Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 90/VBHN-VPQH Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Văn phòng quốc hội Người ký: Lê Quang Mạnh
Ngày ban hành: 30/03/2026 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 90/VBHN-VPQH

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2026

 

LUẬT

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi:

1. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015;

2. Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;

3. Luật số 67/2020/QH14 ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022;

4. Luật số 09/2022/QH15 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;

5. Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;

6. Luật số 56/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025;

7. Luật số 88/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;

8. Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;

9. Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính[1].

Phần thứ nhất

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

3. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[2]; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa đi cai nghiện bắt buộc[3].

4. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở, biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng[4] và biện pháp quản lý tại gia đình.

5.[5] Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó.

6. Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.

7. Vi phạm hành chính có tổ chức là trường hợp cá nhân, tổ chức câu kết với cá nhân, tổ chức khác để cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

8. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật để cá nhân, tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành nghề.

9. Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

10. Tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

12. Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên.

13. Sự kiện bất ngờ là sự kiện mà cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra.

14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

15. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

16.[6] (được bãi bỏ)

17. Người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên pháp lý.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

b) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

c) Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d)[7] Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng;

đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

e) Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

2. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bao gồm:

a) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này;

b) Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

c) Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.

Điều 4. Thẩm quyền quy định về xử phạt vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính[8]

1. Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định các nội dung sau đây:

a) Hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước;

b) Chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

2. Biểu mẫu sử dụng trong xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Căn cứ quy định của Luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính

1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.

Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;

b) Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;

c) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này.

Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.

Điều 6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a)[9] Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về kiểm toán độc lập.

b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

c)[10] Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu xử phạt áp dụng theo quy định tại điểm a khoản này được kéo dài thêm 01 năm. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính;

d) Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

2. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau:

a)[11] Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu là 01 năm kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90; 06 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90; 06 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3, 4 và 6 Điều 90 của Luật này;

b)[12] Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 92 của Luật này;

c) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này;

d)[13] (được bãi bỏ)

đ)[14] Trong thời hạn được quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này mà cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 8. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc.

2. Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.

Điều 9. Tình tiết giảm nhẹ

Những tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:

1. Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;

2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;

3. Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

4. Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;

5. Người vi phạm hành chính là phụ nữ mang thai, người già yếu, người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

6. Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;

7. Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;

8. Những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định.

Điều 10. Tình tiết tăng nặng

1. Những tình tiết sau đây là tình tiết tăng nặng:

a) Vi phạm hành chính có tổ chức;

b) Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;

c) Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;

d) Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;

đ) Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;

g) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;

h) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;

i) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;

k) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;

l) Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;

m) Vi phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.

2. Tình tiết quy định tại khoản 1 Điều này đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính

Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;

2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;

3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;

4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;

5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.

Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

3. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.

4. Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

5. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật này.

6.[15] Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

7. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

8. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

8a.[16] Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả.

9. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

10. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

11. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.

12. Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 13. Bồi thường thiệt hại

1. Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Các tổ chức có nhiệm vụ giáo dục thành viên thuộc tổ chức mình về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra vi phạm hành chính trong tổ chức mình.

2. Khi phát hiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

Điều 15. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

1. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác của người vi phạm, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng tính chất, mức độ vi phạm, không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm quy định khác tại Điều 12 của Luật này và quy định khác của pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 17. Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

1. Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chủ trì hoặc phối hợp trong việc đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Theo dõi chung và báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính;

c) Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

d) Kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

đ)[17] Quy định chế độ báo cáo, biểu mẫu thống kê số liệu trong xử lý vi phạm hành chính.

3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, ngành có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[18] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.

4.[19] Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này và định kỳ hằng năm gửi báo cáo đến Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình; chỉ đạo Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thuộc Kiểm toán nhà nước thực hiện việc báo cáo, cung cấp thông tin về xử lý vi phạm hành chính.

5. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương, có trách nhiệm sau đây:

a) Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

c) Kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[20] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn.

6.[21] Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành quyết định xử phạt, thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, cơ quan thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin, kết quả xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền, phạm vi quản lý đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 18. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm sau đây:

a) Thường xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

b) Không được can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo quy định của pháp luật;

c) Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính do mình quản lý, phụ trách;

d) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,[22] Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây:

a) Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;

b) Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;

c) Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về xử lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh vực do mình phụ trách theo quy định của pháp luật;

d) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

3.[23] Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Điều 18a. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử[24]

1. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.

2. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan;

b) Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật;

c) Kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 19. Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; khi phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật.

Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải xem xét, giải quyết và trả lời yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định của pháp luật.

Điều 20. Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này.

Phần thứ hai

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Chương I

CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Mục 1. CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT

Điều 21. Nguyên tắc quy định các hình thức xử phạt[25]

1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

đ) Trục xuất.

2. Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.

Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.

3.[26] Mỗi vi phạm hành chính được quy định một hình thức xử phạt chính, có thể quy định một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung kèm theo.

Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này.

Điều 22. Cảnh cáo

Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.

Điều 23. Phạt tiền

1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.

Đối với khu vực nội thành của thành phố[27] thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.

2. Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể theo một trong các phương thức sau đây, nhưng khung tiền phạt cao nhất không vượt quá mức tiền phạt tối đa quy định tại Điều 24 của Luật này:

a) Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;

b) Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.

3.[28] Căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt được quy định tại nghị định của Chính phủ và yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương, Hội đồng nhân dân thành phố[29] có quyền quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều này nhưng không vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này.

4.[30] Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Điều 24. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực

1.[31] Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định như sau:

a)[32] Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê; đối ngoại; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; cản trở hoạt động tố tụng; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao dịch điện tử; bưu chính;

c) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng, chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen (trừ nguồn gen giống vật nuôi); trồng trọt (trừ phân bón); thú y; kế toán;[33] phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ; đăng ký doanh nghiệp; kiểm toán nhà nước;

d) Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: cơ yếu; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia; quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; giáo dục; giáo dục nghề nghiệp; giao thông đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; phòng, chống tệ nạn xã hội;

đ)[34] Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; an ninh mạng;[35] dữ liệu; công nghiệp công nghệ số; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; điện lực;

e) Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;

g) Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

h) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thủy lợi; sở hữu trí tuệ; báo chí;

i)[36] Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kinh doanh bất động sản;

k) Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; thủy sản.

2. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

3.[37] Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực: thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh; kiểm toán độc lập; bảo vệ dữ liệu cá nhân được thực hiện theo quy định tại các luật tương ứng.

4. Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Điều 25. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

1. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

2. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:

a) Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.

3.[38] Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung thời gian tước, đình chỉ được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì thời hạn tước, đình chỉ có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung thời gian tước, đình chỉ; nếu có tình tiết tăng nặng thì thời hạn tước, đình chỉ có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung thời gian tước, đình chỉ.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Điều 26. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.[39]

Điều 27. Trục xuất

1. Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.

Mục 2. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Điều 28. Các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng

1. Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

b) Buộc phá dỡ[40] công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;

c) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

d) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;

đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

e) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;

g) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;

h) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

i) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;

k) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.

2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Đối với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này.

Điều 29. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình gây ra; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 30. Buộc phá dỡ[41] công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải phá dỡ[42] công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 31. Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải thực hiện biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 32. Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật.

Biện pháp khắc phục hậu quả này cũng được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 33. Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 34. Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã được công bố, đưa tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa tin; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 35. Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm

Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc sử dụng phương tiện kinh doanh, vật phẩm chứa yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm thì phải loại bỏ các yếu tố vi phạm đó; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 36. Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng

Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng đã đăng ký hoặc công bố và hàng hóa khác không bảo đảm chất lượng, điều kiện lưu thông thì phải thu hồi các sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Điều 37. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật

Cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; phải nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện đó đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.

Chương II

THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Điều 37a. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[43]

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này bao gồm:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;

b) Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực; Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan ngang Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;

c) Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;

d) Thanh tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong thời hạn thanh tra;

đ) Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

e) Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu; Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

g) Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra;

h) Người có thẩm quyền thuộc các cơ quan, lực lượng: Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Thuế; Quản lý thị trường; Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Thủy sản và Kiểm ngư; Thi hành án dân sự;

i) Giám đốc, Trưởng đại diện Cảng vụ Hàng hải, Cảng vụ Đường thủy nội địa, Cảng vụ Hàng không; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám đốc Kho bạc Nhà nước khu vực;

k) Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia; Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

l) Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trừ trường hợp Luật Cạnh tranh có quy định khác về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh;

m) Người có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân;

n) Người có thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát nhân dân;

o) Trưởng đoàn kiểm toán trong thời hạn kiểm toán, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước.

2. Căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, Chính phủ quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh.

3. Căn cứ quy định tại các điểm m, n và o khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh.

4. Trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 53 của Luật này, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Điều 38.[44] (được bãi bỏ)

Điều 39.[45] (được bãi bỏ)

Điều 40.[46] (được bãi bỏ)

Điều 41.[47] (được bãi bỏ)

Điều 42.[48] (được bãi bỏ)

Điều 43.[49] (được bãi bỏ)

Điều 43a.[50] (được bãi bỏ)

Điều 44.[51] (được bãi bỏ)

Điều 45.[52] (được bãi bỏ)

Điều 45a.[53] (được bãi bỏ)

Điều 46.[54] (được bãi bỏ)

Điều 47.[55] (được bãi bỏ)

Điều 48.[56] (được bãi bỏ)

Điều 48a.[57] (được bãi bỏ)

Điều 49.[58] (được bãi bỏ)

Điều 50.[59] (được bãi bỏ)

Điều 51.[60] (được bãi bỏ)

Điều 52. Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

1.[61] Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của một chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.

Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành của thành phố thuộc các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố quy định.

2. Thẩm quyền phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

3.[62] Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều 37a của Luật này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.

Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

4. Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính có nhiều hành vi vi phạm thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:[63]

a) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

b) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

c) Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

Điều 53. Thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[64]

1. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ có sự thay đổi về tên gọi nhưng không thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chức danh đó được giữ nguyên.

2. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, thì thẩm quyền xử phạt được tiếp tục thực hiện bởi chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó tương ứng với từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

Điều 54. Giao quyền xử phạt[65]

1.[66] Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc, đồng thời với việc giao quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 119 của Luật này. Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.

3. Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương III

THỦ TỤC XỬ PHẠT, THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT

Mục 1. THỦ TỤC XỬ PHẠT

Điều 55. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính

Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được người có thẩm quyền đang thi hành công vụ áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành vi vi phạm. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản[67]

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức;

b) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này.

2. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, thì phải lập biên bản.

3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.

Điều 57. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

1. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại[68] khoản 1 Điều 56 của Luật này.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục.

Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính[69]

1.[70] Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.

Vi phạm hành chính xảy ra trên biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu hỏa, thì người có thẩm quyền hoặc chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga.

2. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

3. Biên bản vi phạm hành chính có nội dung chủ yếu sau đây:

a) Thời gian, địa điểm lập biên bản;

b)[71] Thông tin về người lập biên bản, cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trường hợp không xác định được chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, thì ghi không xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm;

c) Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm; mô tả vụ việc, hành vi vi phạm;

d) Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại;

đ) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính;

e) Quyền và thời hạn giải trình.

4. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký, trừ trường hợp biên bản được lập theo quy định tại khoản 7 Điều này.

Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít nhất 01 người chứng kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào biên bản; trường hợp không có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc của người chứng kiến thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

5.[72] Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển kịp thời cho người có thẩm quyền xử phạt, trừ trường hợp vi phạm hành chính xảy ra trên biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu hỏa.

6. Trường hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này thì phải tiến hành xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này để làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính được lập thành biên bản xác minh. Biên bản xác minh là tài liệu gắn liền với biên bản vi phạm hành chính và được lưu trong hồ sơ xử phạt.

7. Biên bản vi phạm hành chính có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử đối với trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.

8. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập đúng nội dung, hình thức, thủ tục theo quy định của Luật này và là căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 63 của Luật này và trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác.

9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 59. Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính

1. Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc[73] người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây:

a) Có hay không có vi phạm hành chính;

b) Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm hành chính;

c) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

d) Tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra;

đ) Trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này;

e) Tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt.

Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.

2. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.

3.[74] Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này tự mình hoặc phân công, phối hợp thực hiện xác minh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả xác minh.

Điều 60. Xác định giá trị tang vật, phương tiện[75] vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt

1. Trong trường hợp cần xác định giá trị tang vật, phương tiện[76] vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện[77] và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó.

2. Tùy theo loại tang vật, phương tiện[78] cụ thể, việc xác định giá trị dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu;

b) Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính;

c) Giá thành của tang vật, phương tiện[79] nếu là hàng hóa chưa xuất bán;

d) Đối với tang vật, phương tiện[80] là hàng giả thì giá của tang vật, phương tiện[81] đó là giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm nơi phát hiện vi phạm hành chính.

3.[82] Trường hợp không thể áp dụng quy định tại khoản 2 Điều này làm căn cứ xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên.

Thời hạn tạm giữ để xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm giữ. Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả.

4. Căn cứ để xác định giá trị và các tài liệu liên quan đến việc xác định giá trị tang vật, phương tiện[83] vi phạm hành chính phải thể hiện trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 61. Giải trình[84]

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình.

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Việc gia hạn của người có thẩm quyền xử phạt phải bằng văn bản.

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý, tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều trang thì các bên phải ký vào từng trang biên bản. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

4. Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không yêu cầu giải trình nhưng trước khi hết thời hạn quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này lại có yêu cầu giải trình thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 62. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

1.[85] Trong quá trình xem xét, xử lý vụ vi phạm, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.

Việc chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 05 ngày làm việc[86], kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[87] hình sự; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[88] hình sự.

3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[89] hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc[90], kể từ ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực[91], cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[92] phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.

Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[93] hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[94] hình sự.

4. Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức[95] vi phạm.

Điều 63. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính

1.[96] Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Trường hợp không có thẩm quyền xử phạt, thì phải chuyển quyết định kèm theo hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện vi phạm liên quan đến hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc, trừ trường hợp tang vật, phương tiện là vật chứng và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

2.[97] Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm tình tiết để có căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.

Điều 64. Phát hiện vi phạm hành chính bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ[98]

1. Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức được giao quản lý phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống ma túy, phòng, chống tác hại của rượu, bia, tần số vô tuyến điện[99] và lĩnh vực khác do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Việc quản lý, sử dụng và quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu, điều kiện sau đây:

a) Tôn trọng quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức;

b) Tuân thủ đúng quy trình, quy tắc về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ;

c) Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản và chỉ được sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính;

d) Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đã được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phải được duy trì trong suốt quá trình sử dụng và giữa hai kỳ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm.

3. Việc sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu, điều kiện sau đây:

a) Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ là bản ảnh, hình ảnh, phiếu in, chỉ số đo, dữ liệu lưu trong bộ nhớ của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của Luật này;

b) Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chỉ được sử dụng để xử phạt vi phạm hành chính khi bảo đảm các yêu cầu, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Khi có kết quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải nhanh chóng xác định tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính và thông báo bằng văn bản đến tổ chức, cá nhân vi phạm.

Trường hợp xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm, người có thẩm quyền phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 58 của Luật này và kết quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được lưu theo biên bản vi phạm hành chính;

d) Kết quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được bảo quản chặt chẽ, lưu vào hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và các biện pháp nghiệp vụ khác nhằm xác định thông tin, dữ liệu được thu thập từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.

5. Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng, đối tượng được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính và việc sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp.

Điều 65. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật này;

b) Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;

c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này;

d) Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt;

đ) Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

2.[100] Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

Quyết định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện.

Việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản này không bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 66. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính[101]

1. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a) Đối với vụ việc không thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này, thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này;

b) Đối với vụ việc mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan quy định tại Điều 59 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;

c) Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức liên quan nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 67. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Trường hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà bị xử phạt trong cùng một lần thì chỉ ra 01 quyết định xử phạt, trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính.

2. Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức.

3. Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm của từng cá nhân, tổ chức.

4. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác.

Điều 68. Nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải bao gồm các nội dung chính sau đây:

a) Địa danh, ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định;

c) Biên bản vi phạm hành chính, kết quả xác minh, văn bản giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc biên bản họp giải trình và tài liệu khác (nếu có);

d) Họ, tên, chức vụ của người ra quyết định;

đ) Họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ và họ tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật[102] của tổ chức vi phạm;

e) Hành vi vi phạm hành chính; tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

g) Điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;

h) Hình thức xử phạt chính; hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có);

i) Quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

k) Hiệu lực của quyết định, thời hạn và nơi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nơi nộp tiền phạt;

l) Họ tên, chữ ký của người ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

m) Trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và việc cưỡng chế trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành.

2. Thời hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

3. Trường hợp ban hành một quyết định xử phạt vi phạm hành chính chung đối với nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hoặc nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức phải xác định cụ thể, rõ ràng.

Mục 2. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 69. Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản

1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt 01 bản. Trường hợp người chưa thành niên bị xử phạt cảnh cáo thì quyết định xử phạt còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.

2. Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt và phải nộp tiền phạt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thu tiền phạt.

Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không có khả năng nộp tiền phạt tại chỗ thì nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định xử phạt trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.

Điều 70. Gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành[103]

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt, cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành.

2. Việc gửi quyết định xử phạt có thể thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt;

b) Gửi qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo đảm;

c) Gửi bằng phương thức điện tử;

d) Trường hợp không thể thực hiện được các hình thức quy định tại các điểm a, b và c khoản này, thì niêm yết công khai quyết định xử phạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt hoặc gửi quyết định xử phạt đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt để thực hiện niêm yết.

3. Việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 71. Chuyển quyết định xử phạt để tổ chức thi hành

1.[104] Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không có điều kiện chấp hành quyết định xử phạt tại nơi cơ quan của người ra quyết định xử phạt đóng trụ sở, thì quyết định được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở để tổ chức thi hành; nếu nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở không có cơ quan cùng cấp thì quyết định xử phạt được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức thi hành.

2.[105] (được bãi bỏ)

3.[106] Cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm chuyển toàn bộ bản gốc hồ sơ, giấy tờ liên quan đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi hành theo quy định của Luật này. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu (nếu có) được chuyển đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi hành, trừ trường hợp tang vật là động vật, thực vật sống, hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, khó bảo quản theo quy định của pháp luật và một số loại tài sản khác do Chính phủ quy định.

Cá nhân, tổ chức vi phạm phải trả chi phí chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Điều 72. Công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

1. Trường hợp vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt.

2. Nội dung công bố công khai bao gồm cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.

3. Việc công bố công khai được thực hiện trên trang thông tin điện tử hoặc báo của cơ quan quản lý cấp bộ, cấp sở hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vi phạm hành chính.

Điều 73. Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này. Việc khiếu nại, khởi kiện được giải quyết theo quy định của pháp luật.

2. Người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt và thông báo kết quả thi hành xong quyết định cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, cơ quan tư pháp địa phương.

Điều 74. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1.[107] Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

2. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Điều 75. Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản

Trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản thì không thi hành quyết định phạt tiền nhưng vẫn thi hành hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 76. Hoãn thi hành quyết định phạt tiền[108]

1. Việc hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Cá nhân bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, tổ chức bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên;

b) Cá nhân đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; tổ chức đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh.

Trường hợp cá nhân gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp cá nhân gặp khó khăn về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[109] trở lên.

Trường hợp tổ chức đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

2. Cá nhân, tổ chức phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính kèm theo văn bản xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này gửi người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định hoãn thi hành quyết định xử phạt đó.

Thời hạn hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng, kể từ ngày có quyết định hoãn.

3. Cá nhân, tổ chức được hoãn chấp hành quyết định xử phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.

Điều 77. Giảm, miễn tiền phạt[110]

1. Việc giảm một phần tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này được quy định như sau:

a) Cá nhân tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;

b) Tổ chức tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

2. Cá nhân được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt do không có khả năng thi hành quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;

b) Đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này nhưng gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[111] trở lên.

3. Tổ chức được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:

a) Đã được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này;

b) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt;

c) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

4. Cá nhân không có khả năng thi hành quyết định được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;

b) Bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[112] trở lên.

5. Tổ chức được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:

a) Đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này;

b) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt;

c) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

6. Cá nhân, tổ chức phải có đơn đề nghị giảm, miễn tiền phạt kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này gửi người đã ra quyết định xử phạt. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định việc giảm, miễn và thông báo cho người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.

7. Cá nhân, tổ chức được giảm, miễn tiền phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.

Điều 78. Thủ tục nộp tiền phạt

1.[113] Trong thời hạn thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 68 hoặc khoản 2 Điều 79 của Luật này, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt theo quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp.

2. Tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi mà việc đi lại gặp khó khăn thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu tiền phạt tại chỗ và nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn không quá 07 ngày, kể từ ngày thu tiền phạt.

Trường hợp xử phạt trên biển hoặc ngoài giờ hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được thu tiền phạt trực tiếp và phải nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày vào đến bờ hoặc ngày thu tiền phạt.

3. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính bị phạt tiền phải nộp tiền phạt một lần, trừ trường hợp quy định tại Điều 79 của Luật này.

Mọi trường hợp thu tiền phạt, người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 79. Nộp tiền phạt nhiều lần

1.[114] Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 150.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức;

b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế. Đơn đề nghị của tổ chức phải được Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế.

2. Thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 06 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần.

Mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.

3. Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản.

Điều 80. Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

1. Trường hợp tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn được ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt thu giữ, bảo quản giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết. Khi hết thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho cá nhân, tổ chức đã bị tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó.

2. Trường hợp đình chỉ hoạt động có thời hạn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải đình chỉ ngay một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được ghi trong quyết định xử phạt.

3. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không được tiến hành các hoạt động ghi trong quyết định xử phạt.

4. Đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có khả năng thực tế gây hậu quả tới tính mạng, sức khỏe con người, môi trường thì người có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản việc tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn cho các cơ quan có liên quan.

5.[115] Trường hợp phát hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tạm giữ và ra quyết định thu hồi ngay theo thẩm quyền; trường hợp không thuộc thẩm quyền thu hồi thì tạm giữ và trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện, phải chuyển giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp để xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo cho cá nhân, tổ chức vi phạm biết.

Điều 81. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hóa, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản.

Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương tiện có thay đổi so với thời điểm ra quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản về những thay đổi này; biên bản phải có chữ ký của người lập biên bản, người có trách nhiệm tạm giữ và người chứng kiến.

2. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu phải được quản lý và bảo quản theo quy định của Chính phủ.

3.[116] Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã có quyết định tịch thu được xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Điều 82.[117] (được bãi bỏ)

Điều 83. Quản lý tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, chứng từ thu, nộp tiền phạt

1. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính gồm tiền nộp phạt vi phạm hành chính; tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền; tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác.

2. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Chứng từ thu, nộp tiền phạt được quản lý theo quy định của Chính phủ.

Điều 84. Thủ tục trục xuất

1. Quyết định trục xuất phải được thông báo trước khi thi hành cho Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú trước khi đến Việt Nam.

2. Cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định trục xuất, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại Chương I Phần thứ tư của Luật này.

Điều 85. Thi hành biện pháp khắc phục hậu quả

1. Thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả được thực hiện theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 28 của Luật này.

2. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có trách nhiệm thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định theo quy định của pháp luật và phải chịu mọi chi phí cho việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đó.

3. Người có thẩm quyền ra quyết định có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.

4. Trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này hoặc cá nhân chết, mất tích hoặc tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 75 của Luật này thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính phải tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Chi phí cho việc tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định thực hiện được lấy từ nguồn ngân sách dự phòng cấp cho cơ quan đó.

5. Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn trả thì bị cưỡng chế thực hiện.

Mục 3. CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1.[118] Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này;

b) Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 85 của Luật này.

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 87. Thẩm quyền quyết định cưỡng chế[119]

1. Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:

a) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, i, k, l, m và n khoản 1 Điều 37a của Luật này và Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình hoặc của cấp dưới ban hành.

Thẩm quyền cưỡng chế đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn kiểm toán được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

b) Người có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để tổ chức thi hành ra quyết định cưỡng chế hoặc báo cáo cấp trên của mình ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.

Điều 88. Thi hành quyết định cưỡng chế

1.[120] Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người ra quyết định phải gửi quyết định cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, cơ quan, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế và cá nhân, tổ chức có liên quan.

Người ra quyết định cưỡng chế tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới.

Việc gửi quyết định cưỡng chế cho các cá nhân, tổ chức liên quan được thực hiện theo quy định tại Điều 70 của Luật này.

Quyết định cưỡng chế phải được thi hành ngay khi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế nhận được quyết định cưỡng chế.

2. Cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế.

2a.[121] Thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế được tính kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế cho đến thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này; quá thời hạn này thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó, trừ trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đó.

3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế:

a) Cá nhân, tổ chức liên quan có nghĩa vụ phối hợp với người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế triển khai các biện pháp nhằm thực hiện các quyết định cưỡng chế;

b) Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu;

c)[122] Tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế thi hành mở tài khoản có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của người có thẩm quyền cưỡng chế; tiến hành phong tỏa số tiền trong tài khoản tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp hoặc phong tỏa toàn bộ số tiền trong tài khoản trong trường hợp số dư trong tài khoản tiền gửi ít hơn số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp; thực hiện việc trích chuyển số tiền phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi trích chuyển, tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển; việc trích chuyển không cần sự đồng ý của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế.

Chính phủ quy định chi tiết điểm này.

Phần thứ ba

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Chương I

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 89. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[123]

1. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu[124] là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[125] từ 03 tháng đến 06 tháng.

Điều 90. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[126]

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.

4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép nhưng không phải là tội phạm.

5.[127] (được bãi bỏ)

6. Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.

7.[128] Người quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu.

Điều 91. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1. Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.

Điều 92. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[129]

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 90 của Luật này và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[130].

4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[131].

5. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[132] trở lên;

c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Điều 93. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

1. Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật này để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng.

Điều 94. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

1.[133] Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc bao gồm:

a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và không có nơi cư trú ổn định;

b) Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[134].

2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Người chưa đủ 18 tuổi;

c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;

d) Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[135] trở lên[136];

đ) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Điều 95. Biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc[137]

Đưa đi cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Luật Phòng, chống ma túy để cai nghiện ma túy, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện ma túy công lập.

Điều 96.[138] (được bãi bỏ)

Chương II

THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 97. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[139]

1. Trưởng Công an cấp xã nơi người vi phạm thuộc đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này cư trú hoặc nơi họ có hành vi vi phạm pháp luật tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[140].

2. Trong trường hợp người vi phạm do cơ quan[141] Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[142] đối với người đó.

3. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó, bệnh án (nếu có), bản tường trình của người vi phạm và các tài liệu khác có liên quan.

Đối với người chưa thành niên bị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[143] thì hồ sơ phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ.

4.[144] Cơ quan lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ; đối với người chưa thành niên thì còn phải thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều 98. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[145]

1.[146] Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ theo quy định tại khoản 4 Điều 97 của Luật này, cơ quan lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 97 của Luật này gửi hồ sơ cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức và chủ trì cuộc họp tư vấn với sự tham gia của Trưởng Công an cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[147], người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên phải được mời tham gia cuộc họp và phát biểu ý kiến của mình về việc áp dụng biện pháp.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc[148], kể từ ngày kết thúc cuộc họp tư vấn quy định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[149]. Tùy từng đối tượng mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao người được giáo dục cho cơ quan, tổ chức, gia đình quản lý, giáo dục; nếu đối tượng không có nơi cư trú ổn định thì giao cho cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục.

3. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[150] phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được giáo dục; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn áp dụng; ngày thi hành quyết định; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình được giao giáo dục, quản lý người được giáo dục; quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[151] có hiệu lực kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người được giáo dục, gia đình người đó, Hội đồng nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

5. Hồ sơ về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[152] phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 99. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[153]

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng quy định tại Điều 92 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người vi phạm; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ, ý kiến của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi đang học tập hoặc làm việc (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan;

b) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; kết quả xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ.

2. Trường hợp hồ sơ do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý vụ vi phạm pháp luật, nhưng người vi phạm dưới 18 tuổi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 92 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó.

Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ.

3. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh và Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều 100. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[154]

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 99 của Luật này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại Điều 99 của Luật này;

b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

3. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 101. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[155]

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ; các tài liệu khác có liên quan;

b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Trưởng Công an cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; kết quả xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

2.[156] (được bãi bỏ)

3. Trường hợp người vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

4. Cơ quan, đơn vị[157] thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 3 Điều này và Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều 102. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[158]

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 4 Điều 101 của Luật này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm có:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 101[159] của Luật này;

b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

3. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 103.[160] (được bãi bỏ)

Điều 104.[161] (được bãi bỏ)

Chương III

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 105. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[162].

2. Tòa án nhân dân khu vực[163] có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[164].

Điều 106. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[165].

Chương IV

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 107. Gửi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để thi hành[166]

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người bị áp dụng, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính[167], Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu quan để thi hành theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Điều 108. Thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

1. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[168] và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau 06 tháng, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[169] hết thời hiệu thi hành sau 01 năm, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

3. Trong trường hợp người phải chấp hành quyết định cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.

Điều 109. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[170]

1. Sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[171], cơ quan, tổ chức được giao giáo dục, quản lý có trách nhiệm:

a) Tổ chức việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[172] đối với người được giáo dục;

b) Phân công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục;

c) Ghi sổ theo dõi và định kỳ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[173];

d) Giúp đỡ, động viên người được giáo dục, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm.

2. Người được phân công giúp đỡ phải có kế hoạch quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục và được hưởng khoản kinh phí hỗ trợ cho việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ theo quy định của pháp luật.

3. Người được giáo dục phải cam kết bằng văn bản về việc chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[174].

4. Gia đình có người được giáo dục có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với người được phân công giúp đỡ trong việc quản lý, giáo dục người được giáo dục.

Điều 110. Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[175]

1.[176] Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[177], cơ quan Công an lập đề nghị đưa người phải chấp hành quyết định vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[178].

2. Thời hạn chấp hành quyết định được tính từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[179].

3. Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[180].

Điều 111. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[181]

1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[182] được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

a) Đang ốm nặng có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[183] trở lên[184];

b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[185] được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên[186];

b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;

c) Đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên[187].

3. Tòa án nhân dân[188] nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[189] xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.

Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi cho cơ quan thi hành quyết định, người phải chấp hành quyết định; trường hợp người chưa thành niên được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thì quyết định được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Điều 112. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[190]

1. Người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

2. Trong trường hợp người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[191] bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

3. Tòa án nhân dân khu vực[192] nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[193] quyết định việc giảm thời hạn tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[194].

Quyết định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[195] được gửi cho Tòa án nhân dân nơi ra quyết định, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[196], người được tạm đình chỉ hoặc miễn và gia đình người đó.

4. Đối tượng ốm nặng, mắc bệnh hiểm nghèo mà không xác định được nơi cư trú thuộc trường hợp được tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại quy định tại khoản 2 Điều này thì được đưa về cơ sở y tế tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[197] đóng trụ sở để điều trị.

Điều 113. Quản lý người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[198]

1. Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[199] có trách nhiệm trình diện với Ủy ban nhân dân cấp xã[200] nơi họ cư trú.

2.[201] Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà người đó tiếp tục có hành vi vi phạm đã bị xử lý hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

3. Quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[202] được gửi cho cơ quan Công an[203] nơi Tòa án đã ra quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, cơ quan Công an phải tổ chức áp giải đối tượng.

Điều 114. Hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[204] thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó.

2. Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[205] thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[206] cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án nhân dân[207] nơi đã ra quyết định, cơ quan quản lý trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[208], Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

3. Đối tượng không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên hoặc người ốm yếu không còn khả năng lao động thì sau khi hết hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[209] được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[210] đóng trụ sở.

Chương V

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 115. Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[211] ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

1. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy công lập[212] quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành biện pháp đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó.

2. Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.

Điều 116. Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.

2. Đối với trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải hủy quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày hủy quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.

Trường hợp bị Tòa án xử phạt tù thì thời hạn đối tượng đã chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[213] được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[214] được tính bằng 01 ngày chấp hành hình phạt tù.

Điều 117. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính

Trường hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[215] hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[216] phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Tòa án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 118.[217] (được bãi bỏ)

Phần thứ tư

CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 119. Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính:

1. Tạm giữ người;

2. Áp giải người vi phạm;

3. Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

4. Khám người;

5. Khám phương tiện vận tải, đồ vật;

6. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

7. Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;

8. Giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

9. Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[218] trong trường hợp bỏ trốn.

Điều 120. Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

1. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại các điều từ 120 đến 132 của Luật này, nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp cần thiết theo quy định tại Chương II của Phần này.

3. Người ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.

4. Việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 121. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

1. Trường hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính không còn phù hợp với mục đích và điều kiện áp dụng theo quy định của Luật này thì quyết định áp dụng biện pháp đó phải được hủy bỏ.

2. Người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác.

Chương II

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 122. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính

1.[219] Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;

b) Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

c) Để thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[220];

d) Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

đ) Để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

3.[221] Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành chính ở khu vực biên giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.

Đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Đối với người bị tạm giữ trên tàu bay, tàu biển thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay, tàu biển cập cảng.

4. Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 06 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết.

5.[222] Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính. Trường hợp không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại phòng trực ban hoặc phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy định chung.

Cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm pháp luật mà thường xuyên phải tạm giữ người vi phạm hành chính cần bố trí, thiết kế, xây dựng nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính riêng, trong đó cần có nơi tạm giữ riêng cho người chưa thành niên, phụ nữ hoặc người nước ngoài và phải có cán bộ chuyên trách quản lý, bảo vệ.

Đối với trường hợp tạm giữ người quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì nơi tạm giữ là khu lưu giữ tạm thời tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập[223] của tỉnh, thành phố[224] hoặc nhà tạm giữ, buồng tạm giữ hành chính.

Đối với tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga thì tùy theo điều kiện và đối tượng vi phạm cụ thể, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu quyết định nơi tạm giữ và phân công người thực hiện việc tạm giữ.

6. Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.

7. Chính phủ quy định việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

Điều 123. Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính[225]

1.[226] Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này, thì những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sau đây có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;

b) Trưởng Công an cấp xã; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Công an cấp tỉnh hoặc chức danh tương đương thuộc lực lượng Công an nhân dân;

c) Đồn trưởng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Biên phòng cửa khẩu cảng, Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng, Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm Phòng, chống ma túy và tội phạm, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng;

d) Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng, Tư lệnh Vùng, Đoàn trưởng thuộc lực lượng Cảnh sát biển;

đ) Hạt trưởng, Đội trưởng, Chi cục trưởng, Trạm trưởng thuộc cơ quan, đơn vị quản lý về lâm nghiệp, kiểm lâm, thủy sản, kiểm ngư;

e) Đội trưởng Hải quan cửa khẩu; Đội trưởng Hải quan ngoài cửa khẩu; Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu vực; Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu thuộc Chi cục Điều tra chống buôn lậu;

g) Đội trưởng Đội quản lý thị trường thuộc Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương; Trưởng phòng nghiệp vụ quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước;

h) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

2. Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi vắng mặt. Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.

Điều 124. Áp giải người vi phạm

1. Người vi phạm không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền thì bị áp giải trong các trường hợp sau đây:

a) Bị tạm giữ người theo thủ tục hành chính;

b)[227] Đưa vào hoặc đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[228] đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 111, khoản 2 Điều 112 không tự giác chấp hành khi điều kiện hoãn, tạm đình chỉ không còn và đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 132 của Luật này;

c)[229] Bị yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.

2. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc áp giải người vi phạm.

Điều 125. Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:

a)[230] Để xác định vi phạm hành chính hoặc để làm rõ các tình tiết trong vụ việc vi phạm mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính hoặc ra quyết định xử phạt, bao gồm cả trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 60 của Luật này;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c)[231] Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều này.

2. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này phải được chấm dứt ngay sau khi xác minh được tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt, hành vi vi phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội hoặc quyết định xử phạt được thi hành.

Trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này, sau khi nộp tiền phạt lần đầu thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ.

3.[232] Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Thẩm quyền tạm giữ không phụ thuộc vào giá trị của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

4.[233] Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và được thực hiện như sau:

a) Người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản 9 Điều này;

b) Trường hợp người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính thực hiện tạm giữ cùng thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính thì không phải lập biên bản tạm giữ. Biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp này phải thể hiện rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ;

c) Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo người có thẩm quyền tạm giữ về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã tạm giữ để xem xét ra quyết định tạm giữ; quyết định tạm giữ phải được giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản;

d) Trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì phải trả lại ngay tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

đ) Đối với trường hợp tang vật là hàng hóa dễ hư hỏng thì người tạm giữ phải báo cáo ngay thủ trưởng trực tiếp để xử lý, nếu để hư hỏng hoặc thất thoát thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

5.[234] Người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị mất, bán trái quy định, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

5a.[235] Khi thực hiện việc tạm giữ, người lập biên bản, người có thẩm quyền tạm giữ phải niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, trừ các trường hợp sau đây:

a) Động vật, thực vật sống;

b) Hàng hóa, vật phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản theo quy định của pháp luật.

c)[236] Hàng siêu trường, siêu trọng theo quy định của pháp luật;

d)[237] Hàng hóa khác không thể niêm phong theo quy định của pháp luật.

5b.[238] Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình người vi phạm, đại diện tổ chức hoặc đại diện chính quyền cấp xã hoặc ít nhất 01 người chứng kiến.

5c.[239] Biên bản, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử.

6. Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này.

7. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì có thể bị tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt. Việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian chờ ra quyết định không làm ảnh hưởng quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức đó.

8.[240] Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ; trường hợp vụ việc phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.

Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 66 của Luật này nhưng không quá 01 tháng, kể từ ngày tạm giữ. Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 66 của Luật này thì thời hạn tạm giữ có thể được tiếp tục kéo dài nhưng không quá 02 tháng, kể từ ngày tạm giữ.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này. Trường hợp tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ kết thúc khi quyết định xử phạt được thi hành xong.

Người có thẩm quyền tạm giữ phải ra quyết định tạm giữ, kéo dài thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

9.[241] Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ và phải có chữ ký của người thực hiện việc tạm giữ, người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm; trường hợp không có chữ ký của người vi phạm thì phải có chữ ký của ít nhất 01 người chứng kiến. Biên bản phải được lập thành 02 bản, giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản.

10.[242] Đối với phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

11.[243] Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 126. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

1.[244] Người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo biện pháp ghi trong quyết định xử phạt hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức xử phạt tịch thu đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp; cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp có lỗi cố ý trong việc để người vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này thì tang vật, phương tiện đó bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với tang vật, phương tiện thuộc trường hợp bị tịch thu nhưng đã đăng ký biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự thì bên nhận thế chấp được nhận lại tang vật, phương tiện hoặc trị giá tương ứng với nghĩa vụ được bảo đảm; cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước.

Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi chấm dứt việc tạm giữ theo quy định và không thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu, người ra quyết định tạm giữ trả lại tang vật, phương tiện theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.

2. Đối với tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo khoản 6 Điều 125 của Luật này phải được trả ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt.

3. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải tổ chức bán ngay theo giá thị trường và việc bán phải được lập thành biên bản. Tiền thu được phải gửi vào tài khoản tạm giữ[245] mở tại Kho bạc Nhà nước. Nếu sau đó theo quyết định của người có thẩm quyền, tang vật đó bị tịch thu thì tiền thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước; trường hợp tang vật đó không bị tịch thu thì tiền thu được phải trả cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp.

4.[246] Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì được xử lý như sau:

a) Trường hợp xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho họ 02 lần. Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

b) Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

c)[247] Sau thời gian thông báo lần thứ hai quy định tại điểm b khoản này, người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ: xử lý theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 125 của Luật này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có khả năng bị hư hỏng, suy giảm chất lượng trong quá trình quản lý, bảo quản; xử lý theo quy định tại khoản 5 Điều này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có nguy cơ gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng trong quá trình quản lý, bảo quản.

Tiền thu được từ việc bán tang vật, phương tiện phải gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước. Nếu hết thời hạn quy định tại điểm b khoản này mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp tang vật, phương tiện không đến nhận thì nộp tiền thu được vào ngân sách nhà nước.

Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

4a.[248] Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết định xử phạt thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt để quyết định việc kê biên, bán đấu giá theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.

4b.[249] Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển cho cơ quan đã cấp các loại giấy tờ đó để tiến hành việc thu hồi theo quy định của pháp luật và thông báo cho người vi phạm biết.

5. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm độc hại thì phải tiến hành tiêu hủy theo quy định tại Điều 33 của Luật này.

6.[250] Đối với các chất ma túy và những vật thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của Luật này.

7. Người có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ chỉ phải trả chi phí lưu kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện và các khoản chi phí khác trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại khoản 8 Điều 125 của Luật này.

Không thu phí lưu kho, phí bến bãi và phí bảo quản trong thời gian tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ nếu chủ tang vật, phương tiện không có lỗi trong việc vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp tịch thu đối với tang vật, phương tiện.

Chính phủ quy định chi tiết về mức phí tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại Điều 125 của Luật này.

Điều 127. Khám người theo thủ tục hành chính

1. Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính.

Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người.

3. Việc khám người phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều này.

4. Trước khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết. Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến.

5. Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản. Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám 01 bản.

Điều 128. Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính

1. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính.

3. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người quy định tại khoản 2 Điều này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức thuế, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên đang thi hành công vụ được khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và phải báo cáo ngay cho thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu trách nhiệm về việc khám.

4. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

Khi tiến hành khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải và 01 người chứng kiến; trong trường hợp chủ phương tiện, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vắng mặt thì phải có ít nhất 01 người chứng kiến[251].

5. Mọi trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản. Quyết định khám và biên bản phải giao cho chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải 01 bản.

Điều 129. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở thì đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân[252] xem xét, quyết định.

3. Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và ít nhất 01 người chứng kiến[253].

4. Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực hiện mà chưa kết thúc nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

5. Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản. Quyết định và biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được giao cho người chủ nơi bị khám 01 bản.

Điều 130. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

1. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất được áp dụng khi có căn cứ cho rằng nếu không áp dụng biện pháp này thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất hoặc để ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

2. Thủ trưởng Cơ quan quản lý xuất cảnh, nhập cảnh hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ đề nghị trục xuất ra quyết định quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục xuất bằng các biện pháp sau:

a) Hạn chế việc đi lại của người bị quản lý;

b) Chỉ định chỗ ở của người bị quản lý;

c) Tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 131. Quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính[254]

1. Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[255] có nơi cư trú ổn định, cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định giao cho gia đình quản lý đối tượng trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

2.[256] Đối với người không có nơi cư trú ổn định hoặc có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý, việc quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc được cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ giao cho cơ quan Công an cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc cư trú hoặc có hành vi vi phạm tổ chức quản lý.

3.[257] Thời hạn quản lý được tính từ khi lập hồ sơ cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án.

Thời gian quản lý tại trung tâm, cơ sở đối với đối tượng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được trừ vào thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định giao cho gia đình hoặc cơ quan, tổ chức quản lý phải ghi rõ: ngày, tháng, năm quyết định; họ, tên, chức vụ của người quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được giao quản lý hoặc tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức được giao quản lý; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được quản lý; lý do, thời hạn, trách nhiệm của người được quản lý, trách nhiệm của người hoặc cơ quan, tổ chức quản lý và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú; chữ ký của người quyết định giao quản lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận quản lý, người được quản lý để thực hiện.

5. Trong thời gian quản lý, gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý có trách nhiệm sau đây:

a) Không để người được quản lý tiếp tục vi phạm pháp luật;

b) Bảo đảm sự có mặt của người được quản lý khi có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[258];

c) Báo cáo kịp thời với cơ quan, người có thẩm quyền đã ra quyết định giao quản lý trong trường hợp người được quản lý bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.

6. Trong thời gian quản lý, người được quản lý có trách nhiệm sau đây:

a) Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về tạm trú, tạm vắng. Khi đi ra khỏi địa bàn xã, phường, đặc khu[259] để ở lại địa phương khác phải thông báo cho gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý biết về địa chỉ, thời gian tạm trú tại đó;

b) Có mặt kịp thời tại trụ sở của cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ khi có yêu cầu.

7. Trong thời gian quản lý, cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định quản lý có trách nhiệm sau đây:

a) Thông báo cho gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý và người được quản lý về quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian quản lý;

b) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý trong việc quản lý, giám sát người được quản lý;

c) Khi được thông báo về việc người được quản lý bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền đã ra quyết định giao quản lý phải kịp thời có biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 132. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[260] trong trường hợp bỏ trốn

1. Trong trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[261] bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ quan Công an[262] nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng.

2. Trong trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[263] bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[264] ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[265] trong việc truy tìm đối tượng để đưa người đó trở lại trường hoặc cơ sở.

3.[266] Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, cơ quan Công an cấp xã nơi lập hồ sơ[267] đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[268] xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 2 Điều này đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[269] nơi có trường giáo dưỡng xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

4. Thời gian bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[270].

Phần thứ năm

NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 133. Phạm vi áp dụng

Việc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của Phần thứ năm và các quy định khác có liên quan của Luật này.

Điều 134. Nguyên tắc xử lý

Ngoài những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 3 của Luật này, việc xử lý đối với người chưa thành niên còn được áp dụng các nguyên tắc sau đây:

1. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn;

2. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp;

3.[271] Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính.

Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền.

Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; bị buộc phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này thì số tiền nộp vào ngân sách nhà nước bằng 1/2 trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;

4. Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ;

5. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện quy định tại Chương II của Phần này. Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.

Điều 135. Áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

1. Các hình thức xử phạt áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

2. Các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

c) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

d) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật.

Điều 136. Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[272] được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương I Phần thứ ba của Luật này. Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[273] phải được cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý, trường hợp không có nơi cư trú ổn định thì phải ở tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em; được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.

2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương II Phần thứ ba của Luật này.

Điều 137. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.

2. Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Chương II

CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 138. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính

Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên bao gồm:

1. Nhắc nhở;

2. Quản lý tại gia đình;

3.[274] Giáo dục dựa vào cộng đồng.

Điều 139. Nhắc nhở

1. Nhắc nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính để chỉ ra những vi phạm do người chưa thành niên thực hiện, được thực hiện đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau:

a) Vi phạm hành chính theo quy định bị phạt cảnh cáo;

b) Người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền xử phạt quyết định áp dụng biện pháp nhắc nhở.

Nhắc nhở được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ.

Điều 140. Quản lý tại gia đình

1.[275] Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 90 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình;

b) Có môi trường sống thuận lợi cho việc thực hiện biện pháp này;

c) Cha mẹ hoặc người giám hộ có đủ điều kiện thực hiện việc quản lý và tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý tại gia đình.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình từ 03 tháng đến 06 tháng.

4. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình có hiệu lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã ra quyết định phải gửi quyết định cho gia đình và phân công tổ chức, cá nhân nơi người đó cư trú để phối hợp, giám sát thực hiện.

Người chưa thành niên đang quản lý tại gia đình được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.

5. Trong thời gian quản lý tại gia đình, nếu người chưa thành niên tiếp tục vi phạm pháp luật thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp này và xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 140a. Giáo dục dựa vào cộng đồng[276]

1. Giáo dục dựa vào cộng đồng là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật này có nơi cư trú ổn định, đang theo học tại cơ sở giáo dục và cha mẹ, người giám hộ cam kết bằng văn bản về việc quản lý, giáo dục.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng từ 06 tháng đến 24 tháng.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng có hiệu lực, Tòa án nhân dân nơi đã ra quyết định phải gửi quyết định cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở bảo trợ xã hội để phối hợp, giám sát thực hiện.

Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.

Phần thứ sáu

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[277]

Điều 141. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

2. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013.

Điều 142.[278] (được bãi bỏ)

 


Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cục Kiểm tra VB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của QH);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

CHỦ NHIỆM




Lê Quang Mạnh

 



[1] Luật Hải quan số 54/2014/QH13 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Hải quan.”.

Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Thủy sản.”.

Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13 và Luật số 18/2017/QH14.”.

Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12.”.

Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Thanh tra.”.

Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 38/2019/QH14, Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 97/2015/QH13, Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15, Luật Dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo số 21/2017/QH14, Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15 và Luật số 11/2022/QH15.”.

Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15, Luật số 11/2022/QH15 và Luật số 56/2024/QH15.”.

Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng.”.

Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống ma túy.”.

[2] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[3] Cụm từ “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[4] Cụm từ “, biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[6] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[7] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[8] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[9] Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[10] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[11] Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[12] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[13] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[14] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[15] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[16] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[17] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[18] Cụm từ “06 tháng,” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[19] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[20] Cụm từ “06 tháng,” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[22] Cụm từ “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,” được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[23] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[24] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[25] Cụm từ “Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng” được thay thế bằng cụm từ “Nguyên tắc quy định các hình thức xử phạt” theo quy định tại điểm c khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[26] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[27] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[28] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[29] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[30] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[31] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[32] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[33] Cụm từ “kiểm toán độc lập;” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 của Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

[34] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[35] Cụm từ “an toàn thông tin mạng;” được bỏ theo quy định tại khoản 11 Điều 43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[36] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[37] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[38] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[39] Cụm từ “Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại Điều 82 của Luật này.” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[40] Từ “tháo dỡ” được thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[41] Từ “tháo dỡ” được thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[42] Từ “tháo dỡ” được thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[43] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[44] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[45] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[46] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[47] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[48] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[49] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[50] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[51] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[52] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[53] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[54] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[55] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[56] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[57] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[58] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[59] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[60] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[61] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[62] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[63] Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[64] Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[65] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[66] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[67] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[68] Cụm từ “đoạn 1” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[69] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[70] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[71] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[72] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[73] Cụm từ “người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc” được bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[74] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[75] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[76] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[77] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[78] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[79] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[80] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[81] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[82] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[83] Cụm từ “, phương tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[84] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[85] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[86] Cụm từ “03 ngày” được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[87] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[88] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[89] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[90] Cụm từ “03 ngày” được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[91] Cụm từ “kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình sự” được thay thế bằng cụm từ “kể từ ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực” theo quy định tại điểm đ khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[92] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[93] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[94] Cụm từ “cơ quan tiến hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[95] Cụm từ “, tổ chức” được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[96] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[97] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[98] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[99] Cụm từ “, tần số vô tuyến điện” được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.

[100] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[101] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[102] Cụm từ “và họ tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật” được bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[103] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[104] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[105] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[106] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[107] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[108] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[109] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[110] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 38 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[111] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[112] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[113] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[114] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 40 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[115] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[116] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[117] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[118] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[119] Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[120] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[121] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[122] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[123] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[124] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[125] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[126] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[127] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[128] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[129] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[130] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[131] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[132] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[133] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[134] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[135] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[136] Từ “bệnh viện” được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[137] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[138] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[139] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[140] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[141] Cụm từ “Công an cấp huyện hoặc” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[142] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[143] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[144] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[145] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[146] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 51 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[147] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[148] Cụm từ “03 ngày” được thay bằng cụm từ “02 ngày làm việc” theo quy định tại điểm h khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[149] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[150] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[151] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[152] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[153] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[154] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[155] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[156] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[157] Cụm từ “Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan, đơn vị” được thay thế bằng cụm từ “Cơ quan, đơn vị” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[158] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[159] Cụm từ “và Điều 118” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[160] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[161] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[162] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[163] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[164] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[165] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[166] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Cụm từ “và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[167] Cụm từ “hoặc cơ quan Công an cùng cấp trong trường hợp Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[168] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[169] Cụm từ “và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[170] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[171] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[172] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[173] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[174] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[175] Cụm từ “, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[176] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[177] Cụm từ “hoặc quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[178] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[179] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[180] Cụm từ “, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[181] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[182] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[183] Cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[184] Từ “bệnh viện” được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[185] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[186] Từ “bệnh viện” được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[187] Từ “bệnh viện” được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[188] Cụm từ “cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[189] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[190] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[191] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[192] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[193] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[194] Cụm từ “, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[195] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[196] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[197] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[198] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[199] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[200] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” được thay bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã” theo quy định tại điểm l khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[201] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[202] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[203] Cụm từ “cùng cấp” được bỏ theo quy định tại điểm e khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[204] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[205] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[206] Cụm từ “, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[207] Cụm từ “cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[208] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[209] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[210] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[211] Cụm từ “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[212] Cụm từ “Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy công lập” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[213] Cụm từ “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[214] Cụm từ “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[215] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[216] Cụm từ “, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[217] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[218] Cụm từ “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[219] Khoản này được sửa đổi lần 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật Hải quan số 54/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần 2 theo quy định tại điểm a khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[220] Cụm từ “cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[221] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[222] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[223] Cụm từ “cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở cai nghiện ma túy công lập” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[224] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[225] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[226] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[227] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[228] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[229] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[230] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[231] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[232] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[233] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm c khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[234] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[235] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[236] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[237] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[238] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[239] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[240] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[241] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[242] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[243] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[244] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm a khoản 26 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[245] Cụm từ “tạm gửi” được thay thế bằng cụm từ “tạm giữ” theo quy định tại điểm i khoản 28 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[246] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[247] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 26 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[248] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[249] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[250] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[251] Cụm từ “02 người chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định tại điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[252] Cụm từ “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân” theo quy định tại điểm k khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[253] Cụm từ “02 người chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định tại điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[254] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[255] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[256] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[257] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[258] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[259] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[260] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[261] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[262] Cụm từ “cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[263] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[264] Cụm từ “và Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[265] Cụm từ “, cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[266] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 67 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[267] Cụm từ “Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã nơi lập hồ sơ” theo quy định tại điểm m khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[268] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[269] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[270] Cụm từ “, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[271] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[272] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[273] Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[274] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[275] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 7 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[276] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 71 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

[277] Điều 103 của Luật Hải quan số 54/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định như sau:

“Điều 103. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.”.

Điều 104 và Điều 105 của Luật Thủy sản số 18/2017/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 quy định như sau:

“Điều 104. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

2. Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Điều 105. Quy định chuyển tiếp

1. Sửa đổi mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 như sau: mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thủy sản đối với cá nhân là 1.000.000.000 đồng.

2. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, chứng chỉ, văn bản chấp thuận trong lĩnh vực thủy sản đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thì được sử dụng cho đến khi hết thời hạn.

3. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật đã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ hoặc thay thế.”.

Điều 3 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 quy định như sau:

“Điều 3. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.”.

Điều 3 và Điều 4 của Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định như sau:

“Điều 3. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Quy định về đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Điều 4. Quy định chuyển tiếp

1. Giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện đã cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn được ghi trong giấy phép. Chứng chỉ vô tuyến điện viên đã cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2024 thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn được ghi trong chứng chỉ.

2. Tổ chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng tần để thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng trước ngày 06 tháng 9 năm 2023 thì được xem xét gia hạn theo quy định tại Điều 16 của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 và các điểm a, b, c khoản 1 Điều 22 của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 được sửa đổi, bổ sung theo khoản 9 Điều 1 của Luật này tối đa đến hết ngày 15 tháng 9 năm 2024 và không phải nộp tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện cho thời gian được gia hạn.

3. Tổ chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng tần để thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng trước ngày 16 tháng 9 năm 2024 thì không phải nộp tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện cho đến hết thời hạn được ghi trong giấy phép và không được gia hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo quy hoạch băng tần đối với các băng tần đã cấp cho tổ chức quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này trước ngày 01 tháng 8 năm 2023. Đối với khối băng tần được xem xét cấp lại mà sử dụng chung tần số vô tuyến điện theo giấy phép sử dụng băng tần đã cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được xem xét cấp lại theo hiện trạng sử dụng.

5. Việc đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên tiếp tục được thực hiện theo quy định của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2024.”.

Điều 117 và Điều 118 của Luật Thanh tra số 11/2022/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định như sau:

“Điều 117. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.

2. Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Điều 118. Quy định chuyển tiếp

Các cuộc thanh tra có quyết định thanh tra được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra số 56/2010/QH12.”.

Khoản 1 Điều 10 của Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:

“Điều 10. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.”.

Điều 2 và Điều 3 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:

“Điều 2. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật này.

3. Quy định tại Điều 8 của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội khóa XV quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Điều 3. Quy định chuyển tiếp

Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành:

1. Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính đã được phát hiện và đang trong quá trình xem xét, xử lý mà cơ quan, chức danh có thẩm quyền đang xử lý vụ việc kết thúc hoạt động, thì cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục xử lý vụ việc hoặc chuyển đến người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp vi phạm hành chính đã có quyết định xử phạt, thì việc tổ chức thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính sẽ do cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục thực hiện hoặc chuyển đến người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an cấp huyện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế hoặc nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành.”.

Điều 44 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:

“Điều 44. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

2. Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành”.

Điều 55 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:

“Điều 55. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

2. Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành”.

[278] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

THE OFFICE OF THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence-Freedom-Happiness
-----------------

No. 90/VBHN-VPQH

Hanoi, March 30, 2026

 

LAW

ON HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS

The Law on Handling of Administrative Violations No. 15/2012/QH13 dated June 20, 2012 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2013, is amended by:

1. The Law on Customs No. 54/2014/QH13 dated June 23, 2014 of the National Assembly, which comes into force from January 01, 2015;

2. The Law on Fisheries No. 18/2017/QH14 dated November 21, 2017 of the National Assembly, which comes into force from January 01, 2019;

3. The Law No. 67/2020/QH14 dated November 13, 2020 of the National Assembly providing amendments to the Law on Handling of Administrative Violations, which comes into force from January 01, 2022;

4. The Law No. 09/2022/QH15 dated November 09, 2022 of the National Assembly providing amendments to the Law on Radio Frequencies, which comes into force from July 01, 2023;

5. The Law on Inspection No. 11/2022/QH15 dated November 14, 2022 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2023;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



7. The Law No. 88/2025/QH15 dated June 25, 2025 of the National Assembly providing amendments to the Law on Handling of Administrative Violations, which comes into force from July 01, 2025;

8. The Cybersecurity Law No. 116/2025/QH15 dated December 10, 2025 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2026;

9. The Law on Prevention and Control of Narcotic Substances No. 120/2025/QH15 dated December 10, 2025 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2026.

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam in 1992, as amended by the Resolution No. 51/2001/QH10;

The National Assembly of Vietnam hereby promulgates the Law on Handling of Administrative Violations[1].

Part one

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law deals with imposition of administrative penalties and administrative handling measures.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For the purposes of this Law, these terms are construed as follows:

1. “Administrative violation” means a wrongful act committed by an organization or individual in violation of regulations of law on state management to an extent that does not constitute a criminal offence, and causes such organization or individual to incur administrative penalties as prescribed by law.

2. “Imposition of administrative penalties” means the imposition by a competent person of administrative penalties and remedial measures on an organization or individual committing any of the administrative violations according to regulations of law on handling of administrative violations.

3. “Administrative handling measure” means a measure imposed upon an individual who commits a violation against regulations of law on security, public order and social safety to an extent that does not constitute a criminal offence. Administrative handling measures include education at communes, wards or special zones[2]; placement in reform school; placement in compulsory educational institution; and compulsory drug rehabilitation[3].

4. “Alternative measures for handling administrative violations” means educational measures that are imposed in lieu of administrative penalties or administrative handling measures against minors committing administrative violations, including reprimand, community-based education[4] and family-based supervision.

5.[5] “Recidivism” means the act of repeating a violation by an individual or organization that has been subjected to a decision on imposition of administrative penalties before the end of the period after which they are treated as if they had not been subjected to such administrative penalties; or the act of repeating a violation by an individual who has been subjected to a decision on application of administrative handling measure before the end of the period after which they are treated as if they had not been subjected to such a measure.

6. “Repeated administrative violation” means a situation where an individual or organization commits an administrative violation which they have previously committed but have not yet been subjected to administrative penalties, while the prescriptive period for handling such a violation has not yet expired.

7. “Organized administrative violation” means a situation where an individual or organization cooperates with others in committing an administrative violation.

8. “License or practicing certificate” means a document issued by a competent authority or person to an individual or organization in accordance with regulations of law, enabling them to carry out business or other activities, practice a profession or use relevant instruments, vehicles or equipment. Licenses or practicing certificates do not include business registration certificates, or certificates pertaining to a person’s identity that are not intended for professional practice.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



10. “Organization” means a regulatory authority, political organization, political - social organization, political – social professional organization, social organization, professional social organization, economic organization, people’s armed force or another organization that is duly established in accordance with regulations of law.

11. “Urgent circumstance” means a circumstance in which there is no other way but to cause some lesser harm in order to avert a risk of greater harm to the interests of the State or an organization, or to the rights and legitimate interests of oneself or another person.

12. “Justifiable force in self-defense” means an act of using force which is reasonably necessary to defend against another person’s infringement upon the interests of the State or an organization, or the rights and legitimate interests of oneself or another person.

13. “Unexpected event” means an event that causes harm to society but the harmful consequences of which could not, or were not required to, be foreseen by the individual or organization concerned.

14. “Force majeure event” means an event that arises from objective causes, cannot be foreseen and remedied, even though all necessary and reasonable measures have been taken.

15. “Person lacking administrative liability capacity” means a person who commits an administrative violation while suffering from a mental disease or another disease which causes a loss of awareness or control of one's behaviors.

16.[6] (abrogated)

17. “Lawful representative” means parent or guardian, lawyer or legal aid assistant.

Article 3. Rules for handling administrative violations

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Every administrative violation must be discovered and prevented promptly, and handled in a strict manner. Any consequences of such violation must be remedied in accordance with regulations of law;

b) Administrative penalties must be imposed by persons having proper competence in a prompt, public, objective and fair manner in accordance with regulations of law;

c) Administrative penalties shall be imposed according to the nature, severity, consequences of violations, violating entities, and mitigating and aggravating circumstances;

d)[7] Administrative penalties shall be imposed only when there is any administrative violation prescribed by laws.

Penalties for an administrative violation shall be imposed once only.

If two or more persons commit an administrative violation, each of them shall incur administrative penalties for such violation.

If a person commits multiple administrative violations or repeatedly commits an administrative violation, he/she shall incur administrative penalties for each violation, unless such a repeated administrative violation is considered as an aggravating circumstance according to the Government's regulations;

dd) Persons having power to impose administrative penalties shall be responsible for proving administrative violations. Individuals or organizations incurring administrative penalties are entitled to themselves, or through their lawful representatives, prove that they do not commit administrative violations;

e) The fine imposed upon an organization is twice as much as that imposed upon an individual for the same administrative violation.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Administrative handling measures shall only be imposed upon individuals falling into one of the cases specified in Articles 90, 92, 94 and 96 of this Law;

b) Imposition of administrative handling measures shall comply with provisions of point b clause 1 of this Article;

c) Duration of an administrative handling measure imposed shall depend on the nature, severity, consequences of the violation, violator’s personal records, and mitigating and aggravating circumstances;

d) Persons having power to impose administrative handling measures shall be responsible for proving administrative violations. Individuals subject to administrative handling measures are entitled to themselves, or through their lawful representatives, prove that they do not commit administrative violations.

Article 4. Power to regulate imposition of administrative penalties and regimes for application of administrative handling measures [8]

1. Pursuant to provisions of this Law, the Government shall promulgate regulations on the following contents:

a) Administrative violations; completed administrative violations and ongoing administrative violations; penalties, fines, remedial measures for each administrative violation; entities incurring administrative penalties; power to impose penalties, specific fines imposed by each title holder and power to make records of administrative violations; execution of administrative penalties, and remedial measures applied in respective areas of state management;

b) Regimes for application of administrative handling measures.

2. Forms used in handling of administrative violations shall conform to the Government's regulations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 5. Entities subject to administrative penalties and administrative handling measures     

1. Entities incurring administrative penalties include:

a) A person aged 14 to under 16 shall incur administrative penalties for an administrative violation which he/she deliberately commits; a person aged 16 or older shall incur administrative penalties for every administrative violation which he/she commits.

Persons of the people’s armed force or people’s police force who commit administrative violations shall be liable to the same penalties as other citizens. Where suspension of licenses/practicing certificates or operations in the field of national defense and security for a fixed period is deemed necessary, persons who imposed penalties for the violation shall request competent authorities or units of the people’s armed force or people’s police force to consider deciding such suspension;

b) An organization shall incur administrative penalties for every administrative violation which it commits;

c) Any foreigners or foreign organizations that commit administrative violations within the territory, contiguous zone, exclusive economic zone and continental shelf of the Socialist Republic of Vietnam, or on board Vietnamese-flagged aircrafts or Vietnamese-flagged ships shall incur administrative penalties in accordance with regulations of law of Vietnam, unless otherwise prescribed by treaties or international conventions to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

2. Entities subject to administrative handling measures are individuals mentioned in Articles 90, 92, 94 and 96 of this Law.

Administrative handling measures shall not be imposed upon foreigners.

Article 6. Prescriptive periods for handling administrative violations

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) [9] The prescriptive period for imposition of penalties for an administrative violation shall be 01 year, except in the following cases:

The prescriptive period for imposition of penalties for any of the administrative violations in the following fields: accounting; invoices; fees and charges; insurance business; price management; securities; intellectual property; construction; fishery; forestry; survey, planning, exploration, extraction and use of water resources; oil and gas and other mining activities; environmental protection; atomic energy; management and development of houses and offices; land; flood control systems; press; publishing; commodity production, export, import and trading; manufacturing and trading of banned and counterfeit goods; foreign worker management; complaints, denunciations, petitions and feedbacks, shall be 02 years.

The prescriptive period for imposition of penalties for administrative violations against regulations on taxation and independent audit shall be determined in accordance with regulations of law on tax administration and law on independent audit.

b) Determination of prescriptive periods of administrative violations prescribed in point a clause 1 of this Article:

For a completed administrative violation, the prescriptive period begins to run from the time that violation is completed.

For an ongoing administrative violation, the prescriptive period begins to run from the time of discovery of that violation;

c) [10] Regarding administrative violations received from presiding agencies, the prescriptive period prescribed in point a of this clause shall apply and may be extended by 01 year. The period of time the presiding agency spends on handling the violation shall also be included in the prescriptive period of the violation;

d) If individuals or organizations, within the prescriptive periods specified in points a and b of this clause, deliberately evade or obstruct the imposition of administrative penalties, the prescriptive periods for such administrative violations shall be reset and begin to run from the time of termination of such evasion or obstruction. 

2. Prescriptive periods for application of administrative handling measures:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) [12] The prescriptive period for placement of violator in reform school shall be 01 year starting from the date on which an individual commits any violation specified in clauses 1 and 2 Article 92 hereof; 06 months starting from the date on which an individual commits one of the violations specified in clauses 3 and 4 Article 92 hereof;

c) The prescriptive period for placement of violator in compulsory educational institution shall be 01 year starting from the date on which an individual last commits one of the violations specified in clause 1 Article 94 hereof;

d)[13] (abrogated)

dd) [14] If individuals, within the prescriptive periods specified in points a, b and c of this clause, deliberately evade or obstruct the imposition of administrative handling measures, the prescriptive periods for such administrative violations shall be reset and begin to run from the time of termination of such evasion or obstruction.

Article 7. Periods after which individuals or organizations are treated as if they had not been subjected to administrative penalties or administrative handling measures

1. If, within 06 months from the date on which an individual or organization incurring administrative penalties for a violation has fully complied with a warning decision, or 01 year from the date on which they have fully complied with another penalty imposition decision or from the date of expiration of the prescriptive period for executing a penalty imposition decision, they do not re-commit that violation, they shall be treated as if they had not been subjected to such administrative penalties.

2. If, within 02 years from the date on which an individual subjected to an administrative handling measure has fully complied with the decision on application of such measure, or 01 year from the date of expiration of the prescriptive period for executing that decision, they do not re-commit the violation specified in that decision, they shall be treated as if they had not been subjected to such a measure.

Article 8. Calculation of durations, time limits and prescriptive periods in handling of administrative violations

1. Durations, time limits and prescriptive periods in handling of administrative violations shall be calculated in accordance with provisions of the Civil Code, unless application of working days-based time is provided for in this Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 9. Mitigating circumstances

The following circumstances are considered mitigating circumstances:

1. The violator has prevented or reduced the harm caused by the violation, or voluntarily implements remedial measures or makes compensation for damage;

2. The violator voluntarily reports the violation and show genuine remorse; actively assists competent authorities in detecting and handling the administrative violation;

3. The violator commits an administrative violation under provocation caused by another person’s unlawful acts, exceeds the limits of justifiable force in self-defense, or exceeds the necessary limits of an urgent circumstance;

4. An administrative violation is committed because the violator is forced by or financially or spiritually dependent on others;

5. The violator is pregnant, or old and weak, or has a disease or physical disability that limits his/her awareness or control of his/her behaviors;

6. An administrative violation is committed due to circumstances of extreme hardship which is not attributable to the violator;

7. An administrative violation is committed due to obsolete comprehension;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 10. Aggravating circumstances

1. The following circumstances are considered aggravating circumstances:

a) Organized administrative violation;

b) Repeated administrative violation; recidivism;

c) The violator entices, persuades or uses minors to commit an administrative violation; forces a person who is financially or spiritually dependent on the violator to commit an administrative violation;

d) The violator uses a person in the knowledge that this person is suffering from a mental disease or another disease that limits his/her awareness or control of his/her behaviors to commit an administrative violation;

dd) The violator reviles or distorts a law enforcement officer on duty; the administrative violation is of a gangster-like nature;

e) The violator abuses his/her position or power to commit an administrative violation;

g) The violator takes advantage of war, natural disaster, epidemic or other tragic circumstances of society to commit an administrative violation;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



i) The violator continues to commit an administrative violation despite the fact that he/she is requested by a competent person to terminate such violation;

k) The violator, after committing an administrative violation, deliberately evades or conceals such violation;

l) An administrative violation involves a large scale, or a large quantity or value of goods;

m) An administrative violation is committed against many people, children, elderly or disabled persons, or pregnant women.

2. If circumstances specified in clause 1 of this Article have been considered as administrative violations, they shall not be considered as aggravating circumstances.

Article 11. Cases of exemption from administrative penalties

Administrative penalties shall not be imposed in the following cases:

1. An administrative violation is committed in an urgent circumstance;

2. An administrative violation is committed due to justifiable force in self-defense;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. An administrative violation is committed due to a force majeure event;

5. An administrative violation is committed by a person lacking administrative liability capacity or a person who is below the age of administrative liability as prescribed in point a clause 1 Article 5 of this Law.

Article 12. Prohibited acts

1. Keep and consider violations suspected of crimes as administrative violations.

2. Abuse position or power to harass, solicit or receive money or property from violators; tolerate, protect or limit rights of violators during imposition of administrative penalties or application of administrative handling measures.

3. Promulgate documents prescribing administrative violations, power to impose penalties, penalties and remedial measures against each administrative violation in respective areas of state management, and administrative handling measures ultra vires.

4. Fail to impose administrative penalties or remedial measures or fail to apply administrative handling measures.

5. Impose administrative penalties or remedial measures or apply administrative handling measures not in a timely and strict manner, by persons without proper competence, upon improper entities, or in contravention of the procedures prescribed herein.

6.[15] Identity administrative violations incorrectly; impose penalties, fines, and remedial measures in an incorrect and incomplete manner with respect to administrative violations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. Extend duration of administrative handling measures.

8a.[16] Fail to monitor, urge, inspect and take charge of enforcing the execution of penalty imposition decisions or remedial measures.

9. Use fines, interests on late payment of fines, proceeds from sale or liquidation of confiscated exhibits and instrumentalities of administrative violations, and other amounts collected from imposition of administrative penalties in contravention of regulations of law on state budget.

10. Forge or falsify dossiers on imposition of administrative penalties or application of administrative handling measures.

11. Infringe upon the life, health, honor or dignity of persons incurring administrative penalties, or persons subject to administrative handling measures, measures for preventing and ensuring handling of administrative violations, or measures for enforcing the execution of decisions on handling of administrative violations.

12. Resist, evade, delay or obstruct the execution of decisions on imposition of administrative penalties, decisions on application of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations, decisions to enforce the execution of decisions on imposition of administrative penalties, or decisions on application of administrative handling measures.

Article 13. Compensation for damage

1. Persons committing administrative violations shall be liable to compensate for any damage caused. Compensation for damage shall comply with in accordance with regulations of civil law.

2. Persons having power to handle administrative violations, authorities, organizations or individuals involved in handling of administrative violations shall compensate for any damage caused in accordance with regulations of law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. All individuals and organizations must strictly comply with regulations of law on handling of administrative violations. Organizations are responsible for educating people under their management to raise their awareness of protection and compliance with the law and socialism rules, and promptly taking measures for eliminating causes and conditions of administrative violations within their organizations.

2. Persons having power to handle administrative violations shall, upon their detection of administrative violations, consider handling such administrative violations in accordance with regulations of law.

3. All individuals and organizations are responsible for detecting, reporting, preventing and fighting against administrative violations.

Article 15. Complaint, denunciation and initiation of lawsuits in handling administrative violations

1. An individual or organization subject to a decision on handling of administrative violation shall have the rights to file complaint or lawsuit against such decision in accordance with regulations of law.

2. Individuals are entitled to denounce unlawful acts in handling administrative violations in accordance with regulations of law.

3. During the settlement of a complaint or lawsuit, if the person in charge of settling the complaint or lawsuit deems that the execution of decision on handling of administrative violation against which the complaint or lawsuit is filed may lead to adverse consequences, he/she must issue a decision on suspension of the execution of such decision in accordance with regulations of law.

Article 16. Responsibilities of persons having power to handle administrative violations

1. During their consideration of administrative violations, persons having power to handle administrative violations must strictly comply with regulations of this Law and other relevant laws.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 17. Responsibility for management of implementation of law on handling of administrative violations

1. The Government shall assume responsibility to organize consistent management of the implementation of law on handling of administrative violations nationwide.

2. The Ministry of Justice of Vietnam shall assume responsibility before the Government for management of the implementation of law on handling of administrative violations, and have the following tasks and powers:

a) Play the leading role and cooperate in proposing, formulating and submitting to competent authorities for promulgation or promulgating within its competence legislative documents on handling of administrative violations;

b) Comprehensively monitor and submit reports on the implementation of law on handling of administrative violations; produce statistics on, build and manage national database on handling of administrative violations;

c) Play the leading role and cooperate in providing guidance on, training and refresher training in the implementation of law on handling of administrative violations;

d) Examine and cooperate with relevant ministries and central-government authorities in conducting inspection of the implementation of law on handling of administrative violations;

dd) [17] Promulgate regulations on reporting and forms of statistical reports on handling of administrative violations.

3. Within the ambit of their assigned tasks and powers, ministries and central-government authorities shall directly perform or cooperate with the Ministry of Justice of Vietnam in performing the tasks specified in clause 2 of this Article; promptly provide information on handling of administrative violations for the Ministry of Justice of Vietnam to serve building and development of national databases; submit annual reports[18] to the Ministry of Justice of Vietnam on handling of administrative violations within their jurisdiction.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. Within the ambit of their assigned tasks and powers, People's Committees at all levels shall manage the implementation of law on handling of administrative violations in their provinces, and discharge the following responsibilities:

a) Direct the organization of implementation of legislative documents on handling of administrative violations; organize dissemination of and education about the law on handling of administrative violations;

b) Examine, inspect, take actions against violations and settle within their competence complaints and denunciations regarding the implementation of law on handling of administrative violations;

c) Promptly provide information on handling of administrative violations for the Ministry of Justice to serve building and development of national databases; submit annual reports[20] to the Ministry of Justice of Vietnam on handling of administrative violations in their provinces.

6.[21] Offices of persons having power to impose administrative penalties, People’s Courts competent to make decisions on application of administrative handling measures, agencies in charge of executing penalty imposition decisions, decisions to enforce the execution of penalty imposition decisions, and agencies in charge of executing decisions on application of administrative handling measures shall provide and update information on and handling results of administrative violations under their jurisdiction or management on the national database on handling of administrative violations.

7. The Government shall elaborate this Article.

Article 18. Responsibilities of heads of agencies or units for handling of administrative violations

1. Within the ambit of their assigned tasks and powers, heads of agencies or units having the power to handle administrative violations shall:

a) Frequently examine, inspect, and promptly handle violations committed by persons having power to handle administrative violations under their management; settle complaints and denunciations regarding handling of administrative violations according to regulations of law;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Prevent acts of corruption committed by persons having power to handle administrative violations under their management;

d) Discharge other responsibilities as prescribed by law.

2. Within the ambit of their assigned tasks and powers, Ministers, heads of ministerial agencies, Chief Justice of the Supreme People’s Court, State Auditor General, [22] and Chairpersons of People's Committees at all levels shall:

a) Regularly direct, inspect handling of administrative violations of persons having power to handle administrative violations under their management;

b) Take disciplinary actions against persons committing violations in handling of administrative violations under their management;

c) Promptly settle complaints and denunciations regarding handling of administrative violations in the sectors and fields under their management according to regulations of law;

d) Discharge other responsibilities as prescribed by law.

3.[23] Within the ambit of their assigned tasks and powers, Ministers, heads of ministerial agencies, Chairpersons of People's Committees at all levels, heads of agencies or units in charge of persons having power to handle administrative violations shall be responsible for detecting any errors or mistakes contained in decisions on handling of administrative violations issued by themselves or their subordinates, and promptly correcting, revising, or abolishing them, or promulgating new ones under their jurisdiction.

The Government shall elaborate this clause.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Administrative violations may be considered and handled online if infrastructure, technical and information conditions are satisfied.

2. Online handling of administrative violations must meet the following requirements:

a) Strictly comply with regulations of the law on penalties for administrative violations, the law on electronic transactions and relevant laws;

b) Ensure the integrity, authenticity, safety, purposes and extent of data during the collection, storage, access to and use of data in accordance with regulations of law;

c) Make system connections, share and provide data and information in an accurate and timely manner to serve the performance of state management tasks and supervision by relevant competent authorities, organizations and individuals.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 19. Supervision of handling of administrative violations

The National Assembly and its agencies, People's Councils at all levels, members of the National Assembly, members of People's Councils, Vietnam Fatherland Front and its member organizations, and all citizens shall supervise agencies and persons having power to handle administrative violations, and, upon their detection of any violations committed by such agencies or persons having power to handle administrative violations, request competent agencies or persons to consider and handle such violations according to regulations of law.

Agencies or persons having power to handle administrative violations shall consider, handle and respond to such requests in accordance with regulations of law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Any Vietnamese citizen or organization that commits an administrative violation against law of the Socialist Republic of Vietnam outside the territory of Vietnam may incur administrative penalties as prescribed by this Law.

Part two

IMPOSITION OF ADMINISTRATIVE PENALTIES

Chapter I

PENALTIES AND REMEDIAL MEASURES  

Section 1. PENALTIES

Article 21. Rules for imposing penalties [25]

1. Administrative penalties include:

a) Warning;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Suspension of license or practicing certificate or suspension of operation for fixed period;

d) Confiscation of exhibits and/or instrumentalities of administrative violations (hereinafter referred to as “exhibits/instrumentalities”);

dd) Expulsion.

2. The penalties specified in points a and b clause 1 of this Article shall only be provided for and imposed as primary penalties.

The penalties specified in points c, d and dd clause 1 of this Article may be provided for as either additional penalties or primary penalties.

3.[26] A primary penalty and possibly one or more additional penalties may be imposed for each administrative violation.

Additional penalties are imposed accompanying a primary penalty, except the cases prescribed in clause 2 Article 65 of this Law.

Article 22. Warning

A warning is imposed upon an individual or organization that commits an administrative violation which is not serious and has mitigating circumstances, and, as prescribed by law, is subject to a warning, or for any administrative violation committed by a minor aged 14 to under 16. A warning decision shall be made in writing.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. The fine for an administrative violation imposed upon an individual is VND 50.000 to VND 1.000.000.000, and that imposed upon an organization is VND 100.000 to VND 2.000.000.000, except the cases prescribed in clause 3 Article 24 of this Law.

For urban areas of cities[27], the fine imposed may be higher but shall not exceed twice the general fine imposed for the same administrative violation in the fields of road traffic, environmental protection, or security, public order and social safety.

2. The Government shall stipulate the fine bracket or specific fine for an administrative violation adopting one of the following methods, provided that the highest fine of the fine bracket shall not exceed the maximum fine specified in Article 24 of this Law:

a) Determine the minimum and/or maximum fines;

b) Determine the number of times, the percentage of value, the quantity of goods, exhibits of the violation, affected subjects, or revenues or profits gained from the administrative violation.

3.[28] Based on the nature of violations, fine brackets or fines specified in the Government's Decrees, and specific local socio-economic management requirements, People's Councils of cities[29] shall have the right to decide fine brackets or specific fines for administrative violations in the fields specified in clause 1 of this Article, but must ensure that maximum fines for the respective fields specified in Article 24 of the Law shall not be exceeded.

4.[30] The specific fine for an administrative violation is the average of fines within the fine bracket imposed for that violation; if there is any mitigating circumstance, the fine may be reduced but shall not be lower than the minimum limit of the fine bracket; if there is any aggravating circumstance, the fine may be increased, but shall not exceed the maximum limit of the fine bracket.

The Government shall elaborate this clause.

Article 24. Maximum fines in different fields

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) [32] A fine of up to VND 30.000.000 shall be imposed for any of the violations committed in such fields as marriage and family; gender equality; domestic violence; archives; beliefs and religions; emulation and rewards; judicial administration; population; environmental sanitation; statistics; foreign affairs; complaints, denunciations, petitions and feedbacks;

b) A fine of up to VND 40.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of security, social order and safety; obstruction of proceedings; enforcement of civil judgments; bankruptcy of enterprises and cooperatives; electronic transactions; postal services;

c) A fine of up to VND 50.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of fire prevention and firefighting; search and rescue; judicial support; preventive healthcare; HIV/AIDS prevention and control; culture; sports; tourism; science and technology management; technology transfer; child protection and care; social protection and relief; disaster preparedness and control; plant protection and quarantine; management and conservation of genetic resources (excluding animal genetic resources); crop production (excluding fertilizers); animal health; accounting; [33] fees and charges; public property management; invoices; national reserves; chemicals; hydrometeorology; survey and mapping; enterprise registration; state audit;

d) A fine of up to VND 75.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of cipher affairs; national border management and protection; national defense and security; labor; education; vocational education; road traffic; railway traffic; inland waterway traffic; health insurance; social insurance; unemployment insurance; prevention and control of social evils; 

dd) [34] A fine of up to VND 100.000.000 shall be imposed for any of the violations committed in such fields as flood control systems; medical examination and treatment; cosmetics; pharmaceuticals, medical devices; animal husbandry; fertilizers; advertisement; betting and games of chance; foreign worker management; maritime transport; civil aviation operations; traffic works management and protection; information technology; telecommunications; radio frequencies; cybersecurity; [35] data; digital technology industry; publishing; printing; commerce; customs, tax procedures; lottery business; insurance business; thrift practice and waste combat; management of explosive materials; electricity;

e) A fine of up to VND 150.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of price management; exploitation, production and trading of building materials; management of technical infrastructure facilities; management and development of housing and office buildings; bidding; investment;

g) A fine of up to VND 200.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of production and trading of banned and counterfeit goods; protection of consumer rights;

h) A fine of up to VND 250.000.000 shall be imposed for any of the violations in the fields of survey, planning, exploration, extraction and use of water resources; irrigation; intellectual property; press;

i) [36] A fine of up to VND 500.000.000 shall be imposed for any of the violations committed in such fields as construction; forestry; land; integrated natural resource management and environmental protection for sea and islands; real estate business;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The maximum fine imposed upon an organization is twice as much as that imposed upon an individual for committing the same violation in the respective field of state management as prescribed in clause 1 of this Article.

3.[37] Maximum fines imposed for administrative violations in such fields as taxation; metrology; food safety; quality of products and goods; securities; competition; independent audit; personal data protection, shall be determined according to provisions of corresponding laws.

4. Maximum fines for violations in a field other than those mentioned in clause 1 of this Article shall be specified by the Government after obtaining consent from the National Assembly’s Standing Committee.

Article 25. Suspension of licenses/practicing certificates or suspension of operation for fixed period

1. Suspension of license or practicing certificate for a fixed period means a penalty imposed upon an individual or organization that commits a serious violation involving the activities specified in the issued license or practicing certificate. During the suspension period, the violating individual or organization shall not be allowed to perform the activities specified in such suspended license or practicing certificate.

2. Suspension of operation for a fixed period means a penalty imposed upon an individual or organization committing an administrative violation, including:

a) Partial suspension of activities of a production, business and/or service establishment which cause, or are likely to actually cause, serious harm to human life, health and/or the environment, and which may only be carried out under a license as required by law;

b) Partial or full suspension of production, business, service or other activities which may be carried out without a license as prescribed by law and which cause, or are likely to actually cause, serious harm to human life, health, the environment, and public order and social safety.

3.[38] The period of suspension of license/practicing certificate or suspension of operation as prescribed in clause 1 and clause 2 of this Article shall be from 01 to 24 months, starting from the effective date of the penalty imposition decision. Persons having power to impose penalties shall impound the subject license/practicing certificate during the suspension period.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The Government shall elaborate this clause.

Article 26. Confiscation of exhibits and instrumentalities

Confiscation of exhibits/instrumentalities of an administrative violation means the act of transferring items, money, goods and/or means directly involved in the administrative violation to the state budget. Confiscation of exhibits/instrumentalities is a penalty imposed for a serious violation intentionally committed by an organization or individual.[39]

Article 27. Expulsion

1. Expulsion means the act of forcing a foreigner who commits an administrative violation in Vietnam to leave the territory of the Socialist Republic of Vietnam.

2. The Government shall elaborate the application of expulsion as a penalty.

Section 2. REMEDIAL MEASURES

Article 28. Remedial measures and imposition rules

1. Remedial measures include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Enforced demolition 40] of the works or structures which have been built without the license or against the license;

c) Enforced implementation of measures for controlling environmental pollution and the spread of epidemics;

d) Enforced removal from the territory of the Socialist Republic of Vietnam or re-export or goods, items and vehicles;

dd) Enforced destruction of goods and items which cause harm to human health, domestic animals, plants and the environment, and indecent materials;

e) Enforced correction of false or misleading information;

g) Enforced removal of violating elements from goods, their packages, means of business, and items;

h) Enforced recall of unqualified products and goods;

i) Enforced transfer of illegal benefits obtained from administrative violations or enforced transfer of the amounts equivalent to the value of the exhibits/instrumentalities of administrative violations which have been sold, liquidated, hidden or destroyed inconsistently with the law;

k) Other remedial measures prescribed by the Government.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) In addition to penalties, an individual or organization committing any administrative violation may be liable to one or some remedial measures mentioned in clause 1 of this Article;

b) A remedial measure may be imposed independently in the case prescribed in clause 2 Article 65 of this Law.

Article 29. Enforced restoration of original state

Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to restore the original state which has been altered as a result of such violation; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 30. Enforced demolition [41] of works or structures which have been built without license or against license

Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to demolish[42] the works or structures which have been built without a license or against the issued license; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 31. Enforced implementation of measures for controlling environmental pollution and spread of epidemics

Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to implement measures for controlling environmental pollution and the spread of epidemics; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 32. Enforced removal from the territory of the Socialist Republic of Vietnam or re-export or goods, items and vehicles

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



This remedial measure shall also apply to imported or transited goods which infringe intellectual property rights, counterfeit intellectual-property goods, imported vehicles, raw materials or supplies primarily used for producing or trading counterfeit intellectual-property goods after the infringing elements have been removed; if the violating individual or organization fails to voluntarily implement this measure, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 33. Enforced destruction of goods and items which cause harm to human health, domestic animals, plants, and the environment, and harmful cultural products

Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to destroy goods and items which cause harm to human health, domestic animals, plants, and the environment, harmful cultural products or other exhibits which must be destroyed as prescribed by law; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 34. Enforced correction of false or misleading information

Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to correct false or misleading information which has been published or posted on the mass media or website(s) used for publishing or providing such information; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 35. Enforced removal of violating elements from goods, their packages, means of business, and items

Any individual or organization that produces or trades goods or uses means of business or items which contain, or whose packages contain, violating elements shall be required to remove such elements; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Article 36. Enforced recall of unqualified products and goods

Any individual or organization that produces or trades goods/products which fail to meet registered or disclosed quality standards, and other goods which fail to meet quality standards and requirements for placement on the market shall be required to recall such goods/products placed on the market; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Any individual or organization that commits an administrative violation shall be required to transfer illegal benefits, including money, property, and other valuable papers and items, obtained from such violation to state budget or return them to affected parties; or transfer an amount equivalent to the value of the exhibits/instrumentalities which have been sold, liquidated, hidden or destroyed inconsistently with the law; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Chapter II

POWER TO IMPOSE ADMINISTRATIVE PENALTIES AND REMEDIAL MEASURES

Article 37a. Power to impose penalties for administrative violations [43]

1. Persons who have the power to impose penalties for administrative violations as prescribed in this Law include:

a) Chairpersons of People’s Committees at any levels;

b) Heads of organizations affiliated to Ministries or ministerial agencies in charge of assisting Ministers or heads of ministerial agencies in perform state management tasks in specific fields or sectors; Heads of organizations affiliated to Ministries or ministerial agencies assigned to perform inspection functions and tasks within the scope of state management of such Ministries or ministerial agencies, except those Ministries or ministerial agencies having the titles prescribed in point dd of this clause;

c) Heads of specialized agencies affiliated to provincial-level People's Committees; heads of Sub-departments of Departments affiliated to Ministries and equivalents; Heads of Sub-departments of specialized agencies affiliated to provincial-level People's Committees and equivalents;

d) Inspectors; Heads of Inspection Teams during inspection periods;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



e) Chief Inspector of the Inspectorate of the Government Cipher Committee; Heads of Inspection Agencies established under international conventions to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory;

g) Heads of examination teams established by Ministries or ministerial agencies, during examination periods;

h) Competent officials of the following agencies and forces: People’s Public Security; Border Guard; Coast Guard; Customs; Tax; Market Surveillance; Forestry and Forest Protection; Fisheries and Fisheries Surveillance; Civil Judgment Enforcement;

i) Directors or Chief Representatives of Maritime Administrations, Inland Waterway Administrations, and Airport Authorities; Directors of Regional Radio Frequency Centers; Directors of Regional Social Insurance Offices, and Director of Vietnam Social Security; Director of the State Treasury, and Directors of Regional State Treasuries;

k) Chairperson of the Commission for the Standards, Metrology and Quality of Vietnam; Chairperson of the State Securities Commission of Vietnam; Head of the Government Cipher Committee; heads of diplomatic missions, consular missions and other agencies performing consular tasks of the Socialist Republic of Vietnam in foreign countries;

l) Chairperson of Vietnam Competition Commission, unless the Competition Law provides specific regulations on authority to impose penalties for violations against regulations on anti-competitive agreements, abuse of dominant position or monopoly position, economic concentration or unfair competition;

m) Competent officials of People’s Courts;

n) Competent officials of People's Procuracies;

o) Heads of audit teams, during audit periods, Auditor General of the State Audit Office.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Pursuant to provisions of points m, n and o clause 1 of this Article, the Standing Committee of the National Assembly shall provide detailed regulations on title holders competent to impose penalties for administrative violations; specific penalties and remedial measures to be imposed by each title holder.

4. If new agencies or forces other than those prescribed in points a, b, c, d, dd e, g, h, i, k and l clause 1 of this Article are established and are not subject to provisions of Article 53 of this Law, the power to impose penalties for administrative violations granted to title holders of these agencies or forces shall be decided by the Government after obtaining the consent from the Standing Committee of the National Assembly.  The Government shall submit a report thereon to the National Assembly in its nearest meeting session.

Article 38. [44] (abrogated)

Article 39. [45] (abrogated)

Article 40. [46] (abrogated)

Article 41. [47] (abrogated)         

Article 42. [48] (abrogated)

Article 43. [49] (abrogated)

Article 43a. [50] (abrogated)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 45. [52] (abrogated)

Article 45a. [53] (abrogated)

Article 46. [54] (abrogated)

Article 47. [55] (abrogated)

Article 48. [56] (abrogated)

Article 48a. [57] (abrogated)

Article 49. [58] (abrogated)

Article 50. [59] (abrogated)

Article 51. [60] (abrogated)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1.[61] The penalties imposed by a title holder are those imposed for an administrative violation. In case of fines, the fine imposed upon an organization is twice as much as that imposed upon an individual by the same title holder.

In case of fines imposed for the administrative violations committed within urban areas of cities in the fields specified in clause 1 Article 23 of this Law, title holders with the power to impose fines for the administrative violations specified by the Government also have the power to impose higher fines for the administrative violations specified by People's Councils of such cities.

2. The fine imposed as prescribed in clause 1 of this Article is determined according to the maximum fine of the fine bracket for each specific administrative violation.

3.[62] Chairpersons of the People’s Committees at all levels shall have the power to impose penalties for administrative violations in state management fields in their administrative divisions.

Persons having power to impose penalties for administrative violations prescribed in points b, c, d, dd, e, g, h, i, k and l clause 1 Article 37a of this Law shall have the power to impose penalties for administrative violations in fields or sectors under their management.

If an administrative violation falls under the power of several persons, the person who handles the violation first shall consider imposing penalties for such violation.

4. Where a case of administrative violation involves multiple acts of violation, the power to impose administrative penalties shall be determined according to the following rules:[63]

a) If the penalties, fines, value of exhibits/instrumentalities which are confiscated and remedial measures for all acts of violation in such case are within the power of a competent person, that person shall impose administrative penalties for this case;

b) If the penalties, fines, value of exhibits/instrumentalities which are confiscated and remedial measures for any of the acts of violation in such case are beyond the power of a competent person, the case shall be transferred to a competent authority;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 53. Changes in names, tasks and powers of title holders with power to impose penalties for administrative violations [64]

1. In case there are changes in names of title holders having power to impose penalties for administrative violations specified by the Government but their tasks and powers remain unchanged, the power to impose penalties for administrative violations granted to such title holders shall also remain unchanged.

2. In case there are changes in tasks and powers of the title holders having the power to impose penalties for administrative violations specified by the Government due to arrangement and organization of the state apparatus, the power to impose penalties for administrative violations shall be exercised by the title holders receiving such functions, tasks and powers in each corresponding state management field.

Article 54. Delegation of power to impose penalties [65]

1.[66] Persons having the power to impose penalties for administrative violations who are leaders or heads of the agencies or units prescribed in Article 37a of this Law may assign their deputies to exercise the power to impose penalties for administrative violations.

2. Delegation of the power to impose administrative penalties shall be frequent or on a case-by-case basis, and shall take place at the same time as the delegation of the power to impose measures for preventing and securing handling of administrative violations specified in clauses 2, 3, 4, 5, 6 and 7 Article 119 of this Law. A power delegation decision must be made and clearly indicate the scope, details and validity period of such delegation of power.

3. Deputies delegated to impose administrative penalties must assume responsibility to their heads or leaders and legal responsibility for their exercise of delegated powers. Delegated deputies are not allowed to sub-delegate those powers to others.

4. The Government shall elaborate this Article.

Chapter III

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Section 1. PROCEDURES FOR IMPOSITION OF ADMINISTRATIVE PENALTIES

Article 55. Mandatory termination of administrative violations

Mandatory termination of an administrative violation is applied by a competent person on duty to an ongoing administrative violation so as to immediately terminate such violation. Mandatory termination of administrative violation is conducted by means of words, whistle, command, documents or other forms as prescribed by law.

Article 56. Imposition of penalties for administrative violations without violation records [67]

1. Penalties for administrative violations may be imposed without making violation records in the following cases:

a) A warning or a fine of up to VND 500.000 or up to VND 1.000.000 is imposed upon an individual or an organization respectively;

b) Violations are received from authorities competent to institute criminal proceedings as prescribed in clause 1 Article 63 of this Law.

2. Records of administrative violations which are detected by technical and professional means and equipment are compulsory.

3. In case of imposition of penalties for administrative violations without making violation records as prescribed in point a clause 1 of this Article, persons having the power to impose penalties shall issue on-the-spot penalty imposition decisions.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Violation records are compulsory when imposing penalties for administrative violations committed by individuals/organizations in cases other than those specified in [68] clause 1 Article 56 of this Law.

2. When imposing administrative penalties with a violation record, the person having power to impose penalties shall compile a dossier on imposition of administrative penalties. Such a dossier on imposition of administrative penalties includes the record of administrative violation, the penalty imposition decision, and other relevant documents all of which must be numbered.

The dossier on imposition of administrative penalties must be retained in accordance with regulations of the law on archives.

Article 58. Making records of administrative violations [69]

1.[70] When detecting any administrative violations in fields under their management, competent persons on duty must promptly make written records of administrative violations, except for cases where penalties for administrative violations are imposed without making violation records as prescribed in clause 1 Article 56 hereof.

If an administrative violation occurs at sea, on inland waterway, or aboard aircraft, seagoing vessel, inland waterway ship or train, the competent person or pilot in command, vessel captain or trainmaster shall make a record of that administrative violation and immediately transfer it to the person having the power to impose penalties for administrative violations whenever that aircraft, seagoing vessel, inland waterway ship or train arrives at the airport, terminal or train station.

2. An administrative violation record must be made at the scene of that violation. If an administrative violation record is made at the office of the person having power to make administrative violation records or at other places, the reasons for this shall be clearly stated in the record.

3. An administrative violation record shall contain the following main information:

a) Recording time and venue;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Where it is unable to determine the entity that has committed the violation, the phrase "không xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm” (“unidentified violating entity”) shall be indicated;

c) Time and location of the violation; description of the case or violation;

d) Statements of the violator or representative of the violating organization, the witness, the affected person or representative of the affected organization; 

dd) Measures for preventing and ensuring handling of administrative violations;

e) Rights and duration of explanation.

4. An administrative violation record shall be made into at least 02 copies and bear signatures of the record maker and the violator or the representative of the violating organization, unless the record is made according to provisions of clause 7 of this Article.

In case the violator or the representative of the violating organization does not sign the record, the record must bear the signature of the representative of the local authority of the commune where the violation occurs, or of at least 01 witness certifying the violating individual or organization has not signed the record; in case there is no signature of the representative of the commune-level authority or the witness, the reasons for this shall be clearly stated in the record.

5.[72] One (01) copy of the complete record of administrative violation shall be issued to the violating individual or organization. In case an administrative violation falls beyond the power of the record maker, the record and other related documents must be promptly transferred to the person having the power to impose administrative penalties, except for cases where administrative violations are committed at sea, on inland waterway, or aboard aircrafts, seagoing vessels, inland waterway ships or trains.

6. In case any administrative violation record contains errors or does not fully and accurately show the details specified in clauses 3 and 4 of this Article, facts of the administrative violation case shall be verified according to provisions of Article 59 of this Law as a basis for issuing a penalty imposition decision. The verification of facts of the administrative violation case shall be documented in a verification report. Such a verification report serves as a paper attached to the administrative violation record and needs to be kept in the dossier on imposition of administrative penalties.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. Administrative violation records shall be made in compliance with this Law’s regulations on the contents, representation formats, and procedures and shall serve as a basis to issue decisions on imposition of administrative penalties, except for cases of imposition of administrative penalties without violation records as prescribed in clause 1 of Article 56 and clause 2 of Article 63 of this Law, and otherwise prescribed by the Law on Tax Administration.

9. The Government shall elaborate this Article.

Article 59. Verification of facts of administrative violation case

1. When considering issuance of decision on imposition of administrative penalties, if necessary, the person having the power to make record of the administrative violation or[73] the person having power to impose penalties shall be responsible for verifying the following facts:

a) The existence of the act of administrative violation;

b) The individual or organization that commits the administrative violation, or wrongful act, and the violator’s personal records;

c) Aggravating and mitigating circumstances;

d) Nature and extent of damage caused by the administrative violation;

dd) The case where no decision on imposition of administrative penalties is issued as prescribed in clause 1 Article 65 of this Law;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



During consideration and making of penalty imposition decision, the person having power to impose penalties may requisition expert examination. Such requisition of expert examination must comply with in accordance with regulations of law on expert examination.

2. Verification of facts of administrative violations must be documented.

3.[74] Competent persons prescribed in clause 1 of this Article shall themselves carry out, or assign or cooperate with others in carrying out verifications, and assume legal responsibility for verification results.

Article 60. Determination of value of exhibits/instrumentalities [75] of administrative violations as a basis for determination of fine brackets and power to impose penalties

1. Where the value of exhibits/instrumentalities[76] of an administrative violation needs to be determined to serve as a basis for determination of the fine bracket, and power to impose penalties, the competent person who is handling the case must conduct determination of value of exhibits/instrumentalities[77] and assume responsibility for such determination result.

2. Depending on the specific type of exhibits/instrumentalities[78], their value shall be determined based on one of the following grounds, in order of priority:

a) The posted price or the price specified in the sales contract or invoice or import declaration;

b) The price notified by a local finance authority or the local market price at the time when the administrative violation occurs, if the former is unavailable;

c) The prime cost of exhibits/instrumentalities[79] if they are goods which are not yet placed on the market;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3.[82] If the value of exhibits and instrumentalities of the violation, which is used as the basis for determining the fine bracket and the power to impose penalties, can not be determined according to provisions of clause 2 of this Article, the competent person who is handling the case may issue a decision to impound exhibits and instrumentalities of the violation and establish a valuation council in charge of valuing such exhibits and instrumentalities. Such a valuation council is composed of a Chairperson who is the person issuing the decision to impound exhibits and instrumentalities of the violation, and other members who are representatives of the same-level finance authority and relevant specialized agencies.

Exhibits and instrumentalities of the violation may be impounded for a maximum period of 05 working days from the issue date of the impoundment decision. All costs incurred from the impoundment, valuation and damage caused by such impoundment shall be covered by the agency of the person issuing the impoundment decision.

4. The ground and documents relating to determination of value of exhibits/instrumentalities[83] of an administrative violation must be specified in the dossier on imposition of administrative penalties.

Article 61. Explanations [84]

1. With regard to administrative violations, according to regulations of law, subject to penalties including suspension of licenses/practicing certificates or operations for fixed periods, or imposition of the maximum limit of the fine bracket which starts from VND 15.000.000 or more upon an individual, or which starts from VND 30.000.000 or more upon an organization, the violating individual or organization shall have the rights to give explanations directly or in writing to persons having power to impose penalties. Persons having power to impose penalties shall be responsible to take into consideration explanations of violating individuals or organizations before making penalty imposition decisions, unless these violating individuals and organizations do not need to give such explanations.

2. In case of explanations given in writing, the violating individual or organization shall send their written explanations to the person having power to impose administrative penalties within 05 working days from the issue date of the administrative violation record.

Where a violation case involves many complicated facts, the person having power to impose penalties can extend the aforesaid duration for up to 05 working days at the request of the violating individual or organization. Such extension decided by the person having power to impose penalties must be documented.

The violating individual or organization can, by themselves, or authorize their lawful representative to, give written explanations.

3. In case of explanations given directly, the violating individual or organization shall send a written request for permission to give direct explanations to the person having power to impose administrative penalties within 02 working days from the issue date of the administrative violation record.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The person having power to impose penalties holds a direct explanation session and is responsible for presenting legal grounds, facts and evidences related to the administrative violation, penalties and remedial measures to be imposed. The violating individual or organization or their lawful representative shall have the rights to participate in that explanation session and give their opinions and evidences to protect their legitimate rights and interests.

A record of the direct explanation session shall be made and bear signatures of the involved parties. If the record consists of many pages, the involved parties must sign on each page of the record.  The record must be kept in the dossier on imposition of administrative penalties, and 01 copy of the record must be delivered to the violating individual or organization or their lawful representative.

4. Where a violating individual or organization does not request permission to give explanations, but then does so before expiration of the time limit specified in clause 2 or clause 3 of this Article, the person having power to impose penalties shall be responsible to consider the explanations of the violating individual or organization.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 62. Transfer of dossiers on administrative violations suspected of crimes for criminal prosecution

1.[85] During the consideration of an administrative violation, if the violation is suspected of a crime, the competent person who is handling the case must transfer all documents relating to the violation suspected of crime to the authority competent to institute criminal proceedings.

Transfer of exhibits and instrumentalities of the violation suspected of a crime shall comply with the Government’s regulations.

2. During the execution of a penalty imposition decision and before the expiration of the prescriptive period for initiating criminal prosecution proceedings, if the administrative violation is suspected of a crime, the person who issued the penalty imposition decision shall make a decision to suspend execution of such decision, and within 05 working days[86] from the date of the suspension decision, transfer the violation dossier to the authority competent to institute criminal proceedings[87]. In case the penalty imposition decision has been fully executed, the person who issued the penalty imposition decision shall transfer the violation dossier to the authority competent to institute criminal proceedings[88].

3. The authority competent to institute criminal proceedings[89] shall consider drawing up conclusions on the violation case and give written response to the competent person transferring the violation dossier within the period prescribed by the law on criminal procedures. Where a decision not to file criminal charges is issued, within 05 working days[90] from the effective date of such decision[91], the authority competent to institute criminal proceedings[92] shall return the violation dossier to the competent person who has transferred such dossier.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Transfer of dossiers on violations suspected of crimes for initiating criminal prosecution proceedings must be notified in writing to violating individuals or organizations[95].

Article 63. Transfer of violation dossiers for imposition of administrative penalties

1.[96] Regarding a case which has been handled and considered by an authority competent to institute criminal proceedings and for which a decision not to file criminal charges, decision to annul the decision to file criminal charges, decision to terminate investigation, decision to dismiss the case, decision to dismiss the lawsuit against the suspect, or decision to grant exemption from criminal liability under a judgment has been issued, if the case denotes an administrative violation, the competent person of the authority that is handling the case shall consider imposing penalties for such administrative violation within his/her competence, or, if the administrative violation falls beyond his/her competence, transfer the copies of the issued decision and other documents included in the case file, exhibits and instrumentalities of the violation, except those exhibits and instrumentalities considered evidences in the case, and a written request for imposition of administrative penalties to the person having the power to impose penalties for this administrative violation within 05 working days from the effective date of the issued decision.
2.[97] Imposition of administrative penalties shall be based on the violation dossier sent by the authority specified in clause 1 of this Article. Where it is necessary to further verify the involved facts to form a basis to issue penalty imposition decision, the person having power to impose penalties may make a record of verification of facts of the administrative violation case according to provisions of Article 59 of this Law.

3. A decision on imposition of administrative penalties must be issued within 30 days of receipt of any of the decisions specified in clause 1 of this Article and the violation dossier. In the event of verification conducted as prescribed in clause 2 of this Article, the penalty imposition decision must be issued within 45 days.

Article 64. Detection of administrative violations using technical and professional means and equipment [98]

1. Authorities and persons having power to impose administrative penalties, individuals and organizations assigned to manage technical and professional means and equipment may use technical and professional means and equipment to detect administrative violations related to traffic order and safety, environmental protection, fire prevention and firefighting, search and rescue, prevention and control of narcotic substances, prevention and control of harmful effects of alcoholic beverages, radio frequencies[99], and other fields as prescribed by the Government after obtaining the consent from the National Assembly’s Standing Committee.

2. Management, use, and compilation and promulgation of the list of technical and professional means and equipment must meet the following requirements and conditions:

a) Respect citizens' rights of freedom, honor, dignity, privacy, and other legitimate rights and interests of individuals and organizations;

b) Strictly comply with regulatory procedures and rules for use of technical and professional means and equipment;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) Technical and professional means and equipment shall satisfy technical standards and regulations, and shall have been inspected, calibrated and tested in accordance with regulations of law; technical regulations and standards shall be maintained during use and at intervals between verification, calibration and testing engagements.

3. Use and preservation of findings obtained using technical and professional means and equipment shall satisfy the following requirements and conditions:

a) Findings obtained using technical and professional means and equipment are photos, images, printed slips, measurement indicators, data stored in the memories of technical and professional means and equipment in accordance with this Law;

b) Findings obtained using technical and professional means and equipment shall be used for imposition of administrative penalties only on condition that they meet requirements and conditions laid down in clause 2 of this Article;

c) Whenever receiving findings obtained using technical and professional means and equipment, the persons having power to impose administrative penalties shall quickly identify violating individuals or organizations, and send them written notices.

In case violating individuals or organizations are identified, competent persons shall make records of administrative violations according to regulations of Article 58 of this Law and findings obtained using technical and professional means and equipment shall be enclosed with the records of administrative violations;

d) Findings obtained using technical and professional means must be properly deposited and stored in dossiers on imposition of administrative penalties.

4. State regulatory authorities shall have jurisdiction to use technical and professional means and equipment, and other professional measures to identify information and data collected from technical means and equipment provided by violating individuals or organizations to detect any administrative violations.

5. The Government provides for the management, use of technical and professional means and equipment; persons or entities entitled to use technical and professional means and equipment; the list of technical and professional means and equipment used to detect administrative violations; and the use and preservation of findings obtained using technical and professional means and equipment; the process for collecting and using data obtained using technical means and equipment provided by violating individuals or organizations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. No decision on imposition of administrative penalties shall be issued in the following cases:

a) Cases specified in Article 11 of this Law;

b) Entities committing the administrative violation cannot be identified;

c) The prescriptive period for imposing administrative penalties prescribed in Article 6, or the time limit for issuing penalty imposition decisions prescribed in clause 3 Article 63 or clause 1 Article 66 of this Law has expired;

d) The violator is dead or missing, or the violating organization has been dissolved or declared bankrupt while the penalty imposition decision is still under consideration;

dd) The dossier on the violation suspected of crime has been transferred to competent authority as prescribed in Article 62 of this Law.

2.[100] As for the administrative violations specified at points a, b, c and d clause 1 of this Article, though competent persons do not issue decisions on imposition of administrative penalties, they shall issue decisions to confiscate exhibits/instrumentalities of administrative violations in the event that such exhibits/instrumentalities of administrative violations are classified as those banned from storage or circulation, or those subject to a penalty imposed in a form of confiscation and remedial measures as prescribed by laws.

A decision to confiscate exhibits/instrumentalities shall clearly state the reasons for not issuing penalty imposition decision; exhibits/instrumentalities confiscated; remedial measures to be imposed, responsibilities and duration of implementation of such measures.

Confiscation of exhibits/instrumentalities of administrative violations and imposition of remedial measures shall not be deemed as being subject to administrative penalties.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Time limits for issuance of decisions on imposition of administrative penalties are provided for as follows:

a) Regarding a violation case other than those specified in point b and point c of this clause, the time limit for issuing a penalty imposition decision shall be 07 working days from the date of the administrative violation record; if the violation dossier must be transferred to the person having power to impose penalties, the time limit for issuing a penalty imposition decision shall be 10 working days from the date of the administrative violation record, except for the cases prescribed in clause 3 Article 63 of this Law;

b) Regarding a violation case where the violating individual or organization requests permission to give explanations or where relevant facts must be verified as prescribed in Article 59 of this Law, the time limit for issuing a penalty imposition decision shall be 01 month from the date of the administrative violation record;

c) Regarding a violation case mentioned in point b of this clause, if the violation is deemed extremely serious, involves complicated facts, and needs more time to carry out further verification and collection of evidence, the time limit for issuing a penalty imposition decision shall be 02 months from the date of the administrative violation record.

2. If persons having power to impose administrative penalties, involved individuals and organizations defer issuing penalty imposition decisions after expiry of the prescribed time limit through their fault, they shall incur penalties as prescribed by laws.

Article 67. Issuance of decisions on imposition of administrative penalties

1. If an individual or organization commits multiple administrative violations and is subjected to penalties for them at the same time, only one penalty imposition decision in which the penalties and fines for each violation are specified will be issued.

2. If multiple individuals or organizations commit the same administrative violation, one or more penalty imposition decisions in which the penalties and fines imposed on each individual or organization are specified may be issued.

3. If multiple individuals and organizations commit different administrative violations in the same case, one or more penalty imposition decisions in which the penalties and fines for the violation committed by each individual or organization are specified may be issued.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 68. Contents of decisions on imposition of administrative penalties

1. A decision on imposition of administrative penalties shall include the following primary contents:

a) The place and date of the decision;

b) Legal grounds for issuing the decision;

c) The administrative violation record, verification results, explanations given by the violating individual or organization or record of the explanation session, and other documents (if any);

d) Full name and position of the person who issues the decision;

dd) Full name, address and occupation of the violator, or name, address, and full name and position of legal representative[102] of the violating organization;

e) Description of the administrative violation; mitigating and aggravating circumstances;

g) Articles and clauses of legislative documents applied;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



i) Rights to file complaint or lawsuit against the decision on imposition of administrative penalties;

k) Effect of the decision, time limit and place for executing the decision on imposition of administrative penalties, place of fine payment;

l) Full name and signature of the person who issues the decision on imposition of administrative penalties;

m) Responsibility for execution of the decision on imposition of administrative penalties and application of enforcement measures in case the violating individual or organization fails to execute the decision voluntarily.

2. The time limit for executing a penalty imposition decision shall be 10 days from the date of receipt. If a longer time limit is specified in the decision, that time limit shall prevail.

3. Where a single decision on imposition of administrative penalties is issued to multiple individuals and organizations that commit the same administrative violation or that commit different administrative violations in the same case, description of the violation, penalties, and fines imposed upon each individual or organization must be clearly specified in such decision.

Section 2. EXECUTION OF DECISIONS ON IMPOSITION OF ADMINISTRATIVE PENALTIES

Article 69. Execution of decisions on imposition of administrative penalties without violation records

1. One (01) copy of a decision on imposition of administrative penalties without violation record must be delivered to the violating individual or organization. Where a warning is given to a minor, the penalty imposition decision shall also be sent to his/her parent or guardian.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Where the violating individual or organization is unable to pay the on-the-spot fine, they may pay the fine directly at the State Treasury or transfer it to the State Treasury’s account specified in the penalty imposition decision within the time limit prescribed in clause 1 Article 78 of this Law.

Article 70. Delivery of decisions on imposition of administrative penalties for execution [103]

1. Within 03 working days from the issue date of a decision on imposition of administrative penalties, the person who issues the decision shall send it to the violating individual or organization, the agency in charge of collecting fines, and other relevant agencies (if any) for execution.

2. Such a penalty imposition decision may be sent in one of the following forms:

a) Direct delivery to the violating individual or organization;

b) By post, in the form of registered mail;

c) By electronic means;

d) If the penalty imposition decision cannot be delivered in any of the forms specified in points a, b and c of this clause, it shall be openly posted at the place of residence of the violating individual or at the headquarters of the violating organization or sent to the People’s Committee of commune-level administrative division where the violating individual resides or where the violating organization is headquartered for being openly posted.

3. Delivery of decisions on imposition of administrative penalties for execution shall comply with the Government’s regulations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1.[104] In case the violating individual or organization is unable to execute the penalty imposition decision at the place where the agency of the person issuing the penalty imposition decision is headquartered, the decision shall be transferred to the same-level agency in charge of the area where the violating individual resides or where the violating organization is headquartered for organization of execution thereof; if there is no same-level agency available at the area where the violating individual resides or where the violating organization is headquartered, the decision shall be transferred to the commune-level People’s Committee for organization of execution thereof.

2.[105] (abrogated)

3.[106] Agencies in charge of governing the persons who issue decisions on imposition of administrative penalties in the cases prescribed in clauses 1 and 2 of this Article shall transfer all originals of relevant documents to the agencies receiving the penalty imposition decisions for the purpose of execution thereof in accordance with this Law. Exhibits/instrumentalities of administrative violations which have been temporarily impounded or confiscated (if any) shall also be transferred to agencies receiving the penalty imposition decisions for execution, except exhibits which are live animals, plants, goods or items which are perishable or difficult to preserve according to regulations of laws and several other types of property as regulated by the Government.

Costs and expenses incurred from such transfer of documents, exhibits/instrumentalities of administrative violations shall be paid by violating individuals or organizations.

Article 72. Publishing of information on imposition of administrative penalties on mass media

1. Where an administrative violation in the field of food safety, quality of products and goods, pharmacy, medical examination and treatment, labour, construction, social insurance, health insurance, environmental protection, taxation, securities, intellectual property, metrology, or manufacturing and trading of banned and counterfeit goods, is committed and causes serious consequences or creates negative public opinions, the agency in charge of governing the person having power to impose administrative penalties shall publish information on such penalty imposition.

2. Such information to be published includes particulars of the violating individual or organization, description of the administrative violation, penalties and remedial measures.

3. Required information shall be published on the website or newspapers of ministerial- or provincial department-level regulatory authority or of the People's Committee of the provincial-level administrative division where the administrative violation is committed.

Article 73. Execution of decisions on imposition of administrative penalties

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The violating individual or organization that files a complaint or lawsuit against the decision on imposition of administrative penalties must still execute the decision, except the case prescribed in clause 3 Article 15 of this Law. Such complaint or lawsuit shall be settled in accordance with regulations of law.

2. The competent person who issues the penalty imposition decision shall monitor and examine the violating individual or organization’s execution of the decision, and notify the full execution of the decision to the agency in charge of managing the database on handling of administrative violations of the Ministry of Justice of Vietnam, and local justice agency.

Article 74. Prescriptive periods for execution of decisions on imposition of administrative penalties

1.[107] The prescriptive period for execution of a decision on imposition of administrative penalties is 01 year, starting from the issue date of such decision. Upon the expiry of this prescriptive period, execution of such decision shall not be needed any more, unless such decision prescribes a penalty imposed in a form of confiscation of exhibits/instrumentalities of administrative violations, and remedial measures.

2. If a violating individual or organization deliberately evades or delays the execution of the penalty imposition decision, the abovementioned prescriptive period shall start from the time of termination of such evasion or delay.

Article 75. Execution of decisions on imposition of administrative penalties in case the violator is dead or missing, or the violating organization is dissolved or declared bankrupt

If a violator is dead or missing, or a violating organization is dissolved or declared bankrupt, the fine imposition decision shall not be executed but the penalty imposed in the form of confiscation of exhibits/instrumentalities of the administrative violation and the remedial measure(s) specified in the penalty imposition decision must still be executed.

The Government shall elaborate this Article.

Article 76. Adjournment of execution of fine imposition decisions [108]

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) The violator faces a fine of VND 2.000.000 or more, or the violating organization faces a fine of VND 100.000.000 or more;

b) The violator is facing economic difficulties due to natural disaster, calamity, fire, epidemic, fatal disease or accident; the violating organization is facing special or unexpected economic difficulties caused by natural disaster, calamity, fire or epidemic.

In case the violator is facing economic difficulties due to natural disaster, calamity, fire, epidemic, fatal disease or accident, a certification of the People's Committee of the commune where he/she resides or the authority or organization where he/she is learning or working shall be required; if the violator is facing economic difficulties due to fatal disease or accident, a certification given by a health facility at the primary level[109] or higher level shall be required.

In case the violating organization is facing economic difficulties due to natural disaster, calamity, fire or epidemic, a certification of the People's Committee of the commune, the Management Board of industrial park, export processing zone, hi-tech zone, or economic zone, or its supervisory tax authority or superior authority shall be required.

2. The violating individual or organization shall send a written request for adjournment of execution of the fine imposition decision to the person who issued such fine imposition decision within the time limit prescribed in clause 2 Article 68 of this Law. Such request must be accompanied with the written certification given by the competent authority or organization as prescribed in clause 1 of this Article. Within 05 working days of receipt of the request, the person who issued the fine imposition decision shall consider issuing a decision on adjournment of such issued fine imposition decision.

The execution of a fine imposition decision may be adjourned for a period not exceeding 03 months from the issue date of the adjournment decision.

3. The violating individual or organization granted permission to adjourn the execution of the fine imposition decision may take back their documents, exhibits/instrumentalities of the administrative violation which are temporarily impounded as prescribed in clause 6 Article 125 of this Law.

Article 77. Fine reduction or exemption [110]

1. Partial reduction in the fine specified in a penalty imposition decision issued to the violating individual or organization that is granted permission to adjourn the execution of the fine imposition decision as prescribed in Article 76 of this Law may be granted if:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The violating organization continues to be in special or unexpected difficult economic situation caused by natural disaster, calamity, fire or epidemic, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune, the Management Board of industrial park, export processing zone, hi-tech zone, or economic zone, or its supervisory tax authority or superior authority.

2. A violator shall be exempt from payment of the remaining amount of the fine stated in the penalty imposition decision due to his/her incapability of executing such decision if one of the following circumstances occurs:

a) Despite being granted partial reduction in the fine as prescribed in clause 1 of this Article, the violator continues to be in a difficult economic situation caused by natural disaster, calamity, fire, epidemic, fatal disease or accident, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune where he/she resides, or the authority or organization where he/she is learning or working; 

b) The violator has made the first or second payment of the fine which can be paid in installments as prescribed in Article 79 of this Law but faces special or unexpected economic difficulties due to natural disaster, calamity, fire, epidemic, fatal disease or accident, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune where he/she resides or the authority or organization where he/she is learning or working; if the violator is facing unexpected economic difficulties due to fatal disease or accident, a certification given by a health facility at the primary level[111] or higher level shall be required.

3. The violating organization shall be exempt from payment of the remaining amount of the fine stated in the penalty imposition decision if the following conditions are fully met:

a) It has been granted partial reduction in the fine as prescribed in Clause 1 of this Article or has made the first or second payment of the fine which can be paid in installments as prescribed in Article 79 of this Law;

b) Additional penalties and remedial measures stated in the penalty imposition decision have been completely executed;

c) The violating organization continues to be in special or unexpected difficult economic situation caused by natural disaster, calamity, fire or epidemic, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune, the Management Board of industrial park, export processing zone, hi-tech zone, or economic zone, or its supervisory tax authority or superior authority.

4. A violator who is incapable of executing the penalty imposition decision shall be exempt from payment of the entire amount of the fine stated in such decision if one of the following circumstances occurs:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The violator incurs a fine of VND 2.000.000, or more, but is facing special or unexpected economic difficulties due to natural disaster, calamity, fire, epidemic, fatal disease or accident, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune where he/she resides or the authority or organization where he/she is learning or working; if the violator is facing unexpected economic difficulties due to fatal disease or accident, a certification given by a health facility at the primary level[112] or higher level shall be required.

5. A violating organization shall be exempt from payment of the entire amount of the fine stated in the penalty imposition decision if the following conditions are fully met:

a) It has been granted the adjournment of execution of the fine imposition decision as prescribed in Article 76 of this Law;

b) Additional penalties and remedial measures stated in the penalty imposition decision have been completely executed;

c) The violating organization continues to be in special or unexpected difficult economic situation caused by natural disaster, calamity, fire or epidemic, and provides a certification thereof given by the People's Committee of the commune, the Management Board of industrial park, export processing zone, hi-tech zone, or economic zone, or its supervisory tax authority or superior authority.

6. The violating individual or organization must send a written request for the fine reduction or exemption which is accompanied with a certification given by a competent authority as prescribed in Clauses 1, 2, 3, 4 and 5 of this Article to the person who issued the penalty imposition decision. Within 05 working days of receipt of the request, the person who issued the penalty imposition decision shall consider issuing a fine reduction or exemption decision, and notify the violating individual or organization of this decision; if a request for fine reduction or exemption is refused, reasons for such refusal must be clearly stated.

7. The violating individual or organization granted the fine reduction or exemption may take back their documents, exhibits/instrumentalities of the administrative violation which are temporarily impounded as prescribed in clause 6 Article 125 of this Law.

Article 78. Fine payment procedures

1.[113] Within the time limit for execution of the penalty imposition decision specified in clause 2 Article 68 or clause 2 Article 79 of this Law, the violating individual or organization shall pay the fine at the State Treasury or transfer it to the State Treasury's account specified in the penalty imposition decision, unless the fine has already been paid according to provisions of clause 2 of this Article. Upon the expiry of the abovementioned time limit, measures for enforcing the penalty imposition decision shall be taken, and the violating individual or organization shall pay an additional amount equaling 0,05% of total outstanding fine for each date of late payment.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Where a penalty imposition decision is issued at sea or before or after the office hours, the person having power to impose penalties may collect the fine directly and pay the collected fine to the State Treasury or transfer it to the State Treasury’s account within a maximum duration of 02 days from the day on which they return to shore or from the collection date.

3. Any fine imposed must be paid in lump sum, except the cases specified in Article 79 of this Law.

When collecting the fine, the collector shall give a fine receipt to the payer.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 79. Payment of fine in installments

1.[114] A fine may be paid in installments if the following conditions are fully met:

a) The violator faces a fine of VND 15.000.000 or more, or the violating organization faces a fine of VND 150.000.000 or more;

b) The violating individual or organization is facing special economic difficulties and thus submit a written request for permission to pay the fine in installments. Such a request submitted by the violator must bear certification of such economic difficulty situation given by the People's Committee of the commune where he/she resides or the authority or organization where he/she is learning or working. Such a request submitted by the violating organization must bear certification of such economic difficulty situation given by the People's Committee of the commune, the Management Board of industrial park, export processing zone, hi-tech zone, or economic zone, or its supervisory tax authority or superior authority.

2. Payment of the fine in installments must be completed within 06 months from the effective date of the penalty imposition decision. The fine shall be paid in no more than 03 installments.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. The person issuing a fine imposition decision is entitled to decide payment of the fine in installments. A written decision to pay the fine in installments must be made.

Article 80. Procedures for suspension of licenses/practicing certificates or suspension of operation for fixed period

1. In case the suspension of a license or practicing certificate for a fixed period is written in the penalty imposition decision, the person having power to impose penalties shall seize and preserve such license or practicing certificate and immediately send a notification thereof to the relevant licensing or issuing authority.  Upon the expiry of the suspension period specified in the penalty imposition decision, the person having power to impose penalties shall return the suspended license or practicing certificate to its holder.

2. In case of suspension of operation for a fixed period, the violating individual or organization shall immediately suspend part or all of their production and business, service provision or other activities as specified in the penalty imposition decision. 

3. During the period of suspension of license or practicing certificate or suspension of operation for a fixed period, the subject production, business and/or service establishment shall not be allowed to perform any of the activities specified in the penalty imposition decision. 

4. In the case specified in clause 1 or 2 of this Article, if the subject production, business and/or service establishment is found to be likely to actually cause harm to human life, health and/or the environment, the person having power to impose penalties shall notify relevant agencies in writing of the suspension of license or practicing certificate or suspension of operation for a fixed period.

5.[115] In case a license or practicing certificate is found to have been issued ultra vires or contain unlawful information, the person having power to impose penalties shall impound that license or practicing certificate and promptly issue a decision to revoke it within his/her competence; in case such revocation falls beyond his/her competence, the person having power to impose penalties shall impound that license or practicing certificate and, within 02 working days from the date of violation detection, transfer it to the relevant licensing or issuing authority or person to take further consideration in accordance with regulations of law, and give a notification of such transfer to the violating individual or organization.

Article 81. Procedures for confiscation of exhibits and instrumentalities

1. When confiscating the exhibits/instrumentalities of an administrative violation as prescribed in Article 26 of this Law, the person having power to impose penalties must make a confiscation record. Such a record must clearly indicate the name, quantity, type/category, registration number (if any), status and quality of the confiscated item, money, goods and/or instrumentalities, and bear signatures of the person in charge of such confiscation, the violator, or representative of the violating organization, and the witness; signatures of at least two witnesses are required in the absence of the signature of the violator or representative of the violating organization. Where the exhibit or instrumentality of the violation must be sealed, such sealing must be conducted in the presence of the violator, the representative of the violating organization, or the witness. Such sealing must be specified in the record.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The exhibits/instrumentalities confiscated must be managed and preserved in accordance with the Government’s regulations.

3.[116] The exhibits/instrumentalities of which decisions on confiscation have already been issued shall be handled in accordance with regulations of law on management and use of public property.

Article 82. [117] (abrogated)

Article 83. Management of revenues earned from imposition of administrative penalties, documents on collection and transfer of fines

1. Revenues earned from imposition of administrative penalties include fines, interests on late payment of fines, proceeds from sale or liquidation of confiscated exhibits and instrumentalities of administrative violations, and other amounts.

2. Revenues earned from imposition of administrative penalties must be entirely transferred to state budget, and shall be managed and used regulations of law on state budget.

Documents on collection and transfer of such revenues shall be managed in accordance with the Government’s regulations.

Article 84. Expulsion procedures

1. Before executing an expulsion decision, it must be notified to the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, diplomatic or consular mission of the country whose citizen the expelled person is or where he/she resided prior to entering Vietnam.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 85. Implementation of remedial measures

1. A remedial measure must be implemented within the time limit specified in the decision on imposition of administrative penalties or decision on imposition of remedial measures as prescribed in point b clause 2 Article 28 of this Law.

2. The violating individual or organization shall implement the remedial measures specified in the decision according to regulations of law and incur all costs arising from such implementation of remedial measures.

3. The competent person who issues the decision shall monitor, expedite and inspect the implementation of remedial measures by the violating individual or organization.

4. In case it is impossible to identify the violating entity as prescribed in clause 2 Article 65 of this Law, or the violator is dead or missing, or the violating organization has been dissolved or declared bankrupt, but there is not organization receiving relevant rights and obligations as prescribed in Article 75 of this Article, the agency in charge of governing the person who has the power to impose penalties and is handling the violation case shall organize the implementation of the remedial measures prescribed in clause 1 Article 28 of this Law.

Costs arising from the implementation of the remedial measures under the decision issued by the agency in charge of governing the person having power to impose penalties shall be covered using the state budget-derived reserve funding allocated to that agency.

5. In case of emergency where immediate action is required to remedy the consequences of the violation in order to protect the environment or ensure traffic safety, the agency in charge of governing the person who has the power to impose penalties and is handling the violation case shall organize the implementation of the remedial measures. The violating individual or organization shall repay costs arising from the implementation of remedial measures to the agency in charge of such implementation; if they fail to do so voluntarily, coercive measures shall be taken to enforce compliance.

Section 3. ENFORCING EXECUTION OF DECISIONS ON IMPOSITION OF ADMINISTRATIVE PENALTIES

Article 86. Enforcing execution of decisions on imposition of administrative penalties

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) The individual or organization subject to the decision on imposition of administrative penalties fails to voluntarily execute the decision as prescribed in Article 73 of this Law;

b) The violating individual or organization fails to voluntarily repay costs arising from implementation of remedial measures as prescribed in clause 5 Article 85 of this Law.

2. Measures taken to enforce execution of decisions on imposition of administrative penalties include:

a) Deduct money from salary or income or from account of the violating individual or organization;

b) Distrain the property whose value is equivalent to the fine for sale at auction;

c) Collect money and other property of the entity subject to enforcement of execution of the decision on imposition of administrative penalties which are kept by other individuals or organizations in case the violating individual or organization deliberately hides their property after committing the violation.

d) Enforce the implementation of the remedial measures mentioned in clause 1 Article 28 of this Law.

3. The Government shall provide specific regulations on enforcement of execution of decisions on imposition of administrative penalties.

Article 87. Power to issue enforcement decisions [119]

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



 a) The persons who have the power to impose penalties for administrative violations and are leaders or heads of the agencies or units specified in points a, b, c, dd, e, h, i, k, l, m and n clause 1 Article 37a hereof, and the Auditor General of the State Audit Office shall have the power to enforce decisions on imposition of administrative penalties which they issued or those issued by their subordinates.

The power to enforce decisions on imposition of administrative penalties of heads of audit teams shall be subject to regulations adopted by the Standing Committee of the National Assembly;

b) Competent persons of the agencies that receive decisions on imposition of administrative penalties for organization of execution thereof shall themselves issue or request their superiors to issue decisions to enforce such received decisions.

2. The persons having the power to issue enforcement decisions as prescribed in clause 1 of this Article may delegate power to their deputies. A power delegation decision must be made and clearly indicate the scope, contents and validity period of such delegation of power. Delegated deputies must assume responsibility to their heads or leaders and legal responsibility for their exercise of delegated powers. Delegated deputies are not allowed to sub-delegate those powers to others.

Article 88. Execution of enforcement decisions

1.[120] Within 02 working days from the issue date of a decision to enforce execution of decision on imposition of administrative penalties, the person issuing such decision shall send the issued decision to the person or organization subject to such decision, agency or body in charge of enforcement, and relevant individuals and organizations.

Persons issuing enforcement decisions shall organize the enforcement of execution of decisions on imposition of administrative penalties issued by themselves or their subordinates.

Sending enforcement decisions to relevant individuals and organizations shall conform to regulations laid down in Article 70 of this Law.

An enforcement decision shall be executed immediately upon receipt thereof by the person or organization subject to such decision.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2a.[121] The prescriptive period for execution of an enforcement decision starts from the date on which it is issued to the time when the decision on imposition of administrative penalties ceases to have effect as prescribed in clause 1 Article 74 of this Law. Upon the expiry of this prescriptive period, execution of such enforcement decision shall not be needed any more, unless the penalty imposition decision prescribes a penalty imposed in a form of confiscation of exhibits/instrumentalities of administrative violation, and remedial measures.

3. Responsibility to cooperate in executing enforcement decisions of relevant agencies and organizations:

a) Relevant agencies and organizations are obliged to cooperate with persons having power to issue enforcement decisions in implementing measures for executing such enforcement decisions;

b) People’s Public Security Forces are responsible for ensuring public order and safety during the execution of enforcement decisions issued by Chairpersons of People’s Committees of the same level or other regulatory authorities as requested;

c) [122] Each credit institution, State Treasury, or foreign bank branch where the person or organization subject to the enforcement decision maintains an account shall, within 02 working days of receipt of a written request from the person having power to issue the enforcement decision, provide information on conditions for execution of decision on imposition of administrative penalties of such person or organization; freeze an amount in the account equivalent to the amount payable by the person or organization subject to the enforcement decision, or freeze the entire account balance in case the account balance is less than the amount payable; and transfer the amount required to be paid from the account of such person or organization at the request of the person having power to issue enforcement decision. At least 05 working days prior to the aforesaid transfer activity, the credit institution, State Treasury, or foreign bank branch shall notify the person or organization subject to the enforcement decision of such transfer; such transfer shall not require the consent of the person or organization subject to the enforcement decision.

The Government shall elaborate this point.

Part three

APPLICATION OF ADMINISTRATIVE HANDLING MEASURES

Chapter I

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 89. Education at communes, wards or special zones [123]

1. “Education at communes, wards or special zones[124]” is an administrative handling measure imposed upon the violators specified in Article 90 of this Law with a view to educating and managing them at their places of residence in case it is not necessary to isolate them from community.

2. The duration of application of the “education at communes, wards or special zones[125]” measure is from 03 to 06 months.

Article 90. Violators subject to “education at communes, wards or special zones” measure [126]

1. A person aged from 12 to under 14 who deliberately commits an act denoting a very serious crime as defined in the Criminal Code.

2. A person aged from 14 to under 16 who deliberately commits an act denoting a serious crime as defined in the Criminal Code.

3. A person aged from 14 to under 16 who has incurred administrative penalties twice, and receives an administrative violation record issued at his/her third attempt within 06 months, for one of the following acts: disturbance of public order, property theft, gambling, fraud, or illegal racing.

4. A person aged from 16 to under 18 who has incurred administrative penalties twice, and receives an administrative violation record issued at his/her third attempt within 06 months, for one of the following acts: offending the dignity and honor of other persons; injuring or harming the health of other persons; illegally impoundment of property; destroying or intentionally damaging property of other persons; disturbance of public order; property theft; gambling; fraud; illegal racing, which does not constitute a criminal offence.

5.[127] (abrogated)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



7.[128] If the persons mentioned in clauses 1, 2, 3, and 4 of this Article do not have stable places of residence, they shall be assigned to social protection establishments or child support establishments for management and education during the period of implementation of the “education at communes, wards or special zones” measure.

Article 91. Placement of violator in reform school

1. “Placement of violator in reform school” is an administrative handling measure imposed upon the violators specified in Article 92 of this Law with a view to helping them attend educational and vocational training courses, work and live under the supervision and education of the reform school.

2. The duration of application of the “placement of violator in reform school” measure is from 06 to 24 months.

Article 92. Violators subject to “placement of violator in reform school” measure [129]

1. A person aged from 12 to under 14 who deliberately commits an act denoting an extremely serious crime as defined in the Criminal Code.

2. A person aged from 14 to under 16 who deliberately commits an act denoting a very serious crime or an extremely serious crime as defined in the Criminal Code, except for those crimes specified in clause 2 Article 12 of the Criminal Code.

3. A person aged from 14 to under 16 who commits any of the violations specified in clauses 2 and 3 Article 90 of this Law, and has previously been subjected to the “education at communes, wards or special zones[130]” measure.

4. A person aged from 16 to under 18 who commits any of the violations specified in clause 4 Article 90 of this Law, which does not constitute a criminal offence, and has previously been subjected to the “education at communes, wards or special zones[131]” measure.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) A person lacking administrative liability capacity;

b) A pregnant woman who has a certification given by a health facility at the primary level or higher[132];

c) A woman or the sole person responsible for taking care of a child under 36 months of age, with a certification given by the People’s Committee of the commune where he/she resides.

Article 93. Placement of violator in compulsory educational institution

1. “Placement of violator in compulsory educational institution” is an administrative handling measure imposed upon the violators specified in Article 94 of this Law with a view to forcing them to work, attend educational and vocational training courses, and live under the supervision of the educational institution.

2. The duration of application of the “placement of violator in compulsory educational institution” measure is from 06 to 24 months.

Article 94. Violators subject to “placement of violator in compulsory educational institution” measure

1.[133] The “placement of violator in compulsory educational institution” measure shall be imposed upon the following violators:

a) A person aged 18 or older who has incurred administrative penalties twice, and receives an administrative violation record issued at his/her third attempt within 06 months, for one of the violations specified in clause 6 Article 90 of this law which does not constitute a criminal offence, and does not have a stable place of residence;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The “placement of violator in compulsory educational institution” measure shall not be imposed upon the following violators:

a) A person lacking administrative liability capacity;

b) A person under 18 years of age;

c) A woman above 55 years of age, or a man above 60 years of age;

b) A pregnant woman who has a certification given by a health facility at the primary level[135] or higher[136];

dd) A woman or the sole person responsible for taking care of a child under 36 months of age, with a certification given by the People’s Committee of the commune where he/she resides.

Article 95. Compulsory drug rehabilitation [137]

Compulsory drug rehabilitation means an administrative handling measure applied to persons who commit violations against regulations of the Law on Prevention and Control of Narcotic Substances, under which they are required to undergo drug rehabilitation and participate in labour, general education and vocational training under the management of a public drug rehabilitation establishment.

Article 96. [138] (abrogated)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



PROCEDURES FOR MAKING REQUESTS FOR APPLICATION OF ADMINISTRATIVE HANDLING MEASURES

Article 97. Making requests for application of “education at communes, wards or special zones [139]” measure

1. A commune-level police chief in charge of the area where the violator mentioned in Article 90 of this Law resides or commits the violation may, either at their discretion or upon the request of the Chairperson of the commune-level Fatherland Front Committee or a representative of the grassroots-level residential unit, agency, or organization, make a request for application of the “education at communes, wards or special zones[140]” measure.

2. If a violator who is directly detected by [141] a provincial-level police authority during their investigation and handling of violation cases is not liable to criminal prosecution but falls into any of the cases prescribed in Article 90 of this Law, the police authority that is handling the violation case shall conduct verification and collection of documents, and make a request for application of the “education at communes, wards or special zones[142]” measure to that violator.

3. A request for application of the “education at communes, wards or special zones” measure includes a summary of the violator’s background, documents related to the violation, medical records (if any), the violator’s statement, and other relevant documents.

Such a request for application of the “education at communes, wards or special zones[143]” measure to the violator who is a minor must also include opinions given by the school, agency or organization where he/she is studying or working (if any), those of his/her parent or guardian.

4.[144] Authorities making requests as prescribed in clause 1 and clause 2 of this Article shall take responsibility for the legality of such requests. After completely making a request, the authority making such request shall notify the subject violator or his/her lawful representative in writing of such request; with regard to a minor, his/her parent or guardian must be notified of such request. These persons are entitled to read all documents in the request and keep record of necessary information within 03 working days from their receipt of such notification.

Article 98. Decision on application of “education at communes, wards or special zones” measure [145]

1.[146] Within 01 working day after expiry of the time limit for reading documents specified in clause 4 Article 97 of this Law, the authority making such a request as prescribed in clause 1 or 2 Article 97 of this Law shall send such request to Chairperson of the relevant commune-level People's Committee.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Within 02 working days[148] from the end of the consultation meeting specified in clause 1 of this Article, the Chairperson of the commune-level People's Committee shall consider issuing a decision on application of “education at communes, wards or special zones[149]” measure. Depending on each violator, the Chairperson of the commune-level People’s Committee shall decide to assign the violator to appropriate agency, organization or their family for supervision and education; if the violator does not have a stable place of residence, he/she will be assigned to a social protection establishment or child support establishment for supervision and education.

3. A decision on application of "education at communes, wards or special zones[150]” measure must clearly indicate the issue date of the decision; full name and position of the person issuing the decision; full name, date of birth and place of residence of the violator; description of the violation; articles and clauses of legislative documents applied; duration of application; effective date of the decision; responsibilities of agency, organization or family assigned to take charge of education and supervision of the violator; rights to file complaints and lawsuits as prescribed by law.

4. A decision on application of "education at communes, wards or special zones[151]” measure shall come into force from the day on which it is signed, and must be immediately sent to the violator, his/her family, commune-level People's Council, and relevant agencies and organizations.

5. All documents relating to the application of "education at communes, wards or special zones[152]” measure must be numbered and retained in accordance with regulations of the law on archives.

Article 99. Request for imposition of “placement of violator in reform school” measure [153]

1. Requests for application of “placement of violator in reform school” measure to the violators prescribed in Article 92 of this Law are made according to the following provisions:

a) With regard to a violator aged under 18 and having a stable place of residence, the Chief of Commune-level Police authority in charge of the place where such violator resides shall prepare the request documentation for imposition of " placement of violator in reform school " measure.

The request documentation includes: the violator’s CV; documents on the committed violations; applied educational measures; the violator’s statement, opinions of his/her parents or other lawful representative, opinions from the school, agency or organization where he/she is studying or working (if any) and other relevant documents;

b) With regard to a violator aged under 18 without a stable place of residence, the Chief of Commune-level Police authority in charge of the place where such violator commits the violation shall prepare the request documentation for imposition of "placement of violator in reform school " measure.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. If a person aged under 18 is found to be involved in a violation that is directly detected, investigated and handled or accepted by an agency or unit affiliated to the provincial-level police authority but is not serious to an extent that the violator is liable to criminal prosecution and thus should be sent to a reform school as prescribed in Article 92 of this Law, the agency or unit in charge of handling this case or lawsuit shall prepare and transfer a complete violation file to the competent commune-level police authority to prepare the request documentation for imposition of "placement of violator in reform school" measure.

In case the violation file received from the relevant agency or unit affiliated to the provincial-level police authority is inadequate, the chief of the commune-level police authority shall return it to the sending agency or unit for completing. The violation file must be completed within 02 working days after it is returned to the sending agency or unit. Within 02 working days from his/her receipt of an adequate violation file, the chief of the commune-level police authority shall prepare and send complete request documentation for imposition of "placement of violator in reform school" measure to the regional People’s Court.

The request documentation includes: the violator’s CV; documents on the committed violations; applied educational measures; the violator’s statement, and opinions of his/her parents, guardian or other lawful representative.

3. The agency or unit affiliated to the provincial-level police authority and the competent commune-level police authority preparing the request documentation for imposition of "placement of violator in reform school" measure shall assume responsibility for the legality of their provided documents. Upon completion of preparation of the request documentation, the commune-level police authority preparing the request documentation shall notify the violator subject to such request, his/her parents or other lawful representative in writing of such request. These persons are entitled to read all documents in the request and keep record of necessary information within 03 working days from their receipt of such notification.

Article 100. Consideration and decision to transfer request documentation for imposition of "placement of violator in reform school" measure to regional People’s Courts [154]

1. Within 03 working days from the expiry of the time limit for reading the request documentation specified in clause 3 Article 99 of this Law, the chief of the relevant commune-level police authority shall decide to request the relevant regional People’s Court to impose the "placement of violator in reform school" measure.

2. The request sent to the regional People’s Court to consider issuing a decision on imposition of "placement of violator in reform school" measure includes:

a) The request for imposition of "placement of violator in reform school" measure prescribed in Article 99 of this Law;

b) The written request for imposition of "placement of violator in reform school" measure prepared by the chief of the commune-level police authority.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



  [155]

1. Requests for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure to the violators prescribed in Article 94 of this Law are made according to the following provisions:

a) With regard to a violator having a stable place of residence, the chief of commune-level police authority in charge of the place where such violator resides shall prepare the request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure.

The request documentation includes: the violator’s CV; documents on the committed violations; applied educational measures; the statement of the violator or his/her lawful representative; other relevant documents;

b) If the violator does not reside at the place where he/she commits the violation, the chief of commune-level police authority shall conduct verification; in case the violator’s residence is determined, the violator and the record of his/her violation shall be transferred to the authority in charge of his/her place of residence for handling; in case the violator’s residence cannot be determined, the chief of commune-level police authority in charge of the place where the violation is committed shall prepare the request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure.

The request documentation includes: the record of violation; the violator’s CV; documents on the committed violations; report on verification of his/her previous convictions and offences; applied educational measures (if any); the statement of the violator or his/her lawful representative.

2. [156] (abrogated)

3. If a person is found to be involved in a violation that is directly detected, investigated and handled or accepted by an agency or unit affiliated to the provincial-level police authority but is not serious to an extent that the violator is liable to criminal prosecution and thus should be sent to a compulsory educational institution as prescribed in Article 94 of this Law, the agency or unit in charge of handling this case or lawsuit shall prepare and transfer a complete violation file to the competent commune-level police authority to prepare the request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure. In case the violation file received from the relevant agency or unit affiliated to the provincial-level police authority is inadequate, the commune-level police authority shall return it to the sending agency or unit for completing. The violation file must be completed within 02 working days after it is returned to the sending agency or unit. Within 02 working days from its receipt of an adequate violation file, the commune-level police authority shall prepare and send complete request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure to the regional People’s Court.

The request documentation includes: the violator’s CV; documents on the committed violations; applied educational measures; the statement of the violator or his/her lawful representative.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 102. Consideration and decision to transfer request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure to regional People’s Courts [158]

1. Within 03 working days from the expiry of the time limit for reading the request documentation specified in clause 4 Article 101 of this Law, the chief of the relevant commune-level police authority shall decide to request the relevant regional People’s Court to impose the "placement of violator in compulsory educational institution" measure.

2. The request sent to the regional People’s Court to consider issuing a decision on imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure includes:

a) The request documentation for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure as prescribed in Article 101[159] of this Law;

b) The written request for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure prepared by the chief of the commune-level police authority.

3. All documents relating to the request for imposition of "placement of violator in compulsory educational institution" measure must be numbered and retained in accordance with regulations of the law on archives.

Article 103. [160] (abrogated)

Article 104. [161] (abrogated)

Chapter III

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 105. Power to decide application of administrative handling measures

1. Chairpersons of Commune-level People’s Committees shall have the power to apply the “education in communes, wards or special zones[162]” measure.

2. Regional People's Courts[163] shall have the power to apply the following measures: placement of violator in reform school, and placement of violator in compulsory educational institution[164].

Article 106. Procedures for considering and deciding application of administrative handling measures

The National Assembly’s Standing Committee shall stipulate the procedures followed by People’s Courts to consider making decisions on application of the following measures: placement of violator in reform school, and placement of violator in compulsory educational institution[165].

Chapter IV

EXECUTION OF DECISIONS ON APPLICATION OF ADMINISTRATIVE HANDLING MEASURES

Article 107. Delivery of decisions on application of “placement of violator in reform school” and “placement of violator in compulsory educational institution” measures for execution [166]

Within 03 days from the date on which the decision on application of administrative handling measure takes effect, the People's Court that issues the decision shall send it to the person subject to the measure, the authority that sends the request for application of the administrative handling measure167], the People's Committee of the commune where such person resides, and other concerned authorities for execution as prescribed by law. A decision on application of “placement of violator in reform school” measure shall also be sent to the violator’s parent or lawful representative.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. The prescriptive period for execution of a decision on application of “education in communes, wards or special zones[168]” measure or “placement of violator in reform school” measure is 06 months, starting from the effective date of such decision.

2. The prescriptive period for execution of a decision on application of “placement of violator in compulsory educational institution” measure[169] is 01 year, starting from the effective date of such decision.

3. Where a person subject to a decision on application of administrative handling measure deliberately evades its execution, the prescriptive periods specified in clauses 1 and 2 of this Article shall start to run from the date on which such evasion ceases.

Article 109. Execution of decisions on application of “education at communes, wards or special zones” measure [170]

1. Upon its receipt of a decision on application of “education at communes, wards or special zones[171]” measure, the agency or organization assigned to take charge of education and supervision of the violator undergoing education shall:

a) Organize the implementation of such “education at communes, wards or special zones[172]” measure;

b) Assign a person directly taking charge of assisting the violator undergoing education;

c) Fill in a monitoring book and submit periodic reports to Chairperson of the relevant commune-level People’s Committee on the implementation of decision on application of “education at communes, wards or special zones[173]” measure;

d) Assist and encourage the violator undergoing education, and request the commune-level People’s Committee to create favorable conditions for him/her to find a job.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. The violator undergoing education must provide a written commitment to strictly complying with the decision on application of “education at communes, wards or special zones[174]” measure.

4. The family of the violator undergoing education shall closely cooperate with the person assigned to assist the violator undergoing education in supervising and educating the violator.

Article 110. Execution of decisions on application of “placement of violator in reform school” and “placement of violator in compulsory educational institution” measures [175]

1.[176] Within 05 days from its receipt of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” measure[177], the police authority preparing the request for application of such measure shall send the violator to the reform school or compulsory educational institution[178].

2. The duration of execution of the decision on application of administrative handling measure shall be calculated from the date on which the person required to comply with the decision is temporarily detained for transfer to the reform school or compulsory educational institution[179].

3. The Government shall elaborate the execution of decisions on application of “placement of violator in reform school” and “placement of violator in compulsory educational institution” measures[180].

Article 111. Adjournment of or exemption from execution of decisions on application of “compulsory placement of violator in reform school” and “placement of violator in compulsory educational institution” measures [181]

1. Where a person required to comply with the decision on application of administrative handling measure is not yet placed in a reform school or compulsory educational institution[182], he/she may be granted permission to adjourn the execution of such decision in the following cases:

a) He/she is suffering from a serious disease and has a certification given by a health facility at the primary level[183] or higher[184];

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The decision shall continue to be executed when the abovementioned event no longer exists.

2. Where a person required to comply with the decision on application of administrative handling measure is not yet placed in a reform school or compulsory educational institution[185], he/she may be exempted from the execution of such decision in the following cases:

a) He/she is suffering from a fatal disease and has a certification given by a health facility at the primary level or higher[186];

b) During the period of adjournment of the execution of the decision as prescribed in clause 1 of this Article, he/she is found to have made significant progress in complying with law, made a notable achievement, or successfully overcome drug addiction;

c) He/she is pregnant, with a certification given by a health facility at the primary level or higher[187].

3. The People's Court[188] that issues the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [189] measure shall consider issuing a decision on adjournment or exemption from execution of such decision on the basis of an application form submitted by the person required to comply with the decision or his/her lawful representative; where necessary, it may get opinions from the authority that sends the request for application of such measure before making final decision.

Such adjournment or exemption decision must be sent to the agency in charge of executing the decision and the person required to comply with the decision; if the person is granted permission to adjourn or exempted from the execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” is a minor, such adjournment or exemption decision must be also sent to his/her parent or lawful representative.

Article 112. Reduction in duration, suspension or exemption from execution of remaining period at reform schools or compulsory educational institutions [190]

1. If a person who has served half of the duration of the decision on application of the administrative handling measure at the reform school, compulsory educational institution, or compulsory drug rehabilitation establishment is found to have made significant progress or a notable achievement, he/she may be considered for partial reduction or exemption from the remaining period.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. The regional People’s Court[192] in charge of the area where the reform school, or compulsory educational institution[193] is located shall consider making decision on partial reduction in duration, suspension or exemption from execution of the remaining period as prescribed in clause 1 and clause 2 of this Article at the request of the Principal of the reform school, or Director of the compulsory educational institution[194].

A decision on suspension or exemption from execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [195] measure shall be sent to the People’s Court issuing such decision, the agency sending the request for application of such measure, the People’s Committee of commune where the person subject to the measure resides, the reform school or compulsory educational institution[196], the person who is suspended or exempted from execution of the decision and his/her family.

4. If a person who is suffering from a serious or fatal disease and thus is suspended or exemption from execution of the remaining period of the decision as prescribed in clause 2 of this Article does not have a stable place of residence, he/she shall be sent to the health facility located in the area where the reform school, or compulsory educational institution[197] is headquartered for receiving medical treatment.

Article 113. Management of persons granted permission to adjourn or suspend execution of decisions on application of “compulsory placement of violator in reform school”, and “placement of violator in compulsory educational institution” measures [198]

1. A person who is granted permission to adjourn or suspend the execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [199] measure shall present himself/herself at the People’s Committee of commune[200] where he/she resides.

2.[201] If, during the period of adjournment or suspension of execution of a decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” measure, the person granted such adjournment or suspension repeats the violation or there are grounds to believe that he/she is attempting to escape, the regional People’s Court that issued the adjournment or suspension decision shall invalidate the issued decision, and issue a decision to enforce the execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” measure.

3. Such a decision to enforce the execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [202] measure shall be sent to the Police Authority[203] in charge of the same area as the Court issuing that decision. Immediately after receiving the decision, the Police Authority shall organize the escorting of the person concerned to the reform school or compulsory educational institution.

Article 114. Expiry of duration of execution of decisions on application of administrative handling measures

1. When a violator has completed the execution of the decision on application of “education in communes, wards or special zones[204]” measure, the Chairperson of the commune-level People’s Committee shall issue a certificate to the violator, and send a copy thereof to his/her family.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Upon expiry of the duration of execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [209] measure, the violator who is a minor and does not have a stable place of residence, or who is sick and weak, and incapable of working shall be sent to the social protection establishment located in the area where the reform school or compulsory educational institution [210] is headquartered.

Chapter V

OTHER PROVISIONS ON APPLICATION OF ADMINISTRATIVE HANDLING MEASURES

Article 115. Temporarily transferring a person who is executing decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [211] measure from the place where he/she implements such measure at the request of criminal proceedings agency

1. At the request of a competent criminal proceedings agency, the Principal of the reform school or Director of compulsory educational institution or head of public drug rehabilitation establishment[212] shall decide to temporarily transfer the person subject to the administrative handling measure from the place where he/she implements such measure to participate in legal proceedings related to him/her.

2. The period of such temporary transfer shall be included in the duration of implementation of such measure.

Article 116. Transferring documents on persons subject to administrative handling measures in cases denoting crimes for criminal prosecution

1. When considering documents on a violation case to make decision on application of administrative handling measure, if a competent person finds that the violation denotes a crime, he/she shall immediately transfer such documents to the competent criminal proceedings agency.

2. If a violation is found to denote a crime after a decision on application of administrative handling measure has been issued but before expiry of the prescriptive period for initiating criminal prosecution, the Chairperson of the People’s Committee or People’s Court that issues the decision on application of administrative handling measure shall invalidate such decision and, within 03 days from the date of such invalidation, transfer all documents on the violation case to the competent criminal proceedings agency.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 117. Criminal prosecution against crimes committed before or during implementation of administrative handling measures

In case a violator who is subject to an administrative handling measure is found to commit a crime before or during his/her execution of the decision on application of such measure, the Chairperson of the People’s Committee of the commune where the “education at communes, wards or special zones[215]” measure is implemented, or the Principal of the reform school, or the Director of the compulsory educational institution[216] shall, at the request of a competent criminal proceedings agency, issue a decision to suspend the execution of the decision on application of administrative handling measure, and transfer all relevant documents on the violator to the criminal proceedings agency; if an imprisonment sentence is imposed by the Court, the violator shall be exempted from execution of the remaining period of the decision on application of administrative handling measure; if a penalty other than imprisonment is imposed, the violator may be required to continue executing the decision on application of administrative handling measure.

Article 118. [217] (abrogated)

Part four

MEASURES FOR PREVENTING AND ENSURING HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS

Chapter I

GENERAL PROVISIONS ON MEASURES FOR PREVENTING AND ENSURING HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS

Article 119. Measures for preventing and ensuring handling of administrative violations

In order to promptly prevent the commission of administrative violations or ensure the handling of administrative violations, competent persons may apply the following measures following administrative procedures:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Escorting of violator;

3. Impoundment of exhibits/instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates;

4. Body search;

5. Search of vehicles, items;

6. Search of places where exhibits/instrumentalities of administrative violations are hidden;

7. Management of foreigners who commit violations of the law of Vietnam pending completion of expulsion procedures;

8. Assignment of families or other organizations to take charge of supervising violators subject to administrative handling measures pending completion of procedures for application of such measures;

9. Seeking for persons required to comply with decisions on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution”[218] measures in case they abscond.

Article 120. Rules for application of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Measures for preventing and ensuring handling of administrative violations shall only apply where they are deemed necessary as prescribed in Chapter II of this Part.

3. Persons who issue decisions on application of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations shall assume responsibility for their issued decisions.

4. Use of weapons or support instruments for implementing measures for preventing and ensuring handling of administrative violations must comply with regulations of law.

Article 121. Cancellation or replacement of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations

1. A decision on application of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations must be cancelled if such measures are no longer suitable for the purposes and conditions prescribed in this Law.

2. A competent person who issues a decision on application of measures for preventing and ensuring handling of administrative violations shall decide to cancel the applied preventive measure if it is deemed unnecessary or replace it with another one.

Chapter II

POWER AND PROCEDURES FOR APPLYING MEASURES FOR PREVENTING AND ENSURING HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS

Article 122. Administrative detention of concerned persons 

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Prevent or promptly terminate his/her acts of disturbing public order or causing injuries to others;

b) Prevent or promptly terminate acts of smuggling or illegal transport of goods across the border;

c) Execute the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” measure [220];

d) Keep the perpetrator who violates the restraining order in accordance with regulations of law on domestic violence prevention and control;

dd) Determine the drug addiction status of the person who is illegally using narcotic substances.

2. In all cases of detention, a written decision must be made and a copy of this decision must be delivered to the detainee.

3.[221] The duration of administrative detention shall not exceed 12 hours; where necessary, the detention duration may be extended but not exceed 24 hours from the start time of detention; if a violator is detained at border area or remote, isolated mountainous area or island, the detention duration shall start from the time the violator is escorted to detention facility.

In case a person is detained to serve determination of his/her drug addiction status as prescribed at point dd clause 1 of this Article, the detention duration may be longer but not exceed 05 days from the detention start time.

A person detained aboard an aircraft or seagoing vessel shall be immediately transferred to competent authorities after the aircraft arrives at the airport or the seagoing vessel arrives at the port

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5.[222] Facilities used for administrative detention of persons shall be administrative detention houses or rooms located at the offices of the agencies or units where the persons having power to issue detention decisions are serving. If there administrative detention houses or rooms are unavailable, the detention may take place at on-call duty rooms or other rooms at workplace, but shall conform to general regulations.

Agencies performing the functions of preventing and controlling violations that regularly have to temporarily detain violators who commit administrative violations shall arrange, design and build separate administrative detention houses or rooms for minors, women or foreigners, and assign specialized officers to assume management and protection duties.

With regard to cases of detention of the persons prescribed at point dd clause 1 of this Article, detention places shall be detention areas located at public drug rehabilitation establishments[223] of provinces or cities[224], administrative detention houses or rooms.

With regard to aircrafts, ships or trains already leaving airports, ports, stations or terminals, depending on the specific conditions and types of violators, the pilots in command, captains or masters shall decide the detention places and assign people to carry out detention activities.

6. Detention of persons committing administrative violations at criminal detention or pre-trial detention rooms or any places which do not meet hygiene or safety standards for detainees is prohibited.

7. The Government shall elaborate this Article.

Article 123. Power to decide detention of persons under administrative procedures [225]

1.[226] In the cases prescribed in clause 1 Article 122 of this Law, the following persons having the power to impose penalties for administrative violations shall have the rights to issue administrative detention decisions:

a) Chairpersons of People’s Committees at any levels;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Heads of border guard posts, Commanding Officers of Border Guard Commands at port border checkpoints, Captains of Naval Border Guard Flotillas; Captains of Naval Border Guard Squadrons; Heads of Task Force Commissions for Drug and Crime Prevention and Control, and Chief Commander of the Border Guard Command;

d) Captains of Coast Guard Flotillas, Captains of Coast Guard Squadrons, Regional Commanders and Heads of Commissions of the Coast Guard;

dd) Unit heads, team leaders, sub-department directors and station heads of agencies and units in charge of managing forestry and forest protection, fisheries and fisheries surveillance;

e) Heads of border checkpoint customs offices; heads of out-of-checkpoint customs offices; heads of customs control teams of regional Sub-departments of Customs; heads of smuggling control teams of Smuggling Investigation and Prevention Sub-departments;

g) Leaders of market surveillance teams of Market Surveillance Sub-departments affiliated to provincial-level Departments of Industry and Trade; heads of market surveillance divisions affiliated to the Agency for Domestic Market Surveillance and Development;

h) Presiding judges.

2. Persons having power to issue detention decisions as prescribed in points a through i clause 1 of this Article may delegate the administrative detention authority to their deputies during their absence. A power delegation decision must be made and clearly indicate the scope, details and validity period of such delegation of power. Delegated deputies must assume responsibility to their heads or leaders and legal responsibility for their exercise of delegated powers. Delegated deputies are not allowed to sub-delegate those powers to others.

Article 124. Escorting of violators

1. Violators failing to voluntarily comply with requests of competent persons shall be escorted in the following cases:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) [227] Sending or returning the violators specified in clause 1 Article 111, clause 2 Article 112, who fail to voluntarily comply after necessary conditions for adjournment or suspension of the decisions no longer exist, and the violators specified in clause 2 Article 132 of this Law to reform schools, or compulsory educational institutions [228];

c) [229] The violator is required to undergo testing for drugs in his or her body.

2. Competent persons on duty shall take charge of escorting the violators.

3. The Government elaborates this Article.

Article 125. Administrative impoundment of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses and/or practicing certificates

1. The administrative impoundment of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses, or practicing certificates shall only be applied for the following purposes:

a) [230] The impoundment is meant to serve the determination of the administrative violation or clarification of the facts of the violation and establish the grounds for making the record of the administrative violation or issuing the penalty imposition decision, including the case where such impoundment is made to serve the determination of the value of the exhibits of the violation which is the basis for determining the fine bracket and power to impose administrative penalties as prescribed in Article 60 of this Law;

b) Immediate prevention of the violation which may lead to serious social consequences;

c) [231] The impoundment is meant to serve the execution of the penalty imposition decision as prescribed in clauses 6 and 7 of this Article.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



In case of payment of fine in installments as prescribed in Article 79 of this Law, the violator shall, after making the first payment, be entitled to receive the impounded exhibits/instrumentalities.

3.[232] Persons having power to impose the penalty of confiscating exhibits/instrumentalities of administrative violations prescribed in Chapter II Part Two of this Law shall have power to issue decisions on impoundment of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses or practicing certificates. Power to make impoundment decisions shall not depend on values of exhibits/instrumentalities of administrative violations.

4.[233] If there is any ground prescribed in clause 1 of this Article, the impoundment of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses and/or practicing certificates shall be carried out as follows:

a) The competent person in charge of handling the case shall make a record of impoundment of the exhibits and instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates as prescribed in clause 9 of this Article;

b) If the person competent to make the record of administrative violation carries out the impoundment when making such record of administrative violation, the record of impoundment is not required. In this case, the record of administrative violation must clearly indicate the names, quantities, categories and current conditions of the exhibits and instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates impounded;

c) Within 24 hours after the record is made, the record maker shall report to the person having the power to decide the impoundment on the impounded exhibits and instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates to seek his/her impoundment decision of which 01 copy must be delivered to the violating individual or representative of the violating organization;

d) Exhibits and instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates must be immediately returned if no impoundment decision is issued;

dd) The person impounding the exhibits which are perishable goods must promptly report such impoundment to his/her direct superior for further actions, and must pay compensation as prescribed by law for any goods left damaged or lost.

5.[234] The person making the impoundment record, the person issuing the impoundment decision shall be responsible for taking care of exhibits/instrumentalities of the administrative violation, license or practicing certificate. In case any exhibit/instrumentality of the administrative violation, license or practicing certificate is lost, illegally sold, swapped or damaged, short of components or replaced, the person issuing the impoundment decision shall have the burden of paying compensation and incur penalties as prescribed by law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Live animals and plants;

b) Goods or articles that are perishable or difficult to be stored as prescribed by law.

c) [236] Oversized or overweight goods as prescribed by law;

d)[237] Other goods which cannot be sealed as prescribed by law.

5b.[238] In order to attach security seal on the impounded exhibits/instrumentalities of the administrative violation, such sealing activity shall be witnessed by the violator; if the violator is absent, the sealing shall be witnessed by the representative of the violator’s family, the violating organization’s representative or the representative of the commune-level authority, or by at least 01 person.

5c.[239] Records of and decisions on impoundment of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses or practicing certificates may be made, issued or sent electronically.

6. In case only a fine is imposed upon the violating individual or organization, the person having power to impose penalties shall have the rights to impound one of the following documents in order: the driver's license, vehicle registration certificate, or other necessary documents related to the exhibit/instrumentality of the violation until the violating individual or organization has fully complied with the penalty imposition decision. If the abovementioned documents are not available, the person having power to impose penalties shall impound the exhibit/instrumentality of the administrative violation, except the cases prescribed in clause 10 of this Article.

7. In case a violating individual or organization is liable to the penalty in the form of suspension of license or practicing certificate, such license or practicing certificate may be impounded to ensure the execution of the penalty imposition decision. Impoundment of a license or practicing certificate pending issuance of the penalty imposition decision shall not influence the rights of the license or certificate holder.

8.[240] The duration of impoundment of exhibits/instrumentalities of an administrative violation, license or practicing certificate shall not exceed 07 working days from the commencement date; in case documents on the violation case must be transferred to a person having power to impose penalties, the duration of impoundment shall not be longer than 10 working days from the commencement date.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The duration of impoundment of exhibits/instrumentalities of an administrative violation, license or practicing certificate shall start from the date on which they are impounded in reality.

The duration of impoundment of exhibits/instrumentalities of an administrative violation, license or practicing certificate shall not be longer than the time limit for issuance of a penalty imposition decision prescribed in Article 66 of this Law. In case the impoundment is meant to ensure the execution of the penalty imposition decision prescribed in point c clause 1 of this Article, the duration of impoundment shall expire after completely executing such a decision.

The person having power to issue impoundment decision must issue decisions on impoundment and extension of duration of impoundment of exhibits/instrumentalities of the administrative violation, license or practicing certificate.

9.[241] A record of impoundment of exhibits/instrumentalities of an administrative violation, license or practicing certificate shall clearly indicate names, quantity, categories or types, current state of the impounded exhibits/instrumentalities of an administrative violation, license or practicing certificate, and bear signatures of the person carrying out the impoundment, the violator or the violating organization's representative; in case there is none of the violator’s signature, the signature of at least one witness is required. This record shall be made into 02 copies, one of which is sent to the violator or the violating organization’s representative.

10.[242] Regarding means of transport involved in an administrative violation which must be impounded to ensure the execution of the penalty imposition decision, if the violating individual or organization has a clear address, a storage facility or the financial capacity to provide financial guarantee, they may still keep such means of transport under the management of a competent authority.

11.[243] The Government shall elaborate this Article.

Article 126. Handling of exhibits/instrumentalities of administrative violations, licenses or practicing certificates impounded under administrative procedures

1.[244] The person issuing the impoundment decision must handle the impounded exhibits and instrumentalities of the administrative violation, licenses and/or practicing certificates adopting the measure specified in the issued impoundment decision or return them to the violating individual or organization if they are not subject to confiscation measure.

If the exhibits and/or instrumentalities are impounded after they are found to have been appropriated or illegally used for committing the administrative violation, and are subject to confiscation measure, they shall be returned to their owner, custodians or lawful users; violating individual or organization must pay an amount equivalent to the value of such exhibits and/or instrumentalities of the administrative violation to state budget. In case the owner, custodian or lawful user is found to have deliberately let the violating individual or organization use such exhibits and/or instrumentalities for committing the violation as prescribed in Article 26 of this Law, such exhibits and/or instrumentalities shall be confiscated and transferred to state budget.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



If the impounded exhibit or instrumentality of the violation has been put up as collateral for a bad debt and is not subject to confiscation measure, upon termination of impoundment, it must be returned at the request of the creditor that is a credit institution, foreign bank branch or debt trader.

2. Exhibits/instrumentalities, licenses or practicing certificates which are impounded to ensure the execution of penalty imposition decisions as prescribed in clause 6 Article 125 of this Law must be returned to violators immediately after completing execution of such decisions.

3. The person who issues the impoundment decision shall immediately organize the sale of the impounded exhibits which are perishable goods or items at the market prices. A written record of such sale of exhibits shall be required. Proceeds from sale of the exhibits must be transferred to the temporary custody account[245] opened at the State Treasury. If such exhibits are then confiscated according to a competent person’s decision, the proceeds shall be paid to state budget; if they are not confiscated, the proceeds shall be returned to their lawful owner, custodian or user.

4.[246] Upon expiration of the duration of impoundment of exhibits/instrumentalities which are impounded according to regulations of points a and b clause 1 Article 125 of this Law, if violators, lawful owners, custodians or users do not come to claim them without any sound reasons, they shall be disposed of as follows:

a) In case the violator, or lawful owner, custodian or user of exhibits/instrumentalities is identified, the person issuing the impoundment decision shall notify them twice. The first notification shall be issued within 03 working days from the expiration of the duration of impoundment thereof.  The second notification shall be issued within 07 working days from the date of issue of the first notification.  After the period of 01 month from the second notification date, if the violator, or lawful owner, custodian or user does not come to claim them, within 05 working days, the competent person shall issue a decision to confiscate such exhibits/instrumentalities;

b) In case the violator, or lawful owner, custodian or user of exhibits/instrumentalities is unidentifiable, the person issuing the impoundment decision shall make 02 attempts in notifying this via central or local mass media at the local area where they are impounded.   The first notification shall be issued within 03 working days from the expiration of the duration of impoundment thereof.  The second notification shall be issued within 07 working days from the date of issue of the first notification.  After the period of 01 year from the second notification date, if the violator, or lawful owner, custodian or user does not come to claim them, within 05 working days, the competent person must issue a decision to confiscate such exhibits/instrumentalities.

c) [247] After the second notification has been made as prescribed in point b of this clause, the person issuing the impoundment decision shall: take actions according to point dd clause 4 Article 125 of this Law, for the exhibits and/or instrumentalities which are likely to be deteriorated or degraded during their preservation and management; or take actions according to clause 5 of this Article, for exhibits and/or instrumentalities which pose risks of fire and explosion, causing environmental pollution or adversely affecting community health during their preservation and management.

Proceeds from sale of the exhibits and/or instrumentalities must be transferred to the dedicated account opened at the State Treasury. Upon the expiry of the period specified in point b of this clause, if the violating entity, owner, custodian or lawful user of the exhibits and/or instrumentalities does not appear to claim such proceeds, they shall be paid to state budget.

Exhibits and/or instrumentalities of administrative violations in case of unknown violating entities, owners, custodians or lawful users shall be handled in accordance with the Government's regulations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4b.[249] Upon the expiration of the duration of impoundment of a license or practicing certificate, or the prescriptive period for execution of decision on imposition of administrative penalties, if the violator does not come to claim it back without sound reasons, within 10 working days from such expiration date, the person having power to issue impoundment decision shall transfer the impounded license or practicing certificate to the licensing or issuing authority to proceed to carry out revocation procedures in accordance with laws, and inform the violator of such transfer.

5. Exhibits/instrumentalities which are goods and items which cause harm to human health, domestic animals, plants, and the environment, or harmful cultural products shall be destroyed as prescribed in Article 33 of this Law.

6.[250] With regard to narcotic substances and items banned from possession or circulation, the confiscation or destruction thereof shall comply with regulations of this Law.

7. Persons who are owners of impounded exhibits/instrumentalities shall pay costs of warehousing, storage and preservation, and other relevant costs arising during the impoundment of such exhibits/instrumentalities as prescribed in clause 8 Article 125 of this Law.

Owners of impounded exhibits/instrumentalities shall not be required to pay such costs of warehousing, storage and preservation during the impoundment if they are not at fault for the administrative violations or such exhibits/instrumentalities are subjected to confiscation penalty.

The Government shall elaborate costs associated with impoundment of exhibits/instrumentalities prescribed in Article 125 of this Law.

Article 127. Administrative body search

1. Administrative body search shall only be conducted if there are grounds to believe that a person conceals on their person any items, documents and/or instrumentalities used for committing an administrative violation.

2. Persons specified in clause 1 Article 123 of this Law shall have the rights to issue decisions on administrative body search.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. A written decision on body search shall be required, unless the body search must be conducted immediately as prescribed in the paragraph 2 clause 2 of this Article.

4. Before conducting the body search, the searched person must be notified of the body search decision. The search of a person’s body shall be carried out by a person of the same gender and witnessed by other individual(s) of the same gender.

5. A record of the body search shall be required in all cases. The searched person must be provided with a copy of each of the body search decision and the body search record.

Article 128. Administrative search of vehicles and items

1. Administrative search of a vehicle or item shall only be conducted if there are grounds to believe that exhibits of an administrative violation are concealed therein.

2. Persons specified in clause 1 Article 123 of this Law shall have the rights to issue decisions on administrative search of vehicles and items.

3. In case there are grounds to believe that if the search is not immediately conducted, the exhibits of an administrative violation may be hidden or destroyed, in addition to the persons specified in clause 2 of this Article, soldiers of people’s public security forces, police officers of the coast guard forces, soldiers of the border guard forces, forest rangers, tax officials, customs officials, market controllers, and inspectors on duty may conduct the administrative search of vehicles and items, and immediately submit reports on the search to their heads or leaders, and also assume responsibility for the search.

4. A written decision on the search of vehicle or item shall be required, except the case prescribed in clause 3 of this Article.

Search of a vehicle or item requires the presence of its owner or vehicle operator and at least 01 witness. If the vehicle or item owner or vehicle operator is absent, the search shall be conducted in the presence of at least 01 witness[251].

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 129. Search of places where exhibits/instrumentalities of administrative violations are hidden

1. Search of a place where exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden shall only be conducted if there are grounds to believe that the exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden therein.

2. Persons specified in clause 1 Article 123 of this Law shall have the rights to issue decisions on search of places where exhibits/instrumentalities of administrative violations are hidden; if exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden at a person’s residence, the search of residence shall be subjected to a decision issued by the Chairperson of the People’s Committee of commune where such person resides252].

3. Search of a place where exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden requires the presence of the owner of such a place or his/her family member who must be an adult, and witness(es).  If the owner of the searched place or his/her family member who is an adult is absent, the search, if not deferrable, shall be conducted in the presence of at least 01 witness[253].

4. Search of a place where exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden at night shall not be permitted, except for emergency circumstances or an ongoing search which must be specified in the search record.

5. A written decision and a record of the search of place where exhibits/instrumentalities of an administrative violation are hidden shall be required in all cases. The owner of the searched place must be provided with a copy of each of the search decision and the search record.

Article 130. Management of foreigners who commit violations of the law of Vietnam pending completion of expulsion procedures

1. Management of a foreigner who commits a violation of the law of Vietnam pending completion of expulsion procedures shall apply if there are grounds to believe that, in the absence of this measure, such foreign violator shall evade or obstruct the execution of expulsion decision, or that this measure is meant to prevent him/her from continuing commission of the violation.

2. Head of Immigration Authority or Director of Police Authority at provincial level that makes a request for imposition of expulsion penalty shall make a decision on management of a foreigner who commits a violation of the law of Vietnam pending completion of expulsion procedures by means of:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Designating the managed person’s place of residence;

c) Impounding the managed person’s passport or another personal paper used as a replacement for passport.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 131. Managing violators subject to administrative handling measures pending completion of procedures for application of such measure [254]

1. If a violator who is subjected to a request for application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [255] measure has a stable place of residence, the competent authority or person shall prepare necessary documents on decision to assign the management of such violator to his/her family during the period in which procedures for consideration and decision on the application of the administrative handling measure are carried out.

2.[256] If a violator has no stable place of residence, or has a stable place of residence but their family does not agree to supervise him/her, the competent authority or person shall, during the period in which procedures for consideration and decision on application of the “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” measure are carried out, prepare necessary documents for decision to assign the management of such violator to the police authority of commune where he/she resides or commits the violation.

3.[257] The period of management shall be calculated from the date of preparation of the request documentation until the date on which the competent person transfers the violator for application of the administrative handling measure under a Court’s decision.

The period during which the violator is managed at a center or establishment as prescribed in point a clause 2 of this Article shall be credited against the period of application of the administrative handling measure.

4. A decision to put a violator under the management of his/her family or the relevant agency or organization shall clearly state: date of issue of the decision; full name and position of the decision maker; full name, date of birth, place of residence of the person assigned to take charge of management tasks, or name and address of the agency or organization assigned to take charge of management tasks; full name, date of birth, and place of residence of the violator; reasons, duration and responsibilities of the violator, responsibilities of the person or agency or organization assigned to take charge of management tasks, and responsibilities of the People's Committee of the commune where the violator resides; signature of the decision maker. This decision shall be immediately sent to the violator’s family or the agency or organization assigned to take charge of management tasks, and the violator for execution.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Do not let the violator continue to commit any violation;

b) Ensure that the violator shall be present at the time of issuance of a decision to place them in a reform school or compulsory educational institution[258];

c) Promptly report to the competent authority or person issuing decision to assign the management tasks in case where the violator absconds or commits another violation.

6. During the management period, the violator shall discharge the following responsibilities:

a) Strictly comply with regulations of law on temporary residence or absence. When moving from a commune, ward or special zone[259] to another one, their family, agency or organization assigned to take charge of supervision shall be notified of the address and duration of their temporary residence there;

b) Turn up at the office of the competent authority or person preparing documents on their case upon request.

7. During the management period, the competent authority or person making the management decision shall discharge the following responsibilities:

a) Inform the violator and their family, agency or organization assigned to take charge of management of their rights and obligations during the management period;

b) Implement measures to assist the violator's family, agency or organization assigned to take charge of management tasks in managing and supervising the violator;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. The Government shall elaborate this Article.

Article 132. Seeking for persons subjected to decisions on application of “placement of violator in reform school” and “placement of violator in compulsory educational institution” [260] measures in case they abscond

1. If violator who is subjected to an effective decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution”[261] measure absconds before he/she is sent to that school or institution, the police authority[262] that prepares documents on the case shall issue a decision to seek the violator.

2. If a violator who is executing the decision at a reform school or compulsory educational institution[263] absconds, the Principal of the reform school or Director of the compulsory educational institution[264] shall issue a decision to seek the violator. Police authorities shall cooperate with the reform school or compulsory educational institution [265] in seeking and returning the violator to that school or institution.

3.[266] In case a person subjected to a decision on application of “placement of violator to reform school” measure as specified in clause 1 of this Article reaches the age of 18 at the time when he/she is successfully found, the commune-level Police Authority[267] that prepares documents on the case shall request the regional People’s Court[268] to consider issuing a decision on application of “placement of violator in compulsory educational institution” measure, provided that necessary conditions for application of this measure are satisfied.

In case a person who is executing the decision at the reform school as specified in clause 2 of this Article reaches the age of 18 at the time when he/she is successfully found, the Principal of the reform school shall prepare and send a request to the regional People’s Court [269] in charge of the area where the reform school is located for issuance of a decision on application of “placement of violator in compulsory educational institution” measure, provided that necessary conditions for application of this measure are satisfied.

4. The duration of abscondment shall be excluded from the duration of execution of the decision on application of “placement of violator in reform school” or “placement of violator in compulsory educational institution” [270] measure.

Part five

PROVISIONS ON MINORS COMMITTING ADMINISTRATIVE VIOLATIONS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



GENERAL PROVISIONS ON HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS COMMITTED BY MINORS

Article 133. Scope of application

Handling of administrative violations committed by minors shall comply with provisions of Part five and other relevant provisions of this Law.

Article 134. Handling rules 

In addition to the rules for handling of administrative violations laid down in Article 3 of this Law, handling of administrative violations committed by minors shall be also comply with the following rules:

1. Handling of administrative violations committed by minors shall be carried out only when necessary and solely for the purpose of educating and assisting them in correcting their mistakes, developing in a healthy manner, and becoming useful citizens.

Persons having power to handle administrative violations shall, during handling of administrative violations committed by minors, ensure the best interests of such minors. The “placement of violator to reform school” measure shall only be applied if it is deemed that no other handling measure is more appropriate;

2. Handling of an administrative violation committed by a minor shall take into account the minor's capacity to perceive the social harm caused by the violation, the causes and circumstances of the violation, in order to determine whether to  impose administrative penalties or apply administrative handling measures;

3.[271] A penalty or fine imposed upon a minor shall be lighter or smaller than that imposed upon an adult for committing the same administrative violation.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



In case a person aged 16 to under 18 commits an administrative violation, and thus incurs a fine, the fine imposed shall not exceed one half of the fine imposed upon an adult for committing the same violation; where he/she is required to pay an amount equivalent to the value of exhibits/instrumentalities of the administrative violation to state budget as prescribed in clause 1 Article 126 of this Law, the amount paid to state budget shall be a half of the value of exhibits/instrumentalities. If a violator has no money to pay the fine or is unable to implement remedial measures, his/her parent or guardian shall be responsible for doing so in their stead;

4. During consideration and handling of administrative violations committed by minors, personal secrets of minors shall be respected and protected;

5. Alternative measures for handling administrative violations shall be considered for application where all conditions set out in Chapter II of this Part are satisfied. Application of these alternative measures shall not be deemed to have been subjected to administrative penalties or administrative handling measures.

Article 135. Imposition of penalties and remedial measures

1. Penalties imposed upon minors include:

a) Warning;

b) Fine;

c) Confiscation of exhibits/instrumentalities of administrative violations.

2. Remedial measures imposed upon minors include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Enforced implementation of measures for controlling environmental pollution and the spread of epidemics;

c) Enforced destruction of goods and items which cause harm to human health, domestic animals, plants and the environment; harmful cultural products;

d) Enforced transfer of illegal benefits obtained from administrative violations or enforced transfer of the amounts equivalent to the value of the exhibits/instrumentalities of administrative violations which have been sold, liquidated, hidden or destroyed inconsistently with the law.

Article 136. Application of administrative handling measures

1. “Education at communes, wards or special zones[272]” measure shall be applied to minors committing violations of law according to provisions of Chapter I Part three of this Law. Minor who are subjected to the “Education at communes, wards or special zones[273]” measure shall be put under the supervision of their parents or guardians, or sent to social protection establishments or child support establishments if they do not have stable places of residence; they are entitled to go to schools, or attend other educational or vocational training courses; participate in community-based life skill development and counseling programs.

2. “Placement of violator in reform school” measure shall be applied to minors committing violations of law according to provisions of Chapter II Part three of this Law.

Article 137. Periods after which minors are treated as if they had not been subjected to administrative penalties or administrative handling measures

1. If, within 06 months from the date on which a minor committing an administrative violation has fully compiled with the penalty imposition decision or from the date of expiration of the prescriptive period for executing the penalty imposition decision, they do not re-commit that violation, they shall be treated as if they had not been subjected to such administrative penalties.

2. If, within 01 year from the date on which a minor subjected to an administrative handling measure has fully complied with the decision on application of such measure, or from the date of expiration of the prescriptive period for executing that decision, they do not re-commit the violation specified in that decision, they shall be treated as if they had not been subjected to such a measure.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



ALTERNATIVE MEASURES FOR HANDLING ADMINISTRATIVE VIOLATIONS COMMITTED BY MINORS

Article 138. Alternative measures for handling administrative violations

Alternative measures for handling administrative violations committed by minors include:

1. Reprimand;

2. Family-based supervision;

3.[274] Community-based education.

Article 139. Reprimand

1. Reprimand is an alternative measure for handling administrative violation, used to point out violations committed by a minor. It shall be imposed upon a minor who commits an administrative violation for which penalties must be imposed as prescribed by law, provided that the following conditions are met:

a) The minor commits an administrative violation for which a warning shall be imposed as prescribed;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Pursuant to provisions of clause 1 of this Article, the person having power to impose penalties shall decide to issue a reprimand.

The reprimand shall be given orally and on the spot.

Article 140. Family-based supervision

1.[275] Family-based supervision is an alternative measure for handling administrative violation, applied to minors mentioned in clauses 3 and 4 Article 90 of this Law when the following conditions are met:

a) The minor has voluntarily reported the violation and has shown genuine remorse for committing it.

b) The minor has a favorable living environment for the implementation of this measure;

c) Their parent or guardian has enough conditions for performing family-based supervision task and voluntarily assume this task.

2. Pursuant to provisions of clause 1 of this Article, Chairperson of the commune-level People’s Committee shall issue a decision on application of family-based supervision measure.

3. The duration of application of family-based supervision measure is from 03 to 06 months.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Minors put under the supervision of their families are entitled to go to schools or attend other educational or vocational training programs; participate in community-based life skill development and counseling programs.

5. During the duration of application of family-based supervision measure, if a minor continues committing a violation, the competent person specified in clause 2 of this Article shall decide to terminate the application of this measure and handle the violation case in accordance with regulations of law.

Article 140a. Community-based education [276]

1. Community-based education is an alternative measure for handling administrative violation, applied to persons aged from 12 to under 14 who are defined in clause 1 Article 92 of this Law if they have stable places of residence, are studying at educational institutions and their parents or guardians make written commitments to taking charge of supervising and educating these minors.

2. Pursuant to provisions of clause 1 of this Article, the People’s Court shall issue a decision on application of community-based education measure.

3. The duration of application of community-based education measure is from 06 to 24 months.

4. Within 03 working days from the effective date of the decision on application of community-based education measure, the People’s Court that issued the decision shall send the decision to the minor’s parent or guardian and the People's Committee of the commune where the minor resides or the child support establishment or social protection establishment to request them to cooperate in performing supervision task.

Minors subjected to the community-based education measure are entitled to go to schools or attend other educational or vocational training programs; participate in community-based life skill development and counseling programs.

Part six

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 141. Effect

1. This Law comes into force from July 01, 2013, except regulations on application of administrative handling measures subjected to consideration and decisions issued by People's Courts which shall come into force from January 01, 2014.

2. The Ordinance No. 44/2002/PL-UBTVQH10 on handling of administrative violations, the Ordinance No. 31/2007/PL-UBTVQH11 providing amendments to the Ordinance on handling of administrative violations in 2002, and the Ordinance No. 04/2008/UBTVQH12 providing amendments to the Ordinance on handling of administrative violations shall cease to have effect from the effective date of this Law, except regulations on application of “placement of violator in reform school”, “placement of violator in compulsory educational institution” and “placement of violator in health facility” measures which shall remain valid until December 31, 2013 inclusively.

Article 142. [278] (abrogated)

 

 

CERTIFIED BY

CHAIRMAN OF THE OFFICE OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Le Quang Manh

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 90/VBHN-VPQH ngày 30/03/2026 hợp nhất Luật Xử lý vi phạm hành chính do Văn phòng Quốc hội ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

17.811

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.146