua.
Táo bón cơ năng mạn
tính
Chẩn đoán táo bón cơ
năng mạn tính theo tiêu chuẩn ROME IV.
Ngã và nguy cơ ngã
+ Tiền sử có ngã và số
lần ngã trong 12 tháng qua.
+ Nguy cơ ngã: Sử dụng
bảng đánh giá nguy cơ ngã 21 câu hỏi, thang đánh giá nguy cơ ngã Morse,
Stratify hoặc bộ công cụ phù hợp
Hội chứng dễ bị tổn
thương
Hội chứng dễ bị tổn
thương (HCDBTT) được đánh giá bằng thang điểm FRAIL, thang điểm trên lâm sàng
(Clinical Frailty Scale - CFS), REFS, tiêu chuẩn Fried, chỉ số FI (Frailty
Index) hoặc bộ công cụ phù hợp với thực tế tại cộng đồng hoặc cơ sở y tế.
2.5. Các vấn đề về xã
hội - môi trường sống
Tài chính
Một số vấn đề tài chính
như: Thu nhập hàng tháng; Khả năng chi trả cho dịch vụ y tế và thuốc; Bảo hiểm
y tế hay không và mức được chi trả; Tình trạng chung sống, môi trường sinh
sống, người chăm sóc
Sự hỗ trợ của gia đình
và xã hội
+ Tình trạng chung
sống: sống với gia đình (vợ/chồng, con, cháu...), sống với người chăm sóc
(không phải người thân trong gia đình), sống một mình.
+ Sự hỗ trợ của xã hội:
tổ chức hỗ trợ và nguồn lực
+ Nhu cầu cần được hỗ
trợ về chăm sóc.
Khả năng tiếp cận và sử
dụng dịch vụ/chăm sóc y tế
+ Khám bệnh tại bệnh
viện/phòng khám/trung tâm y tế
+ Nhập viện, tái nhập
viện, nhập viện khoa cấp cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Parker SG, McCue P,
Phelps K, et al. What is Comprehensive Geriatric Assessment (CGA)? An umbrella
review. Age and ageing. Jan 1 2018;47(1):149-155.
2. Ellis G, Whitehead MA,
Robinson D, O'Neill D, Langhorne P. Comprehensive geriatric assessment for
older adults admitted to hospital: meta- analysis of randomised controlled
trials. BMJ (Clinical research ed.). Oct 27 2011;343:d6553.
3. Ellis G, Whitehead MA,
O'Neill D, Langhorne P, Robinson D. Comprehensive geriatric assessment for
older adults admitted to hospital. The Cochrane database of systematic reviews.
Jul 6 2011(7):CD006211.
4. Vu HTT, Nguyen TTH,
Le TA, et al. Comprehensive Geriatric Assessment in Older Patients with Diabetes
Mellitus in Hanoi, Vietnam. Gerontology. 2022;68(10):1132-1138. doi:10.1159/000521601
5. Nguyen HTT, Nguyen
AT, Tran LV. Comprehensive Geriatric Assessment in older post-stroke patients:
a cross-sectional study. Journal of Medical Research. 2023;166 E12 (5):148-154
6. Sundararajan V,
Henderson T, Perry C, Muggivan A, Quan H, Ghali WA. New ICD-10 version of the
Charlson comorbidity index predicted in-hospital mortality. Journal of clinical
epidemiology. Dec 2004;57(12): 1288-1294.
7. Veehof L, Stewart R,
Haaijer-Ruskamp F, Jong BM. The development of polypharmacy. A longitudinal study.
Family practice. Jun 2000;17(3):261-267.
8. Rubenstein LZ,
Harker JO, Salvà A, Guigoz Y, Vellas B. Screening for undernutrition in
geriatric practice: developing the short-form mini-nutritional assessment
(MNA-SF). The journals of gerontology. Series A, Biological sciences and
medical sciences. Jun 2001;56(6):M366-372.
9. Mai VQ, Sun S, Minh
HV, et al. An EQ-5D-5L Value Set for Vietnam. Qual Life Res.
2020;29(7):1923-1933. doi:10.1007/s11136-020-02469-7
10. Hartigan I. A
comparative review of the Katz ADL and the Barthel Index in assessing the
activities of daily living of older people. International journal of older
people nursing. Sep 2007;2(3):204-212.
11. Graf C. The Lawton
instrumental activities of daily living scale. The American journal of nursing.
Apr 2008;108(4):52-62; quiz 62-53.
12. Podsiadlo D, Richardson
S. The timed "Up & Go": a test of basic functional mobility for
frail elderly persons. Journal of the American Geriatrics Society. Feb
1991;39(2):142-148.
13. Ha VT, Nguyen TN,
Nguyen TX, et al. Prevalence and Factors Associated with Falls among Older
Outpatients. International journal of environmental research and public health.
Apr 12 2021;18(8).
14. Tran DV, Lee AH, Au
TB, Nguyen CT, Hoang DV. Reliability and validity of the International Physical
Activity Questionnaire-Short Form for older adults in Vietnam. Health promotion
journal of Australia: official journal of Australian Association of Health
Promotion Professionals. Aug 2013;24(2):126-131.
15. Bich NN, Dung NTT,
Vu T, et al. Dementia and associated factors among the elderly in Vietnam: a
cross-sectional study. International journal of mental health systems.
2019;13:57.
16. Vu HTT, Nguyen TX,
Nguyen HTT, et al. Depressive symptoms among elderly diabetic patients in
Vietnam. Diabetes, metabolic syndrome and obesity : targets and therapy.
2018;11:659-665.
17. Shin C, Park MH,
Lee SH, et al. Usefulness of the 15-item geriatric depression scale (GDS-15)
for classifying minor and major depressive disorders among community-dwelling elders.
Journal of affective disorders. Dec 1 2019;259:370-375.
18. Buysse DJ, Reynolds
CF, 3rd, Monk TH, Berman SR, Kupfer DJ. The Pittsburgh Sleep Quality Index: a
new instrument for psychiatric practice and research. Psychiatry research. May
1989;28(2):193-213.
19. Le TA, Dang AD, Tran
AHT, et al. Factors Associated with Sleep Disorders among Methadone-Maintained
Drug Users in Vietnam. International journal of environmental research and
public health. Nov 6 2019;16(22).
20. Sue S. Test
distance vision using a Snellen chart. Community eye health. Sep
2007;20(63):52.
21. Labanca L,
Guimarães FS, Costa-Guarisco LP, Couto EAB, Gonçalves DU. Screening of hearing
in elderly people: assessment of accuracy and reproducibility of the whispered voice
test. Ciencia & saude coletiva. Nov 2017;22(11):3589-3598.
22. Brown JS, Bradley
CS, Subak LL, et al. The sensitivity and specificity of a simple test to
distinguish between urge and stress urinary incontinence. Annals of internal
medicine. May 16 2006;144(10):715-723.
23. Aziz I, Whitehead
WE, Palsson OS, Törnblom H, Simrén M. An approach to the diagnosis and
management of Rome IV functional disorders of chronic constipation. Expert review
of gastroenterology & hepatology. Jan 2020;14(1):39-46.
24. Ishimoto Y, Wada T,
Kasahara Y, Kimura Y, Fukutomi E, Chen W, Hirosaki M, Nakatsuka M, Fujisawa M,
Sakamoto R, Ishine M, Okumiya K, Otsuka K, Matsubayashi K. Fall Risk Index
predicts functional decline regardless of fall experiences among
community-dwelling elderly. Geriatr Gerontol Int. 2012 Oct;12(4):659-66. doi:
10.1111/j.1447-0594.2012.00837.x.
25. Church S, Rogers E,
Rockwood K, Theou O. A scoping review of the Clinical Frailty Scale. BMC
geriatrics. Oct 7 2020;20(1):393.
HỘI CHỨNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG (FRAILTY)
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1.Khái niệm
Hội chứng dễ bị tổn
thương (HCDBTT, frailty) là một hội chứng lâm sàng, và là một vấn đề sức khỏe
lớn cần được quan tâm ở quần thể người cao tuổi. HCDBTT đã được định nghĩa là
tình trạng suy giảm sức mạnh và rối loạn các chức năng sinh lý, làm gia tăng
nguy cơ phụ thuộc, bị tổn thương và tử vong. Người bệnh mắc HCDBTT giảm khả
năng đáp ứng với những yếu tố cấp tính như bệnh lý đợt cấp, phẫu thuật, chấn
thương, sang chấn tâm lý.
HCDBTT có thể được coi
là một yếu tố tiên lượng cho một số biến cố bất lợi về sức khỏe ở người cao
tuổi và ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong các chuyên ngành như tim
mạch, ung thư, phẫu thuật …
1.2. Dịch tễ học
Tỷ lệ HCDBTT ở người
cao tuổi tại Việt Nam dao động từ 19% đến 35,4% tại cơ sở y tế và 21,7% tại
cộng đồng. Tỷ lệ mắc hội chứng này giữa các nghiên cứu là là khác nhau, tùy
thuộc vào cộng đồng dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán HCDBTT.
1.3. Các yếu tố nguyên
nhân
Có rất nhiều yếu tố
nguyên nhân dẫn tới HCDBTT, bao gồm sự thay đổi về sinh lý và/hoặc các bệnh lý
liên quan tới tuổi, tình trạng viêm, teo yếu cơ (sarcopenia), sử dụng nhiều
thuốc, sử thay đổi của các hormone hệ nội tiết, suy dinh dưỡng protein năng
lượng, sống cô lập và tình trạng nghèo đói.
2. SINH LÝ BỆNH
Cơ chế bệnh sinh của
hội chứng dễ bị tổn thương
2.1. Cấp độ 1 - Thay
đổi ở mức tế bào
Ở mức độ tế bào, sự
tích lũy sản phẩm của quá trình oxy hóa là một trong những nguyên nhân dẫn đến
HCDBTT. Bên cạnh đó sự suy giảm nhiễm sắc thể, dẫn đến những biến đổi trong
phân chia tế bào và tổng hợp protein có liên quan đến sự suy giảm sinh lý ở
người cao tuổi.
Một số nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ tử vong ở những ngưúời cao tuổi có nhiễm sắc thể ngắn hơn gần như
gấp đôi so với những người có nhiễm sắc thể dài hơn. Tuy nhiên, trên một nghiên
cứu cắt ngang của Woo và cộng sự lại không tìm thấy mối quan hệ giữa chỉ số FI
(một chỉ số để đánh giá hội chứng dễ bị tổn thương) và chiều dài nhiễm sắc thể.
Như vậy, chiều dài của nhiễm sắc thể có thể là một dấu ấn sinh học của quá
trình lão hóa ở mức độ tế bào, tuy nhiên có thể không đại diện cho HCDBTT. Do
vậy cần có thêm nhiều nghiên cứu để khám phá cơ sở phân tử của HCDBTT.
2.2. Cấp độ 2- Rối loạn
điều hòa hệ thống
Trên một cấp độ cao
hơn, quá trình viêm, rối loạn điều hòa nội tiết tố, rối loạn miễn dịch, kích
hoạt các con đường đông máu và trao đổi chất bất thường có mối liên quan mật
thiết với HCDBTT.
- Rối loạn điều hòa quá
trình viêm
Quá trình viêm đóng một
vai trò quan trọng trong HCDBTT, có mối quan hệ mật thiết giữa HCDBTT và sự
tăng cao của cytokine, IL-6, protein C phản ứng, các tế bào bạch cầu, đặc biệt
là bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính.
Mặc dù giá trị trung
bình của các dấu ấn viêm không cao như trong các bệnh nhiễm trùng, nhưng ở mức
độ thấp, mạn tính và gây hoạt hóa các cơ chế viêm ở người lớn tuổi có hội chứng
này.
- Rối loạn điều hòa hệ
thống nội tiết
Một trong những giả
thuyết cơ chế của HCDBTT là sự rối loạn của các hormone đồng hóa. Quá trình lão
hóa cũng như HCDBTT có liên quan đến sự thay đổi của hormone sinh dục và
hormone tăng trưởng (IGF-1). IGF-1đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
của các tế bào cơ vân và có thể là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì
khối lượng cơ bắp khi lão hóa. Sự suy giảm nhanh chóng của estrogen theo tuổi ở
phụ nữ sau mãn kinh và giảm dần của testosteron ở nam giới lớn tuổi dẫn đến
giảm khối lượng cơ và sức mạnh cơ.
Ngoài ra tồn tại tương
quan nghịch giữa nồng độ hormone tuyến thượng thận dehydroepiandrosteron sulfat
(DHEA-s) và HCDBTT. Sự suy giảm của nồng độ DHEA-S và IGF-1 theo tuổi gây suy
ra thiếu hụt lớn trong trong sức mạnh, sức chịu đựng, giảm cân, tốc độ đi bộ,
và hoạt động thể chất. Hơn nữa DHEA-S có tác dụng ngăn chặn tình trạng viêm gây
ra bởi yếu tố hạt nhân kappa B (NFKB). Do đó, nồng độ của DHEA-S giảm có thể
góp phần làm tăng tình trạng viêm mạn tính và cuối cùng gây ra HCDBTT.
- Rối loạn điều hòa quá
trình đông máu
Sự hoạt hóa quá mức của
hệ thống đông máu có liên quan đến lão hóa suy giảm chức năng, và tăng tỷ lệ tử
vong, dẫn đến giả thuyết cho rằng dấu ấn sinh học của đông máu (D-dimer, yếu tố
VIII, và fibrinogen) và hủy fibrin (tissue- type plasminogen activator, t-PA)
là dấu hiệu quan trọng trong cơ chế sinh lý sự phát triển của HCDBTT.
D-dimer, fibrinogen,
chất ức chế hoạt hóa plasminogen(PAI) -1 và yếu tố VIII tăng cao theo tuổi.Vì
vậy, quá trình lão hóa có liên quan với sự kích hoạt của các dấu ấn đông máu.
IL-6 cũng đóng một vai
trò quan trọng trong tổng hợp và giải phóng fibrinogen, yếu tố mô, yếu tố VIII
và tiểu cầu từ nhiều mô. Ngược lại, D-dimer được biết có khả năng kích thích sự
tổng hợp và giải phóng các cytokin tiền viêm, bao gồm IL-6 và bạch cầu đơn nhân
máu ngoại vi. Như vậy quá trình viêm và đông máu có thể tạo thành một vòng xoắn
tương tác với nhau.
- Rối loạn điều hòa
chuyển hóa
Sự gia tăng tình trạng
kháng insulin xảy ra cùng với quá trình lão hóa, dẫn đến sự suy giảm hấp thu
glucose của cơ xương. Có mối liên hệ giữa kháng insulin và tăng nguy cơ 1,5 lần
mắc HCDBTT và dấu hiệu lâm sàng của HCDBTT, như yếu cơ, khả năng vận động chi
dưới, và suy giảm nhận thức. Do đó kháng insulin được coi như một rối loạn trao
đổi chất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến HCDBTT. Sự thay thế dần các mô cơ bằng
mỡ là một trong những nguyên nhân gây ra kháng insulin tăng và không dung nạp
glucose ở những người lớn tuổi. Do đó, các biện pháp can thiệp trong tương lai
nhằm điều chỉnh kháng insulin có một vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn
hoặc ít nhất là làm chậm các đợt tiến triển thành HCDBTT.
Ngoài ra, tình trạng
sản xuất dư thừa cortisol mạn tính để đáp ứng với các yếu tố căng thẳng có thể
dẫn đến ức chế chức năng miễn dịch, tăng tình trạng kháng insulin, tăng khối
lượng mô mỡ và mất khối lượng cơ xương.
- Rối loạn điều hòa hệ
miễn dịch
Có sự gia tăng tổng số
bạch cầu, bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân, tăng đáng kể bạch cầu đơn
nhân/đại thực bào qua trung gian viêm kích hoạt miễn dịch trong HCDBTT đã cung
cấp bằng chứng gợi ý hội chứng này liên quan đến rối loạn điều hòa miễn dịch tự
nhiên. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan giữa HCDBTT và
miễn dịch thích ứng.
2.3. Cấp độ 3 - Suy yếu
hệ thống
Thay đổi trên hệ cơ-
xương- khớp và thần kinh là những thành phần quan trọng của HCDBTT.
- Suy yếu hệ thống cơ
xương
Teo yếu cơ (sarcopenia)
xuất hiện cùng với quá trình lão hóa và là một trong những thành phần chính
trong kiểu hình của HCDBTT. Teo cơ người cao tuổi gắn liền với nguy cơ suy giảm
chức năng và tàn tật. Sự mất khối lượng cơ theo tuổi không diễn ra đơn độc mà
gắn kết chặt chẽ với sự tăng khối lượng mỡ. Sự gia tăng khối lượng mỡ và giảm
khối lượng cơ có thể phối hợp với nhau và dẫn đến teo cơ béo phì (Sarcopenic
obesity). Lượng mỡ dư thừa trong cơ thể là một yếu tố quyết định mạnh mẽ tình
trạng suy giảm chức năng thể chất ở người lớn tuổi. Quan trọng hơn, lượng mỡ ở
người lớn tuổi ưu tiên phân bố trung tâm, do đó là một yếu tố nguy cơ lớn đối
với tình trạng rối loạn chuyển hóa.
- Suy yếu hệ thống nhận
thức- thần kinh
Suy giảm nhận thức có
khả năng dự báo những kết quả bất lợi cho sức khỏe đối với những đối tượng có HCDBTT
như mất trí nhớ, suy giảm chức năng,tăng tái nhập viện , điều trị lâu dài trong
các nhà dưỡng lão và tử vong. Suy giảm giác quan, như suy giảm chức năng thị
giác, cũng liên quan đến gia tăng tỷ lệ tử vong ở người lớn tuổi. Nghiên cứu
theo chiều dọc cho thấy các đối tượng lớn tuổi giảm thị lực có nguy cơ tử vong
tăng 70% so với người không suy giảm thị lực. Rối loạn cảm xúc (trầm cảm) cũng
là một chỉ số dự đoán khuyết tật chức năng ở người cao tuổi và đã được đề xuất
như một thành phần của HCDBTT.
3. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG
DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
3.1. Các giai đoạn lâm
sàng của hội chứng dễ bị tổn thương
- Với khái niệm HCDBTT,
người cao tuổi có thể được chẩn đoán là tình trạng khỏe mạnh, tiền HCDBTT và
mắc HCDBTT. Và người cao tuổi có thể thay đổi giữa các tình trạng này với nhua,
nghĩa là với các can thiệp phù hợp và điều trị các bệnh lý cấp tính thì người
cao tuổi mắc HCDBTT có thể trở về giai đoạn tiền HCDBTT.
- Tiến triển lâm sàng
của HCDBTT được chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn đều liên quan đến sự suy
giảm trong dự trữ cân bằng nội môi.
3.1.1. Giai đoạn tiền
hội chứng dễ bị tổn thương (Pre-frailty)
Tiền HCDBTT là giai
đoạn lâm sàng diễn ra một cách thầm lặng, đây là một trạng thái dự trữ sinh lý
đủ để cho phép cơ thể phản ứng đầy đủ với bất kỳ tác nhân gây bệnh như bệnh cấp
tính, tổn thương hoặc các yếu tố căng thẳng, có cơ hội hồi phục hoàn toàn.
3.1.2.Giai đoạn hội
chứng dễ bị tổn thương (frailty)
Giai đoạn HCDBTT được
đặc trưng bởi sự phục hồi chậm và không hoàn toàn sau khi mắc các bệnh cấp tính
mới, chấn thương hoặc các yếu tố căng thẳng, có thể hiểu rằng dự trữ sinh lý
sẵn có không đủ để cho phép cơ thể hồi phục hoàn toàn. Nhiều tác giả cũng thống
nhất HCDBTT là một tập hợp bao gồm nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau như suy
dinh dưỡng, hoạt động chức năng bị phụ thuộc, thời gian nằm tại giường kéo dài,
loét các điểm tỳ đè, rối loạn dáng đi, tình trạng suy nhược, sút cân, chán ăn,
ngã, suy giảm chức năng nhận thức, gãy xương, sảng, lú lẫn và tình trạng dùng
quá nhiều thuốc. HCDBTT không phải là tình trạng khuyết tật, dưới tác động của
các yếu tố gây sang chấn (stress), hội chứng này dẫn đến tình trạng khuyết tật.
3.1.3. Giai đoạn biến
chứng của hội chứng dễ bị tổn thương
Các biến chứng của
HCDBTT có liên quan trực tiếp với những tổn thương sinh lý do sự suy giảm cân
bằng dự trữ nội môi và giảm khả năng chịu đựng với các yếu tố căng thẳng của cơ
thể. Hậu quả là dẫn đến tăng nguy cơ ngã, suy giảm chức năng dẫn đến phụ thuộc,
tình trạng dùng quá nhiều thuốc, gia tăng nguy cơ nằm viện, nhiễm trùng và tử vong.
3.2. Sàng lọc và chẩn
đoán hội chứng dễ bị tổn thương
3.2.1. Sàng lọc hội
chứng dễ bị tổn thương:
HCDBTT là do nhiều
nguyên nhân gây ra, việc sàng lọc sớm có ý nghĩa quan trọng và đóng vai trò
tiên quyết trong quản lý hội chứng một cách hiệu quả.
(1) Những đối tượng sau
đây cần được sàng lọc HCDBTT một cách chủ động (Khuyến cáo mức độ A):
- Sàng lọc thường xuyên
cho người cao tuổi
- Người có tình trạng
sút cân không có chủ đích (≥ 5% trọng lượng cơ thể) trong thời gian 1 năm qua.
- Trong mỗi đợt bệnh cấp
hoặc khám bệnh, người bệnh cao tuổi nên được sàng lọc hoặc được đề nghị sàng
lọc HCDBTT để xác định tình trạng hiện tại có liên quan tới HCBDTT hay không.
- Sàng lọc cho người
bệnh có các triệu chứng lâm sàng gợi ý của giai đoạn HCDBTT
- Sàng lọc HCDBTT cho
người bệnh cao tuổi cần thực hiện phẫu thuật có nguy cơ trung bình hoặc cao, có
thể giúp cải thiện kết quả điều trị.
(2) Trong sàng lọc
HCDBTT cho người bệnh, khuyến cáo thực hiện (mức độ A):
- Sử dụng các công cụ
chẩn đoán đã được chẩn hóa, đơn giản và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
- Nhân viên y tế và
nhân viên chăm sóc xã hội đối với người cao tuổi cần được đào tạo về nhận diện
và sàng lọc HCDBTT.
3.2.2. Chẩn đoán hội
chứng dễ bị tổn thương
Đánh giá lâm sàng toàn
diện và chẩn đoán HCDBTT là cần thiết trước khi đưa ra chiến lược quản lý cho
người bệnh.
- Đánh giá lâm sàng và
chẩn đoán giai đoạn cho tất cả người bệnh được sàng lọc có mắc HCDBTT hoặc mắc
tiền HCDBTT bởi các bác sĩ đã được đào tạo về hội chứng này.
- Khuyến cáo thực hiện
đánh giá lão khoa toàn diện cho tất cả người bệnh mắc HCDBTT.
- Chuyển người bệnh
hoặc hội chẩn với bác sĩ chuyên ngành Lão khoa để đưa ra chiến lược quản lý và
điều trị, dự phòng và cải thiện HCDBTT một cách đầy đủ, cá thể hóa, phù hợp với
kết quả đánh giá và chẩn đoán.
- Chẩn đoán và theo dõi
tiến triển HCDBTT thời kì chu phẫu là cần thiết cho người bệnh mắc HCDBTT.
3.3. Các bộ công cụ
sàng lọc và chẩn đoán hội chứng dễ bị tổn thương
- Khuyến cáo sử dụng bộ
công cụ/thang điểm đã được chuẩn hóa trong sàng lọc và chẩn đoán HCDBTT.
- Có thể thực hiện sàng
lọc và chẩn đoán HCDBTT như là một phần trong đánh giá lão khoa toàn diện hoặc
sử dụng một bộ công cụ/than điểm riêng biệt.
- Có nhiều bộ công
cụ/thang điểm đã được chuẩn hóa và có thể áp dụng một cách phù hợp trong sàng
lọc, chẩn đoán HCDBTT trên thực hành lâm sàng, trong các nghiên cứu tại cộng
đồng hoặc tại cơ sở y tế.
- Một số bộ công
cụ/thang điểm đã được áp dụng bao gồm:
+ Tiêu chuẩn kiểu hình
Fried (Fried’s Frailty Phenotype)
+ Chỉ số hội chứng dễ
bị tổn thương (Frailty Index - FI)
+ Thang điểm FRAIL
+ Thang điểm HCDBTT
trên lâm sàng CFS (Clinical Frailty Scale)
+ Thang điểm HCDBTT
Edmonton (EFS - Edmonton Frail Scale) và thang điểm HCDBTT Edmonton tự báo cáo
(REFS - Reported Edmonton Frail Scale)
+ Thang điểm PRISMA-7 (the
Program of Research to Integrate the Services for the Maintenance of Autonomy
7)
+ Tốc độ đi bộ
+ Bài kiểm tra đứng dậy
và đi (TUG - Timed Up and Go)
+ Bài kiểm tra tổng hợp
SPPB (Short Physical Performance Battery)
+ Cơ lực tay
- Có thể áp dụng nhiều
thang điểm sàng lọc, chẩn đoán HCDBTT khác nhau, tùy theo quần thể người bệnh
và hoàn cảnh đặc biệt.
3.4. Cận lâm sàng
- HCDBTT là một hội
chứng lâm sàng và hiện nay việc sàng lọc và chẩn đoán có thể dựa vào triệu
chứng lâm sàng, theo thang điểm và bộ công cụ.
- HCDBTT có liên quan
mật thiết với quá trình viêm, đông máu, rối loạn điều hòa nội tiết tố và trao
đổi chất. Do đó, các dấu ấn sinh học của hội chứng cũng có liên quan với các
dấu ấn của các quá trình này được coi như là biểu hiện các rối loạn sinh lý của
cơ thể, bao gồm IL-6, CRP, fibrinogen, yếu tố VIII, D- dimer và đề kháng
insulin, IGF-1, dehydroepiandrosteron (DHEAS), nồng độ 25- hydroxy-vitamin D
(25 OHD) trong huyết thanh, testosterone tự do,… Do HCDBTT có đặc điểm không
đồng nhất, nên việc xác định các dấu ấn này còn gặp nhiều trở ngại.
- Yếu tố gen trong
HCDBTT mới bắt đầu được thực hiện trong một số nghiên cứu và chưa áp dụng trong
thực tế lâm sàng.
4. QUẢN LÝ, ĐIỀU TRỊ VÀ
DỰ PHÒNG
4.1. Nguyên tắc quản
lý, điều trị và dự phòng
Khuyến cáo áp dụng điều
cho người bệnh mắc HCDBTT như sau:
(1) Cần có một kế hoạch
chăm sóc và điều trị toàn diện cho người bệnh mắc HCDBTT, bao gồm sử dụng nhiều
thuốc, quản lý bệnh teo yếu cơ (sarcopenia), điều trị các nguyên nhân gây giảm
cân và nguyên nhân của tình trạng kiệt sức (trầm cảm, thiếu máu, tụt huyết áp,
suy giáp, thiếu vitamin B12) Cân nhắc chuyển người bệnh hoặc hội chẩn bác sĩ
chuyên ngành Lão khoa.
(2) Người bệnh mắc
HCDBTT cần được chỉ định và kê đơn chương trình luyện tập gồm nhiều thành tố,
trong đó có rèn luyện về luyện tập đối kháng tăng dần (và chương trình luyện
tập này là biện pháp dự phòng cho người mắc tiền HCDBTT).
(3) Khuyến cáo chế độ
ăn bổ sung protein và năng lượng cho người bệnh mắc HCDBTT có giảm cân hoặc suy
dinh dưỡng.
(4) Nhân viên y tế kê
đơn dinh dưỡng bổ sung protein và năng lượng phối hợp với kê đơn chương trình
luyện tập cho người bệnh mắc HCDBTT
(5) Các vấn đề cần quản
lý cho người bệnh mắc HCDBTT và dự phòng cho người khỏe mạnh hoặc mắc tiền
HCDBTT như sau:
- Sàng lọc và đảm bảo
sức khỏe răng miệng
- Tất cả người bệnh mắc
HCDBTT cần nhận được sự hỗ trợ của xã hội để giải quyết các nhu cầu chăm sóc
chưa được đáp ứng và đảm bảo tuân thủ theo kế hoạch quản lý toàn diện HCDBTT.
- Người bệnh HCDBTT có
thể được giáo dục và quản lý tại nhà.
- Không áp dụng các
biện pháp điều trị bằng thuốc đặc hiệu cho người bệnh mắc HCDBTT trong thực
hành lâm sàng.
- Bổ sung vitamin D
không khuyến cáo áp dụng đại trà, chỉ áp dụng cho người có tình trạng thiếu
vitamin D.
- Không khuyến cáo điều
trị hormone cho người bệnh mắc HCDBTT
4.2. Chương trình hoạt
động thể lực
Người bệnh mắc HCDBTT
cần được chỉ định và kê đơn chương trình luyện tập gồm nhiều thành tố, trong đó
có rèn luyện về luyện tập đối kháng tăng dần (và chương trình luyện tập này là
biện pháp dự phòng cho người mắc tiền HCDBTT). Khuyến cáo về can thiệp hoạt
động thể lực cần thực hiện như sau (khuyến cáo mức độ A):
- Hình thức tập: Tập
luyện dựa trên nhóm hoặc gia đình có thể dự phòng một cách có hiệu quả HCDBTT
cho người cao tuổi
- Nguyên lý tập luyện: Kế
hoạch luyện tập cần xây dựng dài hạn (≥ 3 tháng), với nhiều thành tố, tuân theo
nguyên tắc cá thể hóa, theo giai đoạn và tăng dần sẽ mang lại kết quả tốt hơn.
Với người bệnh có lối sống tĩnh tại, nên bắt đầu bằng một loại bài tập, sau đó
sẽ cân nhắc bổ sung thêm các loại bài tập khác khi họ đã dần dần thích nghi.
- Loại hình luyện tập:
+ Chương trình luyện
tập kết hợp nhiều thành tố như đối kháng (resistance), sức mạnh cơ (power), bài
tập hiếu khi (aerobic), linh hoạt (flexibility) và thăng bằng (balance) là
chiến lược tốt nhất để cải thiện tình trạng thể chất cho người bệnh mắc HCDBTT.
+ Luyện tập đối kháng
gồm bất kì bài tập thể chất nào sử dụng sức đối kháng bên ngoài như tạ, máy tạo
lực đối kháng, luyện tập đối kháng dưới nước và dây đàn hồi.
+ Luyện tập sức mạnh cơ
là một loại tình luyện tập cơ bắp đặc biệt, được coi là một nhóm của luyện tập
đối kháng. Gồm bài tập nhiều hoặc một khớp, tập đứng lên ngồi xuống (squat),
gấp và duỗi gối… Khuyến cáo nên thực hiện bài tập sức mạnh cơ nên được thực
hiện khi bắt đầu buổi tập, tập trung vào các nhóm cơ lớn và phối hợp với luyện
tập đối kháng tốc độ chậm.
+ Bài tập hiếu khí
aerobic: bao gồm đi bộ, chạy bộ châm, bơi, và đạp xe. Khuyến cáo nên thực hiện
bài tập này trong suốt quá trình luyện tập.
+ Luyện tập sự linh
hoạt: các bài tập kéo giãn động và kéo giãn tĩnh, nên được thực hiện sau bài
tập hiếu khí và luyện tập đối kháng.
+ Bài tập thăng bằng:
Rèn luyện thăng bằng bao gồm đi lùi, đi ngang, đi bằng gót chân, đi bằng mũi
chân, ngồi đứng, đứng bằng cả hai chân và đi bằng gót chân, đi thẳng, bài tập
bước, đứng bằng một chân.
- Cường độ luyện tập:
+ Trước khi bắt đầu
chương trình tập luyện, khuyến cáo đánh giá cá thể hóa bằng bài kiểm tra đi bộ
6 phút, Thang đánh giá Borg hoặc các biện pháp đánh giá mức độ phù hợp với tập
luyện khác. Từ đó, xác định được cường độ tập luyện cho mỗi cá nhân.
+ Bài tập có mức độ đối
kháng cao có thể mang lại lợi ích và hiệu quả tốt hơn bài tập đối kháng mức độ
thấp.
+ Tập luyện hoặc hoạt
động thể lực cường độ thấp không đủ để giảm tiến triển của HCDBTT, hoạt động
thể chất cường độ trung bình làm chậm quá trình tiến triển của HCDBTT ở một số
nhóm tuổi (≥65 tuổi) và hoạt động thể chất cường độ cao làm chậm đáng kể quá
trình tiến triển của HCDBTT ở tất cả người cao tuổi.
- Tần suất tập luyện và
khoảng thời gian kéo dài: Tần suất tối ưu là tập luyện 2 hoặc 3 lần mỗi tuần.
Người bệnh mắc HCDBTT hoặc tiền HCDBTT, nên tăng tần suất tập luyện lên ít nhất
là 3 lần mỗi tuần.
+ Tập luyện 3 lần mỗi
tuần với 45 - 60 phút mỗi lần có hiệu quả tốt trong dự phòng HCDBTT cho người
cao tuổi.
Cần lưu ý các chương
trình luyện tập tại cộng đồng thường không đạt được kết quả như mong muốn. Và
việc tuân thủ theo các hướng dẫn và chương trình luyện tập là không cao do một
số nguyên nhân: sợ ngã, thiếu sự tự tin và đối diện với tiến trình thực hiện,
thái độ của người tập và các ảnh hưởng không tốt từ yếu tố môi trường và xã
hội.
Người cao tuổi thường
tuân thủ tốt hơn các chương trình luyện tập có hướng dẫn cá thể hóa, phù hợp
với cá nhân, đào tạo về bản thân và được sự chỉ định, khích lệ của các bác sĩ
lâm sàng.
4.3. Chế độ dinh dưỡng
Khuyến cáo về chế độ
dinh dưỡng đối với người bệnh mắc HCDBTT như sau:
- Khuyến cáo về sàng
lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng: sàng lọc tình trạng dinh dưỡng cho người
bệnh mắc HCDBTT bao gồm theo dõi thường xuyên lượng thức ăn đưa vào, những thay
đổi về khối lượng và cấu trúc cơ thể để xác định nguy cơ suy dinh dưỡng.
+ Sử dụng các công cụ
đánh giá dinh dưỡng được chuẩn hóa, như MNA và MNA-SF (Mini Nutritional
Assessment - short form)
+ Đánh giá dinh dưỡng
nên bao gồm đánh giá những thay đổi về thành phần cấu trúc cơ thể, chẳng hạn
như BIA (Bioelectrical impedance analysis).
+ Người bị sút cân
không chủ đích nên được sàng lọc các yếu tố có thể điều trị và quản lý được. Các
nguyên nhân thường gặp của sút cân có thể điều trị được bao gồm, có thể áp dụng
quy tắc ghi nhớ MEALS-ON-WHEELS:
|
Medications
|
Thuốc
|
|
Emotional
(depression)
|
Cảm xúc
(trầm cảm)
|
|
Alcoholism,
anorexia tardive, abuse (elder)
|
Nghiện
rượu, chán ăn muộn, bị lạm dụng (người già)
|
|
Late life
paranoia
|
Rối loạn
hoang tưởng tuổi già
|
|
Swallowing
problems
|
Vấn đề
nuốt
|
|
Oral
problems
|
Vấn đề
răng miệng
|
|
Nosocomial
infections, no money (poverty)
|
Nhiễm
trùng bệnh viện, không có tiền (nghèo đói)
|
|
Wandering/dementia
|
Lang thang/mất
trí nhớ
|
|
Hyperthyroidism,
hypercalcemia, hypoadrenalism
|
Cường
giáp, tăng canxi máu, suy tuyến thượng thận
|
|
Enteric
problems (malabsorption)
|
Vấn đề
đường ruột (kém hấp thu)
|
|
Eating
problems (eg, tremor)
|
Vấn đề ăn
uống (ví dụ, run)
|
|
Low salt,
low cholesterol diet
|
Chế độ ăn
ít muối, ít cholesterol
|
|
Shopping
and meal preparation problems, stones (cholecystitis)
|
Vấn đề
mua sắm và chuẩn bị bữa ăn, sỏi (viêm túi mật)
|
- Khuyến cáo bổ sung
protein và năng lượng:
+ Khuyến cáo chế độ ăn
bổ sung protein và năng lượng cho người bệnh mắc HCDBTT có giảm cân hoặc suy
dinh dưỡng.
+ Bổ sung các axit amin
thiết yếu, bao gồm valine, leucine, isoleucine và lysine, được khuyến nghị cho
người cao tuổi mắc HCDBTT
+ Người cao tuổi mắc
HCDBTT nên bổ sung 1,2-1,5 g protein/kg mỗi ngày và mỗi bữa ăn nên bổ sung 20-40
g protein để kích thích tổng hợp protein tại cơ xương.
+ Khuyến khích uống
nhiều sữa ít béo hoặc sữa chua.
Các yếu tố vi lượng
khác:
+ Bổ sung vitamin D
không khuyến cáo áp dụng đại trà, chỉ áp dụng cho người có tình trạng thiếu
vitamin D.
+ Chú ý bổ sung các vi
chất dinh dưỡng như folate, beta-carotene, vitamin A, vitamin C và vitamin E.
Tư vấn về tầm quan
trọng của sức khỏe răng miệng và cải thiện khả năng nhai.
4.4. Phát triển kế
hoạch quản lý toàn diện
Khuyến cáo thực hiện và
phát triển kế hoạch quản lý toàn diện cho tất cả người bệnh mắc HCDBTT, phù hợp
với nguồn lực, mục tiêu và mức độ HCDBTT.
Chương trình bao gồm
quản lý tình trạng sử dụng nhiều thuốc, quản lý bệnh teo yếu cơ (sarcopenia),
điều trị các nguyên nhân gây giảm cân/suy dinh dưỡng và nguyên nhân của tình
trạng kiệt sức. Mệt/kiệt sức có thể là hậu quả của nhiều bệnh lý mắc kèm như
suy tim, suy thận, … và vì vậy cần có đánh giá lâm sàng phù hợp để loại trừ các
nguyên nhân gây mệt khác.
Chương trình quản lý
toàn diện, bao gồm cả chăm sóc và hỗ trợ cho cá nhân, cần được thực hiện dựa
trên cá thể hóa từng người bệnh.
Điều trị tình trạng teo
yếu cơ (sarcopenia)
Có mối liên quan giữa
teo yếu cơ và HCDBTT, khuyến cáo các biện pháp quản lý bệnh teo yếu cơ cũng nên
được áp dụng cho người bệnh mắc HCDBTT. Các biện pháp được áp dụng để cải thiện
từng khía cạnh của teo yếu cơ gồm sức mạnh cơ, khối lượng cơ và chức năng thực
hành động tác.
Nguyên nhân tình trạng
mệt/kiệt sức
Người bệnh mắc HCDBTT
hoặc tiền HCDBTT nên được đánh giá và chẩn đoán nguyên nhân gây mệt/ kệt sức.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng mệt/kiệt sức có thể là triệu chứng lâm sàng đầu
tiên của HCDBTT.
Các nguyên nhân lớn
thường gặp là: trầm cảm, ngưng thở khi ngủ, thiếu máu, tụt huyết áp, suy giáp,
thiếu vitamin B12.
Việc chẩn đoán các
nguyên nhân có thể điều trị được của tình trạng mệt/kiệt sức và áp dụng các
biện pháp điều trị phù hợp có thể cải thiện được tình trạng sức khỏe cho người
bệnh mắc HCDBTT. Tuy nhiên, cần lưu ý nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin
có chọn lọc (Selective Serotonin Reuptake Inhibitors, SSRIs) thường được áp
dụng rộng rãi điều trị trầm cảm có thể làm nặng hơn HCDBTT.
Tình trạng sử dụng
nhiều thuốc (polypharmacy)
Khuyến cáo mạnh việc
giải quyết tình trạng sử dụng nhiều thuốc bằng giảm hoặc không kê đơn các loại
thuốc không phù hợp hoặc thừa. Có mối liên quan giữa việc HCDBTT tiến triển
nặng dần lên với tình trạng sử dụng nhiều thuốc. Vì vậy, các thuốc kê đơn cho
người bệnh HCDBTT cần được rà soát thường xuyên. Các thuốc không cần thiết thì
cần được loại, và hiệu chỉnh liều thuốc dùng phù hợp với chức năng thận của
người bệnh. Loại trừ các thuốc không phù hợp cần được thực hiện dưới sự giám
sát của các nhân viên y tế gồm bác sĩ lâm sàng và dược sĩ nhằm cải thiện kết
quả điều trị cho người bệnh. Việc ngừng kê đơn một số loại thuốc có hiệu quả
nhất khi thực hiện sớm, và người cao tuổi có thể chấp nhận và thích ứng được
việc ngừng một số loại thuốc mà không gây ra các tình trạng có hại nào.
Dược sĩ và bác sĩ lâm
sàng cần sử dụng các phương pháp chuẩn để giám sát và kiểm tra các loại thuốc
phù hợp để quyết định các thuốc cần thiết cho người cao tuổi mắc HCDBTT, nhằm
giảm thiểu tình trạng sử dụng nhiều thuốc. Các hướng dẫn kê đơn này tập trung
vào một số loại loại thuốc đặc biệt không nên kê đơn:
Công cụ sàng lọc kê đơn
cho người cao tuổi (the Screening Tool of Older Person’s Prescriptions, STOPP)
Công cụ sàng lọc cảnh
báo bác sĩ điều trị đúng (Screening Tool to Alert doctors to Right Treatment,
START)
Tiêu chuẩn Beers
Tiêu chuẩn McLeod
Các hướng dẫn kê đơn
nói chung cũng đồng thời cần được áp dụng trong thực hành lâm sàng, dựa trên y
học có bằng chứng và dựa trên đặc điểm ở người cao tuổi:
Chỉ số thuốc phù hợp
(the Medication Appropriateness Index, MAI)
Chỉ số sử dụng và kê đơn
thuốc không phù hợp (the Inappropriate Medication Use and Prescribing
Indicators tool)
Vì vậy, các bác sĩ và
dược sĩ cần thảo luận công khai với nhau để đưa ra chương trình kê đơn giảm
thuốc cho người bệnh với các lợi ích dự kiến và các tác động bất lợi cho bản than
người bệnh và người chăm sóc họ.
Nhân viên y tế cần nhận
thức được các rào cản có thể gặp phải của việc kê đơn giảm thuốc: yếu tố nguyên
nhân của việc kê đơn quá mức, thiếu sự đồng thuận về loại thuốc không cần được
kê đơn, thiếu hiểu biết về lợi ích của việc kê đơn giảm thuốc.
Đáng lưu ý, một vấn đề
ngược lại cũng cần được quan tâm, người bệnh mắc HCDBTT nhưng không được chẩn
đoán và không được điều trị bệnh.
5. KẾT LUẬN
HCDBTT là tình trạng
tiến triển bắt đầu bằng một giai đoạn tiền lâm sàng, do đó có nhiều cơ hội để
phát hiện sớm và ngăn ngừa hội chứng này 5. Lebel và cộng sự đề xuất
một cách tiếp cận chống lại HCDBTT bằng sáu chế độ khác nhau: chế độ ăn uống
thích hợp với đầy đủ protein, vitamin và chất khoáng; thường xuyên tập thể dục,
luyện tập một mình hoặc theo nhóm, chẳng hạn như đi bộ, khiêu vũ, tập thể dục
cân bằng vận động và nâng tạ; theo dõi thường xuyên kỹ năng cơ bản của cá nhân,
chẳng hạn như đi bộ, thăng bằng và nhận thức; phòng ngừa nhiễm khuẩn do cúm,
phế cầu khuẩn và herpes zoster; đề phòng các yếu tố căng thẳng như phẫu thuật,
và phục hồi nhanh chóng sau khi sự kiện căng thẳng qua dinh dưỡng và vật lý trị
liệu phù hợp.
Hoạt động thể lực đã
được nghiên cứu để phòng ngừa, trì hoãn sự hình thành, điều trị và đảo ngược
HCDBTT, và đặc biệt là trong teo yếu cơ người cao tuổi. Các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng can thiệp phù hợp, dài hạn, chương trình hoạt động đa dạng, cùng với
tăng cường lượng protein và các vi chất dinh dưỡng chất lượng cao, có thể có
một ảnh hưởng tích cực hạn chế sự xuất hiện và tiến triển hội chứng dễ bị tổn
thương ở người lớn tuổi, có hoặc không có suy giảm nhận thức.
Việc sử dụng các chiến
lược đa phương đánh giá, phòng ngừa, can thiệp bao gồm kết hợp hoạt động thể
chất, dinh dưỡng, tâm lý, y học, sử dụng thuốc, xã hội và môi trường đã chứng
minh hiệu quả hơn trong nâng cao chất lượng cuộc sống, tiết kiệm chi phí chăm
sóc sức khỏe tổng thể. Bên cạnh đó cũng cần thiết đào tạo chuyên sâu cho các
chuyên gia y tế trong bệnh viện về chăm sóc người bệnh cao tuổi và tập trung
vào công tác phòng HCDBTT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Clegg A, Young J,
Iliffe S, Rikkert MO, Rockwood K. Frailty in elderly people. Lancet (London,
England). 2013;381(9868):752-762.
2. Nguyen AT, Nguyen
LH, Nguyen TX, et al. Frailty Prevalence and Association with Health-Related
Quality of Life Impairment among Rural Community-Dwelling Older Adults in
Vietnam. Int J Environ Res Public Health. 2019;16(20).
3. Vu HTT, Nguyen TX,
Nguyen TN, et al. Prevalence of frailty and its associated factors in older
hospitalised patients in Vietnam. BMC geriatrics. 2017;17(1):216.
4. Huynh TQH, Pham TLA,
Vo VT, Than HNT, Nguyen TV. Frailty and Associated Factors among the Elderly in
Vietnam: A Cross-Sectional Study. Geriatrics (Basel, Switzerland). 2022;7(4).
5. Fried LP, Ferrucci L,
Darer J, Williamson JD, Anderson G. Untangling the concepts of disability,
frailty, and comorbidity: implications for improved targeting and care. J
Gerontol A Biol Sci Med Sci. 2004;59(3):255-263.
6. Dent, E., et al.
(2017). "The Asia-Pacific Clinical Practice Guidelines for the Management
of Frailty." Journal of the American Medical Directors Association 18 (7):
564-575.
SARCOPENIA
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Khái niệm
sarcopenia
Năm 1989, Irwin
Rosenberg lần đầu tiên mô tả sự giảm khối cơ và chức năng của cơ liên quan đến
tuổi, khái niệm mất cơ “sarcopenia” xuất phát từ Hy Lạp, “sarx” nghĩa là cơ và
“penia” nghĩa là mất.
Sarcopenia được định
nghĩa là một hội chứng được đặc trưng bởi sự mất liên tục và không ngừng của
khối lượng cơ và sức mạnh cơ, với nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi như suy
giảm chức năng, giảm chất lượng cuộc sống và tử vong. Định nghĩa mới của
sarcopenia dựa trên cả khối lượng cơ và sức mạnh cơ chứ không chỉ dựa trên khối
lượng cơ như trước. Và cả hai yếu tố này đều được sử dụng để chẩn đoán bệnh
sarcopenia, bởi thực tế khối lượng cơ và sức mạnh cơ không phải luôn luôn giảm
tương đồng với nhau.
Các nghiên cứu về bệnh
sarcopenia có chất lượng cao đã được thực hiện. Và vì vậy các hiểu biết về bệnh
của bác sỹ lâm sàng đã gia tăng. Bệnh đã có mã bệnh trong danh mục Mã bệnh quốc
tế ICD-10-CM (M62.84) từ tháng 9/2016 (www.prweb.com-prweb13376057).
1.2. Dịch tễ học bệnh
sarcopenia
- Tỷ lệ sarcopenia được
xác định ở nhiều quần thể, thay đổi giữa các nghiên cứu, phụ thuộc vào tuổi của
đối tượng nghiên cứu, phương pháp chẩn đoán, tiêu chuẩn chẩn đoán xác định
sarcopenia.
- Theo phân tích gộp
các nghiên cứu được thực hiện với tổng số người tham gia là 58.404 người cho
thấy tỷ lệ sarcopenia là 10% (95%CI: 8 - 12%) ở nam và là khoảng 10% (95%CI: 8
- 13%) ở nữ. Tỷ lệ này thấp hơn ở người châu Á so với các dân tộc khác ở cả hai
giới (10% và 11% ở nam, 9% và 13% ở nữ).
- Tỷ lệ sarcopenia ở người
cao tuổi trên thế giới khoảng 6 - 22%, thay đổi theo độ tuổi và địa bàn nghiên
cứu. Ở các nước châu Âu, tỷ lệ sarcopenia ở người cao tuổi ≥ 65 là khoảng 20%,
và tỷ lệ này tăng lên 50 - 60% ở người ≥ 80 tuổi. Ở các nước châu Á, nghiên cứu
phân tích hệ thống cho thấy tỷ lệ sarcopenia nói chung là từ 5,5% tới 25,7%, và
tỷ lệ cao hơn ở nam giới (5,1 - 21,0% ở nam so với 4,1 - 16,3% ở nữ).
- Tỷ lệ sarcopenia
trong các nghiên cứu (khi sarcopenia được coi là một bệnh đồng mắc) đã được đưa
ra trong các phân tích hệ thống. Quần thể các nghiên cứu bao gồm: 17.206 người
có bệnh mắc kèm (với tuổi trung bình 65,3 ± 1,6 năm, 49,9% là nữ); 22.375 người
không có bệnh mắc kèm (tuổi trung bình 54,6 ± 16,2 năm, 53,8% đối tượng là nữ).
Tỷ lệ sarcopenia là tương đối cao ở người có bệnh tim mạch mạn tính, sa sút trí
tuệ, đái tháo đường và bệnh lý hô hấp. Tỷ lệ sarcopenia ở nhóm có bệnh lý tim
mạch mạn tính là 31,4%. Tỷ lệ này ở người có đái tháo đường 31,1%, cao gần gấp
2 lần so với nhóm không mắc đái tháo đường (16,2%). 26,8% người có bệnh lý hô
hấp mạn tính được chẩn đoán sarcopenia, cao hơn so với nhóm chứng là 13,3%. Tỷ
lệ sarcopenia ở đối tượng sa sút trí tuệ là 26,4%, cao gấp 3 lần so với nhóm
chứng (8,3%).
- Trong nghiên cứu thực
hiện ở đơn vị phục hồi chứng năng, tỷ lệ sarcopenia là khoảng 28% tới 69%. Các
nghiên cứu thực hiện tại các đơn vị dành cho người cao tuổi khác, sarcopenia
được chẩn đoán trên khoảng 32,8% người cao tuổi tại nhà dưỡng lão (tại Ý, 2012)
và 25,3% ở bệnh viện lão khoa (Đức, 2014).
1.3. Phân loại sarcopenia
theo nguyên nhân
- Sarcopenia là tình
trạng lâm sàng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặc dù sarcopenia chủ yếu được
chẩn đoán và xác định ở người cao tuổi, tuy nhiên cũng có thể xuất hiện ở người
trẻ tuổi, giống như các trường hợp bệnh sa sút trí tuệ và loãng xương.
- Một số trường hợp có
thể xác định được nguyên nhân của bệnh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác,
bệnh sarcopenia lại không chẩn đoán được nguyên nhân rõ ràng. Vì vậy, việc phân
loại sarcopenia nguyên phát và thứ phát có vai trò quan trọng và giá trị trong
nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng. Sarcopenia có thể được coi là
tiên phát (hay liên quan tới tuổi) khi không có nguyên nhân hoặc bằng chứng nào
gây ra bệnh mà nó lại được chẩn đoán ở người lớn tuổi, còn các trường hợp khác
được coi là sarcopenia thứ phát. Tuy nhiên, ở nhiều người bệnh có rất nhiều yếu
tố cùng tham gia gây ra bệnh và không thể xác định chắc chắn đó là sarcopenia
tiên phát hay thứ phát. Và trong các trường hợp đó chúng ta coi sarcopenia là
một hội chứng lão khoa do nhiều nguyên nhân.
Bảng 1. Phân loại sarcopenia theo nguyên nhân
|
Sarcopenia
tiên phát
|
|
Sarcopenia
liên quan tới tuổi
|
Không có
bằng chứng của nguyên nhân nào khác ngoài tuổi cao
|
|
Sarcopenia
thứ phát
|
|
Sarcopenia
liên quan tới giảm hoạt động thể lực
|
Là hậu
quả của việc nghỉ trên giường lâu, lối sống tĩnh tại, không luyện tập hoặc
tình trạng hoạt động không sức cản
|
|
Sarcopenia
liên quan tới bệnh mạn tính khác
|
Liên quan
tới tình trạng suy nặng các cơ quan (tim, phổi, gan, thận, não), bệnh lý
viêm, bệnh ác tính hoặc bệnh lý nội tiết
|
|
Sarcopenia
liên quan tới dinh dưỡng
|
Là hậu
quả của chế độ dinh dưỡng không phù hợp về năng lượng và/hoặc protein, như
tình trạng rối loạn hấp thu, bệnh lý dạ dày ruột hoặc sử dụng các thuốc gây
ra tình trạng chán ăn.
|
1.4. Sinh lý bệnh
sarcopenia
- Mất khối lượng cơ là
hậu quả của sự mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp protein và quá trình hủy
protein. Khối lượng cơ và chức năng của nó phụ thuộc vào quá trình liên tục tái
tạo protein của cơ thể. Thông thường, tốc độ tổng hợp protein giảm dần theo
tuổi với tốc độ khoảng 3,5% mỗi thập kỷ từ 20 tới 90 tuổi.
- Tuổi cao và bệnh lý
mạn tính, rất nhiều trong số đó có tỷ lệ gia tăng theo tuổi, gây ra tình trạng
giảm khối lượng cơ và sức mạnh cơ ở người cao tuổi.
- Cơ chế bệnh sinh của
bệnh sarcopenia ở mức tế bào, bao gồm: sự gia tăng các cytokin viêm, phản ứng
stress oxy hóa, hormon chuyển hóa, và gia tăng các tổn thương yếu tố thần kinh,
giảm sự lưu thông của dòng máu, các hormon chuyển hóa yếm khí.
- Cơ chế bệnh sinh của
bệnh sarcopenia ở mức mô: các cơ chế ở mức tế bào ảnh hưởng tới đặc điểm của hệ
cơ xương và tình trạng bệnh sarcopenia bao gồm tăng chết các tế bào cơ, tăng
hủy protein, tăng xơ hóa các tế bào cơ, tăng lipid trong tế bào cơ, giảm tổng
hợp protein, giảm chức năng các nơron vận động, giảm hệ thống ty thể và giảm
tái sinh các tế bào vệ tinh.
1.5. Các biến cố bất
lợi của sarcopenia
- Sarcopenia làm giảm
chất lượng cuộc sống, giảm chức năng hoạt động hàng ngày, tăng nguy cơ xuất
hiện hội chứng dễ bị tổn thương, ngã và chấn thương do ngã, tăng nguy cơ nhập
viện và tái nhập viện, tăng thời gian nằm viện cũng như nguy cơ tử vong. Các
nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sarcopenia làm gia tăng đáng kể gánh nặng kinh
tế việc quản lý tốt bệnh sarcopenia sẽ giúp giảm được chi phí y tế đáng kể.
- Việc chẩn đoán sớm
sarcopenia là vô cùng quan trọng, nó giúp phòng và điều trị bệnh hiệu quả hơn,
làm giảm các biến cố bất lợi của bệnh, giảm chi phí điều trị và nâng cao chất
lượng sống cho người cao tuổi.
- Các biến cố bất lợi
của sarcopenia bao gồm:
+ Suy giảm chức năng và
làm tăng sự phụ thuộc;
+ Hội chứng dễ bị tổn
thương;
+ Ngã và tái ngã;
+ Nhập viện;
+ Gánh nặng kinh tế;
+ Tử vong.
2. SÀNG LỌC SARCOPENIA
Các hướng dẫn và khuyến
cáo thực hiện sàng lọc sarcopenia được phát triển dựa trên các bằng chứng lâm
sàng, qua các nghiên cứu. Khuyến cáo về vấn đề sàng lọc sarcopenia như sau:
(1) Người cao tuổi cần
được sàng lọc sarcopenia hàng năm, hoặc sau khi xuất hiện một biến cố lớn về
sức khỏe.
- Việc sàng lọc
sarcopenia thường xuyên cho người cao tuổi nên được thực hiện vì nhiều lý do:
+ Tất cả các đối tượng
cao tuổi đều có nguy cơ mắc sarcopenia, đặc biệt là ở người ít hoạt động thể
lực.
+ Sarcopenia xuất hiện
tương đối phổ biến ở người cao tuổi nhưng tình trạng này có thể cải thiện và
trở về bình thường nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm.
+ Sarcopenia gây ra
nhiều gánh nặng cho bản thân người bệnh, người chăm sóc và cả hệ thống y tế.
+ Việc sàng lọc
sarcopenia là có giá trị.
- Khuyến cáo nên sàng lọc
tình trạng sarcopenia ở các đối tượng:
+ Người lớn tuổi từ 60
tuổi trở lên
+ Nhóm dân số có nguy
cơ cao có các bệnh mắc kèm (bệnh phổi mạn tính, bệnh thận mạn, bệnh gan mạn
hoặc suy tim mãn tính; đái tháo đường; đột quỵ và bệnh Parkinson; thoái hóa
khớp gối; loãng xương; và thừa cân/ béo phì/ béo phì trung tâm)
+ Tiền sử ngã
+ Suy giảm hoặc phụ
thuộc về chức năng
+ Suy dinh dưỡng hoặc
có nguy cơ suy dinh dưỡng.
(2) Các biện pháp sàng
lọc sarcopenia
- Các biện pháp sàng lọc
sarcopenia cần thực hiện nhanh và đơn giản.
- Khuyến cáo thực hiện
sàng lọc sarcopenia trong thực hành lâm sàng tại cộng đồng và cơ sở y tế như
sau:
- Các biện pháp dùng để
sàng lọc để phát hiện sớm sarcopenia: (1) Chu vi bắp chân; (2) Bộ câu hỏi
SARC-F; hoặc (3) SARC-Calf
- Những cá nhân được sàng
lọc là dương tính nên được đánh giá “có thể mắc sarcopenia” bằng (1) Đo cơ lực
tay; hoặc (4) Đo sức mạnh cơ chi dưới bằng bài kiểm tra đứng lên ngồi xuống 5
lần từ ghế.
- Người đã được chẩn đoán
“có thể mắc sarcopenia” cần được xác định chẩn đoán một số nguyên nhân có thể
thay đổi được, đồng thời được tư vấn về chế độ luyện tập, thay đổi lối sống và
chế độ dinh dưỡng.
(3) Những người được
chẩn đoán sàng lọc là có thể mắc sarcopenia cần được chỉ định làm các xét
nghiệm và thăm dò cận lâm sàng để chẩn đoán xác định bệnh.
3. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH BỆNH
SARCOPENIA
3.1. Các phương pháp
đánh giá
3.1.1. Đánh giá khối
lượng cơ:
Có nhiều kỹ thuật để
đánh giá khối cơ, bao gồm kỹ thuật từ tính, phân tích trở kháng sinh học, phép
đo nhân trắc.
+ Cắt lớp vi tính (CT
Scanner) và cộng hưởng từ (MRI):
Cắt lớp vi tính và cộng
hưởng từ cho biết hệ thống hình ảnh chính xác có thể phân biệt được phần mỡ và
cơ của cơ thể, cũng như lượng mỡ trong cơ. Cả hai phương pháp đều có ưu điểm là
đo được lượng nạc qua một vùng đặc biệt của cơ thể và đánh giá được chất lượng
cơ. So với DXA, cả CT và MRI đều cho kết quả tốt hơn khi cần đánh giá những
thay đổi nhỏ của khối cơ. Tuy nhiên, do giá thành cao và sự phơi nhiễm phóng
xạ, kỹ thuật này còn nhiều hạn chế.
+ Hấp thụ tia X năng
lượng kép (DXA):
Khối lượng cơ ngoại vi
khi đánh giá bằng DXA được tính bằng tổng lượng cơ của tứ chi, trừ mỡ và xương.
DXA cung cấp thông tin cả về mỡ, xương và cơ. Một số nghiên cứu đã thông báo
mối liên quan chặt chẽ giữa DXA và MRI trong phép đo khối cơ. Tuy nhiên, so với
CT và MRI, DXA không cung cấp đủ thông tin về mỡ trong cơ hoặc mỡ nội tạng
(chiếm khoảng15% lượng cơ). Tuy nhiên, người bệnh ít bị phơi nhiễm với phóng xạ
hơn và chi phí thấp hơn nhiều. Mặc dù không cung cấp được thông tin về lượng
béo nội tạng, DXA là một phương pháp có giá trị đánh giá các thành phần cơ thể
được dùng phổ biến và đáng tin cậy trong nghiên cứu cũng như thực hành lâm
sàng.
+ Phân tích trở kháng
sinh học (BIA-Bioeletrical impedance analysis):
Trở kháng sinh học đánh
giá lượng mỡ và cơ của cơ thể. Xét nghiệm này không tốn nhiều tiền, sẵn sàng
đáp ứng được cho người bệnh cấp cứu và nằm tại giường ở nhà nhưng đòi hỏi sự
chuyên nghiệp của kỹ thuật viên và không sử dụng được với người có bệnh tim
mạch.
+ Phép đo nhân trắc
(aPE-anthropometry prediction equation):
Sự tính toán dựa trên
đo bắp chân và độ dày của da, được sử dụng để đánh giá khối cơ trong sự di
chuyển. Chu vi của bắp chân liên quan chặt chẽ với khối cơ, nếu < 31cm
thường đi kèm với giảm sức cơ. Tuy nhiên sự lão hóa làm thay đổi mô mỡ và mất
sự co giãn của da làm kết quả thiếu chính xác ở người cao tuổi. Do đó, đo nhân
trắc không được sử dụng lâu dài trong chẩn đoán mất cơ.
3.1.2. Cơ lực tay (hand
grip strength - HGS):
Cơ lực tay thường được
sử dụng trong các nghiên cứu để đánh giá khả năng thực hiện động tác. Cơ lực
tay có thể đánh giá qua số kg khi sử dụng máy đo cơ lực nắm tay. Nhà trị liệu
khuyến cáo người cao tuổi có thể ngồi với khuỷu tay để 90 độ, để cẳng tay và cổ
tay tạo góc 0 đến 30 độ. Người cao tuổi sẽ bóp máy đo lực nắm tay và giữ 5
giây. Kết quả cuối cùng là kết quả cao nhất người bệnh đạt được.
3.1.3. Khả năng thực
hiện động tác: được coi là hệ quả của sarcopenia
Hầu hết các phương pháp
đánh giá khả năng thực hiện động tác trong thực hành lâm sàng là đánh giá tốc
độ đi bộ, đó là bài kiểm tra đi bộ 6 mét (6m walk test) hoặc bài kiểm tra đứng
dậy và đi (test timed up and go - TUG), bài kiểm tra đứng lên ngồi xuống 5 lần
từ ghế (5CST, 5 times chair stand test) bài kiểm tra SPPB (Short Physical
Performance Battery).
Bảng 2. Các phương pháp
xác định khối lượng, sức mạnh và khả năng thực hiện động tác của cơ sử dụng
trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng
|
Thông số
|
Trong nghiên cứu
|
Trong thực hành lâm sàng
|
|
Khối
lượng cơ
|
CT
(Computer tomography)
MRI
(magnetic resonance imaging)
DXA
(dual-energy X-ray absorptiometry)
BIA
(Bioelectrical impedance analysis)
Tỷ lệ
kali toàn phần hay một phần cơ thể và chất béo tự do trong mô mềm
|
BIA DXA
Các thông
số cơ thể
|
|
Sức mạnh
cơ
|
Cơ lực
tay
Phản xạ
gối
PEF (peak
expiratory flow)
|
Cơ lực
tay
|
|
Khả năng thực hiện động tác
|
Khả năng thực
hiện các hoạt động ngắn (SPPB - Short physical performance battery)
Tốc độ đi
thông thường
Thời gian
bài kiểm tra đứng dậy và đi
Bài kiểm
tra khả năng leo cầu thang
|
Khả năng
thực hiện các hoạt động ngắn (SPPB)
Tốc độ đi
bộ thông thường
Thời gian
bài kiểm tra đứng dậy và đi
|
3.2. Tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh Sarcopenia
Tiêu chuẩn chẩn đoán
theo nhóm tuổi như sau:
* Nhóm ≥ 65 tuổi
+ Tiêu chuẩn 1: Cơ lực
tay
Đo cơ lực tay: nam <
28 kg, nữ <18 kg
+ Tiêu chuẩn 2: Giảm
khối lượng cơ xương
- Đo bằng DEXA:
Hiệu chỉnh theo chiều
cao: nam: < 7,0 kg/m2, nữ: < 5,4 kg/m2
Hoặc, Hiệu chỉnh theo
BMI: Nam <0,73; nữ < 0,52
- Hoặc đo bằng BIA:
Hiệu chỉnh theo chiều
cao: nam: < 7,0 kg/m2, nữ < 5,7 kg/m2
Hoặc, Hiệu chỉnh theo
BMI: Nam <0,83; nữ < 0,57
* Nhóm 50-64 tuổi
+ Tiêu chuẩn 1: Cơ lực
tay
Đo cơ lực tay: nam <
34 kg, nữ <20 kg
+ Tiêu chuẩn 2: Giảm
khối lượng cơ xương
- Đo bằng DEXA:
Hiệu chỉnh theo chiều
cao: nam: < 7,2 kg/m2, nữ: < 5,5 kg/m2
Hoặc, Hiệu chỉnh theo
BMI: Nam <0,80; nữ < 0,55
- Hoặc, đo bằng BIA:
Hiệu chỉnh theo chiều
cao: nam: < 7,6 kg/m2, nữ < 5,5 kg/m2
Hoặc, Hiệu chỉnh theo
BMI: Nam <0,90; nữ < 0,63
Chẩn đoán là sarcopenia
khi có tiêu chuẩn: (1) Giảm cơ lực tay và (2) Giảm khối lượng cơ.

Hình 1. Quy trình sàng lọc và chẩn đoán
Sarcopenia ở cộng đồng và tại cơ sở y tế theo AWGS 2025
4. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ
SARCOPENIA
4.1. Mục tiêu
- Dự phòng đóng vai trò
quyết định trong kiểm soát bệnh sarcopenia: trong các khuyến cáo hiện nay các
biện pháp dự phòng không dùng thuốc (bao gồm chế độ dinh dưỡng hợp lý phối hợp
với luyện tập) đã được nghiên cứu và đưa ra bằng chứng về giá trị trong lâm
sàng. Các phương pháp điều trị dùng thuốc hiện nay đang trong giai đoạn nghiên
cứu và chưa được khuyến cáo là bước đầu tiên trong dự phòng và điều trị bệnh.
- Mục tiêu của các phương
pháp dự phòng và điều trị:
+ Giảm thiểu sự mất cơ.
+ Bảo tồn sức mạnh cơ.
+ Cải thiện tình trạng
yếu cơ, giảm thực hiện động tác và các chức năng hoạt động hàng ngày.
4.2. Khuyến cáo điều
trị và dự phòng sarcopenia
- Sarcopenia là bệnh có
thể dự phòng, làm chậm tiến triển và điều trị được nếu được chẩn đoán ở giai
đoạn sớm.
- Khuyến cáo quốc tế về
điều trị sarcopenia đã được đưa ra năm 2018 (International Clinical Practice
Guidlines for Sarcopenia - ICFSR). Nội dung của khuyến cáo này về vấn đề điều trị
sarcopenia như sau:
- Hoạt động thể lực: ở
người bệnh có sarcopenia, kê đơn hoạt động thể lực với bài tập trở kháng được
hướng dẫn có thể có hiệu quả làm cải thiện khối lượng cơ, sức mạnh cơ và khả
năng thực hiện động tác.
- Protein:
+ Khuyến cáo các bác sỹ
lâm sàng xem xét bổ sung protein hoặc một chế độ ăn giàu protein cho người cao
tuổi mắc sarcopenia.
+ Các nhà thực hành lâm
sàng cần thảo luận với người bệnh về vai trò quan trọng của chế độ năng lượng
và protein hợp lý.
+ Can thiệp chế độ ăn
(protein) nên thực hiện đồng thời cùng với can thiệp bằng hoạt động thể lực.
- Vitamin D, hormon và
can thiệp dùng thuốc:
+ Hiện tại, chưa có đủ
bằng chứng lâm sàng khẳng định vai trò của vitamin D và hormon trong kiểm soát
bệnh sarcopenia.
+ Các can thiệp dùng thuốc
không được khuyến cáo là bước điều trị đầu tiên trong kiểm soát bệnh
sarcopenia.
+ Can thiệp bằng chế độ
ăn và tập luyện là hai biện pháp cho thấy có hiệu quả nhất hiện nay trong dự
phòng và điều trị bệnh sarcopenia. Và hai biện pháp này có hiệu quả hỗ trợ và
bổ sung cho nhau. Bổ sung protein và vitamin D, kết hợp với hoạt động thể lực
là những yếu tố quan trọng nhất trong dự phòng sarcopenia hoặc khi yếu tố nguy
cơ của bệnh được xác định. Có một số loại thuốc có hiệu quả dự phòng và chưa có
nghiên cứu thử nghiệm nào cho thấy hiệu quả rõ rệt trong điều trị bệnh
sarcopenia.
4.2.1. Hoạt động thể
lực
- Bài tập hiếu khí
aerobic: tập aerobic là hoạt động thể lực theo cách sử dụng oxy để đáp ứng nhu
cầu năng lượng. Bài tập aerobic không chỉ tăng cường được sức mạnh và chức năng
của cơ mà còn giúp tăng cường kích thích hoạt động thần kinh. Tập luyện aerobic
thường xuyên có thể tăng được thể tích oxy lên 10 - 25%. Hội tim mạch Hoa Kỳ
khuyến cáo nên duy trì tập 30 - 40 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần hoặc 3 lần mỗi
tuần với bài tập cường độ mạnh kéo dài 20 - 30 phút. Đối với người cao tuổi nên
tập với bài có cường độ thấp hơn khoảng 30 phút mỗi lần, hai lần mỗi tuần và
cường độ tăng dần trong 9 tuần. Tuy nhiên, người già yếu khó đạt được điều này.
Hình thức tập thể dục cải tiến “cường độ thấp” là tập 30 phút, hai lần mỗi
tuần.
- Bài tập tăng dần lực
đối kháng: người cao tuổi được khuyến khích làm các bài tập để cơ bắp được tăng
cường lực đối kháng, để giúp cơ bắp khỏe hơn. Các bài tập với lực đối kháng có
ảnh hưởng đến tổng hợp protein, khối lượng cơ và sức mạnh, kể cả với người già
yếu. Các bài tập linh hoạt dễ thực hiện với quả tạ, ghế tựa, máy tập. Các bài
tập này được khuyến cáo nên thực hiện 2 lần mồi tuần.
- Người cao tuổi có chế
độ ít vận động có nguy cơ cao mắc sarcopenia. Các nghiên cứu cho thấy sức mạnh
cơ và khả năng thực hiện động tác có thể cải thiện rõ rệt sau một thời gian tập
luyện ngắn có chỉ dẫn. Điều này là do khả năng tổng hợp protein được cải thiện
rõ rệt khi có tăng sự co cơ, kể cả ở người bệnh có hội chứng dễ bị tổn thương.
Như vậy, bệnh sarcopenia (khối lượng và chức năng của cơ) ở người cao tuổi có
khả năng cải thiện khi thực hiện các bài tập kháng trở và/ hoặc bài tập sức
bền.
- Gia tăng các bài tập
trở kháng kích thích sự tổng hợp protein tại cơ và cho thấy lợi ích làm cải
thiện khối lượng cơ, sức mạnh cơ và thực hiện động tác ở người cao tuổi. Việc
luyện tập ở người cao tuổi nhằm gia tăng khối lượng và sức mạnh cơ đồng thời
cần làm gia tăng sức bền và các hoạt động chức năng ở người cao tuổi.
4.2.2. Chế độ dinh
dưỡng
- Dinh dưỡng chất lượng
tốt rất quan trọng trong việc quản lý và điều trị sarcopenia, có tác dụng bổ
sung cùng với các phương pháp tập luyện thông qua nhiều con đường khác nhau.
Một phân tích tổng hợp cho thấy việc tăng lượng protein hàng ngày giúp tăng
khối lượng cơ xương, đặc biệt khi kết hợp với bài tập trở kháng tăng sức mạnh
cơ; lượng protein tối ưu trong quá trình tập luyện trở kháng là 1,2-1,59 g/kg
trọng lượng cơ thể/ngày đối với người lớn ≥ 65 tuổi và ≥1,6 g/kg trọng lượng cơ
thể/ngày đối với người < 65 tuổi. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
(RCT), chế độ ăn giàu protein (25% lượng calo hàng ngày) đã cải thiện khoảng
cách đi bộ và giảm mô mỡ trong cơ (intramuscular adipose tissue - IMAT). Một
RCT khác cho thấy việc bổ sung hàng ngày súp chay giàu protein đã cải thiện cả
hiệu suất thể chất và tình trạng chức năng ở những người ≥ 65 tuổi có nguy cơ
suy dinh dưỡng, mặc dù không có tác động đáng kể đến thành phần cơ thể so với
chế độ ăn bình thường. Các nghiên cứu về axit amin chuỗi nhánh cũng đã cho thấy
những kết quả đầy hứa hẹn; một phân tích tổng hợp của 35 thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên (RCT) đã cho thấy những tác dụng tích cực đối với sức mạnh cơ, khối
lượng cơ xương và khả năng hoạt động thể chất ở người cao tuổi. Trong một RCT
kéo dài 12 tuần, việc bổ sung axit amin chuỗi nhánh kết hợp với luyện tập thể
dục đã làm tăng đáng kể khối lượng cơ xương. Leucine đặc biệt có liên quan đến
tỷ lệ tổng hợp protein cơ cao hơn.
- HMB cũng cho thấy lợi
ích ở những người bị sarcopenia, với những cải thiện đáng kể về khối lượng cơ
xương và sức mạnh cơ tay, mặc dù không có lợi ích rõ ràng làm cải thiện khả
năng thực hành động tác (đánh giá bằng tốc độ đi bộ). Trong một thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên có đối chứng kéo dài 12 tuần ở Đài Loan, việc bổ sung HMB (3 g
mỗi ngày) đã cải thiện khối lượng cơ, khả năng hoạt động thể chất và giảm lượng
mỡ trong cơ ở những người lớn tuổi tiền hội chứng dễ bị tổn thương (frailty).
Tuy nhiên, một đánh giá tổng hợp các nghiên cứu cho thấy việc bổ sung HMB, với
bằng chứng nhỏ và không nhất quán về hiệu quả tăng khối lượng cơ và không có
bằng chứng về việc cải thiện chức năng thể chất ở người lớn tuổi hoặc các nhóm
đối tượng có bệnh lý mạn tính.
- Các chất bổ sung dinh
dưỡng khác cũng đã chứng minh tiềm năng hiệu quả. Tác dụng tích cực của việc bổ
sung axit béo không bão hòa đa chuỗi dài omega-3 đối với khối lượng và sức mạnh
cơ xương nói chung ở người lớn tuổi đã được chứng minh, với liều lượng >2,5
g mỗi ngày mang lại sự cải thiện lớn nhất về sức mạnh cơ tay và chức năng thể
chất của chi dưới. Việc bổ sung men vi sinh cũng cải thiện khối lượng cơ và sức
mạnh cơ toàn thân.
- Những bằng chứng ngày
càng tăng này ủng hộ việc thực hiện một phương pháp dinh dưỡng toàn diện trong
quản lý chứng teo cơ, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào việc bổ sung đủ protein và
bổ sung chiến lược khi thích hợp, đặc biệt là kết hợp với các chương trình tập
thể dục.
4.2.3. Bổ sung vitamin
D
- Nồng độ vitamin D
thấp có liên quan với giảm sức mạnh cơ. Các nghiên cứu cho thấy ở người cao
tuổi, nồng độ vitamin D thấp có liên quan với sự tăng nguy cơ mắc bệnh
Sarcopenia sau khi đã hiệu chỉnh với hoạt động thể lực, mùa, nồng độ creatinin,
các bệnh mạn tính, hút thuốc lá và BMI. Các yếu tố như chế độ ăn không hợp lý,
ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và các bệnh mắc kèm như bệnh thận góp phần
làm thiếu vitamin D. Nếu nồng độ vitamin thấp thì cần bổ sung với liều 700 đến
1000 UI/ngày. Với liều 800 UI/ngày cho thấy hiệu quả làm giảm nguy cơ ngã.
- Tuy nhiên, bằng chứng
từ các nghiên cứu về vai trò của vitamin D ngăn ngừa sự tiến triển sarcopenia
vẫn còn chưa rõ ràng. Mặc dù việc bổ sung vitamin D làm giảm điểm số SPPB ở
người lớn tuổi sống trong cộng đồng, nhưng không có tác dụng có lợi đáng kể nào
đối với sức mạnh cơ nói chung.
4.2.4. Một số phương
pháp điều trị bằng thuốc khác
- Có nhiều nghiên cứu
được thực hiện, nhưng chưa có loại thuốc nào được phê duyệt để điều trị
sarcopnenia.
- Thuốc ức chế men
chuyển (Angiotensin converting enzyme inhibitor - ACE, như losartan), statin,
testtosteron, oestrogen và hormon tăng trưởng cho thấy có kết quả khả quan
trong giai đoạn gần, tuy nhiên hiện tại rất khó để đưa ra khuyến cáo coi đó là
một liệu pháp điều trị thường quy. Các nghiên cứu cho tới nay có cỡ mẫu nhỏ và
kết quả chưa thống nhất, vì vậy cần có các nghiên cứu với quy mô lớn hơn.
- Thuốc tác động thụ
thể androgen chọn lọc làm tăng khối lượng cơ xương ở phụ nữ mắc chứng
sarcopenia, nhưng không cải thiện sức mạnh cơ hoặc khả năng hoạt động thể chất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chen L-K, Woo J,
Assantachai P, Auyeung T-W, Chou M-Y, Iijima K, Jang HC, Kang L, Kim M, Kim S:
Asian Working Group for Sarcopenia: 2019 Consensus Update on Sarcopenia Diagnosis
and Treatment. Journal of the American Medical Directors Association 2020,
21(3):300-307. e302
2. Cruz-Jentoft AJ, Bahat
G, Bauer J, Boirie Y, Bruyère O, Cederholm T, Cooper C, Landi F, Rolland Y,
Sayer AA: Sarcopenia: revised European consensus on definition and diagnosis. Age
and ageing 2019, 48(1):16-31
3. Yu S, Umapathysivam K,
Visvanathan R: Sarcopenia in older people. International journal of
evidence-based healthcare 2014, 12(4):227-243
4. Keller K: Sarcopenia. Wiener
Medizinische Wochenschrift 2019, 169(7- 8):157-172
5. Beaudart C, Zaaria M,
Pasleau F, Reginster J-Y, Bruyère O: Health outcomes of sarcopenia: a
systematic review and meta-analysis. PloS one 2017, 12(1): e0169548.
6. Visvanathan R, Chapman I:
Preventing sarcopenia in older people. Maturitas 2010, 66(4):383-388.
7. Chen, LK., Hsiao, FY.,
Akishita, M. et al. A focus shift from sarcopenia to muscle health in
the Asian Working Group for Sarcopenia 2025 Consensus Update. Nat Aging 5,
2164-2175 (2025). https://doi.org/10.1038/s43587-025-01004-y
NGÃ VÀ RỐI LOẠN TƯ THẾ DÁNG ĐI
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa:
Ngã được định nghĩa là
tình trạng người bệnh vô tình bị rơi xuống mặt đất, sàn nhà hoặc các mặt phẳng
khác thấp hơn.
Ngã được xem là một
trong các hội chứng lão khoa, được cấp mã bệnh từ E880 đến E888 trong ICD-9
(International Classification of Disease-9) và W00 đến W19 trong ICD-10.
1.2. Dịch tễ học:
Các nghiên cứu trên thế
giới cho thấy ngã là một hội chứng phổ biến ở người cao tuổi, với gần một phần
ba người từ 65 tuổi trở lên bị ngã mỗi năm, và khoảng một nửa trong số này có
tái ngã. Tỷ lệ ngã chung ở người cao tuổi trên toàn thế giới được ước tính là
26,5%, trong đó cao nhất tại châu Đại Dương (34,4%) và châu Mỹ (27,9%), tiếp
theo là châu Á (25,8%) và châu Phi (25,4%); châu Âu ghi nhận tỷ lệ thấp nhất
(23,4%).
Người cao tuổi sinh
sống tại các cơ sở chăm sóc dài hạn có nguy cơ ngã cao hơn so với những người
sống trong cộng đồng. Ước tính 50-70% người cao tuổi sống tại viện dưỡng lão bị
ngã ít nhất một lần mỗi năm, trong đó 10-20% có chấn thương nghiêm trọng và 2-6%
bị gãy xương. Trong cộng đồng, tỷ lệ ngã ở người ≥65 tuổi được ghi nhận là
27,5% tại Hoa Kỳ, khoảng 30% tại Vương quốc Anh, và dao động từ 34-40% tại khu
vực Đông Địa Trung Hải.
Tại châu Á, tỷ lệ ngã
nhìn chung thấp hơn so với các quần thể người da trắng và có sự khác biệt đáng
kể giữa các quốc gia. Cụ thể, tỷ lệ ngã ở người Hàn Quốc ≥65 tuổi sống trong
cộng đồng dao động từ 15,9% đến 25,1%. Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 20,7%, trong
đó 34,3% trường hợp dẫn đến gãy xương và 24,6% phải nhập viện sau ngã. Trong
khi đó, tỷ lệ ngã ở người cao tuổi tại Philippines được báo cáo là 17,7%.
Tại Việt Nam, các dữ
liệu về ngã ở người cao tuổi trên quy mô quốc gia còn hạn chế. Một nghiên cứu
trong cộng đồng cho thấy tỷ lệ ngã ở người Việt Nam từ 60 tuổi trở lên là 7,3%.
Tỷ lệ ngã ở người bệnh cao tuổi ngoại trú được ghi nhận là 23,7%, trong đó tỷ
lệ tái ngã chiếm 5,8%.
1.3. Các yếu tố nguy cơ
Những yếu tố làm tăng
nguy cơ ngã ở người cao tuổi có thể được chia thành ba nhóm chính: yếu tố bệnh
lý, yếu tố do thuốc và yếu tố môi trường.
1.3.1.Yếu tố bệnh lý
- Suy giảm cảm giác,
giác quan: suy giảm thị lực, thính lực và giảm cảm giác ở chân (ví dụ bệnh thần
kinh ngoại biên ở người bệnh đái tháo đường) có thể làm giảm khả năng kiểm soát
thăng bằng và dẫn đến ngã.
- Rối loạn thăng bằng
và phối hợp: Các bệnh về hệ thần kinh như bệnh Parkinson, đột quỵ, hoặc sa sút
trí tuệ có thể gây giảm khả năng kiểm soát vận động và duy trì thăng bằng, từ
đó làm tăng nguy cơ ngã.
- Yếu cơ và giảm khối
lượng cơ: Quá trình lão hóa tự nhiên hoặc các bệnh lý cơ xương khớp như loãng
xương, thoái hóa khớp làm yếu cơ và giảm khả năng vận động.
- Hạ huyết áp tư thế:
Khi đứng lên, nếu huyết áp giảm đột ngột, người cao tuổi dễ bị choáng và ngã.
- Suy tim hoặc các bệnh
lý tim mạch: Những bệnh này có thể làm giảm cung cấp máu đến não, gây chóng mặt
và mất thăng bằng.
- Đái tháo đường: nhiều
yếu tố nguy cơ gây ngã ở người bệnh đái tháo đường cao tuổi, sự dao động đường
huyết, biến chứng mạn tính biến chứng thần kinh ngoại biên, ảnh hưởng đến mắt,
gây biến chứng võng mạc và suy giảm thị lực…
1.3.2.Yếu tố thuốc
- Thuốc an thần và
thuốc ngủ: gây buồn ngủ, giảm tỉnh táo, và tăng nguy cơ ngã.
- Thuốc hạ huyết áp:
Đặc biệt là khi sử dụng không đúng liều lượng hoặc không điều chỉnh theo tình
trạng bệnh, thuốc hạ huyết áp có thể gây chóng mặt và ngã.
- Thuốc chống trầm cảm:
Một số loại thuốc chống trầm cảm có thể gây ra các tác dụng phụ như chóng mặt
hoặc buồn ngủ.
- Thuốc lợi tiểu: Dùng
quá liều có thể gây mất nước và hạ huyết áp tư thế, dẫn đến nguy cơ ngã cao
hơn.
- Sử dụng nhiều thuốc:
sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc (đặc biệt trên 5 loại thuốc) làm gia tăng tỉ
lệ ngã trên người cao tuổi
1.3.3. Yếu tố môi
trường
- Sàn nhà trơn trượt:
Các bề mặt như gạch men hoặc sàn nhà không có thảm có thể dễ gây trượt chân.
- Ánh sáng kém: Thiếu
ánh sáng đầy đủ trong nhà, đặc biệt ở các khu vực như cầu thang, lối đi, dễ
khiến người cao tuổi không nhìn rõ và bị ngã.
- Thiếu thanh vịn hoặc
thiết bị hỗ trợ: Trong nhà tắm, cầu thang, nếu thiếu tay vịn hoặc các thiết bị
hỗ trợ, người cao tuổi dễ mất thăng bằng.
- Đồ đạc bố trí không
hợp lý: sắp xếp đồ nội thất lộn xộn, thảm trải nhà không cố định, hoặc các vật
dụng dễ gây vấp ngã như dây điện có thể làm tăng nguy cơ ngã.
2. ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ NGÃ
Năm 2022 và 2025 Hiệp
hội Lão khoa Hoa kỳ và Hiệp hội Lão khoa Châu Âu đã đưa ra khuyến về dự phòng
ngã cho người cao tuổi. Trong các khuyến này đều có điểm chung áp dụng sơ đồ
các bước phân tầng đánh giá nguy cơ và chiến lược can thiệp dự phòng ngã cho
người cao tuổi.
2.1. Đánh giá nguy cơ
ngã tại cộng đồng
Bước 1: Phân tầng nguy cơ ngã

- Nhân viên y tế cần
đánh giá và phân tầng nguy cơ ngã ở người cao tuổi trong các lần khám sức khỏe
định kỳ, khi người bệnh đến khám vì ngã hoặc chấn thương do ngã, và khi nhập
viện liên quan đến ngã.
- Quy trình đánh giá
bắt đầu bằng khai thác tiền sử ngã và sàng lọc nguy cơ bằng bộ ba câu hỏi chuẩn.
Nếu người bệnh trả lời “Có” cho ít nhất một câu hỏi, cần tiếp tục đánh giá mức
độ nặng của ngã. Người bệnh được xếp vào nhóm nguy cơ ngã cao khi có ít nhất
một trong các tiêu chí sau: có chấn thương do ngã, có từ hai lần ngã trở lên
trong 12 tháng qua, có hội chứng dễ bị tổn thương (suy yếu), hoặc có tình trạng
nằm dưới nền nhà không thể tự đứng dậy, bất tỉnh hoặc nghi ngờ ngất.
- Trường hợp không có
tiêu chí mức độ nặng, người bệnh cần được đánh giá thăng bằng và dáng đi bằng
bài kiểm tra đứng dậy và đi (TUG) và đánh giá tốc độ đi. Người bệnh được xếp
vào nhóm nguy cơ ngã trung bình khi có ít nhất một bất thường, bao gồm TUG >
15 giây hoặc tốc độ đi ≤ 0,8 m/giây.
- Nếu không phát hiện
bất thường qua sàng lọc và đánh giá chức năng, người bệnh được phân loại vào
nhóm nguy cơ ngã thấp.
Bước 2: Đánh giá nguy
cơ ngã và chiến lược can thiệp cho các nhóm nguy cơ

Đối với nhóm nguy cơ
ngã cao,
cần được đánh giá toàn diện đa lĩnh vực về các nguy cơ ngã:
Người cao tuổi cần được
các bác sĩ lão khoa và chuyên gia vật lý trị liệu (bác sĩ phục hồi chức năng,
kỹ thuật viên phục hồi chức năng) đánh giá về dáng đi, thăng bằng, sức mạnh cơ.
85% người cao tuổi ở độ tuổi 60 có dáng đi bình thường. Trên 85 tuổi, dáng đi
bình thường chỉ chiếm 18%. Do vậy rối loạn dáng đi là vấn đó khó tránh khỏi,
tăng lên khi có các bệnh đồng mắc và tăng nguy cơ ngã.
Khi tuổi càng cao,
chiều dài và độ cao bước chân giảm, trong khi nhịp bước thường ít thay đổi.
Người cao tuổi thường có tư thế thân mình ngả ra trước, kết hợp với giảm chiều
dài và độ cao bước chân và suy giảm khả năng đáp ứng của hệ thần kinh trước các
kích thích đột ngột như trượt hoặc vấp, khiến nguy cơ ngã cao hơn so với người
trẻ.
Bên cạnh đó, các bệnh
đồng mắc như bệnh lý thần kinh trung ương (liệt nửa người sau tai biến mạch
não), bệnh lý thần kinh ngoại biên (ví dụ bàn chân rủ), bệnh Parkinson, các
bệnh lý cơ xương khớp và đau khớp mạn tính có thể gây rối loạn dáng đi, từ đó
làm gia tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi.
2.2. Rối loạn dáng đi ở
người cao tuổi

- Liệt nửa người
Parkinson Thất điều
- Bàn chân rủ thất điều
cảm giác tiểu não
- Đánh giá bệnh lý đồng
mắc: Khai thác và kiểm soát các bệnh mạn tính có liên quan đến nguy cơ ngã như
đái tháo đường, bệnh Parkinson và các bệnh lý thần kinh khác.
- Rà soát và tối ưu hóa
đơn thuốc: Đánh giá tương tác thuốc và tác dụng không mong muốn có thể làm tăng
nguy cơ ngã, bao gồm hạ huyết áp tư thế, chóng mặt, buồn ngủ, hội chứng ngoại
tháp và giảm trương lực cơ.
- Đánh giá chức năng
giác quan: Kiểm tra thị lực (đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng) và thính
lực (giảm thính lực, ù tai).
- Đánh giá tình trạng
dinh dưỡng: Xem xét khẩu phần ăn, lượng nước uống và định lượng vitamin D.
- Đánh giá chức năng
nhận thức: Sử dụng các công cụ chuẩn hóa như MoCA hoặc MMSE.
- Đánh giá bàn chân: Đặc
biệt ở người bệnh đái tháo đường, chú ý biến dạng bàn chân, cảm giác và các tổn
thương bàn chân.
- Đánh giá môi trường
sống: Rà soát tay vịn cầu thang và nhà vệ sinh, ánh sáng trong nhà, thảm và đồ
đạc, đồng thời kiểm tra giày dép (mòn đế, lỏng quai, không phù hợp). Người bệnh
cần được can thiệp đa lĩnh vực, với theo dõi và đánh giá lại sau 3 tháng nhằm
xác định lại các yếu tố nguy cơ và điều chỉnh kế hoạch can thiệp khi cần thiết.
Bước 3: Can thiệp dự phòng ngã với nhóm nguy cơ
cao

2.3. Đối với nhóm nguy
cơ thấp:
- Giáo dục sức khỏe về
dự phòng ngã
- Tư vấn luyện tập nâng
cao sức khỏe (Tập sức bền, tập tăng cường sức mạnh cơ, tập thăng bằng.
2.4. Đối nhóm nguy cơ
trung bình:
- Nhân viên y tế phối
hợp với chuyên gia về phục hồi chức năng tư giáo dục sức khỏe về dự phòng ngã.
- Hướng dẫn tập luyện
theo từng cá nhân bao gồm tập sức mạnh cơ, tập thăng bằng và dáng đi.
Bước 4: Can thiệp đối với nhóm nguy cơ thấp và
trung bình

2.5. Đánh giá nguy cơ
ngã tại bệnh viện và các viện dưỡng lão:
- Hướng dẫn hiện tại
không khuyến nghị sử dụng công cụ đánh giá nguy cơ ngã trong bệnh viện, chủ yếu
là vì chất lượng bằng chứng thấp, các yếu tố gây nhiễu, kết quả của công cụ
đánh giá sẽ không cung cấp thêm thông tin để quản lý tiếp theo.
- Hướng dẫn hiện tại về
ngã khuyến nghị rằng tất cả người cao tuổi đều được coi là có nguy cơ ngã và
tất cả người cao tuổi nằm viện sẽ có đánh giá nguy cơ ngã toàn diện.
2.6. Đánh giá toàn diện
về ngã
- Mục đích của việc
đánh giá toàn diện là xác định cơ chế ngã, hậu quả của ngã (ví dụ, chấn thương,
giảm chức năng, các tác động tâm lý như lo lắng về ngã), và xác định các yếu tố
nguy cơ ngã. Đánh giá nhằm giảm nguy cơ ngã cần xem xét tiền sử ngã của người
cao tuổi và tần suất ngã; đặc điểm và bối cảnh của ngã; sự hiện diện của các
yếu tố nguy cơ ngã; thể chất, nhận thức, tâm lý và xã hội; và mục tiêu, giá
trị, niềm tin và ưu tiên của người bệnh. Một đánh giá nhằm đồng thiết kế một
can thiệp với người cao tuổi yêu cầu một phương pháp tiếp cận lão khoa toàn
diện
- Thành phần của đánh
giá toàn diện về ngã:
+ Lạm dụng rượu: sử
dụng công cụ AUDIT. Công cụ AUDIT gồm 10 câu hỏi được thiết kế để đánh giá thói
quen sử dụng rượu và phát hiện các vấn đề liên quan đến việc lạm dụng rượu. Mỗi
câu hỏi có 4 lựa chọn trả lời, và mỗi lựa chọn sẽ có một điểm số tương ứng.
Điểm số tổng cộng sẽ giúp xác định mức độ nghiêm trọng của việc sử dụng rượu và
nhu cầu can thiệp.
+ Kiểm tra tim mạch
(bao gồm đo huyết áp khi nằm và đứng).
+ Đánh giá nhận thức và
tâm trạng.
+ Sảng (trong môi
trường bệnh viện và cơ sở chăm sóc cư trú).
+ Chế độ ăn uống, lượng
nước uống và giảm cân.
+ Chóng mặt
+ Giày dép và bàn chân.
+ Chức năng: đánh giá
khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày và tình trạng sợ ngã.
+ Đánh giá dáng đi,
thăng bằng và di chuyển, và sức mạnh cơ.
+ Suy giảm thính giác.
+ Các bệnh lý mạn tính
ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như viêm khớp, sa sút trí tuệ, đái
tháo đường hoặc bệnh Parkinson.
+ Các thuốc sử dụng.
+ Khám thần kinh.
+ Đánh giá nguy cơ
loãng xương
+ Rối loạn tiểu tiện.
+ Suy giảm thị lực.
3. CÁC BIỆN PHÁP CAN
THIỆP CỤ THỂ GIẢM NGUY CƠ NGÃ
Các can thiệp để giảm
nguy cơ ngã cần được cá thể hóa:
3.1. Đánh giá các thuốc
- Xác định bất kỳ loại
thuốc nào có thể làm tăng nguy cơ ngã của người bệnh và xem xét điều chỉnh
thuốc để giảm nguy cơ. Các loại thuốc như thuốc hạ huyết áp có thể góp phần
tăng nguy cơ ngã do tác dụng phụ như chóng mặt hoặc choáng váng, nhưng không có
định nghĩa chuẩn về các loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ ngã. Cách các loại
thuốc tương tác với nhau có thể góp phần vào nguy cơ ngã nhưng rất biến thiên,
do đó cần cá nhân hóa trong quản lý thuốc cho người bệnh.
- Bất kỳ loại thuốc nào
có thể làm tăng nguy cơ ngã và xem liệu có cần điều chỉnh hoặc ngừng thuốc
không. Cụ thể cần đánh giá:
+ Quan điểm và sự hiểu
biết của người bệnh và của các thành viên trong gia đình hoặc người chăm sóc,
về các loại thuốc họ đang sử dụng
+ Các mối lo ngại, câu
hỏi hoặc vấn đề của người bệnh, và của các thành viên trong gia đình hoặc người
chăm sóc khi cần thiết, liên quan đến thuốc
+ Tất cả các loại thuốc
kê đơn, thuốc không kê đơn và thuốc bổ trợ mà người bệnh đang sử dụng hoặc sử
dụng, và mục đích sử dụng chúng
+ Mức độ an toàn của
các loại thuốc, hiệu quả của chúng đối với người bệnh, sự phù hợp của chúng và
liệu việc sử dụng chúng có tuân theo các hướng dẫn quốc gia hay không
+ Người bệnh có đã từng
hoặc hiện có yếu tố nguy cơ tiến triển các phản ứng có hại với thuốc hay không
(báo cáo các phản ứng có hại)
+ Công cụ STOPPFall
hoặc FRIDs có thể giúp tối ưu hóa sử dụng thuốc ở người cao tuổi bằng cách
ngừng các thuốc làm tăng nguy cơ ngã
- Đối với những người
đang sử dụng thuốc tâm thần: Đánh giá bất kỳ thuốc tâm thần nào đang sử dụng.
Thảo luận về nguy cơ tăng ngã liên quan đến thuốc tâm thần với người bệnh và
lập kế hoạch dừng thuốc khi cần thiết
3.2. Bổ sung vitamin D
Bổ sung vitamin D để
phòng ngừa ngã chỉ nên được áp dụng cho những người có nguy cơ thiếu vitamin D.
Bổ sung vitamin D có thể giúp duy trì sức khỏe xương và cơ, nhưng chỉ nên được
thực hiện đối với những người có mức vitamin D thấp hoặc có nguy cơ thiếu hụt
vitamin D, ví dụ như người cao tuổi, những người không tiếp xúc nhiều với ánh
sáng mặt trời hoặc những người có chế độ ăn thiếu vitamin D. Đối với người cao
tuổi có nguy cơ thiếu vitamin D cao nên bổ sung vitamin D 800-1000 IU mỗi ngày.
3.3. Can thiệp về nguy
cơ trong nhà
- Đánh giá đầy đủ nguy
cơ ngã trong nhà và có các can thiệp phù hợp:
+ Bố trí đồ trong nhà
+ Ánh sáng lối đi, cầu
thang, ánh sáng phòng ngủ (có thể dễ dàng bật ánh sáng vào ban đêm).
+ Tay vịn ở vị trí cần
thiết.
+ Nhà vệ sinh: Tay vịn,
lát sàn bằng vật liệu ít trơn trượt, độ cao mặt sàn nhà vệ sinh nên bằng so với
bên ngoài,…
+ Mặt sàn và ánh sáng
nhà bếp
3.4. Chương trình bài
tập phòng ngừa ngã
Chương trình bài tập
phòng ngừa ngã cho những người có nguy cơ ngã, cần đánh giá và quản lý ngã toàn
diện. Chương trình bài tập phòng ngừa ngã cần:
- Được thực hiện bởi
các nhân viên y tế có chuyên môn phù hợp
- Tăng dần và cá nhân
hóa theo nhu cầu, sở thích, mục tiêu và khả năng của người bệnh
- Tập trung vào các yếu
tố chức năng liên quan đến nguy cơ ngã của người bệnh, ví dụ: tập luyện thăng
bằng, tập tăng cường sức mạnh cơ và luyện tập sức bền
Bao gồm các đánh giá
tiến trình thực hiện, tuân thủ thực hiện bài tập thường xuyên
Các chương trình tập
luyện được thực hiện để tạo ra sự thay đổi hành vi liên quan đến hoạt động thể
chất và thói quen ít vận động.
Xem xét các can thiệp
hành vi nhận thức cho những người có lo ngại về việc ngã mà không được cải
thiện qua các bài tập tăng cường sức mạnh và thăng bằng.
Cụ thể về chương trình
tập luyện dự phòng ngã: cần có khám, chỉ định, hướng dẫn thực hiện các bài tập
thăng bằng, tăng cường sức mạnh cơ và dáng đi theo qui trình kỹ thuật của Bộ Y
tế:
- Tập luyện thăng bằng
(tĩnh và động): tập 30 phút/ngày, ít nhất 3 buổi/tuần
- Tập luyện tăng cường
sức mạnh cơ với lực kháng trở bên ngoài như với tạ, với lực cản dàn hồi hoặc
kháng trở là chính cơ thể mình. Tập với các nhóm cơ chính gập khuỷu, duỗi
khuỷu, cơ tứ đầu, các nhóm cơ mông, các nhóm cơ cẳng chân. Tập cách ngày, 2- 3
buổi/ tuần, 30 phút/ buổi. Cần tuần thủ nguyên tắc tăng dần lực kháng trở, tăng
dần thời gian phù hợp với sức khỏe người cao tuổi.
- Tập luyện sức bền (đi
bộ, đạp xe): tập luyện sức bền ít có hiệu quả trong phòng tránh ngã nhưng giúp
cải thiện chức năng tim mạch, hô hấp, cải thiện giấc ngủ, giảm nguy cơ trầm
cảm, giúp ổn định các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường… Tập luyện
150-300 phút/tuần cường độ trung bình ở mức 12-14 theo Borg scale, hoặc theo
test nói trong khi tập nói được nhưng không hát được, tập 5 buổi/ tuần, mỗi
buổi từ 30- 60 phút.
3.5. Tối ưu hóa việc
tham gia liên tục vào các can thiệp phòng ngừa ngã
- Trong tất cả các môi
trường, tối đa hóa khả năng tham gia vào các chương trình tập thể dục phòng
ngừa ngã như sau:
- Thảo luận và thống
nhất với người tham gia về những thay đổi mà họ sẵn sàng và có khả năng thực
hiện để giảm nguy cơ ngã.
- Khuyến khích thay đổi
và giải quyết các rào cản tiềm ẩn, ví dụ, nếu người cao tuổi nghi ngờ khả năng
hoàn thành các bài tập hoặc có lo ngại về ngã.
- Đảm bảo rằng các can
thiệp đủ linh hoạt để phù hợp với nhu cầu và sở thích cá nhân của mỗi người.
- Cân nhắc các bài tập
có giám sát và, nếu có, cung cấp cho người tham gia sự lựa chọn về cách thức
bài tập được thực hiện, ví dụ, tập cá nhân hoặc nhóm.
- Khi có thể, tạo điều
kiện cho việc liên lạc và hỗ trợ xã hội.
4. THÔNG TIN VÀ GIÁO
DỤC CHO NGƯỜI NHẬN ĐÁNH GIÁ HOẶC CAN THIỆP PHÒNG NGỪA NGÃ
4.1. Áp dụng trong mọi
bối cảnh chăm sóc
- Trong tất cả các bối
cảnh chăm sóc, bao gồm cộng đồng, điều trị nội trú và chăm sóc dài hạn, nhân
viên y tế cần trao đổi và cung cấp thông tin nhằm giúp người được đánh giá giảm
nguy cơ ngã và cải thiện sức khỏe tổng thể. Thông tin cần được trình bày dễ
hiểu, có thể mang về sử dụng, đồng thời huy động sự tham gia của gia đình và
người chăm sóc khi phù hợp.
- Các nội dung giáo dục
cần tập trung vào:
+ Nguy cơ ngã mang tính
cá thể, phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ riêng của từng người (ví dụ: tuổi cao,
sử dụng một số thuốc, hạ huyết áp, đục thủy tinh thể), trong đó nhiều yếu tố có
thể điều chỉnh được thông qua các can thiệp phù hợp như luyện tập thể lực, rà
soát thuốc hoặc phẫu thuật đục thủy tinh thể.
+ Khả năng phòng ngừa
ngã, nhấn mạnh rằng một tỷ lệ đáng kể các trường hợp ngã có thể được dự phòng,
thông qua các biện pháp và khuyến nghị được cá thể hóa theo hoàn cảnh và nguy
cơ của từng người.
+ Lợi ích của các can
thiệp phòng ngừa ngã, đặc biệt là các chương trình tập luyện và duy trì hoạt
động thể chất, cũng như các chiến lược duy trì động lực tham gia, chẳng hạn như
tham gia các nhóm hoặc chương trình cộng đồng.
+ Hướng dẫn xử trí khi
xảy ra ngã, bao gồm cách đứng dậy an toàn, nhận biết khi nào cần tìm kiếm sự
trợ giúp y tế và cách thức liên hệ hỗ trợ.
+ Nguồn thông tin và hỗ
trợ bổ sung, bao gồm các tổ chức, chương trình và nhóm hỗ trợ ở địa phương và
cấp quốc gia.
4.2. Trong môi trường
bệnh viện nội trú
Trong môi trường điều
trị nội trú, nhân viên y tế cần trao đổi và hướng dẫn cụ thể nhằm giúp người
bệnh giảm nguy cơ ngã và duy trì an toàn trong thời gian nằm viện, đồng thời
cải thiện sức khỏe tổng thể. Nội dung thảo luận cần tập trung vào:
- Sự thay đổi của các
yếu tố nguy cơ ngã trong bệnh viện, bao gồm tình trạng bệnh cấp tính, thay đổi
thuốc điều trị, môi trường không quen thuộc và hạn chế vận động.
- Hướng dẫn di chuyển
an toàn và duy trì hoạt động phù hợp, đồng thời nhấn mạnh khi nào và bằng cách
nào người bệnh cần tìm kiếm sự hỗ trợ, chẳng hạn như gọi nhân viên y tế khi cần
đi vệ sinh hoặc thay đổi tư thế.
- Cách sử dụng an toàn
các thiết bị trong bệnh viện, bao gồm điều khiển giường bệnh, chuông gọi và các
thiết bị hỗ trợ khác.
- Khuyến khích người
bệnh, gia đình và người chăm sóc chủ động thông báo cho nhân viên y tế về các
yếu tố nguy cơ ngã tiềm ẩn hoặc các khó khăn trong sinh hoạt.
- Kế hoạch hỗ trợ sau
xuất viện, nhằm tiếp tục giảm nguy cơ ngã và đảm bảo an toàn khi trở về cộng
đồng hoặc nơi cư trú.
Trong môi trường chăm
sóc dài hạn, cần cung cấp thông tin và hướng dẫn giúp người cao tuổi tăng cường
an toàn, duy trì khả năng vận động và phòng ngừa ngã trong sinh hoạt hàng ngày.
Các nội dung chính bao gồm:
- Quản lý các mối lo
ngại về an toàn cá nhân, bao gồm nhận biết tình huống nguy cơ và cách thức tìm
kiếm sự trợ giúp kịp thời khi xảy ra ngã.
- Nhà cửa an toàn: tay
vịn cầu thang, trong nhà vệ sinh, đủ ánh sáng, thảm chống trơn, chống trượt,
tránh đồ vật, vật cản trên sàn, ẩm, trơn trượt (thời tiết nồm ẩm)
- Hướng dẫn di chuyển
an toàn và duy trì mức độ hoạt động thể chất phù hợp, nhằm hạn chế suy giảm
chức năng.
- Sử dụng đúng và an
toàn các thiết bị hỗ trợ trong cơ sở chăm sóc cư trú, như điều khiển giường,
chuông gọi và các cảm biến chuyển động.
- Khuyến khích người
cao tuổi, gia đình, người chăm sóc và khách thăm chủ động trao đổi với nhân
viên chăm sóc về các nguy cơ ngã tiềm ẩn, nhằm kịp thời điều chỉnh môi trường
và biện pháp hỗ trợ.
PHỤ LỤC
Bảng 1. Đánh giá lão khoa toàn diện các yếu tố
nguy cơ ngã trên người cao tuổi
|
Lĩnh vực đánh giá
|
Yếu tố nguy cơ ngã
|
Phương pháp/Đo lường
|
|
Di chuyển
|
Thăng bằng
|
Sàng lọc rối loạn thăng bằng bằng các test như Tandem Stand, One-Leg
Stand, Berg Balance Scale, Tinetti. Cân nhắc khám chuyên gia vật lý trị liệu
khi phát hiện bất thường..
|
|
|
Dáng đi
|
Đánh giá bằng test đi bộ 4 mét (tốc độ < 0,8 m/s), SPPB, Timed Up
and Go (TUG).
|
|
Sức mạnh cơ
|
|
Đánh giá cơ lực bằng máy đo cơ lực cầm tay; test đứng lên - ngồi
xuống 5 lần liên tiếp hoặc test đứng dậy từ ghế trong 30 giây.
|
|
Dụng cụ hỗ trợ
đi bộ
|
|
Nếu có sử dụng, đánh giá mức độ phù hợp và cách sử dụng đúng các dụng
cụ hỗ trợ đi lại.
|
|
Vấn đề về giày
dép và chân
|
|
Sàng lọc giày dép không phù hợp (kể cả đi chân đất); đánh giá các vấn
đề bàn chân. Cân nhắc chuyển bác sĩ chuyên khoa bàn chân khi cần.
|
|
Lo sợ ngã
|
|
Đánh giá lo sợ ngã (lo lắng về việc ngã) bằng Thang đo Efficacy Scale
for Falls (FES-I) hoặc FES-I ngắn.
|
|
Chức năng cảm
giác
|
Chóng mặt
|
Sàng lọc qua việc hỏi tiền sử chóng mặt và các bài kiểm tra
|
|
|
Thị giác
|
Đánh giá chủ quan (tiền sử bệnh mắt) và khách quan (thị lực, độ sắc
nét); kiểm tra việc sử dụng kính có phù hợp không. Chuyển bác sĩ nhãn khoa
khi cần.
|
|
|
Thính
giác
|
Đánh giá
vấn đề thính giác chủ quan (hỏi tiền sử bệnh). Đánh giá khách quan các vấn đề
thính giác. Nếu cần, chuyển giới thiệu đến chuyên gia thính giác hoặc bác sĩ
Tai mũi họng.
|
|
Hoạt
động
sinh
hoạt
hằng
ngày
|
Khả
năng
chức
năng
|
Đánh giá
các Hoạt động chức năng hàng ngày (ADL) và các Hoạt động chức năng hàng ngày
có sử dụng công cụ (IADL) bằng bộ câu hỏi Katz chỉnh sửa (dành cho người sống
cộng đồng) hoặc Barthel (chăm sóc cá nhân, phù hợp với người ở viện dưỡng
lão).
|
|
Chức
năng
nhận
thức
|
Nhận
thức
|
Sàng lọc
các rối loạn nhận thức bao gồm chức năng điều hành, ví dụ qua bài kiểm tra vẽ
đồng hồ hoặc Montreal Cognitive Assessment (MoCA) hoặc Trail Making Test Phần
B (TMT-B).
|
|
|
Sảng
|
Đánh giá
người bệnh có sảng qua thăm khám lâm sàng
|
|
Hành
vi
|
|
Đánh giá
hành vi liên quan đến nguy cơ ngã
|
|
Chức
năng
tự động
|
Hạ
huyết áp
khi
thay đổi tư
thế
|
Đo huyết
áp đầu tiên khi nằm (sau ít nhất 5 phút nghỉ ngơi trên giường) và đo lại khi
đứng. Tốt nhất là đo liên tục, hoặc đo theo khoảng thời gian 1 phút, tối
thiểu 3 phút và lý tưởng là 5 phút.
|
|
|
Tiểu không tự chủ
|
Đánh giá
bằng bài kiểm tra 3IQ.
|
|
Tiền sử bệnh lý
|
Bệnh lý tim mạch
|
Đánh giá
qua việc hỏi lịch sử bệnh lý tim mạch, triệu chứng bệnh tim mạch, khám tim
mạch chuyên sâu, đo huyết áp khi thay đổi tư thế, điện tâm đồ. Nếu cần, đánh
giá thêm (có thể bao gồm thử nghiệm bàn nghiêng, xoa xoang cảnh, theo dõi
nhịp tim/ huyết áp liên tục).
|
|
|
Bệnh
lý nội
tiết
|
Đánh giá
tình trạng kiểm soát đường huyết, tránh hạ đường huyết, tầm soát các biến
chứng mạn tính, đặc biệt là biến chứng thần kinh, biến chứng mắt, biến chứng
tim mạch, biến chứng thận và biến chứng thần kinh.
|
|
|
Bệnh
lý kèm
theo
|
Thực hiện
đánh giá lão khoa toàn diện (hỏi lịch sử bệnh, khám thể chất, xét nghiệm) đặc
biệt với bệnh đái tháo đường, viêm khớp, rối loạn thần kinh bao gồm
Parkinson, bệnh lý đa dây thần kinh và đột quỵ, bệnh lý tim mạch, suy giảm
nhận thức, rối loạn trầm cảm, sảng, thiếu máu, rối loạn điện giải, bệnh tuyến
giáp, hội chứng dễ bị tổn thương, sarcopenia và nguy cơ gãy xương (loãng
xương).
|
|
|
Bệnh Parkinson
|
Đánh giá
các vấn đề di chuyển (bước đi và thăng bằng, sức mạnh)
|
|
|
Rối
loạn trầm cảm
|
Sàng lọc
rối loạn trầm cảm qua Thang đo Trầm cảm Lão khoa (GDS).
|
|
Tiền sử thuốc
|
Thuốc
|
Thực hiện
rà soát thuốc có cấu trúc, cân nhắc giảm hoặc ngừng các thuốc (đặc biệt thuốc
tâm thần, tim mạch và các thuốc khác) làm tăng nguy cơ ngã.
|
|
Tiền
sử dinh dưỡng
|
Tình
trạng
dinh
dưỡng
|
Sàng lọc
thiếu dinh dưỡng, ví dụ qua thang đo dinh dưỡng tối thiểu MNA; béo phì;
sarcopenia, các thiếu hụt vitamin (vitamin D, vitamin B1, B12, axit folic) và
cho lạm dụng chất cũng như việc sử dụng rượu nhẹ đến vừa phải.
|
|
|
Vitamin
D
|
Đánh giá
tình trạng vitamin D ở người sống cộng đồng theo khuyến cáo địa phương; chú ý
nhóm nguy cơ cao (viện dưỡng lão, ít ra ngoài).
|
|
Nguy
cơ môi trường
|
Môi
trường
|
Sử dụng
các công cụ được khuyến nghị, chẳng hạn như Thang đánh giá an toàn nhà ở
Westmead (Westmead Home Safety Assessment) và Thang đo hành vi liên quan đến
ngã ở người cao tuổi (Falls Behavioural Scale for Older People).
|
PHỤ LỤC II
Nhà cửa an toàn (Ví dụ
về thanh vịn và ánh sáng)

Lắp thanh vịn cầu thang, đủ ánh sáng

Đồ đạc phòng khách, bếp: ngăn nắp, tránh vật
cản, thảm trơn trượt

Nhà vệ sinh cần lắp thanh vịn, ghế ngồi tắm,
thảm chống trơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alshammari, S.A., et
al., Falls among elderly and its relation with their health problems and
surrounding environmental factors in Riyadh. J Family Community Med, 2018. 25(1):
p. 29-34.
2. Chen, T.Y., G. Cruz,
C.N. Vu, and Y. Saito, Falls among older adults in the Philippines and Vietnam:
Results from nationally representative samples. Innovation in Aging, 2021. p.
1042-1042
3. Janelle M et all.
Updated Evidence Report and Systematic Review for the US Preventive Services
Task Force. JAMA June 2024
4. Joe Verghese et all.
Neurological Gait Abnormalities And Risk Of Falls In Older Adults.
J Neurol. 2010 March ;
257(3): 392-398
5. Manuel Montero-Odasso
et all. World guidelines for falls prevention and management for older adults:
a global initiative. Age and Ageing 2022; 51:1-36
6. Nathalie van der Velde
et all. Falls prevention in community-dwelling older adults and implementation
of world falls guidelines: a call for action across Europe by the European
Geriatric Medicine Society Special Interest Group on Falls and Fractures.
European Geriatric Medicine (2025) 16:1249-1268.
7. Salari, N., et al., Global
prevalence of falls in the older adults: a comprehensive systematic review and
meta-analysis. Journal of orthopaedic surgery and research, 2022. 17(1):
p. 1-13.
8. Anke H Snijders,et all.
Neurological gait disorders in elderly people: clinical approach and
classification. Lancet Neurol 2007; 6: 63-74
8. WHO Global Report on
Falls Prevention in Older Age. World Health Organization 2007
HỘI CHỨNG ĐAU
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Hội Nghiên Cứu Đau Quốc
Tế (The International Association for the Study of Pain -IASP) định nghĩa đau
là cảm giác khó chịu và sự trải nghiệm những cảm xúc có liên quan đến tổn
thương mô hӑc thể chất hoặc tiềm tàng, hoặc được mô tả như là tổn thương tương
tự.
1.2. Dịch tễ học
Đau là một trong những
triệu chứng thường gặp nhất ở người cao tuổi và là nguyên nhân quan trọng làm
suy giảm chức năng, giảm chất lượng cuộc sống, gia tăng nguy cơ phụ thuộc và sử
dụng dịch vụ y tế.
Các nghiên cứu cho thấy
khoảng 25-50% người cao tuổi sống tại cộng đồng có đau mạn tính. Tỷ lệ này tăng
lên từ 45-80% ở những người sống tại các cơ sở chăm sóc dài hạn hoặc viện dưỡng
lão. Phụ nữ cao tuổi có xu hướng mắc đau mạn tính với tỷ lệ cao hơn nam giới.
Tại Việt Nam, khoảng
một phần ba người cao tuổi điều trị ngoại trú có đau mạn tính mức độ trung bình
đến nặng, và có liên quan với hạn chế khả năng thực hiện các hoạt động hàng
ngày.
1.3. Phân loại đau
Đau có thể được phân
loại theo thời gian diễn biến và theo cơ chế bệnh sinh. Việc phân loại đau giúp
định hướng nguyên nhân và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
1.3.1. Phân loại đau
theo thời gian diễn biến
Đau cấp tính là cơn đau khởi phát
đột ngột, thường liên quan đến tổn thương mô cấp tính như chấn thương, phẫu
thuật hoặc viêm nhiễm. Đau cấp tính thường kéo dài dưới 3 tháng và giảm dần khi
nguyên nhân được điều trị hoặc tổn thương mô hồi phục.
Đau mạn tính là đau kéo dài hoặc tái
diễn trên 3 tháng. Đau mạn tính có thể biểu hiện dưới dạng đau liên tục hoặc
đau tái diễn từng đợt. Đau mạn tính có thể tồn tại ngay cả khi tổn thương mô
ban đầu đã hồi phục và thường ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thể chất, tâm lý
và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đây là loại đau thường gặp nhất ở người
cao tuổi.
1.3.2. Phân loại đau
theo cơ chế bệnh sinh
Theo cơ chế bệnh sinh,
đau được chia thành ba nhóm chính:
a) Đau cảm thụ
(Nociceptive pain)
Đau cảm thụ xảy ra do
kích thích các thụ thể cảm giác đau còn nguyên vẹn bởi tổn thương mô thực sự
hoặc tiềm tàng. Đau cảm thụ được chia thành:
+ Đau bản thể (somatic
pain): xuất phát từ da, cơ, xương, khớp hoặc mô liên kết. Đau thường khu trú
rõ, được mô tả là đau nhức, đau âm ỉ hoặc đau chói. Ví dụ: thoái hóa khớp, gãy
xương
+ Đau tạng (visceral
pain): xuất phát từ các tạng đặc hoặc tạng rỗng do căng giãn, co thắt, viêm
hoặc thiếu máu cục bộ. Người bệnh thường không thể định khu chính xác và mô tả
cơn đau một cách rõ ràng Ví dụ: đau do tắc ruột, viêm đường mật hoặc Ung thư
nguyên phát hoặc di căn ở gan dẫn đến căng bao gan và kích thích thụ thể cơ học
trong bao gan
b) Đau thần kinh
(Neuropathic pain)
Đau thần kinh là đau do
tổn thương hoặc bệnh lý ảnh hưởng đến hệ thần kinh cảm giác ngoại biên hoặc
trung ương. Người bệnh thường mô tả cảm giác đau bỏng rát, châm chích, như điện
giật hoặc đau buốt. Ví dụ: đau thần kinh do đái tháo đường, đau thần kinh sau
herpes,…
c) Đau nociplastic
(Nociplastic pain)
Đau nociplastic là một
cơ chế đau khác biệt với đau cảm thụ và đau thần kinh, đau phát sinh do rối
loạn quá trình xử lý tín hiệu đau của hệ thần kinh trung ương, mặc dù không có
bằng chứng rõ ràng về tổn thương mô hoặc tổn thương hệ thần kinh. Đau thường
lan tỏa, kéo dài và không tương xứng với tổn thương thực thể. Ví dụ: đau cơ xơ
hóa, Các rối loạn đau tạng chức năng như hội chứng ruột kích thích và hội chứng
đau bàng quang và một số trường hợp đau thắt lưng mạn tính không đặc hiệu.
Trong thực hành lâm
sàng, nhiều người bệnh có thể đồng thời có nhiều cơ chế đau khác nhau (đau hỗn
hợp).
1.4. Nguyên nhân đau
thường gặp ở người cao tuổi
Những nguyên nhân
thường gặp gây đau ở người cao tuổi bao gồm:
- Các bệnh lý cơ xương
khớp, đặc biệt là thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống gây đau vùng cổ và thắt
lưng, gãy xương do loãng xương và đau khớp mạn tính.
- Bệnh động mạch ngoại
vi.
- Đau thần kinh sau
herpes.
- Đau thần kinh do đái
tháo đường.
- Đau sau đột quỵ.
- Đau liên quan đến ung
thư.
2. ĐẶC ĐIỂM ĐAU VÀ
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ ĐAU Ở NGƯỜI CAO TUỔI
2.1. Đặc điểm đau ở
người cao tuổi
Đau ở người cao tuổi có
một số đặc điểm khác biệt so với người trẻ:
- Đau thường không được
báo cáo đầy đủ do người bệnh cho rằng đau là một phần bình thường của quá trình
lão hóa, lo ngại tác dụng không mong muốn của thuốc hoặc không muốn làm phiền
người chăm sóc và nhân viên y tế.
- Biểu hiện đau có thể
không điển hình. Thay vì than phiền trực tiếp về đau, người bệnh có thể biểu
hiện bằng suy giảm chức năng, giảm vận động, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, thay
đổi hành vi, kích động hoặc lú lẫn.
- Đau ở người cao tuổi
thường có tính chất đa nguyên nhân, nhiều vị trí đau và thường tồn tại dưới
dạng đau mạn tính.
- Đau kéo dài có thể
dẫn đến suy giảm chức năng thể chất, suy giảm nhận thức, trầm cảm, tăng nguy cơ
ngã và làm giảm chất lượng cuộc sống.
2.2. Những yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý đau ở người cao tuổi
Việc đánh giá và điều
trị đau ở người cao tuổi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan đến quá
trình lão hóa và tình trạng sức khỏe của người bệnh.
2.2.1. Suy giảm nhận
thức và giao tiếp
Suy giảm nhận thức, suy
giảm thị lực, thính lực hoặc các rối loạn giao tiếp có thể làm hạn chế khả năng
nhận biết và diễn đạt cơn đau, gây khó khăn cho việc đánh giá đau. Trong những
trường hợp này, cần kết hợp khai thác thông tin từ người chăm sóc, quan sát
hành vi và sử dụng các công cụ đánh giá đau phù hợp.
2.2.2. Đa bệnh lý và đa
thuốc
Người cao tuổi thường
mắc đồng thời nhiều bệnh lý mạn tính và sử dụng nhiều loại thuốc. Điều này làm
tăng nguy cơ đau do nhiều nguyên nhân khác nhau, đồng thời làm gia tăng nguy cơ
tương tác thuốc, tác dụng không mong muốn và các biến cố bất lợi liên quan đến
thuốc giảm đau.
2.2.3. Các yếu tố tâm
lý và xã hội
Các yếu tố như trầm
cảm, lo âu, cô đơn, suy giảm chức năng hoặc thiếu hỗ trợ xã hội có thể làm tăng
cảm nhận đau và làm giảm hiệu quả điều trị. Ngược lại, sự hỗ trợ của gia đình
và người chăm sóc có vai trò quan trọng trong quản lý đau ở người cao tuổi.
2.2.4. Những thay đổi
sinh lý, dược động học và dược lực học liên quan đến tuổi
Quá trình lão hóa làm
thay đổi hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc, đồng thời làm thay đổi
đáp ứng của cơ thể với thuốc. Những thay đổi này có thể làm tăng nguy cơ tích
lũy thuốc, kéo dài thời gian tác dụng và gia tăng tác dụng không mong muốn của
thuốc giảm đau. Do đó, khi sử dụng thuốc giảm đau ở người cao tuổi cần áp dụng
nguyên tắc "khởi đầu với liều thấp và tăng liều từ từ"
Bảng 1. Những thay đổi sinh lý liên quan đến
tuổi và ảnh hưởng đến điều trị đau ở người cao tuổi
|
Thay
đổi sinh lý liên quan đến tuổi
|
Ảnh
hưởng lâm sàng đối với điều trị đau
|
|
Giảm lưu
lượng máu đến gan, giảm khối lượng và chức năng gan
|
Giảm
chuyển hóa thuốc, kéo dài thời gian bán thải của một số thuốc
|
|
Giảm lưu
lượng máu đến thận, giảm mức lọc cầu thận và bài tiết ở ống thận
|
Giảm thải
trừ thuốc và chất chuyển hóa, tăng nguy cơ tích lũy thuốc và độc tính
|
|
Giảm
lượng nước toàn cơ thể, giảm khối cơ
|
Giảm thể
tích phân bố của các thuốc tan trong nước, làm tăng nồng độ thuốc trong huyết
tương
|
|
Tăng tỷ
lệ mỡ cơ thể
|
Tăng thể
tích phân bố và kéo dài thời gian tác dụng của các thuốc tan trong lipid
|
|
Giảm nồng
độ albumin huyết thanh
|
Tăng tỷ
lệ thuốc tự do, làm tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn và độc tính
|
|
Tăng nhạy
cảm với các thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương
|
Tăng nguy
cơ an thần, sảng, suy giảm nhận thức, té ngã và suy hô hấp
|
3. ĐÁNH GIÁ ĐAU Ở NGƯỜI
CAO TUỔI
Đánh giá đau cần được
thực hiện thường quy ở tất cả người cao tuổi trong mọi cơ sở chăm sóc sức khỏe.
Đau ở người cao tuổi thường có biểu hiện phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố như đa bệnh lý, suy giảm chức năng, suy giảm nhận thức, tình trạng tâm lý,
các yếu tố xã hội và văn hóa. Do đó, bên cạnh khai thác bệnh sử, thăm khám lâm
sàng và các xét nghiệm cần thiết, cần thực hiện đánh giá đau toàn diện theo
cách tiếp cận lão khoa.
Tự báo cáo của người
bệnh là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá đau. Tuy nhiên, ở người bệnh suy giảm
nhận thức hoặc hạn chế giao tiếp, việc đánh giá cần kết hợp quan sát hành vi,
thông tin từ người chăm sóc và sử dụng các công cụ đánh giá đau phù hợp.
3.1. Nguyên tắc đánh
giá đau
Tự báo cáo của người
bệnh là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá đau. Tuy nhiên, ở người bệnh suy giảm
nhận thức hoặc hạn chế giao tiếp, việc đánh giá cần kết hợp quan sát hành vi,
thông tin từ người chăm sóc và sử dụng các công cụ đánh giá đau phù hợp.
Không nên chỉ dựa vào
một thang điểm đau đơn thuần mà cần kết hợp khai thác bệnh sử, thăm khám lâm
sàng và các xét nghiệm cần thiết.
Đánh giá đau cần được
thực hiện toàn diện, bao gồm xác định đặc điểm và cơ chế đau, mức độ đau,
nguyên nhân gây đau, ảnh hưởng của đau đến chức năng và chất lượng cuộc sống,
các bệnh đồng mắc, thuốc đang sử dụng, các yếu tố tâm lý - xã hội, mục tiêu
điều trị cũng như nguồn lực hỗ trợ của gia đình và cộng đồng.
Việc đánh giá đau ở
người cao tuổi thường cần sự phối hợp đa chuyên ngành.
3.2. Đánh giá đau toàn
diện
3.2.1. Đặc điểm đau
- Cần khai thác đầy đủ
các đặc điểm của đau nhằm định hướng nguyên nhân và cơ chế đau, bao gồm:
- Vị trí đau và số
lượng vị trí đau.
- Mức độ đau.
- Tính chất đau (đau âm
ỉ, đau nhói, đau bỏng rát, như điện giật...).
- Thời điểm khởi phát,
thời gian kéo dài và tần suất xuất hiện đau.
- Hướng lan của đau.
- Các yếu tố làm tăng
hoặc giảm đau.
- Các biện pháp giảm
đau đã sử dụng trước đó và đáp ứng điều trị.
- Đối với người bệnh
suy giảm nhận thức hoặc hạn chế giao tiếp, cần chú ý quan sát các biểu hiện
hành vi gợi ý đau như:
- Thay đổi nét mặt
(nhăn mặt, cau mày).
- Biểu hiện bằng lời
nói hoặc âm thanh (rên rỉ, kêu la).
- Thay đổi ngôn ngữ cơ
thể (co cứng, bồn chồn, bảo vệ vùng đau).
- Thay đổi hoạt động
hoặc thói quen sinh hoạt.
- Thay đổi trạng thái
tâm thần (kích thích, lú lẫn, cáu gắt).
- Thay đổi trong tương
tác xã hội hoặc hành vi.
3.2.2. Đánh giá tác
động của đau
Cần đánh giá ảnh hưởng
của đau đối với:
- Khả năng thực hiện
các hoạt động sống hàng ngày (ADL) và hoạt động sống có sử dụng công cụ (IADL).
- Khả năng vận động và
nguy cơ ngã.
- Giấc ngủ.
- Tình trạng dinh dưỡng
và cảm giác ngon miệng.
- Chức năng xã hội và
khả năng duy trì tính độc lập.
- Chất lượng cuộc sống.
3.2.3. Đánh giá bệnh
đồng mắc và thuốc đang sử dụng
Cần đánh giá các bệnh
lý đồng mắc có thể gây đau hoặc ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều
trị đau. Đồng thời cần rà soát toàn bộ các thuốc đang sử dụng nhằm phát hiện:
- Tương tác thuốc.
- Thuốc có khả năng gây
đau hoặc làm nặng thêm triệu chứng đau.
- Nguy cơ tác dụng
không mong muốn liên quan đến thuốc giảm đau.
- Việc đánh giá định kỳ
ảnh hưởng qua lại giữa đau và các bệnh đồng mắc là cần thiết để tối ưu hóa điều
trị.
3.2.4. Đánh giá mục
tiêu điều trị, thái độ và kỳ vọng của người bệnh
Cần trao đổi với người
bệnh và gia đình để xác định mục tiêu điều trị và kỳ vọng đối với kiểm soát
đau. Ở người cao tuổi, mục tiêu điều trị không chỉ là giảm cường độ đau mà còn
hướng tới:
- Duy trì hoặc cải
thiện chức năng.
- Bảo tồn khả năng độc
lập.
- Cải thiện chất lượng
cuộc sống.
- Giảm gánh nặng cho
người chăm sóc.
Cần đánh giá thái độ,
niềm tin và nhận thức của người bệnh đối với đau và điều trị đau. Nhiều người
cao tuổi cho rằng đau là một phần bình thường của quá trình lão hóa, lo ngại
tác dụng không mong muốn của thuốc hoặc sợ lệ thuộc thuốc giảm đau. Những quan
niệm này có thể ảnh hưởng đến việc báo cáo đau, sự tuân thủ điều trị và hiệu
quả kiểm soát đau.
Các thông tin thu thập
được cần được trao đổi với gia đình và người chăm sóc nhằm thống nhất mục tiêu
điều trị và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
3.2.5. Đánh giá hỗ trợ
gia đình và xã hội
Quản lý đau ở người cao
tuổi cần được tiếp cận theo mô hình toàn diện và lấy người bệnh làm trung tâm.
Vì vậy, cần đánh giá các nguồn lực hỗ trợ sẵn có của người bệnh, bao gồm:
- Sự hỗ trợ từ gia đình
và người chăm sóc.
- Khả năng tiếp cận các
dịch vụ y tế và phục hồi chức năng.
- Điều kiện kinh tế và
môi trường sống.
- Các nguồn lực hỗ trợ
từ cộng đồng, tổ chức xã hội hoặc tôn giáo khi phù hợp.
Việc xác định đầy đủ
các nguồn lực hỗ trợ giúp xây dựng kế hoạch điều trị và chăm sóc phù hợp, tăng
cường tuân thủ điều trị và cải thiện kết quả điều trị.
3.3. Các công cụ đánh
giá đau
Có nhiều công cụ đánh
giá đau khác nhau dành cho người cao tuổi. Việc lựa chọn công cụ đánh giá cần
dựa trên khả năng nhận thức, giao tiếp và tình trạng chức năng của người bệnh.
Tự báo cáo của người
bệnh là phương pháp chính xác và đáng tin cậy nhất để đánh giá đau ở mọi lứa
tuổi, kể cả ở người bệnh suy giảm nhận thức mức độ nhẹ đến trung bình. Tuy
nhiên, ở người bệnh sa sút trí tuệ giai đoạn tiến triển hoặc không có khả năng
giao tiếp, cần sử dụng các công cụ đánh giá dựa trên quan sát hành vi.
Các thang điểm đau
không thay thế cho việc khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng đầy đủ. Điểm
đau chủ yếu được sử dụng để theo dõi diễn tiến đau và đáp ứng điều trị trên
cùng một người bệnh theo thời gian, không dùng để so sánh mức độ đau giữa các
người bệnh khác nhau.
3.3.1. Người bệnh có
khả năng tự báo cáo
a) Thang điểm số
(Numeric Rating Scale - NRS)
Người bệnh được yêu cầu
đánh giá mức độ đau từ 0 đến 10, trong đó: 0: không đau và 10: đau dữ dội nhất
có thể tưởng tượng được. Mức độ đau thường được phân loại như sau:
0 điểm: không đau; 1-3
điểm: đau nhẹ; 4-6 điểm: đau mức độ trung bình; 7-10 điểm: đau nặng.
NRS là công cụ được sử
dụng phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng nhờ tính đơn giản, dễ áp dụng và có
độ tin cậy cao.
b) Thang mô tả bằng lời
(Verbal Descriptor Scale - VDS)
VDS bao gồm một chuỗi
các cụm từ mô tả mức độ đau từ không đau, đau nhẹ, đau vừa, đau nặng, đau rất
nặng.
Đây là thang điểm có độ
tin cậy và giá trị tốt ở người cao tuổi, đặc biệt phù hợp với người bệnh có khả
năng giao tiếp bằng lời nói tốt.
c) Thang nhìn tương ứng
mức độ đau (Visual Analogue Scale - VAS)
- VAS bao gồm một đường
thẳng dài 10 cm, với:
+ Một đầu biểu thị
"không đau".
+ Đầu còn lại biểu thị
"đau dữ dội nhất có thể tưởng tượng được".
Người bệnh đánh dấu vào
vị trí tương ứng với mức độ đau hiện tại. VAS có độ nhạy cao nhưng đòi hỏi khả
năng tư duy trừu tượng, thị lực tốt. Do đó, VAS có thể không phù hợp ở người
cao tuổi có trình độ học vấn thấp hoặc suy giảm nhận thức.
d) Thang khuôn mặt
(Faces Pain Scale - FPS hoặc Wong-Baker Faces Pain Scale)
- Thang điểm bao gồm
một chuỗi hình ảnh khuôn mặt thể hiện các mức độ đau tăng dần. Người bệnh lựa
chọn khuôn mặt phù hợp nhất với mức độ đau hiện tại.
- FPS là một công cụ
đáng tin cậy và phù hợp để đánh giá đau ở người cao tuổi có trình độ học vấn
thấp, hạn chế đọc viết hoặc suy giảm nhận thức mức độ nhẹ đến trung bình.
e) Bộ câu hỏi đau
McGill (McGill Pain Questionnaire - MPQ)
MPQ là công cụ đánh giá
đau đa chiều, bao gồm:
- Vị trí đau.
- Cường độ đau.
- Đặc điểm cảm giác.
- Đặc điểm cảm xúc của
đau.
- Diễn tiến theo thời
gian của đau.
MPQ có giá trị trong
đánh giá đau mạn tính và theo dõi đáp ứng điều trị nhưng không khuyến cáo sử
dụng ở người bệnh không biết chữ hoặc suy giảm nhận thức.
3.3.2. Người bệnh suy
giảm nhận thức hoặc hạn chế giao tiếp
Ở người bệnh không thể
tự báo cáo đau, việc đánh giá đau cần dựa trên quan sát hành vi và thông tin từ
người chăm sóc. Các biểu hiện hành vi gợi ý đau bao gồm 6 nhóm theo khuyến cáo
của Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ:
- Biểu hiện nét mặt.
- Lời nói hoặc âm thanh
bất thường.
- Ngôn ngữ cơ thể.
- Thay đổi hoạt động
hoặc thói quen sinh hoạt.
- Thay đổi trạng thái
tâm thần.
- Thay đổi tương tác xã
hội.
Thang đo PAINAD
(Pain Assessment in Advanced Dementia) là công cụ quan trọng để đánh giá
cơn đau ở bệnh nhân sa sút trí tuệ nặng, không có khả năng diễn đạt bằng lời
nói, thông qua quan sát 5 hành vi: hơi thở, biểu hiện khuôn mặt, ngôn ngữ cơ
thể, lời nói tiêu cực, và khả năng an ủi; thang điểm 0-10 giúp xác định mức độ
đau để can thiệp kịp thời. Trước khi đánh giá nên quan sát người bệnh trong
khoảng 2-5 phút. PAINAD phù hợp sử dụng tại bệnh viện, cơ sở chăm sóc dài hạn
và cộng đồng.
Bảng 2. Lựa chọn công cụ đánh giá đau ở người
cao tuổi
|
Đối
tượng
|
Công
cụ ưu tiên
|
|
Nhận thức
bình thường
|
NRS, VDS
|
|
Suy giảm
nhận thức nhẹ
|
NRS, VDS,
FPS
|
|
Suy giảm
nhận thức trung bình
|
FPS,
PAINAD
|
|
Sa sút
trí tuệ nặng/không giao tiếp được
|
PAINAD
|
Việc đánh giá đau cần
được thực hiện định kỳ, đặc biệt trước và sau các can thiệp giảm đau nhằm theo
dõi đáp ứng điều trị và điều chỉnh kế hoạch điều trị khi cần thiết.
4. ĐIỀU TRỊ ĐAU Ở NGƯỜI
CAO TUỔI
Điều trị đau ở người
cao tuổi cần áp dụng cách tiếp cận đa mô thức, kết hợp các biện pháp dùng thuốc
và không dùng thuốc nhằm tối ưu hiệu quả giảm đau, cải thiện chức năng và hạn
chế các biến cố bất lợi liên quan đến điều trị.
Việc lựa chọn phương
pháp điều trị cần được cá thể hóa dựa trên nguyên nhân và cơ chế đau, mức độ đau,
bệnh đồng mắc, tình trạng chức năng, chức năng nhận thức, các thuốc đang sử
dụng, cũng như mục tiêu điều trị của người bệnh.
Thang giảm đau ba bậc
của Tổ chức Y tế Thế có thể được sử dụng như một định hướng chung trong lựa
chọn thuốc giảm đau. Tuy nhiên, do những thay đổi sinh lý liên quan đến tuổi,
tình trạng đa bệnh lý và đa thuốc, việc sử dụng thuốc giảm đau ở người cao tuổi
cần được điều chỉnh phù hợp cho từng cá thể.
4.1. Điều trị bằng
thuốc
4.1.1. Nguyên tắc sử
dụng thuốc giảm đau ở người cao tuổi
Việc sử dụng thuốc giảm
đau ở người cao tuổi cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Lựa chọn thuốc dựa
trên nguyên nhân, cơ chế và mức độ đau.
- Khởi đầu điều trị với
liều thấp nhất có hiệu quả và tăng liều từ từ
- Chỉ nên khởi đầu một
thuốc mới tại một thời điểm nhằm thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả điều trị
và phát hiện tác dụng không mong muốn.
- Cần có khoảng thời
gian đủ dài giữa các lần điều chỉnh liều để đánh giá đầy đủ đáp ứng điều trị.
- Đối với đau liên tục,
thuốc giảm đau nên được sử dụng theo giờ cố định thay vì chỉ sử dụng khi đau
xuất hiện. Các chế phẩm giải phóng kéo dài có thể được cân nhắc ở người bệnh
phù hợp.
- Đối với đau dữ dội
từng cơn, ưu tiên lựa chọn các thuốc có thời gian khởi phát tác dụng nhanh và
thời gian tác dụng ngắn.
- Phối hợp các thuốc có
cơ chế tác dụng khác nhau có thể làm tăng hiệu quả giảm đau và giảm nhu cầu sử
dụng liều cao của từng thuốc riêng lẻ.
- Các biện pháp điều
trị không dùng thuốc cần được phối hợp trong suốt quá trình điều trị.
- Cần đánh giá định kỳ
hiệu quả điều trị, tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống và các tác dụng
không mong muốn để điều chỉnh phác đồ điều trị khi cần thiết.
- Khi lựa chọn thuốc
giảm đau cần cân nhắc đầy đủ bệnh đồng mắc, chống chỉ định, tương tác thuốc -
thuốc và tương tác thuốc - bệnh.
4.1.2. Thuốc giảm đau
không opioid
Paracetamol
Paracetamol là thuốc
giảm đau đầu tay trong điều trị đau cấp và đau mạn tính mức độ nhẹ đến trung
bình ở người cao tuổi. Khi sử dụng đúng liều khuyến cáo, thuốc có tính an toàn
cao và ít gây tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa, tim mạch, thận hoặc
hệ thần kinh trung ương.
Liều thông thường là
500-1000 mg mỗi 6 giờ, không quá 4 g/ngày. Ở người bệnh nhẹ cân (<50 kg),
suy dinh dưỡng hoặc có bệnh gan, cần cân nhắc giảm liều tối đa xuống 2 g/ngày.
Cần sử dụng liều thấp
nhất có hiệu quả nhằm hạn chế nguy cơ độc tính trên gan.
Thuốc chống viêm không
steroid (NSAIDs) và thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 (COX-2)
NSAIDs hoặc thuốc ức
chế chọn lọc COX-2 có thể được cân nhắc khi paracetamol hoặc các biện pháp điều
trị an toàn hơn không đạt hiệu quả kiểm soát đau mong muốn, đặc biệt trong các
tình trạng đau do viêm.
Do nguy cơ cao xuất
hiện các biến cố bất lợi, NSAIDs cần được sử dụng thận trọng ở người cao tuổi
theo nguyên tắc:
- Sử dụng liều thấp
nhất có hiệu quả.
- Sử dụng trong thời
gian ngắn nhất có thể.
- Đánh giá lại điều trị
thường xuyên.
- Ưu tiên NSAIDs dùng
tại chỗ trong đau khu trú.
- Người bệnh sử dụng
NSAIDs cần được theo dõi chặt chẽ các biến cố bất lợi trên đường tiêu hóa, thận
và tim mạch.
- Nguy cơ xuất huyết
tiêu hóa tăng theo tuổi, liều dùng và thời gian điều trị, đặc biệt khi phối hợp
với thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc corticosteroid. Thuốc ức chế bơm proton
nên được cân nhắc ở người bệnh có nguy cơ cao biến chứng tiêu hóa.
NSAIDs có thể làm nặng
thêm bệnh thận mạn, đặc biệt ở những người bệnh đang sử dụng thuốc lợi tiểu
hoặc thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI)/ức chế thụ thể angiotensin
(ARB).
Các biến cố tim mạch
liên quan đến NSAIDs bao gồm giữ nước, gây tăng huyết áp, làm nặng thêm suy tim
sung huyết, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Sử dụng thuốc NSAID một
cách thận trọng trong các trường hợp sau:
- Có tiền sử xuất huyết
tiêu hóa hoặc loét dạ dày - tá tràng.
- Có triệu chứng đau
vùng thượng vị chưa rõ nguyên nhân.
- Bệnh gan nặng kèm rối
loạn đông máu (biểu hiện bằng tăng INR).
- Suy thận
- Có nguy cơ chảy máu
do bất kỳ nguyên nhân nào, bao gồm giảm tiểu cầu, tăng INR, hoặc đang sử dụng
thuốc chống đông.
- Người bệnh đang có
tình trạng chảy máu.
- Người bệnh có nguy cơ
huyết khối.
- Khi cần sử dụng NSAID
kéo dài, nên cân nhắc phối hợp thuốc ức chế bơm proton để giảm nguy cơ biến
chứng tiêu hóa.
- Nếu người bệnh đang
điều trị bằng NSAID xuất hiện đau vùng thượng vị, cần ngừng thuốc NSAID ngay và
đánh giá lại tình trạng lâm sàng.
- Các dấu hiệu xuất
huyết tiêu hóa, bao gồm nôn ra máu, đi ngoài phân đen hoặc phân lẫn máu, được
xem là cấp cứu y khoa và người bệnh cần được đánh giá, xử trí ngay tại cơ sở y
tế.
4.1.3. Thuốc giảm đau
Opioid
Opioid có thể được chỉ
định ở người bệnh đau mức độ trung bình đến nặng, đặc biệt khi đau gây suy giảm
chức năng đáng kể hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.
Trước khi khởi trị
opioid cần đánh giá toàn diện nguyên nhân đau, tối ưu hóa các biện pháp điều
trị khác và xác định rõ mục tiêu điều trị.
Việc sử dụng opioid ở
người cao tuổi cần tuân thủ nguyên tắc:
- Khởi đầu với liều
thấp, thường bằng 25-50% liều sử dụng ở người trưởng thành trẻ tuổi.
- Tăng liều từ từ dựa
trên đáp ứng điều trị và khả năng dung nạp.
- Đánh giá lại thường
xuyên hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn.
- Dự phòng táo bón ngay
từ khi bắt đầu điều trị.
Các tác dụng không mong
muốn thường gặp bao gồm táo bón, buồn nôn, nôn, buồn ngủ, sảng, ngã và suy hô
hấp.
a. Opioid yếu
Codein
Codein có thể được sử
dụng trong điều trị đau mức độ trung bình. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc
này ở người cao tuổi thường bị hạn chế do hiệu quả giảm đau không ổn định và tỷ
lệ tác dụng không mong muốn cao.
Tramadol
Tramadol là thuốc giảm
đau tác động trung ương với cơ chế chủ vận yếu trên thụ thể μ-opioid và ức chế
tái thu hồi serotonin và noradrenalin.
Tramadol cần được sử
dụng thận trọng ở người bệnh đang sử dụng các thuốc làm tăng dẫn truyền
serotonin do nguy cơ hội chứng serotonin. Thuốc chống chỉ định ở người bệnh có
tiền sử động kinh hoặc có nguy cơ co giật cao.
Liều khởi đầu khuyến
cáo ở người cao tuổi là 25 mg, uống 1-2 lần/ngày; tăng liều từ từ tùy theo đáp
ứng lâm sàng và khả năng dung nạp.
b. Opioid mạnh
Morphin
Morphin là opioid được
sử dụng rộng rãi trong điều trị đau mức độ nặng do ung thư và đau không do ung
thư.
Do các chất chuyển hóa
của morphin được đào thải chủ yếu qua thận, cần giảm liều hoặc lựa chọn opioid
khác ở người bệnh suy thận.
Liều khởi đầu thường là
2,5-5 mg đường uống mỗi 4-6 giờ, sau đó điều chỉnh liều dựa trên đáp ứng lâm
sàng.
Oxycodon
Oxycodon có hiệu quả
tương đương morphin trong điều trị đau mức độ trung bình đến nặng và có thể
được sử dụng thay thế morphin ở một số người bệnh không dung nạp morphin.
Fentanyl
Fentanyl là lựa chọn
thích hợp ở người bệnh đau mạn tính ổn định đã dung nạp opioid trước đó. Miếng
dán fentanyl thường được thay mỗi 72 giờ.
Buprenorphin
Miếng dán Buprenorphin
có hiệu quả trong điều trị đau mạn tính mức độ trung bình đến nặng. Dược động
học của thuốc ít bị ảnh hưởng bởi suy thận, do đó có thể là lựa chọn phù hợp ở
người bệnh suy giảm chức năng thận. Miếng dán buprenorphin thường được thay mỗi
7 ngày.
Bảng 3. Liều khởi đầu khuyến cáo của một số
thuốc giảm đau Opioid thường dùng ở người cao tuổi
|
Thuốc
|
Liều
khởi đầu khuyến cáo
|
Lưu ý
|
|
Codein
(viên nén 30mg
kết hợp với paracetamol)
Đường uống
|
Người lớn: 30-60mg
Mỗi 4-6 giờ
|
KHÔNG KHUYẾN
CÁO
- Là tiền chất nên cần được chuyển hóa ở gan thành morphin, một số
người bệnh thiếu enzyme cần thiết tham gia vào quá trình chuyển
hóa này.
- Nhiều tác dụng không mong muốn hơn các opioid khác, đặc biệt là
buồn nôn.
- Liều tối đa (360mg một ngày).
Tránh dùng tổng liều paracetamol lớn hơn 4.000mg một ngày.
|
|
Morphin sulfat
Dạng phóng thích nhanh
Đường uống
|
2,5-5 mg uống mỗi 4-6 giờ
|
Thường được sử dụng để kiểm soát đau từng cơn hoặc đau khẩn cấp. Cần
điều chỉnh liều ở người bệnh suy thận.
|
|
Morphin
chlorhydrat
Tiêm / truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da
|
Người lớn: 1-2,5 mg mỗi 4-6 giờ
|
- Có thể lặp lại liều vừa dùng hoặc tăng liều lên 1,5 đến 2 lần nếu
cơn đau không thuyên giảm sau 15 phút.
Cân nhắc dùng thuốc nhuận tràng khi dùng kéo dài.
|
|
Oxycodon
|
2,5-5 mg uống mỗi 4-6 giờ
|
Hữu ích trong điều trị đau cấp tái diễn, đau từng cơn hoặc đau khẩn
cấp.
|
|
Tramadol
|
25 mg mỗi 12 giờ; tăng liều mỗi 2-3 ngày tùy đáp ứng. Liều mục tiêu
thường khoảng 100 mg/ngày
|
Cần theo dõi các tác dụng không mong muốn như sảng, buồn ngủ, táo bón
và buồn nôn. Thuốc có thể làm giảm ngưỡng co giật và làm tăng nguy cơ hội
chứng serotonin khi dùng đồng thời với các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin
có chọn lọc (SSRIs).
|
|
Fentanyl
qua da
|
Miếng dán
12-25 microgam/giờ, thay mỗi 72 giờ
|
Chỉ sử
dụng sau khi đã xác định được nhu
cầu opioid bằng opioid tác dụng ngắn hoặc khi chuyển đổi từ một opioid tác dụng kéo dài
khác. Không sử dụng
để khởi
trị opioid. Tác dụng tối đa của miếng dán đầu tiên thường đạt sau 18-24 giờ.
Thời gian tác dụng thường kéo dài khoảng 72 giờ nhưng có thể dao động từ
48-96 giờ. Có thể cần thay đổi 2-3 miếng dán trước khi đạt nồng độ thuốc ổn
định trong huyết tương.
|
Bảng 4. Liều giảm đau
tương đương giữa các opioid
|
Thuốc
opioid
|
Đường
uống/
Đặt trực tràng
|
Tiêm
tĩnh mạch/
tiêm dưới da
|
|
Morphin
|
30mg
|
10mg
|
|
Oxycodon
|
20mg
|
-
|
|
Tramadol
|
120 -
300mg
|
100mg
|
|
Fentanyl
|
-
|
0,1mg
(100mcg)
|
|
Codein
|
200mg
|
120mg
|
|
Pethidin
|
300mg
|
75mg
|
c. Tác dụng không mong
muốn của opioid/cách hạn chế
Khi tuân thủ đầy đủ các
nguyên tắc kê đơn và theo dõi điều trị, nguy cơ xuất hiện các tác dụng không
mong muốn nghiêm trọng liên quan đến opioid có thể được giảm thiểu. Opioid cần
được khởi đầu với liều thấp nhất có hiệu quả và điều chỉnh liều dần dần nhằm
đạt được mức giảm đau chấp nhận được, đồng thời hạn chế tối đa các tác dụng
không mong muốn.
Các tác dụng không mong
muốn thường gặp của opioid bao gồm táo bón, buồn nôn, nôn, buồn ngủ, chóng mặt,
sảng, suy giảm nhận thức, té ngã và suy hô hấp.
Buồn ngủ khi bắt đầu
dùng opioid hoặc khi tăng liều không phải lúc nào cũng do tác dụng an thần của
opioid. Nhiều người bệnh bị đau dai dẳng hoặc thường xuyên bị thiếu ngủ và họ
sẽ ngủ khi cơn đau được kiểm soát thích hợp. Giấc ngủ sinh lý có thể phân biệt
với tác động an thần bằng cách đánh thức người bệnh để kiểm tra. Với giấc ngủ
sinh lý người bệnh sẽ thức dậy dễ dàng.
Bảng 5. Tác dụng không mong muốn của opioid
|
Tác dụng không mong muốn
|
Tần
suất
|
Cách
hạn chế/ điều trị
|
Ghi
chú
|
|
Táo bón
|
Rất phổ biến
|
Người
lớn:
- Thuốc
nhuận tràng kích thích: Bisacodyl 5-10mg uống 1 - 2 lần/ngày. Tối đa
30mg/ngày.
- Thuốc nhuận tràng
thẩm thấu hiệu quả kém hơn nhuận tràng kích thích, kèm một số tác dụng không
mong muốn: polyethylene glycol uống 1 - 2 lần một ngày.
- Có thể dùng kết hợp 2
thuốc khi cần thiết.
|
Triệu
chứng xuất hiện kéo dài khi sử dụng opioid.
|
|
Khô miệng
|
Phổ biến
|
Giữ miệng
ẩm bằng cách uống nhấp
nước
thường xuyên hoặc ngậm
miếng
bọt biển / que gòn ướt.
|
Triệu
chứng xuất hiện kéo dài khi sử dụng opioid.
|
|
Buồn nôn
|
Phổ biến
|
Thường
nhẹ.
Metoclopramide
10-15mg uống/tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ
- Nếu nghiêm trọng, chỉ
định haloperidol 0,5 - 1mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch mỗi 4 giờ khi cần.
|
Thường tự
hết trong vài ngày.
Chú ý tác
dụng ngoại
ý haloperidol và metoclopramid nếu dùng kéo dài là rối loạn vận động chậm, rung giật cơ đặc biệt
đối với người cao tuổi
|
|
Đổ mồ hôi
|
Phổ biến
|
Trấn an
người bệnh.
|
|
|
An thần
|
Phổ biến
|
Trấn an
người bệnh.
|
Thường tự hết trong vài ngày.
|
|
Sảng
|
Không phổ biến
|
|
Phổ biến
nhất ở các người bệnh sa sút trí tuệ hoặc
mắc các bệnh lý về não khác.
|
|
Cơn giật cơ
|
Không phổ biến
|
- Không cần điều trị
nếu không gây khó chịu cho người bệnh.
- Chuyển đổi sang một
loại opioid khác nếu có thể.
- Nếu cần, chỉ định
diazepam 2-5mg uống hoặc tiêm mạch chậm mỗi 8 giờ khi cần.
|
Diazepam
làm tăng
nguy cơ
sảng hoặc an
thần.
|
|
Ngứa
|
Không phổ biến
|
- Thay
một opioid khác nếu có thể.
|
Thường
kéo dài khi
người
bệnh tiếp tục dùng opioid.
|
|
Bí tiểu
|
Không phổ biến
|
- Tránh sử dụng đồng
thời với thuốc kháng cholinergic.
- Điều trị đặc hiệu
bệnh lý tiền liệt tuyến nếu đi kèm phì đại tuyến tiền liệt lành tính.
Xem xét
đặt catheter bàng quang.
|
Thường
gặp ở nam giới
có tuyến
tiền liệt lớn hoặc bệnh lý thần kinh (đột quỵ, bàng quang thần kinh).
|
|
Ức chế hô hấp
|
Rất hiếm xảy ra nếu tuân thủ hướng dẫn dùng thuốc
|
- Theo dõi nhịp thở, độ
bão hòa oxy và cung cấp oxy khi cần. Không cần điều trị nếu độ bão hòa oxy
máu bình thường.
- Khi cần thiết, pha
loãng 0,4mg naloxon vào 9ml nước muối và tiêm tĩnh mạch 2-3ml (0,08 - 0,12mg)
mỗi 2 phút cho đến khi nhịp thở trở về bình thường. Cơn đau dữ dội có thể
xuất hiện. Theo dõi tri giác, nhịp thở tùy theo thời gian tác dụng của thuốc
opioid sử dụng trước đó.
- Trong
trường hợp quá liều opioid dạng phóng thích kéo dài, xem xét sử dụng naloxon
truyền tĩnh mạch liên tục 0,2 - 0,6mg/giờ, điều chỉnh liều cho đến khi nhịp
thở bình thường.
|
Tác dụng
an thần luôn xuất hiện trước biểu hiện ức chế hô hấp.
Tác dụng
naloxon chỉ kéo dài 1 giờ, vì vậy phải sử dụng lặp lại khi cần thiết.
|
d. Ngưng sử dụng opioid:
- Nên ngưng sử dụng
opioid khi:
- Cơn đau của người
bệnh đã cải thiện.
- Liệu pháp giảm đau
thay thế có hiệu quả.
- Người bệnh liên tục
vi phạm cam kết sử dụng opioid
Khi ngưng sử dụng
opioid sau 2 tuần sử dụng hoặc dài hơn, phải chú ý tránh gây ra hội chứng cai.
Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng cai opioid bao gồm sốt, ớn lạnh, đổ mồ
hôi, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, tiêu chảy, đau thắt cơ, mất ngủ, chảy nước
mũi và tăng huyết áp.
Để tránh hội chứng cai,
nên giảm liều opioid từ từ. Giảm không quá 33% mỗi 2-3 ngày. Nếu xuất hiện hội
chứng cai, tăng liều trở lại 33% sau đó giảm liều chậm hơn.
Thuốc đối kháng opioid
như naloxon có thể gây triệu chứng cai ngay lập tức ở những người bệnh sử dụng
opioid dài ngày và có thể làm cơn đau nghiêm trọng đột ngột quay trở lại. Khi
sử dụng naloxon để điều trị tác dụng không mong muốn của opioid là ức chế hô
hấp nghiêm trọng, nên dùng naloxon (0,4mg/ml) ở liều rất thấp để đảo ngược tác
dụng không mong muốn là ức chế hô hấp; mà không làm giảm tác dụng giảm đau và gây
nên hội chứng cai. Liều thông thường là 0,04mg đến 0,12mg mỗi 2 phút cho đến
khi đạt được hiệu quả mong muốn.
4.1.4. Thuốc hỗ trợ
điều trị đau
Thuốc hỗ trợ giảm đau
là các thuốc có tác dụng giảm đau độc lập hoặc tăng cường hiệu quả của các
thuốc giảm đau khác trong một số hội chứng đau đặc hiệu. Thuốc hỗ trợ đặc biệt
có vai trò trong điều trị đau thần kinh, đau do ung thư và một số hội chứng đau
mạn tính.
a. Thuốc chống trầm cảm
Các thuốc chống trầm
cảm ba vòng như amitriptylin và nortriptylin có hiệu quả trong điều trị đau
thần kinh, đặc biệt là đau sau zona và bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo
đường.
Tuy nhiên, việc sử dụng
các thuốc này ở người cao tuổi thường bị hạn chế bởi các tác dụng không mong
muốn như buồn ngủ, hạ huyết áp tư thế, bí tiểu, táo bón, khô miệng, tăng nguy
cơ ngã, tăng nhãn áp và rối loạn nhịp tim. Do đó, cần sử dụng thận trọng hoặc
tránh sử dụng ở người bệnh có hội chứng dễ bị tổn thương, sa sút trí tuệ, tiền
sử ngã hoặc bệnh tim mạch. Nortriptylin có thể được ưu tiên hơn do ít tác dụng
kháng cholinergic hơn.
b. Thuốc ức chế tái hấp
thu serotonin có chọn lọc (SSRIs)
Mặc dù các thuốc ức chế
tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) có khả năng dung nạp tốt hơn so với
thuốc chống trầm cảm ba vòng, bằng chứng về hiệu quả giảm đau của nhóm thuốc
này còn hạn chế và chưa nhất quán.
c. Thuốc ức chế tái hấp
thu serotonin và noradrenalin (SNRIs)
Các thuốc ức chế tái
hấp thu serotonin và noradrenalin (SNRIs), đặc biệt là duloxetin, đã được chứng
minh có hiệu quả trong một số tình trạng đau thần kinh và có khả năng dung nạp
tốt hơn so với thuốc chống trầm cảm ba vòng.
Duloxetin có hiệu quả
trong điều trị bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường, đau cơ xơ hóa, đau
thắt lưng mạn tính và đau do thoái hóa khớp gối.
Liều khởi đầu thông
thường là 30 mg/ngày và có thể tăng lên 60 mg/ngày tùy đáp ứng và khả năng dung
nạp.
Các tác dụng không mong
muốn thường gặp bao gồm khô miệng, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, mệt mỏi, chóng
mặt, buồn ngủ và mất ngủ. Không khuyến cáo sử dụng duloxetin ở người bệnh suy
gan hoặc uống nhiều rượu.
d. Thuốc chống động
kinh
Các thuốc chống động
kinh như gabapentin và pregabalin được sử dụng rộng rãi trong điều trị đau thần
kinh nhờ hiệu quả giảm đau tốt và ít tương tác thuốc hơn so với các thuốc chống
động kinh thế hệ cũ.
Hiệu quả của gabapentin
và pregabalin đã được chứng minh trong đau sau zona, bệnh thần kinh ngoại biên
do đái tháo đường và một số hội chứng đau trung ương.
Do các thuốc này được
thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều theo chức năng thận. Điều trị
nên được bắt đầu với liều thấp nhất có thể và tăng liều từ từ dựa trên đáp ứng
lâm sàng và các tác dụng không mong muốn.
Các tác dụng không mong
muốn thường gặp bao gồm buồn ngủ, chóng mặt, mất thăng bằng, phù ngoại vi và
tăng nguy cơ ngã.
4.2. Các thủ thuật can
thiệp giảm đau
Các thủ thuật can thiệp
giảm đau có thể được cân nhắc ở người bệnh đau mạn tính không đáp ứng với điều
trị nội khoa tối ưu hoặc xuất hiện các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng
liên quan đến điều trị toàn thân.
Việc lựa chọn thủ thuật
cần dựa trên nguyên nhân đau, cơ chế đau, mức độ đau, tình trạng chức năng,
bệnh đồng mắc, tiên lượng bệnh và mục tiêu điều trị của người bệnh. Các thủ
thuật can thiệp giảm đau cần được thực hiện tại các cơ sở chuyên khoa có đầy đủ
nhân lực, trang thiết bị và kinh nghiệm.
Bảng 6. Một số thủ thuật can thiệp giảm đau và
chỉ định thường gặp
|
Thủ
thuật
|
Chỉ
định thường gặp
|
|
Tiêm
corticosteroid nội khớp
|
Đau do
thoái hóa khớp hoặc viêm khớp có chỉ định
|
|
Tiêm acid
hyaluronic nội khớp
|
Đau do
thoái hóa khớp gối ở người bệnh không đáp ứng hoặc không dung nạp với điều
trị nội khoa
|
|
Tiêm
corticosteroid ngoài màng cứng
|
Đau rễ
thần kinh, đau thần kinh tọa hoặc đau do hẹp ống sống được lựa chọn phù hợp
|
|
Phong bế
thần kinh ngoại vi
|
Đau khu
trú theo phân bố thần kinh, đau sau phẫu thuật hoặc một số hội chứng đau thần
kinh
|
|
Phong bế
đám rối thân tạng
|
Đau vùng
bụng trên do ung thư hoặc bệnh lý gan, tụy, đường mật, dạ dày
|
|
Phong bế
đám rối hạ vị trên
|
Đau vùng
chậu hoặc bụng dưới do ung thư hoặc các bệnh lý vùng chậu
|
|
Giảm đau
ngoài màng cứng liên tục
|
Đau thân
dưới nặng, đau sau phẫu thuật hoặc đau do ung thư không kiểm soát được bằng
điều trị thông thường
|
|
Giảm đau
nội tủy liên tục (đặt catheter trong khoang dưới nhện)
|
Đau kháng
trị, thường áp dụng trong chăm sóc giảm nhẹ hoặc giai đoạn cuối
|
|
Tạo hình
thân đốt sống bằng xi măng sinh học
|
Đau do
gãy lún đốt sống, đặc biệt do loãng xương hoặc di căn xương
|
|
Tạo hình
thân đốt sống bằng bóng kết hợp bơm xi măng sinh học
|
Đau do
gãy lún đốt sống có xẹp thân đốt sống hoặc biến dạng cột sống
|
4.3. Điều trị đau không
dùng thuốc
Điều trị đau không dùng
thuốc là một thành phần quan trọng trong chiến lược quản lý đau toàn diện ở
người cao tuổi và cần được phối hợp với điều trị bằng thuốc nhằm tối ưu hiệu
quả giảm đau, cải thiện chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các biện pháp không
dùng thuốc đặc biệt có vai trò trong điều trị đau mạn tính, giúp giảm mức độ
đau, cải thiện khả năng vận động, duy trì tính độc lập trong sinh hoạt hằng
ngày và giảm nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau.
Quản lý đau ở người cao
tuổi cần được thực hiện theo cách tiếp cận đa mô thức và đa ngành, với sự tham
gia của bác sĩ, điều dưỡng, chuyên gia phục hồi chức năng, nhà tâm lý học, dược
sĩ lâm sàng, người chăm sóc và gia đình. Kế hoạch điều trị cần được xây dựng trên
cơ sở đánh giá toàn diện, bao gồm bệnh đồng mắc, tình trạng nhận thức, chức
năng thể chất, mục tiêu điều trị, kỳ vọng của người bệnh và các nguồn hỗ trợ từ
gia đình, xã hội.
Bảng 7. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc
|
Biện
pháp
|
Khuyến
cáo
|
|
Tập luyện
thể lực
|
Được
khuyến cáo mạnh mẽ trong điều trị đau mạn tính ở người cao tuổi. Chương trình
tập luyện nên bao gồm các bài tập tăng sức mạnh cơ, cải thiện độ mềm dẻo, sức
bền và thăng bằng.
|
|
Phục
hồi chức
năng
và hoạt
động
trị liệu
|
Giúp cải
thiện chức năng vận động, khả năng thực hiện các hoạt động hằng ngày và duy
trì tính độc lập của người bệnh.
|
|
Liệu
pháp nhận
thức
hành vi
|
Có hiệu
quả trong cải thiện đau, giảm lo âu và trầm cảm, đồng thời tăng khả năng
thích ứng với đau mạn tính.
|
|
Châm
cứu
|
Có thể
được sử dụng như một biện pháp hỗ trợ trong điều trị đau mạn tính.
|
|
Xoa
bóp trị liệu
|
Có thể
được sử dụng như một biện pháp hỗ trợ nhằm giảm đau và cải thiện thư giãn.
|
|
Liệu
pháp
chánh
niệm
|
Có thể
được cân nhắc áp dụng; tuy nhiên bằng chứng về hiệu quả hiện còn hạn chế.
|
|
Thái
cực quyền
|
Có thể
được áp dụng nếu được hướng dẫn và giám sát phù hợp.
|
|
Yoga
|
Có thể
được áp dụng ở người bệnh được lựa chọn phù hợp và có hướng dẫn chuyên môn
thích hợp.
|
Các chương trình tập
luyện và phục hồi chức năng cần được cá thể hóa dựa trên mức độ đau, khả năng
vận động, bệnh đồng mắc và nguy cơ ngã của từng người bệnh. Cần khuyến khích
người bệnh duy trì hoạt động thể lực phù hợp nhằm hạn chế suy giảm chức năng và
cải thiện chất lượng cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2021),
Hướng dẫn điều trị Chăm sóc giảm nhẹ
2. Bozzetto Ambrosi,
C., & Bozzetto Ambrosi, P. (2025). Chronic Pain in Elderly: Emerging
Challenges and Updates about Line of Care and Pathways. In Neurological
Problems in the Elderly - Bridging Current State and New Outlooks. IntechOpen.
https://doi.org/10.5772/intechopen.1010202
3. Dagnino APA, Campos
MM. Chronic Pain in the Elderly: Mechanisms and Perspectives. Frontiers in
Human Neuroscience. 3 Mar 2022;16:736688. DOI: 10.3389/fnhum.2022.736688
4. Ministry of Health
Malaysia, Guidelines For Pain Management In The Elderly, 2018
5. Cravello L, Di Santo
S, Varrassi G, Benincasa D, Marchettini P, de Tommaso M, et al. Chronic pain in
the elderly with cognitive decline: A narrative review. Pain and therapy.
2019;8(1):53-65.
6. Nguyen TX, Nguyen
TTH, Nguyen HTT, Nguyen TN, Nguyen HT, Ha LHV, Dinh HT, Tran LV, Nguyen AT,
Nguyen HL, Goldberg RJ, Thillainadesan J, Naganathan V, Vu HTT. Characteristics
of moderate-to- severe chronic pain and its association with daily functional
impairment among older outpatients in Vietnam. PLoS One. 2025 Nov 10;20(11):e0335234.
doi: 10.1371/journal.pone.0335234. PMID: 41212893; PMCID: PMC12599909.
7. Nguyen AT, Nguyen
THT, Nguyen TTH, Nguyen HTT, Nguyen TX, Nguyen TN, Nguyen AL, Vu LG, Do HT,
Doan LP, Vu GT, Nguyen HTT, Pham T, Vu HTT. Chronic Pain and Associated Factors
Related to Depression among Older Patients in Hanoi, Vietnam. Int J Environ Res
Public Health. 2021 Aug 31;18(17):9192. doi: 10.3390/ijerph18179192. PMID:
34501779; PMCID: PMC8431642.
SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Thuật ngữ “Sảng” -
tiếng Anh là delirium bắt nguồn từ động từ Latin là deliro - nghĩa là "trở
nên điên loạn”, xuất phát từ de + lira nghĩa là “ đi lệch khỏi quỹ đạo”. Theo
ICD-10, Sảng là một hội chứng căn nguyên không đặc hiệu đặc trưng bởi rối loạn
đồng thời ý thức, tri giác, tư duy, cảm xúc, chú ý, tâm thần vận động, trí nhớ,
chu kì thức-ngủ. Trạng thái sảng thường là nhất thời, diễn biến nhanh, thường
trong vài giờ đến vài ngày, và có xu hướng dao động trong ngày. Thời gian sảng
có thể vài ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều tháng, phần lớn các trường hợp
có thể hồi phục trong vòng dưới 4 tuần hoặc ít hơn. Sảng có thể xảy ra ở mọi
lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là ở người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.
Người bệnh mắc sảng
thường phải nằm viện lâu hơn và thường được chuyển tới các cơ sở chăm sóc dài
hạn sau khi xuất viện. Các biểu hiện hành vi của sảng có thể cản trở điều trị
và thường là yếu tố khiến người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa tâm thần để được
cung cấp, hỗ trợ xây dựng những phương pháp điều trị phù hợp, vượt ra ngoài
những can thiệp, điều trị y khoa đơn thuần.
1.2. Phân loại
1.2.1. Theo nguyên nhân
Theo Phân loại bệnh
quốc tế (ICD-10) phân loại sảng làm hai nhóm chính:
- Sảng không do rượu
hoặc các chất tác động tâm thần khác - F05: Sảng do bệnh lý cơ thể như bệnh lý
nội khoa cấp tính như nhiễm trùng (viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu), rối loạn
điện giải, suy gan cấp, suy thận cấp... Do bệnh lý thần kinh cấp tính (đột quỵ,
viêm não, xuất huyết não…).
- Sảng do rượu hoặc các
chất tác động tâm thần khác- F1x.4: Do cai rượu, ma túy, cai thuốc
Benzodiazepine, các thuốc kháng histamin, kháng cholinergic, thuốc gây mê,
opioid, chống trầm cảm…
Ngoài ra, tình trạng
sảng cũng có thể giống hoặc xuất hiện đồng thời trên các bệnh lý khác, dẫn đến
việc nhận diện sảng bị che lấp. Sảng có thể chồng lấp lên sa sút trí tuệ hoặc
các rối loạn khác gây ra suy giảm nhận thức, các triệu chứng của sảng thường bị
nhầm lẫn với bệnh lý tâm thần - thần kinh nền.
1.2.2. Theo đặc điểm
lâm sàng
- Sảng tăng động: Người
bệnh kích động, hung hăng, la hét, gây rối, bồn chồn, có thể có ảo giác, hoang
tưởng.
- Sảng giảm động: Người
bệnh giảm hoạt động, lơ mơ, thờ ơ, ngủ nhiều.
- Sảng hỗn hợp: Người
bệnh có cả biểu hiện tăng động và giảm động, thường xen kẽ nhau.
1.2.3. Theo thời gian
diễn biến
- Sảng cấp tính: Diễn
biến nhanh trong vài giờ đến vài ngày, thường kéo dài dưới một tuần.
- Sảng kéo dài: Kéo dài
nhiều tuần đến nhiều tháng, chiếm khoảng 20% các trường hợp.
1.2.4. Theo mức độ
- Sảng điển hình: Các
triệu chứng của sảng đầy đủ theo tiêu chuẩn chẩn đoán sảng.
- Sảng dưới lâm sàng:
Không đầy đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán nhưng có một số dấu hiệu và triệu chứng
đặc trưng của sảng.
1.3. Nguyên nhân và các
yếu tố nguy cơ
Sự phát triển của sảng
phụ thuộc vào sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố nguy cơ. Một số yếu tố này
có thể thay đổi được và là mục tiêu tiềm năng để dự phòng. Trong số những người
bệnh cao tuổi, sa sút trí tuệ là yếu tố nguy cơ nổi bật nhất, xuất hiện ở hai
phần ba số trường hợp sảng.
1.3.1. Các yếu tố nguy
cơ có khả năng thay đổi
- Suy giảm giác quan
(thính giác hoặc thị giác)
- Bất động (Cố định vật
lý hoặc thông khí)
- Thuốc (ví dụ, thuốc
an dịu, thuốc ngủ, thuốc gây nghiện, thuốc kháng cholinergic, corticosteroid, dùng
nhiều loại thuốc, cai rượu hoặc các loại thuốc khác)
- Các bệnh thần kinh
cấp tính (ví dụ, đột quỵ cấp tính [thường là đỉnh phải], xuất huyết nội sọ,
viêm màng não, viêm não)
- Bệnh đi kèm (ví dụ,
nhiễm trùng, biến chứng do sự cố y khoa, bệnh cấp tính nghiêm trọng, thiếu máu,
mất nước, tình trạng dinh dưỡng kém, gãy xương hoặc chấn thương, nhiễm HIV)
- Rối loạn chuyển hóa
- Phẫu thuật
- Môi trường (ví dụ,
nhập viện vào đơn vị hồi sức)
- Đau
- Căng thẳng về mặt cảm
xúc
- Mất ngủ kéo dài
1.3.2. Các yếu tố nguy
cơ không thể thay đổi
- Mất trí nhớ hoặc suy
giảm nhận thức
- Tuổi cao (>65
tuổi)
- Tiền sử sảng, đột
quỵ, bệnh thần kinh, té ngã hoặc rối loạn dáng đi
- Nhiều bệnh đi kèm
- Giới tính nam
- Bệnh thận hoặc gan
mạn tính
Các yếu tố nguy cơ cũng
có thể được phân loại thành các yếu tố tiền bệnh, các yếu tố liên quan đến bệnh
và các yếu tố sau khi nhập viện. Các yếu tố này có thể liên quan đến người bệnh
nhưng cũng có thể liên quan đến bệnh viện hoặc quá trình điều trị như thông
khí, phẫu thuật hoặc chăm sóc tích cực. Sơ đồ sau đây liệt kê các yếu tố nguy
cơ của sảng.

Sơ đồ 1: Yếu tố nguy cơ của sảng (Nguồn: Wilson, J.E.,
Mart, M.F., Cunningham, C. et al. Delirium. Nat Rev Dis Primers 6,
90. 2020)
1.4. Cơ chế bệnh sinh
Sinh lý bệnh của sảng
rất phức tạp, đa yếu tố và chưa được hiểu đầy đủ, với nhiều cơ chế khác nhau
góp phần vào các triệu chứng của hội chứng lâm sàng này. Một số bất thường đã
được mô tả và các giả thuyết khác nhau được phát triển để giải thích những thay
đổi về trong triệu chứng của sảng.
Bảng 1. Các cơ chế liên quan đến sinh lý bệnh
sảng
|
Loại
cơ chế
|
Bất
thường cụ thể
|
|
Bất
thường giải phẫu
|
Mạch máu:
Giảm lưu lượng máu ở thùy trán và thùy đỉnh và cầu não.
|
|
Cấu trúc:
Tổn thương cấu trúc vi mô ở tiểu não, hồi hải mã, đồi thị và não trước nền.
|
|
Chức
năng: Tăng sự kết hợp giữa vỏ não trước trán lưng bên và vỏ não hồi đai sau,
và giảm sự kết hợp giữa đồi thị, nhân đuôi và các vùng dưới vỏ não khác.
|
|
Mất
cân bằng chất dẫn truyền thần kinh
|
Tăng
dopamine, noradrenaline và glutamate và giảm acetylcholine.
|
|
Những
thay đổi khác nhau trong serotonin, histamine và GABA.
|
|
Viêm
|
Tăng
IL-1β, IL-6, IL-8, adiponectin và protein C dẫn đến phá vỡ hàng rào máu não,
tính thấm, quá trình chết tế bào thần kinh và rối loạn chức năng khớp
synapse.
|
|
Rối loạn
điều hòa nội tiết tố
|
Cortisol
tăng bất thường và giảm melatonin.
|
|
Khác
|
Giảm
chuyển hóa oxy hóa.
|
|
Tổn
thương cấu trúc vi mô liên quan đến tuổi tác.
|
Nguồn: Ospina JP et al: Epidemiology,
Mechanisms, Diagnosis, and Treatment of Delirium: A Narrative Review. Clin
Med Ther. 2018;1(1)
2. CHẨN ĐOÁN
2.1. Đặc điểm lâm sàng
2.1.1. Khởi phát và
diễn biến
Theo định nghĩa, sự
khởi phát của sảng là cấp tính đến bán cấp tính (vài giờ đến vài ngày) và
thường liên quan đến sự khởi phát của bệnh lý thực thể.
Triệu chứng ban đầu có
thể mờ nhạt, bao gồm: mất ngủ, dễ kích thích, giảm tập trung, bồn chồn, thờ ơ
hoặc giảm giao tiếp, tương tác xã hội. Các triệu chứng xuất hiện đa dạng, thay
đổi, dao động liên tục trong ngày, lúc xuất hiện, lúc biến mất, đặc biệt nặng
hơn vào chiều và tối.
Sảng có thể cải thiện
nhanh chóng trong vài ngày, có khả năng hồi phục hoàn toàn nếu được phát hiện,
chẩn đoán và điều trị sớm. Thời gian kéo dài rất khác nhau, từ vài giờ đến vài
tháng, với tổng thời gian tối đa theo định nghĩa là 6 tháng. Thông thường, trạng
thái sảng sẽ hồi phục trong vòng 1-2 tuần. Tuy nhiên, người cao tuổi, đặc biệt
là người có sa sút trí tuệ, quá trình hồi phục thường chậm hơn, kéo dài nhiều
ngày đến vài tuần. Một số người bệnh có thể biểu hiện các rối loạn nhận thức
kéo dài sau khi sảng thoái lui.
2.1.2. Triệu chứng lâm
sàng
Các triệu chứng của
sảng thường khá đa đạng. Các triệu chứng cốt lõi bao gồm suy giảm nhận thức và
ý thức. Chìa khóa để chẩn đoán là không có khả năng tập trung chú ý, nhận thức
hạn chế về các kích thích môi trường và phản ứng không đầy đủ với các kích
thích đó. Trong số các triệu chứng nhận thức, các rối loạn về tri giác và trí
nhớ là thường gặp nhất, cùng với rối loạn định hướng theo tình huống. Các rối
loạn tri giác bao gồm nhận nhầm và ảo giác thị giác, đôi khi cũng là ảo giác về
cảnh vật và các triệu chứng hoang tưởng. Các triệu chứng tâm thần vận động
thường bao gồm bồn chồn, nhưng cũng có thể có tình trạng giảm hoạt động rõ rệt,
trong đó sự thay đổi giữa các biểu hiện này thường xuyên xảy ra.
Các triệu chứng sảng
thường thay đổi theo thời gian và thường trầm trọng hơn vào đầu giờ tối. Ngoài
ra, người bệnh thường có phản ứng giật mình tăng đáng kể, đặc biệt là liên quan
đến các can thiệp y tế hoặc điều dưỡng.
Rối loạn ý thức và nhận
thức:
Các biểu hiện của ý thức
và nhận thức bao gồm một loạt các biểu hiện khác nhau tùy theo mức độ
- Giảm hoặc mất khả
năng định hướng về thời gian, không gian, môi trường xung quanh, khả năng định
hướng về bản thân có thể còn duy trì.
- Rối loạn tư duy: nội
dung tư duy không liên quan ở mức độ nhất định, tư duy nhịp nhanh hoặc chậm.
- Giảm khả năng tập
trung, duy trì, phân phối chú ý, dễ bị xao nhãng bởi các kích thích nhỏ xung
quanh.
Trí nhớ: khó ghi nhớ,
tái hiện các thông tin mới, giảm trí nhớ tức thì và trí nhớ gần, trí nhớ xa còn
tương đối duy trì.
- Giảm khả năng giải
quyết vấn đề và rối loạn chức năng điều hành.
Rối loạn tâm thần vận
động
Các triệu chứng đa dạng
bao gồm tăng hưng phấn, tăng hoạt động, nói nhiều, nói nhanh; hoặc thờ ơ, giảm
năng lượng, giảm hoạt động, tương tác, giao tiếp. Ngoài ra người bệnh có thể
biểu hiện dễ cáu kỉnh, tăng cảnh giác, hoảng sợ, lo âu, bồn chồn. Ở các mức độ
nghiêm trọng hơn, người bệnh có thể la hét, kích động, hung hăng, chống đối,
tấn công.
Triệu chứng loạn thần
và tri giác
Ảo giác (thường là ảo
thị), ảo tưởng, nhận nhầm, hoang tưởng bị theo dõi, bị hại, bị thiệt hại xảy ra
ở ≥ 40% trường hợp.
Rối loạn nhịp thức -
ngủ
Người bệnh có thể giảm
thời lượng giấc ngủ, chu kỳ thức - ngủ đảo ngược: buồn ngủ, ngủ nhiều về ban
ngày, không ngủ ban đêm. Trong những trường hợp trầm trọng có thể mất toàn bộ
giấc ngủ.
Triệu chứng cơ thể và
dấu hiệu thần kinh khu trú
Các triệu chứng cơ thể
ở người bệnh sảng thường gặp là: sốt hoặc hạ thân nhiệt, dấu hiệu nhiễm trùng,
đau, mất nước, rối loạn điện giải, hạ hoặc tăng đường huyết, suy hô hấp, suy
gan, suy thận.
Dấu hiệu thần kinh khu
trú có thể xuất hiện trong trường hợp sảng do nguyên nhân tổn thương thần kinh
trung ương (như đột quỵ, xuất huyết não, u não): yếu hoặc liệt nửa người, mất
ngôn ngữ, nhìn đôi, rối loạn thị trường, hoặc bất thường về dáng đi, thăng
bằng…
Theo biểu hiện triệu
chứng, sảng được chia thành 3 nhóm chính bao gồm.
+ Sảng tăng động: Người
bệnh có biểu hiện kích động và hoạt động giao cảm tăng lên. Họ có thể có biểu
hiện ảo giác, ảo tưởng và đôi khi có hành vi chống đối hoặc không hợp tác. Các
biểu hiện khác có thể bao gồm: Tăng cảnh giác, dễ giật mình, cáu kỉnh, gây hấn,
thiếu kiên nhẫn, không hợp tác, hưng phấn, tức giận, bồn chồn, phản ứng vận
động nhanh, mất tập trung, đi lại lộn xộn, nói nhanh hoặc to; chửi thề, hát,
cười; nói và suy nghĩ miên man, ác mộng.
+ Sảng giảm động: Người
bệnh buồn ngủ nhiều hơn và giảm sự tỉnh táo. Người bệnh thường nói ít, nói
chậm, lờ đờ, chuyển động chậm, nhìn chằm chằm, thờ ơ. Sảng giảm động rất nguy
hiểm vì thường không được phát hiện hoặc nhầm với tình trạng mệt mỏi hoặc trầm
cảm. Tình trạng này liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn.
+ Sảng hỗn hợp: Người
bệnh có thể dao động giữa các biểu hiện tăng động và giảm động .
2. Chẩn đoán:
2.1. Đặc điểm lâm sàng:
Chẩn đoán sảng chủ yếu bằng các đánh giá lâm sàng.
Quá trình chẩn đoán bao gồm hai bước cơ bản:
- Đầu tiên, đánh giá lâm
sàng được thực hiện để xác định mức độ chú ý và tỉnh táo cũng như sự hiện diện
của các bất thường nhận thức khác, các đặc điểm loạn thần hoặc các bất thường
về trạng thái tâm thần khác. Các yếu tố gợi ý chẩn đoán là: Không có khả năng
tập trung sự chú ý, mất khả năng tư duy rõ ràng và mạch lạc như thông thường,
nhận thức hạn chế và phản ứng không đầy đủ về các kích thích môi trường, rối
loạn nhận thức như rối loạn tri giác và trí nhớ, thường gây rối loạn định hướng
theo tình huống.
- Thứ hai, bằng chứng
về sự thay đổi cấp tính so với sự chú ý và nhận thức ban đầu, có thể dao động
về mức độ hiện diện và mức độ nghiêm trọng, các biểu hiện này có thể có được
thông quan thăm khám người bệnh, thông tin từ người chăm sóc hoặc nhân viên
biết người bệnh, từ hồ sơ bệnh án hoặc ít phổ biến hơn là từ trải nghiệm của
chính bác sĩ lâm sàng về người bệnh. Bác sĩ lâm sàng cũng có thể suy ra rằng có
sự thay đổi cấp tính trong một số trường hợp, ví dụ, nếu có tình trạng buồn ngủ
cấp tính đáng kể ở người bệnh bình thường có chức năng độc lập.
2.2. Chẩn đoán:
Việc chẩn đoán sảng cần
dựa trên triệu chứng lâm sàng, kết hợp khai thác diễn biến cấp tính, dao động
và các biểu hiện rối loạn chú ý - nhận thức. Hai hệ thống tiêu chuẩn được sử
dụng phổ biến là ICD-10 và DSM-V.
Theo ICD-10, để chẩn
đoán xác định, các triệu chứng, nhẹ hoặc nặng, phải có ở mỗi một lĩnh vực trong
các lĩnh vực sau:
- Tật chứng về ý thức
và sự chú ý (đi từ lơ mơ đến hôn mê; giảm khả năng định hướng tập trung, duy
trì và thay đổi sự chú ý).
- Rối loạn toàn bộ nhận
thức (lệch lạc tri giác, ảo tưởng và ảo giác - phần lớn là thị giác); suy giảm
tư duy trừu tượng và thông hiểu; có hoặc không kèm theo hoang tưởng xuất thời;
những điển hình là tư duy không liên quan ở mức độ nhất định; suy giảm trí nhớ
tái hiện gần và tức thì nhưng trí nhớ xa vẫn tương đối còn duy trì; mất định
hướng về thời gian, và cả về không gian và nhân vật trong những trường hợp trầm
trọng hơn.
- Rối loạn tâm thần vận
động (giảm hoặc tăng hoạt động và những chuyển đổi bất ngờ từ cái này sang cái
kia; thời gian phản ứng tăng; tăng hoặc giảm dòng ngôn ngữ; phản ứng giật mình
tăng lên).
- Rối loạn chu kỳ thức -
ngủ (mất ngủ, hoặc trong những trường hợp trầm trọng, mất toàn bộ giấc ngủ hoặc
chu kỳ thức ngủ đảo ngược; buồn ngủ ban ngày; triệu chứng xấu hơn về ban đêm,
các giấc mơ hoặc ác mộng có thể tiếp tục như những ảo giác sau thực giấc).
- Rối loạn cảm xúc như
trầm cảm, lo âu, lo sợ, cáu kỉnh, khoái cảm, vô cảm hoặc bàng hoàng ngơ ngác.
Khởi phát thường nhanh,
tiến triển dao động trong ngày và toàn bộ thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng. Bệnh
cảnh lâm sàng trên đặc trưng tới mức có thể làm chẩn đoán về sảng khá tin cậy
mặc dù nguyên nhân nằm bên dưới không được xác định rõ ràng. Thêm vào một bệnh
sử của bệnh não hoặc bệnh cơ thể nằm bên dưới, bằng chứng về rối loạn chức năng
não cần phải có nếu chẩn đoán còn nghi ngờ (ví dụ, điện não đồ không bình
thường, thường cho thấy hoạt động sóng cơ bản bị chậm, nhưng không phải lúc nào
cũng vậy)1.
Theo Sổ tay chẩn đoán
và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM 5), sảng được chẩn đoán bằng các tiêu
chuẩn:
A. Rối loạn sự chú ý
(tức là giảm khả năng tập trung, duy trì và chuyển hướng sự chú ý) và ý thức
(giảm định hướng môi trường).
B. Rối loạn phát triển
trong thời gian ngắn (thường trong vòng vài giờ đến vài ngày), bao gồm sự thay
đổi về mức độ chú ý cơ bản và cảnh tỉnh và có xu hướng dao động về mức độ
nghiêm trọng trong suốt cả ngày.
C. Ngoài ra, có thể có
các triệu chứng nhận thức khác (ví dụ: rối loạn trí nhớ, mất định hướng, ngôn
ngữ, rối loạn khả năng thị giác không gian hoặc tri giác).
D. Các rối loạn trong
tiêu chí A và C không thể được giải thích tốt hơn bằng các rối loạn nhận thức
khác đã tồn tại hoặc đang phát triển (mất trí); không có bối cảnh nào về sự
giảm nghiêm trọng mức độ thức tỉnh, như hôn mê.
E. Có bằng chứng từ
bệnh sử, khám lâm sàng hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy rối loạn này là hậu quả
trực tiếp của bệnh lý cơ thể, ngộ độc hoặc cai nghiện chất (ví dụ: chất gây
nghiện hoặc thuốc), tiếp xúc với độc tố hoặc là hậu quả của nhiều nguyên nhân
khác nhau.
Sau khi chẩn đoán, việc
đánh giá thêm người bệnh để có thêm thông tin chi tiết về hồ sơ cá nhân của hội
chứng sảng, bao gồm các đặc điểm như ảo tưởng, ảo giác hoặc thay đổi cảm xúc,
là rất quan trọng vì thông tin này ảnh hưởng đến kế hoạch quản lý cụ thể 2.
Chẩn đoán phân biệt:
Sảng cần được phân biệt
với các hội chứng thực tổn khác đặc biệt với sa sút trí tuệ (F00 - F03); với
các trạng thái loạn thần cấp diễn nhất thời (F23-); với các trạng thái cấp của
tâm thần phân liệt (F20-) hoặc rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30 - F39) trong đó
những biểu hiện về nhận thức có thể xuất hiện. Sảng do rượu và các chất tác
động tâm thần khác nên được xếp loại ở mục thích hợp hơn (F1x.4).
2.3. Cận lâm sàng và
chẩn đoán nguyên nhân
Các chỉ định cận lâm
sàng nhằm xác định nguyên nhân gây sảng (ví dụ: nhiễm trùng, rối loạn điện
giải, suy tạng…), loại trừ các bệnh lý có các biểu hiện giống sảng (đột quỵ não,
viêm màng não, viêm não, …) và đánh giá các yếu tố thúc đẩy như thiếu vitamin,
rối loạn nội tiết. Tùy theo định hướng nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy của
sảng để chỉ định các xét nghiệm 6.
Nếu nguyên nhân gây
sảng không rõ ràng, phải làm rõ nguyên nhân cơ thể càng sớm càng tốt. Tiền sử
bệnh, sử dụng thuốc rất quan trọng; cần đặc biệt chú ý đến các chất tác động
lên hệ thần kinh trung ương và rượu. Khám thực thể bao gồm tình trạng cơ thể và
thần kinh, kiểm tra bụng (bí tiểu, tắc ruột) và xương và khớp là bắt buộc, vì
đau do gãy xương có thể là nguyên nhân.
Các giá trị xét nghiệm
bao gồm đường huyết, điện giải, chức năng gan và thận, công thức máu, men tim,
tình trạng tiết niệu, hormone tuyến giáp, các thông số viêm và đôi khi có thể
xét nghiệm nồng độ vitamin B12, cortisol máu hoặc xét nghiệm độc chất và định
lượng thuốc khi nghi ngờ ngộ độc, quá liều hoặc tương tác thuốc.
Chụp X-quang và siêu âm
có thể bổ sung cho khám thực thể. Điều quan trọng là một số biểu hiện sảng là
do các rối loạn hệ thần kinh trung ương nguyên phát gây ra và trong một số ít
trường hợp mà các đặc điểm gợi ý khả năng này, nhiều thăm dò não đặc hiệu bao
gồm chụp CT và MRI, EEG, chọc dịch não tủy và xét nghiệm kháng thể đối với viêm
não tự miễn, được chỉ định. Nên tránh các xét nghiệm không hứa hẹn bất kỳ kết
quả điều trị nào, vì chúng có thể gây thêm căng thẳng cho người bệnh.
2.4. Các thang đánh giá
Trong thực hành lâm
sàng và trong một số nghiên cứu, quá trình chẩn đoán và đánh giá dựa trên tiêu
chuẩn chẩn đoán mà không sử dụng các công cụ bổ sung, mặc dù các công cụ thường
được sử dụng để chính thức hóa và giúp chuẩn hóa đánh giá. Hơn 50 công cụ đánh
giá trạng thái sảng đã được phát triển, với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm
sử dụng theo đợt khi lần đầu tiên biểu hiện hoặc vào những thời điểm khác khi
nghi ngờ trạng thái sảng, theo dõi thường xuyên trạng thái sảng mới khởi phát ở
người bệnh nội trú (thường được thực hiện hàng ngày hoặc thường xuyên hơn), để
sàng lọc 'siêu ngắn', để đánh giá hiện tượng học và/hoặc thần kinh học chi tiết
và để đo mức độ nghiêm trọng của trạng thái sảng 3.
2.4.1. Đánh giá tình
trạng sảng ở đơn vị đa khoa.
Confusion Assessment
Method (CAM)
Phương pháp đánh giá lú
lẫn (CAM) dựa trên bốn đặc điểm từ tiêu chuẩn sửa đổi DSM-III: khởi phát cấp
tính và diễn biến dao động (tiêu chuẩn A), mất tập trung chú ý (tiêu chuẩn B),
tư duy không mạch lạc (tiêu chuẩn C) và mức độ ý thức (tiêu chuẩn D). Những
người đánh giá được đào tạo thực hiện một bài kiểm tra nhận thức, sau đó phỏng
vấn và chấm điểm từng đặc điểm là có hoặc không có, toàn bộ quá trình mất 5-10
phút. Điểm CAM dương tính yêu cầu sự hiện diện của tiêu chí A và B và một hoặc
cả hai tiêu chí C và D.
4AT (4 A’s Test)
Dùng để sàng lọc nhanh
sảng (chỉ mất vài phút). Đánh giá: mức độ thức tỉnh, chú ý, thay đổi cấp tính
hoặc dao động, khả năng định hướng. Thích hợp sử dụng tại khoa nội, hồi sức,
cấp cứu và lão khoa.
2.4.2. Theo dõi tình
trạng sảng mới khởi phát ở người bệnh nội trú
Các công cụ theo dõi
tình trạng sảng mới khởi phát ở người bệnh nội trú được sử dụng thường xuyên và
liên tục, một lần hoặc nhiều lần mỗi ngày, trên cơ sở liên tục. Các sàng lọc có
thể bao gồm các biến thể với 1 câu hỏi duy nhất về tình trạng sảng là:
"Người đó có bị lú lẫn hoặc buồn ngủ hơn bình thường không?" Các công
cụ đánh giá mức độ kích động bao gồm Thang sàng lọc kích động Richmond (RASS)
và RASS đã sửa đổi.
Công cụ Nhận biết trạng
thái sảng cấp tính như một phần của thói quen (RADAR) nhắc nhở các điều dưỡng
tìm kiếm bất kỳ thay đổi nào về chức năng nhận thức và mức độ tỉnh táo tại thời
điểm dùng thuốc tại khoa. Ngoài ra còn có một số công cụ theo dõi dài hơn được
thiết kế để các điều dưỡng hoàn thành vào cuối mỗi ca, bao gồm Thang đo sàng
lọc quan sát trạng thái sảng (DOS) và Thang đo sàng lọc trạng thái sảng điều
dưỡng (Nu-DESC). Đối với hầu hết các công cụ theo dõi, độ nhạy hoặc độ đặc hiệu
đều bị hạn chế, do đó, khuyến cáo rằng điểm số dương tính với bất kỳ công cụ
nào trong số này nên được theo dõi bằng một công cụ theo đợt xác định hơn hoặc
bằng đánh giá chẩn đoán.
2.4.3. Công cụ sàng lọc
siêu ngắn
Các công cụ này được
thiết kế để đánh giá nhanh người bệnh tại giường, thường mất chưa đến một phút
để thực hiện. Chúng có thể được sử dụng để đánh giá ngắn, sau đó là đánh giá
chi tiết hơn nếu có kết quả dương tính. Ví dụ, đánh giá khả năng đánh vần ngược
của người bệnh với từ “hương” và cũng ghi chú xem họ có mức độ kích thích thay
đổi không. Công cụ sàng lọc siêu ngắn 2 mục (UB-2) được thiết kế dưới dạng sàng
lọc trạng thái sảng 2 mục <1 phút bao gồm 2 câu hỏi: "Vui lòng cho tôi biết
ngày trong tuần?" và "Vui lòng cho tôi biết các tháng trong năm ngược
lại bắt đầu từ tháng 12?" Nếu trả lời sai bất kỳ câu hỏi nào, thì nghi ngờ
trạng thái sảng và một công cụ theo từng đợt xác định hơn sẽ được thực hiện.
2.4.4. Đánh giá trạng
thái sảng trong ICU
CAM dành cho ICU
(CAM-ICU) và Danh sách kiểm tra sàng lọc trạng thái sảng trong chăm sóc tích
cực (ICDSC) đã được chứng minh là những công cụ hợp lệ và đáng tin cậy nhất để
đánh giá trạng thái sảng ở người lớn bị bệnh nặng.
CAM-ICU được thiết kế
riêng để sử dụng cho những người bệnh bị bệnh nặng, bao gồm cả những người bệnh
thở máy, khi nghi ngờ bị trạng thái sảng; tuy nhiên, những người phát triển
công cụ khuyến nghị rằng đánh giá được thực hiện một lần hoặc nhiều lần mỗi
ngày. CAM-ICU bao gồm bốn mục CAM và một thuật toán chấm điểm, với sự khác biệt
là sự chú ý và tư duy vô tổ chức được đánh giá bằng các bài kiểm tra nhận thức
ngắn và các câu hỏi phỏng vấn có/không.
ICDSC bao gồm tám đặc
điểm: mức độ ý thức, mất tập trung chú ý, mất định hướng, loạn thần, thay đổi
tâm thần vận động, thay đổi lời nói hoặc cảm xúc, rối loạn chu kỳ ngủ-thức và
dao động triệu chứng. Mỗi mục được đánh giá là 0 (không có) hoặc 1 (có) vào
cuối mỗi ca điều dưỡng, với điểm số ≥4 được coi là chỉ ra trạng thái sảng.
2.5. Tiếp cận lâm sàng
Trên lâm sàng việc đánh
giá, chẩn đoán người bệnh sảng nên được thực hiện theo từng bước bao gồm: Tầm
soát, xác nhận chẩn đoán, xác định nguyên nhân, áp dụng can thiệp không dùng
thuốc, áp dụng can thiệp hóa dược, điều trị nguyên nhân, theo dõi tiến triển.
Bảng 2. Các bước đánh giá và điều trị người
bệnh sảng
|
Bước
|
Nội dung cần thực hiện
|
Công cụ / Gợi ý
|
|
|
1. Tầm
soát
|
Nghi sảng
khi có thay đổi cấp tính về chú ý, nhận thức, mức độ tỉnh táo
|
4AT (<2
phút), UB-2, RASS…
|
|
|
|
2. Xác
nhận
chẩn
đoán
|
Dựa tiêu
chuẩn DSM-5 hoặc ICD-10, dao động trong ngày là dấu hiệu đặc trưng
|
CAM hoặc
CAM-ICU…
|
|
|
3. Tìm
nguyên
nhân
|
Tìm yếu
tố thúc đẩy và căn nguyên: nhiễm trùng, rối loạn điện giải, thuốc, bí tiểu,
táo bón, đau, thiếu oxy…
|
Xét
nghiệm, hình ảnh
học, xem
lại đơn thuốc…
|
|
|
4. Áp
dụng
can
thiệp
không
dùng
thuốc
|
Biện pháp
cốt lõi, áp dụng ngay cả trước khi có nguyên nhân rõ ràng
|
Xem phần điều trị không dùng thuốc
|
|
|
5. Cân
nhắc
điều
trị bằng
thuốc
|
Không
dùng thường quy, dùng khi lời ích lớn hơn nguy cơ, có sự đánh giá thường
xuyên
|
Xem phần
điều trị bằng thuốc
|
|
|
6.
Điều trị
nguyên
nhân
|
Xử trí
nhiễm trùng, điều chỉnh điện giải, cai thuốc gây sảng…
|
Phù hợp từng bệnh nhân
|
|
|
7.
Theo dõi
diễn
biến
|
Theo dõi
diễn biến các triệu chứng sảng và nguyên nhân gây sảng
|
Thang
điểm đánh giá sảng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh…
|
|
3. QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ
3.1. Nguyên tắc chung
Điều trị sảng ở người
cao tuổi cần toàn diện, kết hợp giữa các biện pháp không dùng thuốc và dùng
thuốc, ưu tiên can thiệp sớm và cá thể hóa theo nguyên nhân, mức độ sảng và
tình trạng bệnh lý nền của người bệnh 7,8.
Mục tiêu chính: phục
hồi, cải thiện chức năng nhận thức, giảm rối loạn hành vi, hạn chế biến chứng
và tử vong.
3.2. Điều trị trong môi
trường đa khoa
Phương pháp được ủng hộ
nói chung là điều trị đa thành phần chủ yếu bao gồm các can thiệp không dùng
thuốc trừ các liệu pháp được sử dụng để điều trị các nguyên nhân tiềm ẩn của
sảng (ví dụ, thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng).
3.2.1. Các biện pháp
can thiệp không dùng thuốc
Các can thiệp không
dùng thuốc thường là các hỗ trợ môi trường và hành vi có thể bao gồm:
+ Tạo môi trường yên
tĩnh, ánh sáng phù hợp ngày - đêm.
+ Hỗ trợ định hướng:
cung cấp đồng hồ, lịch, bảng tên, tương tác với người thân
+ Hạn chế các yếu tố
gây rối loạn giấc ngủ: hạn chế lấy dấu hiệu sinh tồn ban đêm (trừ trường hợp
cần thiết), tránh tiếng ồn, không dùng TV ban đêm.
+ Tối ưu chức năng các
giác quan: đảm bảo người bệnh có kính, máy trợ thính, phiên dịch viên nếu có.
+ Tăng cường vận động:
hỗ trợ vận động sớm, khuyến khích tự chăm sóc và giao tiếp thường xuyên.
+ Tránh sử dụng các
biện pháp hạn chế về mặt vật lý, dây buộc và chuông báo động trên giường, vì
chúng có thể làm tăng tình trạng sảng và kích động.
+ Hỗ trợ ăn uống, phòng
ngừa táo bón và bí tiểu.
Cũng như các khía cạnh
khác của việc chăm sóc sảng, các can thiệp giáo dục có thể dẫn đến cải thiện
quá trình chăm sóc. Mặc dù thiếu bằng chứng xác đáng, các đánh giá này cho thấy
các can thiệp giáo dục có thể là một cách tiếp cận hiệu quả để cải thiện việc
thực hiện, cần được đánh giá trong các thử nghiệm lớn hơn.
3.2.2. Các biện pháp
can thiệp không dùng thuốc
- Việc sử dụng thuốc
như một phác đồ thường quy là không được khuyến cáo. Thuốc chống loạn thần hoặc
các loại thuốc khác không được khuyến cáo là một phần thường quy của phương
pháp điều trị cụ thể cho sảng nhưng có thể được xem xét nếu các triệu chứng kéo
dài dai dẳng và gây suy giảm chức năng mà các phương pháp tiếp cận khác không
thành công.
- Thuốc chống loạn thần
là nhóm thuốc được nghiên cứu nhiều nhất để điều trị sảng. Thuốc chống loạn
thần từ lâu đã được coi là trụ cột điều trị kích động trong sảng. Nhìn chung,
các nghiên cứu chỉ ra rằng các thuốc chống loạn thần không có tác dụng đối với
mức độ nghiêm trọng của sảng, khả năng phục hồi triệu chứng hoặc tỷ lệ tử vong;
thậm chỉ có một số bằng chứng về tác dụng không mong muốn của của Haloperidol
và Risperidone.
- Melatonin và chất chủ
vận thụ thể Melatonin là Ramelteon cũng đã được đánh giá là phương pháp điều
trị sảng (cụ thể là sự gián đoạn chu kỳ ngủ-thức), nhưng cho đến nay vẫn chưa
có bằng chứng nhất quán nào hỗ trợ việc sử dụng các tác nhân này trong thực
hành lâm sàng.
- Dexmedetomidine như
một liệu pháp được sử dụng khi Haloperidol không hiệu quả trong kích động thứ
phát do sảng ở những người bệnh bệnh nặng không thở máy cho thấy
Dexmedetomidine có hiệu quả, độ an toàn và chi phí lợi ích tốt hơn Haloperidol.
3.3. Điều trị trong đơn
vị hồi sức
Các điều trị can thiệp
trong đơn vị hồi sức cũng là các can thiệp đa mô thức. Các chiến lược điều trị
và phòng ngừa này đã được đưa vào một quy trình chăm sóc, chẳng hạn như chương
trình ABCDEF tập trung vào các yếu tố nguy cơ của sảng, giúp thúc đẩy người
bệnh tỉnh táo và thở tự nhiên, có thể di chuyển.
Bảng 3. Các yếu tố nguy cơ gây sảng được nhắm
mục tiêu theo chương trình ABCDEF
|
ABCDEF
|
Tiếp cận
|
Yếu tố nguy cơ sảng
|
|
A
|
Đánh giá,
ngăn ngừa và kiểm soát cơn đau
|
Đau không
được điều trị; an thần quá mức do thuốc giảm đau
|
|
B
|
Cả thử
nghiệm thức dậy tự phát và thử nghiệm thở tự phát
|
An thần
quá mức; thông khí cơ học
|
|
C
|
Lựa chọn
thuốc an thần và giảm đau
|
An thần
quá mức do thuốc giảm đau; an thần quá mức do thuốc an thần; tiếp xúc với
thuốc an thần gây mê (ví dụ, benzodiazepin)
|
|
D
|
Sảng: đánh
giá, phòng ngừa và quản lý
|
Chu kỳ
ngủ-thức rối loạn; khiếm thị và khiếm thính; Các yếu tố nguy cơ sảng không
được nhận biết khác
|
|
E
|
Vận động
và tập thể dục sớm
|
Bất động
|
|
F
|
Sự tham
gia và trao quyền cho gia đình
|
Rối loạn
định hướng
|
Nguồn: Wilson, J.E., Mart, M.F., Cunningham, C.
et al. Delirium. Nat Rev Dis Primers 6, 90 (2020)
Điều trị hóa dược
Mặc dù là khuyến cáo
luôn luôn được áp dụng, việc quản lý không dùng thuốc không phải lúc nào cũng
hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị sảng và do đó các bác sĩ lâm sàng
thường cố gắng quản lý sảng bằng các phương pháp hóa dược.
Thuốc chống loạn thần
Các nhóm thuốc chống
loạn thần thường được sử dụng nhất để quản lý sảng trong ICU. Tuy nhiên các
bằng chứng ủng hộ cho các thuốc chống loạn thần là không nhiều. Một nghiên cứu
khả thi trên 103 người bệnh thở máy có hoặc không sảng được chỉ định ngẫu nhiên
dùng Haloperidol, Ziprasidone hoặc giả dược không tìm thấy sự khác biệt về kết
quả giữa các nhóm điều trị. Một nghiên cứu khác đã so sánh Haloperidol và giả
dược trên người bệnh ICU thở máy bị sảng hoặc có nguy cơ cao bị sảng và thấy
rằng số ngày sống không bị sảng hoặc hôn mê là tương tự nhau ở hai nhóm điều
trị, mặc dù tình trạng kích động thấp hơn ở nhóm haloperidol. Dựa trên những dữ
liệu này, hướng dẫn PADIS của Hiệp hội Y học Chăm sóc Đặc biệt (SCCM) đã đưa ra
khuyến nghị sau: “Chúng tôi đề xuất không nên thường xuyên sử dụng Haloperidol
(hoặc) thuốc chống loạn thần không điển hình… để điều trị sảng (khuyến nghị có
điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)”. Nghiên cứu Sửa đổi Tác động của Rối
loạn chức năng Thần kinh-Tâm lý-Hoa Kỳ (MIND-USA), thử nghiệm ngẫu nhiên lớn
nhất để kiểm tra các loại thuốc chống loạn thần để điều trị chứng sảng trong
thời gian mắc bệnh hiểm nghèo, đã được công bố. MIND-USA đã so sánh
Haloperidol, Ziprasidone và giả dược ở 566 người bệnh ICU bị sảng và không tìm
thấy tác dụng điều trị đáng kể nào đối với các kết quả chính, bao gồm số ngày
sống và không sảng hoặc hôn mê, hoặc đối với nhiều kết quả phụ, bao gồm thời
gian sảng, sảng giảm hoạt động hoặc sảng tăng hoạt động.
Hơn nữa, một đánh giá
có hệ thống năm 2019 về 16 thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên và 10 nghiên cứu
quan sát không tìm thấy sự khác biệt nào về kết quả (như mức độ nghiêm trọng
của sảng, trạng thái an thần, thời gian sảng, thời gian nằm viện, chức năng
nhận thức hoặc tỷ lệ tử vong) giữa Haloperidol và thuốc chống loạn thần thế hệ
thứ hai so với giả dược.
Chỉ có một thử nghiệm
có đối chứng giả dược phát hiện ra rằng thuốc chống loạn thần có thể có hiệu
quả như một phương pháp điều trị sảng. Trong thử nghiệm này, 36 người bệnh ICU
bị sảng đang dùng Haloperidol được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng thuốc
chống loạn thần không điển hình Quetiapine hoặc giả dược, với phương pháp điều
trị bằng Quetiapine dẫn đến thời gian hồi phục sảng đầu tiên ngắn hơn so với
giả dược. Cần có một thử nghiệm xác nhận lớn hơn trước khi Quetiapine có thể
được khuyến nghị là phương pháp điều trị thường quy cho sảng trong ICU 3.
Thuốc chống co giật,
thuốc giải lo âu và thuốc chống trầm cảm
Do tác ít ảnh hưởng
trên QT của điện tâm đồ, tác dụng trên nhiều hệ thống dẫn truyền thần kinh và
sử dụng trong kích động thứ phát sau các rối loạn khác, chẳng hạn như chấn
thương sọ não, axit valproic đã được đề xuất như một giải pháp thay thế cho
thuốc chống loạn thần trong việc kiểm soát các triệu chứng lâm sàng của sảng
tăng động và hỗn hợp, đặc biệt là trong các trường hợp liệu pháp thông thường
không đầy đủ hoặc hạn chế. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho rằng hiệu quả của nó
chỉ giới hạn trong loạt các trường hợp nhỏ và một nghiên cứu hồi cứu, cho thấy
sự cải thiện các triệu chứng sảng sau khi điều trị. Các loại thuốc chống co
giật khác, chẳng hạn như carbamazepine và gabapentin, chưa được nghiên cứu để
điều trị sảng. Hiện tại không có bằng chứng ủng hộ việc sử dụng benzodiazepines
trong điều trị sảng không liên quan đến rượu hoặc hội chứng cai thuốc chủ vận GABA,
nhưng đôi khi chúng có thể được sử dụng như một chất bổ trợ với haloperidol, cả
để giảm kích động nặng cũng như ngăn ngừa các triệu chứng ngoại tháp. Trong số
các loại thuốc chống trầm cảm, trazodone đã được sử dụng do đặc tính an thần
của nó, nhưng có rất ít bằng chứng ủng hộ việc sử dụng nó.
Chất chủ vận adrenergic
alpha-2
Chất chủ vận Adrenergic
alpha-2 là các hợp chất tác dụng trung tâm làm giảm hoạt động Noradrenergic;
Chúng đặc biệt hấp dẫn trong việc kiểm soát sự kích động trong môi trường bệnh
viện do không ảnh hưởng đến động lực hô hấp. Ban đầu được sử dụng như một thuốc
hạ huyết áp tác dụng trung tâm, Clonidine đôi khi được sử dụng để an thần trong
các cơ sở chăm sóc đặc biệt, mặc dù thiếu các thử nghiệm lâm sàng hỗ trợ việc
sử dụng nó, thường bị hạn chế bởi hạ huyết áp có ý nghĩa lâm sàng.
Dexmedetomidine, có tính chọn lọc gấp 7-8 lần so với Clonidine đối với các thụ
thể Alpha-2 và Alpha-1, có ít tác dụng phụ hơn Clonidine đối với nhịp tim và
huyết áp. Tuy nhiên, những điều này vẫn phổ biến và việc sử dụng
Dexmedetomidine hiện chỉ giới hạn trong các đơn vị hồi sức. Vì nguy cơ nhịp tim
chậm và hạ huyết áp có thể ít nhất một phần liên quan đến việc có dùng liều nạp
hay không, có thể sử dụng các phác đồ dùng liều cụ thể để giảm thiểu nguy cơ hạ
huyết áp. Dexmedetomidine ngày càng được nghiên cứu như một phương pháp điều
trị sảng, với một thử nghiệm ngẫu nhiên nhưng nhãn mở cho thấy khả năng cao hơn
Haloperidol trong điều trị người bệnh sảng, đặt nội khí quản, và một thử nghiệm
gần đây, ngẫu nhiên và có đối chứng giả dược cho thấy sự gia tăng số giờ không
cần máy thở ở những người bệnh đặt nội khí quản bị sảng kích động hạn chế rút
nội khí quản.
Ba thử nghiệm ngẫu
nhiên đa trung tâm riêng biệt phát hiện ra rằng những người bệnh ICU thở máy
được dùng thuốc an thần bằng chất chủ vận thụ thể α2- adrenergic tác dụng lên
trung tâm là Dexmedetomidine ít bị sảng hơn những người bệnh được dùng thuốc an
thần GABAergic, chẳng hạn như Benzodiazepin hoặc propofol. Trong một thử nghiệm
có đối chứng giả dược để đánh giá xem Dexmedetomidine có hiệu quả trong điều
trị sảng kích động ngăn cản việc rút ống nội khí quản ở 74 người bệnh ICU thở
máy hay không, sảng đã hồi phục sớm hơn 16 giờ (40%) và việc rút ống nội khí
quản diễn ra sớm hơn (trung bình là 17 giờ) ở những người bệnh được điều trị
bằng dexmedetomidine so với những người bệnh dùng giả dược. Do đó, hướng dẫn
của SCCM PADIS khuyến nghị “sử dụng Dexmedetomidine để điều trị sảng ở người
lớn thở máy khi tình trạng kích động ngăn cản việc cai máy/rút ống nội khí quản
(khuyến nghị có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)”.
Bảng 3. Quản lý dược lý kích động ở người bệnh
sảng
|
Thuốc
|
Lợi ích
|
Tác dụng phụ
|
Cân nhắc đặc biệt
|
|
Thuốc chống loạn thần
|
Một số có
sẵn dưới
dạng chế
phẩm tiêm
bắp
và/hoặc tiêm
tĩnh
mạch để khởi phát/ hiệu quả nhanh hơn. Hữu ích cho sự kích động cấp tính.
|
Tác dụng
phụ ngoại
tháp
(run, loạn trương
lực, rối
loạn vận động
muộn,
bồn chồn bất an); kéo dài khoảng QTc, tăng Prolactin, tác dụng kháng cholinergic (tác dụng
phụ khác nhau giữa các thuốc khác nhau).
|
Người
bệnh cao tuổi có nguy cơ cao bị tác dụng phụ ngoại tháp; Cảnh báo FDA về:
tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân sa sút trí tuệ.
|
|
Thuốc chỉnh khí sắc (Axit Valproic)
|
Một số
bằng chứng để
hỗ trợ
việc sử dụng
trong
điều trị triệu
chứng
kích thích; ít
bằng
chứng về sảng.
|
Tăng men
gan/ độc tính gan, viêm tụy, giảm tiểu cầu, tăng cân (sử dụng mãn tính), run,
mất điều vận.
|
Có thể
được sử dụng
với
khuyến cáo bậc hai
hoặc thứ
ba để kiểm
soát
kích động khi việc
sử dụng
thuốc chống loạn thần bị hạn chế bởi tác dụng phụ hoặc không hiệu quả. Có thể
hữu ích nếu lo lắng về
bệnh
động kinh đi
kèm.
|
|
Trazodone
|
Đạt được
an thần từ nhẹ đến trung bình với ít tác dụng phụ hơn thuốc chống loạn thần.
|
Hạ huyết
áp.
|
Có thể an
toàn hơn thuốc an thần kinh (ở liều thấp) ở người bệnh cao tuổi.
|
|
Dexmedeto midine
|
An thần
khởi phát
nhanh
chóng và dễ
dàng đảo
ngược (ở liều thấp hơn).
|
Nhịp tim chậm, hạ huyết áp.
|
Giới hạn
trong các cơ sở chăm sóc đặc biệt.
|
Nguồn: Ospina JP et al: Epidemiology,
Mechanisms, Diagnosis, and Treatment of Delirium: A Narrative Review. Clin
Med Ther. 2018;1(1)
3.4. Phối hợp đa ngành
trong quản lý sảng
- Quản lý sảng hiệu quả
ở người cao tuổi cần phối hợp nhiều chuyên ngành nhằm tối ưu hóa can thiệp,
giảm thời gian sảng và hạn chế biến chứng:
- Tâm thần: chẩn đoán
sảng, đánh giá loạn thần, kích động, chỉ định và điều chỉnh thuốc chống loạn
thần khi cần thiết; tư vấn các biện pháp quản lý hành vi.
- Lão khoa: đánh giá
lão khoa toàn diện bao gồm yếu tố nguy cơ, bệnh lý nền, tối ưu hóa điều trị.
- Bác sĩ hồi sức: Điều
trị hồi sức, điều trị các nguyên nhân gây sảng khi người bệnh ở đơn vị hồi sức
- Vật lý trị liệu -
phục hồi chức năng: triển khai vận động sớm, ngồi dậy - đi lại an toàn, giảm
bất động, cải thiện chức năng hô hấp và tuần hoàn.
- Dược lâm sàng: Rà
soát polypharmacy bao gồm tương tác thuốc, nguy cơ sảng của các thuốc ví dụ
thuốc kháng cholinergic và benzodiazepine.
- Điều dưỡng: đóng vai
trò trung tâm trong theo dõi dao động triệu chứng, thực hiện các biện pháp định
hướng lại, hỗ trợ giấc ngủ, phòng té ngã, tối ưu thông tin cảm giác, đảm bảo an
toàn.
- Gia đình: tham gia hỗ
trợ định hướng, trấn an, giúp duy trì môi trường quen thuộc, giảm lo âu và tăng
tương tác xã hội.
- Phối hợp đa ngành
giúp đảm bảo chăm sóc toàn diện, tăng hiệu quả của các biện pháp không dùng
thuốc và giảm nhu cầu sử dụng thuốc an thần.
4. DỰ PHÒNG
4.1. Nguyên tắc chung
Sảng là một hội chứng
cấp tính nhưng có thể dự phòng được đến 30-40% trường hợp. Dự phòng nên được
bắt đầu ngay khi người bệnh nhập viện, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi có nguy
cơ cao. Các phương pháp dự phòng sảng có hiệu quả hiện nay chủ yếu là các
phương pháp không dùng thuốc, các nghiên cứu về dự phòng bằng thuốc còn rất hạn
chế.
4.2. Các biện pháp dự
phòng không dùng thuốc bao gồm:
- Đánh giá và kiểm soát
các yếu tố nguy cơ
- Cần sàng lọc và xử
trí sớm các yếu tố nguy cơ phổ biến bao gồm: sa sút trí tuệ, rối loạn giác quan
(ví dụ, khiếm thị, khiếm thính) rối loạn giấc ngủ, bất động, dùng thuốc kháng
cholinergic, nhiễm trùng, bí tiểu, táo bón, mất nước, môi trường lạ, rối loạn
điện giải, và can thiệp thủ thuật lớn.
- Hạn chế nhập viện,
dùng nhiều thuốc khi không cần thiết, nếu cần phải nhập viện, người bệnh nên
được chăm sóc chuyên khoa lão khoa, xem xét các thuốc đang sử dụng ngay từ đầu.
Khuyến cáo sàng lọc sảng thường xuyên, đánh giá sa sút trí tuệ, trầm cảm, rối
loạn lo âu, tiền sử sảng, tiền sử sử dụng các chất tác động tâm thần (rượu,
thuốc benzodiazepin, nicotine…).
- Can thiệp dự phòng
trong môi trường đa khoa
- Các can thiệp đa
thành phần được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ mê sàng. Các gói
can thiệp khác nhau giữa các nghiên cứu nhưng bao gồm các thành phần như vật lý
trị liệu, định hướng lại, kích thích nhận thức, vận động sớm, thúc đẩy giấc ngủ
không dùng thuốc, điều chỉnh khiếm khuyết về giác quan, xác định và điều trị
nguyên nhân cơ bản hoặc biến chứng sau phẫu thuật, kiểm soát cơn đau, tránh táo
bón, bù nước, dinh dưỡng và cung cấp oxy 10.
- Một loạt các biện
pháp can thiệp dự phòng có thể áp dụng trong môi trường đa khoa bao gồm:
+ Nhận biết sớm các yếu
tố nguy cơ cao
+ Tầm soát sảng hàng
ngày
+ Định hướng môi trường
+ Duy trì nước và điện
giải bình thường
+ Điều hòa chức năng
bàng quang và ruột
+ Thiết lập sớm chế độ
ăn uống bình thường
+ Điều chỉnh rối loạn
chuyển hóa
+ Hạn chế cố định
+ Tối ưu hóa tim mạch
(cung cấp oxy nếu có chỉ định)
+ Xác định sớm nhiễm
trùng
+ Điều trị đau hiệu quả
+ Hoạt động hàng ngày
+ Tránh thuốc chống
loạn thần, benzodiazepin
+ Giảm rối loạn về đêm,
hỗ trợ giấc ngủ
+ Tháo sớm thiết bị xâm
lấn
+ Can thiệp dược lý (ít
có bằng chứng tin cậy)
Các chương trình can
thiệp đa thành phần như Hospital Elder Life Program (HELP) và các mô hình chăm
sóc lão khoa chủ động đã được chứng minh giúp giảm rõ rệt tỷ lệ sảng. Chương
trình HELP bao gồm 6 thành phần chính:
- Tái định hướng nhận
thức: thường xuyên cung cấp, nhắc nhở các thông tin về thời gian, không gian,
môi trường xung quanh, người thân; sử dụng đồng hồ, lịch, bảng tên người chăm
sóc, hạn chế thay đổi người bệnh đến môi trường lạ, nhiều xáo trộn, hạn chế
thay đổi người chăm sóc.
- Hỗ trợ thị giác/thính
giác: cung cấp kính, máy trợ thính nếu có chỉ định.
- Cải thiện giấc ngủ tự
nhiên: dùng các phương pháp thư giãn, tạo không gian yên tĩnh, âm nhạc nhẹ,
mát-xa lưng, ánh sáng phù hợp với chu kì ngày - đêm.
- Khuyến khích vận động
sớm: vật lý trị liệu và đi lại có hướng dẫn nếu không chống chỉ định.
- Dinh dưỡng và bù
nước: giám sát, đảm bảo chế độ ăn và uống đầy đủ, phù hợp.
- Hỗ trợ giải trí và
hoạt động xã hội: Tạo điều kiện cho người bệnh tham gia các hoạt động giải trí
phù hợp (trò chuyện, đọc sách, nghe nhạc...). Hỗ trợ kết nối với gia đình.
Can thiệp dự phòng
trong đơn vị hồi sức
- Bên cạnh các can
thiệp giống như can thiệp trong môi trường đa khoa, các can thiệp dành riêng
cho môi trường hồi sức bao gồm:
- Nhận biết người bệnh
có nguy cơ cao (> 65 tuổi, cấp tính cao, nhiễm trùng huyết, sốc, sa sút và
thông khí)
- Thuốc an thần nhẹ
- Hạn chế Benzodiazepin
- Vận động sớm
- Thúc đẩy thói quen
ngày đêm
- Nhận thức và định
hướng môi trường
- Loại bỏ các thiết bị
khi không cần thiết (thiết bị nội mạch và đường thở)
- Can thiệp dược lý:
Một số bằng chứng gợi ý nhưng không được khuyến nghị bởi các đồng thuận.
KẾT LUẬN
Sảng là một hội chứng
thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt trong các bối cảnh điều trị nội trú, hồi
sức và sau phẫu thuật. Với các triệu chứng, diễn biến bệnh thay đổi đa dạng,
phức tạp, việc chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời có thể cải thiện đáng kể
tiên lượng người bệnh. Quản lý và điều trị sảng cần tiếp cận đa thành phần, ưu
tiên các biện pháp không dùng thuốc, các can thiệp dược lý nên áp dụng có chọn
lọc và ngắn hạn. Cần tăng cường tầm soát nguy cơ và triển khai các biện pháp dự
phòng chủ động trong chăm sóc lâm sàng ở người cao tuổi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. International Statistical
Classification of Diseases and Related Health Problems: 10th Revision. 5th ed.
World Health Organization; 1992.
2. Diagnostic and
Statistical Manual of Mental Disorders. 5th ed. American Psychiatric Publishing;
2013.
3. Wilson JE, Mart M,
Cunningham C, et al. Delirium. Nat Rev Dis Primer. 2020;6(1):90.
doi:10.1038/s41572-020-00223-4
4. Ospina JP, King Iv F,
Madva E, Celano CM. Epidemiology, Mechanisms, Diagnosis, and Treatment of
Delirium: A Narrative Review. Clin Med Ther. 2018;1(1).
doi:10.24983/scitemed.cmt.2018.00085
5. Kirakosyan G, Frolova
A. Delirium (Clinical Presentation, Diagnosis and Treatment): Updates for
Neurologists and Psychiatrists. 2020;(9).
6. Inouye SK, Westendorp
RGJ, Saczynski JS. Delirium in elderly people. Lancet.
2014;383(9920):911-922. doi:10.1016/S0140-6736(13)60688-1
7. Sadock BJ, Sadock VA, Ruiz
P. Delirium. In: Kaplan & Sadock’s Comprehensive Textbook of
Psychiatry. Vol 1. 10th edition. Wolters Kluwer; 2017.
8. Fong TG, Tulebaev SR,
Inouye SK. Delirium in elderly adults: diagnosis, prevention and treatment. Nat
Rev Neurol. 2009;5(4):210-220. doi:10.1038/nrneurol.2009.24
9. Morandi A, Jackson JC.
Delirium in the Intensive Care Unit: A Review. Neurol Clin.
2011;29(4):749-763. doi:10.1016/j.ncl.2011.08.004
10. Ramírez Echeverría M de
L, Schoo C, Paul M. Delirium. In: StatPearls. StatPearls Publishing;
2025. Accessed May 4, 2025. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470399/
ĐẠI TIỂU TIỆN KHÔNG TỰ CHỦ
1. TIỀU TIỆN KHÔNG TỰ
CHỦ
1.1. Định nghĩa tiểu
không tự chủ ở người cao tuổi
Tiểu không tự chủ
(TKTC) ở người cao tuổi là tình trạng mất hoạt động tự chủ của việc tiểu tiện,
dẫn đến rò rỉ nước tiểu ngoài ý muốn, do rối loạn chức năng hệ tiết niệu hoặc
các yếu tố liên quan đến lão hóa. TKTC là một dấu hiệu hay triệu chứng của rối
loạn chức năng đường tiểu chứ không phải là một bệnh. Đây là một vấn đề phổ
biến và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, tâm lý và hoạt động chức
năng hàng ngày của người cao tuổi. Rối loạn này nhiều khi không được nhận biết
và chưa được báo cáo.
TKTC ảnh hưởng đến sức
khỏe, tạo sự tự ti mặc cảm hạn chế giao tiếp xã hội, nặng hơn gây rối loạn tâm
thần, hạnh phúc của người bệnh. TKTC là nguy cơ nhiễm khuẩn niệu ngược dòng,
nếu không ngăn chặn dễ dàng gây nhiễm khuẩn huyết, viêm thận bể thận, thận ứ mủ
gây suy thận và tăng huyết áp. TKTC cũng gây ảnh hưởng đến các bệnh lý da, tăng
gánh nặng chăm sóc và chi phí y tế.
1.2. Dịch tễ học của
TKTC ở người cao tuổi
TKTC làm một vấn đề sức
khỏe khá thường gặp ở người cao tuổi. Dịch tễ học của TKTC thay đổi tùy theo
khu vực địa lý, giới tính, độ tuổi, và các yếu tố liên quan như bệnh lý nền,
lối sống, và khả năng tiếp cận y tế. Tỷ lệ mắc tăng theo tuổi và tăng theo mức
độ suy yếu cơ thể, nữ giới cao tuổi thường có tỷ lệ cao hơn nam giới (gấp 2-3
lần). Trên thế giới, TKTC gặp ở 17-55% người cao tuổi (phụ nữ 30-60%, nam giới
10-30%), tăng theo tuổi, phổ biến ở viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc dài hạn
(50-70%) với các mức độ TKTC khác nhau. Tại Việt Nam, dữ liệu về TKTC ở người
cao tuổi tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu từ các nghiên cứu nhỏ hoặc bệnh viện.
Ước tính tỷ lệ mắc ở cộng đồng là 15-30% ở người ≥ 60 tuổi, thấp hơn thế giới
do dưới báo cáo (văn hóa xấu hổ, ít tìm kiếm điều trị). Phụ nữ chiếm tỷ lệ cao
hơn (20-35%) so với nam giới (10-20%). TKTC thay đổi theo mức độ nghiêm trọng
từ hiện tượng xì nước tiểu khi có gia tăng áp lực ổ bụng khi gắng sức khi ho...
tới mức độ són tiểu liên tục, đến nặng hơn là tiểu không kiểm soát có kèm theo
đại tiện không tự chủ. Tuổi càng cao thì tỉ lệ mắc TKTC tăng dần. Dù có tỷ lệ
cao, TKTC chưa được quan tâm đúng mức trong thực hành chăm sóc người cao tuổi
tại Việt Nam.
1.3. Sinh lý bệnh và
nguyên nhân
1.3.1. Sinh lý bệnh của
TKTC
TKTC là hậu quả của sự
mất cân bằng giữa chức năng dự trữ và tống xuất nước tiểu của bàng quang, liên
quan đến:
Cơ chế kiểm soát tiểu
tiện bình thường:
- Bàng quang: Co giãn
để chứa nước tiểu (thư giãn khi tích trữ, co bóp khi tiểu).
- Cơ vòng niệu đạo:
Đóng chặt để ngăn rò rỉ, mở khi tiểu.
- Hệ thần kinh: Trung
ương (não, tủy sống) và ngoại biên (thần kinh chậu) điều phối cảm giác đầy bàng
quang và kiểm soát tiểu tiện.
Cơ chế sinh lý bệnh
chính của TKTC ở người cao tuổi
Lão hóa:
- Giảm độ đàn hồi bàng
quang (dung tích giảm 50-100ml), yếu cơ sàn chậu, suy giảm tín hiệu thần kinh.
- Tăng hoạt cơ detrusor
(Overactive bladder - OAB): gây tiểu gấp, tiểu són, thường gặp ở người cao tuổi
do giảm ức chế từ vỏ não.
- Giảm chức năng cơ
thắt niệu đạo hoặc cơ sàn chậu: gây rò rỉ nước tiểu khi gắng sức (ho, hắt hơi,
nâng vật nặng…).
- Thần kinh: Sa sút trí
tuệ, bệnh Parkinson, hoặc đột quỵ não làm rối loạn kiểm soát trung ương.
- Hormone: Mãn kinh ở
phụ nữ làm giảm estrogen, gây teo niêm mạc niệu đạo, yếu cơ sàn chậu, viêm teo
âm đạo và giảm khả năng đề kháng, giảm chiều dài và áp lực đóng tối đa của niệu
đạo.
- Yếu tố nhận thức hoặc
vận động: người bệnh không vào nhà vệ sinh kịp thời (functional incontinence).
- Tắc nghẽn đường tiểu
dưới: dẫn đến bí tiểu, ứ đọng dẫn tới tiểu tràn (overflow incontinence).
Ở nam giới: kích thước
tuyến tiền liệt tăng, gây cản trở phần nào niệu đạo và dẫn đến việc tiểu không hết
và làm căng cơ trơn bàng quang. Những thay đổi này xảy ra ở nhiều người bình
thường, người cao tuổi, và có thể tạo điều kiện cho TKTC nhưng không phải là
nguyên nhân gây ra.
1.3.2. Nguyên nhân TKTC
Nguyên nhân TKTC ở
người cao tuổi được chia thành TKTC tạm thời (có thể đảo ngược) và mãn tính
(liên quan đến bệnh lý hoặc lão hóa). Thường gặp nhất là do nhiều yếu tố phối
hợp.
1.3.2.1. Nguyên nhân
TKTC tạm thời
- Có một số nguyên nhân
gây TKTC tạm thời. Nguyên nhân tạm thời (DIAPPERS) gồm:
+ Delirium (sảng cấp):
Gây mất khả năng kiểm soát tiểu tiện.
+ Infection (nhiễm
trùng đường tiết niệu): Kích thích bàng quang, gây TKTC cấp bách.
+ Atrophic
vaginitis/urethritis (teo niêm mạc âm đạo/niệu đạo): gặp ở phụ nữ mãn kinh, làm
yếu cơ vòng.
+ Pharmaceuticals (thuốc):
Lợi tiểu (furosemide), anticholinergics, hoặc thuốc an thần có thể gây tiểu
nhiều hoặc giảm nhận thức.
+ Psychological (tâm
lý): Trầm cảm, lo âu làm giảm ý thức đi tiểu đúng lúc.
+ Excess urine output (đa
niệu): do đái tháo đường, uống nhiều caffeine/rượu.
+ Restricted mobility:
Khó di chuyển đến nhà vệ sinh (viêm khớp, sau phẫu thuật).
+ Stool impaction (táo
bón): Chèn ép bàng quang, gây TKTC cấp bách hoặc tràn đầy.
1.3.2.2. TKTC mạn tính
Nguyên nhân của tiểu
không tự chủ mạn tính là do các tác động dai dẳng liên quan đến thần kinh hoặc
cơ. Các cơ chế thường gặp là do rối loạn chức năng hoặc tắc nghẽn đường ra bàng
quang, cơ trơn bàng quang hoạt động quá mức hoặc không hoạt động, rối loạn đồng
vận bàng quang cơ thắt, hoặc kết hợp. Tuy nhiên, những cơ chế này cũng tham gia
vào một số nguyên nhân tạm thời.
- Đường ra nước tiểu
suy yếu
Là một nguyên nhân phổ
biến gây tiểu không tự chủ khi gắng sức (ho, hắt hơi, cười lớn hoặc mang vác
vật nặng...). Ở phụ nữ, thường là do sự suy yếu của cơ đáy chậu hoặc của mạc
nội chậu. Sự suy yếu này thường xuất phát từ việc sinh con nhiều qua đường âm
đạo, phẫu thuật vùng chậu (bao gồm cắt tử cung), thay đổi liên quan đến tuổi
tác (bao gồm viêm teo niệu đạo) hoặc kết hợp. Hậu quả là vị trí nối bàng quang
niệu đạo bị hạ thấp, cổ bàng quang và niệu đạo trở nên tăng di động, và áp lực
trong niệu đạo giảm thấp hơn áp lực trong bàng quang khi tăng áp lực ổ bụng, từ
đó gây rò rỉ nước tiểu. Ở nam giới, nguyên nhân thường gặp là tổn thương cơ
thắt niệu đạo hoặc tổn thương vùng cổ bàng quang và niệu đạo sau, thường xảy ra
sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc.
- Tắc nghẽn đường ra
+ Là một nguyên nhân
phổ biến gây tiểu không tự chủ ở nam giới, mặc dù hầu hết nam giới bị tắc nghẽn
không phải là không kiểm soát được. Sự tắc nghẽn ở nam giới thường là hậu quả
của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tiền liệt, hoặc là hẹp
niệu đạo. Ở cả hai giới, u phân có thể gây tắc nghẽn. Ở phụ nữ, tắc nghẽn đường
ra có thể là kết quả của phẫu thuật trước đó vì tiểu không kiềm chế được hoặc
do sa bàng quang gây ra niệu đạo xoắn trong quá trình cố gắng để đi tiểu.
+ Sự tắc nghẽn dẫn đến
bàng quang giãn quá mức mạn tính, thường làm mất khả năng co bóp bàng quang;
sau đó bàng quang không trống hoàn toàn, dẫn đến bàng quang và gây tiểu són,
tiểu gấp. Nếu cơ trơn bàng quang mất khả năng bị co thắt, có thể dẫn tới tiểu
không tự chủ do bàng quang đầy. Một số nguyên nhân gây tắc nghẽn đường ra (ví
dụ, túi thừa lớn bàng quang, sa bàng quang, viêm bàng quang, sỏi và khối u) có
thể giải quyết được.
- Cơ trơn bàng quang
tăng hoạt
Là một nguyên nhân phổ
biến gây ra tiểu gấp không tự chủ ở người bệnh lớn tuổi và người bệnh trẻ hơn.
Cơ trơn bàng quang co thắt ngắt quãng mà không có lý do rõ ràng, thông thường
khi bàng quang đầy một phần hoặc gần toàn bộ. Cơ trơn bàng quang hoạt động quá
mức có thể do vô căn hoặc do rối loạn chức năng trung tâm ức chế tiểu tiện ở
thuỳ trán (thường do thay đổi tuổi, sa sút trí tuệ, hoặc đột quỵ não) hoặc tắc
nghẽn đường ra. Cơ trơn bàng quang hoạt động quá mức (tăng động) với tình trạng
co bóp không có hiệu lực là một biến thể của tiểu gấp không tự chủ đặc trưng
bởi tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tốc độ dòng tiểu yếu, bí tiểu, bè bàng quang
(quan sát được khi soi bàng quang), và thể tích nước tiểu tồn dư sau khi đi
tiểu > 50 mL. Biến thể này có thể tương tự như bệnh tiền liệt tuyến ở nam
giới hoặc tiểu không tự chủ dưới tác động stress (ho, hắt hơi,...) ở phụ nữ.
- Cơ trơn bàng quang
giảm hoạt
Gây bí tiểu và tiểu
không tự chủ do bàng quang đầy ở khoảng 5% người bệnh tiểu không tự chủ. Nó có
thể do tổn thương tủy sống hoặc rễ thần kinh chi phối bàng quang (ví dụ, chèn
ép tuỷ, khối u, hoặc phẫu thuật), bởi các bệnh thần kinh ngoại biên hoặc thần
kinh tự động, hoặc các rối loạn thần kinh khác. Thuốc kháng cholinergic và
opioid làm giảm đáng kể sự co bóp của cơ trơn bàng quang; những loại thuốc này
tạm thời là những nguyên nhân phổ biến. Cơ trơn có thể trở nên không hoạt động
ở những người nam giới bị tắc nghẽn đường ra mạn tính vì cơ trơn bàng quang bị
thay thế bởi tổ chức xơ và mô liên kết, làm cho bàng quang không thể rỗng được
ngay cả khi tắc nghẽn đã được giải quyết. Ở phụ nữ, sự giảm hoạt của cơ trơn
bàng quang thường vô căn. Ít trường hợp cơ trơn bàng quang yếu trầm trọng phổ
biến ở phụ nữ lớn tuổi. Sự yếu như vậy không gây tiểu không tự chủ nhưng có thể
làm phức tạp điều trị nếu các nguyên nhân khác của tiểu không tự chủ cùng tồn
tại.
- Mất đồng vận cơ trơn
bàng quang cơ thắt (mất sự phối hợp giữa co thắt bàng quang và giãn cơ thắt
niệu đạo ngoài).
Có thể gây tắc nghẽn
đường ra, hậu quả là nước tiểu trào ra không kiểm soát được. Chứng rối loạn
đồng vận thường do tổn thương tủy sống làm gián đoạn đường đi tới trung tâm
tiểu tiện ở cầu não, nơi điều hợp sự giãn cơ thắt và sự co bàng quang. Thay vì
giãn khi bàng quang co lại, cơ vòng co lại, làm tắc nghẽn đường ra của bàng
quang. Chứng rối loạn đồng vận gây ra các bè xơ bàng quang nặng, túi thừa, sự
biến dạng hình "cây thông giáng sinh" của bàng quang, ứ nước thận, và
suy thận.
- Suy chức năng
Các suy giảm chức năng
như suy giảm nhận thức, giảm khả năng vận động, giảm sự khéo tay, các rối loạn
phối hợp, thiếu động lực, đặc biệt ở người cao tuổi, có thể góp phần dẫn đến
tiểu không tự chủ thực sự nhưng hiếm khi là nguyên nhân gây ra nó.
Tóm tắt một số nguyên
nhân TKTC mạn tính thường gặp:
+ Yếu tố lão hóa:
- Yếu cơ sàn chậu (do
sinh đẻ nhiều lần, sinh khó, lao động nặng).
- Giảm dung tích bàng
quang và tăng co bóp bất thường.
- Suy giảm thần kinh
(chậm tín hiệu từ não đến bàng quang).
- Lão hóa gây giảm
trương lực cơ
+ Bệnh lý:
- Đái tháo đường: Tổn
thương thần kinh ngoại biên, gây bàng quang mất cảm giác hoặc tăng hoạt.
- Đột quỵ
não/Parkinson/Sa sút trí tuệ: Rối loạn kiểm soát thần kinh trung ương.
- Phì đại tuyến tiền
liệt (nam): Gây tắc nghẽn, dẫn đến TKTC tràn đầy.
- Sa sinh dục (nữ): Làm
yếu cấu trúc hỗ trợ niệu đạo, gây TKTC gắng sức.
+ Chấn thương tủy sống
- Phẫu thuật vùng chậu
(cắt tử cung, xạ trị), phẫu thuật tuyến tiền liệt
- Hẹp niệu đạo
- Đa xơ cứng (MS)
+ Yếu tố khác:
- Béo phì: Tăng áp lực
bụng, gây TKTC gắng sức.
- Hút thuốc: Kích thích
bàng quang, tăng ho mãn tính.
- Thiếu tiếp cận nhà vệ
sinh: Đặc biệt ở viện dưỡng lão hoặc vùng nông thôn.
- Giảm estrogen sau mãn
kinh
- Thuốc: lợi tiểu
(furosemide, thiazide…), thuốc chống trầm cảm, an thần, thuốc kháng
cholinesterase
- Chất kích thích bàng
quang (caffeine, rượu, nicotin)
+ Nguy cơ đặc thù ở
Việt Nam:
- Sinh đẻ nhiều lần
(phụ nữ nông thôn).
- Lao động nặng, làm
yếu cơ sàn chậu.
- Thiếu nhận thức và
tiếp cận y tế, dẫn đến không điều trị kịp thời.
1.4. Phân loại TKTC
Có nhiều cách phân loại
khác nhau: TKTC theo quãng thời gian biểu hiện triệu chứng, theo truyền thống
dựa trên các triệu chứng lâm sàng, theo sinh lý bệnh.
1.4.1. Phân loại theo
triệu chứng lâm sàng
- TKTC gắng sức (Stress
UI):
+ Rò rỉ nước tiểu khi
gắng sức mà không do sự co bóp bàng quang, xảy ra khi người bệnh có hoạt động
gắng sức gây tăng áp lực ổ bụng như ho, hắt hơi, rặn, cười, khiêng vật nặng...
lượng nước tiểu thường thoát ra ít.
+ Nguyên nhân: yếu cơ
sàn chậu, tổn thương niệu đạo (thường gặp ở phụ nữ béo phì, chửa đẻ nhiều lần,
sau sinh hoặc mãn kinh). Ở nam giới thường gặp sau phẫu thuật tuyến tiền liệt,
nhất là cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc.
- TKTC gấp/cấp bách
(Urge UI):
+ Là tình trạng thoát
nước tiểu kết hợp với tình trạng tiểu gấp đột ngột, không kiểm soát được,
thường kèm tiểu đêm hoặc tiểu nhiều lần. Người bệnh chưa kịp ra nhà vệ sinh thì
đã vãi nước tiểu.
+ Nguyên nhân: Thường
do suy yếu chức năng lưu giữ nước tiểu của bàng quang hay còn gọi là do co bóp
cơ detrusor bất thường, bàng quang tăng hoạt. Hay gặp khi thời tiết lạnh, rối
loạn tinh thần, vệ sinh bằng nước. Ở nam giới, TKTC cấp bách có thể là biểu
hiện do tắc nghẽn dòng tiểu, bất ổn định cơ detrusor vô căn, bệnh lý thần kinh,
xạ trị vùng tiểu khung, nhiễm trùng.
- TKTC tràn đầy
(Overflow UI):
+ Rò rỉ nhỏ giọt liên
tục do bàng quang đầy quá mức hoặc tắc nghẽn.
+ Nguyên nhân do ứ đọng
nước tiểu mạn tính, người bệnh són tiểu từng đợt và không bao giờ đi tiểu bình
thường. Hay gặp ở người bệnh suy yếu co bóp bàng quang, tổn thương thần kinh,
bàng quang giảm co bóp hoặc tắc nghẽn đường ra của bàng quang nhất là nam giới
bị phì đại tuyến tiền liệt chèn ép đường ra cổ bàng quang, ở nữ có thể do sa tử
cung, hoặc do táo bón.
- TKTC hoàn toàn:
+ Rò rỉ nước tiểu
thường xuyên, liên tục cả ngày lẫn đêm.
+ Nguyên nhân có thể
thấy trong rối loạn chức năng bàng quang do bệnh lý thần kinh: tổn thương tủy
sống, đột quỵ não, tổn thương thần kinh ngoại biên, sau phẫu thuật cắt tuyến
tiền liệt tận gốc ở nam giới.
- TKTC chức năng
(Functional UI):
Không kiểm soát đi tiểu
được do yếu tố chức năng, các cơ quan hệ tiết hay sa sút trí tuệ nên không quan
tâm đến các quy tắc xã hội về thời gian, địa điểm đi tiểu dẫn đến không đến
được nhà vệ sinh kịp thời.
- TKTC thể phối hợp
(Mixed UI):
Kết hợp TKTC gắng sức
và cấp bách, phổ biến ở người cao tuổi (20-30% các trưởng hợp) do kết hợp hai
cơ chế trên.
1.4.2. Phân loại theo
cơ chế bệnh sinh
1.4.2.1. Bất thường cơ
detrusor
- Mất độ giãn nở bàng
quang: bàng quang không thể lưu giữ áp lực thấp để chứa đựng nước tiểu trong
pha đổ đầy. TKTC xuất hiên ngay cả khi bàng quang không co bóp. Thường gặp
trong bàng quang thần kinh, loạn sản tủy, sau phẫu thuật tại bàng quang, xạ trị
khung chậu.
- Hoạt động quá mức: sự
co bóp cơ detrusor không tự chủ trong pha đổ đầy, nguyên nhân có thể là vô căn
hoặc tai biến mạch não, hoặc ở nam giới có phì đại tuyến tiền liệt gây tắc
nghẽn dòng tiểu, hoặc ung thư bàng quang, hoặc viêm bàng quang.
1.4.2.2. Bất thường cơ
thắt niệu đạo
- Sự nâng đỡ của các cơ
- cân vùng đáy chậu suy yếu: hay gặp ở nữ giới do tuổi tác hoặc sinh đẻ nhiều,
hoặc sinh con to, thời gian chuyển dạ kéo dài. Thường phối hợp với sa tử cung,
sa bàng quang hoặc sa trực tràng.
- Giảm estrogen: làm
teo niêm mạc niệu đạo dẫn đến mất sự áp niêm mạc niệu đạo.
- Sẹo niêm mạc niệu
đạo: sau phẫu thuật can thiệp nhiều lần, chấn thương làm niệu đạo mất tính đàn
hồi dẫn đến mất sự áp niêm mạc niệu đạo.
- Sau phẫu thuật cắt bỏ
tuyến tiền liệt: phẫu thuật nội soi qua đường niệu đạo, phẫu thuật cắt bỏ tuyến
tiền liệt tận gốc gây suy cơ thắt đơn thuần hoặc phối hợp với sự co bóp cơ
detrusor bất thường và tổn thương thần kinh.
1.4.2.3. Phân loại theo
nguyên nhân
Nguyên nhân giải phẫu:
Yếu cơ sàn chậu, sa sinh dục (nữ), phì đại tuyến tiền liệt (nam).
Nguyên nhân thần kinh:
Đột quỵ não, bệnh Parkinson, sa sút trí tuệ, tổn thương tủy sống.
Nguyên nhân chức năng:
Hạn chế di động, môi trường không thuận lợi (thiếu nhà vệ sinh gần).
Nguyên nhân khác: Nhiễm
trùng, thuốc, béo phì, táo bón.
1.4.2.4. Phân loại theo
thời gian diễn biến
- TKTC tạm thời:
Nguyên nhân: Nhiễm
trùng đường tiết niệu, táo bón, thuốc (lợi tiểu, an thần), lú lẫn cấp.
Ví dụ DIAPPERS
(Delirium, Infection, Atrophic vaginitis Pharmaceuticals, Psychological, Excess
urine output, Restricted mobility, Stool impaction).
- TKTC mạn tính:
Kéo dài, liên quan đến
lão hóa hoặc bệnh lý nền.
Ví dụ: Yếu cơ sàn chậu,
đái tháo đường, đột quỵ não, phì đại tuyến tiền liệt…
1.5. Triệu chứng và
chẩn đoán
Đánh giá tiểu không tự
chủ trên người cao tuổi cần đánh giá toàn diện bao gồm xác định các bệnh đồng
mắc, tình trạng chức năng, các thuốc đang sử dụng và các yếu tố nguy cơ góp
phần gây bệnh.
1.5.1. Khai thác tiền
sử và triệu chứng của bệnh
Khai thác tiền sử và
triệu chứng là bước quan trọng để chẩn đoán TKTC ở người cao tuổi, giúp xác
định loại TKTC, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ, và định hướng điều trị.
1.5.1.1. Triệu chứng
TKTC
Bước đầu tiên là chủ
động sàng lọc tiểu không tự chủ vì 50% người bệnh không khai báo các triệu
chứng của họ cho nhân viên y tế. Khai thác về tiền sử khởi phát, tần suất, khối
lượng, thời gian và các yếu tố liên quan với tiểu không tự chủ, cũng như đánh
giá chất lượng cuộc sống của họ.
- Tiền sử triệu chứng
tiết niệu:
+ Bắt đầu tiểu không tự
chủ từ khi nào?
+ Xảy ra trong hoàn
cảnh nào? (ho, hắt hơi, chạy nhảy, tiểu gấp không kìm được…)
+ Tần suất và thời điểm
xảy ra (ngày, đêm hay cả hai)
+ Lượng nước tiểu rò
(ít/giọt hay nhiều/làm ướt quần)
+ Có cảm giác mót tiểu
trước đó không?
+ Có đi tiểu nhiều
lần/ngày hoặc đêm không? (tần suất tiểu tiện)
+ Có cảm giác tiểu
không hết hay bí tiểu không?
Bảng 1. Triệu chứng gợi ý loại tiểu không tự
chủ
|
Triệu
chứng
|
Gợi ý
loại TKTC
|
|
Rò tiểu
khi ho, hắt hơi, cười lớn, chạy, nâng vật nặng
|
TKTC gắng
sức
|
|
Mót tiểu
đột ngột, không kìm được
|
TKTC cấp
bách
|
|
Vừa mót
tiểu, vừa són khi gắng sức
|
TKTC hỗn
hợp
|
|
Rò tiểu
liên tục, tiểu không hết, căng tức
|
TKTC tràn
đầy
|
|
Khó kiểm
soát tiểu do yếu tố khác (không kịp đi vệ sinh)
|
TKTC chức
năng
|
- Các triệu chứng bổ
sung:
+ Tần suất và lượng rò
rỉ: ít (vài giọt), trung bình (ướt quần), nặng (cần tã lót).
+ Thời điểm: Ban ngày,
ban đêm (tiểu đêm liên quan đến TKTC gấp/cấp bách hoặc bệnh lý nền).
+ Yếu tố kích hoạt: ho,
uống cà phê/rượu, tư thế đứng/ngồi.
- Triệu chứng kèm theo:
+ Đau khi tiểu, tiểu
máu (nghi nhiễm khuẩn tiết niệu, sỏi, u).
+ Táo bón (chèn ép bàng
quang).
+ Giảm cảm giác buồn
tiểu (tổn thương thần kinh).
- Ảnh hưởng chất lượng
cuộc sống: xấu hổ, hạn chế hoạt động xã hội, trầm cảm (60% người bệnh TKTC ở
Việt Nam có dấu hiệu trầm cảm nhẹ).
- Nhật ký đi tiểu:
+ Ghi lại: thói quen
uống nước (số lượng nước trung bình mỗi ngày, loại nước), số lần tiểu, thời
gian rò rỉ, lượng rò rỉ (ước tính), tình huống (ho, buồn tiểu gấp) 3-7 ngày.
+ Hữu ích để phân biệt
loại TKTC và đánh giá hiệu quả điều trị.
- Sử dụng bảng câu hỏi:
+ 3IQ (3 Incontinence
Questionnaire): sàng lọc và phân loại TKTC
+ ICIQ-SF
(International Consultation on Incontinence Questionnaire - Short Form): đánh
giá mức độ ảnh hưởng chất lượng sống
1.5.1.2. Tiền sử
- Tiền sử bệnh lý: cần
khai thác các bệnh phối hợp vì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của
bàng quang gây nên các triệu chứng đường tiết niệu dưới. Các bệnh thường phối
hợp với tiểu không tự chủ bao gồm:
+ Bệnh tiết niệu: Nhiễm
trùng đường tiết niệu, đái máu, sỏi thận, phì đại tuyến tiền liệt (nam), sa
sinh dục (nữ).
+ Các bệnh về thần kinh
như: đột quỵ não, sa sút trí tuệ, bệnh Parkinson, bệnh xơ cứng rải rác và tổn
thương tủy sống sau chấn thương.
+ Các bệnh lý nội khoa
mạn tính như: các nguyên nhân gây hạn chế vận động do tai biến mạch máu não,
bệnh đái tháo đường, táo bón mạn tính, đau khung chậu mạn tính, bệnh tăng nhãn
áp góc đóng, sa cơ quan vùng chậu (bàng quang, tử cung, trực tràng)...
+ Tiền sử sản khoa
(nữ): số lần sinh, sinh khó, sinh mổ hay sinh thường, sinh con to (>4kg),
chuyển dạ kéo dài, làm yếu cơ sàn chậu, mãn kinh và các triệu chứng teo âm đạo.
+ Tiền sử phẫu thuật:
phẫu thuật vùng chậu, tuyến tiền liệt, hoặc cột sống có thể ảnh hưởng thần
kinh hoặc cơ sàn chậu., phẫu thuật vùng tiểu khung và tia xạ vùng khung chậu.
+ Tiền sử dùng thuốc:
một số loại thuốc có thể gây ra tiểu không tự chủ như thuốc kháng cholinergic,
chất chủ vận alpha - adrenergic, thuốc đối kháng alpha, thuốc lợi tiểu, thuốc
chẹn kênh canxi, thuốc an thần - gây ngủ, thuốc ức chế men chuyển và thuốc điều
trị Parkinson,...
- Lối sống:
+ Uống nước (lượng,
thời gian, caffeine/rượu: >200mg/ngày tăng nguy cơ).
+ Hút thuốc (kích thích
bàng quang, gây ho mãn tính).
+ Béo phì (BMI ≥30
kg/m2 tăng nguy cơ TKTC gắng sức 60%).
+ Lao động nặng hoặc
sinh đẻ nhiều (phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt phụ nữ nông thôn).
- Khả năng di động và nhận
thức:
+ Hạn chế di chuyển
(viêm khớp, sau phẫu thuật) gây TKTC chức năng.
+ Sa sút trí tuệ, lú
lẫn cấp ảnh hưởng kiểm soát tiểu tiện.
- Môi trường sống: Tiếp
cận nhà vệ sinh (khoảng cách, chướng ngại vật), đặc biệt ở viện dưỡng lão hoặc
vùng nông thôn Việt Nam.
1.5.2. Chẩn đoán
1.5.2.1. Khám thực thể
Mục tiêu khám thực thể:
- Xác định dấu hiệu lâm
sàng của TKTC (phân loại, mức độ).
- Loại trừ nguyên nhân
tạm thời (nhiễm trùng, táo bón) hoặc bệnh lý nghiêm trọng (u, tổn thương thần
kinh).
- Đánh giá tình trạng
toàn thân, đặc biệt ở người cao tuổi (khả năng vận động, dinh dưỡng, nhận thức,
bệnh nền và chăm sóc).
1.5.2.2. Khám toàn thân
- Tình trạng tổng quát:
Toàn trạng: gầy, suy
mòn, mất nước, dấu hiệu nhiễm trùng
Dấu hiệu sinh tổn: sốt
(nhiễm trùng tiết niệu), huyết áp tư thế (gây tiểu són), nhịp tim
Đánh giá thể trạng: béo
phì (BMI ≥30 kg/m2 tăng nguy cơ TKTC gắng sức), suy kiệt (hội chứng dễ bị tổn
thương, liên quan TKTC chức năng).
Khả năng di động: đi
lại khó khăn, cần hỗ trợ (gậy, xe lăn), nguy cơ ngã, khả năng sử dụng nhà vệ
sinh, nghĩ tới TKTC chức năng.
Nhận thức: sảng cấp, sa
sút trí tuệ (đánh giá bằng các thang điểm như Mini-Mental State Examination
(MMSE), MoCA… nếu cần).
- Khám bụng - hệ tiết
niệu:
Quan sát cầu bàng quang
(trên xương mu): dấu hiệu bàng quang căng, gợi ý bí tiểu - tiểu tràn
Sờ nắn: phát hiện khối
u vùng bụng dưới (bàng quang đầy, u chèn ép).
Gõ: bàng quang căng
(nghi TKTC tràn đầy do tắc nghẽn hoặc tổn thương thần kinh).
Nghe: âm ruột (táo bón
mãn tính chèn ép bàng quang).
Dấu hiệu gợi ý nhiễm
trùng tiết niệu: đau tức hạ vị, sốt, tiểu buốt, nước tiểu đục.
1.5.2.3. Khám vùng sinh
dục - hậu môn
- Với nữ:
Khám ngoài âm đạo: tìm
dấu hiệu teo niêm mạc âm đạo (mãn kinh, liên quan TKTC gắng sức/cấp bách).
Khám âm đạo (nếu có
thể): sa tử cung, sa bàng quang, sa trực tràng
Test ho (Cough Stress
Test): yêu cầu người bệnh ho mạnh khi bàng quang đầy (hoặc sau uống 500ml
nước). Quan sát rò rỉ nước tiểu xác định TKTC gắng sức.
Đánh giá cơ sàn chậu:
yêu cầu người bệnh co cơ (như nhịn tiểu), đánh giá sức mạnh (thang Oxford 0-5).
Nếu yếu thì nghi TKTC do gắng sức.
- Với nam:
Khám tuyến tiền liệt
(thăm trực tràng): phát hiện phì đại tuyến tiền liệt (nghi TKTC tràn đầy), kích
thước, độ cứng (nghi ung thư).
Khám bộ phận sinh dục
ngoài: tìm dấu hiệu viêm, hẹp niệu đạo.
Test ho: tương tự nữ,
nhưng ít gặp TKTC gắng sức ở nam.
- Với cả hai giới:
Khám hậu môn - trực
tràng: đánh giá trương lực cơ thắt hậu môn
Phát hiện khối u vùng
tầng sinh môn, áp xe, rò rỉ phân (nếu có)
1.5.2.4. Khám thần kinh
Phản xạ: kiểm tra phản
xạ gân xương (đùi, cẳng chân), phản xạ hậu môn (liên quan thần kinh chậu).
Cảm giác vùng tầng sinh
môn: đánh giá cảm giác vùng quanh hậu môn (tổn thương thần kinh S2-S4).
Chức năng vận động:
đánh giá khả năng đứng, đi, ngồi (hạn chế di động, nghi TKTC chức năng), yếu
liệt, run (Parkinson), tăng/giảm trương lực.
Dấu hiệu tổn thương
thần kinh trung ương: liệt nửa người, Babinski dương tính (sau đột quỵ).
Thăng bằng, phối hợp
động tác (tiểu không tự chủ chức năng).
Nhận thức: quan sát
hành vi, khả năng hiểu hướng dẫn (sa sút trí tuệ, lú lẫn cấp).
1.5.2.5. Đánh giá da và
mô mềm
Kiểm tra vùng quanh hậu
môn, âm đạo: loét da, kích ứng do rò rỉ nước tiểu kéo dài.
Tìm dấu hiệu nhiễm
trùng (đỏ, sưng) hoặc tổn thương do tã lót, bỉm.
1.5.2.6. Đánh giá khả
năng chăm sóc bản thân
Người bệnh có:
Cởi và mặc quần áo dễ
dàng?
Tự tìm được nhà vệ
sinh?
Cần người hỗ trợ khi đi
tiểu?
Dùng thang điểm Katz
ADL hoặc Barthel Index nếu cần lượng giá độc lập chức năng
1.5.2.6. Lưu ý ở người
cao tuổi
- Tính nhạy cảm: người
cao tuổi, đặc biệt ở Việt Nam, có thể xấu hổ khi khám vùng chậu. Cần giải thích
rõ, đảm bảo riêng tư, và có người hỗ trợ nếu cần.
- Bệnh lý phối hợp: đái
tháo đường, đột quỵ, Parkinson, hoặc sa sút trí tuệ làm phức tạp triệu chứng
TKTC, cần đánh giá lão khoa toàn diện.
- Hạn chế xâm lấn:
tránh các thủ thuật gây đau (như thông tiểu không cần thiết) ở người bệnh có
hội chứng dễ bị tổn thương.
- Môi trường: đánh giá
khả năng tiếp cận nhà vệ sinh (khoảng cách, ánh sáng, chướng ngại vật) để loại
trừ TKTC chức năng..
- Văn hóa Việt Nam:
Người cao tuổi thường che giấu triệu chứng, cần phối hợp với người chăm sóc để
xác nhận.
1.5.3. Các xét nghiệm
và cận lâm sàng
1.5.3.1. Các cận lâm
sàng thường quy
- Xét nghiệm nước tiểu
+ Tổng phân tích nước
tiểu:
+ Tìm hồng cầu, bạch
cầu, nitrite, vi khuẩn → nghi ngờ nhiễm khuẩn tiết niệu
+ Protein niệu: tổn
thương thận
- Cấy nước tiểu: nếu
nghi ngờ nhiễm trùng tiết niệu
- Xét nghiệm máu
+ Công thức máu: đánh
giá tình trạng nhiễm trùng, thiếu máu
+ Đường huyết lúc đói
hoặc HbA1c: phát hiện đái tháo đường
+ Creatinin - ure,
eGFR: đánh giá chức năng thận
+ Điện giải đồ: rối
loạn điện giải có thể ảnh hưởng thần kinh - cơ
+ CRP hoặc
Procalcitonin (nếu cần): khi nghi ngờ nhiễm khuẩn nặng
1.5.3.2. Chẩn đoán hình
ảnh và đo lường
- Siêu âm bàng quang -
thận - tiền liệt tuyến
Đánh giá lượng nước
tiểu tồn lưu sau tiểu (Post-Void Residual - PVR)
Bình thường: < 50 ml
≥ 100-150 ml: Nghi tắc
nghẽn (phì đại tuyến tiền liệt, sỏi) hoặc bàng quang giảm co bóp (tổn thương
thần kinh).
Phát hiện sỏi, u, dày
thành bàng quang, giãn đài bể thận, sa tử cung/bàng quang (nữ)
Ở nam giới: đo thể tích
tuyến tiền liệt
- Siêu âm hoặc chụp MRI
sàn chậu (nữ)
Đánh giá sa tạng chậu
(tử cung, bàng quang, trực tràng)
Xác định mức độ sa và
mức độ ảnh hưởng đến cơ sàn chậu
1.5.3.3. Thăm dò niệu
động học
+ Mục đích: Đánh giá
chức năng bàng quang và niệu đạo (áp lực, dòng tiểu, co bóp).
+ Chỉ định khi:
Chẩn đoán không rõ ràng
Điều trị thất bại hoặc
có ý định can thiệp phẫu thuật
Có triệu chứng phức tạp
hoặc tổn thương thần kinh
+ Các thông số đánh
giá:
Áp lực bàng quang khi
chứa và tống xuất
Hoạt động cơ detrusor
(co thắt sớm? bất thường?)
Áp lực cơ thắt niệu đạo
Phản xạ bất thường (như
co thắt không ức chế)
Giúp phân biệt giữa các
loại TKTC chính xác
1.5.3.4. Các xét nghiệm
chuyên biệt khác (nếu cần)
Bảng 2. Các xét nghiệm chuyên biệt chẩn đoán
tiểu không tự chủ
|
Cận lâm sàng
|
Mục đích
|
Gợi ý khi nào làm
|
|
|
Đo niệu
dòng đồ (Uroflowmetry)
|
Đánh giá
tốc độ dòng tiểu
|
Nghi ngờ
tắc nghẽn niệu đạo, phì đại lành tính tuyến tiền liệt
|
|
|
Nội soi
bàng quang
|
Quan sát
trực tiếp niêm mạc, tìm khối u, sỏi, dị vật
|
Tiểu máu,
tiểu khó, nhiễm trùng tái phát, TKTC không đáp ứng điều trị
|
|
|
|
|
Chụp niệu
đồ tĩnh mạch
(IVU) /
CLVT hệ tiết niệu
|
Tìm bất
thường niệu
quản,
bàng quang, thận
|
Gợi ý bất
thường cấu trúc
|
|
|
Điện cơ
đồ (EMG) tầng
sinh môn
|
Đánh giá
thần kinh - cơ
|
Rối loạn
thần kinh ngoại vi, tổn thương tủy
|
|
|
Đánh giá
nhận thức (MMSE, MoCA)
|
Phân biệt
Functional UI
|
BN nghi
sa sút trí tuệ, lú lẫn
|
|
1.5.3.5. Lưu ý ở người
cao tuổi
Ưu tiên không xâm lấn:
Siêu âm, xét nghiệm nước tiểu là lựa chọn đầu tiên để giảm xâm lấn và nguy cơ
(nhiễm trùng, đau) ở người bệnh yếu. Bắt đầu bằng xét nghiệm cơ bản, chuyên sâu
nếu cần (theo phân tầng triệu chứng)
Bệnh lý phối hợp: đái
tháo đường, đột quỵ, sa sút trí tuệ làm phức tạp kết quả, cần đánh giá toàn
diện.
Văn hóa Việt Nam: Người
cao tuổi thường che giấu triệu chứng, cần phối hợp với người chăm sóc để lấy
mẫu xét nghiệm chính xác.
Hạn chế tại Việt Nam:
Thiếu thiết bị niệu động học ở một số cơ sở y tế, chi phí nội soi/CT cao.
1.6. Hậu quả của TKTC
TKTC nếu không được
phát hiện và không được điều trị hiệu quả sẽ gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực
đến khía cạnh thể chất và tinh thần của chất lượng cuộc sống. Ở phụ nữ cao
tuổi, bằng chứng cho thấy chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng bởi mức độ nghiêm
trọng của triệu chứng hơn là loại TKTC.
1.6.1. Hậu quả liên
quan đến sức khỏe thể chất
- TKTC gây ra những ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe thể chất của người cao tuổi. TKTC là
một dấu hiệu dự báo sớm về tình trạng suy yếu của người cao tuổi. TKTC làm gia
tăng sự suy giảm chức năng thể chất, tăng mức độ phụ thuộc và tăng gấp 2 lần
nguy cơ ngã ở người cao tuổi đặc biệt là týp TKTC khẩn cấp. Da tiếp xúc nhiều
lần với nước tiểu làm tăng nguy cơ phát triển viêm da, nhiễm trùng da, nấm,
ngứa và loét tì đè. Hậu quả về thể chất thường gây ra các vấn đề về tâm lí xã
hội như lo lắng, bối rối, thu mình lại với xã hội và trầm cảm. Người cao tuổi
bị TKTC thường hạn chế tham gia các hoạt động xã hội do lo ngại về mùi, nước
tiểu và các khó chịu liên quan đến các vấn đề về da.
- Rối loạn giấc ngủ có
thể gặp do tình trạng tiểu đêm do TKTC khẩn cấp hoặc tràn đầy. TKTC tràn đầy
nếu do nguyên nhân bí tiểu có thể gây hậu quả là ứ nước thận và suy thận. Bí
tiểu cũng là yếu tố nguy cơ gây xuất hiện sảng ở người cao tuổi. Rất nhiều
người cao tuổi giảm uống nước để tránh đi tiểu nhiều lần, điều này làm tăng
nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu và mất nước.
- Mặc dù không được
khuyến cáo nhưng một số người dùng sonde bàng quang để dẫn lưu nước tiểu ra ngoài.
Việc sử dụng sonde bàng quang và bọc nước tiểu sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn
tiết niệu.
1.6.2. Hậu quả liên
quan đến tâm lí xã hội
Bằng chứng cho thấy
rằng người cao tuổi mắc TKTC có cái nhìn tiêu cực về tình trạng sức khỏe tổng
thể của họ kèm theo cảm giác chán nản, mất hứng thú và cô lập xã hội rất hay
gặp. TKTC trở thành rào cản trong cuộc sống hàng ngày. Người cao tuổi thường
tránh rời khỏi nhà và không muốn tham gia các hoạt động bên ngoài nhà do lo sợ
tình trạng TKTC. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng triệu chứng trầm cảm thường xuất
hiện ở người mắc TKTC và trầm cảm nặng cũng thường liên quan với mức độ nặng
của TKTC.
1.6.3. Gánh nặng cho
người chăm sóc
TKTC có tác động tiêu
cực đáng kể đến người chăm sóc của người cao tuổi có TKTC. Thời gian và chi phí
chăm sóc tại nhà đối với người cao tuổi có TKTC cũng lớn hơn đáng kể so với
người không có tình trạng này. Ngoài ra, người chăm sóc cũng có thể gặp các vấn
đề về thay đổi vai trò, giấc ngủ, tài chính, sự gần gũi và cô lập xã hội cũng
như những cảm xúc tiêu cực, sự bối rối.
1.7. Điều trị TKTC
Nguyên tắc điều trị
chung
- Điều trị tiểu không
tự chủ cần cá thể hóa, dựa vào loại tiểu không tự chủ, nguyên nhân và mức độ
ảnh hưởng chất lượng sống và bệnh lý đi kèm.
- Xem xét một cách cẩn
thận các nguyên nhân gây TKTC tạm thời để giải quyết một cách dứt điểm tình
trạng TKTC
- Ở người cao tuổi,
điều trị bảo tồn luôn là lựa chọn đầu tay, đặc biệt khi BN có nhiều bệnh nền,
nguy cơ biến chứng nếu dùng thuốc hoặc phẫu thuật.
- Kết hợp nhiều phương
pháp bảo tồn sẽ hiệu quả hơn đơn độc một biện pháp.
- Điều trị TKTC bao
gồm: thay đổi hành vi, dùng thuốc và dụng cụ hoặc phẫu thuật.
1.7.1. Điều trị bảo tồn
1.7.1.1. Điều trị các
bệnh lý nền gây ra TKTC
Điều trị các bệnh lý
nền gây ra TKTC: ở người cao tuổi nhiều bệnh lý nền có thể gây ra tình trạng
TKTC hoặc làm bệnh nặng lên (nguyên nhân là do các bệnh lý nền gây ra tình
trạng đa niệu, tiểu đêm, tăng áp lực ổ bụng và rối loạn hệ thần kinh trung
ương). Các bệnh lý nền ảnh hưởng đến TKTC gồm: suy tim, đái tháo đường, bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính, đột quỵ, Parkínon, suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ, đa
xơ cứng, rối loạn giấc ngủ (hội chứng ngừng thở khi ngủ), táo bón. Điều trị các
bệnh lý nền này có thể điều trị khỏi hoặc cải thiện tình trạng TKTC.
Điều chỉnh việc sử dụng
các thuốc có thể gây ra TKTC: các thuốc chẹn alpha, các thuốc tác động thần
kinh trung ương, các thuốc lợi tiểu mạnh...
Bảng 1. Các thuốc làm tăng nguy cơ xuất hiện
TKTC ở người cao tuổi
|
Thuốc/nhóm thuốc
|
Cơ chế
|
|
Đồng vận
α-adrenergic
|
Tăng
trương lực cơ trơn ở niệu đạo và nang tuyến tiền liệt và có thể gây tắc
nghẽn, bí tiểu và các triệu chứng liên quan.
|
|
Đối kháng
α-adrenergic
|
Giảm
trương lực cơ trơn ở niệu đạo, nang tuyến tiền liệt và có thể gây TKTC do
căng thẳng ở phụ nữ
|
|
Thuốc ức
chế men chuyển dạng Angiotensin
|
Gây ho và
làm nặng thêm triệu chứng TKTC
|
|
Kháng
cholinergic
|
Có thể
gây suy giảm sự làm trống bàng quang, bí tiểu và táo bón đóng góp vào triệu
chứng TKTC. Thuốc có thể gây suy giảm nhận thức và giảm khả năng dùng toilet
một cách tự chủ và hiệu quả
|
|
Chẹn kênh
calci
|
Có thể
gây suy giảm sự làm trống bàng quang, bí tiểu và táo bón đóng góp vào triệu
chứng TKTC.
|
|
|
Có thể
gây phù, giữ nước đóng góp vào bệnh đa niệu đêm
|
|
Ức chế
cholinesterase
|
Tăng co
thắt bàng quang và có thể gây TKTC cấp bách
|
|
Thuốc lợi
tiểu
|
Tăng số
lượng nước tiểu và lợi tiểu
|
|
Lithium
|
Đa niệu
do đái tháo nhạt
|
|
Opioid
|
Có thể
gây bí tiểu, táo bón, lú lẫn, giảm vận động đóng góp vào TKTC
|
|
Các thuốc
hướng thần: An thần kinh, chống loạn thần, kháng H1 receptor
|
Có thể
gây lú lẫn, giảm vận động và gây TKTC
|
|
Các chất
ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc
|
Tăng dẫn
truyền cholinergic và có thể dẫn đến TKTC
|
|
Các thuốc
khác: Gabapentin, Glitazone, chống viêm không steroid
|
Có thể
gây phù, đa niệu đêm, tiểu đêm và TKTC ban đêm
|
1.7.1.2 .Thay đổi lối
sống
Không dùng các đồ uống
có caffein (cà phê, trà, coca cola…): vì caffein có thể gây kích thích hệ thần
kinh trung ương, lợi tiểu, giãn cơ thắt niệu đạo dễ gây tiểu gấp và tiểu nhiểu
lần.
Tập thể dục và các bài
tập Kegel (tập co thắt lặp đi lặp lại các cơ vùng tầng sinh môn): tập thể dục
giúp giảm cân nặng, giảm tình trạng thừa cân béo phì, bài tập Kegel làm săn
chắc cơ vùng tầng sinh môn giúp cải thiện chứng TKTC.
Kiểm soát lượng nước
đưa vào (nước và các loại dịch truyền): thường khuyên người bệnh dùng khoảng
1500 ml/ngày, hạn chế nước buổi tối. Lời khuyên nên dựa trên các phép đo lượng
nước uống vào và ra trong 24 giờ của từng người bệnh, đồng thời khuyến cáo
người bệnh uống đủ nước để tránh khát.
Bỏ thuốc lá, rượu bia
Giảm cân nếu thừa cân,
béo phì, ăn tăng rau xanh, chất xơ
Phòng và điều trị táo
bón: chế độ ăn nhiều chất xơ, đủ nước.
1.7.2. Luyện tập bàng
quang và thói quen đi tiểu
Luyện tập bàng quang và
thói quen đi tiểu theo chế độ tránh đi tiểu ngay lập tức, lập kế hoạch đưa
người bệnh vào nhà vệ sinh theo giờ (ban ngày 2h/1 lần, ban đêm 4h/1 lần;
khoảng thời gian giữa các lần đi tiểu tăng dần 30 - 60 phút sau mỗi vài ngày để
tập cho bàng quang thích nghi với sự tăng dần thể tích nước tiểu) có thể cải
thiện triệu chứng sau vài tháng, phương pháp này có thể phù hợp với còn tốt và
có động lực phấn đấu điều trị). Nếu thành công thì thời gian giữa các lần đi
tiểu là 2 - 3 giờ mà không còn triệu chứng tiểu gấp hoặc rò rỉ nước tiểu.
Đối với người cao tuổi
có suy giảm nhận thức và TKTC khẩn cấp hoặc chức năng, thường xuyên hỏi người
bệnh về nhu cầu đi tiểu và hỗ trợ khi họ trả lời có.
1.7.2.1. Bài tập cho cơ
vùng chậu
Các bài tập cho cơ vùng
chậu như bài tập Kegel giúp tăng sức mạnh các cơ thành bàng quang và cơ sàn
chậu. Bài tập này rất có hiệu quả ở phụ nữ có TKTC do áp lực. Bài tập này gồm
8-10 động tác lặp lại, mỗi động tác kéo dài 6 - 8 giây. Để chắc chắn các cơ
đang sử dụng, yêu cầu người bệnh nhịn tiểu trong khi đang đi tiểu và cố gắng
giữ nguyên tình trạng co cơ như vậy càng lâu càng tốt, 10 giây nếu có thể. Thực
hiện 3 - 4 lần mỗi ngày, mỗi lần thực hiện lặp lại 3 lần. Hiệu quả: rõ sau 6-8
tuần luyện tập đều đặn. Lưu ý cần hướng dẫn đúng cách (có thể phối hợp
với vật lý trị liệu nếu người bệnh thực hiện sai).
1.7.2.2. Tập luyện bàng
quang
+ Chỉ định: TKTC cấp
bách hoặc hỗn hợp
+ Nguyên tắc: kéo dài
khoảng cách giữa các lần đi tiểu → tăng khả năng kiểm soát tiểu tiện
+ Cách thực hiện:
Bắt đầu bằng việc đi
tiểu theo giờ cố định (ví dụ: 2 giờ/lần)
Nếu cảm giác mót, trì
hoãn bằng các kỹ thuật thư giãn, hít sâu
Mỗi tuần tăng dần
khoảng cách giữa các lần đi tiểu (15-30 phút)
Hiệu quả: cải thiện sau
vài tuần - vài tháng luyện tập đều
1.7.2.3. Đi tiểu theo
nhịp
Người chăm sóc, chứ
không phải người bệnh, là người chủ động quyết định đi tiểu theo các khoảng
thời gian đã định. Điều này có thể cải thiện tình trạng tiểu không tự chủ ở
người cao tuổi và những người có hoặc không có suy giảm thể chất và nhận thức,
nhưng đòi hỏi các kỹ thuật quản lý nhân viên chuyên sâu và liên tục. Những
người có khả năng đáp ứng tốt nhất là những người có thể duy trì mức độ kiểm
soát tiểu tiện cao, từ hai đến bốn lần mỗi giờ. Hướng dẫn của EAU khuyến nghị
nên sử dụng phương pháp này cho người cao tuổi bị suy giảm nhận thức mắc TKTC.
1.7.2.4. Điều chỉnh môi
trường và hỗ trợ chức năng
+ Cải thiện tiếp cận
nhà vệ sinh:
Đặt ghế vệ sinh gần
giường, đặc biệt ở viện dưỡng lão hoặc vùng nông thôn Việt Nam.
Đảm bảo ánh sáng ban
đêm, loại bỏ chướng ngại vật (thảm, đồ vật cản đường).
+ Hỗ trợ di động: cung
cấp gậy, xe lăn, hoặc người chăm sóc cho người bệnh hạn chế di chuyển, suy giảm
nhận thức hoặc sa sút trí tuệ
+ Sử dụng miếng lót, tã
lót tạm thời: hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống, nhưng không thay thế điều
trị. Ống sonde bàng quang ngắt quãng: nếu có bí tiểu. Ống sonde bàng quang lưu
dài hạn: hạn chế, chỉ dùng khi có chỉ định rõ ràng (giai đoạn cuối, liệt toàn
thân…).
1.7.3. Các can thiệp
không xâm lấn
Kích thích điện học
bằng các điện cực bề mặt tại tầng sinh môn, da vùng xương mu, thành âm đạo, có
thể cải thiện chứng TKTC.
Sử dụng các xung từ tại
vùng tầng sinh môn và xương cùng: có thể cải thiện chứng TKTC.
Kích thích thần kinh
chày sau bằng kim xung điện cắm dưới da tại vị trí trên mắt cá chân: giúp kích
thích trung tâm phản xạ cùng của tủy sống, có thể cải thiện chứng TKTC ở một số
người bệnh (khuyến cáo mức độ B).
Kích thích bằng xung từ
trường tại vùng tầng sinh môn và xương cùng: có thể có hiệu quả ở trên người
bệnh TKTC gắng sức và TKTC cấp bách.
Châm cứu: được dung nạp
tương đối tốt, ít phản ứng phụ và an toàn, có thể cải thiện TKTC bằng cách tăng
cường khí (chất thiết yếu cấu thành nên cơ thể con người) và thúc đẩy phục hồi
chức năng bàng quang (khuyến cáo mức độ B).
1.7.4. Sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc có thể
hiệu quả cho tất cả các týp của TKTC tuy nhiên cần được chỉ định cẩn thận để
điều trị các căn nguyên cơ bản của TKTC.
1.7.4.1. Thuốc kháng hệ
muscarinic (kháng cholinergic)
Cơ chế tác dụng: kháng
thụ thể hệ muscarinic tại thành bàng quang có các thụ thể M2, M3 là trung gian
dẫn truyền cho sự co bóp destrusor do đó có tác dụng làm giảm co bóp bất thường
của bàng quang, cải thiện TKTC cấp bách và bàng quang tăng hoạt (tiểu gấp, tiểu
đêm). Có nhiều thế thệ thuốc khác nhau về vị trí tác động tại thụ thể M2, M3,
hoạt lực, tính ái mỡ, và thời gian tác dụng (tác dụng nhanh, tác dụng kéo dài,
thẩm thấu qua da).
Chỉ định: TKTC do co
thắt cơ detrusor bất thường.
Chống chỉ định ở người
bệnh glocom góc đóng. Thận trọng trên người bệnh cao tuổi, có bệnh lý gan,
thận, cường giáp, mạch vành, suy tim ứ huyết, tăng huyết áp, bệnh lý thần kinh
tự động.
Tác dụng phụ: mờ mắt,
khô miệng, tăng nhịp tim, mệt mỏi, táo bón, suy giảm nhận thức, tăng nguy cơ
ngã ở người cao tuổi.
Các thuốc:
- Oxybutynin (phóng
thích nhanh): 2,5 mg x 3 lần/ngày. Chế phẩm phóng thích chậm: 5 - 30
mg/1lần/ngày; dạng miếng dán 3,9 mg/ngày, dạng gel 1g/ngày. Tăng sức chứa bàng
quang, giảm co bóp bất thường bàng quang. Chỉ định TKTC gấp hoặc TKTC hỗn hợp
với triệu chứng tiểu gấp nổi bật.
- Tolterodin: liều dùng
2-4 mg/ngày, ít tác dụng phụ khô miệng hơn.
- Solifenacin: 5 -10 mg/1lần/ngày,
ít tác dụng phụ nên dung nạp tốt hơn.
- Trospium Chloride: 20
mg x 2-3 lần/ngày.
- Darifenacin: 7,5 - 15
mg/1lần/ngày.
- Fesoterodine:
4-8mg/ngày
+ Lưu ý ở người cao
tuổi:
Bắt đầu liều thấp, tăng
dần.
Không sử dụng ở người
bệnh suy giảm nhận thức hoặc bệnh lý phối hợp (glaucoma, táo bón nặng).
Theo dõi tương tác
thuốc (thuốc tim mạch, an thần).
1.7.4.2. Nhóm thuốc chủ
vận β3 (β3-agonists)
Tác dụng: Tăng dung
tích bàng quang, giảm co bóp bất thường, cải thiện TKTC cấp bách.
Thuốc phổ biến: Mirabegron:
25-50mg/ngày, dung nạp tốt, ít tác dụng phụ anticholinergic.
Hiệu quả: Giảm 50-60%
triệu chứng OAB sau 4-8 tuần, đặc biệt hiệu quả khi kết hợp với
antimuscarinics.
Tác dụng phụ: Tăng
huyết áp nhẹ (5-10%), nhức đầu, hiếm gặp rối loạn nhận thức.
+ Lưu ý ở người cao
tuổi:
- An toàn hơn
antimuscarinics, phù hợp cho người bệnh có bệnh lý phối hợp, nguy cơ suy giảm
nhận thức và người cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương.
- Theo dõi huyết áp,
tránh ở người bệnh tăng huyết áp không kiểm soát.
1.7.4.3. Thuốc đồng vận
alpha-adrenergic
Cơ chế tác dụng: có
hoạt tính giao cảm làm tăng trương lực cơ ở cổ bàng quang và niệu đạo. Thuốc
thích hợp ở nhóm TKTC do nguyên nhân bất toàn cơ thắt niệu đạo và TKTC hỗn hợp.
Thận trọng trên người bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, cường
giáp, glcôcôm, phì đại tuyến tiền liệt tắc nghẽn đường tiểu.
Các thuốc:
- Duloxetine:
40-80mg/ngày chia 1-2 lần trong 8 tuần, tăng sức mạnh cơ vòng niệu đạo.
Duloxetine cần được sử dụng thận139trọng ở người cao tuổi, nhất là khi dùng cho
mục đích điều trị TKTC; chỉ nên cân nhắc trong trường hợp có trầm cảm kèm triệu
chứng TKTC, vì lợi ích-rủi ro chưa rõ ràng ở nhóm này.
- Pseudoephedrin: 30 -
60 mg x 2-3 lần/ngày.
- Phenylpropanolamine
hydrochlorid.
- Tác dụng phụ: Tăng
huyết áp, mất ngủ, lo âu (pseudoephedrine); buồn nôn, mệt mỏi (duloxetine).
Lưu ý: Hạn chế dùng do
rủi ro tim mạch, không phải lựa chọn đầu tiên.
1.7.4.4. Estrogens
Tác dụng: cải thiện
triệu chứng TKTC gắng sức trên phụ nữ mãn kinh, giúp cải thiện các triệu chứng đường
tiết niệu dưới như tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm và TKTC mức độ nhẹ đến
trung bình. Cơ chế tác dụng liên quan đến việc cải thiện tưới máu niệu đạo,
tăng độ dày và tính toàn vẹn của niêm mạc niệu đạo, từ đó góp phần cải thiện
chức năng đóng của niệu đạo.
Các phân tích tổng quan
hệ thống cho thấy sử dụng estrogen đường âm đạo có thể cải thiện các triệu
chứng đường tiết niệu mức độ nhẹ đến vừa phải (giảm tần suất, cảm giác gấp, và
giảm số lần són tiểu). Tuy nhiên, hiệu quả đối với các chỉ số khách quan như
lượng nước tiểu tồn lưu sau tiểu (PVR) hoặc tỷ lệ khỏi hoàn toàn còn chưa nhất
quán. Estrogen đường toàn thân không được khuyến cáo để điều trị tiểu không tự
chủ và có thể làm nặng thêm triệu chứng ở một số trường hợp.
Chế phẩm: viên đặt âm
đạo, kem bôi âm đạo hoặc vòng âm đạo chứa estrogen. Các thuốc:
- Estradiol kem bôi âm
đạo: 10 - 25 mcg/ngày hoặc bôi âm đạo 2-3 lần/tuần.
- Nhẫn estradiol (vòng
âm đạo): 90 mg/nhẫn; thay sau mỗi 90 ngày.
- Gel estrogen: 0,5 - 2
mg/ngày hoặc 2 lần/tuần.
Tác dụng phụ: kích ứng
tại chỗ, căng tức vú, ra huyết âm đạo bất thường. Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch
và ung thư nội mạc tử cung rất thấp khi sử dụng estrogen âm đạo liều thấp,
nhưng vẫn cần thận trọng ở những người có tiền sử ung thư phụ thuộc estrogen.
Lưu ý: Nên dùng liều
thấp nhất có hiệu quả và và theo dõi định kỳ 3 - 6 tháng/lần các triệu chứng
cũng như các bất thường phụ khoa trong quá trình điều trị. Tránh ở người bệnh
có nguy cơ ung thư vú/tử cung.
1.7.4.5. Desmopressin
Tác dụng: là đồng phân
quang học của vasopressin, thích hợp trong TKTC trên người bệnh bị đái tháo
nhạt (đa niệu toàn bộ) hoặc đa niệu đêm liều dùng 0,05 - 0,2mg x 1-3 lần/ngày.
Tác dụng giảm sản xuất
nước tiểu ban đêm (tiểu đêm nặng), nhưng cân nhắc dùng ở người cao tuổi do nguy
cơ hạ natri máu.
1.7.4.6. Chẹn alpha-
adrenergic
Chỉ định cho người bệnh
TKTC do phì đại tuyến tiền liệt tắc nghẽn đường tiểu. Các thuốc:
Prazosin: 1 - 10 mg x 3
lần/ngày.
Doxazosin: 1 - 8
mg/ngày.
Alfuzosin: 10 mg/ngày.
Terazosin: 1 - 20
mg/ngày.
Silodosin: 8 mg/ngày.
1.7.4.7. Thuốc ức chế
5α-Reductase
Tác dụng: ức chế chuyển
hóa testosteron sang dạng hoạt động là dihydrotestosteron, giúp làm giảm thể
tích tuyến tiền liệt và do đó làm giảm tắc nghẽn đường ra của bàng quang.
Các thuốc:
Finasterid: 5mg/ngày.
Dutasterid: 0,5mg/ngày.
1.7.4.8. Thuốc chống
trầm cảm 3 vòng
Tác dụng: thuốc có tác
dụng kháng cholinergic do đó có thể cải thiện triệu chứng tăng hoạt động quá
mức của cơ bàng quang.
1.7.4.9. Liệu pháp kết
hợp thuốc
Bảng 2. Liệu pháp kết hợp thuốc
|
Loại
thuốc
|
Lợi
ích
|
Nguy
cơ
|
Khi
nào nên dùng
|
|
Mirabegron
đơn trị (25-50mg hàng ngày)
|
Ít tác
dụng phụ lên nhận thức hơn
Gánh nặng
kháng cholinergic thấp hơn
Tỉ lệ
thành công 64- 68% sau 3 tháng
|
Tăng
huyết áp (nhẹ)
Đau đầu
Viêm mũi
họng
|
Lựa chọn
đầu tay cho người cao tuổi có các lo ngại về nhận thức hoặc gánh nặng kháng
cholinergic cao
|
|
Antimusscarinic
đơn trị (liều thấp solifenacin 5mg)
|
Hiệu quả
đã được chứng minh
Chi phí
thấp hơn
Tỉ lệ
thành công 45- 50%
|
Nguy cơ
suy giảm nhận thức
Gánh nặng
kháng cholinergic
Khô miệng,
táo bón
|
Khi
mirabegron có chống chỉ định hoặc theo mong muốn của người bệnh
|
|
Liệu pháp
phối hợp
(Mirabegron
25mg + Solifenacin 5mg)
|
Nhắm
trúng đích theo cơ chế kép (đường truyền kép)
Tỉ lệ
thành công 75% (cao nhất)
Kiểm soát
triệu chứng tốt hơn
|
Tỉ lệ gặp
biến cố bất lợi cao hơn (28,6%)
Tuân thủ
điều trị của người bệnh thấp hơn
Khô
miệng, mờ mắt
|
Tình
trạng TKTC dai dẳng sau khi thất bại với đơn trị liệu
|
1.7.5. Các dụng cụ hỗ
trợ
Miếng dán dành cho
người TKTC, bỉm cho người cao tuổi và các loại quần áo đặc biệt cho người TKTC
thường được sử dụng để giảm các hậu quả do TKTC.
Sonde bàng quang tạm
thời hoặc liên tục: được dùng để kiểm soát triệu chứng bí tiểu cấp hoặc mạn
tính. Đối với người bệnh có chức năng nhận thức bình thường và có thể chấp nhận
được thì đặt sonde bàng quang ngắt quãng/ tạm thời sẽ có hiệu quả và ít gây
nhiễm khuẩn tiết niệu.
Bọc tiểu không được
khuyến cáo sử dụng do làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu, kích ứng và nhiễm
khuẩn da.
Các loại dụng cụ khác
như mũ chụp âm đạo hoặc dụng cụ sàn chậu cũng có thể cân nhắc để giảm khó chịu
do TKTC tràn đầy hoặc TKTC do căng thẳng ở phụ nữ.
1.7.6. Phẫu thuật
Được chỉ định khi các
bước điều trị bảo tồn, dùng thuốc không hiệu quả.
1.7.6.1. Bất thường cơ
thắt
+ Tiêm bơm keo sinh
học, mỡ tự thân qua nội soi bàng quang
Chỉ định người bệnh nữ
TKTC không có sa sàn chậu, người bệnh nam bị TKTC sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến
tiền liệt.
Ở người bệnh nữ: tiêm
vào vị trí thành bên của lỗ niệu đạo: 4h và 8h hoặc 3h và 9h.
Ở người bệnh nam: tiêm
vào 4 phía ngay trên cơ thắt vân.
+ Phẫu thuật treo sau
xương mu: treo niệu đạo và cổ bàng quang vào xương mu, treo âm đạo vào xương mu
giúp tăng cường sức chống đỡ của niệu đạo.
+ Đặt tấm lưới nâng đỡ
niệu đạo (TOT, TVT): chỉ định tiểu không kiểm soát gắng sức nữ giới, nguyên lý
đặt dải lưới nhân tạo hoặc cân cơ nhằm nâng cổ bàng quang.
+ Phẫu thuật tạo hình
thành trước âm đạo để điều trị TKTC nhẹ và kết hợp có sa bàng quang hay sa trực
tràng.
+ Đặt van nhân tạo: áp
dụng cho người bệnh nam giới có tiểu không kiểm soát do nguyên nhân cơ thắt mất
chức năng, hiệu quả cao, chi phí cao.
+ Tiêm độc tố botulinum
A (Botox) vào lớp dưới niêm mạc bàng quang: áp dụng cho người bệnh nữ TKTC gấp
khó điều trị với thuốc kháng muscarinic.
1.7.6.2. Giảm dung tích
bàng quang
+ Tạo hình mở rộng bàng
quang bằng ruột.
+ Chuyển lưu nước tiểu:
chuyển lưu qua da, qua hồi tràng... chỉ định khi TKTC không thể xử trí được
bằng các phương pháp khác, hay khi có tổn thương thận
2. ĐẠI TIỆN KHÔNG TỰ
CHỦ
2.1. Định nghĩa đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
Đại tiện không tự chủ
(Faecal Incontinence - FI) là tình trạng mất khả năng kiểm soát việc đại tiện,
dẫn đến rò rỉ phân lỏng, phân sệt hoặc phân rắn một cách không chủ ý. Ở người
cao tuổi, đại tiện không tự chủ thường là kết quả của sự suy giảm chức năng hệ
tiêu hóa, thần kinh và cơ sàn chậu do lão hóa hoặc bệnh lý phối hợp.
Theo Hiệp hội Tiêu hóa
Hoa Kỳ (AGA) và Hướng dẫn chẩn đoán điều trị của Bộ Y tế Việt Nam, đại tiện
không tự chủ được định nghĩa là: “Sự rò rỉ không tự chủ của phân (rắn, lỏng hoặc
khí) xảy ra ít nhất 1 lần/tuần trong thời gian ≥ 3 tháng liên tục, gây ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.”
2.2. Dịch tễ học đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
Trên thế giới, tỷ lệ
mắc đại tiện không tự chủ ở người lớn khoảng 8.3%, cao hơn ở phụ nữ và người
cao tuổi. Theo nghiên cứu toàn cầu, tỷ lệ ở người trên 60 tuổi là 9.3% (95% CI:
6.6%-12.0%), cao hơn so với nhóm trẻ hơn (4.9%). Ở châu Á, nghiên cứu tại Hàn
Quốc cho thấy tỷ lệ chung là 6.4%, tăng theo tuổi mà không có sự khác biệt giới
tính. Tại các nước phát triển, tỷ lệ ở người cao tuổi có thể lên đến 16% ở nhóm
trên 70 tuổi, và cao tới 47% ở viện dưỡng lão.
Tại Việt Nam, dữ liệu
dịch tễ học cụ thể về đại tiện không tự chủ ở người cao tuổi còn hạn chế. Các
nghiên cứu liên quan đến rối loạn tiêu hóa như hội chứng ruột kích thích (IBS)
cho thấy tỷ lệ IBS khoảng 10.9%-17.4% theo tiêu chí Rome, và IBS có thể liên
quan đến đại tiện không tự chủ. Tuy nhiên, không có nghiên cứu lớn về đại tiện
không tự chủ, nhưng dựa trên xu hướng châu Á, tỷ lệ có thể tương tự, tăng ở
người cao tuổi do dân số già hóa nhanh chóng.
2.3. Hậu quả của đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi
Đại tiện không tự chủ
không đe dọa trực tiếp đến tính mạng, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về thể
chất, tâm lý và xã hội ở người cao tuổi:
- Chất lượng cuộc sống:
gây xấu hổ, trầm cảm, lo âu, tự cô lập, giảm khả năng tham gia hoạt động cộng
đồng
- Sức khỏe thể chất:
tăng nguy cơ loét vùng cùng cụt do phân rò rỉ, nhiễm khuẩn đường niệu do vệ
sinh kém
- Suy dinh dưỡng: người
bệnh hạn chế ăn uống để tránh đại tiện gây sụt cân
- Ở người cao tuổi, đại
tiện không tự chủ liên quan đến tăng nguy cơ nhập viện, phụ thuộc chăm sóc và
tử vong cao hơn (ví dụ, tỷ lệ tử vong 10 tháng ở người bệnh đại tiện không tự
chủ kéo dài là 26% so với 6.7% ở nhóm kiểm soát)
- Tăng gánh nặng cho
người chăm sóc, dễ dẫn đến nhập viện hoặc chuyển viện dưỡng lão.
- Tăng chi phí điều trị
gián tiếp do tã, thuốc, thiết bị hỗ trợ
2.4. Sinh lý bệnh
Sinh lý bệnh của đại
tiện không tự chủ liên quan đến sự rối loạn cấu trúc hoặc chức năng của hậu môn
trực tràng. Bình thường, sự kiểm soát đại tiện phụ thuộc vào cơ thắt hậu môn
(nội và ngoại), thần kinh cảm giác, và tuân thủ trực tràng.
2.4.1. Sinh lý đại tiện
bình thường
Các cấu trúc giải phẫu
giúp duy trì kiểm soát chức năng ruột bao gồm:
- Trực tràng: Một
khoang chứa phân có thể chứa tới 300 ml mà không cần tăng áp lực. Vượt quá giới
hạn này, cảm giác muốn đi đại tiện sẽ xuất hiện. Trực tràng được nối với hậu
môn, một ống cơ rỗng dài 3 đến 4 cm, nằm ở góc 90 độ so với trực tràng khi nghỉ
ngơi. Trong quá trình đại tiện, góc này trở nên tù, khoảng 110 đến 130 độ, cho
phép phân đi qua.
- Cơ thắt hậu môn
trong: Được chi phối bởi hệ thần kinh ruột, cấu trúc này chịu trách nhiệm cho
80% đến 85% trương lực khi nghỉ ngơi của ống hậu môn. Phản xạ ức chế hậu môn
trực tràng cho phép cơ thắt trong giãn ra, cho phép các thụ thể cảm giác ở hậu
môn cảm nhận được các chất trong trực tràng. Điều này giúp phân biệt phân rắn,
phân lỏng với phân khí.
- Cơ thắt hậu môn
ngoài: Được chi phối bởi dây thần kinh thẹn, cấu trúc này co bóp và duy trì khả
năng kiểm soát đại tiện khi áp lực trong ổ bụng tăng đột ngột, chẳng hạn như
khi ho hoặc nâng vật nặng.
- Cơ mu trực tràng: Cơ
này tạo thành một dây treo quanh chỗ nối hậu môn trực tràng và duy trì góc hậu
môn trực tràng, giúp duy trì hàng rào giải phẫu chống lại sự bài tiết phân.
Để duy trì khả năng
kiểm soát đại tiện, có sự tương tác phức tạp giữa một số hệ thống cơ quan và
dây thần kinh. Khi khối phân di chuyển đến trực tràng, điều này gây ra sự căng
giãn. Các dây thần kinh phó giao cảm (S2-S4) truyền cảm giác căng giãn trực
tràng, gây ra sự giãn phản xạ ức chế trực tràng và sự co thắt phản xạ co thắt
trực tràng. Niêm mạc trực tràng có rất nhiều đầu dây thần kinh có thể lấy mẫu
phân để xác định khối phân là chất lỏng hay chất rắn. Việc lấy mẫu phân bất
thường và giảm cảm giác hậu môn trực tràng rất có thể góp phần gây ra chứng đại
tiện không tự chủ ở nhiều người. Bất kỳ bệnh lý nào cản trở các quá trình này,
như chấn thương, đột quỵ, sinh thường hoặc liệt, đều có thể dẫn đến chứng đại
tiện không tự chủ.
2.4.2. Sinh lí bệnh đại
tiện không tự chủ
Đại tiện không tự chủ
là kết quả của sự rối loạn trong hệ thống kiểm soát đại tiện, bao gồm:
- Cơ thắt hậu môn (nội
và ngoại): suy yếu do tuổi tác, tổn thương sau sinh, chấn thương
- Cơ nâng hậu môn và cơ
sàn chậu: bị lão hóa hoặc rối loạn chức năng
- Trực tràng: giảm khả
năng chứa đựng và cảm nhận phân
- Dẫn truyền thần kinh:
tổn thương thần kinh ngoại biên (do đái tháo đường, đột quỵ, thoái hóa thần kinh,
chấn thương)
- Tăng nhu động ruột
hoặc táo bón kéo dài → tràn phân lỏng quanh khối phân cứng
Ở người cao tuổi, lão
hóa dẫn đến giảm độ nhạy cảm giác và yếu cơ, kết hợp với bệnh lý như táo bón
mãn tính làm trầm trọng thêm
2.5. Nguyên nhân
Các nguyên nhân đại
tiện không tự chủ ở người cao tuổi thường gặp:
Táo bón hoặc tiêu chảy
mạn tính: là nguyên nhân phổ biến nhất, làm tổn thương cơ thắt.
Tổn thương cơ vòng hậu
môn (sau phẫu thuật, tai nạn, đứt cơ sau sinh)
Sa trực tràng hoặc sa
niêm mạc hậu môn
Tổn thương thần kinh
(đột quỵ, Parkinson, sa sút trí tuệ, chấn thương cột sống, bệnh xơ cứng rải
rác, thoát vị đĩa đệm, u chèn ép và cột sống)
Bệnh lý cơ sàn chậu,
rối loạn cơ học trực tràng, phẫu thuật vùng chậu, xạ trị vào vùng chậu, bụng,
trực tràng hoặc sinh dục
Bệnh lý ruột: IBS, viêm
ruột, ung thư trực tràng, trĩ
Tác dụng phụ của thuốc:
nhuận tràng, kháng sinh, metformin…
Lối sống: chế độ ăn
thiếu chất xơ
2.6. Phân loại
2.6.1. Phân loại theo
triệu chứng
Theo cơ chế và biểu
hiện, đại tiện không tự chủ có thể được chia như sau:
- Đại tiện không tự chủ
kiểu thôi thúc (urge incontinence): không kiểm soát được khi có cảm giác buồn
đại tiện (khẩn cấp) biểu hiện rối loạn chức năng cơ thắt hoặc trực tràng không
giữ được phân.
- Đại tiện không tự chủ
kiểu thụ động (passive incontinence): són phân mà không nhận biết, biểu hiện
bệnh lý thần kinh, suy giảm phản xạ hậu môn trực tràng hoặc rối loạn chức năng
cơ thắt.
- Rò rỉ phân: Rò rỉ
phân không mong muốn, thường xảy ra sau khi đại tiện với khả năng tự chủ bình
thường.
- Đại tiện không tự chủ
chức năng: do giảm khả năng vận động, nhận thức
2.6.2. Phân loại theo
mức độ
Hoàn toàn (mất kiểm
soát phân rắn/lỏng) hoặc một phần (chỉ khí hoặc phân lỏng).
Ngoài ra còn phân theo
mức độ nặng nhẹ bằng các thang điểm như Wexner score, Vaizey scale.
2.6.3. Phân loại theo
nguyên nhân
2.6.3.1. Đại tiện không
tự chủ do nguyên nhân thần kinh
- Cơ chế
Giảm hoặc mất cảm giác
trực tràng, không nhận biết nhu cầu đại tiện.
Rối loạn phản xạ điều
hòa trực tràng - cơ thắt - sàn chậu.
Giảm trương lực cơ thắt
hậu môn (đặc biệt cơ thắt ngoài).
Mất phối hợp vận động
sàn chậu.
- Nguyên nhân điển hình
Tổn thương thần kinh
trung ương: đột quỵ, Parkinson, sa sút trí tuệ, đa xơ cứng, chấn thương sọ não.
Tổn thương tủy sống:
chấn thương tủy, u tủy, viêm tủy.
Tổn thương thần kinh
ngoại biên: bệnh thần kinh do đái tháo đường, tổn thương thần kinh thẹn (sau
sinh khó, forceps; ngồi xe đạp quá nhiều) thần kinh ngoại biên do xạ trị vùng
chậu.
Hội chứng đuôi ngựa.
- Đặc điểm lâm sàng gợi
ý:
Giảm hoặc mất cảm giác
mót rặn;
Đại tiện không tự chủ
xảy ra không báo trước;
Cơ thắt hậu môn trương
lực yếu khi khám trực tràng;
Kèm dấu thần kinh điển
hình: run (Parkinson), liệt nửa người (đột quỵ não), giảm phản xạ tầng sinh
môn.
Ở tổn thương tủy: có
thể kiểu reflex bowel (tăng phản xạ) hoặc areflexic bowel (mất phản xạ đại
tiện).
2.6.3.2. Đại tiện không
tự chủ do nguyên nhân cấu trúc - cơ học
- Cơ chế
Tổn thương cơ thắt hậu
môn trong hoặc ngoài làm giảm áp lực đóng kín.
Sa trực tràng hoặc
intussusception gây phá vỡ cơ chế đóng - chứa trực tràng.
Hậu quả phẫu thuật hoặc
chấn thương gây mất tính toàn vẹn cấu trúc.
- Nguyên nhân điển hình
Rách cơ thắt do sinh
(OASIS).
Phẫu thuật hậu môn -
trực tràng: mổ trĩ, phẫu thuật rò hậu môn, cắt polyp trực tràng đoạn thấp.
Chấn thương tầng sinh
môn.
Sa trực tràng toàn bộ,
lồng ruột nội tại vùng trực tràng, túi sa trực tràng lớn hoặc sa thành trước
trực tràng lớn.
Tổn thương cơ nâng hậu
môn sau sinh hoặc do phẫu thuật vùng chậu.
Dị tật hậu môn - trực
tràng sau sửa chữa.
- Đặc điểm lâm sàng gợi
ý
Cảm giác mót còn, nhưng
không giữ được phân → đại tiện không tự chủ khi gắng sức, ho, chạy.
Rỉ phân khi hoạt động
hoặc khi phân mềm.
Tiền sử sản khoa nặng
(forceps, kéo dài giai đoạn II).
Khám hậu môn thấy khe
hở cơ thắt, sẹo phẫu thuật.
Sa trực tràng có thể
nhìn thấy khi rặn.
2.6.3.3. Đại tiện không
tự chủ do phân lỏng/tiêu chảy
- Cơ chế
Phân lỏng tràn qua cơ
thắt dù cơ thắt còn nguyên vẹn.
Giảm thời gian lưu ở
trực tràng do tăng nhu động ruột.
Viêm đại tràng làm giảm
khả năng dự trữ. Nguyên nhân điển hình
Hội chứng ruột kích
thích thể tiêu chảy (IBS-D).
Crohn, viêm loét đại
tràng (IBD).
Viêm đại tràng vi thể.
Nhiễm trùng ruột (C.
difficile, virus).
Thuốc gây tiêu chảy:
metformin, kháng sinh, nhuận tràng, MgO.
Kém hấp thu acid mật.
Sau cắt túi mật.
- Đặc điểm lâm sàng gợi
ý
Đại tiện không tự chủ
xảy ra trong đợt tiêu chảy kéo dài, phân lỏng nhiều lần/ngày.
Vẫn còn cảm giác mót
nhưng không kịp vào nhà vệ sinh.
Không có tiền sử chấn
thương/sinh khó.
Có thể kèm đau bụng,
mót rặn liên tục, cấp bách.
2.6.3.4. Đại tiện không
tự chủ do táo bón - tràn phân
- Cơ chế
Phân cứng ứ trong trực
tràng → phân lỏng từ trên chảy tràn ra.
Trực tràng giãn to làm
giảm cảm giác trực tràng.
Rối loạn tống phân làm
tăng ứ phân.
- Nguyên nhân điển hình
Táo bón mạn ở người cao
tuổi.
Táo bón do thuốc:
opioid, anticholinergic, TCA, sắt, calcium.
Rối loạn tống phân.
Suy giáp, kém vận động.
Bệnh thần kinh ảnh
hưởng cảm giác trực tràng.
- Đặc điểm lâm sàng gợi
ý
Xen kẽ táo bón nặng và
rỉ phân lỏng.
Cảm giác đại tiện không
hết, đau tức bụng dưới.
Khám trực tràng: thấy
nhiều phân rắn.
Người cao tuổi, ít vận
động, dùng nhiều thuốc.
2.6.3.5. Đại tiện không
tự chủ hỗn hợp
- Cơ chế
Phối hợp ≥ 2 cơ chế:
thần kinh và cấu trúc; tiêu chảy và cơ thắt yếu; táo bón và giảm cảm giác trực
tràng.
- Nguyên nhân điển hình
Phụ nữ sau sinh nhiều
lần gây rách cơ thắt và tổn thương thần kinh thẹn.
Người cao tuổi có giảm
trương lực cơ và táo bón kèm bệnh thần kinh do đái tháo đường.
Người bệnh IBD có tiêu
chảy và giảm tính đàn hồi trực tràng.
Sau phẫu thuật vùng
chậu gây tổn thương cơ và có tổn thương thần kinh.
- Đặc điểm lâm sàng gợi
ý
Triệu chứng dao động:
lúc tiêu chảy gây rỉ phân, lúc táo bón gây tràn phân.
Cần kết hợp lâm sàng và
các kĩ thuật đo áp lực hậu môn, trực tràng, siêu âm để phân loại chính xác.
2.7. Chẩn đoán
Chẩn đoán bắt đầu từ
bệnh sử (tần suất, loại phân, yếu tố nguy cơ) và khám lâm sàng (khám hậu môn,
kiểm tra cơ thắt) và cận lâm sàng.
2.7.1. Triệu chứng lâm
sàng
- Hỏi bệnh sử: tần suất
đại tiện không tự chủ, tính chất phân (phân rắn, lỏng, hỗn hợp), thời điểm xuất
hiện
- Đánh giá thói quen
đại tiện, tình trạng táo bón/tiêu chảy kèm theo
- Chế độ ăn uống
- Các bệnh kèm (thần
kinh, đái tháo đường, đột quỵ, phẫu thuật vùng hậu môn, bệnh ruột)
- Thuốc đang sử dụng (có
thuốc gây phân lỏng, nhuận tràng, kháng cholinergic…)
- Ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống và mong đợi điều trị
- Khám hậu môn - trực
tràng:
+ Nhìn bên ngoài: có sa
trực tràng, tổn thương vùng hậu môn ngoài không
+ Khám bằng tay: đánh
giá trương lực cơ vòng, phản xạ co thắt
+ Xem có khối phân tồn
đọng trong trực tràng hay không
2.7.2. Cận lâm sàng
- Xét nghiệm máu: Một
số xét nghiệm máu cơ bản sẽ được chỉ định để đánh giá tổng quát tình trạng sức
khoẻ.
- Xét nghiệm phân: soi,
cấy tìm dấu hiệu nhiễm trùng
- Chụp X-quang bụng: phát
hiện phân cứng trong ruột
- Đo áp lực cơ vòng hậu
môn, cảm giác trực tràng, khả năng phản hồi co cơ
- Siêu âm nội soi hậu
môn/nội trực tràng: phát hiện tổn thương cơ vòng (vết rách, đứt cơ)
- Nội soi trực tràng,
đại tràng để loại trừ bệnh lý viêm, chảy máu, loét, khối u, polyp…
- Chụp X-quang đại
tràng/trực tràng cản quang; phát hiện các bất thường của đại tràng và trực
tràng Chụp cộng hưởng từ sàn chậu: đánh giá sa trực tràng, bất thường giải phẫu
phức tạp hoặc nghi tổn thương thần kinh kết hợp
- Điện cơ hậu môn -
thần kinh chậu: một điện cực kim được đưa trực tiếp vào mô cơ hậu môn giúp xác
định tổn thương thần kinh.
- Test tống bóng trực
tràng (Balloon expulsion test): đánh giá khả năng đẩy phân ra ngoài (mô phỏng
phân).
2.7.3. Đánh giá kỳ vọng
người bệnh và chia sẻ quyết định
- Bác sĩ nên thảo luận
với người bệnh về dự kiến hiệu quả, thời gian cải thiện, rủi ro các phương pháp
điều trị.
- Xác định mức độ chấp
nhận điều trị (người bệnh có thể hợp tác tập luyện, tuân thủ kỹ thuật)
2.7.4. Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt cho
đại tiện không tự chủ bao gồm:
- Dị vật âm đạo hoặc
hậu môn
- Rò trực tràng âm đạo
- Rò hậu môn
- Áp-xe hậu môn trực
tràng
- Sa trực tràng
2.8. Điều trị
Hướng điều trị với
nguyên tắc bước từng tầng (stepwise)
Hướng dẫn đề xuất ba
tầng điều trị:
- Tầng 1 (cơ bản, ít
xâm lấn)
- Tầng 2 (can thiệp
nội, nhẹ)
- Tầng 3 (can thiệp
phẫu thuật/kỹ thuật cao)
2.8.1. Tầng 1 - Biện
pháp ban đầu (ít rủi ro)
- Tư vấn, giáo dục
người bệnh
- Điều chỉnh chế độ ăn
uống và lối sống
+ Duy trì chất xơ hợp
lý, tránh thức ăn làm phân lỏng quá mức
+ Uống đủ nước
+ Hạn chế chất kích
thích ruột (cà phê, rượu…)
+ Thiết lập thói quen
đại tiện cố định
+ Tập vận động, tránh
ngồi quá lâu
+ Chăm sóc vùng hậu
môn: Đảm bảo vùng hậu môn luôn sạch và khô ráo để tránh kích ứng và nhiễm
trùng. Sử dụng giấy vệ sinh mềm nhẹ khi lau và hạn chế việc sử dụng các chất có
chứa hóa chất gây kích ứng.
+ Tránh căng thẳng,
stress
- Điều trị táo bón hoặc
tiêu chảy nếu có
- Sử dụng sản phẩm hỗ
trợ (tã, băng tiếp thu, đệm hút) để giảm phiền toái
- Giáo dục đại tiện,
hướng dẫn kỹ thuật rặn, huấn luyện sàn chậu thụ động
- Không khuyến nghị
dùng thuốc co cơ hậu môn ngoại trừ trong nghiên cứu đặc biệt (bằng chứng hạn
chế)
- Sử dụng thuốc làm đặc
phân, thuốc chống tiêu chảy (theo chỉ định bác sĩ):
- Thuốc làm đặc phân:
loperamide, psyllium
- Điều trị tiêu chảy:
codeine, racecadotril
- Điều trị táo bón (nếu
có): thuốc nhuận tràng thẩm thấu, chất xơ
2.8.2. Tầng 2 - Can
thiệp nội, không phẫu thuật
Khi sau một khoảng thời
gian áp dụng tầng 1 mà triệu chứng còn không chấp nhận được: Liệu pháp
Biofeedback/huấn luyện cơ - thần kinh (pelvic floor retraining, feedback)
+ Được coi là phương
pháp điều trị đầu tiên cho đại tiện không tự chủ ở người cao tuổi có khả năng
nhận thức tốt, giúp cải thiện kiểm soát cơ thắt hậu môn và phối hợp sàn chậu.
+ Đây là phương pháp
huấn luyện thần kinh-cơ sử dụng thông tin phản hồi trực quan hoặc âm thanh về
hoạt động của cơ hậu môn, cơ nâng sàn chậu, và trực tràng, nhằm cải thiện kiểm
soát đại tiện.
+ Giúp cải thiện khả
năng cảm giác, co cơ phối hợp.
+ Hiệu quả cao hơn ở
loại đại tiểu tiện không tự chủ có tính thôi thúc hơn là thụ động.
+ Sử dụng cảm biến áp
lực hoặc điện cơ (EMG) đặt trong trực tràng hoặc quanh cơ thắt. Khi người bệnh
co hoặc thư giãn cơ, màn hình hoặc âm thanh phản hồi cho thấy mức độ hoạt động
cơ. Người bệnh học cách điều chỉnh cơ thắt và phối hợp sàn chậu để tăng áp lực
giữ phân, giảm rò phân khi đầy, và cải thiện phản xạ rặn - thắt.
- Kích thích thần kinh
(neuromodulation)
+ Kích thích thần kinh
cùng (Sacral nerve stimulation SNS/SNM): đặt điện cực vào rễ thần kinh cùng để
điều chỉnh phản ứng đại tiện
+ Kích thích dây thần
kinh chày sau qua da/xuyên da
(Percutaneous/transcutaneous
posterior tibial nerve stimulation PTNS/TTNS): kích thích thần kinh chày như
phương án ít xâm lấn hơn
- Tiêm vật liệu độn
(bulking agents) quanh ống hậu môn
+ Tạo “khóa kín” nhẹ để
hỗ trợ cơ vòng chịu lực
+ Bằng chứng không mạnh
lắm, nên chọn người bệnh phù hợp
- Nút hậu môn (anal
plugs): là một dụng cụ y tế nhỏ đặt vào hậu môn nhằm ngăn rò phân/són phân,
giúp kiểm soát đại tiện ở người tổn thương tủy sống, đột quỵ, sa trực tràng,
sau phẫu thuật vùng hậu môn trực tràng, người bệnh chăm sóc giảm nhẹ có són
phân.
+ Dụng cụ làm bằng
silicone y tế hoặc vật liệu mềm, có kích thước và hình dạng phù hợp giải phẫu.
Đây là giải pháp tạm thời, không phải giải pháp lâu dài. Cần hướng dẫn sử dụng
đúng cách để tránh loét, đau, nhiễm trùng.
- Rửa trực tràng qua
đường hậu môn (transanal irrigation/retrograde irrigation)
+ Dùng dung dịch để rửa
sạch phân tồn đọng, hạn chế rò rỉ sau đó
+ Giúp dự phòng đại
tiện không tự chủ, đặc biệt FI do táo bón, tràn phân hoặc FI thần kinh.
+ Giảm tần suất đại
tiện không tự chủ, cải thiện chất lượng cuộc sống, và có thể giảm nhu cầu dùng
thuốc nhuận tràng.
+ Đặc biệt có hiệu quả
trong đại tiện không tự chủ nặng để cải thiện kiểm soát hàng ngày
2.8.3. Tầng 3 - Can
thiệp phẫu thuật/kỹ thuật cao
Khi các biện pháp tầng
1-2 không hiệu quả, hoặc tổn thương cấu trúc rõ rệt:
- Sửa chữa cơ vòng
(sphincteroplasty, overlapping repair)
- Nếu phát hiện vết
rách cơ vòng rõ ràng mà tổn thương chưa quá nặng
- Cấy đặt thiết bị hoặc
chuyển vạt cơ
+ Chuyển cơ gracilis
(graciloplasty)
+ Thiết bị nhân tạo
(artificial bowel sphincter) trong vài trung tâm chuyên sâu
- Kích thích thần kinh
cùng SNM (nếu chưa làm ở tầng 2): Có thể tiếp tục hoặc mở rộng nếu đáp ứng tốt
- Tạo lỗ hậu môn nhân
tạo (colostomy/ileostomy): Trong các trường hợp rất nặng, không thể cải thiện,
để bảo vệ chất lượng cuộc sống
2.9. Tiên lượng và theo
dõi
- Tiên lượng phụ thuộc
nguyên nhân, mức độ tổn thương, bệnh lý đi kèm, mức độ hợp tác điều trị
- Tiến triển thường
chậm, cần kiên nhẫn và can thiệp đa mô thức
- Theo dõi định kỳ mỗi
3-6 tháng để đánh giá đáp ứng điều trị, tần suất són, mức độ ảnh hưởng, chất
lượng cuộc sống và chấp nhận điều trị.
- Theo dõi tác dụng
phụ, biến chứng
- Tái đánh giá các yếu
tố đồng mắc 1(5v3í dụ táo bón, bệnh thần kinh, dùng thuốc)
- Hỗ trợ tâm lý, cải
thiện chất lượng cuộc sống
- Một số người bệnh có
thể cần hỗ trợ lâu dài hoặc can thiệp ngoại khoa
- Lưu ý ở người cao
tuổi
+ Nhiều trung tâm tại
Việt Nam có thể chưa có đủ thiết bị (đo áp lực hậu môn, trực tràng, siêu âm nội
trực tràng, kích thích thần kinh cùng, kích thích thần kinh chày qua da, thiết
bị nhân tạo: bộ cơ thắt nhân tạo), cần xem xét khả năng thực hiện, chi phí, ưu
tiên các biện pháp ít xâm lấn trước.
+ Người cao tuổi thường
có nhiều bệnh phối hợp, hạn chế về khả năng phẫu thuật hoặc hợp tác tập luyện,
ưu tiên lựa chọn phương pháp an toàn, dễ thực hiện, ít biến chứng.
+ Phục hồi chức năng để
thực hiện biofeedback, huấn luyện sàn chậu là rất cần thiết.
+ Cần có sự phối hợp đa
chuyên khoa: lão khoa, tiêu hóa, ngoại khoa, phục hồi chức năng, thần kinh,
chăm sóc dinh dưỡng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Oxford Textbook of
Geriatric Medicine Third Edition. Section 5 Geriatric syndromes in clinical
practice, chapter 51: Urinary incontinence. Page 383-392
2. Current Diagnosis and
Treatment Geriatrics 2nd Edition. Section III Common Conditions in
Geriatrics, chapter 39: Urinary incontinence. Page 275-283
3. M.G. Lucas, et al,
Guidelines on Urinary Incontinence, European Association of Urology, 2013,
trang 1-118.
4. Nambiar AK, Bosch R, Cruz F, Lemack GE, Thiruchelvam N,
Tubaro A, Bedretdinova DA, Ambühl D, Farag F, Lombardo R, Schneider MP, Burkhard
FC. EAU Guidelines on Assessment and Nonsurgical Management of Urinary
Incontinence. Eur Urol. 2018 Apr;73(4):596-609. doi:
10.1016/j.eururo.2017.12.031. Epub 2018 Feb 3. PMID: 29398262.
5. Lucas
MG, Bosch RJ, Burkhard FC, Cruz F, Madden TB, Nambiar AK, Neisius A, de Ridder
DJ, Tubaro A, Turner WH, Pickard RS; European Association of Urology. EAU
guidelines on assessment and nonsurgical management of urinary incontinence.
Eur Urol. 2012 Dec;62(6):1130-42. doi: 10.1016/j.eururo.2012.08.047. Epub 2012 Aug
31. Erratum in: Eur Urol. 2013 Jul;64(1):e20. PMID: 22985745.
6. Hội
Tiết niệu - Thận học Việt Nam. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bàng quang
tăng hoạt. 01.2024
7. O'Connor
E, Nic An Riogh A, Karavitakis M, Monagas S, Nambiar A. Diagnosis
and Non-Surgical Management of Urinary Incontinence - A Literature Review with
Recommendations for Practice. Int J Gen Med. 2021 Aug 16;14:4555-4565.
doi: 10.2147/IJGM.S289314. PMID: 34429640; PMCID: PMC8378928
8. ICS
Standardisation 2020: Non-surgical management of UI
9. National Institute
for Health and Care Excellence (NICE). Faecal incontinence in adults:
Management. NICE guideline CG49 (2007).
10. American
Gastroenterological Association (AGA) Clinical Practice Update on Management of
FI (2021).
11. Carrington
EV, et al. European consensus on diagnosis and treatment of faecal
incontinence. United European Gastroenterol J. 2022;10(1):45-66.
12. Bộ Y tế
Việt Nam. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tiêu hóa - Đại học Y
Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai (2021).
13. Bharucha
AE, et al. American Journal of Gastroenterology, 2015;110:158-173.
14. Pasricha
T, Staller K. Fecal Incontinence in the Elderly. Clin Geriatr Med. 2021;37(1):71-83.
doi:10.1016/j.cger.2020.08.006
15. Shah R,
Villanueva Herrero JA. Fecal Incontinence. [Updated 2025 Dec 16]. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK459128/
16. The American
Society of Colon and Rectal Surgeons (ASCRS). Management of Fecal
Incontinence.
KHUYẾN CÁO DINH DƯỠNG NÂNG CAO SỨC
KHOẺ NGƯỜI CAO TUỔI
1. Vai trò
của dinh dưỡng đối với sức khoẻ người cao tuổi
Lão hóa là
sự suy giảm theo thời gian của các chức năng sinh lý của cơ thể, dẫn đến những
thay đổi về chức năng của các hệ cơ quan cũng như giảm khả năng phục hồi đối
với các tác nhân gây căng thẳng về thể chất, nhận thức và tinh thần. Khi tuổi
cao làm giảm khả năng thích nghi và tái tạo, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.Bên
cạnh quá trình lão hoá, người cao tuổi dễ mắc đa bệnh lý, các vấn đề tâm lý và
xã hội, các yếu tố này làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng
dẫn đến ảnh hưởng tới sức khoẻ và chất lượng cuộc sống. Suy dinh dưỡng có thể
dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như suy giảm miễn dịch, tăng nguy cơ mắc bệnh
nhiễm trùng, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong. Vì
vậy dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sức khỏe, phòng
ngừa bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Một chế độ
dinh dưỡng đầy đủ, cân đối sẽ giúp người cao tuổi duy trì khối lượng cơ và sức
mạnh phòng ngừa suy yếu và té ngã, tăng cường miễn dịch giảm nguy cơ nhiễm
trùng và biến chứng, hỗ trợ chức năng tim mạch, thần kinh và tiêu hóa, kiểm
soát bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương…, cải thiện
chức năng nhận thức, làm chậm tiến triển sa sút trí tuệ, tăng khả năng phục hồi
sau khi bị ốm hoặc phẫu thuật và nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp người cao
tuổi sống độc lập, khỏe mạnh và hạnh phúc hơn.
2. Một số
thay đổi sinh lý ảnh hưởng đến dinh dưỡng người cao tuổi
Nghe và
nhìn: Giảm thính lực là tình trạng phổ biến ở người cao tuổi, là nguyên nhân
hàng đầu trong những rối loạn giao tiếp ở người cao tuổi, chiếm tỷ lệ từ 25%
đến 40% ở người trên 65 tuổi tại Mỹ. Giảm thị lực có thể do các bệnh thoái hóa
điểm vàng, viễn thị, đục thủy tinh thể, gây ra những hạn chế trong việc đi chợ,
nấu ăn và ăn.
2.1. Hệ
tiêu hóa
Miệng: Sức
khỏe răng miệng có ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng. Rụng răng, dùng răng
giả, khô miệng có thể có khó khăn khi nhai nuốt. Giảm vị giác và giảm tiết nước
bọt làm ăn uống kém ngon miệng và khó khăn.
Mùi vị: Các
cảm giác về mùi vị bị ảnh hưởng liên quan đến tuổi, làm ảnh hưởng đến cảm giác
ngon miệng, hạn chế lựa chọn thực phẩm và giảm khẩu phần ăn. Thay đổi vị giác,
mất vị giác do teo nhú vị giác, loét miệng, sâu răng, vệ sinh răng miệng, hút
thuốc lá... hoặc giảm cảm nhận về mùi cũng có thể xuất hiện, có thể do thuốc.
Đây là một yếu tố tiên lượng tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi. Có một số nguyên
nhân gây ra tình trạng này như là liệt Bell, tổn thương đầu; đái tháo đường;
bệnh gan hoặc thận; cao huyết áp, bệnh Alzheimer, Parkinson, thiếu kẽm hoặc
niacin. Vì bị tăng ngưỡng cảm giác mùi vị nên người cao tuổi thường tăng lượng
gia vị vào thực phẩm, đặc biệt cho thêm muối. Các cảm giác về mùi vị sẽ kích
thích tiết dịch dạ dày, dịch vị, dịch tụy, nên khi giảm cảm giác mùi vị cũng sẽ
ảnh hưởng đến các quá trình tiết dịch tiêu hóa.
Chậm rỗng
dạ dày, ăn nhanh no, giảm khẩu phần ăn hay gặp ở người cao tuổi. Nuốt khó, mất
chức năng nuốt, thường do bệnh lý thần kinh và sa sút trí tuệ, làm tăng nguy cơ
viêm phổi hít sặc. Thay đổi về dạ dày như giảm chức năng niêm mạc dạ dày, viêm
dạ dày gây đau, chậm tiêu ở dạ dày, khó chịu, ảnh hưởng hấp thu các chất dinh
dưỡng. Giảm bài tiết enzyme tiêu hóa từ tuyến nước bọt, dạ dày, tụy và ruột
non. Sự giảm tiết acid dịch vị làm suy giảm hoạt động của pepsin - enzyme quan
trọng trong tiêu hóa protein - đồng thời ảnh hưởng đến khả năng hấp thu sắt,
canxi, kẽm và vitamin B12. Tuyến tụy cũng giảm sản xuất men tiêu hóa như
lipase, amylase và trypsin, gây khó khăn trong tiêu hóa chất béo và tinh bột,
dẫn đến đầy bụng, khó tiêu và hấp thu kém các vitamin tan trong dầu (A, D, E,
K). Ngoài ra, men lactase ở niêm mạc ruột non có thể giảm, gây không dung nạp
lactose ở nhiều người cao tuổi. Những thay đổi này làm suy giảm hiệu quả tiêu
hóa thức ăn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng và góp phần vào
nguy cơ suy dinh dưỡng ở người lớn tuổi.
Táo bón
cũng là rối loạn thường gặp, thường do thiếu dịch, ít hoạt động thể lực, và
khẩu phần ăn ít chất xơ, hoặc có thể do một số loại thuốc hay gặp ở người cao
tuổi.
2.2. Các
chức năng tim mạch, thận, thần kinh
Chức năng
tim mạch, thận, thần kinh cũng thường suy giảm khi tuổi tăng lên, thường dễ mắc
bệnh tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hoặc các rối loạn thần kinh
ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng.
2.3. Hệ
miễn dịch
Hệ miễn
dịch suy giảm khi tuổi tăng lên, đáp ứng miễn dịch chậm và kém hiệu quả hơn.
Nếu duy trì
tình trạng dinh dưỡng tốt làm tăng chức năng miễn dịch.
2.4. Loét
tì đè
Nhiều yếu
tố ảnh hưởng tới loét tì đè bao gồm ít vận động, tuần hoàn kém, béo phì, tiểu
tiện mất tự chủ. Người cao tuổi với các vấn đề về thần kinh như hôn mê, sa sút
trí tuệ, trầm cảm không thay đổi tư thế, liệt, mất cảm giác đều góp phần gây ra
loét tì đè.
2.5. Chức
năng và trạng thái chức năng
Chức năng
là khả năng duy trì các hoạt động tự chăm sóc, tự duy trì liên quan đến mức độ
độc lập và chất lượng cuộc sống. Hạn chế các hoạt động thường ngày như tắm
giặt, vệ sinh, ăn uống, mặc quần áo và các hoạt động sử dụng dụng cụ hàng ngày
như quản lý tài chính, đi chợ, dùng điện thoại, nấu ăn, uống thuốc... Các bệnh
liên quan đến dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến trạng thái chức năng của người
cao tuổi. Ăn không đủ có thể gây ra mất khối cơ, giảm sức mạnh, ảnh hưởng đến
các hoạt động thường ngày.
2.6. Trầm
cảm
Các thay đổi
về tâm lý thường biểu hiện trầm cảm và thay đổi tùy người. Đối với người cao
tuổi trầm cảm thường có thể là do bệnh. Trầm cảm thường không được chẩn đoán và
bị bỏ qua. Trầm cảm không được điều trị có thể ảnh hưởng đến niềm vui sống
trong đó có ăn uống, làm tăng bệnh tật, giảm chức năng miễn dịch, chán ăn, sụt
cân, mệt mỏi. Thực phẩm và dinh dưỡng góp phần vào chất lượng cuộc sống về mặt
sinh lý, tâm lý và xã hội của con người, do vậy các chương trình chăm sóc dinh
dưỡng cần được chú ý.
2.7. Các
thay đổi trong chuyển hóa dinh dưỡng ở NCT:
Ở người cao
tuổi, chuyển hóa dinh dưỡng có nhiều thay đổi quan trọng. Trước hết, tốc độ
chuyển hóa cơ bản (BMR) giảm do khối lượng cơ và hoạt động thể chất giảm, dẫn
đến nhu cầu năng lượng thấp hơn so với người trưởng thành trẻ tuổi. Quá trình
tổng hợp protein bị suy giảm, trong khi phân giải protein tăng lên, làm gia
tăng nguy cơ mất khối cơ (sarcopenia). Mặc dù nhu cầu năng lượng giảm, nhưng
nhu cầu về protein - đặc biệt là các acid amin thiết yếu như leucine - lại tăng
nhằm duy trì và phục hồi khối cơ. Song song đó, khả năng oxy hóa chất béo giảm
và hoạt động insulin suy yếu khiến mỡ dễ tích tụ, đặc biệt ở vùng bụng, làm
tăng nguy cơ đề kháng insulin và các bệnh chuyển hóa.
Những thay
đổi này nếu không được điều chỉnh kịp thời qua chế độ ăn và vận động phù hợp sẽ
làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng, béo phì, sarcopenia, đái đường và giảm chất
lượng sống ở người cao tuổi.
3. Một số
vấn đề dinh dưỡng thường gặp ở người cao tuổi:
3.1. Suy
dinh dưỡng ở người cao tuổi
Đối với
người cao tuổi, suy dinh dưỡng là hiện tượng phổ biến. Tỷ lệ này biến đổi từ 1
-5% ở cộng đồng người cao tuổi, 10 - 35% ở nhà dưỡng lão, và 20 - 50% người
bệnh Lão khoa. Suy dinh dưỡng liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong
và kéo dài thời gian nằm viện, suy giảm chất lượng cuộc sống. Suy dinh dưỡng
cũng làm tăng nguy cơ gãy xương: cổ xương đùi, xương chậu, đầu trên xương cánh
tay. Nguy cơ gãy xương nặng hơn ở những người có khẩu phần ăn protein và canxi
thấp, cạn kiệt vitamin D, chỉ khối khối cơ thể thấp, giảm khối mỡ, giảm cân
nặng. Suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng: nhiễm trùng huyết, nhiễm
trùng bệnh viện, loét tỳ đè. Các nguyên nhân gây ra suy dinh dưỡng của người
cao tuổi do sa sút trí tuệ, bất động, chán ăn, răng yếu, rụng răng, trầm cảm.
Giảm chức năng và rối loạn hệ tiêu hóa gây trào ngược, táo bón, tiêu chảy,
thiếu trợ giúp khi ăn đều là nguy cơ suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng có thể do bệnh
hiện mắc và phương pháp điều trị gây ra chán ăn, giảm cân, hoặc do phương pháp
điều trị bệnh dùng chế độ ăn quá hạn chế làm giảm khẩu phần ăn. Ngoài ra các
bệnh hay gặp người cao tuổi như giảm trí nhớ: quên không ăn, rối loạn tâm thần
người cao tuổi cùng với tình trạng dự trữ dinh dưỡng kém và chậm hồi phục cũng
góp phần gây suy dinh dưỡng. Thuốc điều trị cũng ảnh hưởng tình trạng dinh
dưỡng: ảnh hưởng cảm giác ngon miệng, hấp thu chuyển hóa chất dinh dưỡng, tương
tác thuốc - dinh dưỡng. Do vậy dùng nhiều thuốc cũng là yếu tố nguy cơ suy dinh
dưỡng. Các yếu tố xã hội như nghèo, cô độc, cô đơn, bị ngược đãi, giảm khả năng
tự phục vụ, cần giúp đỡ khi ăn và các yếu tố tâm lý như trầm cảm gây yếu mệt,
đau bụng, buồn nôn, chán ăn, từ chối ăn hoặc những sang chấn tâm lý như mất mát
cuối đời, cô đơn đều là yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng
Sarcopenia là một hội
chứng đặc trưng bởi sự mất đi khối lượng cơ, sức mạnh cơ và/hoặc chức năng cơ
liên quan đến tuổi tác hoặc bệnh lý. Sarcopenia là một vấn đề sức khỏe phổ biến
ở người cao tuổi. Sarcopenia gây ra giảm sức cơ, suy giảm khả năng vận động,
tăng nguy cơ té ngã, gãy xương và giảm chất lượng cuộc sống. Dinh dưỡng đóng
vai trò quan trọng trong phòng ngừa và điều trị sarcopenia. Cung cấp đầy đủ
năng lượng, lượng protein cao (1.0-1.5 g/kg cân nặng/ngày) chú ý HMB (β-hydroxy
β-methylbutyrate) một chất chuyển hóa của leucine - một axit amin thiết yếu có
vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein cơ, vitamin D, canxi giúp duy
trì tổng hợp cơ, giảm viêm và cải thiện chức năng cơ bắp. Bên cạnh đó, kết hợp
dinh dưỡng với hoạt động thể lực (đặc biệt là bài tập sức mạnh) mang lại hiệu
quả tối ưu trong làm chậm tiến trình suy giảm cơ và cải thiện chức năng vận
động ở người cao tuổi (tham khảo thêm trong phần Sarcopenia).
3.2. Thiếu
hụt vitamin và khoáng chất ở người cao tuổi
Tình trạng
thiếu vitamin và khoáng chất ở người cao tuổi là một vấn đề sức khỏe phổ biến
và đáng lo ngại. Ảnh hưởng của quá trình lão hóa lên khả năng hấp thụ, chuyển
hóa và nhu cầu dinh dưỡng cũng như chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, tác dụng phụ
của một số thuốc điều trị dẫn đến tình trạng thiếu hụt này. Người cao tuổi
thường thiếu các vi chất thiết yếu như vitamin D, B12, canxi, sắt và kẽm, dẫn
đến nguy cơ cao mắc các bệnh mãn tính như loãng xương, thiếu máu, suy giảm miễn
dịch và rối loạn nhận thức.
Việc đánh
giá dinh dưỡng định kỳ và bổ sung vi chất phù hợp là cần thiết để nâng cao chất
lượng cuộc sống và giảm thiểu nguy cơ bệnh tật ở người cao tuổi.
4. Chăm sóc
dinh dưỡng người cao tuổi trong bệnh viện

Sơ đồ 1. Quy trình chăm sóc dinh
dưỡng trong bệnh viện
4.1. Sàng
lọc suy dinh dưỡng người cao tuổi:
Quy trình
chăm sóc dinh dưỡng đối với người cao tuổi bao gồm nhiều bước bắt đầu từ sàng
lọc có hệ thống phát hiện suy dinh dưỡng. Tất cả người cao tuổi, kể cả đang mắc
bệnh hay thừa cân béo phì đều cần sàng lọc suy dinh dưỡng định kỳ bằng các công
cụ hợp lệ để xác định nguy cơ.
Sàng lọc
nguy cơ cần được tiến hành có hệ thống, định kỳ từ khi nhập viện bằng các công
cụ hợp lệ tùy thuộc vào tình trạng người bệnh (3 tháng ở các nhà dưỡng lão có
chăm sóc y tế khi tình trạng ổn đinh, hoặc 1 năm khám định kỳ) để phát hiện
sớm. Công cụ phổ biến và phù hợp cho người cao tuổi là bộ công cụ đánh giá dinh
dưỡng tối thiểu (MNA). Ngoài việc sử dụng các yếu tố nguy cơ như BMI, giảm cân,
giảm khẩu phần ăn, mắc bệnh, công cụ MNA còn bao gồm vấn đề hay gặp ở người cao
tuổi thường góp phần gây ra suy dinh dưỡng đó là khả năng đi lại và các vấn đề
về tâm thần kinh. Do vậy, bộ công cụ MNA đánh giá được các yếu tố nguy cơ góp
phần gây ra suy dinh dưỡng.
Trong
trường hợp không đo được BMI thì sẽ tiến hành đo vòng cẳng chân. Với người cao
tuổi bị bệnh nặng phải điều trị tại các khoa hồi sức tích cực sử dụng bộ công
cụ sàng lọc NRS-2002. Khi sàng lọc phát hiện nguy cơ suy dinh dưỡng, cần đánh
giá dinh dưỡng một cách hệ thống, can thiệp dinh dưỡng cá thể, giám sát và điều
chỉnh các can thiệp dinh dưỡng phù hợp.
Bảng 1. Đánh giá dinh dưỡng bằng
công cụ MNA-SF
|
Câu hỏi
|
Cách thực hiện
|
|
|
Trong
3 tháng qua, lượng thức ăn ăn vào bị giảm do không ngon miệng, các vấn đề
tiêu hóa, khó khăn khi nhai hoặc nuốt?
0= khẩu
phần ăn giảm nặng
1= khẩu
phần ăn giảm vừa
2= khẩu
phần ăn không giảm
|
Hãy hỏi
người bệnh hoặc người chăm sóc hoặc kiểm tra hồ sơ bệnh án
• "Ông/bà có ăn ít
hơn bình thường trong ba tháng qua không?"
• Nếu có, "là do
chán ăn, khó nhai, hoặc khó nuốt?"
Nếu có,
"ông/bà ăn ít hơn nhiều so với trước đây hay chỉ ít hơn một chút?"
|
|
|
Giảm
cân không chủ ý trong 3 tháng vừa qua
0= giảm
cân trên 3 kg
1= không
biết
2= giảm
từ 1 cho tới 3 kg
3= không
giảm cân
|
Hỏi người
bệnh/Xem lại hồ sơ bệnh án (nếu được chăm sóc dài hạn hoặc nội trú)
Trong 3
tháng gần đây, ông/bà có bị sụt cân mà không chủ ý không?”
“Quần áo
hoặc cạp quần của ông/bà có cảm giác rộng hơn không?”
“Ông/bà
ước chừng đã giảm bao nhiêu cân? Nhiều hay ít hơn 3 kg
Mặc dù
giảm cân ở người cao tuổi thừa cân đôi khi có thể là điều phù hợp, nhưng cũng
có thể là dấu hiệu của suy dinh dưỡng với trường hợp giảm cân không chủ ý.
Khi
loại bỏ câu hỏi về sụt cân, thang đánh giá MNA sẽ mất đi độ nhạy, vì vậy việc
hỏi về thay đổi cân nặng là rất quan trọng.
|
|
|
C. Khả
năng di chuyển:
0 = Nằm
liệt giường hoặc phải ngồi xe lăn, không thể tự di chuyển.
1 = Có
thể ra khỏi giường hoặc ghế, nhưng không ra ngoài được.
2 = Có
thể ra ngoài (đi lại trong và ngoài nhà).
|
Hỏi người
bệnh/ tham khảo hồ sơ y tế / thông tin từ người chăm sóc:
“Ông/bà
mô tả khả năng di chuyển hiện tại của mình như thế nào?”
“Ông/bà
có thể tự ra khỏi giường, ghế hoặc xe lăn mà không cần người giúp không?” →
nếu không, cho điểm 0.
“Ông/bà
có thể tự ra khỏi giường hoặc ghế nhưng không thể ra khỏi nhà không?”
→ nếu có,
cho điểm 1.
“Ông/bà
có thể ra khỏi nhà được không?”
→ nếu có,
cho điểm 2.
|
|
|
Người
bệnh có bị căng thẳng tâm lý hoặc mắc bệnh cấp tính trong 3 tháng gần đây
không?
0 = Có
2 = Không
|
Hỏi người
bệnh/Xem lại hồ sơ y tế/Dùng đánh giá chuyên môn:
“Gần đây
ông/bà có cảm thấy căng thẳng, lo âu hoặc chịu áp lực tinh thần không?”
“Trong
thời gian gần đây, ông/bà có bị bệnh nặng hoặc mắc bệnh cấp tính nào không?”
|
|
|
E. Các
vấn đề tâm thần kinh
0 = sa
sút trí tuệ hoặc trầm cảm nặng
1 = sa
sút trí tuệ nhẹ
2 = không
có các vấn đề về tâm lý
|
Xem lại
hồ sơ y tế của người bệnh/Dùng đánh giá chuyên môn/Hỏi trực tiếp người bệnh,
điều dưỡng hoặc người chăm sóc:
“Ông/bà
có được chẩn đoán mắc chứng sa sút trí tuệ (dementia) không?”
“Ông/bà
có từng trải qua cảm giác buồn bã kéo dài hoặc trầm cảm nặng không?”
Thông tin
về mức độ rối loạn thần kinh - tâm lý (như sa sút trí tuệ) của người bệnh có
thể được thu thập từ người chăm sóc, nhân viên điều dưỡng hoặc hồ sơ y tế.
|
|
|
F1.
Chỉ số khối cơ thể (BMI)
(cân nặng
(kg)/ (chiều cao x chiều cao theo m)
0=
BMI< 19
1= BMI
19- <21
2= BMI
21- <23
3= BMI ≥
23
|
Ghi cân
nặng và chiều cao của người bệnh vào mẫu MNA trước khi tính BMI.
|
|
|
NẾU
KHÔNG TÍNH ĐƯỢC BMI, THAY THẾ F1 BẰNG F2. KHÔNG HỎI F2 NẾU TRẢ LỜI ĐƯỢC CÂU
HỎI F1
|
|
|
|
F2.
Vòng cẳng chân (CC) theo cm
0 = CC
< 31
3 = CC ≥
31
|
Đối
với người có thể ngồi hoặc đứng:
Người
bệnh ngồi với chân trái thả lỏng tự nhiên, hoặc đứng với trọng lượng cơ thể
phân bố đều trên hai chân.
Yêu cầu
người bệnh xắn quần lên để lộ phần bắp chân.
Quấn
thước dây quanh phần lớn nhất của bắp chân và ghi lại số đo.
Đo thêm
vài điểm ở trên và dưới vị trí đó để đảm bảo số đo đầu tiên là lớn nhất.
Đảm bảo
thước vuông góc với trục dọc của bắp chân, không bị xoắn, và ghi số đo chính
xác đến 0,1 cm.
Đối
với người nằm liệt giường:
|
|
|
|
Đặt người
bệnh nằm ngửa, gối trái gập lại góc 90°.
Luồn
thước dây quanh bắp chân trái và xác định vị trí có đường kính lớn nhất.
• Kéo thước vừa khít, không siết chặt để tránh
nén mô mềm.
Đọc và
ghi số đo chính xác đến 0,1 cm.
Các lần
đo lặp lại nên chênh lệch không quá 0,5 cm để đảm bảo độ chính xác.
|
|
|
Điểm sàng
lọc: bằng tổng điểm từ A đến F1 (tối đa 14 điểm)
12- 14
điểm: Tình trạng dinh dưỡng bình thường
8- 11
điểm: Nguy cơ suy dinh dưỡng
0- 7
điểm: Suy dinh dưỡng
|
|
|
4.2. Đánh giá dinh
dưỡng toàn diện
Đánh giá toàn diện có
hệ thống nhằm xác định các vấn đề về dinh dưỡng, các thiếu hụt dinh dưỡng, sau
đó đưa ra các chẩn đoán dinh dưỡng, tiến hành can thiệp dinh dưỡng phù hợp cho
từng người bệnh.
Đánh giá dinh dưỡng bao
gồm các bước đánh giá nhân trắc bao gồm các chỉ số, cân nặng, chiều cao, chỉ số
khối cơ thể, chu vi vòng cẳng chân, các chỉ số sinh hóa, các dấu hiệu lâm sàng,
điều tra khẩu phần ăn, điều kiện chăm sóc, các yếu tố môi trường chăm sóc.
4.3. Chẩn đoán suy dinh
dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM (Global Leadership Initiative on Malnutrition)
Chẩn đoán suy dinh
dưỡng khi người bệnh có ít nhất một tiêu chí kiểu hình (phenotypic) và một tiêu
chí nguyên nhân (etiologic)
- Tiêu chí kiểu hình
(phenotypic) khi có 1 trong các biểu hiện sau:
Giảm cân không chủ ý:
giảm cân ≥5% trong 6 tháng hoặc ≥10% trong >6 tháng) hoặc BMI thấp: <20
kg/m2 nếu <70 tuổi, <22 kg/m2 nếu ≥70 tuổi hoặc
Giảm khối lượng cơ: Đo bằng chụp cắt lớp vi tính (CTscan), Đo hấp thụ tia X
năng lượng kép (DXA), Phân tích trở kháng sinh học (BIA).
- Tiêu chí nguyên nhân
(Etiologic) khi có 1 trong các biểu hiện sau:
Giảm hấp thu hoặc tiêu
hóa kém: mắc bệnh lý tiêu hóa, phẫu thuật, hoặc mất khả năng ăn uống hoặc tăng
nhu cầu chuyển hóa hoặc viêm mạn tính: Liên quan bệnh cấp/mạn, nhiễm trùng, ung
thư, viêm mạn.
4.4. Can thiệp dinh
dưỡng
Chăm sóc dinh dưỡng và
bù dịch ở người cao tuổi cần toàn diện và cá thể hóa để đảm bảo cung cấp năng
lượng và các chất dinh dưỡng, duy trì và cải thiện tình trạng dinh dưỡng và cải
thiện diễn biến lâm sàng và chất lượng cuộc sống. Những can thiệp dinh dưỡng
cần là một phần trong nhóm điều trị đa chuyên khoa để hỗ trợ đầy đủ khẩu phần
ăn, duy trì hoặc tăng cân, cải thiện tình trạng chức năng và kết quả lâm sàng.
Cần xác định và giải quyết các nguyên nhân gây ra suy dinh dưỡng và mất nước,
trong đó lưu ý chế độ ăn hạn chế trong một số bệnh có thể gây tác hại làm giảm
khẩu phần ăn và cần được phòng tránh.
4.5. Nhu cầu các chất
dinh dưỡng ở người cao tuổi:
- Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu năng lượng khẩu
phần theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2015, với người
cao tuổi dưới 70 tuổi là 2000 kcal với nam và 1700 kcal với nữ, với người trên
70 tuổi là 1900 kcal với nam và 1600 kcal với nữ. Nhu cầu năng lượng cần điều
chỉnh tùy theo tình trạng dinh dưỡng, mức độ hoạt động thể lực, tình trạng bệnh
tật và mức độ dung nạp. Khi tuổi càng tăng thì tiêu hao năng lượng thường giảm,
chủ yếu do giảm khối cơ nạc. Theo hướng dẫn dinh dưỡng người cao tuổi của Hội
Dinh dưỡng Lâm sàng và Chuyển hóa Châu Âu (ESPEN) năm 2022, ước tính nhu cầu
năng lượng của người cao tuổi là 30 kcal/kg/ngày. Cần lưu ý, với người bệnh nội
trú mắc bệnh cấp tính năng lượng khẩu phần ăn đường miệng thường thấp, không
đáp ứng đủ nhu cầu.
- Nhu cầu Protein
Nhu cầu protein khẩu
phần theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, với người cao tuổi
dưới 70 tuổi là 70 g với nam và 62 g với nữ, với người trên 70 tuổi là 68 g với
nam và 59 g với nữ, trong đó tỷ lệ protein nguồn gốc động vật cần trên 30%.
Protein khẩu phần ít
nhất 1 g/kg/ngày nếu chức năng thận bình thường. Nhu cầu protein sẽ được điều
chỉnh tùy theo tình trạng dinh dưỡng, mức độ hoạt động thể lực, tình trạng bệnh
và mức độ dung nạp. Khi mắc một số bệnh, nhu cầu protein có thể cần tăng cao
hơn, như khi nhiễm trùng, loét. Cần tăng cường lựa chọn các thực phẩm giàu acid
amin thiết yếu, đặc biệt là leucine, giúp cải thiện khối lượng và chất lượng cơ
ở người cao tuổi
- Nhu cầu Carbohydrate
(các chất bột đường)
Ăn vừa đủ đảm bảo năng
lượng theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (Carbohydrate chiếm khoảng 55-60%
tổng năng lượng ăn vào). Nên chú ý chủng loại carbohydrate, ăn các thực phẩm có
chứa carbohydrate phức hợp, hạn chế các loại carbohydrate tinh chế, đường kính.
Chọn thực phẩm nhiều chất xơ như gạo lứt, gạo lật nảy mầm, gạo xay xát không
quá kỹ để đảm bảo lượng xơ theo nhu cầu dinh dưỡng.
- Nhu cầu Chất béo
Cần cung cấp khoảng
20-25% tổng năng lượng ăn vào. Chọn thực phẩm có các loại chất béo tốt cho sức
khỏe như cá, hoặc các loại hạt, hạn chế thực phẩm nhiều chất béo no như thịt mỡ
lợn, gà, bò… và các thực phẩm nhiều cholesterol như nội tạng, tránh sử dụng các
thực phẩm có chứa chất béo trans.
- Nhu cầu Vitamin và
khoáng chất dinh dưỡng
Nhu cầu vitamin và vi
chất dinh dưỡng đối với người cao tuổi tuân theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến
nghị. Khi không có dấu hiệu thiếu đặc hiệu, vi chất dinh dưỡng được bổ sung
theo nhu cầu khuyến nghị cho các đối tượng người cao tuổi khỏe mạnh. Người cao
tuổi thường mắc các bệnh dạ dày ruột, đi kèm với giảm hấp thu ví dụ viêm teo
niêm mạc dạ dày, giảm hấp thu vitamin B12, canxi, sắt, nên có nguy cơ cao thiếu
các vi chất dinh dưỡng. Cần bổ sung các vi chất khi có dấu hiệu thiếu hụt.
Bảng 2. Nhu cầu khuyến nghị một số vitamin và
khoáng chất cho người ≥ 60 tuổi
|
Vitamin
và khoáng chất
|
Đơn vị
|
Nam
|
Nữ
|
|
Vitamin
A
|
µg
RE/ngày
|
800
|
650
|
|
Vitamin
D
|
IU/ngày
|
800
|
800
|
|
Vitamin
E
|
mg /ngày
|
6.5
|
6
|
|
Vitamin
K
|
µg/ngày
|
150
|
150
|
|
Vitamin
C
|
mg/ngày
|
100
|
100
|
|
Vitamin
B1 (Thiamin)
|
mg/ngày
|
1.0
|
1.0
|
|
Vitamin
B2 (Riboflavin)
|
mg/ngày
|
1.1
|
1.1
|
|
Niacin
(B3)
|
mg
NE/ngày
|
16
|
14
|
|
Vitamin
B6
|
mg/ngày
|
1.7
|
1.5
|
|
Folate
|
µg
DFE/ngày
|
400
|
400
|
|
Vitamin
B12
|
µg/ngày
|
2.4
|
2.4
|
|
Canxi
|
mg/ngày
|
1000
|
1000
|
|
Sắt
|
mg/ngày
|
13.7
|
11.3
|
|
Kẽm
|
mg/ngày
|
4.9
|
7.0
|
4.6. Một số lưu ý trong
lựa chọn và chế biến thức ăn cho người cao tuổi:
Ăn các loại đạm động
vật trong thịt, cá, trứng, sữa kết hợp với các loại đạm có nguồn gốc thực vật
như đậu phụ, đậu đỗ, các loại hạt. Người cao tuổi nên ǎn cá 3-5 lần mỗi tuẩn để
tăng lượng omega 3 tốt cho não bộ. Nên tiêu thụ sữa hàng ngày, sữa là nguồn
cung cấp đạm cũng như canxi cho cơ thể.
Tiêu thụ các chất béo
tốt từ nguồn dầu thực vật, mỡ cá, một số loại hạt dầu béo (hạt mắc ca, hạt óc
chó…). Hạn chế các chất béo xấu có trong mỡ động vật, nội tạng động vật, da
thịt gia cầm …Các chất béo này dễ làm tăng mỡ máu từ đó tăng nguy cơ mắc các
vấn đề tim mạch.
Nên chọn các thực phẩm
giàu chất xơ như ngũ cốc nguyên hạt, gạo lứt, yến mạch, rau xanh và quả chín…
Hạn chế sử dụng các
thực phẩm chứa nhiều muối như mỳ tôm, đồ đóng hộp, dưa muối, cà muối….Việc tiêu
thụ quá nhiều muối sẽ tăng nguy cơ mắc tăng huyết áp, ảnh hưởng đến chức năng
thận vì vậy để tránh tiêu thụ quá nhiều muối ở người cao tuổi không nên tiêu
thụ quá 5g muối/ngày.
Nên chế biến thực phẩm
dạng mềm nhừ, cắt nhỏ phù hợp sở thích và khả năng nhai nuốt của NCT.
Nên ăn đúng bữa không
bỏ bữa. Nếu người cao tuổi ăn nhanh no thì có thể ăn thêm các bữa phụ trong
ngày.
5. Các khuyến nghị đối
với người cao tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc bị suy dinh dưỡng:
5.1. Bổ sung dinh dưỡng
đường miệng
Bổ sung dinh dưỡng qua
đường miệng (ONS) là các sản phẩm giàu chất dinh dưỡng và năng lượng được thiết
kế để tăng khẩu phần ăn khi không đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày nếu
chỉ bằng khẩu phần ăn. Bổ sung dinh dưỡng đường miệng là một biện pháp can
thiệp dinh dưỡng được chỉ định rộng rãi cho người cao tuổi khi có khẩu phần ăn
không đủ. Khi chỉ định cần đánh giá khả năng dung nạp của người bệnh.
5.2. Nuôi ăn qua sonde
và nuôi dưỡng tĩnh mạch
Khi không thể ăn đủ
khẩu phần bằng đường miệng, cần chỉ định nuôi dưỡng qua sonde.
Người cao tuổi có thể
cần chỉ định nuôi ăn đường tĩnh mạch để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và duy trì
hoặc cải thiện tình trạng dinh dưỡng nếu không thể ăn đường miệng và đường
sonde trên 3 ngày hoặc ăn ít hơn 50% năng lượng khẩu phần kéo dài trên 1 tuần
Nuôi ăn qua sonde và nuôi ăn đường tĩnh mạch và bù nước cần được coi như một
phương pháp điều trị y khoa hơn là chăm sóc cơ bản, do vậy chỉ sử dụng nếu thực
sự cải thiện hoặc duy trì tình trạng của người bệnh và chất lượng cuộc sống.
Người bệnh cao tuổi không nên dùng thuốc giảm đau hoặc kiềm chế/giam giữ về thể
chất để nuôi ăn qua sonde hay nuôi dưỡng tĩnh mạch hoặc truyền nước. Đối với
người bệnh cao tuổi có suy dinh dưỡng, nuôi ăn qua sonde và nuôi dưỡng tĩnh
mạch cần bắt đầu sớm; cần tăng dần dần trong 3 ngày đầu để tránh hội chứng nuôi
ăn lại. Trong 3 ngày đầu nuôi ăn qua sonde hay nuôi tĩnh mạch ở người bệnh suy
dinh dưỡng cao tuổi, đặc biệt quan tâm đến nồng độ phospho, magie, kali và
vitamin B1, các chất này cần được bổ sung thậm chí khi chỉ thiếu nhẹ.
5.3. Can thiệp tập
luyện
Ngoài các can thiệp
dinh dưỡng, người cao tuổi bị suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ suy dinh dưỡng cần
được khuyến khích vận động và tập luyện để duy trì và cải thiện khối cơ và chức
năng. Trong khi tập cần cung cấp đủ năng lượng và protein để duy trì trọng
lượng cơ thể và duy trì cải thiện khối cơ.
5.4. Xác định, điều trị
và phòng mất nước
Đối với người cao tuổi,
nữ giới cần uống ít nhất 1,6 lít nước mỗi ngày, trong khi nam giới cần ít nhất
2,0 lít mỗi ngày, trừ khi có tình trạng lâm sàng đòi hỏi chỉ định khác. Người
cao tuổi nên uống nước phù hợp với sở thích. Tất cả người cao tuổi đều được coi
có nguy cơ uống nước không đủ và cần khuyến khích uống đủ số lượng. Tất cả
người cao tuổi đều cần được sàng lọc tình trạng uống ít nước khi đến khám nếu
tình trạng lâm sàng thay đổi và cần được sàng lọc định kỳ khi khám suy dinh
dưỡng hoặc nguy cơ suy dinh dưỡng.
Để xác định tình trạng
bị mất nước do uống không đủ, cần đo áp lực thẩm thấu máu nếu thấy > 300
mOsm/kg. Khi không đo được trực tiếp áp lực thẩm thấu thì dùng công thức tính:
áp lực thẩm thấu = 1,86 x (Na+ + K+) + 1,15 x glucose + urea + 14
(tất cả đều đo theo đơn vị mmol/L). Trong sàng lọc, dùng ngưỡng áp lực thẩm
thấu > 295 mmol/L. Các test hay các dấu hiệu đơn giản như độ đàn hồi da, khô
miệng, thay đổi cân nặng, hoặc trọng lực không được dùng để đánh giá tình trạng
mất nước của người bệnh người cao tuổi. Đo điện trở kháng sinh học cũng không
được dùng để đánh giá tình trạng mất nước ở người cao tuổi vì không có lợi cho
chẩn đoán.
Người cao tuổi và người
chăm sóc có thể sử dụng các công cụ hợp lý để đánh giá khẩu phần dịch nhưng
cũng cần yêu cầu nhân viên y tế đánh giá áp lực thẩm thấu của huyết thanh một
cách định kỳ. Để phòng mất nước ở người cao tuổi cần thực hiện các chiến lược
đa thành tố tại các cơ sở điều trị hoặc nhà dưỡng lão. Những chiến lược này bao
gồm để đồ uống sẵn có, nhiều lựa chọn đồ uống, nhận thức của nhân viên về nhu
cầu cần cung cấp đủ dịch, nhân viên hỗ trợ uống và nhân viên hỗ trợ người cao
tuổi đi vệ sinh nhanh chóng khi họ có nhu cầu. Kế hoạch chăm sóc người cao tuổi
tại các cơ sở cần ghi lại sở thích đồ uống, khi nào phục vụ đồ uống và uống thế
nào cũng như hỗ trợ để tăng cường uống nước. Đánh giá các rào cản của từng cá
thể và yếu tố để cải thiện uống nước để lập kế hoạch cụ thể cho từng cá thể
người cao tuổi.
Người cao tuổi có dấu
hiệu nuốt khó cũng cần được đánh giá, điều trị và giám sát bởi các chuyên gia
có kinh nghiệm. Tình trạng dinh dưỡng và mất nước của họ cần được giám sát chặt
chẽ với sự tư vấn của người hành nghề có chuyên môn phù hợp về rối loạn nuốt,
về dinh dưỡng và các chuyên ngành liên quan khi cần thiết. Các chiến lược để hỗ
trợ đủ dịch cần được xây dựng bao gồm cả người cao tuổi, nhân viên, và các nhà
lập chính sách.
5.5. Hội chứng nuôi ăn
lại (refeeding)
Hội chứng nuôi ăn lại
là hội chứng gồm các rối loạn về chuyển hóa ở những người bệnh suy dinh dưỡng
nặng hoặc ăn thiếu kéo dài khi được nuôi dưỡng trở lại. Khi những người bệnh
này được bổ sung lượng lớn năng lượng và protein, insulin được tiết ra dẫn tới
giữ nitơ, cùng với tăng tổng hợp protein nội bào và dự trữ glycogen. Điều này
làm tăng việc đưa glucose, phospho và một số khoáng chất khác như kali và magie
vào tế bào. Do đó xảy ra rối loạn nước và điện giải (thường trong vòng 4 ngày
kể từ khi bắt đầu nuôi ăn).
Nồng độ phosphat huyết
thanh giảm cùng với giảm nồng độ kali và magie, làm loạn nhịp tim, thậm chí có
thể tử vong. Mặt khác, tăng cung lượng tuần hoàn và dịch ngoại bào có thể làm
tim bị suy yếu do cơ tim vốn đã yếu ở những người bệnh suy dinh dưỡng nặng hoặc
đói ăn kéo dài. Vì thế, trong những ngày đầu cần nuôi dưỡng thận trọng theo dõi
chặt chẽ điện giải, đặc biệt là phospho, kali và magie huyết thanh trong tuần
đầu.
5.6. Dinh dưỡng trong
chăm sóc giảm nhẹ giai đoạn cuối đời
Trong giai đoạn cuối
đời, chăm sóc giảm nhẹ đóng vai trò trung tâm nhằm giảm đau, giảm nhẹ triệu
chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình. Dinh dưỡng là
một phần quan trọng trong quá trình này. Theo hướng dẫn của Hội chuyển hóa và
dinh dưỡng Lâm sàng châu Âu (ESPEN), mục tiêu cốt lõi của dinh dưỡng trong chăm
sóc giảm nhẹ không phải là kéo dài sự sống bằng mọi giá, mà là duy trì sự thoải
mái, giảm nhẹ triệu chứng, và tôn trọng giá trị cùng nguyện vọng của người
bệnh.
Dinh dưỡng trong giai
đoạn này nên được xem là một phần của chăm sóc toàn diện, kết hợp giữa hỗ trợ
thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần thay vì là một biện pháp điều trị đơn lẻ.
Hỗ trợ dinh dưỡng ở giai đoạn cuối đời cần cá thể hoá, đòi hỏi đánh giá cẩn
trọng giữa lợi ích và gánh nặng, giữa chỉ định y học và mục tiêu của người
bệnh, người nhà. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng, điều
dưỡng , công tác xã hội, người bệnh và gia đình có ý nghĩa quan trọng trong
việc định hướng lựa chọn phù hợp, giảm thiểu can thiệp quá mức, và đảm bảo chăm
sóc nhân văn cho người bệnh.
Trong giai đoạn cuối,
mục tiêu không phải là đạt nhu cầu năng lượng,protein chuẩn như người bệnh hồi
phục, mà là giữ khả năng ăn tự nhiên nếu có, giảm cảm giác khát, buồn nôn, khó
thở hoặc sụt cân nhanh. Ưu tiên hỗ trợ ăn uống đường miệng bằng cách tăng tính
hấp dẫn thức ăn, giảm kích thước khẩu phần, lựa chọn các thực phẩm bổ sung dinh
dưỡng đường miệng, tối ưu hóa môi trường ăn. Khi nuôi ăn qua ống hoặc truyền
tĩnh mạch được xem xét, cần cân nhắc tỷ lệ lợi ích và rủi ro, đặc biệt ở người
bệnh tiên lượng xấu hoặc đang trong giai đoạn cận tử.
Trong một số trường
hợp, việc chỉ định nuôi dưỡng nhân tạo chỉ nên thực hiện khi có khả năng cải
thiện chất lượng sống, chức năng hoặc tiên lượng. Chỉ định này có thể mang giá
trị tâm lý cho người bệnh hoặc gia đình, do vậy nguyện vọng của người bệnh,
người nhà sau khi được bác sĩ giải thích đóng vai trò quan trọng khi đưa ra
quyết định có nuôi dưỡng nhân tạo hay không. Hạn chế hoặc ngừng các can thiệp
dinh dưỡng nếu chúng trở nên gây khó chịu, làm tăng triệu chứng, hoặc không phù
hợp với mục tiêu chăm sóc giảm nhẹ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ESPEN practical
guideline: Clinical nutrition and hydration in geriatrics. Clin Nutr 2022
Apr;41(4):958-989.
2. Pollock TA, O'Neill JS,
et al. The role of diet in maintaining healthy aging and longevity. Food
Function. 2020;11(4):2307-2317. doi:10.1039/C9FO02834.
3. Ferrucci L, Guralnik
JM. Aging and the human body. In: Halter JB, Ouslander JG, Tinetti ME, et al,
eds. Hazzard's Geriatric Medicine and Gerontology. 7th ed. McGraw-Hill
Education; 2016:33-49.
4. Norman K, Haß U,
Pirlich M. Malnutrition in older adults—recent advances and remaining
challenges. Nutrients. 2021;13(8):2764. doi:10.3390/nu13082764.
5. Cruz-Jentoft AJ, Sayer
AA. Sarcopenia. Lancet. 2019;393(10191):2636-2646.
doi:10.1016/S0140-6736(19)31138-9.
6. Mahan LK, Escott-Stump
S. Krause’s Food & Nutrition Therapy. 14th ed. Saunders Elsevier;
2017.
7. Mini Nutritional
Assessment (MNA®) User Guide. Nestlé Nutrition Institute; 2009. Accessed
October 2025. https://www.mna-elderly.com
8. Cederholm T, Jensen GL,
Correia MITD, et al; GLIM Core Leadership Committee; GLIM Working Group. GLIM
criteria for the diagnosis of malnutrition: A consensus report from the global
clinical nutrition community. Clin Nutr. 2019;38(1):1-9.
doi:10.1016/j.clnu.2018.08.002.
9. Volkert D, Beck AM,
Cederholm T, et al. ESPEN guideline on clinical nutrition and hydration in
geriatrics. Clin Nutr. 2019;38(1):10-47. doi:10.1016/j.clnu.2018.05.024
10. Bộ Y tế, Nhu cầu khuyến
nghị cho người Việt Nam 2015.
11. Kirstine Farrer, Antje
Teubner, et al. Nutritional support in palliative care. Volume 51, Issue
7, July 2023, Pages 490-492 https://doi.org/10.1016/j.mpmed.2023.04.005
12. Christiane Druml, et
al. ESPEN guideline on ethical aspects of artificial nutrition and hydration. Clin
Nutr. 2016; 1-12.
HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở NGƯỜI CAO TUỔI
1. ĐẠI CƯƠNG
Lão hóa, một quá trình
phổ biến và không thể tránh khỏi, được đặc trưng bởi sự tích tụ dần dần các
thay đổi sinh lý và suy giảm chức năng theo thời gian, dẫn đến tăng nguy cơ mắc
bệnh và cuối cùng là tử vong khi tuổi tác tăng lên. Các yếu tố lối sống, đặc
biệt là hoạt động thể lực (HĐTL) và tập thể dục, điều chỉnh đáng kể kiểu hình
lão hóa. Hoạt động thể chất và tập thể dục có thể ngăn ngừa hoặc cải thiện các
bệnh liên quan đến lối sống, kéo dài tuổi thọ, tăng cường chức năng thể chất và
giảm gánh nặng của các bệnh mãn tính không lây nhiễm bao gồm bệnh tim chuyển
hóa, ung thư, tình trạng cơ xương và thần kinh, bệnh hô hấp mãn tính cũng như
tử vong sớm.
Hoạt động thể chất ảnh
hưởng đến các động lực tế bào và phân tử của quá trình lão hóa, làm chậm tốc độ
lão hóa - một khía cạnh cơ bản của khoa học lão khoa. Do đó, HĐTL vừa đóng vai
trò phòng ngừa vừa là tác nhân điều trị trong các trạng thái bệnh lý. Mức độ
HĐTL dưới mức khuyến cáo tương quan với tỷ lệ mắc bệnh gia tăng ở nhóm dân số
cao tuổi. Do đó, kê đơn tập luyện có cấu trúc nên được tùy chỉnh và theo dõi,
coi như bất kỳ phương pháp điều trị y tế nào khác, xem xét mối quan hệ liều
lượng - đáp ứng và các điều chỉnh cụ thể cần thiết để đạt được kết quả mong
muốn. Các hướng dẫn hiện tại khuyến nghị một chế độ tập thể dục đa diện bao gồm
các bài tập aerobic, sức bền, thăng bằng, và luyện tập về tư thế dáng đi thông
qua các hoạt động có cấu trúc và ngẫu nhiên (lối sống tích hợp).
Các chương trình tập
luyện được thiết kế riêng đã chứng minh được hiệu quả trong việc giúp người lớn
tuổi duy trì khả năng hoạt động, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc
sống. Đặc biệt quan trọng là các bài tập đồng hóa, chẳng hạn như Bài tập sức
bền tăng dần, là bài tập không thể thiếu để duy trì hoặc cải thiện khả năng
hoạt động ở người lớn tuổi, đặc biệt là những người mắc hội chứng dễ bị tổn
thương, sarcopenia hoặc loãng xương, hoặc những người nằm bệnh viện hoặc trong
nhà dưỡng lão.
Phân tích kinh tế y tế
nhấn mạnh lợi ích về chi phí của các chương trình tập thể dục, cung cấp bằng
chứng cho việc cần tích hợp HĐTL rộng rãi hơn vào chăm sóc sức khỏe cho người
lớn tuổi. Tuy nhiên, tập thể dục vẫn chưa được tích hợp đầy đủ vào hoạt động y
tế cho người cao tuổi. Nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả bác sĩ
lão khoa, cần được đào tạo nhiều hơn để đưa bài tập trực tiếp vào việc chăm sóc
người bệnh, tại bệnh viện, phòng khám ngoại trú hay chăm sóc tại nhà. Giáo dục
về việc sử dụng bài tập như một phương pháp điều trị riêng biệt hoặc bổ sung
cho các hội chứng lão khoa và bệnh mãn tính sẽ giúp giảm bớt các vấn đề về dùng
nhiều loại thuốc và kê đơn rộng rãi các loại thuốc có thể không phù hợp.
Khuyến cáo này cung cấp
cơ sở cho việc tích hợp HĐTL vào các chiến lược cải thiện sức khỏe, phòng ngừa
bệnh tật cho người lớn tuổi. Các hướng dẫn được đưa vào cho các phương thức và
liều lượng tập thể dục cụ thể có hiệu quả đã được chứng minh trong các thử
nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên. Mô tả về những thay đổi sinh lý có lợi, các
kiểu hình lão hóa và vai trò của tập thể dục trong việc quản lý bệnh mãn tính
và khuyết tật ở người lớn tuổi. Việc sử dụng tập thể dục trong bệnh tim chuyển
hóa, ung thư, tình trạng cơ xương, hội chứng dễ bị tổn thương, teo yếu cơ và
sức khỏe tâm lý thần kinh được nhấn mạnh. Các khuyến nghị nhằm thu hẹp khoảng
cách giữa kiến thức lý thuyết và triển khai áp dụng trên thực tế lâm sàng.
2. Lợi ích của hoạt
động thể lực
Giảm hoạt động thể lực
góp phần gây nhiều bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh hô
hấp, bệnh Alzheimer, tăng huyết áp và ung thư. Giảm hoạt động thể lực phối hợp
với chế độ ăn không hợp lý cũng góp phần làm tăng nguy cơ beo phì. Ngày càng có
nhiều nghiên cứu cho thấy hoạt động thể lực thường xuyên góp phần giảm tỷ lệ
bệnh tật tử vong do mọi nguyên nhân, hạn chế tình trạng tàn phế và tăng chất
lượng sống.
2.1. Kiểm soát cân nặng
Chế độ ăn và hoạt động
thể lực đóng vai trò quan trọng nhất để kiểm soát cân nặng. Nếu lượng calo được
đốt cháy, kể cả trong khi hoạt động thể lực, ít hơn lượng ca lo ăn vào sẽ dẫn
đến tăng cân.
Để duy trì cân nặng,
mỗi tuần cần 150 phút tập tăng cường sức bền cường độ trung bình, hoặc 75 phút
cường độ cao, hoặc phối hợp cả hai loại một tuần. Nhiều nghiên cứu cho thấy
hoạt động thể lực có thể giúp duy trì trọng lượng cơ thể lâu dài. Tuy nhiên,
nhu cầu hoạt động thể lực thay đổi tùy từng người và một số người có thể phải
tập nhiều hơn 150 phút để duy trì cân nặng.
Để giảm cân nặng, cần
hoạt động thể lực ở mức độ nhiều hơn, trừ khi chúng ta giảm được lượng calo ăn
vào. Để giảm cân cần phối hợp giữa chế độ ăn hợp lý và hoạt động thể lực
2.2. Giảm nguy cơ mắc
bệnh tim mạch
Bệnh tim mạch và đột
quỵ là hai nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Với chế độ 150 phút tập tăng cường
sức bền một tuần có thể làm giảm các nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nếu tập nhiều
hơn, nguy cơ tim mạch còn giảm hơn nữa. Hoạt động thể lực thường xuyên còn giúp
hạ huyết áp và cải thiện mức cholesterol máu
2.3. Giảm nguy cơ đái
tháo đường típ 2 và hội chứng chuyển hóa
Hoạt động thể lực
thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ đái tháo đường typ 2 và hội chứng chuyển hóa
( bao gồm béo bụng, tăng huyết áp, giảm HDL - cholesterol, tăng triglyceride,
hoặc tăng đường huyết). Các nghiên cứu cho thấy 120-150 phút tập tăng sức bền
cường độ trung bình một tuần làm giảm các nguy cơ này. Càng tập nhiều thì nguy
cơ càng giảm.
Nếu đã bị đái tháo
đường typ 2, hoạt động thể lực giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn.
2.4. Giảm nguy cơ mắc
một số loại ung thư
Hoạt động thể lực làm
giảm nguy cơ mắc ung thư đại tràng và ung thư vú. Các nghiên cứu cho thấy những
người thường xuyên hoạt động thể lực có tỷ lệ mắc ung thư đại tràng thấp hơn
hơn những người không hoạt động thể lực và phụ nữ thường xuyên hoạt động thể
lực có tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn phụ nữ không hoạt động thể lực
Giảm nguy cơ ung thư
nội mạc tử cung và ung thư phổi. Một số nghiên cứu gợi ý tỷ lệ ung thư phổi và
tử cung ở những người thường xuyên hoạt động thể lực thấp hơn những người không
hoạt động thể lực.
Cải thiện chất lượng
sống. Nếu đã bị ung thư, hoạt động thể lực thường xuyên không những cải thiện
chất lượng sống, mà còn cải thiện thể lực của người bệnh
2.5. Tăng cường sức
khỏe của xương và cơ
Cơ xương khớp khỏe mạnh
là yếu tố đảm bảo sự vận động, các hoạt động hàng ngày và một lối sống tích
cực. Các nghiên cứu cho thấy tập luyên tăng độ bền và sức mạnh cơ bắp cường độ
trung bình có thể làm chậm quá trình mất xương khi tuổi cao.
Gẫy cổ xương đùi là
bệnh thường gặp và là nguyên nhân quan trọng gây tàn phế ở người cao tuổi.
Nghiên cứu cho thấy những người thường xuyên tập các bài tập tăng cường sức bền
120-300 phút một tuần có nguy cơ bị gẫy cổ xương đùi ít hơn so với người không
tập.
Hoạt động thể lực
thường xuyên ở người bị thoái khớp và bệnh lý khác ảnh hưởng đến khớp. Luyện
tập tăng cường sức bền cường độ trung bình 120-300 phút mỗi tuần không những
giúp cải thiện đau và hoạt động hàng ngày mà còn cải thiện chất lượng sống của
những người bị thoái khớp.
Làm cơ bắp khỏe mạnh.
Các hoạt động tăng sức mạnh cơ bắp có thể giúp làm tăng khối cơ và sức mạnh của
cơ. Tăng dần trọng lượng và số lần trong các bài tập trở kháng giúp cải thiện
hơn nữa sức khỏe của cơ
2.6. Cải thiện sức khỏe
tâm thần và khí sắc
Hoạt động thể lực
thường xuyên giúp cải thiện khả năng nhận thức như trí nhớ, suy luận… khi về
già. Hoạt động thể lực cũng làm giảm nguy cơ bị trầm cảm và giúp ngủ tốt hơn.
Các nghiên cứu cho thấy các bài tập tăng sức bền hoặc phối hợp bài tập tăng sức
bền với tăng cơ lực 3-5 ngày một tuần, mỗi ngày 30-60 phút giúp cải thiện sức
khỏe tâm thần. Thậm chí một số nghiên cứu gợi ý tập hoạt động thể lực ở mức độ
thấp hơn cũng có lợi cho sức khỏe tâm thần.
2.7. Cải thiện hoạt
động hàng ngày và phòng tránh ngã
Hạn chế hoạt động chức
năng là không có khả năng làm các hoạt động hàng ngày như leo cầu thang, mua
bán, hoặc chơi với con cháu. Những người ở độ tuổi trung niên hoặc già thường
xuyên hoạt động thể lực sẽ ít nguy cơ bị hạn chế chức năng hơn so với người
không hoạt động thể lực.
|
Bảng 1: Lợi ích của hoạt động thể lực
|
|
Bằng
chứng chắc chắn
|
|
Giảm nguy
cơ tử vong sớm, bệnh tim, đột quỵ, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn
lypid máu, hội chứng chuyển hóa, ung thư đại tràng và ung thư vú
Phòng
tránh tăng cân
Giảm cân
nặng khi phối hợp với chế độ ăn hợp lý
Cải thiện
sự phù hợp về tim phổi và cơ
Phòng
tránh ngã
Giảm trầm
cảm
Cải thiện
chức năng nhận thức
|
|
Bằng
chứng trung bình đến mạnh
|
|
Cải thiện
hoạt động chức năng
Giảm béo
bụng
|
|
Bằng
chứng trung bình
|
|
Duy trì
cân nặng sau khi giảm cân
Giảm nguy
cơ gẫy cổ xương đùi
Tăng mật
độ xương
|
|
Cải thiện
giấc ngủ
Giảm nguy
cơ ung thư phổi và tử cung
|
Các bài tập tăng sức
bền và tăng sức mạnh cơ bắp có thể giúp cải thiện việc thực hiện các hoạt động
hàng ngày của người bệnh
Với những người có nguy
cơ ngã,
các bài tập thăng bằng và tăng sức mạnh cơ bắp, phối hợp với bài tập tăng sức
bền cường độ trung bình như đi bộ nhanh, có thể làm giảm nguy cơ ngã
2.8. Tăng tuổi thọ
Các nghiên cứu cho thấy
hoạt động thể lực có thể làm giảm nguy cơ tử vong sớm do các nguyên nhân thường
gặp ví dụ bệnh tim hoặc một số ung thư:
Chỉ một chút thay đổi
lối sống với các hoạt động thể lực đã mang lại hiệu quả rất lớn đối với sức
khỏe. Những người thường xuyên hoạt động thể lực 7 giờ một tuần giảm đến 40%
nguy cơ tử vong sớm so với những người hoạt động thể lực ít hơn 30 phút một
tuần.
Không cần phải luyện
tập với cường độ cao để làm giảm nguy cơ tử vong sớm. Chỉ cần tập các bài tập
tăng sức bền cường độ trung bình ít nhất 150 phút một tuần cũng làm giảm nguy
cơ tử vong sớm.
3. Khuyến cáo chung tập
luyện và HĐTL
Khuyến cáo chung để
tăng mức độ HĐLT và tối ưu khả năng tuân thủ cho người cao tuổi là tăng cường
tập luyện trong các hoạt động hàng ngày, giúp cải thiện các kết cục về sức khỏe
và đặc biệt là dự phòng ngã. Các hoạt động đơn giản như leo cầu thang thay cho
đi thang máy, đứng một chân khi rửa bát hoặc nấu ăn, đứng lên ngồi xuống không
vịn tay vào ghế là những cách có thể áp dụng các bài tập hiếu khí, thăng bằng
và sức mạnh cơ vào cuộc sống.
Tổ chức y tế thế giới
(WHO) khuyến cáo người từ 65 tuổi trở lên nên tập bài tập hiếu khí ít nhất 150
phút cường độ trung bình hoặc 75 phút cường độ cao mỗi tuần, kết hợp với bài
tập tăng sức mạnh cơ từ 2 ngày trở lên mỗi tuần.
Hoạt động thể lực là
bất cứ chuyển động nào của cơ thể được tạo ra bởi hệ cơ xương, đòi hỏi mức tiêu
hao năng lượng vượt quá mức tiêu hao năng lượng ở trạng thái nghỉ. Hoạt động
thể lực có thể là làm việc nhà, hoạt động nghề nghiệp hay chơi thể thao…
3.1. Các thành tố của
hoạt động thể lực
Các thành tố của hoạt
động thể lực bao gồm: thời gian, tần xuất, cường độ và loại hình tập luyện
Loại hình luyện tập
được chỉ định tùy theo tình trạng sức khỏe và sở thích của người cao tuổi.
Thời gian và khối lượng
tập: là khoảng thời gian thực hiện một hoạt động thể lực nào đó
Tần suất: là số ngày
tập trong tuần
Cường độ: là mức tiêu
thụ năng lượng để hoàn thành một hoạt động thể lực nào đó.
3.2. Khuyến cáo về kê
đơn hoạt động thể lực
Khuyến cáo về mức độ
hoạt động thể lực cho người cao tuổi nhằm lão hóa khỏe mạnh và duy trì, cải
thiện chức năng ở người cao tuổi . Có 4 nguyên tắc kê đơn tập luyện cho người
cao tuổi:
+ Kháng lực 2-3
ngày/tuần, mỗi ngày 1-3 hiệp × 8-12 lần × 8-10 nhóm cơ chính; bắt đầu từ khoảng
50%, tăng dần đến đến 70-80% 1RM (mức tạ tối đa mà một người có thể thực hiện
được đúng 1 lần với kỹ thuật chuẩn đối với một bài tập cụ thể).
+ Bài tập hiếu khí
(Aerobic) 3-7 ngày/tuần: 20-60 phút/buổi nếu tập liên tục; có thể sử dụng
phương pháp tập luyện ngắt quãng cường độ cao (HIIT) với các đợt cường độ cao
30 giây-4 phút.
+ Bài tập thăng bằng 1-7
ngày/tuần, 4-10 bài tập, 1-2 hiệp, kết hợp tư thế tĩnh và tư thế động.
+ Tập luyện phải có
thay đổi, tăng dần và cá thể hóa: Không chỉ xác định “có tập hay không”, mà cần
kê đơn loại bài tập, tần suất, khối lượng và cường độ, tương tự một can thiệp
điều trị. Đồng thuận ICFSR nhấn mạnh vai trò của tập luyện như một hình thức
“tập luyện như một liệu pháp điều trị” trong chăm sóc và điều trị cho người cao
tuổi.
Điều quan trọng là xây
dựng một kế hoạch chi tiết cho từng hoạt động thể lực. Kế hoạch phải mô tả mỗi
hoạt động được thực hiên như thế nào, khi nào và ở đâu. Với những người có các
bệnh mạn tính, cần lồng ghép kế hoạch hoạt động thể lực với kế hoạch dự phòng
và điều trị bệnh. Ngoài ra, trong kế hoạch, các hoạt động thể lực phải được
thiết kế theo hướng tăng dần theo thời gian. Thầy thuốc phải tư vấn giúp xây dựng
một kế hoạch hiệu quả, an toàn phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của từng đối
tượng
Bảng 2. Khuyến cáo về mức độ hoạt động thể lực
cho người cao tuổi nhằm lão hóa khỏe mạnh và duy trì, cải thiện chức năng ở
người cao tuổi
|
Nội
dung
|
Tập
luyện sức mạnh cơ/
kháng
lực (Resistance
training)
|
Tập
luyện aerobic
(Aerobic
exercise
training)
|
Tập
thăng
bằng
(Balance
training)
|
|
Tần
suất
(ngày/tuần)
|
2-3
ngày/tuần
|
3-7
ngày/tuần
|
1-7
ngày/tuần
|
|
Khối
lượng
tập
luyện
|
1-3 hiệp
× 8-12 lần lặp lại, tác động lên 8-10 nhóm cơ chính
|
Tập liên
tục: 20-60 phút/buổi, sử dụng các nhóm cơ lớn.
Các đợt
tập cường độ cao ngắn, kéo dài 30 giây-4 phút
|
1-2 hiệp
gồm 4-10 bài tập khác nhau, tập trung vào các tư
thế/vận động tĩnh và động
|
|
Cường
độ
|
Bắt đầu ở
khoảng 50% 1RM, sau đó tiến triển đến mức 70-80% 1RM (tương đương khoảng 15-18
điểm trên thang Borg). Trong 2 tuần đầu, tăng dần mức tạ. Có thể đánh giá lại
1RM mỗi 2-4 tuần và sử dụng thang Borg giữa các lần đánh giá 1RM để duy trì
cường độ tương đối cao.
|
Bắt đầu
có thể từ 5-10 phút/buổi, sau đó tăng dần lên 15-30 phút/buổi. Cường độ được
xác định dựa trên nhịp tim và/hoặc thang điểm cảm nhận gắng sức.
Ở người sử
dụng thuốc chẹn β hoặc có máy tạo nhịp tim, cần lưu ý rằng nhịp tim có thể
không phản ánh chính xác cường độ tập. Có thể tăng từ cường độ trung bình lên
cường độ mạnh tùy theo thể lực.
|
Tập các
bài thăng bằng ngày càng khó, bao gồm tư thế tĩnh và động, phù hợp với khả
năng của người tập.
|
|
Thích
nghi sinh lý đặc hiệu
|
• Tăng
sức mạnh
• Tăng
công suất cơ (power)
• Tăng khối
lượng cơ (hypertrophy)
• Tăng
sức bền cơ
|
• Tăng công
suất aerobic tối đa
• Tăng
sức bền
• Cải thiện
co bóp tim/thể tích nhát bóp
• Tăng
khả năng sử dụng oxy ở ngoại vi
• Cải
thiện độ cứng động mạch
• Cải
thiện biến thiên nhịp tim (HRV)
|
Cải thiện
độ ổn định khả năng thăng bằng động
|
|
Ví dụ bài
tập
|
• Bài tập
nhiều khớp hoặc một khớp bằng tạ tự do hoặc máy, với tốc độ nâng từ chậm đến
trung bình
• Đẩy
ngực (bench press)
• Squat
• Duỗi
gối, Gập gối
• Có thể
thay đổi bài tập bằng cách thay đổi tư thế cơ thể, cách cầm nắm, vị trí bàn tay/bàn chân, tập một
bên hoặc hai bên.
• Khi
trọng lượng cơ thể
không
còn tạo đủ tải, có thể
bổ sung
máy tập hoặc tạ tự do
để tiếp
tục tăng tải và tiến triển bài tập.
|
• Đi bộ
với tốc độ và hướng thay đổi
• Đi bộ
trên máy chạy bộ
• Đi bộ đường
dài (hiking)
• Chạy
bộ/chạy
• Bơi
• Đạp xe
• Leo cầu
thang
• Khiêu
vũ
• Bước
lên bục (step- ups)
|
• Các bài
tập duy trì và chuyển đổi giữa tư thế tĩnh và động
• Bài tập
thay đổi trọng tâm cơ thể và kiểm soát tư thế
• Các bài
tập thăng bằng có độ khó tăng dần
Ví du: thái
cực quyền, yoga, khiêu vũ,…
|
3.3. Tập luyện thể lực
nhiều thành phần
Các chương trình tập
luyện đa thành phần được cá thể hóa, bao gồm tập sức mạnh và công suất cơ, bài
tập tim mạch, bài tập thăng bằng và bài tập dáng đi, đã được chứng minh có hiệu
quả hơn trong việc cải thiện những biểu hiện chính của hội chứng dễ bị tổn
thương (frailty syndrome), như mất ổn định, suy giảm sức mạnh cơ, giảm khả năng
đi lại và tăng nguy cơ té ngã.
Do đó, khuyến cáo áp
dụng các chương trình tập luyện này để dự phòng HCDBTT ở người cao tuổi, đồng
thời đặc biệt hướng đến những người đang ở giai đoạn tiền HCDBTT (pre-frail).
Ví dụ, một chương trình
tập luyện đa thành phần có kết hợp nhiệm vụ kép vận động - nhận thức (cognitive
dual-tasking) đã cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện các đặc điểm lâm sàng
điển hình của HCDBTT ở người có suy giảm nhận thức, bao gồm khối lượng cơ thể
thấp, giảm sức mạnh cơ, giảm sức bền, suy giảm khả năng vận động, mức độ hoạt
động thể lực thấp, giảm năng lượng và suy giảm nhận thức.
Ngày càng có nhiều bằng
chứng cho thấy chương trình tập luyện đa thành phần được cá thể hóa ở người cao
tuổi có thể đảo ngược một phần tình trạng phụ thuộc vào các hoạt động sinh hoạt
hằng ngày (ADL) thường xuất hiện trong và sau thời gian nằm viện, chẳng hạn như
đi vệ sinh, chuyển tư thế/vị trí, di chuyển và leo cầu thang.
Các chương trình tập
luyện đa thành phần cần tăng dần khối lượng, cường độ và mức độ phức tạp của
bài tập tùy theo khả năng của từng cá nhân.
Chương trình VIVIFRAIL
- Chương trình tập luyện thể lực đa thành phần nhằm dự phòng HCDBTT và nguy cơ
ngã là một chương trình đã có nhiều bằng chứng về hiệu quả. Chương trình này
được WHO khuyến nghị trong hướng dẫn ICOPE (Integrated Care for Older People -
Chăm sóc tích hợp cho người cao tuổi) về đánh giá lấy người bệnh làm trung tâm
và xây dựng lộ trình chăm sóc tại tuyến chăm sóc ban đầu.
Chương trình tập luyện
Otago (Otago Exercise Program - OEP) cũng là một chương trình tập luyện đa
thành phần, dựa trên bằng chứng, đã được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm
sợ ngã, giảm ngã và giảm nguy cơ tử vong ở người cao tuổi sống tại cộng đồng.
OEP là một chương trình tập luyện toàn diện tại nhà, bao gồm: Bài tập khởi
động: 5 động tác; Tập sức mạnh cơ tiến triển: 5 động tác; Tập thăng bằng: 12
động tác; Các buổi đi bộ nhằm rèn luyện sức bền aerobic. OEP là chương trình có
4 mức độ khó khác nhau đối với cả bài tập sức mạnh cơ và bài tập thăng bằng,
cho phép điều chỉnh và tăng dần mức độ tập luyện phù hợp với khả năng của từng
người cao tuổi.
4. Đánh giá trước khi
luyện tập thể lực
Trước khi bắt đầu
chương trình luyện tập, hầu hết những người mắc các bệnh mạn tính (đái tháo
đường, bệnh tim mạch, thoái khớp) cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc, tập
trung vào các yếu tố nguy cơ tim mạch và các hạn chế về thể lực để xây dựng một
kế hoạch luyện tập phù hợp và an toàn.
4.1. Sàng lọc và đảm
bảo an toàn trước khi tập luyện
Sàng lọc trước tập
luyện (pre-exercise screening) nhằm phát hiện các bệnh lý tim mạch và cơ xương
khớp có thể gây nguy cơ trong quá trình tập luyện. Điều này cho phép xây dựng
chương trình tập luyện phù hợp với khả năng và tình trạng sức khỏe của từng cá
nhân.
Trước khi bắt đầu
chương trình tập luyện, việc sàng lọc và đánh giá toàn diện là cần thiết nhằm
xác định các nguy cơ tiềm ẩn có thể cần những điều chỉnh cụ thể. Quá trình này
có thể bao gồm khai thác bệnh sử chi tiết, khám thực thể, đồng thời xem xét các
xét nghiệm chẩn đoán và kết quả xét nghiệm cận lâm sàng có liên quan.
Những người cao tuổi
khỏe mạnh có kế hoạch tăng dần mức độ hoạt động thể lực (physical activity -
PA) không nhất thiết phải được nhân viên y tế thăm khám trước. Tuy nhiên, theo
các hướng dẫn của ACSM và AHA, những người mắc bệnh tim mạch, bệnh thận hoặc
bệnh chuyển hóa, hoặc có các dấu hiệu hay triệu chứng của những bệnh lý này,
cần được đánh giá và cho phép tập luyện. Điều này giúp phát hiện những triệu
chứng chưa được chẩn đoán, đảm bảo các biện pháp chăm sóc dự phòng đã được thực
hiện và xác định rằng các bệnh lý hiện có đang ở trạng thái ổn định trước khi
thay đổi mức độ hoạt động thể lực.
4.2. Chuẩn bị trước khi
tập luyện
Việc chuẩn bị đầy đủ
trước khi tham gia hoạt động thể lực có vai trò rất quan trọng.
+ Người cao tuổi cần
được hướng dẫn về trang phục tập luyện phù hợp, bao gồm quần áo vừa vặn, thoải
mái và giày dép thích hợp, nhằm giảm nguy cơ vấp ngã, ngã hoặc kích ứng da.
+ Duy trì đủ nước
trước, trong và sau các buổi tập cũng rất quan trọng, đặc biệt trong môi trường
nóng hoặc ẩm, để phòng ngừa mất nước và các biến chứng liên quan.
+ Tránh nghiệm pháp
Valsalva và nín thở cũng có thể giúp hạn chế những biến động huyết động trong
quá trình tập luyện, đồng thời giảm nguy cơ xuất hiện hoặc làm nặng thêm thoát
vị bụng/thoát vị bẹn.
+ Những biện pháp này
cùng với việc đảm bảo môi trường tập luyện an toàn giúp giảm khả năng xảy ra
tai nạn và chấn thương.
4.3. Theo dõi khả năng
dung nạp khi tập luyện
+ Việc theo dõi các dấu
hiệu không dung nạp với tập luyện là rất quan trọng. Cần kiểm tra các dấu hiệu
sinh tồn trước và trong buổi tập, chẳng hạn như nhịp tim và huyết áp tư thế,
đồng thời xác định các khoảng mục tiêu phù hợp với từng cá nhân dựa trên tuổi,
chức năng thể chất, bao gồm tình trạng HCDBTT, tình trạng sức khỏe và khả năng
gắng sức.
+ Người cao tuổi và
người chăm sóc cũng cần được hướng dẫn nhận biết các triệu chứng như đau thắt ngực,
đau cách hồi, khó thở quá mức, chóng mặt hoặc mệt mỏi quá mức; khi xuất hiện
những triệu chứng này, cần điều chỉnh hoặc ngừng buổi tập.
4.4. Nguyên tắc tăng
dần cường độ tập luyện
Các chương trình tập
luyện nên bắt đầu từ từ với những hoạt động cường độ thấp. Sau đó, có thể tăng
dần cường độ và thời gian tập luyện để cơ thể có đủ thời gian thích nghi về mặt
sinh lý và giảm nguy cơ chấn thương. Việc đưa giai đoạn khởi động và hạ nhiệt
(warm-up và cool-down) vào chương trình cũng giúp phòng ngừa chấn thương và hỗ
trợ sức khỏe tim mạch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Izquierdo M, de
Souto Barreto P, Arai H, et al. Global consensus on optimal exercise
recommendations for enhancing healthy longevity in older adults (ICFSR). J Nutr
Health Aging. 2025;29(1):100401. doi:10.1016/j.jnha.2024.100401
2. Hoạt động thể lực
trong phòng và điều trị bệnh (2012). Nhà xuất bản Y học
3. World Health
Organization (WHO) Geneva: 2019. Integrated care for older people (ICOPE):
guidance for person-centred assessment and pathways in primary care.
4. Thomas S.,
Mackintosh S., Halbert J. Does the’ Otago exercise programme’ reduce mortality
and falls in older adults?: a systematic review and meta-analysis. Age Ageing.
2010;39(6):681-687. doi: 10.1093/ageing/afq102.
5. Fiatarone Singh
M.A., Izquierdo M., Morley J.E. 2022. Physical Fitness and Exercise, in Pathy’s
Principles and Practice of Geriatric Medicine; pp. 77-107.