|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 37/VBHN-BNNMT
|
Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2026
|
NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT
ĐÊ ĐIỀU
Nghị định số 113/2007/NĐ-CP
ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Đê điều, có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày
05 tháng 02 năm 2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định
trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05
tháng 02 năm 2026.
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Đê điều ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Phòng, chống lụt,
bão ngày 20 tháng 3 năm 1993 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh Phòng, chống lụt, bão ngày 24 tháng 8 năm 2000;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn[1],
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1.[2] Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Điều 4; Điều 6; Điều 26; khoản 2 và khoản 4 Điều 27; khoản
2 Điều 37 và Điều 46 của Luật Đê điều.
2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với mọi
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có các hoạt động liên quan đến đê điều tại
Việt Nam.
Điều 2.
Phân loại và phân cấp đê theo Điều 4 của Luật Đê điều được quy định như sau:
1. Đê được phân loại thành đê
sông, đê biển, đê cửa sông, đê bối, đê bao và đê chuyên dùng.
2.[3] Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định cấp của từng tuyến
đê.
3.[4] Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh
cấp đê theo tiêu chí quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật Đê điều để phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trình Bộ Nông nghiệp và
Môi trường quyết định.
Điều 3.
Chính sách của nhà nước trong lĩnh vực đê điều theo Điều 6 Luật Đê điều được
quy định như sau:[5]
1.Tổ chức, cá nhân đầu tư
nghiên cứu hoặc ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực đê điều mà được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép áp dụng thì được hỗ trợ về kinh phí và các
quyền lợi khác theo quy định hiện hành.
2. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào
đê điều để kết hợp làm đường giao thông được hưởng những quyền lợi sau:
a) Sử dụng đê theo mục đích đầu
tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Được chính quyền địa phương
tạo điều kiện về mặt bằng thi công;
c) Cho các phương tiện giao
thông hoạt động theo quy định về tải trọng của dự án đầu tư;
d) Được phép thu phí giao thông
theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào
việc trồng cây chắn sóng bảo vệ đê điều được hưởng các quyền lợi sau:
a) Được bố trí đất trong phạm
vi bảo vệ đê điều để trồng cây;
b) Hỗ trợ kinh phí trong nguồn
vốn xây dựng, tu bổ đê điều hàng năm;
c) Được phép khai thác và hưởng
lợi trong phạm vi đầu tư theo quy định.
4.[6] Đầu tư cho đê điều và ưu tiên đầu tư các tuyến đê xung yếu,
các tuyến đê kết hợp quốc phòng, an ninh; bố trí kinh phí kịp thời cho việc thực
hiện xây dựng, tu bổ, duy tu bảo dưỡng, xử lý đột xuất (khẩn cấp, cấp bách) và
kiên cố hóa đê điều. Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định nội dung, quy trình
thực hiện duy tu bảo dưỡng, xử lý đột xuất (khẩn cấp, cấp bách) sự cố đê điều
thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước; quyết định việc ủy quyền cho Sở Nông
nghiệp và Môi trường thực hiện nhiệm vụ chi duy tu bảo dưỡng, xử lý đột xuất
(khẩn cấp, cấp bách) sự cố đê điều từ nguồn ngân sách trung ương. Bộ Tài chính
chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn việc quản lý, sử dụng
ngân sách nhà nước để thực hiện duy tu bảo dưỡng và xử lý đột xuất (khẩn cấp, cấp
bách) sự cố đê điều, bao gồm kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi của Bộ Nông nghiệp
và Môi trường ủy quyền cho Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện.
Điều 4.[7] (được
bãi bỏ)
Điều 5. Sử
dụng bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao nơi chưa có công trình xây dựng theo điểm c
khoản 3 Điều 26 của Luật Đê điều được quy định như sau:[8]
Để việc xây dựng công trình
không được làm giảm quá giới hạn cho phép của lưu lượng lũ thiết kế; không làm
tăng quá giới hạn cho phép của mực nước lũ thiết kế; không ảnh hưởng đến dòng
chảy của khu vực lân cận, thượng lưu, hạ lưu phải đáp ứng các quy định sau:
1. Ngoài phạm vi bảo vệ đê điều.
2.[9] Tuân theo quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi và phòng,
chống thiên tai, quy hoạch đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy
hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị
và nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Dự án xây dựng mới phải cách
bờ sông một khoảng cách nhất định để thông thoáng dòng chảy, tránh sạt lở; phục
vụ việc xây dựng đường ven sông, tạo cảnh quan môi trường; Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định cụ thể khoảng cách này.
4. Các công trình trạm điện, trạm
y tế, trường học, trạm cấp nước, nhà kho khi lập dự án xây dựng phải bảo đảm
các quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, đồng thời phải cao hơn mực nước thiết
kế đê để hoạt động được thường xuyên và an toàn trong mùa lũ.
Điều 6. Quy
định chi tiết khoản 2, khoản 4 Điều 27 của Luật Đê điều như sau:[10]
1. Trên cơ sở quy hoạch tài
nguyên nước, thủy lợi và phòng, chống thiên tai, quy hoạch đê điều và phòng, chống
lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch tỉnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:
a) Tổ chức việc lập, điều chỉnh
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông
thôn có liên quan đến phạm vi bảo vệ đê điều và bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc phê duyệt theo thẩm quyền;
b) Tổ chức cắm mốc chỉ giới
trên thực địa theo quy hoạch;
c) Xác định số lượng công trình,
nhà ở phải di dời;
d) Xây dựng kế hoạch và biện
pháp thực hiện việc di dời.
2. Thời gian di dời đối với
công trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông, bãi nổi
hoặc cù lao thuộc diện phải di dời được quy định như sau:
a) Công trình, nhà ở hiện có
trong khu vực đang bị sạt lở phải di dời ngay để bảo đảm an toàn tính mạng và
tài sản của nhân dân;
b) Công trình, nhà ở hiện có
trong phạm vi bảo vệ đê điều phải tổ chức di dời hoàn thành trước ngày 31 tháng
12 năm 2030;
c) Công trình, nhà ở không phù
hợp với quy hoạch (quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi và phòng, chống thiên
tai, quy hoạch đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch tỉnh
đã được phê duyệt) thì phải tổ chức di dời hoàn thành trước ngày 31 tháng 12
năm 2030.
3. Đối với các diện tích đất
xen kẽ giữa các công trình, nhà ở hiện có tại khu vực bãi sông, bãi nổi hoặc cù
lao được xem xét, sử dụng khi đáp ứng yêu cầu phòng, chống lũ, an toàn đê điều
được quy định như sau:
a) Thuộc khu vực dân cư tập
trung hiện có được tồn tại, bảo vệ đã được xác định trong quy hoạch đê điều và
phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và được chi tiết trong quy hoạch tỉnh. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định cụ thể khu vực dân cư tập trung
hiện có được tồn tại, bảo vệ trong quy hoạch tỉnh đảm bảo phù hợp với quy hoạch
đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt;
b) Được xây dựng công trình,
nhà ở mới, ưu tiên tái định cư và các công trình công cộng;
c) Ủy ban nhân dân các cấp ở địa
phương và các hộ dân phải có phương án chủ động đảm bảo an toàn trong trường hợp
xảy ra lũ lớn đối với các khu vực dân cư tập trung hiện có được tồn tại, bảo vệ
theo quy hoạch đê điều và phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch tỉnh;
d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy
định việc cấp giấy phép xây dựng công trình, nhà ở mới quy định tại điểm b khoản
3 Điều này. Giấy phép xây dựng phải quy định cụ thể quy mô công trình, giải
pháp xây dựng để đảm bảo phòng, chống lũ, an toàn đê điều, phù hợp quy định tại
Nghị định này và quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng, pháp luật khác có
liên quan; người có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
4. Chính sách đối với công
trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông, bãi nổi hoặc
cù lao thuộc diện phải di dời được quy định như sau:
a) Công trình, nhà ở hợp pháp
được bồi thường theo quy định của pháp luật;
b) Công trình, nhà ở không hợp
pháp có thể được xem xét hỗ trợ; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định.
5. Các dự án xây dựng đã được
phê duyệt trước ngày Pháp lệnh Đê điều có hiệu lực (ngày 01 tháng 01 năm 2001),
nhưng chưa thực hiện hoặc chưa hoàn thành, nếu phù hợp với các quy hoạch quy định
trong Luật Đê điều và các quy định của pháp luật hiện hành thì được tiếp tục thực
hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét để quyết định cụ thể cho
từng dự án nêu trên.
Điều 7. Cơ
cấu tổ chức của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều theo khoản 2 Điều 37 của
Luật Đê điều được quy định như sau:
1.[11] Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều thuộc tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là cấp tỉnh) có đê được tổ chức
thành các Hạt Quản lý đê trong phạm vi một xã, phường, đặc khu hoặc liên xã,
phường, đặc khu.
Hạt Quản lý đê là đơn vị của
Chi cục thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đê điều và phòng, chống thiên
tai thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường cấp tỉnh; có trụ sở làm việc, có con dấu
và tài khoản riêng.
2. Lực lượng chuyên trách quản
lý đê điều có chức năng trực tiếp quản lý và bảo vệ đê điều, từ đê cấp III đến
đê cấp đặc biệt.
Đối với các tuyến đê cấp IV, cấp
V; tuyến đê và công trình phân lũ, làm chậm lũ việc tổ chức quản lý do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định.
3. Biên chế của Hạt Quản lý đê
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo định mức:
a) Một người quản lý trực tiếp
từ 1 đến 2 km đê đối với đê cấp đặc biệt; từ 3 đến 4 km đê đối với đê từ cấp I
đến cấp III;
b) Định mức biên chế quản lý
tuyến đê cấp IV, cấp V; tuyến đê và công trình phân lũ, làm chậm lũ do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều 8. Chế
độ, chính sách đối với lực lượng chuyên trách quản lý đê điều theo khoản 2 Điều
37 của Luật Đê điều được quy định như sau:
1. Sắc phục, phù hiệu, cấp hiệu
và thẻ của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều được quy định chi tiết tại Phụ
lục kèm theo Nghị định này.
2. Việc cấp sắc phục, phù hiệu,
cấp hiệu và thẻ của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều được thực hiện theo
các quy định như sau: mũ kêpi 3 năm cấp một lần; mũ mềm 2 năm cấp một lần; mũ
bông 3 năm cấp một lần. áo bông 3 năm cấp một lần; quần áo thu đông, áo gi lê
và ca vát 3 năm cấp một lần ; quần áo xuân hè 1 năm cấp một lần (năm đầu cấp
hai bộ); tất chân 1 năm cấp hai đôi; giày da 3 năm cấp một lần; thắt lưng da 3
năm cấp một lần; phù hiệu, cấp hiệu và thẻ được đổi hoặc cấp lại khi bị hư hỏng.
3. Lực lượng chuyên trách quản
lý đê điều được hưởng các chế độ, chính sách về tiền lương, phụ cấp ưu đãi và
chế độ trang bị dụng cụ, thiết bị, phương tiện bảo hộ lao động.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với
các Bộ, cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về chế độ, chính
sách tiền lương và phụ cấp; Bộ Nông nghiệp và Môi trường[12] chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định về chế độ trang bị dụng cụ, thiết bị, phương tiện,
bảo hộ lao động cho lực lượng chuyên trách quản lý đê điều.
4. Kinh phí hoạt động của Hạt
Quản lý đê do ngân sách cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Điều 9.[13] (được
bãi bỏ)
Điều 10. Xử
lý vi phạm pháp luật về đê điều theo Điều 46 của Luật Đê điều được quy định như
sau:
1. Tổ chức, cá nhân vi phạm
pháp luật về đê điều thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật,
xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Việc xử phạt vi phạm hành
chính trong quản lý, bảo vệ đê điều Chính phủ có quy định riêng.
Điều 11.
Hiệu lực thi hành[14]
Nghị định này có hiệu lực thi
hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và khi Luật Đê điều có hiệu lực thi
hành.
Nghị định số 171/2003/NĐ-CP
ngày 26 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều
của Pháp lệnh đê điều và Nghị định số 78/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2005 của
Chính phủ về quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và sắc phục của lực lượng
chuyên trách quản lý đê điều hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
Bãi bỏ và các quy định trước
đây trái với quy định của Nghị định này./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Cổng Pháp luật quốc gia;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- CSDL quốc gia về pháp luật (để đăng tải);
- Lưu: VT, ĐĐ (03b).
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Hoàng Hiệp
|
PHỤ LỤC
QUY ĐỊNH VỀ PHÙ HIỆU, CẤP HIỆU, THẺ VÀ SẮC PHỤC CỦA LỰC
LƯỢNG CHUYÊN TRÁCH QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU
(Ban hành kèm theo Nghị định số 113/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm
2007 của Chính phủ)
I. PHÙ HIỆU
1. Phù hiệu đeo trên mũ mềm
Làm bằng kim loại, hình tròn,
đường kính 32 mm. Ngôi sao vàng dập nổi trên nền đỏ hình tròn đường kính là 17
mm, đường viền nổi xung quanh rộng 1 mm. Từ ngôi sao có các tia nổi chiếu ra;
có hai cành tùng dập nổi mạ bạc ôm lấy phù hiệu, hai cành lá bắt chéo nhau ở
phía dưới hình tròn. ở khoảng trống phía dưới hình tròn và bên trên cành lá có
các chữ QUẢN LÝ ĐÊ màu xanh đen; khoảng trống này có chiều cao 6 mm, chiều
dài là 26 mm, chiều cao của chữ QUẢN LÝ ĐÊ là 3 mm.
2. Phù hiệu đeo trên mũ kêpi
Có hai cành tùng bắt chéo nhau
mạ bạc dập nổi ôm phù hiệu, có chiều rộng nhất là 60 mm, chiều cao là 40 mm.
II. CẤP
HIỆU
1. Cấp hiệu gắn ở cầu vai
Trong lực lượng chuyên trách quản
lý đê điều có 6 cấp hiệu đối với Kiểm soát viên đê điều. Trên nền cấp hiệu có gắn
phù hiệu thu nhỏ ở góc. Cấp hiệu quản lý đê hình chữ nhật một đầu vát nhọn cân,
màu đỏ được dệt bằng vải tơ, dài 125 mm, rộng 45 mm, độ chếch đầu nhọn rộng 35
mm; ở giữa cấp hiệu có vạch dệt bằng tơ màu vàng, ba mặt viền mép màu vàng, sao
đính trên cấp hiệu bằng kim loại màu trắng có đường kính 20 mm. Sao và vạch thể
hiện cấp bậc, chức vụ như sau:
a) Hạt trưởng Hạt Quản lý đê:
hai sao đính phía trên hai vạch vàng.
b) Phó Hạt trưởng Hạt Quản lý
đê: một sao đính phía trên hai vạch vàng.
c) Kiểm soát viên chính: ba sao
đính phía trên một vạch vàng.
d) Kiểm soát viên: hai sao đính
phía trên một vạch vàng.
đ) Kiểm soát viên trung cấp: một
sao đính phía trên một vạch vàng.
e) Những viên chức quản lý đê
khác: cấp hiệu chỉ có một vạch vàng.
2. Cấp hiệu gắn ở ve áo: cấp hiệu
hình bình hành, bằng dạ màu đỏ có chiều dài 52 mm, chiều cao 32 mm. Trên nền cấp
hiệu có gắn phù hiệu thu nhỏ ở chính giữa cấp hiệu.
III. THẺ
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
Thẻ công chức, viên chức làm bằng
bìa cứng, hình chữ nhật ép plastic, kích thước 5,5 cm x 8,5 cm.
- Phía trên:
Dòng thứ nhất: ghi tên cơ quan
cấp trên của Hạt Quản lý đê.
Dòng thứ hai: ghi tên Hạt Quản
lý đê của công chức, viên chức
- Phía dưới:
Bên trái dán ảnh mầu cỡ 4 cm x
6 cm của công chức, viên chức đeo thẻ.
Bên phải:
+ Ghi họ và tên công chức, viên
chức đeo thẻ.
+ Chức vụ của công chức, viên
chức.
+ Mã số cơ quan, mã ngạch công
chức, viên chức số thứ tự của công chức, viên chức.
IV. SẮC
PHỤC
1. Áo thu - đông nam: được may
bằng vải có màu xanh nước biển.
- Kiểu ve áo cổ chữ K, có 4 túi
nổi, đáy túi vát, giữa túi có đố túi, hai túi dưới nổi, nắp túi hình cánh dơi.
Dựng thân trước, áo có ken lót; lót vải lụa cùng màu với vải chính thân trước,
tay áo, cầu vai thân sau.
- Cúc đính trên túi áo: hai túi
trên đính cúc 17 ly, hai túi dưới đính cúc 22 ly (cúc nhựa mạ màu vàng giữa cúc
có chữ QLĐ là chữ viết tắt của chữ quản lý đê).
- Ngực áo cài 4 cúc 22 ly (màu
và hình dạng cúc như mô hình phía trên).
- Tay áo làm bác tay (không có
lé tay). Trên tay trái áo đính phù điêu quản lý đê điều.
- Thân sau có xẻ sống.
2. Áo thu - đông nữ: may bằng vải
có màu xanh nước biển.
- Kiểu ve áo cổ bẻ, chữ K, có hai
túi nổi, miệng túi vát, hai nắp túi có sòi. Thân trước đính 4 cúc to 22 ly (màu
và hình dáng mô tả như ở phần áo nam), áo có chiết ly tạo dáng.
- Dựng thân trước, áo có ken
lót, lót bằng vải lụa đồng màu với màu vải chính, thân trước, tay áo, cầu vai áo,
thân sau. Tay áo làm bác tay (không có lé tay) trên tay áo trái đính phù điêu
quản lý đê điều.
3. Quần phăng (sử dụng chung
cho trang phục thu - đông và xuân - hè): Sản phẩm được may bằng vải có màu xanh
nước biển.
- Quần phăng nam: kiểu hai ly nổi
túi dọc chéo, một túi sau hai viền. Thân sau có một túi hậu cài khuy nhựa, cửa
quần có khoá kéo, cạp quần có 6 đai dây lưng, gấu quần được cắt vát về phía ly
trước có đáp mặt nguyệt để giữ poly mũi giầy. Đầu cạp làm hai móc và một cúc
hãm trong.
- Quần phăng nữ: kiểu hai ly
chìm, túi thẳng, cửa quần khoá kéo, gấu quần được cắt vát về phía ly trước có
đáp mặt nguyệt để giữ poly mũi giày. Đầu cạp làm hai móc và một cúc hãm trong.
4. Áo gile nam: Sản phẩm được
may bằng vải có màu xanh nước biển.
Áo có 3 túi cơi, phía trên túi
cơi nhỏ, túi dưới cơi to, áo không có cổ, thân sau vòng cổ có viền. Ngực áo
đính bằng cúc nhựa 15 ly cùng màu với vải chính, áo có xẻ sườn, thân sau của áo
làm bằng chun có bản rộng 30 mm.
5. Áo sơ mi nam dài tay, ngắn
tay: Sản phẩm được may bằng vải có màu xanh nước biển.
- Cổ áo kiểu cài, hai túi ngực
nổi, nắp túi hình cánh dơi, giữa có đố túi, trên nắp túi trái có chỗ cài bút,
cúc áo bằng nhựa mạ vàng loại 17 ly (màu và kiểu như cúc áo mùa đông), áo chia
làm 6 cúc (cả cúc cổ).
- Áo có bật vai đính cúc nhựa
cùng màu, cỡ 12 ly, thân sau áo làm cầu vai.
- Tay áo: tay áo bên trái có
đính phù điêu quản lý đê điều.
+ Áo dài tay: măng séc tay rộng
55 mm, dài 240 mm.
+ Áo ngắn tay: gập ra ngoài rộng
35 mm may 2 đường.
- Cả hai loại áo ngắn tay và
dài tay bo gấu, khi sử dụng áo bỏ ngoài quần.
6. Áo sơ mi nữ dài tay, ngắn
tay
- Màu sắc, loại vải như áo xuân
- hè nam.
- Áo kiểu cổ bẻ hai ve. Thân
trước có hai túi dưới có nắp liền, chiết 4 ly tạo dáng, thân sau có sống sau,
xanh tê theo kiểu ký giả, cúc áo cỡ 17 ly (màu và kiểu như cúc áo đông), ngực
áo chia làm 4 cúc.
- Áo có bật vai đính cúc nhựa
cùng màu, cúc cỡ 12 ly.
- Tay áo bên trái có gắn phù
điêu quản lý đê điều.
+ Áo dài tay: măng séc tay rộng
45 mm, dài 22mm.
+ Áo ngắn tay: gập vào trong
may 1 đường.
- Cả hai loại áo ngắn tay và
dài tay là kiểu áo buông khi sử dụng không phải bỏ áo trong quần.
7. Áo bông: sản phẩm được may bằng
vải có màu xanh nước biển (cùng màu với bộ thu - đông).
- Vải lót bên trong cùng màu với
chính. Lớp bông ở giữa là loại bông sơ mốc có độ dày 160 g/m2.
- Áo kiểu áo choàng dài (không
bo gấu), áo có hai lần cổ: cổ bên ngoài kiểu cổ bẻ chữ K (như áo thu - đông), cổ
bên trong có khoá kéo cao để đảm bảo giữ ấm cho người sử dụng. Thân trước có 4
túi: hai túi trên nổi có đố túi, nắp túi nhọn hình cánh dơi, hai túi dưới chéo
chìm, chỉ nổi phần miệng túi, ở giữa áo có đai, khoá đai hình chữ nhật bằng nhựa
cứng cùng màu với vải chính. Tay áo buông, có cá tay, phía đầu tay bên ngoài có
đính hai cúc để điều chỉnh độ rộng của tay, phía đầu tay bên trong có chun.
8. Mũ kêpi: sản phẩm được may bằng
vải có màu xanh nước biển.
- Mũ kêpi có thành, đỉnh và cầu
mũ được may cùng một loại vải, phía trước có lưỡi trai bằng nhựa màu đen bóng,
thấp dần về phía trước.
- Mũ có hai dây coóc đông được tết
bằng sợi kim tuyến màu vàng, hai đầu được đính cúc kim loại màu vàng, trên mặt
cúc có chữ QLĐ nổi. Trên mũ phía trước được đính phù hiệu quản lý đê (phù hiệu
được mô tả như phần trên).
- Hai bên thành mũ có đính 4
ôdê tạo sự thông thoáng cho người đội mũ.
- Thành mũ phía trước được dựng
bằng nhựa mỏng để tạo dáng.
- Lót cầu mũ làm bằng vải tráng
nhựa, phía trong được gắn với bọt xốp tạo độ êm khi đội mũ.
9. Mũ bông: sản phẩm được may bằng
vải có màu xanh nước biển (cùng màu với vải áo bông).
- Bên trong được lót bằng một lớp
bông sơ mốc có độ dày 160 g/m2. Vải lót mũ cùng màu với vải chính.
- Mũ kiểu chùm, có hai dải tay
dài bản rộng trùm qua tai để giữ ấm cho người sử dụng, ở phía đầu hai dải trùm
có dây nhỏ để buộc phía dưới cằm. Phía trước mũ có lưỡi trai lật hình chữ nhật,
hai đầu cạnh hơi tròn, phía trên có một ôdê để gắn phù hiệu quản lý đê. Trên
mũ, các đường diễu được may diễu hình quả trám để giữ chắc giữa phần vải chính,
bông và vải lót.
10. Mũ mềm: sản phẩm được may bằng
vải có màu xanh nước biển.
Kiểu mũ lưỡi trai, phía trên đỉnh
mũ các đường may chia làm 8 khoản theo chiều dài mũ, hai bên cạnh mũ mỗi bên
đính 3 ôdê tạo sự thông thoáng cho người sử dụng. Phía trước mũ có lưỡi trai cứng
tạo dáng mũ, phía trên trán có lưỡi trai cứng hình bán nguyệt tạo dáng khoẻ cho
mũ, trên lưỡi trai phía trán mũ có một ôdê để gắn phù hiệu quản lý đê. Phía mũ
có dây nhựa cùng màu với vải chính để điều chỉnh độ rộng, hẹp của mũ cho phù hợp
với người sử dụng.
11. Ca vát: sản phẩm được may bằng
vải có màu xanh nước biển; ca vát kiểu thắt sẵn, có khoá kéo có chốt hãm tự động.
12. Thắt lưng da: sản phẩm được
làm bằng da màu đen, bản rộng 35 mm; khoá thắt lưng làm bằng kim loại mạ bạc, ở
giữa mặt khoá chính giữa có chữ "QLĐ" màu đen; thắt lưng kiểu
khoá có chốt cố định phía trong, khi sử dụng dây lưng được dấu mối vào phía
trong.
13. Giày, tất chân: giày được
làm bằng da màu đen, thấp cổ, đế giày cao trung bình, có dây buộc loại thông
thường; tất chân nilon hoặc dệt kim./.
[1] Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Phòng, chống
thiên tai số 33/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số
60/2020/QH14, Luật số 18/2023/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 55/2024/QH15
và Luật số 146/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đê điều số
79/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 15/2008/QH12, Luật
số 35/2018/QH14, Luật số 60/2020/QH14, Luật số 18/2023/QH15, Luật số
47/2024/QH15, Luật số 84/2025/QH15 và Luật số 146/2025/QH15;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự
số 18/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số
98/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi
trường;”
[2] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 28 của Nghị định số
53/2026/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[3] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 29 của Nghị định số
53/2026/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[4] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 29 của Nghị định số
53/2026/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[5] Tên
Điều “Chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đê điều theo khoản 2 và khoản 3 Điều
6 Luật Đê điều được quy định như sau:” được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 1 Điều 30 của Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể
từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[6] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định số 53/2026/NĐ-
CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và
phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[7] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại Điều 34 của Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống
thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[8] Tên
Điều “Sử dụng bãi sông nơi chưa có công trình xây dựng theo điểm c khoản 3 Điều
26 của Luật Đê điều được quy định như sau:” được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 1 Điều 31 của Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực
kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[9] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 31 của Nghị định số
53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[10]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 32 của Nghị định số
53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[11]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 33 của Nghị định số
53/2026/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[12]
Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bởi cụm từ “Bộ
Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số
53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[13]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại Điều 34 của Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống
thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026.
[14] Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Nghị định số
53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê
điều và phòng, chống thiên tai, có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 02 năm 2026 quy
định như sau:
“Điều 70. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Chế độ, chính sách đối với
lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã quy định tại Điều 12
và Điều 13 Nghị định này đang được cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo
Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2021, nhưng đến thời điểm
Nghị định này có hiệu lực thi hành chưa có quyết định của cấp có thẩm quyền thì
được áp dụng theo quy định tại Nghị định này.
2. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài, tổ chức quốc tế đăng ký hoạt động ứng phó và khắc phục hậu quả
thiên tai theo quy định tại Điều 11 Nghị định này đang được cấp có thẩm quyền
xem xét, giải quyết theo Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2021,
nhưng đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành vẫn chưa nhận được
kết quả thì tiếp tục áp dụng theo quy định của Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày
06 tháng 7 năm 2021.
3. Đối với các khoản viện trợ
quốc tế khẩn cấp để khắc phục hậu quả thiên tai thuộc thẩm quyền Quyết định chủ
trương của Thủ tướng Chính phủ quy định tại Điều 61 và đối với các văn kiện viện
trợ quốc tế khẩn cấp để khắc phục hậu quả thiên tai quy định tại Điều 62 Nghị định
này, đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành vẫn chưa được phê duyệt
thì thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Điều 71. Hiệu lực thi
hành
1. Nghị định này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày ký ban hành.
2. Bãi bỏ Mục 6 và Phụ lục V
tại Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý
nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
3. Bãi bỏ Chương VII tại Nghị
định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định
phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
4. Trường hợp các văn bản dẫn
chiếu tại Nghị định này được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì thực hiện theo quy
định tương ứng tại văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế đó.
Điều 72. Tổ chức thực hiện
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này.”