Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
Căn cứ Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ
tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2025,
giao dự toán, kế hoạch đầu tư công từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương; thực
hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công năm
2024 và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Đầu tư công, Bộ Tài chính báo cáo tình hình thực hiện
kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) lũy kế 7 tháng, ước 8
tháng năm 2025 như sau:
I. VỀ TÌNH HÌNH PHÂN BỔ KẾ HOẠCH ĐẦU
TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn NSNN
năm 2025
1.1. Căn cứ quy định Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc
hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao[1] kế hoạch đầu tư vốn
ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2025 cho các bộ, cơ quan trung ương là 884.585,6
tỷ đồng, bao gồm: vốn NSTW là 408.858,3 tỷ đồng (vốn trong nước là 384.268,9
tỷ đồng[2], vốn nước ngoài là 24.589,3 tỷ
đồng) và vốn NSĐP là 475.727,3 tỷ đồng. Trong đó, vốn NSTW bố trí cho dự
án, nhiệm vụ thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là 24.460,1 tỷ
đồng[3].
Cụ thể:
(1) Kế hoạch đầu tư công giao đầu năm 2025 là 825.922,3
tỷ đồng.
(2) Kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 được giao bổ sung
là 58.663,3 tỷ đồng. Bao gồm: 2.498,286 tỷ đồng vốn CTMTQG; 56.165
tỷ đồng từ nguồn tăng thu NSTW năm 2024.
1.2. Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2025 các địa phương giao
tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm
báo cáo) là 141.341 tỷ đồng.
1.3. Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến
thời điểm báo cáo là 64.923,8 tỷ đồng; trong đó: NSTW là 37.010,9 tỷ
đồng[4],
NSĐP là 27.912,9 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2025 đến thời điểm báo cáo
(kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng,
kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.090.850,4 tỷ đồng.
2. Tình hình triển khai phân bổ chi
tiết kế hoạch vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương
2.1. Kế hoạch vốn đã triển khai phân bổ:
Tính đến ngày 28/8/2025, tổng số vốn đã phân bổ là 987.528
tỷ đồng; bao gồm NSTW là 370.459,7 tỷ đồng (vốn trong nước là 347.418 tỷ
đồng, vốn nước ngoài là 23.041,7 tỷ đồng), NSĐP là 617.068,3 tỷ đồng. Nếu không
tính số kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương gia tăng là 141.341 tỷ đồng,
tổng số vốn đã phân bổ là 846.187 tỷ đồng, đạt 95,66% kế hoạch
vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (884.585,6 tỷ đồng).
2.2. Kế hoạch vốn chưa được triển khai phân bổ:
- Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ chi tiết là 38.398,5 tỷ
đồng (vốn NSTW) của 18/42[5] bộ, cơ quan trung ương và 29/34
địa phương (chiếm 4,34% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong
đó: vốn theo ngành, lĩnh vực là 37.271,4 tỷ đồng; vốn CTMTQG là 1.127,1 tỷ
đồng. Bao gồm:
(1) 1.937,5 tỷ đồng vốn NSTW chưa phân bổ so với kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đầu năm (chiếm 0,22% kế hoạch Thủ tướng
Chính phủ giao).
(2) 31.764,2 tỷ đồng chưa phân bổ do mới giao bổ sung
kế hoạch vốn từ nguồn tăng thu NSTW năm 2024 và giao bổ sung vốn CTMTQG đợt 2,
đợt 3[6] (chiếm 82,5% tổng số vốn chưa phân
bổ và chiếm 3,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
(3) 4.696,8 tỷ đồng đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét, điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của 10 bộ, cơ
quan trung ương và 03 địa phương để bổ sung tương ứng cho 03 bộ, cơ quan trung
ương và 17 địa phương khác có nhu cầu bổ sung vốn[7].
- Nguyên nhân chưa phân bổ vốn NSTW chủ yếu do các bộ, cơ
quan trung ương và địa phương mới được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung kế
hoạch vốn. Một số nguyên nhân khác như: (i) do thực hiện chính quyền địa phương
02 cấp, nên cần rà soát để phân bổ số vốn nêu trên cho các chủ đầu tư mới[8];
(ii) dự án đã bố trí đủ tổng mức đầu tư không còn nhu cầu sử dụng, dự án gặp
vướng mắc không có khả năng triển khai thực hiện trong năm 2025, đề xuất kéo
dài thời gian thực hiện sang giai đoạn sau hoặc phải dùng thực hiện[9];
(iii) vốn CTMTQG đã bố trí đủ theo quy mô, đối tượng, mục tiêu được phê duyệt[10];
(iv) dự án thay đổi mục tiêu đầu tư (sử dụng vốn chi thường xuyên thay cho chi
đầu tư)[11]; (v) dự án chuyển giao cơ quan chủ
quản từ trung ương về địa phương theo quy định mới về phân cấp quản lý[12];
các địa phương đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục đầu tư dự án[13]
hoặc đang trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua tại kỳ họp gần nhất[14];...
2.3. Về phương án điều chỉnh kế hoạch vốn đầu công nguồn NSTW
năm 2025:
Theo báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ
Tài chính ghi nhận 18 bộ, cơ quan trung ương và 10 địa phương đề nghị điều
chỉnh giảm kế hoạch vốn nguồn NSTW năm 2025 (bao gồm số chưa phân bổ và số đã
phân bổ chi tiết) là 9.993,02 tỷ đồng. (Chi tiết tại Phụ lục IIA kèm
theo)
Đối với số vốn đề xuất điều chỉnh giảm nêu trên: trên cơ sở
đề xuất bổ sung kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của các bộ, cơ quan trung
ương và địa phương, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, điều
chỉnh giảm 4.696,8 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của 10 bộ, cơ quan
trung ương và 03 địa phương[15] để bổ sung tương ứng cho 03 bộ, cơ
quan trung ương và 17 địa phương[16] theo chỉ đạo tại Nghị quyết số
124/NQ-CP ngày 08/5/2025 của Chính phủ.
Đối với số vốn còn lại là 5.296,2 tỷ đồng, Bộ Tài chính đang
tổng hợp nhu cầu của các bộ, ngành và địa phương có nhu cầu sử dụng để tổng
hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh theo đúng quy định của Luật
Đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan.
II. VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH
ĐẦU TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025 (Phụ
lục I đính kèm)
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/7/2025 là 358.188,8
tỷ đồng, đạt 32,84% tổng kế hoạch (1.090.850,4 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/8/2025 là 434.006,5 tỷ
đồng, đạt 39,79% tổng kế hoạch, cụ thể:
1. Giải ngân vốn kế hoạch các năm
trước kéo dài sang năm 2025:
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/7/2025 là 19.690 tỷ
đồng, đạt 30,3 3% kế hoạch (64.923,8 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/8/2025 là 24.832,0 tỷ
đồng, đạt 38,25% kế hoạch.
2. Về giải ngân vốn kế hoạch năm
2025:
2.1. Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/7/2025 là 338.498,8
tỷ đồng, đạt 33% kế hoạch (1.025.926,5 tỷ đồng), đạt 38,27%
kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Nếu tính trên kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đầu năm (825.922,3
tỷ đồng), lũy kế giải ngân đến hết tháng 7 là 41% kế hoạch Thủ tướng
Chính phủ.
2.2. Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/8/2025 là 409.174,5
tỷ đồng, đạt 39,9% kế hoạch, đạt 46,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao
(cùng kỳ năm 2024 đạt 36,9% kế hoạch và đạt 40,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ
giao).
Nếu tính trên kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đầu năm, ước
giải ngân đến hết tháng 8 là 49,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Cụ thể như sau:
ĐVT: Tỷ đồng
|
STT
|
Nội dung
|
Ước thanh toán đến ngày 31/8/2025
|
Tỷ lệ (%) thực hiện
|
Tỷ lệ (%) so với KH
TTg (bao gồm các Quyết định giao bổ
sung)
|
Tỷ lệ (%) so với KH TTg giao đầu
năm
|
Cùng kỳ năm 2024
|
|
Số tiền
|
Tỷ lệ (%) thực hiện
|
Tỷ lệ (%) so với KH TTg
|
|
|
TỔNG SỐ
|
409.174,5
|
39,9%
|
463%
|
49,5%
|
273.884,2
|
36,9%
|
40,4%
|
|
|
VỐN TRONG NƯỚC
|
405.541,1
|
40,5%
|
47,2%
|
50,6%
|
269.647,6
|
37,4%
|
41%
|
|
|
VỐN NƯỚC NGOÀI
|
3.633,4
|
14,8%
|
14,8%
|
14,8%
|
4.236,6
|
21,2%
|
21,2%
|
|
A
|
VỐN NSĐP
|
277.400,8
|
45%
|
58,3%
|
58,3%
|
173.096,3
|
34,9%
|
40%
|
|
B
|
VỐN NSTW
|
131.773,7
|
32,2%
|
32,2%
|
37,6%
|
100.787,9
|
41,0%
|
41%
|
|
-
|
Vốn NSTW đầu tư theo ngành, lĩnh vực
|
118.946,3
|
30,9%
|
30,9%
|
36,2%
|
88.978,2
|
40,7%
|
40,7%
|
|
+
|
Vốn trong nước
|
115.380,1
|
32,0%
|
32,0%
|
38%
|
84.770,6
|
42,6%
|
42,6%
|
|
+
|
Vốn nước ngoài
|
3.566,2
|
14,6%
|
14,6%
|
14,6%
|
4.207,6
|
21,9%
|
21,9%
|
|
-
|
Vốn CTMTQG
|
12.827,4
|
52,4%
|
52,4%
|
58,4%
|
11.809,7
|
43,4%
|
43,4%
|
|
|
Vốn trong nước
|
12.760,2
|
52,6%
|
52,6%
|
58,6%
|
11.780,7
|
44,6%
|
44,6%
|
|
|
Vốn nước ngoài
|
67,2
|
34,6%
|
34,6%
|
34,6%
|
29
|
3,5%
|
3,5%
|
3. Nhận xét tình hình giải ngân kế
hoạch vốn
- Trong bối cảnh chuyển giao mô hình tổ chức chính quyền 2
cấp, cả nước đã nỗ lực tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân ngân kế hoạch vốn
đầu tư công năm 2025. Ước tính tỷ lệ giải ngân của cả nước đến hết tháng 8 đạt
46,3%; so với cùng kỳ năm 2024 tăng 135.290,3 tỷ đồng về số tuyệt đối và tăng
5,9% về tỷ lệ; đặc biệt là vốn NSĐP với tỷ lệ giải ngân đạt 58,3%, tăng 18,3%
so với cùng kỳ năm 2024. Có 07/42 bộ ngành và 19/34 địa phương có tỷ lệ giải
ngân đạt trên mức bình quân chung cả nước; 35/42 bộ ngành và 15/34 địa phương
có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung cả nước.
- Hiện nay, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem
xét, điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của một số bộ, cơ quan
trung ương và địa phương; đồng thời, một số bộ, địa phương mới được Thủ tướng
Chính phủ giao bổ sung kế hoạch vốn năm 2025 dẫn tới các đơn vị chưa có thời
gian để triển khai phân bố và giải ngân nguồn vốn này. Do đó, để đảm bảo đánh
giá kết quả thực hiện kế hoạch vốn theo đúng tình hình thực tế của các bộ, cơ
quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính đã điều chỉnh đánh giá tỷ lệ giải
ngân 8 tháng của các đơn vị tính trên kế hoạch đề xuất điều chỉnh giảm[17]
và không bao gồm kế hoạch mới được giao bổ sung. Các bộ, ngành và địa phương đề
xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2025 chịu trách nhiệm trước Thủ tướng
Chính phủ về việc đề xuất nhu cầu bố trí kế hoạch năm 2025 không phù hợp với
khả năng giải ngân dẫn đến việc phải đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn. Theo
đó:
+ Có 08 bộ, cơ quan trung ương và 22 địa phương
có tỷ lệ ước giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước, bao gồm: Ngân hàng
Phát triển; Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Văn
phòng Trung ương Đảng; Đài Tiếng nói Việt Nam; Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Bộ
Quốc phòng; Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Hà Tĩnh; Thanh Hóa; Ninh
Bình; Thái Nguyên; Lào Cai; Phú Thọ; Bắc Ninh; Gia Lai; Tây Ninh; Quảng Ngãi;
Nghệ An; Thành phố Huế; Điện Biên; Hải Phòng; Quảng Ninh; Hưng Yên; Lạng Sơn;
TP. Hồ Chí Minh; Đồng Tháp; Tuyên Quang; Khánh Hòa; Cao Bằng.
+ Có 30 bộ, cơ quan trung ương và 12 địa phương
có tỷ lệ ước giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước; bao gồm: Liên hiệp các
Hội văn học nghệ thuật Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Bộ Khoa học và Công
nghệ; Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam;
Thanh tra Chính phủ; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Bộ Ngoại
giao; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Bộ Y tế; Văn phòng Chính phủ; Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Bộ Công
Thương; Hội Nông dân Việt Nam; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch; Tòa án nhân dân tối cao; Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thông
tấn xã Việt Nam; Đại học Quốc gia Hà Nội; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Môi
trường; Bộ Nội vụ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Tư pháp; Bộ Xây dựng; Kiểm
toán Nhà nước; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Công an; Lai Châu; Sơn La;
Quảng Trị; Lâm Đồng; Vĩnh Long; Cần Thơ; Đồng Nai; An Giang; Cà Mau; Đắc Lắc;
Hà Nội; Đà Nẵng.
(Chi tiết tại Phụ lục IA, IB đính
kèm)
III. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ẢNH
HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG
Đến nay, kết quả giải ngân của nhiều bộ, cơ quan trung ương
và địa phương đã có chuyển biến tích cực, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nhờ vậy
tỷ lệ giải ngân chung của cả nước đã vượt tỷ lệ giải ngân cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân tháng 8 của các địa phương có xu thế chậm lại so với
tháng 7. Theo tổng hợp, đánh giá và làm việc trực tiếp với các bộ, ngành và địa
phương, Bộ Tài chính nhận thấy, vẫn còn tồn tại một số nguyên nhân gây khó khăn
kéo dài, chưa được khắc phục triệt để như sau:
1. Liên quan đến sắp xếp, tổ chức lại
đơn vị hành chính các cấp và chuyển sang mô hình tổ chức chính quyền địa phương
02 cấp:
Sau 02 tháng triển khai mô hình Tổ chức chính quyền địa
phương 02 cấp, Bộ Tài chính nhận thấy, tuy phải tập trung cho công tác kiện
toàn, sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02
cấp, việc duy trì tiến độ triển khai thực hiện các dự án và đẩy mạnh giải ngân
kế hoạch vốn đầu tư công vẫn được các địa phương quan tâm triển khai sát sao.
Nhiều địa phương đã hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn bộ máy; quan tâm bố trí
đầy đủ cán bộ công chức để không gián đoạn công việc; các đơn vị sử dụng ngân
sách cấp xã, phường đã cơ bản hoàn thành việc mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước
để đảm bảo kịp thời giải ngân vốn đầu tư công các dự án. Mặc dù vậy, quá trình
triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp còn phát sinh một số khó khăn,
vướng mắc, phát sinh chủ yếu từ khâu tổ chức thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp đến
tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của các địa phương, cụ thể như sau:
- Một số quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm
quyền khi tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp ở nhiều địa phương chưa
được thực hiện kịp thời, hiệu quả; nguyên nhân do một số quy định giữa các
luật, nghị định, thông tư còn mâu thuẫn, chưa đảm bảo tính thống nhất hoặc chưa
đủ cụ thể, rõ ràng để địa phương triển khai thực hiện[18];
- Một số địa phương (cấp xã) trong giai đoạn đầu chưa kịp
thời kiện toàn bộ máy được đầy đủ. Nhiều đơn vị cấp xã không có đủ lãnh đạo,
cán bộ có chuyên môn sâu về lĩnh vực phụ trách, đặc biệt không có cán bộ đủ
tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm kế toán, kế toán trưởng, dẫn đến nhiều đơn vị
không thể mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước[19] nên ảnh hưởng đến
hoàn tất thủ tục giải ngân vốn đầu tư công. Tình trạng thiếu cán bộ công chức
có kinh nghiệm về công tác giải phóng mặt bằng, quản lý dự án,... ảnh hưởng tới
công tác quản lý dự án và giải ngân;
Việc sắp xếp bố trí cán bộ công chức từ các huyện xuống các
xã và giữa các xã chưa đồng đều, toàn diện, chưa phủ kín các vị trí chủ chốt,
nhất là đối với các xã vùng sâu, vùng xa, dẫn đến một số xã còn lúng túng trong
việc tiếp nhận và xử lý khối lượng công việc lớn và mới trong cùng một thời điểm
cấp xã vừa tiếp nhận nhiệm vụ của cấp huyện, vừa tiếp nhận thẩm quyền theo phân
cấp từ các bộ ngành và của cấp tỉnh thuộc lĩnh vực quản lý đầu tư công;
- UBND cấp xã được giao làm chủ đầu tư một số dự án đầu tư
công nhưng không có ban quản lý dự án xây dựng chuyên trách[20];
- Việc thay đổi trong trách nhiệm, quyền hạn, quy trình quản
lý dự án tại địa phương do không duy trì cấp huyện và các cơ quan chức năng mới
sau sắp xếp, sáp nhập cũng là nguyên nhân làm cho công tác thẩm định báo cáo
nghiên cứu khả thi, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế xây dựng; công
tác nghiệm thu, thanh toán phải kéo dài thời gian xử lý do dự án phải điều
chỉnh thiết kế để phù hợp với việc sáp nhập địa giới hành chính; ảnh hưởng đến
công tác GPMB các dự án của trung ương và địa phương do các đơn vị cấp huyện là
tổ chức chủ chốt triển khai công tác giải phóng mặt bằng (GPMB);...
Để phù hợp với cơ cấu bộ máy sau khi thực hiện sắp xếp, tinh
gọn, nhiều dự án của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã tạm dừng khởi
công, rà soát để xác định lại sự cần thiết phải đầu tư, điều chỉnh quy mô, phạm
vi, tiêu chuẩn định mức dẫn đến chưa tiếp tục bố trí vốn thực hiện dự án để chờ
kết quả rà soát; một số dự án do không còn nhu cầu phải dừng thực hiện, đang đề
xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn để tránh lãng phí.
2. Liên quan đến phân bổ vốn:
- Việc chưa phân bổ một lượng vốn tương đối lớn mới được Thủ
tướng Chính phủ giao bổ sung từ nguồn vốn tăng thu NSTW năm 2024 hiện đang được
triển khai hoàn thiện các thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu, chưa có khối lượng
để giải ngân[21], ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn
đầu tư công nguồn NSNN đến thời điểm báo báo (tính đến ngày 27/8/2025 còn
31.764,2 tỷ đồng giao bổ sung từ nguồn tăng thu NSTW năm 2024 và nguồn vốn
CTMTQG giao bổ sung đợt 2, đợt 3 chưa triển khai phân bổ, chiếm kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao).
Một số địa phương (cấp xã) đang tập trung cho công tác kiện
toàn và vận hành mô hình chính quyền mới, chưa sát sao trong công tác phân bổ
vốn để kịp thời tiến độ thực hiện các dự án, bao gồm nguồn vốn thực hiện
CTMTQG.
- Đối với kế hoạch vốn giao đầu năm, nhiều bộ ngành và địa
phương đã đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn[22] do không có khả năng
thực hiện hoặc không còn nhu cầu sử dụng (do thay đổi mô hình tổ chức trong quá
trình sắp xếp tổ chức bộ máy) dẫn đến phải dừng triển khai dự án để tránh lãng
phí.
3. Liên quan đến cơ chế chính sách:
Mặc dù các cơ chế chính sách về quản lý đầu tư công đã được
sửa đổi, khắc phục trong thời gian qua song cơ chế chính sách vẫn còn một số
vướng mắc như: vướng mắc về tính giá đất theo Luật Đất đai; vướng mắc về xử lý
chồng lấn quy hoạch; vướng mắc về thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các
dự án (từ dự án dư vốn sang dự án có nhu cầu sử dụng vốn để đẩy mạnh tiến độ
giải ngân) do đang chờ Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu
tư công (sửa đổi theo Luật số 90/2025/QH15[23]) về điều chỉnh thẩm
quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025[24];
vướng mắc do chưa ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư (trong đó có quy định về loại hợp đồng BT với
phương thức thanh toán quỹ đất);...
4. Liên quan đến công tác tổ chức
thực hiện:
- Về GPMB: Công tác bồi thường, GPMB phục vụ thi công các dự án còn
chậm do khó khăn trong việc xác định giá đất đền bù do chưa đạt được thỏa thuận
đối với người dân, chậm bàn giao mặt bằng, xác định nguồn gốc sử dụng đất của
các hộ gặp nhiều khó khăn do chuyển nhượng nhiều lần nên mất thời gian, việc
hoàn thiện hồ sơ thu hồi đất qua nhiều bước; việc sáp nhập các tỉnh dẫn tới
cùng một địa phương song có nhiều bảng giá đất, ảnh hưởng đến việc xây dựng phương
án bồi thường GPMB;...[25].
- Về nguyên vật liệu: Nguồn cung một số nguyên vật liệu hạn chế (đất, cát đắp...);
giá nhiều nguyên vật liệu tăng đột biến so với thời điểm mời thầu làm tăng chi
phí dự án;...[26].
- Về công tác quy hoạch: Sự chậm trễ trong lập, phê duyệt, điều chỉnh quy
hoạch, đặc biệt là các quy hoạch chi tiết và chỉ giới đường đỏ, do thủ tục phức
tạp, chồng chéo giữa các quy hoạch, thiếu phối hợp giữa các cơ quan liên quan
cũng làm ảnh hưởng đến việc triển khai dự án[27].
- Về các dự án ODA: các dự án chậm giải ngân do (i) chưa hoàn thành quy trình
thủ tục đầu tư (đang điều chỉnh, gia hạn thời gian thực hiện, thời gian giải
ngân hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục ký kết và hiệu lực của Hiệp định vay)[28];
(ii) tiến hành các thủ tục đấu thầu chậm (bao gồm cả các gói thầu đấu thầu quốc
tế), đang triển khai chuẩn bị ký kết Hợp đồng và xử lý các vướng mắc trong công
tác GPMB[29]; (iii) đến hết tháng 7, một số bộ
ngành, địa phương vẫn đang ưu tiên tập trung hoàn chứng từ các khoản giải ngân
từ tài khoản đặc biệt theo kế hoạch vốn năm 2024[30];...
- Điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi, phức tạp: thời gian qua trên địa bàn các địa
phương xảy ra nhiều đợt mưa lớn, sạt lở, lũ lụt,... Diễn biến thời tiết bất lợi
này đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công các hạng mục như đào, đắp nền
đường, vận chuyển bê tông để phục vụ thi công cầu, cống, hầm chui dân sinh ..........
Đây là nguyên nhân bất khả kháng dẫn tới việc thi công các công trình không đảm
bảo tiến độ[31].
4. Về nguồn thu NSĐP: Mặc dù thu ngân sách cả nước cao
vượt kế hoạch, song một số địa phương vẫn còn khó khăn trong việc thu ngân sách
địa phương từ nguồn thu sử dụng đất dẫn đến chưa có nguồn vốn để phân bổ chi
tiết cho các dự án triển khai thực hiện (Điện Biên), thực tế nguồn thu tiền sử
dụng đất sẽ đạt thấp ở những tháng đầu năm (Bắc Ninh);....
IV. VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN
QUAN TRỌNG QUỐC GIA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI (Phụ lục III đính kèm)
Các bộ, cơ quan, địa phương đã phân bổ chi tiết toàn bộ 12/12
dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải với tổng số vốn là 100.137,1
tỷ đồng; trong đó: vốn NSTW là 84.889,6 tỷ đồng; vốn NSĐP là 15.247,5 tỷ đồng.
Bộ Tài chính đã kịp thời duyệt dự toán để đảm bảo vốn cho các dự án.
Đến hết ngày 31/7/2025, tổng số vốn giải ngân của 12 dự án
quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải là 22.579,5 tỷ đồng (trong đó: vốn
NSTW là 20.057,3 tỷ đồng, đạt 23,6%; vốn NSĐP là 2.522,2 tỷ đồng, đạt 22,3%),
đạt tỷ lệ 23,5% kế hoạch được giao, thấp hơn so với tỷ lệ giải ngân bình quân chung
của cả nước (46,3%).
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ
tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng, các địa phương, các chủ đầu tư, nhà thầu, người
dân đã nỗ lực cố gắng, chủ động triển khai, khắc phục các khó khăn để đẩy nhanh
tiến độ thi công các dự án và đạt được tiến triển tương đối rõ rệt. Đối với các
dự án có tiến độ hoàn thành năm 2025, công tác GPMB đã cơ bản hoàn thành; một
số vướng mắc cục bộ (đường gom, điện cao thế) không ảnh hưởng nhiều tới tiến độ
thi công, về nguồn cung vật liệu xây dựng đã cơ bản được tháo gỡ; đối với các
dự án thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh đã rà soát và bố trí đủ
nguồn cung.
Như vậy, về cơ bản các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến công
tác giải ngân kế hoạch vốn năm 2025 đã được giải quyết. Để đảm bảo tỷ lệ giải
ngân theo chỉ đạo của Chính phủ, một số khó khăn ảnh hưởng đến kết quả giải
ngân cần tiếp tục tháo gỡ như:
- Mặc dù các quy định pháp luật liên quan đến quản lý khoáng
sản, đất đai đã được chỉnh sửa, ban hành hoặc áp dụng theo các cơ chế đặc thù
được Quốc hội cho phép, quá trình triển khai thực hiện còn vướng mắc cần tiếp
tục được hoàn thiện, sửa đổi, ban hành để áp dụng thống nhất, đồng bộ.
- Chính quyền địa phương chưa tích cực trong việc giải quyết
các khó khăn vướng mắc về công tác GPMB, xử lý triệt để các phát sinh khiếu nại
nhất là với các diện tích Đất ở, sinh kế, tập quán, thói quen của người dân; xử
lý nghiêm hiện tượng người dân cản trở thi công trong phạm vi mặt bằng đã bàn
giao. Một số tỉnh chưa hoàn thành bàn giao mặt bằng trạm dừng nghỉ thuộc dự án
cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
- Một số dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2025, khối lượng
còn nhiều trong khi mùa mưa đến sớm hơn thường lệ và dự kiến kéo dài, ảnh hưởng
đến việc triển khai thi công tiềm ẩn rủi ro chậm hoàn thành theo kế hoạch, đòi
hỏi sự nỗ lực cố gắng vượt bậc, sự sát sao, điều hành linh hoạt mới bảo đảm kế
hoạch hoàn thành 3.000 km đường bộ cao tốc, đặc biệt là DATP 3, 5 Vành đai 3
Thành phố Hồ Chí Minh, DATP 1 Biên Hòa - Vũng Tàu, Tuyên Quang - Hà Giang.
- Một số dự án mới khởi công nhưng tiến độ triển khai thời
gian đầu còn chậm, cần xây dựng kế hoạch cụ thể, rút kinh nghiệm trong triển
khai các dự án thời gian qua để khắc phục, khó khăn, vướng mắc và tăng tốc
trong thời gian tới.
Ngoài ra, hiện nay một số dự án quan trọng quốc gia không còn
nhu cầu sử dụng vốn (dự án đẩy nhanh tiến độ triển khai, dự kiến hoàn thành
trong năm 2025 nên dư vốn so với tổng mức đầu tư do tiết kiệm chi phí sau đấu
thầu, giá trị quyết toán, chi phí dự phòng) dẫn đến không sử dụng hết kế hoạch
vốn năm 2025 đã bố trí, điển hình như: Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai
đoạn 2017-2020 (dự kế hoạch năm 2025 khoảng 1.000 tỷ đồng); Dự án cao tốc Bắc -
Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 (dư kế hoạch vốn năm 2025 khoảng 3.000 tỷ
đồng);... Toàn bộ kế hoạch vốn còn dư này hiện đang chờ thủ tục để điều chỉnh
bổ sung cho Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; sau khi bổ sung xong,
tỷ lệ giải ngân chung của Bộ Xây dựng sẽ được cải thiện.
V. VỀ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP CỦA BỘ TÀI
CHÍNH
Để triển khai đảm bảo tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm
2025 đạt mục tiêu 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng cả năm đạt 8% trở lên, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần
nghiêm túc rút kinh nghiệm, triển khai kịp thời, quyết liệt, hiệu quả các mục
tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công theo chỉ đạo
tại Nghị quyết số 230/NQ-CP ngày 10/8/2025 của Chính phủ về phiên họp thường kỳ
tháng 7/2025 và hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương. Trên cơ sở đó, Bộ
Tài chính đề xuất các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai một số
kiến nghị và giải pháp trọng tâm như sau:
(1) Liên quan đến sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các
cấp và chuyển sang mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp:
- Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương quyết liệt thực
hiện các kết luận, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền về việc thực hiện chính quyền
02 cấp; kịp thời xử lý vướng mắc theo thẩm quyền; tổng hợp, báo cáo cấp thẩm
quyền xử lý triệt để các khó khăn, vướng mắc; tập trung chỉ đạo, tổ chức triển
khai, bảo đảm không để xảy ra tình trạng đứt gãy, gián đoạn trong việc triển
khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công trong giai đoạn sắp xếp, tổ chức
lại đơn vị hành chính các cấp, chuyển sang mô hình tổ chức chính quyền địa
phương 02 cấp.
- Bộ Tư pháp: tiếp tục rà soát, lấy ý kiến các bộ, ngành liên
quan để đề xuất phương án hoàn thiện pháp luật, nhất là một số quy định còn mâu
thuẫn, chưa đảm bảo tính thống nhất giữa các luật, nghị định, thông tư liên
quan đến phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi tổ chức mô hình chính
quyền 02 cấp.
- Bộ Nội vụ: ban hành và phối hợp với các bộ, ngành có liên
quan ban hành văn bản hướng dẫn việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
UBND cấp xã, nhất là các đơn vị cung cấp các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu ở
cấp xã, quản lý dự án đầu tư.
- Bộ Xây dựng: xem xét sửa đổi, hoàn thiện các quy định hướng
dẫn việc phân cấp thực hiện nhiệm vụ chủ đầu tư cấp xã để tránh chồng chéo,
vướng mắc trong thẩm định, quyết toán.
(2) Khẩn trương thực hiện phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công
năm 2025 chưa phân bổ chi tiết (bao gồm kế hoạch vốn giao đầu năm, kế hoạch
giao bổ sung nguồn vốn CTMTQG và vốn NSTW bổ sung từ nguồn tăng thu NSTW năm
2024) đến hết ngày 30/9/2025 theo quy định, đảm bảo kịp thời giải ngân trong
những tháng cuối năm. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu giải
ngân, yêu cầu chủ đầu tư báo cáo tiến độ giải ngân theo từng tháng, quý; kịp
thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh của từng dự án, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu
tư công đến hết Quý III tối thiểu đạt 60% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cả
năm 2025 đạt 100%.
(3) Các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục rà soát, tổng hợp các
vướng mắc trong cơ chế chính sách liên quan đến giải ngân đầu tư công theo chức
năng nhiệm vụ để báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, kịp thời tháo gỡ.
(4) Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc GPMB, huy
động sự vào cuộc của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính
trị, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, bổ sung nhân sự có kinh nghiệm trong công
tác GPMB cho các xã; xác định công tác bồi thường, GPMB là nút thắt trong quy
trình triển khai dự án cần phải tập trung tháo gỡ, hạn chế mức thấp nhất tình
trạng dự án chờ mặt bằng.
(5) Đối với các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm
trong lĩnh vực giao thông vận tải:
- Các bộ, ngành và địa phương tích cực, chủ động thực hiện
các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao tại báo cáo số 401/TB-VPCP ngày 06/8/2025[32]
của Văn phòng Chính phủ; theo đó, đề nghị Bộ Xây dựng và các địa phương đẩy
nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án, tăng cường kiểm tra, giám sát,
phân công rõ trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành đảm bảo;
khoa học, hiệu quả công việc... để phấn đấu hoàn thành ít nhất 3000km cao tốc,
trên 1.000km đường bộ ven biển và các dự án lớn như Cảng hàng không quốc tế
Long Thành trong năm 2025.
- Đề nghị các địa phương khẩn trương thực hiện và giải ngân
vốn các dự án, đặc biệt là các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao
thông vận tải do địa phương làm cơ quan chủ quản, cụ thể như: Tuyến cao tốc
Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08), DATP3 xây dựng đường cao tốc Vành đai 4 Vùng thủ
đô Hà Nội, Cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành, Cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Cao tốc
Bảo Lộc - Liên Khương, Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Mộc Bài (PPP),...; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án mới
được giao bổ sung vốn NSTW từ nguồn tăng thu NSTW năm 2024, bao gồm các khâu
chuẩn bị đầu tư, GPMB, ký kết hợp đồng xây lắp.
(6) Đối với các dự án ODA: Các cơ quan chủ quản, chủ dự án
đẩy nhanh hoàn thiện các thủ tục đầu tư dự án; đồng thời bám sát tiến độ thực
hiện dự án và tiến độ điều chỉnh dự án, kịp thời tháo gỡ ngay vướng mắc, khó
khăn trong triển khai dự án và giải ngân, chỉ đạo tập trung đẩy mạnh giải ngân
các dự án đã hoàn tất các thủ tục đầu tư, công tác đấu thầu, ký kết hợp đồng;
phối hợp với Bộ Tài chính để kịp thời trao đổi với nhà tài trợ trong trường hợp
có vướng mắc phát sinh.
(7) Đối với vốn NSĐP: các địa phương phải chủ động đẩy mạnh
thu ngân sách, nhất là từ đất đai, đồng thời kỊp thời kiến nghị bổ sung nguồn
nếu hụt thu, tránh để dự án thiếu vốn triển khai.
(8) Đối với các CTMTQG: các bộ, ngành và địa phương cần chủ
động ban hành hoặc trình ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện, đồng bộ
với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Các cơ quan chủ chương trình (Bộ Nông
nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo) khẩn trương thực hiện rà soát,
tổng hợp nhu cầu thực tế của các bộ, ngành và địa phương, đề xuất điều chỉnh phần
vốn không còn sử dụng, hoàn trả về ngân sách trung ương để kịp thời phân bổ
lại.
(9) Nghiêm túc chấp hành chế độ báo cáo tình hình thực hiện,
thanh toán vốn đầu tư công theo Thông tư số 37/2025/TT-BTC ngày 12/6/2025 của
Bộ Tài chính, trong đó đảm bảo nội dung về thời gian thực hiện, biểu mẫu báo
cáo; báo cáo theo quy định tại Quyết định số 1544/QĐ-TTg ngày 16/7/2025 về việc
thành lập các Tổ công tác đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất
kinh doanh, xuất nhập khẩu, xây dựng hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng, đẩy mạnh
giải ngân vốn đầu tư công (các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thuộc đối
tượng kiểm tra có tỷ lệ giải ngân dưới mức trung bình của cả nước); nghiêm túc
thực hiện cập nhật đầy đủ thông tin dữ liệu trên Hệ thống thông tin quốc gia về
đầu tư công theo quy định.
Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó TTgCP Hồ Đức Phớc (để báo cáo);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Văn phòng Chính phủ;
- Cổng TTĐTCP (để đăng tải);
- Các đơn vị: NSNN, KTN, KTĐP, ĐCTC, VI, KBNN, QLN, KHTC;
- Cục CNTT (để đăng tải lên cổng TTĐT và Hệ thống thông tin và CSDLQG về đầu
tư công);
- Lưu: VT; PTHT(5b).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Thành Trung
|