Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 72/VBHN-VPQH Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Văn phòng quốc hội Người ký: Lê Quang Mạnh
Ngày ban hành: 25/03/2026 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 72/VBHN-VPQH

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2026

 

LUẬT

GIÁO DỤC

Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020, được sửa đổi, bổ sung bởi:

Luật số 123/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Giáo dục[1].

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; cơ sở giáo dục, nhà giáo, người học; quản lý nhà nước về giáo dục; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giáo dục.

Điều 2. Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục

1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

2. Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Điều 4. Phát triển giáo dục

1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.

2. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối cơ cấu ngành nghề, trình độ, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.

3. Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời.

Điều 5. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giáo dục chính quy là giáo dục theo khóa học trong cơ sở giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được thiết lập theo mục tiêu của các cấp học, trình độ đào tạo và được cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Giáo dục thường xuyên là giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được tổ chức linh hoạt về hình thức thực hiện chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học.

3. Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động đánh giá, công nhận cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành.

4. Niên chế là hình thức tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo theo năm học.

5. Tín chỉ là đơn vị dùng để đo lường khối lượng kiến thức, kỹ năng và kết quả học tập đã tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định.

6. Mô-đun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học có năng lực thực hiện trọn vẹn một hoặc một số công việc của một nghề.

7. Chuẩn đầu ra là yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học sau khi hoàn thành một chương trình giáo dục.

8. Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo quy định của pháp luật.

9. Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.

10. Khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông là kiến thức, kỹ năng cơ bản, cốt lõi trong chương trình giáo dục trung học phổ thông mà người học phải tích lũy để có thể tiếp tục học trình độ giáo dục nghề nghiệp cao hơn.

11. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về đầu tư[2].

12. Cơ sở giáo dục là tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

Điều 6. Hệ thống giáo dục quốc dân

1. Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

2. Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;

b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;

c)[3] Giáo dục nghề nghiệp gồm sơ cấp, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề khác;

d)[4] Giáo dục đại học gồm đại học và sau đại học.

3.[5] Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định về thời gian, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu các cấp học, trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; quy định về thời gian, tiêu chuẩn, đối tượng, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình giáo dục, đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác.

4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[6] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định ngưỡng đầu vào trình độ cao đẳng, trình độ đại học thuộc ngành đào tạo giáo viên và ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe.

Điều 7. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục

1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học.

2. Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.

Điều 8. Chương trình giáo dục

1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.

2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.

3. Chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông; giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.

4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ hoặc kết hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ, mô-đun mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ, mô-đun tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyển ngành, nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[7] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc thực hiện chương trình giáo dục và việc công nhận về giá trị chuyển đổi kết quả học tập trong đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp quy định tại Điều này.

Điều 9. Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục

1. Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài cơ sở giáo dục để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp, khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

2.[8] Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học nghề và tương đương tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực, sở trường, năng khiếu, điều kiện của cá nhân và nhu cầu của xã hội.

3.[9] Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục.

Điều 10. Liên thông trong giáo dục

1. Liên thông trong giáo dục là việc sử dụng kết quả học tập đã có để học tiếp ở các cấp học, trình độ khác cùng ngành, nghề đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành, nghề đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp với yêu cầu nội dung tương ứng, bảo đảm liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

2. Việc liên thông trong giáo dục phải đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng. Chương trình giáo dục được thiết kế theo hướng kế thừa, tích hợp kiến thức và kỹ năng dựa trên chuẩn đầu ra của từng bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Người học không phải học lại kiến thức và kỹ năng đã tích lũy ở các chương trình giáo dục trước đó.

3.[10] (được bãi bỏ)

Điều 11. Ngôn ngữ, chữ viết dùng trong cơ sở giáo dục

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục.

2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật.

3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm để người học được học liên tục, hiệu quả.

Điều 12. Văn bằng, chứng chỉ[11]

1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định của Luật này.

2. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.

3. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.

4. Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và công nhận chứng chỉ khác để sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Điều 13. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân

1. Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

2. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của mình.

3. Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập.

Điều 14. Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc

1.[12] Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc.

Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi.

2. Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục.

3. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.

4. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.

5. [13] Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 15. Giáo dục hòa nhập

1. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử.

2. Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 16. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

1. Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.

2. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao.

3. Tổ chức, gia đình và cá nhân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với cơ sở giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.

4. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Đầu tư cho giáo dục

1. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.

Nhà nước khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.

3. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.

Điều 18.[14] (được bãi bỏ)

Điều 19. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo[15]

1. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ của cơ sở giáo dục; được tổ chức thực hiện phù hợp với mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của từng cấp học, trình độ đào tạo.

2. Cơ sở giáo dục tự triển khai hoặc phối hợp với tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật.

3. Nhà nước có chính sách khuyến khích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát trong cơ sở giáo dục, bảo đảm gắn với yêu cầu thực tiễn, tiếp cận xu hướng quốc tế nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

4. Nhà nước đầu tư chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo thông qua phát triển hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, quản lý nhà nước, hoạt động dạy và học, nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

5. Nhà nước có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng, công nghệ, hỗ trợ đào tạo để thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 20. Không truyền bá tôn giáo trong cơ sở giáo dục

Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều 21. Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục

1. Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội.

2. Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi.

Điều 22. Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục

1. Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học.

2. Xuyên tạc nội dung giáo dục.

3. Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh.

4. Hút thuốc; uống rượu, bia; gây rối an ninh, trật tự.

5. Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền.

6. Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật.

Chương II

HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

Mục 1. CÁC CẤP HỌC VÀ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Tiểu mục 1. GIÁO DỤC MẦM NON

Điều 23. Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non

1. Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.

2. Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

Điều 24. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non

1. Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học.

2. Phương pháp giáo dục mầm non được quy định như sau:

a) Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;

b) Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em.

Điều 25. Chương trình giáo dục mầm non

1. Chương trình giáo dục mầm non phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non;

b)[16] Quy định yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực sau khi hoàn thành giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; quy định nội dung, hoạt động, phương pháp, hình thức, môi trường giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ em;

c) Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non.

2. Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập để thẩm định chương trình giáo dục mầm non. Hội đồng gồm nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,[17] nhà khoa học có kinh nghiệm, uy tín về giáo dục và đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là nhà giáo đang giảng dạy ở giáo dục mầm non. Hội đồng và thành viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục mầm non sau khi được thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn và việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong các cơ sở giáo dục mầm non; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non.

Điều 26. Cơ sở giáo dục mầm non

Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:

1. Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;

2. Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;

3. Trường mầm non, lớp mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.

Điều 27. Chính sách phát triển giáo dục mầm non

1. Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.

2. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Tiểu mục 2. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Điều 28. Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông

1. Các cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông được quy định như sau:

a) Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;

b) Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;

c) [18] Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm.

2.[19] (được bãi bỏ)

3. Giáo dục phổ thông được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Giai đoạn giáo dục cơ bản gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là cấp trung học phổ thông. Học sinh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.

4.[20] Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc dạy và học tiếng Việt cho trẻ em là người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một; việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp; việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa giáo dục phổ thông trong chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù; các trường hợp học sinh được học vượt lớp, học ở độ tuổi cao hơn hoặc thấp hơn tuổi quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 29. Mục tiêu của giáo dục phổ thông

1. Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Giáo dục tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

3. Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp.

4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 30. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông

1. Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.

2. Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông ở các cấp học được quy định như sau:

a) Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;

b) Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;

c) Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.

3. Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.

Điều 31. Chương trình giáo dục phổ thông

1. Chương trình giáo dục phổ thông phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông;

b) Quy định yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trong cả nước;

c) Quy định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;

d) Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục phổ thông;

đ) Được lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân và thực nghiệm trước khi ban hành; được công bố công khai sau khi ban hành.

2. Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập để thẩm định chương trình giáo dục phổ thông. Hội đồng gồm nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,[21] nhà khoa học có kinh nghiệm, uy tín về giáo dục và đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là nhà giáo đang giảng dạy ở cấp học tương ứng. Hội đồng và thành viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình giáo dục phổ thông; ban hành chương trình giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông thẩm định; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục phổ thông; quy định về mục tiêu, đối tượng, quy mô, thời gian thực nghiệm một số nội dung, phương pháp giáo dục mới trong cơ sở giáo dục phổ thông; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông.

Điều 32. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông và tài liệu giáo dục địa phương[22]

1. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông được quy định như sau:

a) Sách giáo khoa triển khai chương trình giáo dục phổ thông, cụ thể hóa yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông về mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh; định hướng về phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; nội dung và hình thức sách giáo khoa không mang định kiến dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội; sách giáo khoa thể hiện dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille, sách điện tử;

b) Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa cho học sinh; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc;

c) Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và thành lập theo từng môn học, hoạt động giáo dục để thẩm định sách giáo khoa. Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định;

d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa thẩm định và đánh giá xếp loại đạt; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

2. Tài liệu giáo dục địa phương được quy định như sau:

a) Tài liệu giáo dục địa phương do cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức biên soạn đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương;

b) Hội đồng thẩm định tài liệu giáo dục địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập. Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt tài liệu giáo dục địa phương để sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng cấp tỉnh thẩm định và đánh giá xếp loại đạt;

d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa và thẩm định tài liệu giáo dục địa phương.

Điều 33. Cơ sở giáo dục phổ thông

Cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm:

1. Trường tiểu học;

2. Trường trung học cơ sở;

3. Trường trung học phổ thông;

4. Trường phổ thông có nhiều cấp học.

Điều 34. Xác nhận hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và cấp văn bằng tốt nghiệp trung học phổ thông[23]

1. Học sinh học hết chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng nhà trường xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở.

2. Học sinh học hết chương trình giáo dục trung học phổ thông đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được dự thi, đạt yêu cầu được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Trường hợp học sinh không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng tốt nghiệp trung học phổ thông khi người học có nhu cầu hoặc để theo học giáo dục nghề nghiệp và sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

Tiểu mục 3. GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Điều 35. Các cấp học, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp[24]

1. Đào tạo trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác dành cho người có trình độ học vấn phù hợp.

2. Giáo dục trung học nghề dành cho người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương; giáo dục trung học nghề cùng cấp học với giáo dục trung học phổ thông.

3. Đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng dành cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên. Đối với trình độ trung cấp các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 36. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trình độ cao hơn.

Điều 37. Tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Tiểu mục 4. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Điều 38. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học[25]

1. Đào tạo trình độ đại học dành cho người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên.

2. Đào tạo sau đại học gồm:

a) Đào tạo trình độ thạc sĩ dành cho người học có trình độ từ đại học trở lên;

b) Đào tạo trình độ tiến sĩ dành cho người học có trình độ thạc sĩ hoặc người học có trình độ từ đại học trở lên.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định học liên thông giữa trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học.

Điều 39. Mục tiêu của giáo dục đại học

1. Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.

2. Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân.

Điều 40. Tổ chức và hoạt động giáo dục đại học

Tổ chức và hoạt động giáo dục đại học được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Giáo dục đại học.

Mục 2. GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

Điều 41. Mục tiêu của giáo dục thường xuyên

Giáo dục thường xuyên nhằm tạo điều kiện cho mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học tập suốt đời nhằm phát huy năng lực cá nhân, hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội; góp phần xây dựng xã hội học tập.

Điều 42. Nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên

1. Thực hiện xóa mù chữ cho người trong độ tuổi theo quy định của pháp luật.

2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc; cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng cần thiết trong cuộc sống cho mọi người; tạo cơ hội cho người có nhu cầu học tập nâng cao trình độ học vấn.

Điều 43. Chương trình, hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục thường xuyên

1. Chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm:

a) Chương trình xóa mù chữ;

b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp;

d)[26] Chương trình giáo dục trung học cơ sở và chương trình giáo dục thuộc chương trình để cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm:

a) Vừa làm vừa học;

b) Học từ xa;

c) Tự học, tự học có hướng dẫn;

d) Hình thức học khác theo nhu cầu của người học.

3. Nội dung chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này phải bảo đảm tính thiết thực, giúp người học nâng cao khả năng lao động, sản xuất, công tác và chất lượng cuộc sống.

Nội dung chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này nhằm đạt một trình độ trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung trình độ quốc gia Việt Nam, phải bảo đảm yêu cầu về nội dung của chương trình giáo dục cùng cấp học, trình độ đào tạo quy định tại Điều 31 của Luật này, quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học.

4. Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy tính chủ động của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học; sử dụng phương tiện và công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.

5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[27] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chi tiết về chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu giáo dục thường xuyên.

Điều 44. Cơ sở giáo dục thường xuyên

1. Giáo dục thường xuyên được thực hiện tại cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở văn hóa, tại nơi làm việc, cộng đồng dân cư, qua phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện khác.

2. Cơ sở giáo dục thường xuyên bao gồm:

a) Trung tâm giáo dục thường xuyên;

b) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên;

c) Trung tâm học tập cộng đồng;

d) Trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.

3. Việc thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên của cơ sở giáo dục thường xuyên được quy định như sau:

a) Trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thực hiện chương trình quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này, trừ chương trình giáo dục để lấy bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân;

b) Trung tâm học tập cộng đồng thực hiện chương trình quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này;

c) Trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên thực hiện chương trình quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này.

4.[28] Cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học khi thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên phải bảo đảm nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của mình; thực hiện chương trình quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

5.[29] (được bãi bỏ)

Điều 45. Đánh giá, công nhận kết quả học tập

1. Học viên tham gia chương trình xóa mù chữ, đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được công nhận hoàn thành chương trình xóa mù chữ.

2.[30] Học viên học hết chương trình giáo dục trung học cơ sở quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục trung học cơ sở xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình trung học cơ sở.

3.[31] Học viên học hết chương trình giáo dục trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục trung học phổ thông cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Trường hợp học viên không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại khoản 4 Điều 44 của Luật này cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

4. Học viên hoàn thành chương trình đào tạo, đạt chuẩn đầu ra của một trình độ đào tạo theo quy định của Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì được cấp bằng tương ứng với trình độ đào tạo.

5. Học viên học các khóa bồi dưỡng theo các hình thức khác nhau được dự thi, nếu đạt yêu cầu theo chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này thì được cấp chứng chỉ tương ứng với chương trình học.

Điều 46. Chính sách phát triển giáo dục thường xuyên

1. Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, thúc đẩy việc học tập của người lớn, xây dựng xã hội học tập; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia, cung ứng dịch vụ giáo dục thường xuyên có chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được thường xuyên học tập, học tập suốt đời để phát triển bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống.

3. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm phối hợp với cơ sở giáo dục thường xuyên trong việc cung cấp nguồn học liệu cho cơ sở giáo dục thường xuyên để đáp ứng nhu cầu học tập của người học; cơ sở giáo dục đào tạo nhà giáo có trách nhiệm nghiên cứu về khoa học giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo của các cơ sở giáo dục thường xuyên.

Chương III

NHÀ TRƯỜNG, TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC

Mục 1. TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA NHÀ TRƯỜNG

Điều 47. Loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

1. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

a) Trường công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại diện chủ sở hữu;

b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở gồm tổ chức và cá nhân tại thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, xã, phường, thị trấn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm điều kiện hoạt động.

Loại hình trường dân lập chỉ áp dụng đối với cơ sở giáo dục mầm non;

c) Trường tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động.

Trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là trường mà nhà đầu tư cam kết và thực hiện cam kết hoạt động không vì lợi nhuận, được ghi trong quyết định thành lập hoặc quyết định chuyển đổi loại hình trường; hoạt động không vì lợi nhuận, không rút vốn, không hưởng lợi tức; phần lợi nhuận tích lũy hằng năm thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia để tiếp tục đầu tư phát triển nhà trường.

2. Việc chuyển đổi loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:

a) Chỉ chuyển đổi loại hình nhà trường từ trường tư thục sang trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận;

b) Thực hiện quy định của điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của loại hình nhà trường ở mỗi cấp học, trình độ đào tạo;

c) Bảo đảm quyền của giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[32], người lao động và người học;

d) Không làm thất thoát đất đai, vốn và tài sản.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc chuyển đổi loại hình nhà trường quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 48. Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân

1. Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.

Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và điều lệ nhà trường ở mỗi cấp học, trình độ đào tạo khi đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục, thực hiện chương trình giáo dục thì được cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 49.[33] (được bãi bỏ)

Điều 50.[34] (được bãi bỏ)

Điều 51.[35] (được bãi bỏ)

Điều 52. Thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường[36]

1. Việc thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu của từng cấp học, trình độ đào tạo và năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ, các điều kiện bảo đảm chất lượng khác của nhà trường.

2. Thẩm quyền thành lập trường công lập và cho phép thành lập trường dân lập, trường tư thục được quy định như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đối với trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở; trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất là trung học cơ sở;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với trường trung học phổ thông; trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất là trung học phổ thông; trường trung cấp, trường trung học nghề trên địa bàn tỉnh; trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đề nghị;

c) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đối với trường dự bị đại học, trường cao đẳng, trường đại học, đại học;

d) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với trường mầm non, trường trung học phổ thông, trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định đối với các trường trung học phổ thông, trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc Bộ Công an.

3. Thẩm quyền cấp phép hoạt động giáo dục đối với nhà trường ở các cấp học, trình độ đào tạo thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Người có thẩm quyền cấp phép hoạt động giáo dục có thẩm quyền quyết định đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục.

4. Người có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường có thẩm quyền thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, quyết định thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường.

Trường hợp sáp nhập giữa các nhà trường không do cùng một cấp có thẩm quyền thành lập thì cấp có thẩm quyền cao hơn quyết định; trường hợp cấp có thẩm quyền thành lập ngang nhau thì cấp có thẩm quyền ngang nhau đó thỏa thuận quyết định.

5. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường.

Điều 53. Điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục

1. Điều lệ nhà trường được áp dụng chung cho các loại hình nhà trường ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông[37] và có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường;

b) Tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường;

c) Nhiệm vụ và quyền của nhà giáo;

d) Nhiệm vụ và quyền của người học;

đ) Tổ chức và quản lý nhà trường;

e) Tài chính và tài sản của nhà trường;

g) Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

2. Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục cụ thể hóa các nội dung của điều lệ nhà trường để áp dụng cho từng loại hình cơ sở giáo dục.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[38] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành điều lệ nhà trường, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục.

Điều 54. Nhà đầu tư

1.[39] (được bãi bỏ)

2. Quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư được quy định như sau:

a) Thông qua kế hoạch phát triển nhà trường theo quy định của pháp luật do hội đồng trường đề xuất;

b) Quyết định tổng vốn góp của nhà đầu tư, dự án đầu tư phát triển trường, việc huy động vốn đầu tư (nếu có); phương án sử dụng phần chênh lệch thu, chi hằng năm hoặc phương án xử lý lỗ của nhà trường; thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

c) Bầu hoặc cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên của hội đồng trường;

d) Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động của hội đồng trường;

đ) Quyết định ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế tài chính; thông qua nội dung liên quan đến tài chính, tài sản trong quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường;

e) Góp vốn đầy đủ, đúng hạn, giám sát việc góp vốn vào nhà trường theo đề án thành lập;

g) Xem xét, xử lý vi phạm gây thiệt hại của hội đồng trường theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường;

h) Quyết định tổ chức lại, giải thể nhà trường theo quy định của pháp luật;

i) Công khai danh sách tổ chức và cá nhân góp vốn đầu tư trên trang thông tin điện tử của nhà trường;

k) Nhà đầu tư thành lập trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận được vinh danh về công lao góp vốn đầu tư thành lập, xây dựng và phát triển trường.

3.[40] Nhà đầu tư thành lập cơ sở giáo dục tư thục được lựa chọn một trong các phương thức sau đây:

a) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp để tổ chức kinh tế thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này;

b) Trực tiếp đầu tư thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này.

Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên thì phải thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện việc thành lập cơ sở giáo dục theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

Điều 55. Hội đồng trường[41]

1. Hội đồng trường của cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thành lập theo Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.

2. Hội đồng trường của trường mầm non dân lập là tổ chức quản trị nhà trường, do cộng đồng dân cư thành lập trường đề cử; chịu trách nhiệm quyết định phương hướng hoạt động, quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục, phù hợp với quy định của pháp luật.

Thành phần hội đồng trường gồm đại diện cộng đồng dân cư, đại diện chính quyền địa phương cấp xã và người góp vốn xây dựng, duy trì hoạt động của nhà trường.

3. Hội đồng trường của trường mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục là tổ chức quản trị nhà trường, thực hiện quyền đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định của nhà đầu tư.

Thành phần hội đồng trường của trường mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục gồm đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường được hội nghị nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn góp.

4. Thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường; mối quan hệ giữa nhà đầu tư với hội đồng trường, hiệu trưởng nhà trường quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này được quy định trong điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường.

Điều 56. Hiệu trưởng

1. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường, do cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận.

2. Hiệu trưởng trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học và đạt chuẩn hiệu trưởng.

3.[42] (được bãi bỏ)

4.[43] (được bãi bỏ)

Điều 57. Hội đồng tư vấn trong nhà trường

1. Hội đồng tư vấn trong nhà trường do hiệu trưởng thành lập để tư vấn giúp hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

2. Tổ chức và hoạt động của hội đồng tư vấn được quy định trong điều lệ nhà trường.

Điều 58. Tổ chức Đảng trong nhà trường

Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 59. Đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường

Đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường có trách nhiệm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và hoạt động theo quy định của pháp luật.

Điều 60. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường

1. Nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Công bố công khai mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường;

b) Tổ chức tuyển sinh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;

c) Chủ động đề xuất nhu cầu, tham gia tuyển dụng nhà giáo, người lao động trong trường công lập; quản lý, sử dụng nhà giáo, người lao động; quản lý người học;

d) Huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;

đ) Phối hợp với gia đình, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục; tổ chức cho nhà giáo, người lao động và người học tham gia hoạt động xã hội, phục vụ cộng đồng.

2. Việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của trường công lập được quy định như sau:

a) Cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường; có trách nhiệm giải trình với xã hội, người học, cơ quan quản lý; bảo đảm việc tham gia của người học, gia đình và xã hội trong quản lý nhà trường. Việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập thực hiện theo quy định của Chính phủ;

b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trường dân lập, trường tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục.

Mục 2. TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC

Điều 61. Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú,[44] trường dự bị đại học

1.[45] Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học cho người học là người dân tộc thiểu số, người học thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới.

2. Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú,[46] trường dự bị đại học được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách.

3.[47] Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động, quy định điều kiện học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học.

Điều 62. Trường chuyên, trường năng khiếu

1.[48] Trường chuyên được thành lập ở cấp trung học phổ thông dành cho học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu về một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện, tạo nguồn đào tạo nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Trường năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao và các trường năng khiếu khác được thành lập nhằm phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, kỹ năng chuyên sâu của học sinh trong các lĩnh vực tương ứng.

2. Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường chuyên, trường năng khiếu do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường năng khiếu do tổ chức, cá nhân thành lập.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[49] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chương trình giáo dục nâng cao, quy chế tổ chức và hoạt động của trường chuyên, trường năng khiếu.

Điều 63. Trường, lớp dành cho người khuyết tật

1. Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người khuyết tật nhằm giúp người khuyết tật được phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và hòa nhập cộng đồng.

2. Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường, lớp dành cho người khuyết tật do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường, lớp dành cho người khuyết tật do tổ chức, cá nhân thành lập.

3.[50] Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lớp dành cho người khuyết tật.

Điều 64. Trường giáo dưỡng

1. Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật để đối tượng này rèn luyện, phát triển lành mạnh, trở thành người lương thiện, có khả năng tái hòa nhập vào đời sống xã hội.

2. Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo[51] quy định chương trình giáo dục cho trường giáo dưỡng.

Điều 65. Cơ sở giáo dục khác

1. Cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập, lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi học ở trường, lớp dành cho trẻ khuyết tật;

b) Trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên;

c) Viện Hàn lâm, viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

2. Người đứng đầu cơ sở giáo dục khác quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục, quản lý, điều hành cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này[52]. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[53] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.

Chương IV

NHÀ GIÁO, CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC[54]

Mục 1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA NHÀ GIÁO

Điều 66. Nhà giáo trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân[55]

1. Nhà giáo trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Nhà giáo cơ hữu là nhà giáo được tuyển dụng và thực hiện chế độ làm việc toàn thời gian tại duy nhất một cơ sở giáo dục;

b) Nhà giáo đồng cơ hữu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học;

c) Nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là nhà giáo sau khi nghỉ hưu được cơ sở giáo dục ký hợp đồng lao động toàn thời gian để thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo;

d) Nhà giáo thỉnh giảng là người được cơ sở giáo dục mời tham gia giảng dạy ít nhất một môn học, mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, chương trình đào tạo do cơ sở giáo dục thực hiện. Nhà giáo thỉnh giảng gồm giáo viên thỉnh giảng và giảng viên thỉnh giảng.

2. Nhà giáo cơ hữu thực hiện theo quy định của Luật Nhà giáo.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng.

Điều 67.[56] (được bãi bỏ)

Điều 68.[57] (được bãi bỏ)

Mục 2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC[58]

Điều 66a. Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[59]

1. Cán bộ quản lý giáo dục được quy định như sau:

a) Cán bộ quản lý giáo dục là công chức và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về công chức;

b) Nhà giáo được cơ quan có thẩm quyền điều động làm cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu các chế độ phụ cấp đối với nhà giáo theo quy định của Chính phủ.

2. Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục được quy định như sau:

a) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập là viên chức quản lý, làm việc ở vị trí việc làm quản lý trong cơ sở giáo dục;

b) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan;

c) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đạt yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo được tham gia thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục đang công tác nếu cơ sở giáo dục có nhu cầu hoặc được kiêm nhiệm công tác giảng dạy nếu cơ sở giáo dục phân công;

d) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ khác theo quy định của Chính phủ;

đ) Chính phủ quy định thủ tục, quy trình bổ nhiệm cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.

3. Quy định này không áp dụng đối với cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục của lực lượng vũ trang.

Điều 66b. Nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác[60]

1. Nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục được quy định như sau:

a) Nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục bao gồm người làm việc ở vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ nhưng không phải là nhà giáo, vị trí việc làm hỗ trợ và vị trí việc làm khác phù hợp với mô hình tổ chức cơ sở giáo dục theo quy định của cấp có thẩm quyền (sau đây gọi chung là nhân sự hỗ trợ giáo dục);

b) Nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ khác theo quy định của Chính phủ;

c) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định danh mục, khung danh mục vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập.

2. Nhân sự khác ngoài nhân sự hỗ trợ giáo dục quy định tại khoản 1 Điều này (sau đây gọi là nhân sự khác) thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý viên chức chuyên ngành; thực hiện quyền và nghĩa vụ của vị trí việc làm theo quy định của pháp luật.

4. Địa phương, cơ sở giáo dục, cơ sở tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp có chính sách hỗ trợ đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác phù hợp với điều kiện thực tiễn và nguồn tài chính của đơn vị.

Điều 69.[61] (được bãi bỏ)

Điều 70.[62] (được bãi bỏ)

Điều 71.[63] (được bãi bỏ)

Mục 3. ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NHÀ GIÁO

Điều 72.[64] (được bãi bỏ)

Điều 73.[65] (được bãi bỏ)

Điều 74. Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[66]

1. Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo gồm trường sư phạm, cơ sở giáo dục có khoa sư phạm, cơ sở giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo.

2. Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[67] gồm trường sư phạm, cơ sở giáo dục đại học có khoa quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[68].

3. Trường sư phạm do Nhà nước thành lập để đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[69] được ưu tiên trong việc tuyển dụng nhà giáo, bố trí cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[70], đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, ký túc xá và bảo đảm kinh phí đào tạo. Trường sư phạm có trường thực hành hoặc cơ sở thực hành.

4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[71] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[72] và cơ sở giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[73].

Mục 4. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÀ GIÁO

Điều 75.[74] (được bãi bỏ)

Điều 76.[75] (được bãi bỏ)

Điều 77.[76] (được bãi bỏ)

Điều 78.[77] (được bãi bỏ)

Điều 79. Phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự

1. Nhà hoạt động chính trị, xã hội có uy tín quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam được cơ sở giáo dục đại học phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự.

2. Nhà hoạt động chính trị, xã hội có uy tín quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam, có bằng tiến sĩ, được cơ sở giáo dục đại học phong tặng danh hiệu Giáo sư danh dự.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương V

NGƯỜI HỌC

Mục 1. NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI HỌC

Điều 80. Người học

Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

1. Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non;

2. Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp đào tạo nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường trung học nghề,[78] trường dự bị đại học;

3. Sinh viên của trường cao đẳng, trường đại học;

4. Học viên của cơ sở đào tạo thạc sĩ;

5. Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sĩ;

6. Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên.

Điều 81. Quyền của trẻ em và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non

1. Trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non có các quyền sau đây:

a) Được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; được chăm sóc sức khỏe và bảo vệ theo quy định của Luật Trẻ em và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Được miễn, giảm giá vé đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí công cộng.

2. Chính phủ quy định chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non.

Điều 82. Nhiệm vụ của người học

1. Học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, quy tắc ứng xử của cơ sở giáo dục.

2. Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và người lao động của cơ sở giáo dục; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ, quy chế của cơ sở giáo dục; chấp hành quy định của pháp luật.

3. Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và năng lực.

4. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của cơ sở giáo dục.

5. Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của cơ sở giáo dục.

Điều 83. Quyền của người học

1. Được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.

2. Được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình.

3. Được học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian, học lưu ban, được tạo điều kiện để học các chương trình giáo dục theo quy định của pháp luật.

4. Được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.

5. Được cấp văn bằng, chứng chỉ, xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo và hoàn thành chương trình giáo dục theo quy định.

6. Được tham gia hoạt động của đoàn thể, tổ chức xã hội trong cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

7. Được sử dụng cơ sở vật chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hóa, thể dục, thể thao của cơ sở giáo dục.

8. Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với cơ sở giáo dục các giải pháp góp phần xây dựng cơ sở giáo dục, bảo vệ quyền, lợi ích của người học.

9. Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt.

10. Được cử người đại diện tham gia hội đồng trường theo quy định.

Mục 2. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HỌC

Điều 84. Tín dụng giáo dục

Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để người học có điều kiện học tập. Khuyến khích xã hội hóa hoạt động tín dụng giáo dục.

Điều 85. Học bổng, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học phí, hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt

1.[79] Nhà nước có chính sách cấp học bổng cho các đối tượng sau đây:

a) Học bổng khuyến khích học tập cho học sinh trường chuyên, trường năng khiếu quy định tại Điều 62 của Luật này và người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; ưu tiên người học chương trình đào tạo tài năng, các ngành, lĩnh vực đào tạo trọng điểm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn;

b) Học bổng chính sách cho sinh viên cử tuyển, học sinh dự bị đại học, học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, người học trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp dành cho thương binh, người khuyết tật.

2.[80] Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số, người học thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo.

3. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học theo quy định của pháp luật.

4. Học sinh, sinh viên sư phạm được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học. Người được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt sau 02 năm kể từ khi tốt nghiệp nếu không công tác trong ngành giáo dục hoặc công tác không đủ thời gian quy định thì phải bồi hoàn khoản kinh phí mà Nhà nước đã hỗ trợ. Thời hạn hoàn trả tối đa bằng thời gian đào tạo.

Học sinh, sinh viên sư phạm được hưởng các chính sách học bổng khuyến khích học tập, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4a.[81] Quỹ học bổng quốc gia có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

a) Quỹ học bổng quốc gia được hình thành từ nguồn kinh phí được cấp hằng năm từ ngân sách nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp của tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm kết thúc năm ngân sách, khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho không sử dụng hết được giữ lại quỹ để sử dụng, không phải nộp lại ngân sách nhà nước;

b) Quỹ học bổng quốc gia thực hiện cấp học bổng cho người học chương trình đào tạo tài năng; ưu tiên cho học viên sau đại học và người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ và các lĩnh vực ưu tiên khác; khuyến khích, hỗ trợ học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên, học viên sau đại học; hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề cho người học gắn với nhu cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phát triển sự nghiệp giáo dục;

c) Chính phủ ban hành quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng quốc gia.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 86. Miễn, giảm giá vé dịch vụ công cộng cho học sinh, sinh viên

Học sinh, sinh viên được hưởng chế độ miễn, giảm giá vé khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí, tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hóa theo quy định của Chính phủ.

Điều 87. Chế độ cử tuyển

1. Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào trung cấp, cao đẳng, đại học theo chế độ cử tuyển đối với học sinh là người dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số; có chính sách tạo nguồn cử tuyển, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu của địa phương đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; xét tuyển và bố trí việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp.

Cơ sở giáo dục có trách nhiệm hỗ trợ cho người học theo chế độ cử tuyển để bảo đảm chất lượng đầu ra.

3. Người học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học; được xét tuyển và bố trí việc làm.

4. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chuẩn và đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển; việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển và việc tuyển dụng người học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp.

Điều 88. Khen thưởng đối với người học

Người học có thành tích trong học tập, rèn luyện được cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục khen thưởng; trường hợp có thành tích đặc biệt xuất sắc được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Chương VI

TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC

Điều 89. Trách nhiệm của nhà trường

1. Nhà trường có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, quy tắc ứng xử; chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ hoặc người giám hộ.

2. Cơ sở giáo dục khác được áp dụng các quy định có liên quan đến nhà trường trong Chương này.

Điều 90. Trách nhiệm của gia đình

1. Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con hoặc người được giám hộ được học tập, thực hiện phổ cập giáo dục, hoàn thành giáo dục bắt buộc, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường; tôn trọng nhà giáo, không được xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo.

2. Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

Điều 91. Trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh

1. Tiếp nhận thông tin về kết quả học tập, rèn luyện của con hoặc người được giám hộ.

2. Tham gia hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường; tham gia hoạt động của ban đại diện cha mẹ học sinh trong nhà trường.

3. Phối hợp với nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con hoặc người được giám hộ theo quy định.

Điều 92. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non

1. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non được tổ chức trong mỗi năm học ở giáo dục phổ thông và giáo dục mầm non, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, trẻ mầm non từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh, trẻ mầm non và hoạt động theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Không tổ chức ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non liên trường và ở các cấp hành chính.

Điều 93. Trách nhiệm của xã hội

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sau đây:

a) Hỗ trợ, hợp tác với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan, hoạt động trải nghiệm, thực tập, nghiên cứu khoa học;

b) Tham gia xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, ngăn chặn hoạt động có ảnh hưởng xấu đến người học;

c) Tạo điều kiện để công dân trong độ tuổi quy định thực hiện nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục, hoàn thành giáo dục bắt buộc để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh;

d) Hỗ trợ các nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục theo khả năng của mình.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm động viên toàn dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

3. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường giáo dục, vận động thanh niên, thiếu niên và nhi đồng gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.

Điều 94. Quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục. Việc thành lập và hoạt động của quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chương VII

ĐẦU TƯ VÀ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC

Điều 95. Nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục

Nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục bao gồm:

1. Ngân sách nhà nước;

2. Nguồn vốn đầu tư hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;

3. Nguồn thu từ dịch vụ giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ; dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục; nguồn thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; lãi tiền gửi ngân hàng và nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;

4. Kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước;

5. Nguồn vốn vay;

6. Nguồn tài trợ, viện trợ, tặng cho của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Điều 96. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục

1. Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu là 20% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước[82].

2. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục được phân bổ theo nguyên tắc công khai, dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; bảo đảm ngân sách để thực hiện phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Nhà nước có trách nhiệm bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời để thực hiện phổ cập giáo dục và phù hợp với tiến độ của năm học.

3. Cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách giáo dục được giao và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Điều 97. Ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai xây dựng trường học

Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đưa việc xây dựng trường học, công trình thể dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật phục vụ giáo dục vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai cho việc xây dựng trường học và ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Điều 98. Khuyến khích đầu tư cho giáo dục

1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức, tài sản cho giáo dục.

2. Các khoản đóng góp, tài trợ cho giáo dục của tổ chức, cá nhân được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

3. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình phục vụ cho giáo dục; đóng góp, tài trợ, ủng hộ tiền hoặc hiện vật để phát triển sự nghiệp giáo dục được xem xét để ghi nhận bằng hình thức thích hợp.

Điều 99. Học phí, dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo[83]

1. Học phí là khoản tiền người học phải nộp để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo. Mức học phí được xác định theo lộ trình bảo đảm chi phí dịch vụ giáo dục, đào tạo do Chính phủ quy định; đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.

2. Chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo gồm toàn bộ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp gắn với hoạt động dạy học, chi phí quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ trực tiếp và gián tiếp hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục.

Mức thu dịch vụ tuyển sinh là khoản kinh phí mà người dự tuyển phải nộp khi tham gia xét tuyển, thi tuyển được xác định theo nguyên tắc lộ trình tính đúng, tính đủ.

Dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục được tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của người học và hoạt động của cơ sở giáo dục nhưng không được ngân sách nhà nước bảo đảm hoặc chưa được cấu thành trong học phí; mức thu được xác định theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí.

3. Trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập được miễn học phí. Trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí; mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Mức hỗ trợ học phí theo khung học phí do Chính phủ quy định nhưng không vượt mức thu học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.

4. Cơ chế thu và quản lý học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục quy định như sau:

a) Chính phủ quy định cơ chế quản lý học phí, dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân;

b) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức học phí cụ thể làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập; quyết định mức hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cơ chế thu và sử dụng mức thu dịch vụ tuyển sinh các cấp học, quyết định danh mục và mức thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục do địa phương quản lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;

d) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học quyết định danh mục và mức thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục theo quy định tại khoản 2 Điều này, trừ các dịch vụ do Nhà nước định giá và có trách nhiệm công khai mức thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục cho từng khóa học, cấp học, năm học theo quy định của pháp luật;

đ) Cơ sở giáo dục dân lập, cơ sở giáo dục tư thục được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí và các dịch vụ khác bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy; thực hiện công khai chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo và mức thu theo cam kết trong đề án thành lập trường; công khai học phí và các dịch vụ khác cho từng khóa học, cấp học, năm học theo quy định của pháp luật.

Điều 100. Ưu đãi về thuế đối với sách giáo khoa và tài liệu, thiết bị dạy học

Việc xuất bản sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học; sản xuất và cung ứng thiết bị dạy học, đồ chơi cho trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non; nhập khẩu sách, báo, tài liệu giảng dạy, học tập, thiết bị dạy học, thiết bị nghiên cứu dùng trong cơ sở giáo dục được Nhà nước ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Điều 101. Chế độ tài chính đối với cơ sở giáo dục

1. Cơ sở giáo dục công lập thực hiện quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý sử dụng tài sản theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật.

2. Cơ sở giáo dục dân lập, cơ sở giáo dục tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật. Khoản thu của cơ sở giáo dục dân lập, cơ sở giáo dục tư thục được dùng để chi cho các hoạt động của cơ sở giáo dục, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, thiết lập quỹ đầu tư phát triển và các quỹ khác của cơ sở giáo dục, phần còn lại được phân chia cho nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn góp, trừ cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận.

3. Cơ sở giáo dục phải công bố công khai chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo và mức thu phí cho từng năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; cho từng năm học và dự kiến cho cả khóa học đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Điều 102. Quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, trường tư thục

1. Tài sản của trường dân lập thuộc sở hữu của pháp nhân nhà trường. Tài sản của trường dân lập được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.

2. Tài sản của trường tư thục thuộc sở hữu của nhà đầu tư, hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư, được xác định bằng biên bản góp vốn của nhà đầu tư. Việc chuyển phần tài sản góp vốn cho trường thực hiện theo quy định của pháp luật.

3.[84] Việc chuyển nhượng vốn đối với nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non tư thục; cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học tư thục thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp luật có liên quan; bảo đảm sự ổn định và phát triển của trường, không làm gián đoạn hoạt động giáo dục; bảo đảm quyền lợi của người học, nhà giáo và người lao động.

Sau khi thực hiện chuyển nhượng vốn, cơ sở giáo dục có trách nhiệm thông báo tới cơ quan quản lý giáo dục theo phân cấp và theo quy định của Chính phủ.

Điều 103. Chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, trường tư thục

1. Trường dân lập, trường tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng; được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện chính sách đối với người học quy định tại Điều 85 của Luật này.

2.[85] (được bãi bỏ)

Chương VIII

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC

Mục 1. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC

Điều 104. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường, chuẩn cơ sở giáo dục, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục, điều lệ ban đại diện cha mẹ học sinh; quy định hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường; quy định về đánh giá kết quả học tập và rèn luyện; khen thưởng và kỷ luật đối với người học.

3.[86] Quy định chuẩn nghề nghiệp nhà giáo và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khác thuộc thẩm quyền quản lý; chế độ làm việc của nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục; chuẩn nghề nghiệp người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục công lập; danh mục hoặc khung danh mục vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục; quy tắc ứng xử của nhà giáo; các chức danh tương đương với chức danh nhà giáo; thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo và điều kiện để cơ sở giáo dục được tuyển dụng nhà giáo; các chương trình bồi dưỡng; chỉ đạo, tổ chức việc bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, các nhân sự khác trong cơ sở giáo dục.

4. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; khung trình độ quốc gia; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn, định mức sử dụng cơ sở vật chất, thư viện và thiết bị trường học; việc biên soạn, sử dụng sách giáo khoa, giáo trình; việc thi, kiểm tra, tuyển sinh, liên kết đào tạo và quản lý văn bằng, chứng chỉ; việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được sử dụng tại Việt Nam.

5. Quy định về đánh giá chất lượng giáo dục; tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục.

6. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục.

7. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục.

8. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[87].

9. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục.

10. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục.

11. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế, đầu tư của nước ngoài về giáo dục.

12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật trong giáo dục.

Điều 105. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục.

Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm, báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi quyết định việc áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục đã được thí điểm thành công mà việc áp dụng đại trà sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp[88], giáo dục thường xuyên.

3.[89] (được bãi bỏ)

4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo[90] thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục.

5.[91] Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật bảo đảm điều kiện để phát triển giáo dục tại địa phương.

Mục 2. HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC

Điều 106. Nguyên tắc hợp tác quốc tế về giáo dục

Nhà nước mở rộng, phát triển hợp tác quốc tế về giáo dục theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi.

Điều 107. Hợp tác về giáo dục với nước ngoài

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục của Việt Nam hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật theo hình thức tự túc hoặc bằng kinh phí do tổ chức, cá nhân trong nước cấp hoặc do tổ chức, cá nhân nước ngoài tài trợ.

2a.[92] Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục Việt Nam thành lập văn phòng đại diện, mở rộng hoạt động đào tạo, đầu tư, hợp tác, nghiên cứu khoa học với các cơ sở giáo dục uy tín ở nước ngoài góp phần quảng bá giáo dục Việt Nam với các nước, tiếp cận công nghệ hiện đại, thúc đẩy ngoại giao tri thức.

3. Nhà nước dành ngân sách cử người đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức và trình độ đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài về những ngành, nghề và lĩnh vực then chốt để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Chính phủ quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật; việc hợp tác về giáo dục với tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Điều 108. Hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để giảng dạy, học tập, làm quản lý,[93] đầu tư, tài trợ, hợp tác, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ về giáo dục tại Việt Nam; được bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Hợp tác về giáo dục với Việt Nam phải bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; hoạt động giáo dục phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

3. Các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm:

a) Liên kết giáo dục, đào tạo;

b) Thành lập văn phòng đại diện;

c) Thành lập phân hiệu;

d) Thành lập cơ sở giáo dục;

đ) Các hình thức hợp tác, đầu tư khác.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 109. Công nhận văn bằng nước ngoài[94]

1. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công nhận khi cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp, có chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng của nước cấp bằng và phù hợp với pháp luật Việt Nam.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp.

Mục 3. BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC[95]

Điều 110. Bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục[96]

1. Bảo đảm chất lượng giáo dục là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhằm nâng cao chất lượng, tăng cường trách nhiệm giải trình, đáp ứng yêu cầu của người học và xã hội.

2. Việc bảo đảm chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên tập trung vào đổi mới phương pháp dạy và học, phát triển đội ngũ, tăng cường điều kiện bảo đảm chất lượng, nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.

3. Việc bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.

4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hoạt động bảo đảm chất lượng tại cơ sở giáo dục; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục.

Điều 111.[97] (được bãi bỏ)

Điều 112. Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục

1. Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm:

a) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục do Nhà nước thành lập;

b) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục do tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài thành lập;

c) Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài.

2. Việc tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục được quy định như sau:

a) Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, cấp phép hoạt động[98], đình chỉ, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định điều kiện và thủ tục để tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được công nhận hoạt động tại Việt Nam;

b) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động[99], đình chỉ hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục[100]; quyết định công nhận, thu hồi quyết định công nhận tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục;

c) Kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học.

Chương IX

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[101]

Điều 113.[102] (được bãi bỏ)

Điều 114. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

2. Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 44/2009/QH12, Luật số 74/2014/QH13 và Luật số 97/2015/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 115 của Luật này.

Điều 115.[103] (được bãi bỏ)

 

 

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

CHỦ NHIỆM




Lê Quang Mạnh

 



[1] Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14.”.

[2] Cụm từ “gồm nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài” được thay thế bằng cụm từ “theo quy định của pháp luật về đầu tư” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[3] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[4] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[6] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[7] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[8] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[9] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[10] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[11] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[12] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[13] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[14] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[15] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[16] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[17] Cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[18] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[19] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[21] Cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[22] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026; quy định Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa cho học sinh có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[23] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[24] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[25] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[26] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[27] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[28] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[29] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[30] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[31] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[32] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[33] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[34] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[35] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[36] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[37] Cụm từ “giáo dục nghề nghiệp” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[38] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[39] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[40] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[41] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[42] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[43] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[44] Cụm từ “trường phổ thông nội trú,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[45] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[46] Cụm từ “trường phổ thông nội trú,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[47] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 18 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[48] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[49] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[50] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[51] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[52] Cụm từ “, trừ trung tâm giáo dục nghề nghiệp” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[53] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[54] Cụm từ “, CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[55] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[56] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[57] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[58] Cụm từ “NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA NHÀ GIÁO” được thay thế bằng cụm từ “VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[59] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[60] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[61] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[62] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[63] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[64] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[65] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[66] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[67] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[68] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[69] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[70] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[71] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[72] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[73] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[74] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[75] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[76] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[77] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[78] Cụm từ “trường trung học nghề,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[79] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 23 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[80] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 23 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[81] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 23 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[82] Cụm từ “, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[83] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[84] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[85] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[86] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[87] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[88] Cụm từ “ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm” được thay thế bằng cụm từ “giáo dục nghề nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[89] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[90] Cụm từ “Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[91] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[92] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[93] Cụm từ “làm quản lý,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[94] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[95] Cụm từ “ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC” được thay thế bằng cụm từ “BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[96] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[97] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[98] Cụm từ “cho phép hoạt động” được thay thế bằng cụm từ “cấp phép hoạt động” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[99] Cụm từ “cho phép hoạt động” được thay thế bằng cụm từ “cấp phép hoạt động” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[100] Cụm từ “và quy định trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[101] Điều 2 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:

“Điều 2. Điều khoản thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và quy định chuyển tiếp về kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên tại điểm a khoản 3 Điều này.

2. Điểm b khoản 1, khoản 4, khoản 13, khoản 15, điểm b khoản 23 Điều 1 và quy định Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa cho học sinh tại khoản 8 Điều 1 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

3. Quy định chuyển tiếp:

a) Giấy chứng nhận cơ sở giáo dục đạt kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành tiếp tục có giá trị đến hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận.

Cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo chấp nhận hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện và hoàn thành quy trình kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 và các quy định của pháp luật có liên quan cho đến hết chu kỳ kiểm định.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên chuyển sang thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục theo quy định khác của Luật này và văn bản hướng dẫn thi hành;

b) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, hội đồng trường của nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập kết thúc hoạt động, có trách nhiệm bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan cho hiệu trưởng; hiệu trưởng có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý trực tiếp trong thời gian 06 tháng kể từ thời điểm kết thúc hoạt động;

c) Hồ sơ đề nghị giải quyết thủ tục hành chính đã được nộp hợp lệ cho cơ quan hoặc người có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền đó tiếp tục thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ, kể cả trong trường hợp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đó đã điều chỉnh theo quy định của Luật này;

d) Tài liệu giáo dục địa phương đã trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho ý kiến bằng văn bản, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

đ) Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở được cấp trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 tiếp tục có giá trị pháp lý để sử dụng trong học tập, tuyển dụng và các giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật;

e) Đối với các nhà đầu tư đã trực tiếp thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo điểm b khoản 3 Điều 54 của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 mà có từ hai nhà đầu tư trở lên thì phải thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Chính phủ trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.”.

[102] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[103] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

THE OFFICE OF NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
---------------

No. 72/VBHN-VPQH

 

Hanoi, March 25, 2026

 

LAW

EDUCATION

The Law on Education No. 43/2019/QH14 dated June 14, 2019 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2020 is amended by:

The Law  No. 123/2025/QH15 dated December  10, 2025 of the National Assembly on amendments to some articles of Law on Education, which comes into force from January 01, 2026.

Pursuant to the Constitution of Socialist Republic of Vietnam;

The National Assembly promulgates the Law on Education[1].

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



This Law regulates the national educational system; educational institutions, educators, learners; state management of education; rights and responsibilities of agencies, organizations, individuals involved in educational activities.

Article 2. Goals of education

Education is aimed at comprehensively developing Vietnamese persons into those who possess ethics, knowledge, education, physical health, aesthetic sense and profession, dignity, civic qualifications and capacity, patriotism, national spirit, loyalty to the ideology of national independence and socialism; developing potentials, creativity of each individual; improving the people’s knowledge and manpower, fostering talents and satisfying the demands of the construction and defense of the Fatherland and international integration.

Article 3. Characteristics, principles of education

1. The Vietnamese education is a socialism-based education with popular, national, scientific and modern characteristics, based on Marxism-Leninism and Ho Chi Minh's Thoughts.

2. Educational activities must be conducted on the principles of learning coupled with practice, theories connected to practicability, education at school combined with education in the family and in the society.

Article 4. Educational development

1. Educational development is the first national priority.

2. Educational development must be associated with the requirements of socio-economic development, the scientific-technological advances,  consolidation of national defense and security; must implement standardization, modernization and private sector involvement; must maintain the balance in terms of professional, qualifications, manpower and regional structure; must expand scale on the basis of assurance of quality and efficiency; and must connect education with employment.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 5. Definitions

For the purpose of this Law, these terms below shall be construed as follows:

1. “Formal education” means cohort-based education in an educational institution for implementation of a certain educational programme. It is established following the goals of each educational level and qualification, and the learners are issued with degrees/diplomas of the national educational system.

2. “Continuing education” means education that follows a certain educational programme and is flexibly organized in terms of programme implementation formats, time, methods, locations, thereby satisfying the learners’ need for lifelong learning.

3. “Education quality accreditation” means assessment and recognition of educational institutions or educational programmes that meet the education quality standards promulgated by competent authorities and organisations.

4. “Year-based system” means the mode of education and training organisation based on school years.

5. “Credit” means a unit used to measure the amount of knowledge, skills and study results accumulated after a certain period of time.

6. “Module” means a learning unit that fully integrates knowledge, skills and attitude for the purpose of equipping learners with the capacity to fully or partially perform the tasks of one or certain professions.

7. “Graduation standards” mean the target requirements regarding learners’ quality and capacity after completing an educational programme.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



9. “Compulsory education” means the type of education that has to be provided for all citizens of suitable age in order for them to acquire the minimal educational qualification as prescribed by law and facilitated by the State.

10. “Upper secondary education knowledge” means basic and core knowledge and skills in the upper secondary educational programme that learners must accumulate in order to continue learning a higher level of vocational education.

11. “Investor” means an organisation or individual making investment in education, using non-state budget capital according to the law on investment [2]

12.“Educational institution” means an institution providing education in the national educational system and consists of schools and other educational institutions.

Arrticle 6. National educational system

1. The national educational system is an open, transferrable educational system consisting of formal education and continuing education.

2. Educational levels and training qualifications of the national educational system include:

a) Preschool education including junior kindergartens (for children aged 03 – 36 months) and senior kindergartens (for children aged 3 – 5 years);

b) General education including primary education, lower secondary education, and upper secondary education;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d)[4] Higher education includes bachelor  and postgraduate education.

3.[5] The Prime Minister shall make decisions on the approval of the structural framework of the national educational system and the Vietnamese Qualifications Framework; stipulate the duration, standards of each training level, the minimal learning quantity for educational levels and qualifications of vocational education and higher education; prescribe duration, standards, subjects, minimal learning quantity for education and training programmes in specializations/professions, including arts, physical education, sports, and other specific fields.

4. The Minister of Education and Training,[6] within the scope of his/her tasks and powers shall provide for entrance requirements of college-level and university-level pedagogical and health professions.

Article 7. Requirements for contents and methods of education

1. Contents of education must ensure the basic, comprehensive, practical, modern, systematic and up-to-date characteristics; have importance attached to ideological, ethical and civic consciousness education; preserve and develop the good traditions and the national cultural identity, absorb the essence of the mankind culture; and must be suitable to the physical, intellectual and psycho-physiology development of various age groups and abilities of learners.

2. Methods of education must be scientific and promote activeness, consciousness, self-motivation and creative thinking of learners; foster self-study and cooperative abilities, practical ability, learning eagerness and the will to advance forward.

Article 8. Educational programmes

1. Educational programmes shall reflect the goals of education; and set the standards for knowledge, skills, requirements on quality and capacity of learners; scope and structure of educational contents; methods and forms of organizing educational activities; methods of assessment of educational outcomes for each subject of every grade and level or for each subject, module, specialization of every training qualification.

2. Educational programmes must ensure the scientific and practical characteristics; inheritability and transferability among different levels and different training qualifications; facilitate the classification of students and exchange between training qualifications, specializations and educational forms in the national educational system in order for local authorities and educational institutions to proactively implement suitable educational plans; and satisfy the goal of gender equality and demands of international integration. Educational programme is the basis of comprehensive education quality assurance.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Preschool education and general education shall run year-based programmes; vocational education and higher education may run year-based, module-based, credit-based programmes or combined programmes.

Study results of subjects or credits/modules accumulated by learners after pursuing an educational programme are considered for transferable values for respective subjects or credits/modules of other educational programmes when learners change their educational specializations/professions, forms of studies, or follow higher educational levels or qualifications.

5. The Minister of Education and Training,[7] within the scope of his/her tasks and powers shall stipulate the implementation of educational programmes and the recognition of the transferable values of study results of higher education and vocational education levels as prescribed in this Article.

Article 9. Career orientation and student classification

1. Career orientation in education is a system of measures implemented inside and outside educational institutions to provide students with knowledge about professions and the ability to choose a profession based on a combination of personal desires, fortes and social labour demands.

2.[8] Student classification is a measure of organizing educational activities on the basis of career orientation in education, enabling learners who complete lower/upper/vocational secondary education programmes and equivalents to continue with their studies in higher educational levels/qualifications or to join the labor force with regard to personal capacity, interests, talents, conditions, and social needs.

3.[9] The Minister of Education and Training shall elaborate career orientation and student classification

Article 10. Transferability in education

1. Transferability in education is the act of using available study results to continue studying in other educational levels and qualifications within the same specialization or switch to another specialization, mode of education and training qualification appropriate to corresponding content requirements, ensuring transferability between educational levels and training qualifications of general education, vocational education and higher education.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3.[10] (annulled)

Article 11. Languages, written languages used in educational institutions

1. Vietnamese is the official language to be used in educational institutions. Based on the goals of education and specific requirements for educational contents, the Government shall stipulate the teaching and learning by foreign languages in educational institutions.

2. The State shall encourage and enable ethnic minority people to learn their spoken and written languages as prescribed in Governmental regulations; hearing-impaired and speaking-impaired persons to learn via sign language, vision-impaired persons to learn via the Braille alphabet as prescribed in the Law on Persons with Disabilities.

3. Foreign languages defined in educational programmes are languages used commonly in international transactions. The teaching of foreign languages in educational institutions should guarantee that learners have continuing and effective learning process.

Article 12. Degrees/diplomas and certificates 11]

1. Degrees/diplomas of the national educational system are physical or digital degrees/diplomas issued to learners who successfully completing an upper secondary education; or an education or training program and meeting the graduation standards of the corresponding qualification in  vocational education or higher education as prescribed in this Law.

2. Degrees/diplomas of the national educational system consist of the followings: upper secondary diploma, diplomas of vocational secondary schools, diploma of intermediate schools, college degree, bachelor degree, master degree, doctoral degree and degrees/diplomas of intensive training programmes in specific disciplines and fields.

3. Certificates of the national educational system are physical or digital certificates issued to learners to acknowledge their learning results upon successful completion of courses for knowledge or professional improvement or to candidates of certification examinations as prescribed by law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. The Minister of Education and Training shall elaborate management of degrees/diplomas and certificates of the national education system and recognition of other certificates to be used in the national education system.

Article 13. Learning rights and obligations of citizens

1. Learning is the right and obligation of every citizen. Every citizen, regardless of ethnic origin, religion, belief, gender, personal characteristics, family background, social status or economic conditions, has equal rights of access to learning opportunities.

2. The State shall ensure social equality in education, create a safe educational environment, ensure inclusive education and enable learners to develop their potentials and talents.

3. The State shall give priority in enabling children with special backgrounds as prescribed in the Children Law, disabled and handicapped persons as prescribed in the Law on Persons with Disabilities and learners from poor and near-poor households to exercise their learning rights and obligations.

Article 14. Universalization of education and compulsory education

1.[12] Primary education and lower secondary education are compulsory.

The State shall provide the universalization of preschool education for children aged 3 to 6 years old.

2. The State shall be responsible for implementing compulsory education throughout the country; planning and facilitating the universalization of education.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Families and guardians shall enable their members in defined age groups to receive education in order to contribute to the universalization of education and complete the compulsory education programme.

5. [13] The Government shall elaborate clauses 1 and 2 of this Article.

Arrticle 15. Inclusive education

1. Inclusive education is an educational method aiming to meet different needs and abilities of learners; ensure equal learning rights, education quality, be suitable for the needs, characteristics and capacity of learners; respect diversity and differences of learners and avoid discrimination.

2. The State shall issue assistance policies to provide inclusive education for learners who are children with special backgrounds as prescribed in the Children Law, learners who are disabled and handicapped persons as prescribed in the Law on Persons with Disabilities and other relevant regulations.

Article 16. Private sector involvement in education

1. The State and of the whole population have responsibilities to develop education and build a learning society.

2. The State shall play the dominant role in developing the cause of education; carry out the diversification of types of educational institutions and modes of education; encourage, promote and enable organisations and individuals to take part in the development of the cause of education; encourage the development of people-founded and private educational institutions, thereby satisfying the social demands on high quality education.

3. All organisations, families and citizens shall be responsible for developing education, cooperating with educational institutions in fulfilling the goals of education and building a safe and healthy educational environment.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 17. Investment in education

1. Investment in education is an investment in development. Investment in the field of education is a conditional business investment with preferential treatment and assistance as prescribed by law.

2. The State shall give priority to investment and to the attraction of other investment sources for education; priorities investment in the universalization of education, educational development in mountainous areas, islands, ethnic minority areas, areas with exceptional socio-economic difficulties, areas with industrial zones.

The State shall encourage and protect the legitimate rights and benefits of Vietnamese organisations and individuals, overseas residing Vietnamese, foreign organisations and individuals investing in education.

3. The State budget shall hold the key role in total resources invested in education.

Article 18. [14]  (annulled)

Article 19. Science, technology and innovation activities [15]

1. Science, technology and innovation activities are tasks of educational institutions; and are implemented in accordance with objectives, programmes, and tasks of each educational level and training qualification.

2. Educational institutions shall implement or cooperate with scientific and technological organizations and production, trade and service units to carry out education, training, scientific research, technological development and innovation in accordance with the law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. The State shall invest in comprehensive digital transformation in education and training through the development of digital infrastructure, digital platforms, national database of education and training, and the application of digital technology to improve the effectiveness and efficiency of state governance and management, teaching and learning, scientific research, technology, and innovation.

5. The State shall issue policies to prioritize and facilitate investment in infrastructure and technology, and support training to promote research, application, and development of artificial intelligence in education and training.

6. The Government shall elaborate this Article.

Article 20. Prohibition of promotion of religions in educational institutions

Neither religion promotion nor religious rituals are to be conducted in educational institutions of the national educational system, of the State agencies, of political organisations, of socio-political organisations and of the people's armed forces.

Article 21. Prohibition of abuse of educational activities

1. It is prohibited from abusing educational activities to distort State guidelines, policies, legislation; to oppose the Socialist Republic of Vietnam, to separate the block of great national solidarity, to incite violence, to propagate war of aggression, to erode the good traditions and customs, to publicize superstitious beliefs and bad customs, or to attract learners to social evils.

2. It is prohibited from abusing educational activities for self-interest purposes.

Article 22. Prohibited activities in educational institutions

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Distortion of educational contents.

3. Cheating in learning, testing, examination, admission.

4. Smoking; alcohol consumption; security and order disruption.

5. Forcing students to take extra classes for money.

6. Forcing contributions in cash or in kind in the name of educational sponsorship or support.

Chapter II

NATIONAL EDUCATIONAL SYSTEM

Section 1. EDUCATIONAL LEVELS AND TRAINING QUALIFICATIONS

Subsection 1. PRESCHOOL EDUCATION

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Preschool education is the first educational level in the national educational system that sets the foundation for the comprehensive development of the Vietnamese and nurtures, cares and educates children from 03 months to 06 years of age.

2. Preschool education is aimed at helping children develop physically, emotionally, intellectually and aesthetically, shaping the initial elements of personality and preparing children for the first grade.

Article 24. Requirements for contents and methods of preschool education

1. The contents of preschool education must be appropriate to the psycho-physiological development of children; harmonized with nurture, care and education of children with a view to helping children to develop physically, emotionally, intellectually and aesthetically and to know how to respect differences; must be suitable to different age groups and transferable to primary education.

2. The methods of preschool education are prescribed as follows:

a) Junior kindergartens must enable children to proactively participate in activities and play, thereby creating a bond between adults and children; stimulate the development of the senses, emotions and psycho-physiological functions;

b) Senior kindergartens must enable children to play, experience, explore and discover the surrounding environment in different ways, thereby satisfying the needs and interests of children.

Article 25.  Preschool education programmes

1. Preschool education programmes shall meet the following requirements:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b)[16] Concretize the outcome requirements for qualities and capacity upon successful completion of junior  and senior kindergarten education; prescribe content, activities, methods, forms, educational environment, and assessment of children's development;

c) Be consistent throughout the country and implemented flexibly, in conformity with specific conditions of localities and preschool education institutions.

2. The Minister of Education and Training shall establish a national council for appraising curricula for preschool education to appraise preschool education programmes. The council shall be composed of educators, education managers, educational institution managers[17] , experienced and prestigious scientists in the field of education and representatives of relevant agencies and organisations. At least one-third of the council members must be educators who are working in preschool education institutions. The council and the council members shall be responsible for the appraisal contents and quality.

3. The Minister of Education and Training shall promulgate preschool education programmes after receiving the appraisals of the national council for appraising curricula for preschool education; stipulate standards and procedures for compiling and editing preschool education programmes; stipulate standards and selection of toys and learning materials used in preschool education institutions; stipulate tasks, powers, operating methods, standards, number and structure of members of the national council for appraising curricula for preschool education.

Article 26.  Preschool education institutions

Preschool education institutions include:

1. Independent junior kindergarten centers and classes for children aged 03 – 36 months;

2. Independent senior kindergartens and senior kindergarten classes for children aged 03 – 06 years;

3. Combined independent preschools and preschool classes for children aged 03 months – 06 years.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. The State shall elaborate policies for investment in the development of preschool education; give priority to the development of preschool education in mountainous areas, islands, ethnic minority areas, areas with exceptional socio-economic difficulties, areas with industrial zones.

2. The State shall issue incentive policies for organisations and individuals to invest in the development of preschool education in order to meet social demands.

3. The Government shall elaborate this Article.

Subsection 2. GENERAL EDUCATION

Article 28. Educational levels and entry ages

1. Educational levels and age groups of general education are regulated as follows:

a) Primary education lasts for 05 school years, from the first to the fifth grade. The entry age for the first grade is 06 and is determined by year;

b) Lower secondary education lasts for 04 school years, from the sixth to the ninth grade. Students must complete the primary educational programme before entering the sixth grade. The entry age for the sixth grade is 11 and is determined by year;

c) [18] Upper secondary education lasts for 03 school years, from the tenth to the twelfth grade. Students must complete the lower secondary education program or equivalent program before entering the tenth grade. The entry age for the tenth grade is 15 and is determined by year.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. General education shall be divided into 2 phases: basic education and career-orientated education. Basic education includes primary education and lower secondary education; career-oriented education is upper secondary education. Students of vocational education institutions shall learn the upper secondary education knowledge.

4. [20] The Minister of Education and Training shall stipulate the teaching and learning of the Vietnamese language to children of ethnic minorities prior to the commencement of the first grade; the teaching of the upper secondary education knowledge in vocational education institutions; the teaching of general education knowledge in training programmes for specialized disciplines and professions; cases where schooling could be commenced at younger ages or at lower or higher ages prescribed in clause 1 of this Article.

Article 29. Objectives of general education

1. General education is aimed at helping learners develop comprehensively by acquiring morals, knowledge, physical health, aesthetic values and other basic skills, develop personal abilities, flexibility and creativeness, with a view to forming the socialist Vietnamese personality and the civic duty, to preparing them for further studies of higher education, vocational education or entering the workforce, participating in the building and defending of the Fatherland.

2. Primary education is aimed at helping students form initial foundations for moral, intellectual, physical and aesthetic development and capacity, preparing them for entering lower secondary education.

3. Lower secondary education is directed towards students' consolidation and development of the outcomes of primary education, provision of general and basic knowledge along with introductory understanding on techniques and career orientation to enter upper secondary education or vocational education.

4. Upper secondary education is directed towards the provision of civic knowledge; students' consolidation and development of the outcomes of lower secondary education; completion of general education and acquisition of common understanding on techniques and career orientation; provision of opportunities for students to develop their personal abilities in order to choose their development direction, to enter higher education, vocational education or the workforce, contributing to the building and defending of the Fatherland.

Article 30. Requirements for contents and methods of general education

1. The contents of general education must ensure the popular, basic, comprehensive, career-orienting, and systematic characteristics; be connected with the realities of life, be appropriate to the psycho-physiological characteristics of students, and meet the objectives of education at each level.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Primary education must guarantee students the foundation for comprehensive development of physical and emotional health, social skills, simple and necessary knowledge about nature, society and human; social moral awareness; basic skills in listening, reading, speaking, writing and calculating; habits of physical exercise and hygiene; and initial understanding of singing, dancing, music and arts;

b) Lower secondary education shall consolidate and develop the contents learned in primary education, guarantee students the basic general knowledge in Vietnamese, mathematics, national history, other knowledge in social sciences, natural sciences, law, informatics, foreign languages; and introductory understanding on techniques and career-orientation.

c) Upper secondary education shall consolidate and develop the contents learned in lower secondary education, complete the contents of general education, ensure general, basic, comprehensive and career-orienting knowledge for all students, and provide advanced teaching in some subjects to develop the students' abilities and satisfy their needs.

3. The methods of general education shall promote the activeness, consciousness, initiatives and creativeness of students; be appropriate to the characteristics of each subject, class and student; nurture the methods of self-study, the joy of learning, the ability to work in team, the ability of independent thinking; develop comprehensively dignity and ability of learners; enhance the application of information technology and communications to education.

Article 31. General education programmes

1. General education programmes shall meet the following requirements:

a) Reflect the objectives of general education;

b) Concretize the requirements for the outcomes of students’ quality and capacity after each educational level and on the educational contents compulsory to all students throughout the country;

c) Concretize the requirements for the methods and forms of organizing educational activities and on the evaluation of educational outcomes for subjects of each class and educational level of general education;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Be open to feedbacks from organisations and individuals and undergo a pilot implementation before promulgation; be publicly announced after promulgation.

2. The Minister of Education and Training shall establish a national council for appraising curricula for general education to appraise general education programmes. The council shall be composed of educators, education managers, educational institution managers[21] , experienced and prestigious scientists in the field of education and representatives of relevant agencies and organisations. At least one-third of the council members must be educators who are working in corresponding educational levels. The council and the council members shall be responsible for the appraisal contents and quality.

3. The Minister of Education and Training shall be responsible for the quality of general education programmes; promulgate general education programmes after receiving the appraisals of the national council for appraising curricula for general education; stipulate standards and procedures for compiling and editing general education programmes; regulate objectives, subjects, scale, pilot duration of some new educational contents and methods in general education institutions; stipulate tasks, powers, operating methods, standards, number and structure of members of the national council for appraising curricula for general education.

Article 32. Textbooks of general education and local educational materials [22]

1. Textbooks of general education are regulated as follows:

a) Textbooks must develop general education programmes, concretize the requirements for educational objectives and contents, students’ quality and capacity as defined in general education programmes; direct teaching methods and methods of assessing and evaluating education quality; contents and formats of textbooks shall not carry prejudices based on ethnicity, religion, profession, gender, age and social status; textbooks may be in the printed, Braille or electronic forms;

b) The Government shall prescribe free-of-charge provision of textbooks for students; the Minister of Education and Training decides a unified set of general education textbooks to be used nationwide;

c) The Minister of Education and Training shall prescribe and establish the national appraisal council of each subject and each educational activity for appraisal of textbooks.  The council and the council members shall be responsible for the appraisal contents and quality;

d) The Minister of Education and Training shall approve textbooks used in general education institutions  after they are appraised by the national appraisal council and considered satisfactory; and regulate standards and procedures for compiling and editing textbooks of general education.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Local educational materials are compiled by specialized agencies affiliated to provincial People's Committees. Such materials must meet needs and be appropriate to local characteristics;

b) The Chairperson of provincial People's Committee shall decide to establish a council for appraisal of local educational materials (hereinafter referred to as “provincial appraisal council”).  The council and the council members shall be responsible for the appraisal content and quality;

c) The Chairperson of provincial People's Committee shall approve local educational materials used in general education institutions after they are appraised by the provincial appraisal council and considered satisfactory;

d) The Minister of Education and Training shall regulate standards and procedures for compiling and editing local educational materials.

Article 33.  General education institutions

General education institutions include:

1. Primary schools;

2. Lower secondary schools;

3. Upper secondary schools;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 34. Certification for completion of primary, lower and upper secondary education, and issuance of upper secondary diploma [23]

1. Students who complete the primary or lower secondary education program and meet the requirements set by the Minister of Education and Training will be certified in their official academic records by a primary/lower secondary school principal that they have completed primary or lower secondary education.

2. Students who complete the upper secondary education program and meet the requirements set by the Minister of Education and Training will be eligible to take the examination. Those who pass the examination are issued with diplomas of upper secondary education by the school principal.

If a student does not take the examination or fails to pass the examination, the school principal will issue a certificate for completion of general education. Certificate for completion of general education is used to register for the examination for the upper secondary diploma per learners' wish or per the requirements to continue studying in vocational education and is used in specific cases as prescribed by law.

Subsection 3. VOCATIONAL EDUCATION

Article 35. Educational levels and training qualifications of vocational education [24]

1. Vocational education trains at elementary level and provides other vocational training programmes for learners with appropriate educational qualifications.

2. Vocational secondary education is provided for learners who have completed the lower secondary education program or equivalent; vocational secondary education and upper secondary education have the same educational level.

3. Vocational education trains, at intermediate-level or college-level, learners who have completed upper secondary education, vocational secondary education or equivalent or higher. Vocational education at intermediate-level, in specializations/professions, including arts, physical education, sports, and other specific fields shall comply with the Government’s regulations.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Vocational education is directed towards training of workers directly participating in production, trade and service to have the practical ability of a profession adequate to the relevant training qualification; have morals, health; have professional responsibility; be creative and adaptable to the environment of international integration; ensure the improvement of labour productivity and quality; provide learners with employability, self- employability or ability to further study to improve professional qualifications after completing a vocational education programme.

Article 37. Organisation and operation of vocational education

Organisation and operation of vocational education shall comply with this Law and the Law on Vocational Education.

Subsection 4. HIGHER EDUCATION

Article 38. Training qualifications of higher education [25]

1. Bachelor education is provided for learners who have completed the upper secondary education, the vocational secondary education or equivalent or higher.

2. Postgraduate education includes:

a) Master education, provided for learners who have completed at least bachelor education;

b) Doctoral education, provided for learners who have completed master education or at least bachelor education;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 39. Objectives of higher education

1. Training a workforce of high qualifications, improving the people’s knowledge, fostering talents; conducting scientific and technological research to invent new knowledge and products, meeting the requirements of socio-economic development, ensuring national defense and security and international integration.

2. Educating learners towards comprehensive development in terms of morals, intellectuality, physical health and aesthetic sense; possessing professional knowledge, skills and responsibility; ability to follow up on scientific and technological advances relevant to their training qualifications, ability of self-study, creativity, adaptability to the workplace; spirit of entrepreneurship, of service to the People.

Article 40. Organisation and operation of higher education

Organisation and operation of higher education shall comply with this Law and the Law on Higher Education.

Section 2. CONTINUING EDUCATION

Article 41. Objectives of continuing education

Continuing education enables people to learn while in-service, to learn continuously and for lifelong for development of their capacity, refinement of their personality, broadening their understanding, and for educational, professional and operational enhancement with a view to improving their employability, self-employability, and adaptation to the social life; contributing to the building of a learning society.

Article 42. Tasks of continuing education

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Training, upgrading and enhancing professional capacity; updating and supplying knowledge and skills necessary to people’s life; enabling those with the needs for education to improve their educational qualifications.

Article 43. Programmes, forms, contents and methods of continuing education

1. Continuing education programmes include:

a) Illiteracy eradication;

b) Educational programmes meeting the needs of learners, updating knowledge and skills, and transferring technology;

c) Programmes for training, upgrading and enhancing professional qualifications;

d) [26] Lower secondary education programs and education programs leading to degrees/diplomas of the national educational system.

2. Forms of continuing education include:

a) In-service learning;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Guided self-learning;

d) Other learning forms per learner’s needs.

3. Educational contents of the programmes defined in points a, b, and c of clause 1 of this Article must guarantee the usefulness and help learners improve their working productivity and quality of life.

Educational contents of the programmes defined in point d clause 1 of this Article must lead to the completion of a qualification in the structural framework of the national educational system or the Vietnamese Qualifications Framework, must meet the requirements for contents of the educational programme of the same educational level/training qualification defined in Article 31 of this Law, the Law on Vocational education and Law on Higher education.

4. Methods of continuing education must promote the activeness of learners, with an emphasis on the development of their self-learning ability, and use modern facilities and technology to improve quality and efficiency of teaching and learning.

5. The Minister of Education and Training,[27] within the scope of his/her tasks and powers shall elaborate educational programmes, textbooks, syllabi, materials of continuing education.

Article 44. Continuing education institutions

1. Continuing education programmes are carried out at continuing education institutions, general education institutions, vocational education institutions or higher education institutions, cultural institutions, at the workplace, residential communities, through mass media or other means.

2. Continuing education institutions include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Vocational– continuing education centers;

c) Community learning centers;

d) Other centers that conduct continuing education.

3. Continuing educational programmes of continuing education institutions shall be implemented as follows:

a) Continuing education centers and vocational – continuing education centers shall implement educational programmes defined in clause 1 Article 43 of this Law, except for educational programmes leading to diplomas of vocational secondary education, college degrees, bachelor’s degrees;

b) Community learning centers shall implement educational programmes defined in point a and point b of clause 1 of Article 43 of this Law;

c) Other centers shall implement educational programmes defined in point b and point c of clause 1 of Article 43 of this Law.

4. [28]  General education institutions, vocational education institutions, higher education institutions implementing continuing education programs shall perform their educational and training tasks, and carry out programs defined in point d clause 1 of Article 43 of this Law according to regulations of the Minister of Education and Training.”.

5. [29] (annulled)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Students who complete the illiteracy eradication programme and meet the requirements set by the Minister of Education and Training, will be certified to have completed the illiteracy eradication programme.

2. [30] Students who complete the lower secondary education program specified in point d clause 1 Article 43 of this Law and meet the requirements set by the Minister of Education and Training will be certified in their official academic records by the head of the educational institution providing the lower secondary education program that they have completed lower secondary education.

3. [31] Students who complete the upper secondary education program specified in point d clause 1 Article 43 of this Law and meet the requirements set by the Minister of Education and Training will be eligible to take the examination. Those who pass the examination are issued with diplomas of upper secondary education by the head of the educational institution providing the upper secondary education program.

If a student does not take the examination or fails to pass the examination, the head of the educational institution providing the continuing education program as stipulated in clause 4, Article 44 of this Law shall issue a certificate of completion of general education.

4. Students who complete training programmes and meet the graduation standards of a training qualification as prescribed in the Vietnamese Qualifications Framework, are issued with diplomas corresponding with their training qualifications.

5. Students of upgrading courses conducted via various forms are eligible to take the examination. If they meet the requirements for outcomes of educational programmes prescribed in point b and point c clause 1 Article 43 of this Law, they are issued with certificates of corresponding learning programmes.

Article 46.  Policies on development of continuing education

1. The State shall issue policies on investment in the development of continuing education, provision of education to all the people, promotion of the learning of adults, building of a learning society; and encouragement to organisations and individuals to participate and/or provide continuing educational services of quality, thereby meeting learners’ need for lifelong learning.

2. Authorities and organisations shall facilitate the frequent learning and lifelong learning of cadres, civil servants, public employees and labour workers with a view to developing their abilities and improving quality of life.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Chapter III

SCHOOLS, SPECIAL SCHOOLS AND OTHER EDUCATIONAL INSTITUTIONS

Section 1. ORGANISATION, OPERATION, TASKS AND POWERS OF SCHOOLS

Article 47. Types of schools in the national educational system

1. Schools in the national educational system are organized in the following types:

a) Public schools whose investment is made, operating conditions are guaranteed and ownership is represented by the State;

b) People-founded schools whose infrastructure is invested and operating conditions are guaranteed by local residential communities, including organisations and individuals in hamlets, villages, wards, districts, towns.

The people-founded school type is only applicable to preschool education institutions;

c) Private schools whose investment is made and operating conditions are guaranteed by domestic investors or foreign investors.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. School types in the national educational system shall be converted as follows:

a) Only convert from private school into not-for-profit private school;

b) Comply with regulations prescribed in charters and in organisational and operational regulations of school type at each educational level/training qualification.

c) Protect rights of teachers, lecturers, educational institution managers[32], labour workers and learners;

d) Do not cause losses of land, fund or assets.

3. The Government shall provide for the conversion of school type as prescribed in clause 2 of this Article.

Article 48. Schools of state agencies, of political organisations, of socio-political organisations and of the people's armed forces

1. Schools of state agencies, of political organisations and of socio-political organisations shall educate and train cadres, civil servants and public employees. Schools of the people's armed forces shall educate and train officers, non-commissioned officers, professional staff and defense workers; provide refresher training for leaders and education managers in their tasks and knowledge of national defense and security.

Schools of state agencies, of political organisations, of socio-political organisations and of the people's armed forces are educational institutions of the national educational system, organized and operating following provisions of the Law on Vocational Education, Law on Higher education and school charters at each educational level/training qualification. When meeting the requirements of socio-economic development and authorised by a competent authority to operate in education and to implement educational programmes, these schools are authorised to issue degrees/diplomas and certificates of the national educational system.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 49. [33] (annulled)

Article 50. [34] (annulled)

Article 51. [35] (annulled)

Article 52. Jurisdiction and procedure for establishment or establishment permission; issuance of education licenses, suspension of admission, suspension of educational activities; revocation of decisions on establishment, establishment permission, issuance of education licenses, change of locations where educational activities are conducted, training locations, merger, division, dissolution and renaming of schools [36]

1. Establishment or establishment permission; issuance of education licenses, suspension of admission, suspension of educational activities; revocation of decisions on establishment, establishment permission, issuance of education licenses, change of locations where educational activities are conducted, training locations, merger, division, dissolution and renaming of schools shall be consistent with socio-economic development requirements, strategies, planning,  objectives of each educational level and training qualification, and financial capacity, facilities, staff, and other quality assurance conditions of the schools.

2. The following persons have the jurisdiction to establish public schools or to grant permission to establish people-founded/private schools:

a) Chairpersons of commune-level People's Committees have the jurisdiction to decide establishment of kindergartens, primary schools, lower secondary schools, multi-level schools, semi-boarding ethnic schools, boarding ethnic schools, boarding schools whose highest level is lower secondary;

b) Chairpersons of provincial People's Committees have the jurisdiction to decide establishment of upper secondary schools; multi-level schools; semi-boarding ethnic schools; boarding ethnic schools; boarding schools whose highest level is upper secondary; immediate schools; vocational secondary schools within their provinces; junior kindergartens; primary schools, lower secondary schools, upper secondary schools as proposed by foreign diplomatic representative agencies and/or intergovernmental international organizations;

c) The Minister of Education and Training has the jurisdiction to decide establishment of pre-university schools, colleges, universities and parent universities;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. The jurisdiction to issue education licenses to schools at educational levels and qualifications shall be exercised according to the Government's regulations.

The persons having the jurisdiction to issue education licenses have the jurisdiction to decide suspension of admission, suspension of educational activities and revocation of decisions on issuance of education licenses.

4. The persons having the jurisdiction to establish schools or grant permission for school establishment also have the jurisdiction to revoke decisions on establishment, establishment permission, change of locations where educational activities are conducted, training locations, merger, division, dissolution and renaming of schools.

In case of merger of schools that are not established by authorities of the same level, the superior authority shall make decisions; in case the establishing authorities are of the same level, they shall reach a consensus on decisions.

5. The Government shall provide for conditions and procedures for establishment or establishment permission; issuance of education licenses, suspension of admission, suspension of educational operation; revocation of decisions on establishment, establishment permission, issuance of education licenses, change of locations where educational activities are conducted, training locations, merger, division, dissolution and renaming of schools.

Article 53. Charters and regulations on establishment and operation of educational institutions

1. School charters shall be applied to all school types of preschool education, general education[37], and contain the following main contents:

a) Tasks and rights of the school;

b) Organisation of educational operation in the school;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) Tasks and powers of learners;

dd) Organisation and management of the school;

e) Finance and assets of the school;

g) Relationship between the school, families and society.

2. Organisational and operational regulations of educational institutions shall concretize the contents of school charters for application to each type of educational institutions.

3. The Minister of Education and Training,[38] within the scope of his/her tasks and powers shall promulgate school charters, organisational and operational regulations of educational institutions.

Article 54. Investors

1. [39] (annulled)

2. Rights and responsibilities of investors are prescribed as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Decide total capital contributions of investors, school investment projects, raising of capital (if any); plans for use of annual discrepancies between revenues and expenditures or handling losses of the school; approve annual financial statements;

c) Vote or appoint, dismiss and remove members of school council;

d) Organize supervision and assessment of school council’s operation;

dd) Decide promulgation and amendment to financial regulations; approve matters related to finance and assets in the organisational and operational regulations of the school;

e) Contribute capital fully and timely, supervise capital contributions to the school in compliance with the establishment proposal;

g) Consider handling violations committed by school council and resulting in losses as prescribed by law and by organisational and operational regulations of the school;

h) Decide reorganization, dissolution of the school as prescribed by law; 

i) Publish a list of organisations and individuals that make contributions of capital on the website of the school;

k) Founding investors of not-for-profit private schools are honored for their capital contributions to the establishment, construction and development of the school.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Invest in the establishment of an economic organization in accordance with the Law on Investment and Law on Enterprises in order for this economic organization to establish a private educational institution as prescribed in this Law;

b) Invest directly in the establishment of a private educational institution as prescribed in this Law.

If there are two or more investors, an economic organization must be established to establish the educational institution as prescribed in point a, clause 3 of this Article.

Article 55. School council [41]

1. School councils of private vocational education institutions, private higher education institutions and vocational education institutions and higher education institutions established in accordance with Agreements between the Government of Vietnam and foreign governments shall operate according to the Law on Vocational Education and the Law on Higher Education.

2. School council of a people-founded kindergarten is a school management organization nominated by the community that establishes the kindergarten; and it shall be responsible for deciding operational direction, planning, plans for development, organization, personnel, finance, and assets, thereby ensuring that the educational objectives are achieved in accordance with the law.

The school council shall be composed of representatives of the residential community, the local government and capital contributors to construction and maintenance of operation of the kindergarten.

3. School council of a private kindergarten or a private general education institution is a school management organization, representing the investor and parties with relevant benefits and taking responsibility for executing the investor’s decision.

The school council shall be composed of representatives of the investor, school members and non-members voted and decided in an investor conference on the basis of the percentage of capital contribution.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 56. Principal

1. School principal is responsible for managing the school's operations and is appointed or recognised by a competent authority.

2. The principal of school of the national educational system must be trained in school management and meet standards applicable to school principal.

3. [42] (annulled)

4. [43] (annulled)

Article 55. Advisory council in school

1. Advisory council in school is set up by school principal in order to assist school principal in performing his/her tasks and powers of the school principal.

2. Organisation and operation of the advisory council shall be stipulated in the school charter.

Article 55. Organisations of the Communist Party in school

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 55. Mass organisations and social organizations in school

Mass organisations and social organizations in school are responsible for contributing to the fulfillment of educational objectives and shall operate according to the law.

Article 60. Tasks and powers of schools

1. Schools have the following tasks and powers

a) Publicly announce objectives, programmes, educational plans, education quality assurance conditions, results of assessment and accreditation of education quality; systems of degrees/diplomas and certificates of schools;

b) Organize admission, education, training, scientific research, transfer results of training and scientific research appropriate to functions, duties and powers; ratify or issue degrees/diplomas and certificates within their jurisdiction;

c) Propose demands and participate in recruitment of educators and labour workers in public schools; manage and employ educators and labour workers; manage learners;

d) Mobilize, manage and utilize resources according to the law; build up infrastructure in conformity with the requirements of standardization and modernization;

dd) Cooperate with learners' families, organisations and individuals in educational activities; arrange for educators, labour workers and learners to participate in social activities and community service.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Preschool education and general education institutions shall implement democratic regulations in schools; be answerable to society, learners, authorities; ensure the participation of learners, families and society in school management. Management in institutions of preschool education and public institutions of general education shall comply with the Government’s regulations;

b) Vocational education and higher education institutions shall exercise democratic rights and be held accountable in accordance with the Law on Vocational Education, Law on Higher Education and other relevant regulations.

3. People-founded schools and private schools shall exercise democracy and be responsible for their own development plans, organisation of educational activities, formation and improvement of educator resources, mobilization, use and management of resources for the fulfillment of educational objectives.

Section 2. SPECIAL SCHOOLS AND OTHER EDUCATIONAL INSTITUTIONS

Article 61. Boarding ethnic schools, semi-boarding ethnic schools, boarding schools [44], pre-university schools

1. [45] The State shall establish boarding ethnic schools, semi-boarding ethnic schools, boarding schools and pre-university schools for ethnic learners, and for learners who permanently reside in extremely disadvantaged areas, ethnic minority and mountainous regions, and border communes.

2. Boarding ethnic schools, semi-boarding ethnic schools, boarding schools[46], pre-university schools shall be given priority over allocation of teachers, infrastructure, equipment and budget.

3. [47] The Minister of Education and Training shall provide for rules for organization and operation and conditions to be satisfied by students to study at boarding ethnic schools, semi-boarding ethnic schools, boarding schools and pre-university schools

Article 62. Specialized schools, schools for gifted students

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Schools for gifted students in arts, sports and athletics and other schools for gifted students shall be established to detect and train gifted students and develop their talents and specialist skills in these fields.

2. The State shall give priority over allocation of teachers, infrastructure, equipment and budget to specialized schools and schools for gifted students established by the State; give incentives to schools for gifted students established by individuals/organizations.

3. The Minister of Education and Training,[49] within the scope of his/her tasks and powers shall promulgate advanced educational programmes, organisational and operational regulations for specialized schools and schools for gifted students.

Article 63. Schools and classes for disabled persons

1. The State shall establish and encourage organisations, individuals to establish schools and classes for disabled persons to enable them to restore their functions, to receive education and vocational training and to integrate into the communities.

2. The State shall give priority over allocation of teachers, infrastructure, equipment and budget to schools, classes for disabled persons established by the State; give incentives to schools, classes for disabled persons established by individuals, organisations.

3. [50] The Minister of Education and Training shall issue rules for organization and operation of schools and classes for the disabled.

Article 64. Reformatory schools

1. Reformatory schools are responsible for educating juvenile offenders to enable them to rectify, develop and become good citizens capable of re-integrating into society.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 65. Other educational institutions

1. Other educational institution in the national educational system includes:

a) Independent senior kindergarten classes, independent junior kindergarten classes, illiteracy eradication classes, foreign language classes, informatics classes, classes for children with difficult circumstances and unable to attend school, classes for disabled children;

b) Institutions of continuing education, vocational – continuing education, vocational education, community learning centers, inclusive education support and development centers, other centers performing tasks of continuing education;

c) Academies and institutes established by the Prime Minister in accordance with the Law on Science and Technology and authorised in doctoral education.

2. Heads of other educational institutions prescribed in clause 1 of this Article shall be responsible for the quality of education, management and operation of educational institutions as prescribed by law.

3. The Government shall provide for conditions and jurisdiction over establishment, permission for establishment, merger, full division, partial division, dissolution, operation suspension of educational institutions prescribed in point a and point b of clause 1 of this Article [52]. The Minister of Education and Training,[53] within the scope of his/her tasks and powers shall prescribe organisational and operational regulations of educational institutions prescribed in point a and point b of clause 1 of this Article.

Chapter IV

EDUCATORS, MANAGERS, EDUCATION ASSISTANCE PERSONNEL AND OTHER PERSONNEL [54]

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 66. Educators in educational institutions in the national education system [55]

1. Educators in educational institutions under the national education system include:

a) Permanent educator who is employed and works full-time at only one educational institution;

b) Co-permanent educators of vocational education institutions and public higher education institutions according to the Law on Vocational Education and the Law on Higher Education;

c) Educators working under full-time contracts after their retirement who sign full-time contracts with educational institutions to perform their educator duties after their retirement;

d) Guest educators who are invited by educational institutions to teach at least one subject, module, course, thematic topic, or content in education or training programs carried out by such educational institutions.  Guest educators include guest teachers and lecturers.

2. Permanent educators shall comply with regulations of the Law on Educators.

3. The Minister of Education and Training shall issue specific regulations on educators working under full-time contracts after their retirement and guest educators.

Article 67. [56] (annulled)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Section 2. POSITION, ROLES AND STANDARDS OF MANAGERS, EDUCATION ASSISTANCE PERSONNEL AND OTHER PERSONNEL [58]

Article 66a. Education managers and educational institution managers [59]

1. Education managers are regulated as follows:

a) Education managers are civil servants who exercise the rights and fulfill the obligations in accordance with the law on civil servant;

b) Educators who are seconded by competent authorities to work as education managers shall get to keep their current allowances as stipulated by the Government.

2. Educational institution managers are regulated as follows:

a) Educational institution managers are management public employees working in management positions at educational institutions.

b) Educational institution managers must meet standards and conditions, exercise the rights and fulfill the obligations according to regulations of the Minister of Education and Training and relevant laws;

c) Managers of vocational education institutions, higher education institutions, and schools affiliated to state agencies, political organizations, and socio-political organizations who meet educator training qualification requirements may act as guest educators at educational institutions where they work if required, or may concurrently undertake teaching tasks if assigned by educational institutions;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) The Government shall prescribe procedures for appointing educational institution managers.

3. These regulations do not apply to education managers and managers at educational institutions of the armed forces.

Article 66b. Education assistance personnel and other personnel [60]

1. Education assistance personnel are regulated as follows:

a) Education assistance personnel in educational institutions include those who work in professional and technical positions but are not educators, and work in assistant positions, and other positions consistent with the organizational structure of educational institutions as prescribed by competent authorities (hereinafter referred to as “education assistance personnel”);

b) Education assistance personnel in public educational institutions shall be entitled to professional allowances and other allowances according to the Government’s regulations;

c) The Minister of Education and Training shall prescribe the list of job positions and staffing norm for education assistance personnel in public educational institutions.

2. Personnel other than education assistance personnel as stipulated in clause 1 of this Article (hereinafter referred to as “other personnel”) shall comply with regulations of the Law on Vocational Education, the Law on Higher Education, and other relevant laws.

3. Education assistance personnel and other personnel shall meet the standards prescribed by the Minister of Education and Training and the Minister or the Head of the Ministry-level agency managing specialized civil servants; and exercise the rights and fulfill the obligations of their job positions as prescribed by law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 69. [61] (annulled)

Article 70. [62] (annulled)

Article 71. [63] (annulled)

Section 3. TRAINING FOR EDUCATORS

Article 72. [64] (annulled)

Article 73. [65] (annulled)

Article 74. Educational institutions providing training for educators and educational institution managers [66]

1. Educational institutions providing training for educators include pedagogical schools, educational institutions with faculty of pedagogy, educational institutions authorised to educate and train educators.

2. Educational institutions providing training for educational institution managers[67] include pedagogical schools, higher education institutions with faculty of educational management, educational institutions authorised to educate and train educational institution managers[68].

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. The Minister of Education and Training,[71]  within his/her tasks and powers shall prescribe provision of training for educators and educational institution managers[72]  and educational institutions authorized to train educators and educational institution managers[73] .

Section 4. POLICIES FOR EDUCATORS

Article 75. [74] (annulled)

Article 76. [75] (annulled)

Article 77. [76] (annulled)

Article 78. [77] (annulled)

Article 79. Awarding of titles of “Tiến sĩ danh dự” (honorary doctor) and “Giáo sư danh dự” (honorary professor)

1. Political/social activists having international prestige, educators and scientists who are overseas residing Vietnamese and foreign nationals having major contributions to the cause of education and science in Vietnam shall be awarded the title of “Tiến sĩ danh dự” (honorary doctor) by higher education institutions.

2. Political/social activists of international prestige, educators and scientists who are overseas residing Vietnamese and foreign nationals having major contributions to the cause of education and science in Vietnam and possessing a doctoral degree shall be awarded by the title of “Giáo sư danh dự” (honorary professor) by higher education institutions.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Chapter V

LEARNERS

Section 1. TASKS AND RIGHTS OF LEARNERS

Article 80. Learners

Learners are persons currently learning at educational institutions of the national educational system. Learners include:

1. Children at preschool education institutions;

2. Students at general education institutions, vocational training classes, vocational - continuing education centers, vocational education centers, immediate schools, vocational secondary schools[78]  and pre-university schools;

3. Students at colleges and universities;

4. Students at institutions providing master education;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. Learners of continuing educational programmes.

Article 81. Rights of and policies for children at preschool education institutions

1. Children at preschool education institutions have the right to:

a) Receive care, nurture and education according to programmes of preschool education promulgated by the Minister of Education and Training; receive health care and protection as prescribed in the Children Law and other relevant regulations; and

b) Receive discounts on public entertainment services.

2. The Government shall issue policies for children at preschool education institutions.

Article 82. Tasks of learners

1. Perform learning and training tasks according to educational programmes and plans, and comply with code of conduct of educational institutions.

2. Respect educators, staff and workers of educational institutions; maintain solidarity and mutual support in learning and training; adhere to rules, charters and regulations of educational institutions; and comply with the law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Preserve and protect assets of educational institutions.

5. Contribute to construction, protection and development of the traditions of educational institutions.

Article 83. Rights of learners

1. Receive education and training so as to develop comprehensively and realize their potentials to the fullest.

2. Receive respect; equal opportunities in education and learning; have their talents, gifts, creations and inventions developed; receive full information concerning their own learning and training.

3. Have the possibility of leaping grades, shortening programme duration, learning at an age higher than regulated, extending programme duration or repeating class, be enabled to learn educational programmes as prescribed by law.

4. Learn in a safe and healthy educational environment.

5. Be awarded degrees/diplomas or certificates after completing educational levels, training qualifications or completing educational programmes as prescribed by law.

6. Participate in collective activities in educational institutions in accordance with the law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. Submit, directly or through their legal representatives, to educational institutions measures for the improvement of educational institutions, to protect learners' rights and interests.

9. Benefit from preferential State policies on recruitment into State agencies upon graduation with excellent records and good conduct.

10. Elect representatives for school council as prescribed by law.

Section 2. POLICIES FOR LEARNERS

Article 84. Educational credits

The State shall issue preferential credit policies concerning interest rates, credit's conditions and duration to enable learners to study. Private sector involvement in educational credits is encouraged.

Article 85. Scholarships, social subsidies, tuition exemption/reduction, subsidies on tuition and living costs

1. [79] The State shall issue policies to award scholarships to students as follows:

a) Academic scholarships shall be awarded to students in specilized schools and schools for gifted students specified in Article 62 of this Law and learners at vocational education institutions and higher education institutions; the priority shall be given to learners enrolled in talent training programs and key training fields that meet socio-economic development needs in each stage;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. [80] The State shall elaborate policies on subsidies and exemption/reduction of tuition fees for learners who are social policy beneficiaries, ethnic minorities, learners who permanently reside in extremely disadvantaged areas, ethnic minority and mountainous regions, and border communes, orphans, homeless children, the disabled, persons of poor and near-poor households.

3. The State shall encourage organisations and individuals to grant scholarships or subsidies to learners as prescribed by law.

4. Students at pedagogical institutions will receive subsidies on tuition and living costs throughout the entirety of the course. 02 years after graduation, if persons that receive the subsidies do not work in the field of education or fail to work in education for a sufficient duration, they will have to reimburse the State for the subsidies. The maximum time limit for reimbursement is equal to the training duration.

Students at pedagogical institutions are entitled to academic incentive scholarships, social subsidies, tuition exemption/reduction as prescribed in clause 1 and clause 2 of this Article.

4a. [81] The National Scholarship Fund is a juridical person, has its own seal and account, is affiliated the Ministry of Education and Training and operates for non-profit purposes.

a) The National Scholarship Fund is created by annual funding covered by state budget; voluntary contributions, donations, and gifts from organizations and individuals; and other legal sources as prescribed by law. At the end of the fiscal year, voluntary contributions, donations, or gifts unused shall be retained in the fund for use and are not required to be transferred to state budget;

b) The National Scholarship Fund shall award scholarships to learners participating in talent training programs with the priority given to postgraduate students and learners in basic science, engineering and technology fields and other priority fields; encourage and support learning of and research conducted by students, including undergraduates and postgraduate students; support the development of vocational skills for learners in association with the needs of the labor market and international integration, thereby meeting the needs of socio-economic development in each period and the education development;

c) The Government shall promulgate rules for organization, management and use of the National Scholarship Fund.”.

5. The Government shall elaborate this Article.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Students are entitled to fee exemption or reduction when using public services in transportation, entertainment, and visits to museums, historical relics and cultural attractions as stipulated by the Government.

Article 87. Admission by form of nomination

1. The State shall grant admission to vocational secondary schools, colleges and universities by means of nomination for students from ethnic minorities with sparse population; students from ethnic minorities living in areas with exceptional socio-economic difficulties where no or few officials/public employees who are of ethnic minorities are located; issue policies on formation of nominated admission source, enabling the regulated entities to enter boarding general education schools for ethnic minorities and prolonging pre-university learning time.

2. Provincial People's Committees, based on the needs of their localities, shall propose and allocate nomination quotas; select persons according to approved criteria and quotas; recruit and assign jobs for learners after graduation.

Educational institutions shall be responsible for assisting learners admitted by form of nomination so as to ensure outcome quality.

3. Students of this nomination mode shall be responsible for returning to work for the local authority sending them to study; be recruited and assigned jobs.

4. The Government shall regulate criteria and beneficiaries of the nomination mode; organize the implementation of the nomination mode and recruitment of learners of nomination mode after graduation.

Article 88. Awards for learners

Learners with excellent achievements in learning and training shall be awarded by educational institutions or education authorities; in case of exceptional achievements, the awards shall be issued as regulated by law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



RESPONSIBILITIES OF SCHOOLS, FAMILIES AND SOCIETY IN EDUCATION

Article 89. Responsibilities of schools

1. Schools shall be responsible for implementing plans for universalization of education and codes of conduct; actively cooperating with families and society to organize or participate in educational activities in compliance with school plans, ensuring the safety of teachers and learners; informing study and training results of students to their parents or guardians.

2. Other regulations related to schools in this Chapter shall be applied to other educational institutions.

Article 90. Responsibilities of families

1. Parents or guardians shall be responsible for nurturing, educating, and caring, enabling their children or persons under their guardianship to learn, receive universalized education, complete compulsory education, train and participate in school activities; for respecting educators, preventing disrespect of dignity and honor, and physical assault towards educators.

2. All family members shall be responsible for creating a cultural family and a favorable environment for comprehensively moral, intellectual, physical and aesthetic development of their children; adults are responsible for educating, setting examples for their children, and working with schools to improve quality and efficiency of education.

Article 91. Responsibilities of parents or guardians of students

1. Receive information on study and training results of their children or persons under their guardianship.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Cooperate with schools and/or education authorities to respond to issues related to the education of their children or persons under their guardianship by law.

Article 92. Representative committee of pre-school students' parents

1. Representative committee for the students' parents is established every school year at general and preschool education levels, nominated by parents or guardians in each class or school to cooperate with schools in caring, nurturing and educating students, and operating as regulated by the Minister of Education and Training.

2. This committee must not be established at inter-school or administrative level.

Article 93. Responsibilities of society

1. Agencies, organisations and individuals shall have the following responsibilities:

a) Assisting and cooperating with schools in organizing educational and research activities; enabling teachers and learners to participate in visits, experiences, practice and scientific research;

b) Contributing to creation of a safe and healthy educational environment, while preventing activities with possible negative effects on learners;

c) Enabling citizens of suitable age to fulfill learning obligations so as to contribute to the universalization of education, completing compulsory education, with a view to guaranteeing learners healthy recreational, cultural, sporting and athletic activities;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The Vietnam Fatherland Front Committee and its member organisations shall be responsible for mobilizing the population to take care of the cause of education.

3. The Ho Chi Minh Communist Youth Union and the Ho Chi Minh Young Pioneer Organisation shall be responsible for cooperating with schools in educating the youth and children; mobilizing the youth and children to set examples in learning, training and participating in the development of the cause of education.

Article 94. Learning promotion funds and educational sponsoring funds

The State shall encourage organisations and individuals to establish learning promotion funds and educational sponsoring funds. The establishment and operation of these funds shall comply with the law.

Chapter VII

INVESTMENT AND FINANCE IN EDUCATION

Article 95. Financial sources of investment in education

Financial sources of investment in education comprise:

1. State budget;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Revenues from educational, training, scientific and technological services; service and assistance in educational operation of educational institutions; revenues from business operation; interest from deposits in banks and other legal revenues as regulated by law;

4. Funding for fulfillment of the State’s requests;

5. Loans;

6. Sponsorship, aid, grants of domestic and international organisations and individuals.

Article 96. State budget for investment in education

1. The State shall give first priority to the allocation of state budget for education, ensuring that educational and training expenditures take up at least 20% of the State budget, including investment expense and higher education expense that make up at least 5% and 3% of total state budget expense, respectively[82] .

2. The state budget for education must be allocated on the principles of transparency and democracy, based on the educational scale, socio-economic development conditions of each region; budget must be maintained for universalized education, educational development in ethnic minority areas and areas with exceptional socio-economic difficulties.

The State shall be responsible for the full and timely allocation of budget so as to facilitate the universalization of education and to meet the progress of the school year.

3. Education authorities and educational institutions shall be responsible for effective management and use of the allocated budget for education and other revenues as prescribed by law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Ministries, ministerial-level agencies, People's Councils and People's Committees at all levels shall be responsible for incorporating the construction of schools, sporting, athletic, cultural, artistic facilities in service of education into the planning and socio-economic development plan of their sectors and localities; and shall give priority over finance and land allocation to the construction of schools and dormitories for students and students in their socio-economic development plans.

Article 98. Encouragement to invest in education

1. The State shall encourage and enable organisations and individuals to invest and contribute their intellects, labour and financial resources to education.

2. Contributions and grants made by organisations and individuals to education shall be deducted when determining taxable income in accordance with regulations on taxation.

3. Organisations and individuals investing in the construction of infrastructure catering to education; contributing, sponsoring and funding in cash or in kind for educational development shall be recognised appropriately.

Article 99. Tuition fees, charges for ancillary services serving education (hereinafter referred to as "education service charges") and education and training service expenses [83]

1. Tuition fee is a contribution made by a learner to partially or fully cover education and training service expenses. Tuition fee shall be determined on the basis of a roadmap for covering education and training service expenses as prescribed by the Government. Regarding a vocational education institution or a higher education institution, this fee shall be determined according to the Law on Vocational Education and Law on Higher Education.

2. Education and training service expenses include total amount of salary, direct teaching costs, management costs and costs for depreciation of fixed assets directly and indirectly serving  educational activities according education programs.

Admission fee paid by a candidate when submitting an application or taking an entrance examination shall be determined based on roadmaps of accuracy and adequacy.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Kindergarten children, general education students, and learners in general education programs at public educational institutions shall be exempt from tuition fees. Kindergarten children, general education students, and learners in general education programs at people-founded/private educational institutions will have tuition fees subsidized by the State; the subsidy shall be decided by the provincial People's Council. The tuition fee subsidy shall be based on the tuition fee framework stipulated by the Government, but shall not exceed the tuition fee charged by the people-founded/private educational institution.

4. Tuition fees and education service charges shall be collected and managed as follows:

a)  The Government shall provide for management of tuition fees, education service charges, and service prices in the field of education for educational institutions under the national education system;

b) Provincial People's Councils shall decide specific tuition fees to serve as the basis for tuition fee exemption applying to kindergarten children, general education students, and learners in general education programs at public educational institutions; and decide tuition fees for kindergarten children, general education students, and learners in general education programs at people-founded/private educational institutions as requested by provincial People's Committees;

c) The provincial People's Committee shall issue regulations on collection and use of admission fees for educational levels and decide list of and charges for education services under its management according to clause 2 of this Article;

d) Each vocational education institution or higher education institution shall decide the list of and charges for education services as prescribed in clause 2 of this Article, except for services whose prices are set by the State, and shall be responsible for publicly announcing such charges for each course, educational level, and academic year as prescribed by law;

dd) people-founded/private educational institutions have the right to proactively determine tuition fees and other service charges to cover costs and for accumulation; to publicly announce education and training service expenses as committed in their establishment plans; and to publicly announce tuition fees and other service charges for each course, educational level, and academic year in accordance with the law.

Article 100. Tax incentives for textbooks, teaching materials and equipment

The State shall provide tax incentives for the publication of textbooks, syllabi and teaching materials; for the production and supply of teaching equipment and children toys in institutions of preschool education; for the import of books, periodicals, teaching and learning materials, teaching equipment and research equipment used in educational institutions in accordance with tax laws.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Public educational institutions shall manage financial revenues and expenditures, manage property use as regulated by the Law on State budget, Law on Management and use of public property and other relevant regulations; implement regulations on accounting, auditing, taxation and financial transparency in compliance with the law.

2. People-founded and private institutions shall operate on the principle of financial autonomy, implement regulations on accounting, auditing, taxation, property valuation and financial transparency as prescribed by law. Revenues earned by people-founded and private institutions shall be used for expenditures of the institutions’ necessary operations, fulfillment of duties to the State budget, establishment of investment development funds and other funds of the institutions. The remaining revenues shall be distributed to investors according to their contributions of capital, except for not-for-profit educational institutions.

3. Educational institutions shall publish expenses of educational and training services and fee rate for each school year of preschool education and general education; for each school year and provisionally for each course of vocational education and higher education.

Article 102. Rights to ownership of assets and transfer of capital for people-founded schools and private schools

1. Assets of people-founded schools fall under the ownership of the school as a juridical person and under the protection of the State as prescribed by law.

2. Assets of private schools fall under the ownership of investors, are formed from capital contributions of investors and determined by contract of capital contribution of investors. Transfer of contributed capital shall take place as prescribed by law.

3. [84] Regarding private kindergartens; and private general education institutions, vocational education institutions, and private higher education institutions, capital transfer shall comply with laws on investment and enterprises and relevant laws; maintain stability and development; must not disrupt educational activities; and protect the rights of learners, educators, and employees.

After the capital transfer, educational institutions shall notify education management authorities as delegated and according to the Government's regulations.

Article 103. Preferential policies for people-founded schools and private schools

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. [85] (annulled)

Chapter VIII

STATE MANAGEMENT OF EDUCATION

Article 1. CONTENTS OF STATE MANAGEMENT OF EDUCATION AND STATE AGENCIES IN CHARGE OF MANAGEMENT OF EDUCATION

Article 104. State management of education

1. Formulating and directing implementation of strategies, plans and policies of educational development.

2. Promulgating and organizing the execution of legislative documents on education; promulgating school charters, standards of educational institutions, organisational and operational regulations of educational institutions, charters of representative committee of students’ parents; issuing regulations on in-school and out-of-school teaching and educating activities; issuing regulations on assessment of study and training results; awarding and discipline for learners.

3. [86] Prescribing educator standards, criteria for public employee title in other disciplines under the management; working principles of educators and educational institution managers; professional standards applicable to heads and deputy heads of public educational institutions; list of job positions and staffing norms in educational institutions; codes of conduct for educators; titles equivalent to educator title; jurisdiction to recruit educators and recruitment conditions to be satisfied by educational institutions; training programs; direction and organization of training courses for educators, education managers, educational institution managers, and other personnel in educational institutions.

4. Defining objectives, programmes and contents of education; Vietnamese Qualifications Framework; educator standards; standards and quota of usage of school infrastructure and equipment; compilation, publication and use of textbooks and syllabi; examination, testing, admission, joint training and management of degrees/diplomas and certificates; recognition of degrees/diplomas issued by foreign educational institutions for use in Vietnam.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. Taking statistical tasks and providing information on educational organisation and operation.

7. Organizing educational management apparatus.

8. Organizing and directing training, refresher training and management of educators and educational institution managers[87].

9. Mobilizing, managing and utilizing resources for educational development.

10. Organizing and managing scientific and technological research and application to education.

11. Organizing and managing international cooperation and foreign investment in education.

12. Inspecting and supervising compliance with law on education; settling complaints, denunciations; giving awards and handling violations against regulations on education. 

Article 105. Education authorities

1. The Government shall unify state management of education.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The Ministry of Education and Training is responsible to the Government for state management of preschool education, general education, higher education, vocational education[88]  and continuing education.

3. [89] (annulled)

4. Ministries and ministerial-level agencies, within their tasks and powers, shall be responsible for cooperating with the Ministry of Education and Training[90]in state management of education.

5. [91] People's Committees of all levels shall perform state management of education, within their tasks and powers delegated/authorized in accordance with the law in such a way to meet education development conditions in their provinces.

Section 2. INTERNATIONAL COOPERATION IN EDUCATION

Article 106. Principles of international cooperation in education

The State shall expand and develop international cooperation in education on the principles of respect for national independence and sovereignty, equality and mutual benefit of all parties.

Article 107. Cooperation in education with foreign countries

1. The State shall encourage and enable Vietnamese educational institutions to cooperate with foreign organisations, individuals, and overseas residing Vietnamese in teaching, learning and scientific research.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2a.[92]The State encourages and enables Vietnamese educational institutions to establish representative offices, develop training activities, invest, conduct scientific research and cooperate with reputable educational institutions in foreign countries, thereby contributing to promotion of Vietnamese education in other countries, access to modern technologies, and development of knowledge diplomacy.

3. The State shall set aside its budget to send persons meeting criteria for dignity, morals and qualifications to study and/or conduct research abroad in key professions, jobs and fields so as to serve the construction and defense of the Fatherland.

4. The State shall stipulate Vietnamese citizens’ teaching, studying, science research and/or academic exchange in foreign countries; educational cooperation with foreign organisations, individuals, and overseas residing Vietnamese.

Article 108. Foreign cooperation and investment in education

1. The State shall encourage and enable foreign organisations and individuals, international organisations, overseas residing Vietnamese to teach, study, act as managers, [93]make investment, attract sponsorship, cooperate, conduct scientific research, apply and transfer educational technology in Vietnam; protect legitimate rights and benefits as prescribed in Vietnamese law and international conventions to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

2. Educational cooperation with Vietnam must ensure that learners are educated in terms of personality, civic competence and qualification; honor the national cultural identity; ensure that educational objectives, requirements on educational contents, methods are suitable to each educational level and training qualification in the national educational system; ensure educational operation complies with Vietnamese law.

3. Types of foreign educational cooperation and investment in Vietnam include:

a) Joint education and training;

b) Establishment of representative offices;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) Establishment of educational institutions;

dd) Other types of cooperation and investment.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 109. Recognition of foreign degrees/diplomas [94]

1. A degree/diploma issued by a foreign educational institution will be recognized when the educational institution legally operates, has education programs that meet quality standards set by the degree/diploma-issuing country, and complies with Vietnamese law.

2. The Minister of Education and Training shall elaborate conditions, procedures and jurisdiction over recognition of degrees/diplomas issued by foreign educational institutions.

Section 3. EDUCATION QUALITY ASSURANCE AND ACCREDITATION [95]

Article 110. Education quality assurance and accreditation [96]

1. Education quality assurance is a regular and continuous task of an educational institution under the national education system, and is aimed at improving quality, upholding accountability, and meeting the needs of learners and society.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Vocational and higher education quality assurance and accreditation shall comply with the Law on Vocational Education and the Law on Higher Education.

4. The Minister of Education and Training shall provide for assurance of quality at educational institutions; provide guidance, inspect and supervise education quality assurance and accreditation

Article 111. [97] (annulled)

Article 112.  Education quality accreditation organisations

1. Education quality accreditation organisations (hereinafter referred to as “accreditation organisations”) include:

a) accreditation organisations established by the State;

b) accreditation organisations established by domestic and foreign organisations and individuals;

c) foreign accreditation organisations.

2. Education quality accreditation is regulated as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The Minister of Education and Training shall make decisions on establishment or permission for establishment, issuance of operation licenses[99], suspension of operation, dissolution of  accreditation organizations[100]; decisions on recognition or revocation of decisions on recognition of accreditation organizations operating in Vietnam; on supervision and assessment of accreditation organizations;

c) Education quality accreditation for vocational education and higher education shall comply with regulations of the Law on Vocational education and Law on Higher education.

Chapter IX

IMPLEMENTATION CLAUSES [101]

Article 113. [102] (annulled)

Article 114. Effect

1. This Law takes effect from July 01, 2020.

2. The Education Law No. 38/2005/QH11, amended by Law No. 44/2009/QH12, Law No. 74/2014/QH13 and Law No. 97/2015/QH13 shall cease to be effective from the date on which this Law comes into force, except for the cases prescribed in Article 115 of this Law.

Article 115. [103] (annulled)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



 

CERTIFIED BY

CHAIRMAN




Le Quang Manh

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 72/VBHN-VPQH ngày 25/03/2026 hợp nhất Luật Giáo dục do Văn phòng Quốc hội ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

5.145

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.146