|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 72/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2026
|
LUẬT
GIÁO DỤC
Luật Giáo dục số
43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 123/2025/QH15
ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Giáo dục[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về hệ
thống giáo dục quốc dân; cơ sở giáo dục, nhà giáo, người học; quản lý nhà nước về
giáo dục; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt
động giáo dục.
Điều
2. Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục nhằm
phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu
nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân
trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Điều
3. Tính chất, nguyên lý giáo dục
1. Nền giáo dục Việt
Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện
đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2. Hoạt động giáo dục
được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn,
giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Điều
4. Phát triển giáo dục
1. Phát triển giáo dục là
quốc sách hàng đầu.
2. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối cơ cấu ngành nghề, trình độ, nguồn
nhân lực và phù hợp vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và
hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.
3. Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ
hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình
thức, học tập suốt đời.
Điều 5. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Giáo dục chính quy là giáo dục theo khóa học trong cơ sở giáo
dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được thiết lập theo mục
tiêu của các cấp học, trình độ đào tạo và được cấp văn bằng của hệ thống giáo dục
quốc dân.
2. Giáo dục thường xuyên là giáo dục để thực hiện một chương
trình giáo dục nhất định, được tổ chức linh hoạt về hình thức thực hiện chương
trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của
người học.
3. Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động đánh giá, công nhận
cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành.
4. Niên chế là hình
thức tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo theo năm học.
5. Tín chỉ là đơn vị dùng để đo lường khối lượng kiến thức, kỹ
năng và kết quả học tập đã tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định.
6. Mô-đun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức,
kỹ năng và thái độ một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học có năng lực thực
hiện trọn vẹn một hoặc một số công việc của một nghề.
7. Chuẩn
đầu ra là yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học sau khi
hoàn thành một chương trình giáo dục.
8. Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi
công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định
theo quy định của pháp luật.
9. Giáo dục bắt buộc
là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt
được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo
đảm điều kiện để thực hiện.
10. Khối lượng kiến
thức văn hóa trung học phổ thông là kiến thức, kỹ
năng cơ bản, cốt lõi trong chương trình giáo dục trung học phổ thông mà người học
phải tích lũy để có thể tiếp tục học trình độ giáo dục nghề nghiệp cao
hơn.
11. Nhà
đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về đầu tư[2].
12. Cơ
sở giáo dục là tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục trong hệ thống giáo dục
quốc dân gồm nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
Điều 6. Hệ thống giáo dục quốc dân
1. Hệ
thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục
chính quy và giáo dục thường xuyên.
2. Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống
giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo
dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;
b)
Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo
dục trung học phổ thông;
c)[3] Giáo dục
nghề nghiệp gồm sơ cấp, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và các chương trình
đào tạo nghề khác;
d)[4] Giáo dục đại
học gồm đại học và sau đại học.
3.[5] Thủ tướng
Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung
trình độ quốc gia Việt Nam; quy định về thời gian, tiêu chuẩn cho từng trình độ
đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu các cấp học, trình độ của giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học; quy định về thời gian, tiêu chuẩn, đối tượng,
khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình giáo dục, đào tạo các ngành,
nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác.
4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo,[6] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định ngưỡng
đầu vào trình độ cao đẳng, trình độ đại học thuộc ngành đào tạo giáo viên và
ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe.
Điều 7. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục
1. Nội dung giáo dục phải
bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập
nhật thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức
công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ,
tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học.
2. Phương pháp giáo dục
phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Điều 8. Chương trình giáo dục
1. Chương trình giáo dục
thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt
về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục;
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả
giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học,
mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.
2. Chương trình giáo dục
phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học,
trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ
đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để
địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp
ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục là
cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.
3. Chuẩn kiến thức, kỹ
năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương
trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ
thông; giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục
đại học. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu
về phương pháp giáo dục.
4. Chương trình giáo dục
được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ
thông; theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ hoặc kết
hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
Kết quả học tập môn học
hoặc tín chỉ, mô-đun mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình
giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín
chỉ, mô-đun tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyển
ngành, nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên cấp học, trình độ
đào tạo cao hơn.
5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo,[7] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc
thực hiện chương trình giáo dục và việc công nhận về giá trị chuyển đổi kết quả
học tập trong đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
quy định tại Điều này.
Điều
9. Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục
1. Hướng nghiệp trong
giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài cơ sở giáo dục để
giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp, khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên
cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của
xã hội.
2.[8] Phân luồng
trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng
nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh sau khi hoàn thành chương
trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học nghề và tương
đương tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc tham gia lao động phù hợp với
năng lực, sở trường, năng khiếu, điều kiện của cá nhân và nhu cầu của xã hội.
3.[9] Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định chi tiết hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục.
Điều
10. Liên thông trong giáo dục
1. Liên thông
trong giáo dục là việc sử dụng kết quả học tập đã có để học tiếp ở các cấp học,
trình độ khác cùng ngành, nghề đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành, nghề đào tạo,
hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp với yêu cầu nội dung tương ứng,
bảo đảm liên thông giữa các cấp học,
trình độ đào tạo trong giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và
giáo dục đại học.
2. Việc liên thông trong giáo dục phải đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất
lượng. Chương trình giáo dục được thiết kế theo hướng kế thừa, tích hợp kiến
thức và kỹ năng dựa trên chuẩn đầu ra của từng bậc trình độ đào tạo trong
Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Người học không phải học lại kiến thức và kỹ
năng đã tích lũy ở các chương trình giáo dục trước đó.
3.[10] (được bãi bỏ)
Điều
11. Ngôn ngữ, chữ viết dùng trong cơ sở giáo dục
1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong
cơ sở giáo dục. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo
dục, Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo
dục.
2. Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của
dân tộc mình theo quy định của Chính phủ; người khuyết tật nghe, nói được học bằng
ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy
định của Luật Người khuyết tật.
3. Ngoại ngữ quy định
trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc
tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm để người học
được học liên tục, hiệu quả.
Điều
12. Văn bằng, chứng chỉ[11]
1. Văn bằng của hệ thống
giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông;
người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu
ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy
định của Luật này.
2. Văn bằng của hệ thống
giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề,
bằng trung cấp, bằng cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, văn bằng
chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
3. Chứng chỉ của hệ thống
giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người
học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.
4. Văn bằng, chứng chỉ
do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo
dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.
5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định cụ thể về quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục
quốc dân và công nhận chứng chỉ khác để sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Điều
13. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân
1. Học tập là quyền và
nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh
tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
2. Nhà nước thực hiện
công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo
dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của
mình.
3. Nhà nước ưu tiên, tạo
điều kiện cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật
Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật,
người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập.
Điều
14. Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc
1.[12] Giáo dục
tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc.
Nhà nước thực hiện phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi.
2. Nhà nước chịu
trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch,
bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục.
3. Mọi công dân trong độ
tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành
giáo dục bắt buộc.
4. Gia đình, người giám
hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi
quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt
buộc.
5. [13] Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều
15. Giáo dục hòa nhập
1. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm
đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình
đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người
học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử.
2. Nhà nước có chính
sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định
của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều
16. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục
1. Phát triển giáo dục,
xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.
2. Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại
hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều
kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích
phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục
chất lượng cao.
3. Tổ chức, gia đình và
cá nhân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với cơ sở giáo dục
thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
4. Tổ chức, cá nhân có
thành tích trong sự nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều
17. Đầu tư cho giáo dục
1. Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo
quy định của pháp luật.
2. Nhà nước ưu tiên đầu
tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; ưu tiên đầu tư cho phổ cập
giáo dục, phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công
nghiệp.
Nhà nước khuyến khích
và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.
3. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn lực đầu tư
cho giáo dục.
Điều
18.[14] (được bãi bỏ)
Điều
19. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo[15]
1. Hoạt động khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ của cơ sở giáo dục; được tổ chức thực
hiện phù hợp với mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của từng cấp học, trình độ
đào tạo.
2. Cơ sở giáo dục tự
triển khai hoặc phối hợp với tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật.
3. Nhà nước có chính
sách khuyến khích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
và đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát trong cơ
sở giáo dục, bảo đảm gắn với yêu cầu thực tiễn, tiếp cận xu hướng quốc tế nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, tập trung phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
4. Nhà nước đầu tư chuyển
đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo thông qua phát triển hạ tầng số, nền
tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, ứng dụng công nghệ số
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, quản lý nhà nước, hoạt động dạy và học,
nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
5. Nhà nước có chính
sách ưu tiên, tạo điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng, công nghệ, hỗ trợ đào tạo để
thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và
đào tạo.
6. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
20. Không truyền bá tôn giáo trong cơ sở giáo dục
Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi
tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang
nhân dân.
Điều
21. Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục
1. Cấm lợi dụng hoạt động
giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong
mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội.
2. Cấm lợi dụng hoạt động
giáo dục vì mục đích vụ lợi.
Điều
22. Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục
1. Xúc phạm nhân phẩm,
danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục
và người học.
2. Xuyên tạc nội dung
giáo dục.
3. Gian lận trong học tập,
kiểm tra, thi, tuyển sinh.
4. Hút thuốc; uống rượu,
bia; gây rối an ninh, trật tự.
5. Ép buộc học sinh học
thêm để thu tiền.
6. Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ
giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật.
Chương
II
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC
DÂN
Mục
1. CÁC CẤP HỌC VÀ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
Tiểu
mục 1. GIÁO DỤC MẦM NON
Điều
23. Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non
1. Giáo dục mầm non là
cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển
toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
2. Giáo dục mầm non nhằm
phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.
Điều
24. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non
1. Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm
sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ,
chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em;
phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ,
thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp với các độ tuổi và liên thông với
giáo dục tiểu học.
2. Phương pháp giáo dục mầm non được quy định như sau:
a) Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực
hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự
phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
b) Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải
nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng
nhu cầu, hứng thú của trẻ em.
Điều
25. Chương trình giáo dục mầm non
1. Chương trình giáo dục
mầm non phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thể hiện mục tiêu
giáo dục mầm non;
b)[16] Quy định
yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực sau khi hoàn thành giáo dục nhà trẻ và
giáo dục mẫu giáo; quy định nội dung, hoạt động, phương pháp, hình thức, môi
trường giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ em;
c) Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp
với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non.
2. Hội đồng quốc gia thẩm
định chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập
để thẩm định chương trình giáo dục mầm non. Hội đồng gồm nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục,[17] nhà khoa học có kinh nghiệm,
uy tín về giáo dục và đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có
ít nhất một phần ba tổng số thành viên là nhà giáo đang giảng dạy ở giáo dục mầm
non. Hội đồng và thành viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất
lượng thẩm định.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục mầm non sau khi được thẩm định của Hội
đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn,
quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn
và việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong các cơ sở giáo dục mầm
non; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng
và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm
non.
Điều
26. Cơ sở giáo dục mầm non
Cơ sở giáo dục mầm non
bao gồm:
1. Nhà trẻ, nhóm trẻ độc
lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
2. Trường mẫu giáo, lớp
mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
3. Trường mầm non, lớp
mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ
03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Điều
27. Chính sách phát triển giáo dục mầm non
1. Nhà nước có chính
sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở
miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.
2. Nhà nước có chính
sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non nhằm đáp ứng
nhu cầu xã hội.
3. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Tiểu
mục 2. GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG
Điều
28. Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông
1. Các
cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông được quy định như sau:
a)
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;
b)
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh
vào học lớp sáu
là 11 tuổi và
được tính theo năm;
c) [18]
Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03
năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn
thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương. Tuổi của học sinh
vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm.
2.[19] (được bãi bỏ)
3. Giáo dục phổ thông
được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề
nghiệp. Giai đoạn giáo dục cơ bản gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở; giai
đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là cấp trung học phổ thông. Học sinh
trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa
trung học phổ thông.
4.[20] Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc dạy và học tiếng Việt cho trẻ em là người
dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một; việc giảng dạy khối lượng kiến thức
văn hóa trung học phổ thông trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp; việc giảng dạy khối
lượng kiến thức văn hóa giáo dục phổ thông trong chương trình đào tạo các
ngành, nghề đặc thù; các trường hợp học sinh được học vượt lớp, học ở độ tuổi cao
hơn hoặc thấp hơn tuổi quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều
29. Mục tiêu của giáo dục phổ thông
1. Giáo dục phổ thông
nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ,
kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề
nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Giáo dục tiểu học nhằm
hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
3. Giáo dục trung học
cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học
sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật
và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục
nghề nghiệp.
4. Giáo dục trung học
phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố,
phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông
và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục
đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều
30. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
1. Nội dung giáo dục phổ
thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống;
gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp
ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
2. Yêu cầu về nội dung
giáo dục phổ thông ở các cấp học được quy định như sau:
a) Giáo dục tiểu học phải
bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn
diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản,
cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội;
có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện
thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
b) Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học,
bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử
dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học,
ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
c) Giáo dục trung học
phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội
dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và
hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển
năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
3. Phương pháp giáo dục
phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù
hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng
phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập;
phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.
Điều
31. Chương trình giáo dục phổ thông
1. Chương trình giáo dục
phổ thông phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thể hiện mục tiêu
giáo dục phổ thông;
b) Quy định yêu cầu về
phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, nội dung giáo
dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trong cả nước;
c) Quy định phương
pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với
các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;
d) Thống nhất trong cả
nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa
phương và cơ sở giáo dục phổ thông;
đ) Được lấy ý kiến rộng
rãi các tổ chức, cá nhân và thực nghiệm trước khi ban hành; được công bố công khai
sau khi ban hành.
2. Hội đồng quốc gia thẩm
định chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành
lập để thẩm định chương trình giáo dục phổ thông. Hội đồng gồm nhà giáo, cán bộ
quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,[21] nhà khoa học có kinh nghiệm, uy tín về giáo dục và đại diện
cơ quan, tổ chức có liên quan. Hội đồng phải có ít nhất một phần ba tổng số
thành viên là nhà giáo đang giảng dạy ở cấp học tương ứng. Hội đồng và thành
viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình giáo dục phổ thông; ban
hành chương trình giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng quốc gia thẩm định
chương trình giáo dục phổ thông thẩm định; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên
soạn, chỉnh sửa chương trình giáo dục phổ thông; quy định về mục tiêu, đối tượng,
quy mô, thời gian thực nghiệm một số nội dung, phương pháp giáo dục mới trong
cơ sở giáo dục phổ thông; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động,
tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định
chương trình giáo dục phổ thông.
Điều
32. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông và tài liệu giáo dục địa phương[22]
1. Sách giáo khoa giáo
dục phổ thông được quy định như sau:
a) Sách giáo khoa triển
khai chương trình giáo dục phổ thông, cụ thể hóa yêu cầu của chương trình giáo
dục phổ thông về mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của
học sinh; định hướng về phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra, đánh giá
chất lượng giáo dục; nội dung và hình thức sách giáo khoa không mang định kiến
dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội; sách giáo khoa
thể hiện dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille, sách điện tử;
b)
Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa
cho học sinh; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa
giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc;
c)
Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định và thành lập theo từng môn học, hoạt động giáo dục để thẩm định sách giáo khoa.
Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm
định;
d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông
sau khi được Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa thẩm định và đánh giá xếp
loại đạt; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa
giáo dục phổ thông.
2. Tài liệu giáo dục địa
phương được quy định như sau:
a) Tài liệu giáo dục địa
phương do cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức biên soạn
đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương;
b) Hội đồng thẩm định
tài liệu giáo dục địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập. Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất
lượng thẩm định;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phê duyệt tài liệu giáo dục địa phương để sử dụng trong cơ sở giáo
dục phổ thông sau khi được Hội đồng cấp tỉnh thẩm định và đánh giá xếp loại đạt;
d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa và thẩm định tài
liệu giáo dục địa phương.
Điều
33. Cơ sở giáo dục phổ thông
Cơ sở giáo dục phổ
thông bao gồm:
1. Trường tiểu học;
2. Trường trung học cơ
sở;
3. Trường trung học phổ
thông;
4. Trường phổ thông có
nhiều cấp học.
Điều
34. Xác nhận hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông và cấp văn bằng tốt nghiệp trung học phổ thông[23]
1. Học sinh học hết
chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở đủ điều
kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng
nhà trường xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học,
chương trình giáo dục trung học cơ sở.
2. Học sinh học hết
chương trình giáo dục trung học phổ thông đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo được dự thi, đạt yêu cầu được hiệu trưởng nhà trường cấp
bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Trường hợp học sinh
không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy
chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Giấy chứng nhận hoàn
thành chương trình giáo dục phổ thông được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng tốt
nghiệp trung học phổ thông khi người học có nhu cầu hoặc để theo học giáo dục
nghề nghiệp và sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.
Tiểu
mục 3. GIÁO DỤC
NGHỀ NGHIỆP
Điều
35. Các cấp học, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp[24]
1. Đào tạo trình độ sơ
cấp và chương trình đào tạo nghề khác dành cho người có trình độ học vấn phù hợp.
2. Giáo dục trung học
nghề dành cho người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc
tương đương; giáo dục trung học nghề cùng cấp học với giáo dục trung học phổ
thông.
3. Đào tạo trình độ
trung cấp, cao đẳng dành cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học
nghề hoặc tương đương trở lên. Đối với trình độ trung cấp các ngành, nghề đặc
thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác theo quy
định của Thủ tướng Chính phủ.
Điều
36. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp nhằm
đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực
hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm
nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo
đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau
khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học
trình độ cao hơn.
Điều
37. Tổ chức và hoạt động giáo dục nghề nghiệp
Tổ chức
và hoạt động giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật này và
Luật Giáo dục nghề nghiệp.
Tiểu
mục 4. GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC
Điều
38. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học[25]
1. Đào tạo trình độ đại
học dành cho người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc
tương đương trở lên.
2. Đào tạo sau đại học
gồm:
a) Đào tạo trình độ thạc
sĩ dành cho người học có trình độ từ đại học trở lên;
b) Đào tạo trình độ tiến
sĩ dành cho người học có trình độ thạc sĩ hoặc người học có trình độ từ đại học
trở lên.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định học liên thông giữa trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và
đại học.
Điều
39. Mục tiêu của giáo dục đại học
1. Đào tạo nhân lực
trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công
nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.
2. Đào
tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng,
trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ
tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi
trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân.
Điều
40. Tổ chức và hoạt động giáo dục đại học
Tổ chức
và hoạt động giáo dục đại học được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật
Giáo dục đại học.
Mục 2. GIÁO DỤC THƯỜNG
XUYÊN
Điều
41. Mục tiêu của giáo dục thường xuyên
Giáo dục thường xuyên
nhằm tạo điều kiện cho mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học tập suốt đời
nhằm phát huy năng lực cá nhân, hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết,
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để tìm việc làm, tự tạo việc
làm và thích nghi với đời sống xã hội; góp phần xây dựng xã hội học tập.
Điều
42. Nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên
1. Thực hiện xóa mù chữ
cho người trong độ tuổi theo quy định của pháp luật.
2. Đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao năng lực làm việc; cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng cần thiết
trong cuộc sống cho mọi người; tạo cơ hội cho người có nhu cầu học tập nâng cao
trình độ học vấn.
Điều
43. Chương trình, hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục thường xuyên
1. Chương trình giáo dục
thường xuyên bao gồm:
a) Chương trình xóa mù
chữ;
b) Chương trình giáo dục
đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công
nghệ;
c) Chương trình đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp;
d)[26] Chương
trình giáo dục trung học cơ sở và chương trình giáo dục thuộc chương trình để cấp
văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.
2. Hình thức thực hiện
chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm:
a) Vừa
làm vừa học;
b) Học
từ xa;
c) Tự
học, tự học có hướng dẫn;
d)
Hình thức học khác theo nhu cầu của người học.
3. Nội
dung chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại các điểm a, b và c khoản 1
Điều này phải bảo đảm tính thiết thực, giúp người học nâng cao khả năng lao động,
sản xuất, công tác và chất lượng cuộc sống.
Nội
dung chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này
nhằm đạt một trình độ trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung
trình độ quốc gia Việt Nam, phải bảo đảm yêu cầu về nội dung của chương
trình giáo dục cùng cấp học, trình độ đào tạo quy định tại Điều
31 của Luật này, quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại
học.
4.
Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy tính chủ động của người học,
coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học; sử dụng phương tiện và công nghệ hiện
đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.
5. Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[27] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, quy định chi tiết về chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu
giáo dục thường xuyên.
Điều 44. Cơ sở giáo dục thường xuyên
1.
Giáo dục thường xuyên được thực hiện tại cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở
giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở
văn hóa, tại nơi làm việc, cộng đồng dân cư, qua phương tiện thông tin đại
chúng và phương tiện khác.
2. Cơ
sở giáo dục thường xuyên bao gồm:
a) Trung tâm giáo dục
thường xuyên;
b) Trung tâm giáo dục
nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên;
c) Trung tâm học tập cộng
đồng;
d) Trung tâm khác thực
hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.
3. Việc thực hiện
chương trình giáo dục thường xuyên của cơ sở giáo dục thường xuyên được quy định
như sau:
a) Trung tâm giáo dục
thường xuyên, trung
tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thực hiện chương trình quy định
tại khoản 1 Điều 43 của Luật này, trừ chương trình giáo dục
để lấy bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân;
b) Trung tâm học tập cộng
đồng thực hiện chương trình quy định tại điểm a và điểm b khoản
1 Điều 43 của Luật này;
c) Trung tâm khác thực
hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên thực hiện chương trình quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này.
4.[28] Cơ sở giáo
dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học khi thực hiện các chương
trình giáo dục thường xuyên phải bảo đảm nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của mình;
thực hiện chương trình quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43
của Luật này theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5.[29] (được bãi bỏ)
Điều
45. Đánh giá, công nhận kết quả học tập
1. Học viên tham gia
chương trình xóa mù chữ, đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo thì được công nhận hoàn thành chương trình xóa mù chữ.
2.[30] Học viên học
hết chương trình giáo dục trung học cơ sở quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 43 của Luật này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương
trình giáo dục trung học cơ sở xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình
trung học cơ sở.
3.[31] Học viên học hết chương trình giáo dục trung
học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật
này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện
chương trình giáo dục trung học phổ thông cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông.
Trường hợp
học viên không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở
giáo dục thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại khoản 4 Điều 44 của Luật này cấp giấy chứng nhận hoàn
thành chương trình giáo dục phổ thông.
4.
Học viên hoàn thành chương trình đào tạo, đạt chuẩn đầu ra của một trình độ đào
tạo theo quy định của Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì được cấp bằng tương ứng với trình độ đào tạo.
5.
Học viên học các khóa bồi dưỡng theo các hình thức khác nhau được dự thi, nếu đạt
yêu cầu theo chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục quy định tại điểm
b và điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này thì được cấp chứng chỉ tương ứng với
chương trình học.
Điều 46. Chính sách phát triển giáo dục thường xuyên
1. Nhà nước
có chính sách đầu tư phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi
người, thúc đẩy việc học tập của người lớn, xây dựng xã hội học tập; khuyến
khích tổ chức, cá nhân tham gia, cung ứng dịch vụ giáo dục thường xuyên có chất
lượng, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học.
2. Cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức,
viên chức và người lao động được thường xuyên học tập, học tập suốt đời để phát
triển bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống.
3. Cơ sở
giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm phối hợp với cơ sở
giáo dục thường xuyên trong việc cung cấp nguồn học liệu cho cơ sở giáo dục thường
xuyên để đáp ứng nhu cầu học tập của người học; cơ sở giáo dục đào tạo nhà giáo
có trách nhiệm nghiên cứu về khoa học giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo của các cơ sở giáo dục thường xuyên.
Chương III
NHÀ TRƯỜNG, TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC
Mục
1. TỔ CHỨC, HOẠT
ĐỘNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Điều 47. Loại hình nhà trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân
1. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ
chức theo các loại hình sau đây:
a) Trường công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại
diện chủ sở hữu;
b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở gồm tổ
chức và cá nhân tại thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, xã, phường, thị trấn
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm điều kiện hoạt động.
Loại hình trường dân lập chỉ áp dụng đối với cơ sở
giáo dục mầm non;
c) Trường tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động.
Trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là trường
mà nhà đầu tư cam kết và thực hiện cam kết hoạt động không vì lợi nhuận, được
ghi trong quyết định thành lập hoặc quyết định chuyển đổi loại hình trường; hoạt
động không vì lợi nhuận, không rút vốn, không hưởng lợi tức; phần lợi nhuận
tích lũy hằng năm thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia để tiếp tục đầu
tư phát triển nhà trường.
2. Việc chuyển đổi loại hình nhà trường trong hệ thống
giáo dục quốc dân được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Chỉ chuyển đổi loại hình nhà trường từ trường tư thục
sang trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận;
b) Thực hiện quy định của điều lệ, quy chế tổ chức và
hoạt động của loại hình nhà trường ở mỗi cấp học, trình độ đào tạo;
c) Bảo đảm quyền của giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[32], người lao động và người học;
d) Không làm thất thoát đất đai, vốn và tài sản.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc chuyển đổi loại
hình nhà trường quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 48. Trường của cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang
nhân dân
1. Trường của cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Trường của lực lượng vũ trang nhân dân có
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và
công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm
vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.
Trường của cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân
dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, được tổ chức và hoạt động
theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và điều lệ
nhà trường ở mỗi cấp học, trình độ đào tạo khi đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục,
thực hiện chương trình giáo dục thì được cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống
giáo dục quốc dân.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 49.[33] (được
bãi bỏ)
Điều 50.[34] (được
bãi bỏ)
Điều 51.[35] (được
bãi bỏ)
Điều
52. Thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động
giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định
thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục,
thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia,
tách, giải thể, đổi tên nhà trường[36]
1. Việc thành lập hoặc
cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ
hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi
quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc
địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường phải phù hợp với
chiến lược, quy hoạch, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu của từng cấp
học, trình độ đào tạo và năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ, các điều
kiện bảo đảm chất lượng khác của nhà trường.
2. Thẩm quyền thành lập
trường công lập và cho phép thành lập trường dân lập, trường tư thục được quy định
như sau:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã quyết định đối với trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học
cơ sở; trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường
phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất
là trung học cơ sở;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định đối với trường trung học phổ thông; trường phổ thông có
nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội
trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất là trung học phổ
thông; trường trung cấp, trường trung học nghề trên địa bàn tỉnh; trường mầm
non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông do cơ
quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đề nghị;
c) Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quyết định đối với trường dự bị đại học, trường cao đẳng, trường đại
học, đại học;
d) Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quyết định đối với trường mầm non, trường trung học phổ thông, trường
trung cấp, trường cao đẳng thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định
đối với các trường trung học phổ thông, trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc
Bộ Công an.
3. Thẩm quyền cấp phép
hoạt động giáo dục đối với nhà trường ở các cấp học, trình độ đào tạo thực hiện
theo quy định của Chính phủ.
Người có thẩm quyền cấp
phép hoạt động giáo dục có thẩm quyền quyết định đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ
hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục.
4. Người có thẩm quyền
thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường có thẩm quyền thu hồi quyết định
thành lập hoặc cho phép thành lập, quyết định thay đổi địa điểm hoạt động giáo
dục hoặc địa điểm đào tạo, quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên
nhà trường.
Trường hợp sáp nhập giữa
các nhà trường không do cùng một cấp có thẩm quyền thành lập thì cấp có thẩm
quyền cao hơn quyết định; trường hợp cấp có thẩm quyền thành lập ngang nhau thì
cấp có thẩm quyền ngang nhau đó thỏa thuận quyết định.
5. Chính phủ quy định
điều kiện, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục,
đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập
hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi
địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải
thể, đổi tên nhà trường.
Điều
53. Điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của
cơ sở giáo dục
1. Điều lệ nhà trường
được áp dụng chung cho các loại hình nhà trường ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông[37] và có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nhiệm vụ và quyền hạn
của nhà trường;
b) Tổ chức hoạt động
giáo dục trong nhà trường;
c) Nhiệm vụ và quyền của
nhà giáo;
d) Nhiệm vụ và quyền của
người học;
đ) Tổ chức và quản lý
nhà trường;
e) Tài chính và tài sản
của nhà trường;
g) Quan hệ giữa nhà trường,
gia đình và xã hội.
2. Quy chế tổ chức và
hoạt động của cơ sở giáo dục cụ thể hóa các nội dung của điều lệ nhà trường để
áp dụng cho từng loại hình cơ sở giáo dục.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo,[38] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành điều lệ
nhà trường, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục.
Điều
54. Nhà đầu tư
1.[39] (được bãi bỏ)
2. Quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư được quy định
như sau:
a) Thông qua kế hoạch
phát triển nhà trường theo quy định của pháp luật do hội đồng trường đề xuất;
b) Quyết định tổng vốn
góp của nhà đầu tư, dự án đầu tư phát triển trường, việc huy động vốn đầu tư (nếu
có); phương án sử dụng phần chênh lệch thu, chi hằng năm hoặc phương án xử lý lỗ
của nhà trường; thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
c) Bầu hoặc cử, miễn
nhiệm, bãi nhiệm thành viên của hội đồng trường;
d) Tổ chức giám sát và
đánh giá hoạt động của hội đồng trường;
đ) Quyết định ban hành,
sửa đổi, bổ sung quy chế tài chính; thông qua nội dung liên quan đến tài chính,
tài sản trong quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường;
e) Góp vốn đầy đủ, đúng
hạn, giám sát việc góp vốn vào nhà trường theo đề án thành lập;
g) Xem xét, xử lý vi phạm
gây thiệt hại của hội đồng trường theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức
và hoạt động của nhà trường;
h) Quyết định tổ chức lại,
giải thể nhà trường theo quy định của pháp luật;
i) Công khai danh sách
tổ chức và cá nhân góp vốn đầu tư trên trang thông tin điện tử của nhà trường;
k) Nhà đầu tư thành lập
trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận được vinh danh về công lao góp vốn
đầu tư thành lập, xây dựng và phát triển trường.
3.[40] Nhà đầu tư
thành lập cơ sở giáo dục tư thục được lựa chọn một trong các phương thức sau
đây:
a) Đầu tư thành lập tổ
chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp để
tổ chức kinh tế thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này;
b) Trực tiếp đầu tư
thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này.
Trường hợp có từ hai
nhà đầu tư trở lên thì phải thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện việc thành lập
cơ sở giáo dục theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
Điều
55. Hội đồng trường[41]
1. Hội đồng trường của
cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học thành lập theo Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam
với chính phủ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục
nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.
2. Hội đồng trường của
trường mầm non dân lập là tổ chức quản trị nhà trường, do cộng đồng dân cư
thành lập trường đề cử; chịu trách nhiệm quyết định phương hướng hoạt động, quy
hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, bảo đảm thực
hiện mục tiêu giáo dục, phù hợp với quy định của pháp luật.
Thành phần hội đồng trường
gồm đại diện cộng đồng dân cư, đại diện chính quyền địa phương cấp xã và người
góp vốn xây dựng, duy trì hoạt động của nhà trường.
3. Hội đồng trường của
trường mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục là tổ chức quản trị
nhà trường, thực hiện quyền đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên
quan, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định của nhà đầu tư.
Thành phần hội đồng trường của trường mầm non tư
thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục gồm đại diện nhà đầu tư, thành viên
trong và ngoài trường được hội nghị nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn
góp.
4. Thủ tục thành lập,
cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường; mối quan hệ giữa nhà đầu
tư với hội đồng trường, hiệu trưởng nhà trường quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều
này được quy định trong điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường.
Điều
56. Hiệu trưởng
1. Hiệu trưởng là người
chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường, do cơ quan có
thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận.
2. Hiệu trưởng trường
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản
lý trường học và đạt chuẩn hiệu trưởng.
3.[42] (được bãi bỏ)
4.[43] (được bãi bỏ)
Điều
57. Hội đồng tư vấn trong nhà trường
1. Hội đồng tư vấn trong
nhà trường do hiệu trưởng thành lập để tư vấn giúp hiệu trưởng thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình.
2. Tổ chức và hoạt động
của hội đồng tư vấn được quy định trong điều lệ nhà trường.
Điều
58. Tổ chức Đảng trong nhà trường
Tổ chức Đảng Cộng sản
Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật.
Điều
59. Đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường
Đoàn thể, tổ chức xã hội
trong nhà trường có trách nhiệm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và hoạt động
theo quy định của pháp luật.
Điều
60. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường
1. Nhà trường có nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
a) Công bố công khai mục
tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, kết
quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; hệ thống văn bằng, chứng chỉ của
nhà trường;
b) Tổ chức tuyển sinh,
giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kết quả đào tạo và nghiên cứu
khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xác nhận hoặc cấp văn bằng,
chứng chỉ theo thẩm quyền;
c) Chủ động đề xuất nhu
cầu, tham gia tuyển dụng nhà giáo, người lao động trong trường công lập; quản
lý, sử dụng nhà giáo, người lao động; quản lý người học;
d) Huy động, quản lý, sử
dụng nguồn lực theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu
chuẩn hóa, hiện đại hóa;
đ) Phối hợp với gia
đình, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục; tổ chức cho nhà giáo, người
lao động và người học tham gia hoạt động xã hội, phục vụ cộng đồng.
2. Việc thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của trường công lập được quy định như
sau:
a) Cơ sở giáo dục mầm
non, cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường; có
trách nhiệm giải trình với xã hội, người học, cơ quan quản lý; bảo đảm việc
tham gia của người học, gia đình và xã hội trong quản lý nhà trường. Việc quản
lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập thực hiện
theo quy định của Chính phủ;
b) Cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình
theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
3. Trường dân lập, trường tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm
về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục,
xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn
lực để thực hiện mục tiêu giáo dục.
Mục
2. TRƯỜNG
CHUYÊN BIỆT VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC
Điều
61. Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú,[44] trường dự bị đại học
1.[45] Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường
phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học cho
người học là người dân tộc thiểu số, người học thường trú tại vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
xã biên giới.
2. Trường phổ thông dân
tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú,[46]
trường dự bị đại học được ưu tiên bố trí giáo
viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách.
3.[47] Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động, quy định điều kiện
học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc
bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học.
Điều
62. Trường chuyên, trường năng khiếu
1.[48] Trường chuyên được thành lập ở cấp trung học phổ thông dành
cho học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu về một
số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện, tạo nguồn đào tạo
nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Trường năng khiếu nghệ
thuật, thể dục, thể thao và các trường năng khiếu khác được thành lập nhằm phát
hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, kỹ năng chuyên sâu của học sinh trong
các lĩnh vực tương ứng.
2. Nhà nước ưu tiên bố
trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường chuyên, trường
năng khiếu do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường năng khiếu
do tổ chức, cá nhân thành lập.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo,[49] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chương trình giáo dục nâng cao, quy chế tổ chức và hoạt động của trường chuyên,
trường năng khiếu.
Điều
63. Trường, lớp dành cho người khuyết tật
1. Nhà nước thành lập
và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người khuyết tật
nhằm giúp người khuyết tật được phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và
hòa nhập cộng đồng.
2. Nhà nước ưu tiên bố
trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường, lớp dành cho
người khuyết tật do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường, lớp
dành cho người khuyết tật do tổ chức, cá nhân thành lập.
3.[50] Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lớp
dành cho người khuyết tật.
Điều
64. Trường giáo dưỡng
1. Trường giáo dưỡng có
nhiệm vụ giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật để đối tượng này rèn
luyện, phát triển lành mạnh, trở thành người lương thiện, có khả năng tái hòa
nhập vào đời sống xã hội.
2. Bộ trưởng Bộ Công an
có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo[51] quy định
chương trình giáo dục cho trường giáo dưỡng.
Điều
65. Cơ sở giáo dục khác
1. Cơ sở giáo dục khác
trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Nhóm trẻ độc lập, lớp
mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập, lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học,
lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi học ở trường, lớp
dành cho trẻ khuyết tật;
b) Trung tâm giáo dục
thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm
giáo dục nghề nghiệp, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm hỗ trợ phát triển
giáo dục hòa nhập, các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên;
c) Viện Hàn lâm, viện
do Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ được phép đào tạo trình độ tiến
sĩ.
2. Người đứng đầu cơ sở
giáo dục khác quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm về chất lượng giáo
dục, quản lý, điều hành cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.
3. Chính phủ quy định
chi tiết điều kiện, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia,
tách, giải thể, đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục quy định tại điểm a và điểm
b khoản 1 Điều này[52]. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,[53] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định quy chế
tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục quy định tại điểm a và điểm b khoản 1
Điều này.
Chương
IV
NHÀ GIÁO, CÁN BỘ QUẢN
LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC[54]
Mục
1. VỊ TRÍ, VAI
TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA NHÀ GIÁO
Điều
66. Nhà giáo trong cơ sở giáo dục thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân[55]
1. Nhà giáo trong cơ sở
giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Nhà giáo cơ hữu là
nhà giáo được tuyển dụng và thực hiện chế độ làm việc toàn thời gian tại duy nhất
một cơ sở giáo dục;
b) Nhà giáo đồng cơ hữu
của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập thực hiện theo quy định
của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học;
c) Nhà giáo hợp đồng
toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là nhà giáo sau khi nghỉ hưu được cơ sở giáo dục
ký hợp đồng lao động toàn thời gian để thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo;
d) Nhà giáo thỉnh giảng
là người được cơ sở giáo dục mời tham gia giảng dạy ít nhất một môn học,
mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, chương
trình đào tạo do cơ sở giáo dục thực hiện. Nhà giáo thỉnh giảng gồm giáo viên
thỉnh giảng và giảng viên thỉnh giảng.
2. Nhà giáo cơ hữu thực
hiện theo quy định của Luật Nhà giáo.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định chi tiết về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu
và nhà giáo thỉnh giảng.
Điều
67.[56] (được bãi bỏ)
Điều
68.[57] (được bãi bỏ)
Mục
2. VỊ TRÍ, VAI
TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ KHÁC[58]
Điều
66a. Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[59]
1. Cán bộ quản lý giáo
dục được quy định như sau:
a) Cán bộ quản lý giáo
dục là công chức và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về
công chức;
b) Nhà giáo được cơ
quan có thẩm quyền điều động làm cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu các chế độ
phụ cấp đối với nhà giáo theo quy định của Chính phủ.
2. Cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục được quy định như sau:
a) Cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục công lập là viên chức quản lý, làm việc ở vị trí việc làm quản lý
trong cơ sở giáo dục;
b) Cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện và thực hiện các quyền, nghĩa vụ
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định khác của
pháp luật có liên quan;
c) Cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đạt yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo
của nhà giáo được tham gia thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục đang công tác nếu cơ
sở giáo dục có nhu cầu hoặc được kiêm nhiệm công tác giảng dạy nếu cơ sở giáo dục
phân công;
d) Cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục công lập được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ khác theo
quy định của Chính phủ;
đ) Chính phủ quy định
thủ tục, quy trình bổ nhiệm cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.
3. Quy định này không
áp dụng đối với cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục
của lực lượng vũ trang.
Điều
66b. Nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác[60]
1. Nhân sự hỗ trợ giáo
dục trong cơ sở giáo dục được quy định như sau:
a) Nhân sự hỗ trợ giáo
dục trong cơ sở giáo dục bao gồm người làm việc ở vị trí việc làm chuyên môn,
nghiệp vụ nhưng không phải là nhà giáo, vị trí việc làm hỗ trợ và vị trí việc
làm khác phù hợp với mô hình tổ chức cơ sở giáo dục theo quy định của cấp có thẩm
quyền (sau đây gọi chung là nhân sự hỗ trợ giáo dục);
b) Nhân sự hỗ trợ giáo
dục trong cơ sở giáo dục công lập được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ
khác theo quy định của Chính phủ;
c) Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định danh mục, khung danh mục vị trí việc làm, định mức số lượng
người làm việc đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập.
2. Nhân sự khác ngoài
nhân sự hỗ trợ giáo dục quy định tại khoản 1 Điều này (sau đây gọi là nhân sự
khác) thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại
học và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Nhân sự hỗ trợ giáo
dục và nhân sự khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý viên chức
chuyên ngành; thực hiện quyền và nghĩa vụ của vị trí việc làm theo quy định của
pháp luật.
4. Địa phương, cơ sở
giáo dục, cơ sở tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp có chính sách hỗ trợ đối
với nhân sự hỗ trợ giáo dục và nhân sự khác phù hợp với điều kiện thực tiễn và
nguồn tài chính của đơn vị.
Điều
69.[61] (được bãi bỏ)
Điều
70.[62] (được bãi bỏ)
Điều
71.[63] (được bãi bỏ)
Mục
3. ĐÀO TẠO VÀ BỒI
DƯỠNG NHÀ GIÁO
Điều
72.[64] (được bãi bỏ)
Điều
73.[65] (được bãi bỏ)
Điều
74. Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản
lý cơ sở giáo dục[66]
1. Cơ sở giáo dục thực
hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo gồm trường sư phạm, cơ sở giáo dục có
khoa sư phạm, cơ sở giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo.
2. Cơ sở giáo dục thực
hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[67] gồm trường
sư phạm, cơ sở giáo dục đại học có khoa quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục được
phép đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[68].
3. Trường sư phạm do
Nhà nước thành lập để đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[69] được ưu
tiên trong việc tuyển dụng nhà giáo, bố trí cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[70], đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất, ký túc xá và bảo đảm kinh phí đào tạo. Trường sư phạm
có trường thực hành hoặc cơ sở thực hành.
4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo,[71] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc
thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[72] và cơ sở
giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[73].
Mục
4. CHÍNH SÁCH ĐỐI
VỚI NHÀ GIÁO
Điều
75.[74] (được bãi bỏ)
Điều
76.[75] (được bãi bỏ)
Điều
77.[76] (được bãi bỏ)
Điều
78.[77] (được bãi bỏ)
Điều
79. Phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự
1. Nhà hoạt động chính
trị, xã hội có uy tín quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, người nước ngoài có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa
học của Việt Nam được cơ sở giáo dục đại học phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh
dự.
2. Nhà hoạt động chính trị,
xã hội có uy tín quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, người nước ngoài có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của
Việt Nam, có bằng tiến sĩ, được cơ sở giáo dục đại học phong tặng danh hiệu
Giáo sư danh dự.
3. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Chương
V
NGƯỜI HỌC
Mục
1. NHIỆM VỤ VÀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI HỌC
Điều
80. Người học
Người học là người đang
học tập tại cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
1. Trẻ em của cơ sở giáo
dục mầm non;
2. Học sinh của cơ sở
giáo dục phổ thông, lớp đào tạo nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục
thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường trung học nghề,[78] trường dự bị đại học;
3. Sinh viên của trường
cao đẳng, trường đại học;
4. Học viên của cơ sở
đào tạo thạc sĩ;
5. Nghiên cứu sinh của
cơ sở đào tạo tiến sĩ;
6. Học viên theo học
chương trình giáo dục thường xuyên.
Điều
81. Quyền của trẻ em và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non
1. Trẻ em tại cơ sở
giáo dục mầm non có các quyền sau đây:
a) Được chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành; được chăm sóc sức khỏe và bảo vệ theo quy định của Luật Trẻ
em và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Được miễn, giảm giá
vé đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí công cộng.
2. Chính phủ quy định
chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non.
Điều
82. Nhiệm vụ của người học
1. Học tập, rèn luyện
theo chương trình, kế hoạch giáo dục, quy tắc ứng xử của cơ sở giáo dục.
2. Tôn trọng nhà giáo,
cán bộ và người lao động của cơ sở giáo dục; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học
tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ, quy chế của cơ sở giáo dục; chấp
hành quy định của pháp luật.
3. Tham gia lao động và
hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và
năng lực.
4. Giữ gìn, bảo vệ tài
sản của cơ sở giáo dục.
5. Góp phần xây dựng, bảo
vệ và phát huy truyền thống của cơ sở giáo dục.
Điều
83. Quyền của người học
1. Được giáo dục,
học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
2. Được tôn trọng; bình
đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng
tạo, phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của
mình.
3. Được học vượt lớp, học
rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định,
học kéo dài thời gian, học lưu ban, được tạo điều kiện để học các chương
trình giáo dục theo quy định của pháp luật.
4. Được học tập trong
môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
5. Được cấp văn bằng,
chứng chỉ, xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo và hoàn thành
chương trình giáo dục theo quy định.
6. Được tham gia hoạt động
của đoàn thể, tổ chức xã hội trong cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.
7. Được sử dụng cơ sở vật
chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn
hóa, thể dục, thể thao của cơ sở giáo dục.
8. Được trực tiếp hoặc
thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với cơ sở giáo dục các giải pháp
góp phần xây dựng cơ sở giáo dục, bảo vệ quyền, lợi ích của người học.
9. Được hưởng chính
sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt
nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt.
10. Được cử người đại
diện tham gia hội đồng trường theo quy định.
Mục
2. CHÍNH SÁCH ĐỐI
VỚI NGƯỜI HỌC
Điều
84. Tín dụng giáo dục
Nhà nước có chính sách
tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để người học có điều
kiện học tập. Khuyến khích xã hội hóa hoạt động tín dụng giáo dục.
Điều
85. Học bổng, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học
phí, hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt
1.[79] Nhà nước
có chính sách cấp học bổng cho các đối tượng sau
đây:
a) Học bổng
khuyến khích học tập cho học sinh trường chuyên, trường năng khiếu quy định
tại Điều 62 của Luật này và người học tại cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học; ưu tiên người học chương trình đào tạo tài năng,
các ngành, lĩnh vực đào tạo trọng điểm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội trong từng giai đoạn;
b) Học bổng
chính sách cho sinh viên cử tuyển, học sinh dự bị đại học, học sinh trường phổ
thông dân tộc nội trú, người học trong
cơ sở giáo dục nghề nghiệp dành cho thương binh, người khuyết tật.
2.[80] Nhà nước
có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng
chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số, người học thường trú ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, xã biên giới, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật,
người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo.
3. Nhà nước khuyến
khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học theo quy định của
pháp luật.
4. Học sinh, sinh viên
sư phạm được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học.
Người được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt sau 02 năm kể từ khi tốt
nghiệp nếu không công tác trong ngành giáo dục hoặc công tác không đủ thời gian
quy định thì phải bồi hoàn khoản kinh phí mà Nhà nước đã hỗ trợ. Thời hạn hoàn
trả tối đa bằng thời gian đào tạo.
Học sinh, sinh viên sư
phạm được hưởng các chính sách học bổng khuyến khích học tập, trợ cấp xã hội,
miễn, giảm học phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4a.[81] Quỹ học bổng quốc gia có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng
trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
a) Quỹ học
bổng quốc gia được hình thành từ nguồn kinh phí được cấp hằng năm từ ngân sách
nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng
cho hợp pháp của tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của
pháp luật. Tại thời điểm kết thúc năm ngân sách, khoản đóng góp tự nguyện, hiến,
tặng cho không sử dụng hết được giữ lại quỹ để sử dụng, không phải nộp lại ngân
sách nhà nước;
b) Quỹ học
bổng quốc gia thực hiện cấp học bổng cho người học chương trình đào tạo tài
năng; ưu tiên cho học viên sau đại học và người học các ngành khoa học cơ bản,
kỹ thuật, công nghệ và các lĩnh vực ưu tiên khác; khuyến khích, hỗ trợ học tập,
nghiên cứu của học sinh, sinh viên, học viên sau đại học; hỗ trợ phát triển kỹ
năng nghề cho người học gắn với nhu cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế,
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phát triển
sự nghiệp giáo dục;
c) Chính
phủ ban hành quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng quốc gia.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
86. Miễn, giảm giá vé dịch vụ công cộng cho học sinh, sinh viên
Học sinh, sinh viên được
hưởng chế độ miễn, giảm giá vé khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông,
giải trí, tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hóa theo quy
định của Chính phủ.
Điều
87. Chế độ cử tuyển
1. Nhà nước thực hiện
tuyển sinh vào trung cấp, cao đẳng, đại học theo chế độ cử tuyển đối với học
sinh là người dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh là người dân tộc thiểu số
ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít
cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số; có chính sách tạo nguồn
cử tuyển, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng này vào học trường phổ thông
dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học.
2. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh căn cứ vào nhu cầu của địa phương đề xuất, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển; cử
người đi học theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu được duyệt; xét tuyển và bố trí việc làm
cho người học sau khi tốt nghiệp.
Cơ sở giáo dục có trách
nhiệm hỗ trợ cho người học theo chế độ cử tuyển để bảo đảm chất lượng đầu ra.
3. Người học theo chế độ
cử tuyển có trách nhiệm trở về làm việc tại địa phương nơi cử đi học; được xét
tuyển và bố trí việc làm.
4. Chính phủ quy định chi
tiết tiêu chuẩn và đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển; việc tổ chức thực hiện
chế độ cử tuyển và việc tuyển dụng người học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt
nghiệp.
Điều
88. Khen thưởng đối với người học
Người học có thành tích
trong học tập, rèn luyện được cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục khen thưởng;
trường hợp có thành tích đặc biệt xuất sắc được khen thưởng theo quy định của
pháp luật.
Chương
VI
TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ TRƯỜNG,
GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Điều
89. Trách nhiệm của nhà trường
1. Nhà trường có trách
nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, quy tắc ứng xử; chủ động phối hợp với
gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch
của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả
học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ hoặc người giám hộ.
2. Cơ sở giáo dục khác
được áp dụng các quy định có liên quan đến nhà trường trong Chương này.
Điều
90. Trách nhiệm của gia đình
1. Cha mẹ hoặc người
giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con
hoặc người được giám hộ được học tập, thực hiện phổ cập giáo dục, hoàn thành
giáo dục bắt buộc, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường; tôn trọng
nhà giáo, không được xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo.
2. Các thành viên trong
gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho
việc phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ của con em; người lớn tuổi có
trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục.
Điều
91. Trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh
1. Tiếp nhận thông tin
về kết quả học tập, rèn luyện của con hoặc người được giám hộ.
2. Tham gia hoạt động
giáo dục theo kế hoạch của nhà trường; tham gia hoạt động của ban đại diện cha
mẹ học sinh trong nhà trường.
3. Phối hợp với nhà trường,
cơ quan quản lý giáo dục giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc giáo dục
con hoặc người được giám hộ theo quy định.
Điều
92. Ban đại diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non
1. Ban đại diện cha mẹ
học sinh, trẻ mầm non được tổ chức trong mỗi năm học ở giáo dục phổ thông và
giáo dục mầm non, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, trẻ mầm non từng lớp,
từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục học sinh, trẻ mầm non và hoạt động theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
2. Không tổ chức ban đại
diện cha mẹ học sinh, trẻ mầm non liên trường và ở các cấp hành chính.
Điều
93. Trách nhiệm của xã hội
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm sau đây:
a) Hỗ trợ, hợp tác với
nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện
cho nhà giáo và người học tham quan, hoạt động trải nghiệm, thực tập, nghiên cứu
khoa học;
b) Tham gia xây dựng
môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, ngăn chặn hoạt động có ảnh hưởng xấu đến
người học;
c) Tạo điều kiện để
công dân trong độ tuổi quy định thực hiện nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập
giáo dục, hoàn thành giáo dục bắt buộc để người học được vui chơi, hoạt động
văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh;
d) Hỗ trợ các nguồn lực
cho phát triển sự nghiệp giáo dục theo khả năng của mình.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm động viên toàn dân
chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.
3. Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp
với nhà trường giáo dục, vận động thanh niên, thiếu niên và nhi đồng gương mẫu
trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Điều
94. Quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục
Nhà nước khuyến khích tổ
chức, cá nhân thành lập quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục. Việc thành lập và
hoạt động của quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Chương VII
ĐẦU TƯ VÀ TÀI CHÍNH
TRONG GIÁO DỤC
Điều
95. Nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục
Nguồn tài chính đầu tư
cho giáo dục bao gồm:
1. Ngân sách nhà nước;
2. Nguồn vốn đầu tư hợp
pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
3. Nguồn thu từ dịch vụ
giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ; dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động
giáo dục của cơ sở giáo dục; nguồn thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; lãi
tiền gửi ngân hàng và nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
4. Kinh phí đặt hàng,
giao nhiệm vụ của Nhà nước;
5. Nguồn vốn vay;
6. Nguồn tài trợ, viện
trợ, tặng cho của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
Điều
96. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục
1. Nhà nước ưu tiên
hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho
giáo dục, đào tạo tối thiểu là 20% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt ít nhất
5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng
chi ngân sách nhà nước[82].
2. Ngân sách nhà nước
chi cho giáo dục được phân bổ theo nguyên tắc công khai, dân chủ; căn cứ vào
quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; bảo đảm
ngân sách để thực hiện phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu
số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Nhà nước có trách nhiệm
bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời để thực hiện phổ cập giáo dục và phù hợp với
tiến độ của năm học.
3. Cơ quan quản lý giáo
dục, cơ sở giáo dục có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách
giáo dục được giao và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
Điều
97. Ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai xây dựng trường học
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đưa việc xây dựng trường
học, công trình thể dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật phục vụ giáo dục vào quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; ưu tiên đầu
tư tài chính và đất đai cho việc xây dựng trường học và ký túc xá cho học sinh,
sinh viên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Điều
98. Khuyến khích đầu tư cho giáo dục
1. Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức,
tài sản cho giáo dục.
2. Các khoản đóng góp,
tài trợ cho giáo dục của tổ chức, cá nhân được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
3. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình phục vụ cho
giáo dục; đóng góp, tài trợ, ủng hộ tiền hoặc hiện vật để phát triển sự nghiệp
giáo dục được xem xét để ghi nhận bằng hình thức thích hợp.
Điều 99. Học phí, dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, chi phí
của dịch vụ giáo dục, đào tạo[83]
1. Học
phí là khoản tiền người học phải nộp để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí của
dịch vụ giáo dục, đào tạo. Mức học phí được xác định theo lộ trình bảo đảm chi
phí dịch vụ giáo dục, đào tạo do Chính phủ quy định; đối với cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề
nghiệp, Luật Giáo dục đại học.
2. Chi
phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo gồm toàn bộ chi phí tiền lương, chi phí trực
tiếp gắn với hoạt động dạy học, chi phí quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định
phục vụ trực tiếp và gián tiếp hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục.
Mức thu dịch
vụ tuyển sinh là khoản kinh phí mà người dự tuyển phải nộp khi tham gia xét tuyển,
thi tuyển được xác định theo nguyên tắc lộ trình tính đúng, tính đủ.
Dịch vụ
phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục được tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi,
nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của
người học và hoạt động của cơ sở giáo dục nhưng không được ngân sách nhà nước bảo
đảm hoặc chưa được cấu thành trong học phí; mức thu được xác định theo nguyên tắc
tính đúng, tính đủ chi phí.
3. Trẻ em
mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ
sở giáo dục công lập được miễn học phí. Trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người
học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được
Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí; mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết
định. Mức hỗ trợ học phí theo khung học phí do Chính phủ quy định nhưng không
vượt mức thu học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.
4. Cơ chế
thu và quản lý học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo
dục quy định như sau:
a) Chính
phủ quy định cơ chế quản lý học phí, dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục,
giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trong hệ thống
giáo dục quốc dân;
b) Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh quyết định mức học phí cụ thể làm căn cứ thực hiện miễn học
phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục
phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập; quyết định mức hỗ trợ học phí đối với
trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông
trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định cơ chế thu và sử dụng mức thu dịch vụ tuyển sinh các
cấp học, quyết định danh mục và mức thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động
giáo dục do địa phương quản lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;
d) Cơ sở
giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học quyết định danh mục và mức thu dịch vụ
phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục theo quy định tại khoản 2 Điều này, trừ các dịch vụ do Nhà nước định giá và có trách nhiệm công khai mức thu dịch vụ
phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục cho từng khóa học, cấp học, năm học theo
quy định của pháp luật;
đ) Cơ sở
giáo dục dân lập, cơ sở giáo dục tư thục được quyền chủ động xây dựng mức thu học
phí và các dịch vụ khác bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy; thực hiện công
khai chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo và mức thu theo cam kết trong đề án
thành lập trường; công khai học phí và các dịch vụ khác cho từng khóa học, cấp
học, năm học theo quy định của pháp luật.
Điều
100. Ưu đãi về thuế đối với sách giáo khoa và tài liệu, thiết bị dạy học
Việc xuất bản sách giáo
khoa, giáo trình, tài liệu dạy học; sản xuất và cung ứng thiết bị dạy học, đồ
chơi cho trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non; nhập khẩu sách, báo, tài liệu giảng
dạy, học tập, thiết bị dạy học, thiết bị nghiên cứu dùng trong cơ sở giáo dục
được Nhà nước ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Điều
101. Chế độ tài chính đối với cơ sở giáo dục
1. Cơ sở giáo dục công
lập thực hiện quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý sử dụng tài sản
theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý sử dụng tài sản công và
quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán,
thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở giáo dục dân lập,
cơ sở giáo dục tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, thực hiện
chế độ kế toán, kiểm toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo
quy định của pháp luật. Khoản thu của cơ sở giáo dục dân lập, cơ sở giáo dục tư
thục được dùng để chi cho các hoạt động của cơ sở giáo dục, thực hiện nghĩa vụ
đối với ngân sách nhà nước, thiết lập quỹ đầu tư phát triển và các quỹ khác của
cơ sở giáo dục, phần còn lại được phân chia cho nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn góp,
trừ cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận.
3. Cơ sở giáo dục phải
công bố công khai chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo và mức thu phí cho từng
năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; cho từng năm học và dự kiến
cho cả khóa học đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
Điều
102. Quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, trường tư
thục
1. Tài sản của trường
dân lập thuộc sở hữu của pháp nhân nhà trường. Tài sản của trường dân lập được
Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.
2. Tài sản của trường
tư thục thuộc sở hữu của nhà đầu tư, hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư, được
xác định bằng biên bản góp vốn của nhà đầu tư. Việc chuyển phần tài sản góp vốn
cho trường thực hiện theo quy định của pháp luật.
3.[84] Việc chuyển nhượng vốn đối với nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm
non tư thục; cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
tư thục thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp
luật có liên quan; bảo đảm sự ổn định và phát triển của trường, không làm
gián đoạn hoạt động giáo dục; bảo đảm quyền lợi của người học, nhà giáo và người
lao động.
Sau khi
thực hiện chuyển nhượng vốn, cơ sở giáo dục có trách nhiệm thông báo tới cơ
quan quản lý giáo dục theo phân cấp và theo quy định của Chính phủ.
Điều
103. Chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, trường tư thục
1. Trường dân lập, trường
tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất,
hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, được hưởng các
chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng; được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực
hiện chính sách đối với người học quy định tại Điều 85 của Luật
này.
2.[85] (được bãi bỏ)
Chương
VIII
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO
DỤC
Mục
1. NỘI DUNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
Điều
104. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục
1. Xây dựng và chỉ đạo
thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục.
2. Ban hành và tổ chức
thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường,
chuẩn cơ sở giáo dục, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục, điều lệ
ban đại diện cha mẹ học sinh; quy định hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà
trường và ngoài nhà trường; quy định về đánh giá kết quả học tập và rèn luyện;
khen thưởng và kỷ luật đối với người học.
3.[86] Quy định chuẩn nghề nghiệp nhà giáo và tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khác thuộc thẩm quyền quản lý; chế độ làm việc
của nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục; chuẩn nghề nghiệp người đứng đầu,
cấp phó người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục công lập; danh mục hoặc khung
danh mục vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở
giáo dục; quy tắc ứng xử của nhà giáo; các chức danh tương đương với chức danh
nhà giáo; thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo và điều kiện để cơ sở giáo dục được tuyển dụng nhà giáo; các chương trình bồi dưỡng; chỉ đạo, tổ chức việc bồi
dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, các
nhân sự khác trong cơ sở giáo dục.
4. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; khung
trình độ quốc gia; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn, định mức sử dụng cơ sở vật
chất, thư viện và thiết bị trường học; việc biên soạn, sử dụng sách giáo
khoa, giáo trình; việc thi, kiểm tra,
tuyển sinh, liên kết đào tạo và quản lý
văn bằng, chứng chỉ; việc công nhận
văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được sử dụng tại Việt Nam.
5. Quy định về đánh giá chất lượng giáo dục; tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định
chất lượng giáo dục.
6. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động
giáo dục.
7. Tổ chức bộ máy quản lý
giáo dục.
8. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo
và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục[87].
9. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự
nghiệp giáo dục.
10. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học,
công nghệ trong lĩnh vực giáo dục.
11. Tổ
chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế, đầu tư của nước ngoài về giáo dục.
12. Thanh
tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố
cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật trong giáo dục.
Điều 105. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
1. Chính phủ thống nhất
quản lý nhà nước về giáo dục.
Chính phủ trình Quốc hội
trước khi quyết định chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập
của công dân trong phạm vi cả nước, chủ trương về cải cách nội dung chương
trình của một cấp học; hằng năm, báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc
thực hiện ngân sách giáo dục; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi quyết định
việc áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục đã được thí điểm
thành công mà việc áp dụng đại trà sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của
công dân trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp[88], giáo dục
thường xuyên.
3.[89] (được bãi bỏ)
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo
dục và Đào tạo[90] thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục.
5.[91] Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, ủy quyền theo quy định của
pháp luật bảo đảm điều kiện để phát triển giáo dục tại địa phương.
Mục
2. HỢP TÁC QUỐC
TẾ VỀ GIÁO DỤC
Điều
106. Nguyên tắc hợp tác quốc tế về giáo dục
Nhà nước mở rộng, phát
triển hợp tác quốc tế về giáo dục theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
Điều
107. Hợp tác về giáo dục với nước ngoài
1. Nhà nước khuyến
khích và tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục của Việt Nam hợp tác với tổ chức, cá
nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong giảng dạy, học tập
và nghiên cứu khoa học.
2. Nhà nước khuyến
khích và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập,
nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật theo hình thức tự túc hoặc bằng kinh
phí do tổ chức, cá nhân trong nước cấp hoặc do tổ chức, cá nhân nước ngoài tài
trợ.
2a.[92] Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục Việt Nam thành lập văn phòng đại
diện, mở rộng hoạt động đào tạo, đầu tư, hợp tác, nghiên cứu khoa học với các
cơ sở giáo dục uy tín ở nước ngoài góp phần quảng bá giáo dục Việt Nam với các
nước, tiếp cận công nghệ hiện đại, thúc đẩy ngoại giao tri thức.
3. Nhà nước dành ngân
sách cử người đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức và trình độ đi học tập,
nghiên cứu ở nước ngoài về những ngành, nghề và lĩnh vực then chốt để phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Chính phủ
quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu
khoa học và trao đổi học thuật; việc hợp tác về giáo dục với tổ chức, cá nhân
nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Điều
108. Hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục
1. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện để giảng dạy, học tập, làm quản lý,[93] đầu tư, tài trợ, hợp tác, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và
chuyển giao công nghệ về giáo dục tại Việt Nam; được bảo hộ các quyền, lợi ích
hợp pháp theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Hợp tác về giáo dục
với Việt Nam phải bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực
công dân; tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu
về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi cấp học, trình độ đào tạo
trong hệ thống giáo dục quốc dân; hoạt động giáo dục phù hợp với quy định của
pháp luật Việt Nam.
3. Các hình thức hợp
tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm:
a) Liên kết giáo dục,
đào tạo;
b) Thành lập văn phòng
đại diện;
c) Thành lập phân hiệu;
d) Thành lập cơ sở giáo
dục;
đ) Các hình thức hợp tác,
đầu tư khác.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
109. Công nhận văn bằng nước ngoài[94]
1. Văn bằng do cơ sở
giáo dục nước ngoài cấp được công nhận khi cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động
hợp pháp, có chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng của nước cấp bằng và phù
hợp với pháp luật Việt Nam.
2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định chi tiết điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận
văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp.
Mục 3. BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG
VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC[95]
Điều 110. Bảo đảm chất lượng
và kiểm định chất lượng giáo dục[96]
1. Bảo đảm chất lượng
giáo dục là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cơ sở giáo dục thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân nhằm nâng cao chất lượng, tăng cường trách nhiệm giải trình,
đáp ứng yêu cầu của người học và xã hội.
2. Việc bảo đảm chất lượng
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên tập trung vào đổi mới
phương pháp dạy và học, phát triển đội ngũ, tăng cường điều kiện bảo đảm chất
lượng, nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường và công nhận trường đạt chuẩn quốc
gia.
3. Việc bảo đảm chất lượng
và kiểm định chất lượng đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được thực
hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.
4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định hoạt động bảo đảm chất lượng tại cơ sở giáo dục; hướng dẫn,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng
giáo dục.
Điều 111.[97] (được bãi bỏ)
Điều 112. Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
1. Tổ
chức kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm:
a) Tổ
chức kiểm định chất lượng giáo dục do Nhà nước thành lập;
b) Tổ
chức kiểm định chất lượng giáo dục do tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài thành lập;
c) Tổ
chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài.
2. Việc
tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục được quy định như sau:
a) Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, cấp phép hoạt động[98], đình chỉ, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định điều kiện và thủ tục
để tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được công nhận hoạt động tại Việt Nam;
b) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập hoặc
cho phép thành lập, cấp phép hoạt động[99], đình chỉ
hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục[100]; quyết định công nhận, thu hồi quyết định công nhận
tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; quy định việc giám sát,
đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục;
c) Kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo
dục đại học thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[101]
Điều 113.[102] (được bãi bỏ)
Điều 114. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.
2. Luật Giáo dục số
38/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 44/2009/QH12, Luật
số 74/2014/QH13 và Luật số 97/2015/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 115 của Luật này.
Điều 115.[103] (được bãi bỏ)
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14.”.
[2]
Cụm từ “gồm nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài” được
thay thế bằng cụm từ “theo quy định của pháp luật về đầu tư” theo quy định
tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[3]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[4]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[5]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[6]
Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại
điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[7]
Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại
điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[8]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[9]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[10]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[11]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[12]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[13]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[14]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[15]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[16]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[17] Cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số
123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[18]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[19]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[20]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[21] Cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số
123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[22]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026; quy định Chính phủ quy định việc miễn phí sách
giáo khoa cho học sinh có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[23]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[24]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[25]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[26]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[27] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[28]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[29]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[30]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[31]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[32] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[33]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[34]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[35]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[36]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[37] Cụm từ “giáo dục nghề nghiệp” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản
31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo
dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[38] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[39]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[40]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[41]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[42]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[43]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[44] Cụm từ “trường phổ thông nội trú,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2026.
[45]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[46] Cụm từ “trường phổ thông nội trú,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2026.
[47]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 18
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[48]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[49] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[50]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[51] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[52] Cụm từ “, trừ trung tâm giáo dục nghề nghiệp” được bỏ theo quy định tại
điểm c khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[53] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[54] Cụm từ “, CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ
KHÁC” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số
123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[55]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[56]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[57]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[58] Cụm từ “NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA
NHÀ GIÁO” được thay thế bằng cụm từ “VỊ
TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ, NHÂN SỰ HỖ TRỢ GIÁO DỤC VÀ NHÂN SỰ
KHÁC” theo quy định tại điểm b khoản
31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo
dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[59]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[60]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[61]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[62]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[63]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[64]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[65]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[66] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[67] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[68] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[69] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b
khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[70] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[71] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo
quy định tại điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[72] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[73] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[74]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[75]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[76]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[77]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[78] Cụm từ “trường trung học nghề,” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số
123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[79]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 23
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[80]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 23
Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[81]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 23 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[82] Cụm từ “, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt
ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất
3% tổng chi ngân sách nhà nước” được bổ sung theo quy định
tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[83]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[84]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[85]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[86]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[87] Cụm từ “cán bộ quản lý giáo dục” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ quản lý cơ sở giáo dục” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[88] Cụm từ “ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm” được thay thế bằng cụm từ “giáo dục nghề nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[89]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[90] Cụm từ “Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” được bỏ theo quy định tại
điểm d khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[91]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[92]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[93] Cụm từ “làm quản lý,” được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[94]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[95] Cụm từ “ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC” được thay thế bằng cụm từ “BẢO
ĐẢM CHẤT LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật số 123/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2026.
[96]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1
của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[97]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[98] Cụm từ “cho phép hoạt động” được thay thế bằng cụm từ “cấp phép hoạt động” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[99] Cụm từ “cho phép hoạt động” được thay thế bằng cụm từ “cấp phép hoạt động” theo quy định tại điểm b khoản 31 Điều 1 của Luật
số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[100] Cụm từ “và quy định trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất
lượng giáo dục đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường
xuyên” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 31 Điều 1 của Luật số
123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[101]
Điều 2 của Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 2. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
và quy định chuyển tiếp về kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên tại điểm a khoản 3 Điều này.
2. Điểm b khoản 1, khoản 4, khoản
13, khoản 15, điểm b khoản 23 Điều 1 và quy định Chính phủ quy định việc miễn
phí sách giáo khoa cho học sinh tại khoản 8 Điều 1 của Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
3. Quy định chuyển tiếp:
a) Giấy chứng nhận cơ sở giáo dục
đạt kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục
phổ thông và giáo dục thường xuyên được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành tiếp tục có
giá trị đến hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận.
Cơ sở giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đã được cơ quan
có thẩm quyền thông báo chấp nhận hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện và hoàn thành quy trình kiểm định
chất lượng giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 và các quy
định của pháp luật có liên quan cho đến hết chu kỳ kiểm định.
Kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026, cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên chuyển
sang thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục theo quy định khác của Luật
này và văn bản hướng dẫn thi hành;
b) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026, hội đồng trường của nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non và cơ sở
giáo dục phổ thông công lập kết thúc hoạt động, có trách nhiệm bàn giao toàn bộ
hồ sơ, tài liệu liên quan cho hiệu trưởng; hiệu trưởng có trách nhiệm thông báo
cho cơ quan quản lý trực tiếp trong thời gian 06 tháng kể từ thời điểm kết thúc
hoạt động;
c) Hồ sơ đề nghị giải quyết thủ
tục hành chính đã được nộp hợp lệ cho cơ quan hoặc người có thẩm quyền trước
ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì cơ quan hoặc người có
thẩm quyền đó tiếp tục thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời
điểm nộp hồ sơ, kể cả trong trường hợp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính
đó đã điều chỉnh theo quy định của Luật này;
d) Tài liệu giáo dục địa
phương đã trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho ý kiến bằng văn bản, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;
đ) Bằng
tốt nghiệp trung học cơ sở được cấp trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 tiếp tục có
giá trị pháp lý để sử dụng trong học tập, tuyển dụng và các giao dịch dân sự
khác theo quy định của pháp luật;
e) Đối với các nhà đầu tư đã trực
tiếp thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo điểm b khoản 3 Điều 54 của Luật
Giáo dục số 43/2019/QH14 mà có từ hai nhà đầu tư trở lên thì phải thành lập tổ
chức kinh tế theo quy định của Chính phủ trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.”.
[102]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[103]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 31 Điều 1 của
Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.