Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 85/VBHN-VPQH Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Văn phòng quốc hội Người ký: Lê Quang Mạnh
Ngày ban hành: 27/03/2026 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 85/VBHN-VPQH

Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2026

 

LUẬT

PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2014, được sửa đổi, bổ sung bởi:

1. Luật số 60/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021;

2. Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024;

3. Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;

4. Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;

5. Luật số 146/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống thiên tai[1].

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động phòng, chống thiên tai, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động phòng, chống thiên tai, quản lý nhà nước và nguồn lực bảo đảm việc thực hiện phòng, chống thiên tai.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế đang sinh sống, hoạt động hoặc tham gia phòng, chống thiên tai tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1.[2] Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương mù, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác.

2. Rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội.

3. Phòng, chống thiên tai là quá trình mang tính hệ thống, bao gồm hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.

4.[3] Đối tượng dễ bị tổn thương là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

5.[4] Công trình phòng, chống thiên tai là công trình do Nhà nước, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, bao gồm trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, địa chấn, cảnh báo thiên tai; công trình đê điều, hồ đập, kè, chống úng, chống hạn, chống xâm nhập mặn, chống sạt lở, chống sụt lún đất, chống lũ quét, chống sét; khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền, nhà kết hợp sơ tán dân và công trình khác phục vụ phòng, chống thiên tai.

Điều 4. Nguyên tắc cơ bản trong phòng, chống thiên tai

1. Phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả.

2. Phòng, chống thiên tai là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tổ chức và cá nhân chủ động, cộng đồng giúp nhau.

3. Phòng, chống thiên tai được thực hiện theo phương châm bốn tại chỗ: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ.

4. Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, địa phương và quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành.

5. Phòng, chống thiên tai phải bảo đảm tính nhân đạo, công bằng, minh bạch và bình đẳng giới.

6. Phòng, chống thiên tai phải dựa trên cơ sở khoa học; kết hợp sử dụng kinh nghiệm truyền thống với tiến bộ khoa học và công nghệ; kết hợp giải pháp công trình và phi công trình; bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.

7. Phòng, chống thiên tai được thực hiện theo sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và phù hợp với các cấp độ rủi ro thiên tai.

Điều 5. Chính sách của Nhà nước trong phòng, chống thiên tai

1. Có chính sách đồng bộ về đầu tư, huy động nguồn lực và giải pháp tổ chức thực hiện công tác phòng, chống thiên tai; đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm và hỗ trợ địa phương xây dựng công trình phòng, chống thiên tai theo phân cấp của Chính phủ.

2. Đào tạo, giáo dục, huấn luyện, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và người dân trong việc tuân thủ pháp luật và tham gia vào công tác phòng, chống thiên tai.

3. Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng thường xuyên bị thiên tai; di dời dân sinh sống ở khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn; hỗ trợ về đời sống và sản xuất đối với đối tượng bị thiệt hại do thiên tai gây ra, ưu tiên vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai, đối tượng dễ bị tổn thương.

4. Khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ động thực hiện biện pháp phòng, chống thiên tai; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình, nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào hoạt động phòng, chống thiên tai. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia phòng, chống thiên tai.

5. Ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm rủi ro thiên tai; hỗ trợ đối với doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh ở vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về phòng, chống thiên tai; chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản đóng góp cho phòng, chống thiên tai.

6.[5] Ưu tiên bố trí nguồn lực nghiên cứu, điều tra cơ bản, xây dựng và triển khai chương trình khoa học và công nghệ trong phòng, chống thiên tai; tăng cường giải pháp khắc phục hậu quả thiên tai.

7.[6] Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống thiên tai; huấn luyện, cung cấp phương tiện, trang thiết bị cho lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã.

Điều 6. Nguồn nhân lực cho phòng, chống thiên tai[7]

1. Nguồn nhân lực cho phòng, chống thiên tai bao gồm:

a) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn là lực lượng tại chỗ thực hiện hoạt động phòng, chống thiên tai;

b) Dân quân tự vệ là lực lượng tại chỗ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo phương án ứng phó thiên tai của địa phương và sự điều động của người có thẩm quyền;

c) Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và là lực lượng nòng cốt trong công tác sơ tán người, phương tiện, tài sản, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội theo sự điều động của người có thẩm quyền;

d) Tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia hỗ trợ hoạt động phòng, chống thiên tai thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo sự chỉ huy của người có thẩm quyền;

đ) Người làm công tác phòng, chống thiên tai tại cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai.

2. Lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã được thành lập ở cấp xã, hoạt động kiêm nhiệm, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định trên cơ sở nguồn nhân lực quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, bao gồm dân quân ở thôn, ấp, bản, làng, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu; dân quân ở cấp xã và tổ chức khác tại địa phương thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo phương án ứng phó thiên tai của địa phương.

3. Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 7. Vật tư, phương tiện, trang thiết bị, hệ thống thông tin, nhu yếu phẩm cho hoạt động phòng, chống thiên tai

1.[8] Vật tư, phương tiện, trang thiết bị cho hoạt động phòng, chống thiên tai bao gồm vật tư, phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phòng, chống thiên tai và vật tư, phương tiện, trang thiết bị khác của Nhà nước; huy động của tổ chức, cá nhân trên địa bàn; của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự chuẩn bị.

Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục và quy định việc quản lý, sử dụng vật tư, phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phòng, chống thiên tai.

2. Hệ thống thông tin phục vụ quản lý nhà nước và hoạt động phòng, chống thiên tai bao gồm:

a) Cơ sở hạ tầng thông tin gồm hệ thống thông tin công cộng và trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho hoạt động chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai; thiết bị quan trắc tự động truyền tin; hệ thống thông tin cảnh báo sớm;

b) Cơ sở dữ liệu về thông tin gồm cơ sở dữ liệu về khí tượng, thủy văn, hải văn, động đất, sóng thần; cơ sở dữ liệu về thiên tai và thiệt hại thiên tai; cơ sở dữ liệu về hệ thống công trình phòng, chống thiên tai; cơ sở dữ liệu về công trình hạ tầng có liên quan đến phòng, chống thiên tai; số liệu quan trắc và truyền phát tự động tại thời điểm thiên tai đang diễn ra.

3. Nhu yếu phẩm của tổ chức, cá nhân và hàng hóa, vật tư, thiết bị thuộc dự trữ quốc gia của cơ quan nhà nước phục vụ cho hoạt động phòng, chống thiên tai bao gồm lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống, hóa chất, thiết bị xử lý nước, thuốc khử trùng và vật phẩm cần thiết khác để bảo đảm đời sống nhân dân khi thiên tai xảy ra.

Điều 8. Nguồn tài chính cho phòng, chống thiên tai

1. Ngân sách nhà nước.

2. Quỹ phòng, chống thiên tai.

3. Nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân.

4.[9] Nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Ngân sách nhà nước cho phòng, chống thiên tai[10]

1. Ngân sách nhà nước cho phòng, chống thiên tai bao gồm ngân sách hằng năm, dự phòng ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ tài chính.

2. Ngân sách nhà nước cho phòng, chống thiên tai được sử dụng cho xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch, điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai; đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai; hoạt động phòng, chống thiên tai; hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai các cấp.

Việc lập dự toán, phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho phòng, chống thiên tai được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3.[11] Dự phòng ngân sách nhà nước được sử dụng cho phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

4.[12] Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai phát sinh ngoài dự toán mà sau khi sắp xếp lại ngân sách, sử dụng hết dự phòng ngân sách mà vẫn chưa đủ nguồn theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 10. Quỹ phòng, chống thiên tai

1.[13] Quỹ phòng, chống thiên tai là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách bao gồm Quỹ phòng, chống thiên tai trung ương do Bộ Nông nghiệp và Môi trường[14] quản lý và Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý.

2.[15] Nguồn tài chính của Quỹ phòng, chống thiên tai được quy định như sau:

a) Nguồn tài chính của Quỹ phòng, chống thiên tai trung ương bao gồm hỗ trợ, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; điều tiết từ Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các nguồn hợp pháp khác;

b) Nguồn tài chính của Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh bao gồm hỗ trợ, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; đóng góp bắt buộc của tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài trên địa bàn, công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường theo quy định của pháp luật về lao động; điều tiết từ Quỹ phòng chống, thiên tai trung ương, giữa các Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh và các nguồn hợp pháp khác.

3. Quỹ phòng, chống thiên tai được sử dụng để hỗ trợ hoạt động phòng, chống thiên tai và ưu tiên hỗ trợ cho các hoạt động sau đây:

a) Cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do thiên tai;

b) Hỗ trợ tu sửa nhà ở, cơ sở y tế, trường học;

c) Xử lý vệ sinh môi trường vùng thiên tai;

d)[16] Hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

4.[17] Nguyên tắc hoạt động của Quỹ phòng, chống thiên tai được quy định như sau:

a) Không vì mục đích lợi nhuận;

b) Quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch;

c) Hỗ trợ cho các hoạt động phòng, chống thiên tai mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu.

5. Chính phủ quy định cụ thể việc thành lập, mức đóng góp, đối tượng được miễn, giảm, tạm hoãn đóng góp, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán Quỹ phòng, chống thiên tai.

Điều 11. Nguồn đóng góp tự nguyện cho phòng, chống thiên tai

1. Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân cho công tác phòng, chống thiên tai dưới các hình thức: đóng góp vào quỹ xã hội, quỹ từ thiện; tham gia quyên góp theo quy định của pháp luật và hỗ trợ trực tiếp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại do thiên tai.

2. Việc phân bổ, sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về quỹ xã hội, quỹ từ thiện và có sự thống nhất của chính quyền địa phương nơi có đối tượng được hỗ trợ.

Điều 12. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng thiên tai và hoạt động phòng, chống thiên tai gây phương hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quốc phòng, an ninh và lợi ích khác của quốc gia; gây mất trật tự xã hội; xâm hại tài sản của Nhà nước và Nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cộng đồng và thực hiện các hoạt động trái pháp luật khác.

2. Phá hoại, làm hư hại, cản trở sự vận hành của công trình phòng, chống thiên tai.

3. Vận hành hồ chứa thủy lợi, hồ chứa thủy điện, cống, trạm bơm không đúng quy trình được phê duyệt, trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo chỉ đạo của người có thẩm quyền.

4. Thực hiện hoạt động làm tăng rủi ro thiên tai mà không có biện pháp xử lý, khắc phục, đặc biệt là chặt phá rừng phòng hộ, lấn chiếm bãi sông, lòng sông, tạo vật cản, cản trở dòng chảy, khai thác trái phép cát, sỏi, khoáng sản gây sạt lở bờ sông, bờ biển.

5. Chống đối, cản trở, cố ý trì hoãn hoặc không chấp hành sự chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.

6. Chống đối, cản trở hoặc không chấp hành quyết định huy động nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ ứng phó khẩn cấp thiên tai của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.

7. Lợi dụng thiên tai đầu cơ nâng giá hàng hóa, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để trục lợi, gây thiệt hại tới đời sống dân sinh.

8. Sử dụng sai mục đích, chiếm dụng, làm thất thoát tiền và hàng cứu trợ; cứu trợ không kịp thời, không đúng đối tượng.

9. Cố ý đưa tin sai sự thật về thiên tai và hoạt động phòng, chống thiên tai.

10. Cố ý báo cáo sai sự thật về thiệt hại do thiên tai gây ra.

Chương II

HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Mục 1. PHÒNG NGỪA THIÊN TAI

Điều 13. Nội dung phòng ngừa thiên tai

1.[18] Điều tra cơ bản, xây dựng, phê duyệt và thực hiện chiến lược, kế hoạch phòng, chống thiên tai.

2. Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của địa phương và quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành.

3. Xây dựng chính sách trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai.

4. Xác định, đánh giá, phân vùng rủi ro thiên tai và theo dõi, giám sát thiên tai.

5.[19] Xây dựng, phê duyệt và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi và phòng, chống thiên tai; rà soát, có kế hoạch di dời dân cư vùng có rủi ro thiên tai rất cao.

6.[20] Xác định cấp độ rủi ro thiên tai; bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai.

7. Xây dựng và quản lý công trình phòng, chống thiên tai.

8. Tổ chức, tham gia thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai đối với các cấp, các ngành và cộng đồng.

9. Chuẩn bị ứng phó thiên tai, bao gồm:

a) Xây dựng phương án ứng phó với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể;

b) Chuẩn bị về nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị và nhu yếu phẩm phục vụ ứng phó thiên tai;

c) Tổ chức thường trực, cập nhật thông tin diễn biến thiên tai; tổ chức dự báo, cảnh báo thiên tai;

d) Tổ chức và tham gia tập huấn, huấn luyện, diễn tập kỹ năng phòng, chống thiên tai.

Điều 13a. Điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai[21]

1. Điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất để thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và hoạt động phòng, chống thiên tai.

2. Nội dung điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai bao gồm:

a) Hiện trạng về số lượng, chất lượng, năng lực của công trình phòng, chống thiên tai và công trình hạ tầng có liên quan đến phòng, chống thiên tai;

b) Hiện trạng về cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, nhân lực, tài chính, trang thiết bị trong hoạt động phòng, chống thiên tai;

c) Hiện trạng hệ thống thông tin, quan trắc, giám sát thiên tai và các dữ liệu phòng, chống thiên tai;

d) Tác động của biến đổi khí hậu đến diễn biến thiên tai; tác động của thiên tai đến hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; các loại hình thiên tai; hoạt động phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến phòng, chống thiên tai.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện, phê duyệt, công bố, quản lý kết quả điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và gửi kết quả về Bộ Nông nghiệp và Môi trường[22] để quản lý.

Điều 14. Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai

1. Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai được xây dựng theo chu kỳ 10 năm, tầm nhìn 20 năm và được cập nhật, điều chỉnh định kỳ 05 năm hoặc khi có biến động lớn về thiên tai.

2. Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai phải xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, đề án, dự án trọng điểm và việc tổ chức thực hiện phòng, chống thiên tai trên phạm vi cả nước.

3. Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai được xây dựng trên cơ sở sau đây:

a) Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội;

b) Thực tiễn hoạt động phòng, chống thiên tai của quốc gia;

c) Kết quả xác định, đánh giá, phân vùng rủi ro thiên tai, diễn biến thiên tai và biến đổi khí hậu;

d) Nguồn lực cho hoạt động phòng, chống thiên tai;

đ) Nhu cầu và khả năng thích ứng của cộng đồng trước thiên tai.

4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[23] chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai.

Điều 15. Kế hoạch phòng, chống thiên tai

1. Kế hoạch phòng, chống thiên tai được xây dựng tại các cấp địa phương, cấp bộ và cấp quốc gia theo chu kỳ kế hoạch 05 năm tương ứng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được điều chỉnh hằng năm.

2.[24] Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã gồm các nội dung chính sau đây:

a) Đánh giá và cập nhật hằng năm về đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng trong phạm vi quản lý;

b) Tình hình thiên tai của địa phương;

c) Xác định nội dung và biện pháp phòng, chống thiên tai phù hợp với từng loại thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai thường xảy ra tại địa phương, chú ý đến đối tượng dễ bị tổn thương, bao gồm xây dựng công trình phòng, chống thiên tai của địa phương theo phân cấp; tổ chức thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống thiên tai; xác định khu vực nguy hiểm; xây dựng phương án ứng phó với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể; tổ chức thường trực, cập nhật thông tin diễn biến thiên tai; chuẩn bị địa điểm sơ tán; tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập kỹ năng phòng, chống thiên tai;

d) Chuẩn bị vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm cho hoạt động phòng, chống thiên tai; trang thiết bị chuyên dùng cho hoạt động chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai;

đ) Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;

e) Đề xuất nhu cầu về nguồn lực và xác định tiến độ hằng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai tại địa phương;

g) Xác định trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai.

3.[25] (được bãi bỏ)

g) Xác định trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai.

4. Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp tỉnh gồm các nội dung chính sau đây:

a) Đánh giá, cập nhật hằng năm về đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng trong phạm vi quản lý;

b) Xác định, đánh giá rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai thường gặp, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quản lý;

c)[26] Xác định nội dung, biện pháp phòng, chống thiên tai phù hợp với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai, chú ý khu vực nguy hiểm và đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó tập trung xây dựng kế hoạch quản lý lũ tổng hợp lưu vực sông thuộc tỉnh; kế hoạch phòng, chống bão mạnh, siêu bão; kế hoạch phòng, chống lũ quét, sạt lở đất; kế hoạch phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn; kế hoạch phòng, chống sạt lở bờ sông do mưa lũ hoặc dòng chảy, sạt lở bờ biển;

d) Xác định phương pháp, cách thức lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;

đ) Xác định nguồn lực và tiến độ hằng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai;

e) Xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai.

5. Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp bộ gồm các nội dung chính sau đây:

a) Đánh giá, cập nhật hằng năm về kinh tế - xã hội, tình hình phát triển ngành và cơ sở hạ tầng trong phạm vi quản lý;

b) Xác định, đánh giá rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai thường gặp, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động phát triển ngành;

c) Xác định nội dung và biện pháp phòng, chống thiên tai phù hợp với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai;

d) Xác định phương pháp, cách thức lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành;

đ) Xác định nguồn lực và tiến độ hằng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai;

e) Xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai trong phạm vi quản lý của bộ.

6. Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia gồm các nội dung chính sau đây:

a) Đánh giá, cập nhật hằng năm về đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội, tình hình phát triển của các ngành kinh tế và cơ sở hạ tầng trên quy mô toàn quốc;

b) Xác định, đánh giá rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai thường gặp, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động phát triển của các ngành, địa phương trong phạm vi cả nước;

c)[27] Xác định nội dung, biện pháp tổng thể, chương trình, đề án, dự án phòng, chống thiên tai phù hợp với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai, chú ý khu vực nguy hiểm và đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó tập trung xây dựng kế hoạch quản lý lũ tổng hợp lưu vực sông; kế hoạch phòng, chống bão mạnh, siêu bão; kế hoạch phòng, chống lũ quét, sạt lở đất; kế hoạch phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn; kế hoạch phòng, chống sạt lở bờ sông do mưa lũ hoặc dòng chảy, sạt lở bờ biển;

d) Xác định nội dung phòng, chống thiên tai cần lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước;

đ) Xác định nguồn lực và tiến độ hằng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai;

e) Xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai trong phạm vi cả nước.

7. Trách nhiệm xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai được quy định như sau:

a)[28] Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức xây dựng, phê duyệt kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, chỉ đạo. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng, phê duyệt kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp tỉnh, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Quốc phòng;

b) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và báo cáo kế hoạch phòng, chống thiên tai với Bộ Nông nghiệp và Môi trường[29] và Bộ Quốc phòng;

c)[30] Bộ Nông nghiệp và Môi trường[31] chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương xây dựng Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương.

Điều 16. Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội

1. Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, địa phương, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành phải có nội dung phòng, chống thiên tai phù hợp với đặc thù thiên tai của từng vùng, địa phương để bảo đảm phát triển bền vững.

2. Căn cứ vào kết quả đánh giá, phân vùng rủi ro thiên tai, nội dung lồng ghép bao gồm:

a) Xác định biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thiên tai đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội;

b) Xác định và thực hiện biện pháp nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và làm tăng nguy cơ thiên tai;

c) Xác định biện pháp xây dựng hệ thống hạ tầng kết hợp mục tiêu phòng, chống thiên tai;

d) Xác định nguồn lực để thực hiện biện pháp lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai.

3. Trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;

b) Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành;

c) Bộ Tài chính[32] có trách nhiệm tham mưu, giúp Chính phủ lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước.

4. Bộ Tài chính[33] chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan hướng dẫn lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội.

Điều 17. Xác định, đánh giá, phân vùng rủi ro thiên tai; theo dõi, giám sát thiên tai

1. Hoạt động xác định, đánh giá, phân vùng rủi ro thiên tai; theo dõi, giám sát thiên tai bao gồm:

a) Quan trắc, thu thập, cập nhật, theo dõi, giám sát, tổng hợp, xử lý thông tin từ hệ thống quan trắc, xây dựng cơ sở dữ liệu về thiên tai;

b) Đánh giá rủi ro thiên tai, phân vùng rủi ro thiên tai; lập bản đồ cảnh báo thiên tai;

c) Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về thiên tai cho Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[34], bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương phục vụ cho việc chỉ đạo, triển khai hoạt động phòng, chống thiên tai.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[35], Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 18. Cấp độ rủi ro thiên tai

1. Rủi ro thiên tai được phân thành các cấp độ. Cấp độ rủi ro thiên tai là cơ sở cho việc cảnh báo, chỉ đạo, chỉ huy, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.

2. Tiêu chí phân cấp độ rủi ro thiên tai bao gồm:

a) Cường độ hoặc mức độ nguy hiểm của thiên tai;

b) Phạm vi ảnh hưởng;

c) Khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản, công trình hạ tầng và môi trường.

3. Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai.

Điều 18a. Bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với việc quản lý, vận hành, sử dụng công trình[36]

1. Tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành, sử dụng khu khai thác khoáng sản và khu khai thác tài nguyên thiên nhiên khác; khu đô thị; điểm du lịch, khu du lịch; khu công nghiệp; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực và công trình hạ tầng kỹ thuật khác phải thực hiện nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy chuẩn kỹ thuật, quy định do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình có trách nhiệm thực hiện các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

3. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường[37] ban hành quy định chung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành quy định cụ thể bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai quy định tại khoản 1 Điều này và tổ chức kiểm tra việc thực hiện.

5. Ủy ban nhân dân các cấp kiểm tra việc thực hiện các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với hộ gia đình, cá nhân do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy định tại khoản 2 Điều này.

6. Quy chuẩn kỹ thuật phục vụ việc quản lý, vận hành, sử dụng công trình quy định tại khoản 1 Điều này phải có nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai.

Điều 19. Bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang khu đô thị; điểm du lịch, khu du lịch; khu công nghiệp; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực và công trình hạ tầng kỹ thuật khác[38]

1. Chủ đầu tư khi lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang khu đô thị; điểm du lịch, khu du lịch; khu công nghiệp; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực và công trình hạ tầng kỹ thuật khác phải bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai, bao gồm:

a) Hạn chế đến mức thấp nhất hoặc không làm tăng nguy cơ rủi ro thiên tai và bảo đảm tính ổn định của công trình trước thiên tai;

b) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về xây dựng và pháp luật về quy hoạch.

2. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong hồ sơ dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang khu đô thị; điểm du lịch, khu du lịch; khu công nghiệp; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực và công trình hạ tầng kỹ thuật khác trước khi phê duyệt dự án và quyết định đầu tư.

3. Khuyến khích hộ gia đình, cá nhân khi xây dựng mới hoặc nâng cấp công trình, nhà ở áp dụng tiêu chuẩn có nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai.

4. Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình phải có nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai.

Điều 20. Xây dựng và bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai và công trình kết hợp phòng, chống thiên tai

1. Việc xây dựng công trình phòng, chống thiên tai phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt đối với việc xây dựng, nâng cấp và mở rộng mạng lưới đài, trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, địa chấn, trạm thu nhận thông tin cảnh báo sớm về mưa, bão, lũ, động đất, sóng thần.

2. Việc xây dựng và nâng cấp trường học, trạm y tế, trụ sở công, nhà văn hóa cộng đồng và công trình công cộng khác ở khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai phải tính đến nhu cầu kết hợp sử dụng làm địa điểm sơ tán dân khi có thiên tai.

3. Trách nhiệm xây dựng và bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai được quy định như sau:

a) Chính phủ phân công và phân cấp việc đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai bảo đảm tính hiệu quả và thống nhất; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án quốc gia xây dựng hệ thống công trình phòng, chống thiên tai; bố trí đủ nguồn lực để thực hiện chương trình, đề án, dự án;

b) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai theo phân công, phân cấp của Chính phủ; quản lý việc đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai thuộc thẩm quyền;

c) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức quản lý bảo vệ, duy tu, bảo dưỡng và vận hành công trình phòng, chống thiên tai thuộc phạm vi quản lý bảo đảm an toàn và hiệu quả;

d) Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai.

Điều 21. Thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai

1. Việc thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai nhằm cung cấp kiến thức về các loại thiên tai, tác động của thiên tai, biện pháp phòng, chống thiên tai, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động phòng, chống thiên tai và quy định của pháp luật có liên quan.

2.[39] Việc thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai được thực hiện bằng nhiều hình thức phù hợp với từng loại đối tượng, trong đó có các hình thức chủ yếu sau đây:

a) Đăng tải trên trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng;

b) Xây dựng tài liệu chuyên đề, tạp chí, tờ rơi, trong đó có tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số;

c) Tổ chức triển lãm, hội thảo, tập huấn, diễn tập phòng, chống thiên tai;

d) Lồng ghép kiến thức phòng, chống thiên tai vào chương trình các cấp học;

đ) Tổ chức diễn đàn về phòng, chống thiên tai để tham vấn rộng rãi chính sách, pháp luật, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về phòng, chống thiên tai;

e) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về phòng, chống thiên tai.

3. Trách nhiệm thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai được quy định như sau:

a) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống phát thanh, truyền hình, truyền thông và hệ thống truyền tin khác để thu thập, truyền, phát tin dự báo, cảnh báo thiên tai đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin dự báo, cảnh báo thiên tai của tổ chức, cá nhân và cộng đồng; tổ chức thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai;

b) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[40] chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng thực hiện việc thông tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai;

c) Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, hướng dẫn việc lồng ghép kiến thức phòng, chống thiên tai vào chương trình các cấp học;

d)[41] Bộ Nông nghiệp và Môi trường[42] chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình, đề án về nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;

đ) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào hoạt động thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng, chống thiên tai; trang bị thiết bị tiếp nhận thông tin dự báo, cảnh báo thiên tai.

Điều 22. Phương án ứng phó thiên tai

1. Phương án ứng phó thiên được xây dựng dựa trên các căn cứ sau đây:

a) Các loại thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai có khả năng xảy ra tại địa phương và lĩnh vực quản lý;

b) Năng lực ứng phó thiên tai của tổ chức, cá nhân;

c) Khả năng phối hợp và hỗ trợ của các lực lượng và chính quyền các cấp.

2. Phương án ứng phó thiên tai bao gồm các nội dung chính sau đây:

a) Bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai và công trình trọng điểm;

b) Sơ tán, bảo vệ người, tài sản, bảo vệ sản xuất;

c) Bảo đảm an ninh trật tự, giao thông, thông tin liên lạc;

d) Phối hợp chỉ đạo, chỉ huy phòng tránh, ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn;

đ) Nguồn nhân lực ứng phó thiên tai;

e) Dự trữ vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm.

3. Phương án ứng phó thiên tai được xây dựng ở địa phương, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức khác; phương án ứng phó thiên tai được rà soát, điều chỉnh, bổ sung hằng năm.

4. Trách nhiệm hướng dẫn, xây dựng, phê duyệt phương án ứng phó thiên tai được quy định như sau:

a)[43] Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó tương ứng với các cấp độ rủi ro thiên tai;

b) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức xây dựng và phê duyệt phương án ứng phó thiên tai của cơ quan, đơn vị mình, gửi đến Ủy ban nhân dân địa phương có liên quan trên địa bàn và cơ quan cấp trên để phối hợp chỉ đạo thực hiện;

c) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức xây dựng và phê duyệt phương án ứng phó thiên tai, gửi phương án ứng phó thiên tai đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[44] để phối hợp chỉ đạo thực hiện;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức xây dựng và phê duyệt phương án ứng phó thiên tai phù hợp với đặc điểm thiên tai của địa phương gửi Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp để phối hợp chỉ đạo thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi phương án ứng phó thiên tai về Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[45] để theo dõi và phối hợp chỉ đạo thực hiện.

Điều 23. Chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ hoạt động phòng, chống thiên tai

1. Nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ ứng phó thiên tai được chuẩn bị theo phương án ứng phó thiên tai được phê duyệt.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm chủ động chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ hoạt động phòng, chống thiên tai theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[46].

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện phương án phòng, chống thiên tai; chủ động chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phù hợp với phương án ứng phó thiên tai đã được phê duyệt; tổ chức tập huấn, diễn tập theo các phương án phòng, chống thiên tai trên địa bàn.

4. Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[47] chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức huấn luyện lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên phạm vi toàn quốc để tham gia ứng phó thiên tai.

Mục 2. ỨNG PHÓ THIÊN TAI

Điều 24. Dự báo, cảnh báo và truyền tin về thiên tai

1.[48] Thông tin dự báo, cảnh báo thiên tai phải kịp thời, đủ độ tin cậy, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng được chuyển tải bằng Tiếng Việt, đặc biệt quan tâm đến đối tượng dễ bị tổn thương và trong trường hợp cần thiết được chuyển tải bằng tiếng dân tộc thiểu số.

2. Nội dung chính của bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai bao gồm:

a) Bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai về khí tượng, thủy văn, hải văn phải bảo đảm thông tin về loại thiên tai, cường độ, cấp độ rủi ro thiên tai, vị trí, tọa độ hiện tại và dự báo diễn biến;

b) Bản tin báo tin động đất và dự báo, cảnh báo sóng thần phải bảo đảm thông tin về vị trí, cường độ, cấp độ rủi ro thiên tai và mức độ gây ảnh hưởng của động đất; dự báo vị trí xuất phát, khả năng, độ cao, cấp độ rủi ro thiên tai, hướng di chuyển và khu vực ảnh hưởng của sóng thần;

c)[49] Bản tin dự báo, cảnh báo cháy rừng do tự nhiên phải bảo đảm thông tin về khu vực, loại rừng, diện tích, cấp độ rủi ro cháy.

3. Trách nhiệm trong công tác dự báo, cảnh báo về thiên tai được quy định như sau:

a)[50] Bộ Nông nghiệp và Môi trường[51] có trách nhiệm ban hành bản tin dự báo, cảnh báo về thiên tai liên quan đến khí tượng, thủy văn và hải văn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[52] có trách nhiệm ban hành bản tin dự báo, cảnh báo cháy rừng do tự nhiên;

b) Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có trách nhiệm ban hành bản tin báo tin động đất và dự báo, cảnh báo sóng thần;

c) Các cơ quan quy định tại điểm a và điểm b khoản này gửi các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai đến Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các cơ quan theo quy định và chịu trách nhiệm về nội dung các dự báo, cảnh báo về thiên tai.

4. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam có trách nhiệm truyền, phát tin dự báo và cảnh báo thiên tai của cơ quan quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều này.

5. Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế dự báo, cảnh báo và truyền tin về thiên tai.

Điều 25. Chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai

1.[53] Căn cứ vào bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ; ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo, chỉ huy triển khai thực hiện biện pháp ứng phó thiên tai theo quy định của Chính phủ.

2. Hình thức, nội dung và phương thức truyền, phát văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai được quy định như sau:

a) Văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai được ban hành dưới hình thức công điện hoặc công văn;

b) Nội dung của văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai phải bảo đảm phù hợp với nội dung bản tin dự báo, cảnh báo, thực tế diễn biến thiên tai tại địa phương; biện pháp cơ bản để ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn;

c) Phương thức truyền, phát văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai bao gồm fax, hệ thống nhắn tin (SMS), hệ thống truyền hình, phát thanh, hệ thống thông tin cảnh báo sớm, truyền đạt trực tiếp và các hình thức khác.

3. Trách nhiệm truyền phát văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai được quy định như sau:

a) Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai có trách nhiệm gửi văn bản chỉ đạo, chỉ huy đến Đài truyền hình, Đài phát thanh cùng cấp và cơ quan có liên quan theo quy định của pháp luật;

b) Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự[54] cấp xã có trách nhiệm phổ biến nội dung văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai đến cộng đồng và người dân;

c) Đài truyền hình, đài phát thanh trung ương và địa phương có trách nhiệm phát các bản tin chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai.

4.[55] Chính phủ quy định cụ thể các cơ quan có trách nhiệm truyền tin; tần suất, thời lượng phát tin chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai; mạng lưới thông tin, trang thiết bị phục vụ hoạt động chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai; tình huống khẩn cấp về thiên tai; các loại dự án khẩn cấp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng.

Điều 26. Các biện pháp cơ bản ứng phó thiên tai

Căn cứ vào loại thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai xảy ra, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ; ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương quyết định lựa chọn một hoặc một số biện pháp phù hợp sau đây:[56]

1. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, nước dâng, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy được quy định như sau:

a) Sơ tán người ra khỏi khu vực nguy hiểm, nơi không bảo đảm an toàn; tập trung triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cho người, đặc biệt đối tượng dễ bị tổn thương trong tình huống thiên tai khẩn cấp;

b) Di chuyển tàu thuyền, phương tiện nuôi trồng thuỷ sản trên biển, ven biển, trên sông ra khỏi khu vực nguy hiểm; tổ chức kiểm đếm, hướng dẫn tàu thuyền neo đậu hoặc thực hiện biện pháp khác để bảo đảm an toàn;

c) Thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn đối với nhà cửa, công sở, bệnh viện, trường học, kho tàng, công trình và cơ sở kinh tế, an ninh, quốc phòng;

d) Chủ động thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất;

đ) Kiểm tra, phát hiện và xử lý sự cố công trình phòng, chống thiên tai, công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng;

e) Giám sát, hướng dẫn và chủ động thực hiện việc hạn chế hoặc cấm người, phương tiện đi vào khu vực nguy hiểm trên sông, trên biển, khu vực và tuyến đường bị ngập sâu, khu vực có nguy cơ sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy và khu vực nguy hiểm khác;

g) Bảo đảm giao thông và thông tin liên lạc đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai;

h) Thực hiện hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm khác tại khu vực bị chia cắt, khu vực ngập lụt nghiêm trọng và địa điểm sơ tán;

i) Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và Nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai;

k) Huy động khẩn cấp và tuân thủ quyết định chỉ đạo, huy động khẩn cấp về nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để kịp thời ứng phó với thiên tai.

2. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với hạn hán và xâm nhập mặn được quy định như sau:

a) Điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ phù hợp với dự báo, cảnh báo và tình hình diễn biến hạn hán và xâm nhập mặn;

b) Vận hành hợp lý hồ chứa nước, công trình cấp nước, ưu tiên cấp nước sinh hoạt; sử dụng tiết kiệm, chống thất thoát nước;

c) Ưu tiên cung cấp điện và vật tư, nhiên liệu cần thiết cho các trạm bơm;

d) Tổ chức quan trắc độ mặn, điều hành đóng mở cống lấy nước và ngăn mặn phù hợp với tình huống cụ thể.

3. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với sương muối, rét hại được quy định như sau:

a) Triển khai biện pháp chống rét cho người, đặc biệt cho đối tượng dễ bị tổn thương;

b) Triển khai chống rét và bảo đảm nguồn thức ăn cho gia súc;

c) Triển khai biện pháp bảo vệ cây trồng phù hợp.

4. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với động đất, sóng thần được quy định như sau:

a) Chủ động trú, tránh, bảo đảm an toàn khi xảy ra động đất;

b) Chủ động sơ tán ra khỏi khu vực chịu ảnh hưởng của sóng thần;

c) Tổ chức tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương;

d) Bố trí nơi ở tạm, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống, nhu yếu phẩm khác cho người dân bị ảnh hưởng;

đ) Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và Nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai.

5.[57] Đối với nắng nóng, lốc, sét, mưa đá, gió mạnh trên biển, sương mù, cháy rừng do tự nhiên và các loại thiên tai khác thì căn cứ vào dự báo, cảnh báo, tính chất và diễn biến thực tế của từng loại thiên tai, chủ động triển khai biện pháp ứng phó phù hợp với tình huống cụ thể.

Điều 27. Trách nhiệm trong ứng phó thiên tai

1. Căn cứ vào dự báo, cảnh báo, cấp độ rủi ro thiên tai đối với từng loại thiên tai, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[58] có trách nhiệm theo dõi tình hình thiên tai; chỉ đạo bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương thực hiện biện pháp ứng phó thiên tai và điều phối hoạt động ứng phó thiên tai liên ngành với phạm vi cấp vùng từ hai tỉnh trở lên; hỗ trợ địa phương trong trường hợp vượt quá khả năng; báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thiên tai và hoạt động ứng phó thiên tai.

2. Căn cứ vào dự báo, cảnh báo, cấp độ rủi ro thiên tai đối với từng loại thiên tai, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[59] chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn; huy động và điều phối lực lượng, phương tiện của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương tham gia thực hiện tìm kiếm cứu nạn trong ứng phó thiên tai theo quy định của pháp luật về tìm kiếm cứu nạn.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào dự báo, cảnh báo, cấp độ rủi ro thiên tai, diễn biến thiên tai, chỉ đạo của Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[60] có trách nhiệm sau đây:

a) Quyết định lựa chọn phương án và biện pháp ứng phó thiên tai;

b) Tổ chức thực hiện biện pháp ứng phó thiên tai bảo đảm an toàn công trình và hoạt động trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý. Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó phải báo cáo Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[61] để phối hợp chỉ đạo ứng phó thiên tai;

c) Phối hợp với Ủy ban nhân dân và Ban chỉ huy phòng thủ dân sự[62] cấp tỉnh tham gia ứng phó thiên tai trên địa bàn.

4. Căn cứ vào dự báo, cảnh báo, cấp độ rủi ro thiên tai, diễn biến thiên tai, sự chỉ đạo, chỉ huy của Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương có trách nhiệm sau đây:[63]

a) Quyết định lựa chọn phương án, biện pháp và tổ chức thực hiện ứng phó phù hợp với diễn biến thiên tai và điều kiện thực tế của địa bàn;

b) Chỉ đạo cơ quan chức năng tổng hợp và báo cáo kịp thời tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, số liệu thiệt hại;

c) Trường hợp vượt quá khả năng, phải báo cáo Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai cấp trên.

5. Lực lượng vũ trang nhân dân có trách nhiệm ứng phó thiên tai theo sự điều động của cơ quan có thẩm quyền.

6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm chủ động thực hiện biện pháp ứng phó thiên tai và tham gia ứng phó thiên tai theo sự điều động của cơ quan có thẩm quyền.

7. Căn cứ vào các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể, các lực lượng tham gia ứng phó thiên tai trên cùng địa bàn phải phối hợp chặt chẽ theo sự chỉ đạo, chỉ huy của người có thẩm quyền để thực hiện biện pháp ứng phó thiên tai.

8. Chính phủ quy định việc phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó thiên tai phù hợp với cấp độ rủi ro thiên tai.

Điều 28. Thẩm quyền huy động nguồn lực phục vụ hoạt động ứng phó thiên tai

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân[64] cấp xã trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm đã được chuẩn bị theo phương châm bốn tại chỗ để ứng phó thiên tai và cứu trợ khẩn cấp tại địa phương. Trường hợp vượt quá khả năng, thẩm quyền phải báo cáo kịp thời với Ủy ban nhân dân cấp trên.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn để phục vụ ứng phó thiên tai và cứu trợ khẩn cấp. Trường hợp vượt quá khả năng, thẩm quyền phải báo cáo kịp thời với Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[65].

3. Trưởng Ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ[66] có thẩm quyền huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm của tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý để phục vụ ứng phó thiên tai và cứu trợ khẩn cấp.

4. Trưởng Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[67] quyết định huy động hoặc báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định huy động nguồn lực và biện pháp ứng phó thiên tai trong trường hợp vượt quá khả năng của địa phương, bộ, cơ quan ngang bộ.

5. Người có thẩm quyền quyết định huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm có trách nhiệm quyết định việc hoàn trả hoặc bồi thường thiệt hại cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được huy động theo quy định của Luật này, pháp luật có liên quan và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Điều 29. Hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trong ứng phó thiên tai

1. Hoạt động tìm kiếm và cứu nạn người gặp nguy hiểm tại khu vực có thiên tai xảy ra bao gồm:

a) Sơ tán người ra khỏi nơi nguy hiểm, ưu tiên đối tượng dễ bị tổn thương;

b) Cấp cứu kịp thời người gặp nguy hiểm; tìm kiếm người, phương tiện mất tích;

c) Lập các trạm cấp cứu tạm thời hoặc trưng dụng có thời hạn trụ sở cơ quan, trường học, cơ sở y tế tại khu vực có thiên tai để tiếp nhận cấp cứu người bị nạn;

d) Huy động người, vật tư, trang thiết bị, thuốc chữa bệnh để tham gia cứu chữa người bị nạn;

đ) Dựng các lán trại tạm thời cho người dân bị mất nhà ở;

e) Cấp phát lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước sạch và nhu yếu phẩm thiết yếu;

g) Các biện pháp cần thiết khác phù hợp với đặc điểm thiên tai của địa phương và khu vực.

2. Trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn được quy định như sau:

a) Tổ chức, cá nhân chủ động tìm kiếm cứu nạn và có trách nhiệm tham gia tìm kiếm cứu nạn theo sự huy động của cơ quan có thẩm quyền;

b)[68] Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương các cấp có trách nhiệm chủ động triển khai hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn; trường hợp vượt quá khả năng phải báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh, Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia hỗ trợ;

c) Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm chủ động triển khai hoạt động tìm kiếm cứu nạn thuộc phạm vi quản lý; trường hợp vượt quá khả năng phải báo cáo, đề nghị Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[69] hỗ trợ;

d) Các đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn tại một số bộ có trách nhiệm tổ chức thực hiện tìm kiếm cứu nạn theo sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[70];

đ) Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[71] có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức phối hợp thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi cả nước; chủ trì phối hợp với lực lượng hỗ trợ của quốc tế và khu vực trong tìm kiếm cứu nạn.

Mục 3. KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI

Điều 30. Hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai

1. Hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai bao gồm:

a) Tiếp tục triển khai công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm thiết yếu khác và hỗ trợ tâm lý để ổn định đời sống của người dân;

b) Thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra, nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ và đề xuất phương án khắc phục hậu quả;

c) Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, trang thiết bị, nhiên liệu thiết yếu khác để phục hồi sản xuất;

d) Cung ứng vật tư, hàng hóa thiết yếu và thực hiện biện pháp quản lý giá, bình ổn thị trường;

đ) Thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh ở khu vực bị tác động của thiên tai;

e) Sửa chữa, khôi phục, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, thông tin, thủy lợi, điện lực, trường học, cơ sở y tế và công trình hạ tầng công cộng; tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng về phòng, chống thiên tai.

2. Trách nhiệm thực hiện hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai được quy định như sau:

a) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm chủ động khắc phục hậu quả thiên tai đối với cơ sở hạ tầng, tài sản thuộc phạm vi quản lý; tham gia hỗ trợ hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai theo sự huy động của cơ quan có thẩm quyền;

b) Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự[72] các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn theo quy định tại khoản 1 Điều này;

c) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ động khắc phục hậu quả thiên tai trong phạm vi quản lý và tham gia khắc phục hậu quả thiên tai khi có yêu cầu;

d) Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[73] có trách nhiệm tổng hợp báo cáo đánh giá thiệt hại và nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ từ các địa phương và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả thiên tai và báo cáo Chính phủ về biện pháp và nguồn lực để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai.

3.[74] Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 31. Trách nhiệm thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai

1. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm báo cáo chính xác thiệt hại do thiên tai gây ra trong phạm vi quản lý với Ban chỉ huy phòng thủ dân sự[75] cấp xã, cơ quan chủ quản.

2.[76] Ban chỉ huy phòng thủ dân sự các cấp có trách nhiệm tổng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra, báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp trên và Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để phục vụ công tác chỉ đạo.

3. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp, thống kê, đánh giá thiệt hại; kiểm tra kết quả đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đồng thời gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường[77] để tổng hợp.

4.[78] Ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổng hợp thiệt hại do thiên tai báo cáo Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để phục vụ công tác chỉ đạo.

5. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổng hợp, thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra trong phạm vi quản lý và báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đồng thời gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường[79] để tổng hợp.

6. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[80] tổng hợp và đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra trong phạm vi cả nước báo cáo Thủ tướng Chính phủ và công bố số liệu về thiệt hại do thiên tai gây ra.

7. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[81] chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính[82] hướng dẫn việc thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra.

Điều 32. Hình thức, đối tượng và nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ

1. Cứu trợ khẩn cấp được quy định như sau:

a) Cứu trợ khẩn cấp được thực hiện trong và ngay sau khi thiên tai xảy ra, tập trung vào thực hiện hoạt động hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và nhu yếu phẩm thiết yếu khác để ổn định đời sống của người dân, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh ở khu vực bị tác động của thiên tai;

b) Đối tượng được cứu trợ bao gồm cá nhân bị thương, hộ gia đình có người bị chết; hộ gia đình, cá nhân bị mất nhà ở, không có lương thực, nước uống và nhu yếu phẩm khác có nguy cơ ảnh hưởng tới tính mạng và sức khỏe, đặc biệt quan tâm tới đối tượng dễ bị tổn thương;

c)[83] Nguồn lực cho cứu trợ khẩn cấp bao gồm lương thực, hàng hóa, thuốc chữa bệnh, hóa chất xử lý nước và môi trường thuộc dự trữ quốc gia; kinh phí dự phòng hằng năm từ ngân sách nhà nước; Quỹ phòng, chống thiên tai và đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ từ quốc tế.

2. Hỗ trợ trung hạn được quy định như sau:

a) Hỗ trợ trung hạn được thực hiện tiếp theo cứu trợ khẩn cấp, tập trung vào hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, trang thiết bị, nhiên liệu thiết yếu khác để phục hồi sản xuất; cung ứng vật tư, hàng hóa thiết yếu và thực hiện các biện pháp quản lý giá, bình ổn thị trường; sửa chữa, khôi phục trụ sở, công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, thông tin, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, điện lực, trường học, cơ sở y tế và công trình hạ tầng thiết yếu khác bị thiệt hại;

b) Đối tượng được hỗ trợ trung hạn bao gồm tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại; cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang; đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp có công trình quy định tại điểm a khoản này;

c)[84] Nguồn lực cho hỗ trợ trung hạn bao gồm lương thực, hàng hóa dự trữ của Nhà nước; ngân sách nhà nước; Quỹ phòng, chống thiên tai và đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ từ quốc tế.

3. Hỗ trợ dài hạn được quy định như sau:

a) Hỗ trợ dài hạn được thực hiện tiếp theo hỗ trợ trung hạn, tập trung vào việc sửa chữa, khôi phục, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, công trình hạ tầng công cộng; tuyên truyền nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng về phòng, chống thiên tai;

b) Đối tượng được hỗ trợ dài hạn bao gồm tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp hoạt động công ích bị thiệt hại do thiên tai gây ra;

c)[85] Nguồn lực cho hỗ trợ dài hạn bao gồm ngân sách nhà nước và đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ từ quốc tế;

d) Ủy ban nhân dân các cấp căn cứ vào tình hình thiệt hại và mức độ thiên tai ở địa phương xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực thực hiện.

Điều 33. Huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ

1. Nguyên tắc huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:

a) Việc huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ phải tuân theo quy định của pháp luật, căn cứ vào mức độ thiệt hại, chia sẻ thông tin và phối hợp với chính quyền địa phương nơi có đối tượng được hỗ trợ để bảo đảm công bằng, công khai và tránh trùng lặp;

b) Việc cứu trợ cần tập trung đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, đặc biệt là đối tượng dễ bị tổn thương.

2.[86] Thẩm quyền huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:

a) Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền huy động nguồn lực của Nhà nước theo thẩm quyền để phục vụ công tác cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về dự trữ quốc gia. Việc hỗ trợ dài hạn thực hiện theo kế hoạch hằng năm;

b) Bộ Nông nghiệp và Môi trường[87], Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng Quỹ phòng, chống thiên tai để hỗ trợ hoạt động phòng, chống thiên tai, ưu tiên cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 10 của Luật này;

c) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã[88] vận động quyên góp, tiếp nhận và phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ vận động quyên góp, tiếp nhận nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn và chuyển giao cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phân bổ.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ở địa phương phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tiếp nhận, phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn;

d) Tổ chức, cá nhân được phép quyên góp từ cộng đồng theo quy định của pháp luật có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi được hỗ trợ để thực hiện cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ trung hạn;

đ) Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[89] có trách nhiệm kêu gọi, tiếp nhận các khoản hỗ trợ khẩn cấp từ quốc tế trong các tình huống khẩn cấp về thiên tai và chuyển giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phân bổ.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai.

Chương III

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, HỘ GIA ĐÌNH VÀ CÁ NHÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Điều 34. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân có quyền sau đây:

a) Tiếp cận thông tin về phòng, chống thiên tai do các cơ quan có thẩm quyền ban hành;

b) Tham gia xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai tại địa phương;

c) Tham gia chương trình thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống thiên tai; nâng cao kiến thức về phòng, chống thiên tai phù hợp với điều kiện cụ thể;

d) Được hoàn trả vật tư, phương tiện; nhận tiền công lao động khi tham gia ứng phó khẩn cấp thiên tai đối với cộng đồng theo lệnh huy động của người có thẩm quyền;

đ) Người tham gia ứng phó thiên tai nếu bị thương, bị chết được xem xét, hưởng chế độ, chính sách như đối với thương binh, liệt sỹ theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

e) Được cứu trợ, hỗ trợ khi bị thiệt hại do thiên tai theo quy định của pháp luật.

2. Hộ gia đình, cá nhân có nghĩa vụ sau đây:

a) Chủ động xây dựng, nâng cấp, bảo vệ công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình bảo đảm an toàn trước thiên tai hoặc di dời đến nơi an toàn; không xây dựng nhà ở hoặc cư trú tại khu vực có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi thiên tai;

b) Thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai tại địa phương;

c) Tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với đặc điểm thiên tai tại địa phương;

d) Chủ động trang bị thiết bị theo khả năng để tiếp nhận bản tin dự báo, cảnh báo và sự chỉ đạo, hướng dẫn phòng, chống thiên tai;

đ) Chuẩn bị sẵn sàng vật tư, phương tiện theo khả năng để phòng, chống thiên tai;

e) Chủ động dự trữ lương thực, nước uống, vật tư và thiết bị xử lý nước, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng dịch theo khả năng để bảo đảm đời sống khi thiên tai xảy ra phù hợp với đặc thù thiên tai tại địa phương;

g) Chủ phương tiện, tàu thuyền hoạt động trên biển, trên sông phải trang bị đầy đủ phao cứu sinh, thiết bị thông tin, tín hiệu phù hợp; phải cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về vị trí, tình trạng của phương tiện đang hoạt động cho chính quyền địa phương, cơ quan chức năng khi thiên tai xảy ra; khi gặp tàu thuyền khác bị nạn phải kịp thời cứu hộ, tìm kiếm, cứu nạn, trường hợp vượt quá khả năng phải bằng mọi cách thông báo cho cơ quan tìm kiếm, cứu nạn;

h) Chủ động ứng phó, khắc phục hậu quả nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân và gia đình khi thiên tai xảy ra; tham gia hỗ trợ cộng đồng phòng, chống thiên tai;

i) Chấp hành sự hướng dẫn, chỉ đạo, chỉ huy của cơ quan, người có thẩm quyền về sơ tán người, phương tiện ra khỏi hoặc không đi vào khu vực nguy hiểm;

k) Chấp hành quyết định huy động nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để phục vụ hoạt động ứng phó khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền;

l) Chủ động thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trong khu vực sinh sống và làm việc sau khi bị tác động của thiên tai;

m) Thông báo đến cơ quan, người có thẩm quyền khi phát hiện sự cố hoặc hành vi gây mất an toàn cho công trình phòng, chống thiên tai và tham gia xử lý sự cố công trình trong khả năng của mình;

n) Cung cấp thông tin về diễn biến thiên tai, thiệt hại do thiên tai cho cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi nhận biết của mình;

o) Cá nhân có nghĩa vụ đóng góp vào Quỹ phòng, chống thiên tai theo quy định của Chính phủ; chủ động giúp đỡ người bị thiệt hại do thiên tai tại địa phương.

Điều 35. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế

1. Tổ chức kinh tế có quyền sau đây:

a) Được trả công lao động, hoàn trả hoặc bồi thường vật tư, phương tiện, trang thiết bị tham gia ứng phó khẩn cấp thiên tai đối với cộng đồng theo lệnh huy động của cơ quan, người có thẩm quyền;

b) Tham gia đầu tư dự án xây dựng công trình phòng, chống thiên tai kết hợp đa mục tiêu theo quy hoạch, kế hoạch của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương và được khai thác lợi ích do việc đầu tư mang lại theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức kinh tế có nghĩa vụ sau đây:

a) Chủ động xây dựng, bảo vệ công trình, cơ sở vật chất của mình và tổ chức sản xuất, kinh doanh bảo đảm an toàn trước thiên tai;

b) Xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng, chống thiên tai;

c) Khi đầu tư xây dựng công trình phải áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trước rủi ro thiên tai; chấp hành quy định về bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai;

d) Tham gia chương trình thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống thiên tai; nâng cao kiến thức về phòng, chống thiên tai; tập huấn, huấn luyện, diễn tập kỹ năng phòng, chống thiên tai theo kế hoạch của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương;

đ) Chấp hành sự hướng dẫn, chỉ đạo, chỉ huy của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc thực hiện biện pháp phòng, chống thiên tai;

e) Chấp hành lệnh huy động khẩn cấp nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để phục vụ hoạt động ứng phó tình huống khẩn cấp;

g) Chủ động thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trong phạm vi quản lý của mình khi bị tác động của thiên tai;

h) Tham gia hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ khẩn cấp và khắc phục hậu quả thiên tai tại địa phương trong khả năng của mình;

i) Đóng góp vào Quỹ phòng, chống thiên tai theo quy định của Chính phủ.

Điều 36. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

1. Cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong phòng, chống thiên tai có quyền sau đây:

a) Được trả công lao động, hoàn trả hoặc bồi thường vật tư, phương tiện, trang thiết bị tham gia ứng phó khẩn cấp thiên tai theo lệnh huy động của cơ quan, người có thẩm quyền;

b) Tiếp cận thông tin về phòng, chống thiên tai do các cơ quan có thẩm quyền ban hành;

c) Tham gia xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai;

d) Tham gia chương trình thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống thiên tai; nâng cao kiến thức về phòng, chống thiên tai phù hợp với điều kiện cụ thể;

đ) Được cứu trợ, hỗ trợ khi bị thiệt hại do thiên tai theo quy định của Luật này.

2. Cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong phòng, chống thiên tai có nghĩa vụ sau đây:

a) Chủ động xây dựng, bảo vệ công trình, cơ sở vật chất thuộc phạm vi quản lý bảo đảm an toàn trước thiên tai;

b) Xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng, chống thiên tai;

c) Tuân thủ quyết định huy động khẩn cấp về nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm của người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động ứng phó thiên tai;

d) Chủ động thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trong phạm vi quản lý của mình khi bị tác động của thiên tai.

Điều 37. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam

1. Tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam khi tham gia hoạt động phòng, chống thiên tai có các quyền được quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.

2. Tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam khi tham gia hoạt động phòng, chống thiên tai có nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật này;

b) Hoạt động đúng nội dung đã đăng ký theo quy định;

c) Tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Chương IV

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI[90]

Điều 38. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong phòng, chống thiên tai

1. Bảo đảm tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và bảo đảm lợi ích quốc gia.

2. Tuân thủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Chủ động đề xuất sáng kiến hợp tác quốc tế về lĩnh vực phòng, chống thiên tai.

4. Ưu tiên hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp tìm kiếm cứu nạn; hợp tác đầu tư, xây dựng, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai.

Điều 39. Nội dung hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai

1. Hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin, dự báo, cảnh báo thiên tai.

2. Hợp tác quốc tế về tìm kiếm cứu nạn.

3. Hợp tác quốc tế về cứu trợ nhân đạo.

4. Hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong phòng, chống thiên tai.

Điều 39a. Khoa học và công nghệ trong phòng, chống thiên tai[91]

1. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, theo dõi, giám sát, truyền tin các loại hình thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt động có thể làm gia tăng rủi ro thiên tai.

2. Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, vật liệu mới để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng công trình phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn công trình đê điều, công trình phòng, chống sạt lở, sụt lún đất, hồ, đập và công trình phòng, chống thiên tai khác.

Điều 40. Cơ quan đầu mối và cơ quan có thẩm quyền hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai

1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[92] là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hợp tác quốc tế trong phòng, chống thiên tai, có trách nhiệm sau đây:

a) Nhận thông tin dự báo, cảnh báo và thông tin liên quan đến thiên tai từ cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế theo quy định;

b) Cung cấp thông tin về thiên tai cho cơ quan, tổ chức quốc tế theo quy định;

c) Tổ chức thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai trong phạm vi quản lý;

d) Đề xuất ký kết, gia nhập điều ước quốc tế trong phòng, chống thiên tai.

đ) Đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về kêu gọi hỗ trợ của quốc tế về phòng, chống thiên tai.

2. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm sau đây:

a)[93] Kêu gọi quốc tế hỗ trợ cho việc ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 33 của Luật này; đồng thời là đầu mối của Việt Nam hỗ trợ các quốc gia khác theo chỉ đạo của Chính phủ;

b) Chủ trì liên hệ với các quốc gia, vùng lãnh thổ để phối hợp hỗ trợ cho người, phương tiện của Việt Nam khi xảy ra thiên tai trên biển, vùng biên giới đất liền và hỗ trợ người, phương tiện của quốc gia khác khi có yêu cầu.

3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[94] có trách nhiệm chủ trì hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quan trắc, đánh giá, dự báo, cảnh báo, xác định cấp độ rủi ro thiên tai liên quan đến khí tượng, thủy văn, hải văn phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có trách nhiệm chủ trì hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quan trắc, đánh giá, xác định cấp độ rủi ro thiên tai, báo tin động đất, dự báo, cảnh báo sóng thần.

5. Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia[95] chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.

Điều 41. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam có quyền sau đây:

a) Được miễn thuế, lệ phí về nhập khẩu, xuất khẩu đối với phương tiện, trang thiết bị, hàng hóa phục vụ hoạt động cứu trợ khẩn cấp, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ, hỗ trợ thiên tai;

b) Được ưu tiên về thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh; thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu đối với phương tiện, trang thiết bị, hàng hóa phục vụ hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ, hỗ trợ thiên tai;

c) Được ưu tiên về thủ tục lưu trú.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam có nghĩa vụ sau đây:

a) Đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;

b) Hoạt động đúng mục đích đã đăng ký, tuân thủ pháp luật Việt Nam.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương V

TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Điều 42. Trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường[96] chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai, có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai;

b) Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bảo đảm an toàn trước thiên tai đối với công trình phòng, chống thiên tai thuộc phạm vi quản lý;

c) Tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sản xuất nông nghiệp để hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra và bảo đảm phát triển bền vững;

d) Quản lý việc đầu tư xây dựng, tu bổ, bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai theo sự phân công của Chính phủ, bao gồm công trình đê điều, hồ đập, chống úng, chống hạn, chống sạt lở; khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và công trình khác phục vụ phòng, chống thiên tai;

đ) Tổ chức thống kê, xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai;

e) Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong phòng, chống thiên tai, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác phòng, chống thiên tai;

g) Tổ chức thông tin, truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống thiên tai;

h) Đầu mối hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai, đề xuất việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về phòng, chống thiên tai;

i) Kiểm tra,[97] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền;

k)[98] Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền về công tác dự báo, cảnh báo thiên tai;

l)[99] Lập quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện việc dự báo khí tượng, thủy văn, hải văn;

m)[100] Tổ chức quan trắc, thu thập và xử lý thông tin, xác định, đánh giá rủi ro thiên tai, phân vùng rủi ro thiên tai, theo dõi, giám sát thiên tai; thực hiện dự báo, cảnh báo, cung cấp kịp thời chính xác thông tin về thiên tai liên quan đến khí tượng, thủy văn, hải văn cho Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương liên quan, phương tiện thông tin đại chúng theo quy định;

n)[101] Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; hợp tác quốc tế trong việc dự báo, cảnh báo thiên tai; bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác dự báo, cảnh báo; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và pháp luật về dự báo, cảnh báo thiên tai.

3.[102] (được bãi bỏ)

4. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng với các cơ quan, tổ chức khác trong phòng, chống thiên tai;

b) Lập quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai;

c) Lập phương án bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia hộ đê, hộ đập, phân lũ, làm chậm lũ, tìm kiếm cứu nạn;

d) Tổ chức thu thập thông tin có liên quan đến thiên tai, chỉ đạo thực hiện ứng cứu, xử lý các tình huống khẩn cấp và khắc phục hậu quả thiên tai;

đ) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

5. Bộ Công an có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong phòng, chống thiên tai;

b) Lập kế hoạch và phương án bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội khi có thiên tai xảy ra, phối hợp với Bộ Quốc phòng, các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương tham gia cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra;

c) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

6.[103] Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm thông tin trong phòng, chống thiên tai;

b) Lập quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện việc bảo đảm an toàn, thông suốt cho mạng thông tin chung;

c) Chuẩn bị dự phòng trang thiết bị thông tin chuyên dùng phục vụ phòng, chống thiên tai trong mọi tình huống thiên tai xảy ra;

d) Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

6a.[104] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm sau đây:

a) Chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng thực hiện việc thông tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai;

b) Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

7.[105] (được bãi bỏ)

8. Bộ Công Thương có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn cho công trình hồ chứa thủy điện thuộc phạm vi quản lý trong phòng, chống thiên tai;

b) Lập kế hoạch về phòng, chống thiên tai; chỉ đạo thực hiện việc bảo đảm an toàn các khu vực khai thác khoáng sản, an toàn về nguồn điện và đường dây tải điện và các cơ sở công nghiệp do Bộ quản lý;

c) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có kế hoạch chuẩn bị các mặt hàng thiết yếu cung ứng cho Nhân dân, chú trọng các vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên bị thiên tai; phối hợp với chính quyền địa phương các cấp thực hiện tốt việc dự phòng tại chỗ;

d) Kiểm tra,[106] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

9. Bộ Xây dựng có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn cho công trình xây dựng phù hợp với pháp luật về phòng, chống thiên tai; chủ trì, phối hợp và hướng dẫn địa phương thực hiện quy hoạch đô thị và nông thôn[107], bảo đảm an toàn công trình trước thiên tai;

b) Xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn của công trình phù hợp với thiên tai;

c) Kiểm tra,[108] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền;

d)[109] Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm giao thông trong phòng, chống thiên tai;

đ)[110] Lập quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện về phát triển giao thông vận tải phù hợp với chiến lược và kế hoạch phòng, chống thiên tai;

e)[111] Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vật tư cứu hộ giao thông, bảo đảm an toàn giao thông vận tải khi thiên tai xảy ra.

10. Bộ Tài chính có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về tài chính cho phòng, chống thiên tai, chính sách bảo hiểm rủi ro thiên tai;

b) Tổng hợp và bố trí dự toán ngân sách nhà nước để chi cho nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Luật này;

c) Kiểm tra,[112] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền;

d)[113] Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, các bộ và địa phương;

đ)[114] Bố trí vốn đầu tư các công trình phòng, chống thiên tai;

e)[115] Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

11.[116] (được bãi bỏ)

12. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lồng ghép kiến thức phòng, chống thiên tai vào chương trình các cấp học;

b) Chỉ đạo lập quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đối với[117] các trường học, cơ sở giáo dục, đào tạo kết hợp phòng, chống thiên tai phù hợp với đặc điểm thiên tai của từng vùng, địa phương để bảo đảm an toàn cho người và công trình;

c) Kiểm tra,[118] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

13. Bộ Y tế có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về y tế trong phòng, chống thiên tai;

b) Dự trữ thuốc, phương tiện y tế, hướng dẫn cho cán bộ y tế và cộng đồng về kỹ thuật cấp cứu thông thường, biện pháp vệ sinh môi trường;

c) Chỉ đạo việc cấp cứu nạn nhân, phòng, chống bệnh dịch trước, trong và sau khi thiên tai xảy ra;

d) Kiểm tra,[119] giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền;

đ)[120] Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cứu trợ xã hội trong việc khắc phục hậu quả thiên tai;

e)[121] Căn cứ vào tình hình thiệt hại, nhu cầu cứu trợ, đề xuất chính sách hỗ trợ cho các địa phương để sớm ổn định đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

14.[122] Bộ Nội vụ có trách nhiệm sau đây:

a) Hướng dẫn việc lồng ghép giới trong các hoạt động phòng, chống thiên tai;

b) Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

15. Bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai thuộc phạm vi quản lý.

Điều 43. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[123] có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống thiên tai;

b) Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai thuộc phạm vi quản lý;

c) Tổ chức thực hiện việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;

d)[124] Quản lý thực hiện quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đối với khu đô thị, điểm dân cư nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn;

đ)[125] Tổ chức thực hiện phương án ứng phó thiên tai trên địa bàn; tổ chức việc chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm và tổ chức diễn tập theo phương án được duyệt;

e) Kiểm tra, đôn đốc việc dự trữ lương thực, nhu yếu phẩm, hóa chất xử lý nước, thuốc chữa bệnh, phòng dịch, phương tiện, vật tư và trang thiết bị theo phương châm bốn tại chỗ để chủ động ứng phó khi thiên tai xảy ra;

g) Xây dựng, tu bổ, nâng cấp và quản lý, bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai trên địa bàn thuộc trách nhiệm quản lý;

h) Tổ chức thường trực, chỉ huy công tác ứng phó thiên tai; tổng hợp, thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra;

i) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất khi xảy ra thiên tai để giảm nhẹ thiệt hại, nhanh chóng phục hồi sản xuất;

k) Tổ chức quản lý, phân phối tiền, hàng cứu trợ khẩn cấp của Nhà nước, tổ chức và cộng đồng để ổn định đời sống, phục hồi sản xuất và khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định của pháp luật;

l) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

2.[126] Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện Luật này và các quy định liên quan về phòng, chống thiên tai;

b) Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai; lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;

c) Xây dựng, tu bổ, nâng cấp và quản lý, bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai trên địa bàn;

d) Tổ chức thực hiện phương án ứng phó thiên tai trên địa bàn; tổ chức việc chuẩn bị nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm và tổ chức diễn tập theo phương án được duyệt;

đ) Kiểm tra, đôn đốc và tổ chức thực hiện việc dự trữ lương thực, nhu yếu phẩm, hóa chất xử lý nước, thuốc chữa bệnh, phòng dịch, phương tiện, vật tư và trang thiết bị theo phương châm bốn tại chỗ để chủ động ứng phó khi thiên tai xảy ra;

e) Tổ chức thường trực, chỉ huy việc phòng tránh, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; tổng hợp, thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn;

g) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất khi xảy ra thiên tai để giảm nhẹ thiệt hại, nhanh chóng phục hồi sản xuất;

h) Tiếp nhận, quản lý, phân phối tiền, hàng cứu trợ khẩn cấp của Nhà nước, tổ chức và cộng đồng để ổn định đời sống, phục hồi sản xuất và khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định của pháp luật;

i) Quản lý thực hiện quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đối với khu đô thị, điểm dân cư nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn;

k) Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai theo thẩm quyền.

Điều 44.[127] (được bãi bỏ)

Điều 45. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai

1. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[128]

Điều 46. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2014.

2. Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão năm 1993; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão năm 2000 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 47. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

 

 

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

CHỦ NHIỆM




Lê Quang Mạnh

 



[1] Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 và Luật Đê điều số 79/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2008/QH12, Luật số 35/2018/QH14.”.

Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Phòng thủ dân sự.”.

Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.”.

Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.”.

Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường gồm Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 11/2022/QH15, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 18/2023/QH15, Luật số 47/2024/QH15 và Luật số 54/2024/QH15; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14; Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật Đê điều số 79/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2008/QH12, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 60/2020/QH14, Luật số 18/2023/QH15, Luật số 47/2024/QH15 và Luật số 84/2025/QH15; Luật Đo đạc và bản đồ số 27/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 84/2025/QH15; Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 64/2020/QH14; Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 31/2024/QH15; Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 60/2020/QH14, Luật số 18/2023/QH15, Luật số 47/2024/QH15 và Luật số 55/2024/QH15; Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 84/2025/QH15 và Luật số 116/2025/QH15; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14, Luật số 18/2023/QH15 và Luật số 61/2024/QH15; Luật Thú y số 79/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14; Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số 72/2020/QH14, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 28/2023/QH15 và Luật số 54/2024/QH15; Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15; Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14.”.

[2] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[4] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[5] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[6] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[7] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[8] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[9] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[10] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[11] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[12] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[13] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[14] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[15] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[16] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[17] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[18] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[19] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[21] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[22] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[23] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[24] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[25] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[26] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[27] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[28] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[29] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[30] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 10 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[31] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[32] Cụm từ “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Tài chính” theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[33] Cụm từ “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Tài chính” theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[34] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[35] Cụm từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[36] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[37] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[38] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[39] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[40] Cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại điểm d khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[41] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[42] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[43] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[44] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm i khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[45] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm k khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[46] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm k khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[47] Cụm từ “Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm l khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[48] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 14 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[49] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 14 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[50] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 14 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[51] Cụm từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[52] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[53] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[54] Cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ dân sự” theo quy định tại điểm m khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[55] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[56] Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[57] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[58] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[59] Cụm từ “Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm l khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[60] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm i khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[61] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm k khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[62] Cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ dân sự” theo quy định tại điểm m khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[63] Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[64] Cụm từ “cấp huyện và” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[65] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[66] Cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai của bộ, cơ quan ngang bộ” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định tại điểm n khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[67] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[68] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[69] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm k khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[70] Cụm từ “Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm l khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[71] Cụm từ “Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm l khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[72] Cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ dân sự” theo quy định tại điểm m khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[73] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[74] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[75] Cụm từ “Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ dân sự” theo quy định tại điểm m khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[76] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[77] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[78] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[79] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[80] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[81] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[82] Cụm từ “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Tài chính” theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[83] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[84] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 18 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[85] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 18 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[86] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[87] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[88] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại điểm đ khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[89] Cụm từ “Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai” được thay bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm o khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[90] Tên Chương này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[91] Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[92] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[93] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

[94] Cụm từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[95] Cụm từ “Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” được thay thế bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” theo quy định tại điểm l khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[96] Cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[97] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[98] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[99] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[100] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[101] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[102] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[103] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[104] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[105] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[106] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[107] Cụm từ “quy hoạch xây dựng” được thay thế bằng cụm từ “quy hoạch đô thị và nông thôn” theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[108] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[109] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[110] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[111] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[112] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[113] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[114] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[115] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[116] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[117] Cụm từ “quy hoạch xây dựng” được thay thế bằng cụm từ “quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đối với” theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[118] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[119] Cụm từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[120] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[121] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[122] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 4 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[123] Cụm từ “và cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[124] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[125] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[126] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[127] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm p khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

[128] Điều 3 của Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021, quy định như sau:

“Điều 3. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.”.

Điều 55 của Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, quy định như sau:

“Điều 55. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.”.

Điều 58 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, quy định như sau:

“Điều 58. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

2. Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 77/2015/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số 61/2020/QH14 và Điều 29 của Luật số 35/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.

Điều 54 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, quy định như sau:

“Điều 54. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

2. Luật Phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 40/2013/QH13 và Luật số 30/2023/QH15 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 55 của Luật này.

3. Nghị quyết số 99/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

4. Việc trang bị thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo lộ trình quy định tại khoản 5 Điều 20 và điểm c khoản 1 Điều 23 của Luật này được thực hiện chậm nhất từ ngày 01 tháng 7 năm 2027.”.

Khoản 1 Điều 16, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 14 Điều 17 của Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:

“Điều 16. Điều khoản thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này và các quy định có liên quan tại Điều 17 của Luật này.

Điều 17. Điều khoản chuyển tiếp

1. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành quy định thay thế theo quy định của Luật này.

2. Các quy định về thủ tục hành chính đang được thực hiện theo các luật được sửa đổi, bổ sung bởi Luật này tiếp tục được thực hiện đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành quy định thay thế theo quy định của Luật này.

3. Văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận là kết quả giải quyết thủ tục hành chính đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 và chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo thời hạn ghi trên văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận đó.

Trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu được sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận thì gửi văn bản đề nghị đến cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định tại Luật này giải quyết.

4. Tổ chức, cá nhân đã được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ để giải quyết thủ tục hành chính trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 mà chưa có kết quả thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị thực hiện theo quy định của Luật này.

5. Trước ngày 30 tháng 6 năm 2026, cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm chuyển giao hồ sơ hoặc dữ liệu đã hoàn thành, đang giải quyết liên quan đến các thủ tục hành chính cho cơ quan, người có thẩm quyền được phân quyền theo quy định tại Luật này.

14. Chính phủ quy định các trường hợp chuyển tiếp khác theo quy định của Luật này.”.

THE OFFICE OF THE NATIONAL ASSEMBLY
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
---------------

No. 85/VBHN-VPQH

Hanoi, March 27, 2026

 

LAW

ON NATURAL DISASTER MANAGEMENT

The Law on Natural Disaster Management No. 33/2013/QH13 dated June 29, 2013 of the National Assembly, which has been effective since May 01, 2014, is amended by:

1. The Law No. 60/2020/QH14 dated June 17, 2020 of the National Assembly on amendments to certain Articles of the Law on Natural Disaster Management and Law on Dykes, which has been effective since July 01, 2021;

2. The Law on Civil Defense No. 18/2023/QH15 dated June 20, 2023 of the National Assembly, which has been effective since July 01, 2024;

3. The Law on Rural and Urban Planning No. 47/2024/QH15 dated November 26, 2024 of the National Assembly, which has been effective since July 01, 2025;

4. The Law on Fire and Rescue No. 55/2024/QH15 dated November 29, 2024 of the National Assembly, which has been effective since July 01, 2025;

5. The Law No. 146/2025/QH15 dated December 11, 2025 on amendments to certain Articles of 15 laws in fields of agriculture and environment, which has been effective since January 01, 2026.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The National Assembly hereby promulgates the Law on Natural Disaster Management.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law provides natural disaster management activities; rights and obligations of agencies, organizations, households and individuals engaged in natural disaster management activities; state management and resources for assurance of natural disaster management.

Article 2. Regulated entities

This Law applies to Vietnamese agencies, organizations, households and individuals; foreign organizations and individuals and international organizations that are residing or operating or engaged in natural disaster management in Vietnam.

Article 3. Definitions

For the purposes of this Law, the terms below shall be construed as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. “disaster risk” means loss or damage, which a disaster may cause to life, property, environment, living conditions and socio-economic activities.

3. “disaster management” means a systematic process involving the disaster preparedness, response and recovery.

4. “vulnerable subject” means a person or a group of persons whose characteristics and circumstances cause them to suffer from more adverse impacts of a disaster than other groups of persons in the community do. Vulnerable subjects include children, the elderly, pregnant women or women raising children under 36 months of age, persons with disabilities, persons suffering from terminal illnesses, the poor, persons who have lost their capacity for civil act, ethnics residing in disadvantaged areas, persons residing in areas with extremely disadvantaged areas and other subjects as prescribed by law.

5. “disaster management work” means a work that is constructed by the State, an organization or individual. Disaster management works include meteorological, hydrographical, oceanographic and seismic observatories, disaster warning stations; dykes, reservoirs, dams, embankments, works serving prevention of inundation, droughts, anti-saltwater intrusion, landslides, land subsidence and flashfloods, and lightning protection works; storm shelters for ships, boats, evacuation houses and other works serving disaster management.

Article 4. Basic principles of disaster management

1. Proactive preparedness, timely response, urgent and effective recovery.

2. Disaster management is the responsibility of the State, organizations and individuals in which the State plays a key role, organizations and individuals play a proactive role and communities help one another.

3. Disaster management must be carried out under the four on-the-spot motto: leadership on-the-spot; human resources on-the-spot; vehicles and materials on-the-spot; logistics on-the-spot.

4. Disaster management contents must be incorporated into national and local socio-economic development plans and planning schemes and sectoral development plans and planning schemes.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. Disaster management must be based on scientific soundness; combination of traditional experiences and scientific and technological advances; combination of structural and non-structural solutions; protection of the environment and ecosystems and adaptation to climate change.

7. Disaster management must be performed as assigned, decentralized and closely coordinated among involved forces and conform to the levels of disaster risks.

Article 5. State policies on disaster management

1. Adopt synchronous policies on investment and resource mobilization and solutions for organizing disaster management; invest in construction of key disaster management works and support localities in constructing disaster management works as decentralized by the Government.

2. Provide training and education, conduct propaganda campaigns to raise people’s and communities’ awareness of law observance and and involvement in disaster management.

3. Invest in infrastructure in areas frequently hit by areas disasters; relocate people living in risky areas to safe areas; provide livelihood and production support to subjects suffering disaster-induced damage, give priority to areas frequently affected by disasters and vulnerable subjects.

4. Encourage organizations, households and individuals to take proactive disaster management measures; encourage organizations, households and individuals to take proactive disaster management measures; encourage organizations and individuals to invest in building disaster management owrks, research and apply scientific and technological advances to disaster management activities. The State protects the rights and lawful interests of organizations and individuals engaged in disaster management.

5. Offer incentives to and encourage insurers to provide insurance against disaster risks; support enterprises participating in production and business in areas frequently affected by disasters in accordance with the laws on investment, enterprises and disaster management; offer corporate income tax exemption and reduction with regard to contributions for disaster management.

6. Prioritize provision of resources for researches, baseline surveys, design and execution science and technology programs for disaster management purposes; strengthen implementation of disaster relief and recovery measures.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 6. Human resources for disaster management

1. Human resources for disaster management include:

a) Local organizations, households and individuals, which are human resources on-the-spot in charge of carrying out disaster management activities;

b) Militia and self-defense forces, which are human resources on-the-spot in charge of performing the disaster management tasks according to the local disaster response plans and under the direction of competent persons;

c) People’s Army and People’s Public Security forces, which have the responsibility to perform the disaster management task and serve as key forces upon evacuation of people, vehicles and property, rescue, security and social order and safety maintenance under the direction of competent persons;

d) Organizations and individuals that voluntarily support disaster management activities and perform the disaster management task under the command of competent persons;

dd) Persons responsible for disaster management at state agencies, who perform the disaster management tasks.

2. Communal voluntary forces in charge of disaster management shall be decided by the People’s Committee of a commune, work on a part-time basis and decided by the communal People's Committee on the basis of the human resources specified in points a and b clause 1 of this Article, including village-level militia and self-defense forces; communal militia and self-defense forces, other local organizations performing the disaster management tasks according to the local disaster response plans.

3. The Government shall elaborate benefits for communal voluntary forces in charge of disaster management specified in clause 2 of this Article.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Supplies, vehicles and equipment for disaster management activities include specialized supplies, vehicles and equipment and other supplies, vehicles and equipment of the State; ones provided by local organizations and individuals; and ones prepared by organizations, individuals and households themselves.

The Prime Minister shall promulgate a list of and elaborate the management and use of specialized supplies, vehicles and equipment for disaster management.

2. Information systems serving the state management and disaster management activities include:

a) Information infrastructure, including public information systems and specialized equipment serving the direction and command of specialized equipment serving the direction and command of disaster management activities; automatic data-transmission monitoring equipment; early warning systems;

b) Databases, including meteorological, hydrographical, oceanographic, seismic, earthquake and tsunami information database; database of disasters and disaster-induced damage; database of disaster management works; databases of infrastructure works related to disaster management; data automatically monitored and transmitted during disasters.

3. Necessities of organizations and individuals and goods, supplies, and equipment forming part of the national reserves of state agencies for disaster management activities include food, medicines, drinking water, chemicals, water treatment equipment, disinfectants, and other necessary items to protect the livelihood of the people in the event of disasters.

Article 8. Financial sources for disaster management

1. State budget.

2. Disaster management funds.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Other sources as prescribed by law.

Article 9. State budget for disaster management

1. The state budget for disaster management is composed of annual budget, backup budget and reserve fund.

2. The state budget for disaster management shall be used for formulation and implementation of disaster management strategies, plans and baseline surveys; construction, renovation and upgrading of disaster management works; disaster management activities; regular activities of state management agencies for disaster management at all levels.

The estimation, allocation, management and use of the state budget for disaster management shall comply with regulations of law on state budget and other relevant regulations of law.

3. The backup state budget for disaster management and recovery shall be used in accordance with the law on state budget.

4. The reserve fund shall be used to perform the disaster management and recovery tasks that are not covered by the estimate while the backup state budget is used up but still not sufficient in accordance with the law on state budget.

Article 10. Disaster management funds

1. Disaster management funds are off-budget financial funds and include central disaster management fund managed by the Ministry of Agriculture and Environment and provincial disaster management funds managed by the provincial-level People’s Committees.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Financial sources of the central disaster management fund include assistance and voluntary contributions of domestic and foreign organizations and individuals; are extracted from the provincial disaster management fund under the decision of the Prime Minister and other lawful sources;

b) Financial sources of a provincial disaster management fund include assistance and voluntary contributions of domestic organizations and individuals; compulsory contributions of domestic and foreign business entities within the province, Vietnamese citizens from at least 18 years of age to retirement age in normal working conditions in accordance with labor regulations; are extracted from the central disaster management fund, other provincial disaster management funds and other lawful sources.

3. Disaster management funds shall be used to support disaster management activities with priority given to the following activities:

a) Providing emergency relief in food, drinking water, medicines and other necessities to those suffering from disaster-induced damage;

b) Supporting the repair of houses, medical establishments and schools;

c) Handling environmental sanitation issues in disaster-hit areas;

d) Fire prevention and fighting, human rescue and property rescue.

4. Operating principles of a disaster management fund are prescribed as follows:

a) The fund operates for non-profit purposes;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) The fund supports disaster management disaster activities that have not yet been funded by the state or have not yet satisfied demands.

5. The Government shall issue specific provisions on the establishment, levels of contribution, entities eligible for exemption, reduction or deferral of contributions, and the management, use, payment and finalization of disaster management funds.

Article 11. Voluntary contributions for disaster management

1. Organizations and individuals may make voluntary contributions for disaster management in the following forms: making contributions to social funds or charity funds; participating in making contributions as prescribed by law and providing direct support to organizations, households and individuals suffering disaster-induced damage.

2. Voluntary contributions prescribed in clause 1 of this Article shall be allocated and used in accordance with the law on social funds and charity funds and with the agreement of local authorities in areas where entities eligible for support resided.

Article 12. Prohibited acts

1. Taking advantage of disasters and disaster management activities to undermine the independence, sovereignty, unity and territorial integrity, national defense and security and other national interests; cause social disorder; infringe upon the State’s and people’s property and rights and lawful interests of organizations, individuals and communities, or carry out other illegal activities.

2. Destroying, damaging or obstructing the operation of disaster management works.

3. Operating irrigation reservoirs, hydropower reservoirs, sluices and pumping stations in contravention of the approved procedures, except special cases under the direction of competent persons.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. Opposing, obstructing, intentionally delaying the implementation of, or disobeying competent agencies’ or persons’ direction or command on disaster management.

6. Opposing, obstructing or disobeying competent agencies’ or persons’ decisions on mobilization of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities in urgent response to disasters.

7. Taking advantage of disasters to speculate and increase the prices of goods, supplies, vehicles, equipment and essentials for self-seeking purposes, causing damage to people’s life.

8. Using financial assistance and relief goods for improper purposes, appropriating or causing loss of relief money and goods; providing relief in an untimely manner or to incorrect beneficiaries.

9. Intentionally providing false information on disasters or disaster management activities.

10. Intentionally making false reports on disaster-induced damage.

Chapter II

DISASTER MANAGEMENT ACTIVITIES

Section 1. DISASTER PREPAREDNESS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Conducting disaster management baseline surveys, formulating, approving and implementing disaster management strategies and plans.

2. Incorporating disaster management contents into national and local socio-economic development plans and planning schemes and sectoral development plans and planning schemes.

3. Formulating policies in the field of disaster management.

4. Identifying, assessing and zoning disaster risks and monitoring and supervising disasters.

5. Formulating, approving and implementing irrigation and disaster management planning and populated are planning, and boost disaster-resilient production; reviewing and formulating plans to relocate inhabitants in areas at very high risk of being hit by disasters.

6. Determining disaster risk levels; satisfying requirements for disaster management.

7. Building and managing disaster management works.

8. Organizing and participating in provision and communication of information and education about disaster management for authorities at all levels, sectors and communities.

9. Making preparations in response to disaster, including:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Preparing human resources, supplies, vehicles, equipment, and necessities for disaster response;

c) Organizing on-duty forces, updating information on disaster developments; organizing disaster forecasting and warning;

d) Organizing and participating in training and drills on disaster management skills.

Article 13a. Disaster management baseline surveys

1. Disaster management baseline surveys shall be conducted on a periodic or unscheduled basis with a view to collecting information and establishing databases serving state management and disaster management activities.

2. A disaster management baseline survey shall focus on:

a) Current quantity, quality and capacity of the work serving disaster management and infrastructural constructions related to disaster management;

b) Current organizational structure, policies, personnel, finance and equipment for disaster management;

c) Status of systems of disaster information, observation and monitoring, and data on disaster management;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and People’s Committees at all levels shall organize, approve, announce and manage results of disaster management baseline surveys within their jurisdiction and send the results to the Ministry of Agriculture and Environment.

Article 14. National Strategy for Disaster Management

1. The National Strategy for Disaster Management shall be formulated for every 10 years with a 20-year vision and shall be updated and adjusted once every 05 years or upon great changes in the situation of disasters.

2. The National Strategy for Disaster Management must identify key objectives, tasks, solutions, programs, schemes and projects and the organization of disaster management activities nationwide.

3. The National Strategy for Disaster Management shall be formulated based on the following grounds:

a) The Party’s guidelines and policies and the State’s policies and laws on disaster management and socio-economic development;

b) The current situation of national disaster management activities;

c) Results of identification, assessment and zoning of disaster risks, disaster developments and climate change;

d) Resources for disaster management activities;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. The Ministry of Agriculture and Environment shall preside over and cooperate with Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and localities in, formulating and submitting the National Strategy for Disaster Management to the Prime Minister for approval.

Article 15. Disaster management plans

1. Disaster management plans shall be formulated at local, ministerial and national levels every 05 years corresponding to socio-economic development plans, and shall be adjusted annually.

2. A communal-level disaster management plan shall primarily consist of:

a) Annual assessment and updating of demographic, socio-economic, and infrastructural characteristics within the scope of management;

b) Disaster situation in the commune;

c) Determining contents, general measures, programs and schemes for disaster management suitable for each disaster risk level and specific type of disaster occurring in the commune, paying attention to vulnerable subjects, including constructing local disaster management works, organizing provision of information and propaganda campaigns to raise community awareness of disaster management; identifying risky areas; formulating plans for response to specific disaster risk levels and types; organizing on-duty forces and updating information on disaster developments; preparing evacuation sites; and organizing training and drills on disaster management skills;

d) Preparation of supplies, vehicles, equipment, and necessities for disaster management; specialized equipment for the direction and command of disaster management;

dd) Incorporating disaster management contents into the socio-economic development plan and planning scheme;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



g) Determination of responsibilities for organizing the implementation of the disaster management plan.

3. (repealed)

g) Determination of responsibilities for organizing the implementation of the disaster management plan.

4. A provincial-level disaster management plan shall primarily consist of:

a) Annual assessment and updating of demographic, socio-economic, and infrastructural characteristics within the scope of management;

b) Identification and assessment of disaster risks and commonly occurring disaster risk levels, impacts of climate change on socio-economic activities within the scope of management;

c) Determining disaster management contents and measures suitable for each disaster risk level and specific type of disaster so as to minimize disaster risks, paying attention to risky areas and vulnerable subjects, focusing on implementing general plans for provincial river basin flood management; strong typhoon and super typhoon preparedness plans; flashflood and landslide preparedness plans; drought and saltwater intrusion preparedness plans; precipitation-, flood- or runoff-induced riverbank erosion preparedness plans, coastal erosion preparedness plans;

d) Determining methods for incorporation of disaster management contents into the socio-economic development plan and planning scheme;

dd) Determination of resources and annual and 05-year schedules for the implementation of disaster management plan;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. A ministerial-level disaster management plan shall primarily consist of:

a) Annual assessing and updating socio-economic situation, sectoral and infrastructure development situation under their management;

b) Identification and assessment of disaster risks and commonly occurring disaster risk levels, impacts of climate change on sectoral development activities;

c) Determining contents of and measures for disaster management suitable for each disaster risk level and specific type of disaster so as to minimize disaster risks;

d) Determining methods for incorporation of disaster management contents into the sectoral development plan and planning scheme;

dd) Determination of resources and annual and 05-year schedules for the implementation of disaster management plan;

e) Determination of responsibilities of organizations and individuals for implementing, inspecting and supervising the implementation of the disaster management plan under the Ministry’s management.

6. A national disaster management plan shall primarily consist of:

a) Annual assessing and updating demographic and socio-economic characteristics, economic sector and infrastructure development situation nationwide;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Determining contents, general measures, programs and schemes for disaster management suitable for each disaster risk level and specific type of disaster so as to minimize disaster risks, paying attention to risky areas and vulnerable subjects, focusing on implementing general plans for river basin flood management; strong typhoon and super typhoon preparedness plans; flashflood and landslide preparedness plans; drought and saltwater intrusion preparedness plans; precipitation-, flood- or runoff-induced riverbank erosion preparedness plans, coastal erosion preparedness plans;

d) Determining disaster management contents to be incorporated into the national socio-economic development plan;

dd) Determination of resources and annual and 05-year schedules for the implementation of disaster management plan;

e) Determination of responsibilities of agencies and organizations for implementing, inspecting and supervising the implementation of the disaster management plan nationwide.

7. Responsibilities for formulating disaster management plans are provided for as follows:

a) Communal-level People’s Committees shall formulate and approve communal-level disaster management plans and report them to provincial-level People’s Committees for consolidation and direction. Provincial-level People’s Committees shall formulate and approve provincial-level disaster management plans and report them to the Ministry of Agriculture and Environment and Ministry of National Defense.

b) Ministries, ministerial agencies, and Governmental agencies shall, within the bounds of their functions and powers, formulate their own disaster management plans and report such plans to the Ministry of Agriculture and Environment and the Ministry of National Defense;

c) The Ministry of Agriculture and Environment shall preside over and cooperate with the Ministry of National Defense other Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and localities in, formulating a national disaster management plan and submit it to the Prime Minister for approval; provide guidelines on formulation of national disaster management plans at all levels in localities.

Article 16. Incorporating disaster management contents into sectoral and socio-economic development plans and planning schemes

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Based on the results of disaster risk assessment and zoning, the contents to be incorporated include:

a) Identifying measures to prevent and minimize the impacts of disasters on the socio-economic development process;

b) Identifying and implementing measures to minimize adverse environmental impacts and factors that increase disaster risks;

c) Identifying measures for developing infrastructure systems in combination with disaster management objectives;

d) Identifying resources for implementing measures for integrating disaster management contents.

3. Responsibilities for incorporating disaster management contents into sectoral and socio-economic development planning schemes and plans are prescribed as follows:

a) People’s Committees at all levels shall incorporate disaster management contents into local socio-economic development planning schemes and plans;

b) Ministries and ministerial agencies shall incorporate disaster management contents into sectoral development planning schemes and plans;

c) The Ministry of Finance shall advise and assist the Government in incorporating disaster management contents into national socio-economic development plans and planning schemes;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 17. Identifying, assessing and zoning disaster risks; monitoring and supervising disasters

1. Activities of identifying, assessing and zoning disaster risks; monitoring and supervising disasters include:

a) Monitoring, collecting, updating, supervising, consolidating and processing information from monitoring systems; developing disaster databases;

b) Assessing disaster risks, zoning disaster risks; making disaster warning maps;

c) Providing sufficient and timely disaster information to the National Civil Defense Steering Committee, Ministries, ministerial agencies and local authorities to serve the direction and implementation of disaster management activities.

2. The Ministry of Agriculture and Environment and Vietnam Academy of Science and Technology shall, within the bounds of their assigned functions and duties, implement the provisions of clause 1 of this Article.

Article 18. Disaster risk levels

1. Disaster risks are classified into different levels. Disaster risk levels serve as the basis for disaster warning, direction, command, response and recovery.

2. Criteria for classification of disaster risk levels include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The scope of impact;

c) The potential to cause loss of life or damage to property, infrastructure works and environment.

3. The Prime Minister shall elaborate on disaster risk levels.

Article 18a. Satisfaction of disaster management requirements during management, operation and use of works

1. Organizations and individuals managing, operating and using mineral mining areas and areas intended for mining of other natural resources; urban areas; tourist attractions, tourism areas; industrial parks; rural settlements; disaster management works, traffic works, electric power works and other technical infrastructural constructions shall satisfy the disaster management requirements specified in the technical regulations and regulations promulgated by competent authorities.

2. Households and individuals using works and residential houses under their ownership shall fulfill the criteria for satisfaction of the disaster management requirements, which are promulgated by the provincial-level People's Committee.

3. The Minister of Agriculture and Environment shall promulgate general provisions on satisfaction of the disaster management requirements set out in clause 1 of this Article.

4. Ministers, heads of ministerial agencies and People’s Committees at all levels shall, within the bounds of their duties and powers, promulgate specific provisions on satisfaction of the disaster management requirements specified in clause 1 of this Article and organize implementation thereof.

5. People’s Committees at all levels shall inspect the fulfillment by households and individuals of the criteria for satisfaction of the disaster management requirements specified in clause 2 of this Article.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 19. Satisfaction of disaster management requirements during construction or renovation of urban areas; tourist attractions, tourism areas; industrial parks; rural settlements; disaster management works, traffic works, electric power works and other technical infrastructure works

1. Upon setting up and executing projects on construction or renovation of urban areas; tourist attractions, tourism areas; industrial parks; rural settlements; disaster management works, traffic works, electric power works and other technical infrastructure works, investors shall satisfy the disaster management requirements, including:

a) Minimizing or not increasing disaster risks and ensuring stability of works during disasters;

b) Complying with regulations of law on environmental protection, law on construction and law on planning.

2. Before approving projects and deciding to make investment, investment decision makers shall appraise contents of satisfaction of the disaster management requirements specified in the dossier on projects on construction or renovation of urban areas; tourist attractions, tourism areas; industrial parks; rural settlements; disaster management works, traffic works, electric power works and other technical infrastructure works.

3. Households and individuals are encouraged to construct or upgrade works and residential houses applying standards that contain regulations on satisfaction of the disaster management requirements.

4. Standards and technical regulations on construction of works shall contain provisions on satisfaction of the disaster management requirements.

Article 20. Construction and protection of disaster management works and combined works serving disaster management

1. The construction of disaster management works must comply with planning schemes and plans approved by competent authorities, national standards and technical regulations; advanced and modern technologies shall be employed, especially in the construction, upgrading and expansion of networks of meteorological, hydrological, marine and seismic observation stations, and stations transceiving early warnings on rain, storms, floods, earthquakes and tsunamis.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Responsibilities for constructing and protection disaster management works is provided for as follows:

a) The Government shall assign and decentralize investment in the construction of disaster management works to ensure effectiveness and uniformity; the Prime Minister shall approve national planning schemes, plans, programs and projects for the development of disaster management infrastructure systems; allocate sufficient resources for the implementation of programs, schemes and projects;

b) Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and provincial People’s Committees shall approve and organize the implementation of planning schemes and plans for investment in construction of disaster management works as assign and decentralized by the Government; manage the investment in construction of disaster management works within their power;

c) Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and provincial People’s Committees shall organize the management, protection, maintenance, servicing and operation of disaster management works under their management to ensure safety and effectiveness;

d) Organizations and individuals shall participate in the protection of disaster management works.

Article 21. Provision and communication of information and education about disaster management

1. Provision and communication of information and education about disaster management aim to provide knowledge about types of disasters, impacts of disasters, disaster management measures, responsibilities of organizations and individuals for disaster management activities, and relevant laws.

2. Provision and communication of information and education about disaster management shall be carried out using methods appropriate to each type of subject, including the following main methods:

a) Publishing information on websites of Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and local authorities, and via mass media;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Organizing exhibitions, seminars, training courses and drills on disaster management;

d) Incorporating knowledge about disaster management into programs intended for education levels and training levels; 

dd) Holding forums on disaster management to provide advice on policies and laws, share information on and experience in disaster management;

e) Providing training in disaster management.

3. Responsivity for provision and communication of information and education about disaster management is prescribed as follows:

a) Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and People's Committees at all levels shall, within the bounds of their assigned functions, duties and powers, build, manage and operate broadcasting, television and communication system and other information transmission systems for the collection and transmission of disaster forecasts and warnings, meeting the needs of organizations, individuals and communities for access to disaster forecasts and warnings; organize provision and communication of information and education about disaster management;

b) The Ministry of Culture, Sports and Tourism shall direct and instruct mass media agencies to provide and communicate information about disaster management;

c) The Ministry of Education and Training shall direct and provide guidelines for incorporating knowledge about disaster management into programs intended for education levels; 

d) The Ministry of Agriculture and Environment shall provide guidance on and organize implementation of public awareness-raising and community-based disaster risk management programs and schemes;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 22. Disaster response plans

1. A disaster response plan shall be formulated based on the following grounds:

a) Types of disasters and level of risk of disasters that are likely to occur in localities and fields under management;

b) Disaster response capacity of organizations and individuals;

c) Capability for cooperation among and provision of support by forces and authorities at all levels.

2. A disaster response plan shall primarily consist of:

a) Protection of disaster management works and key works;

b) Evacuation and protection of people, property and protection of production activities;

c) Assurance of security, public order, transportation, and communications;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Human resources for disaster response;

e) Stockpile of supplies, vehicles, equipment, and necessities.

3. Disaster response plans shall be formulated by local authorities, Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies, and other agencies and organizations; shall be reviewed, revised, and supplemented annually.

4. Responsibility for providing guidance on, formulating and approving disaster management plans is provided for as follows:

a) The National Civil Defense Steering Committee shall provide guidance on the formulation of disaster response plans corresponding to each disaster risk level;

b) Heads of agencies and organizations shall organize the preparation and approval of their own disaster response plans and send them to relevant local People's Committees within the area and to superior authorities for cooperation in directing the implementation;

c) Ministers, heads of ministerial agencies and Governmental agencies shall organize the preparation and approval of their own disaster response plans and send them to relevant provincial People's Committees and National Civil Defense Steering Committee for cooperation in directing the implementation;

d) Chairpersons of People’s Committees at all levels shall organize the preparation and approval of their own disaster response plans appropriate to the disaster characteristics of localities and submit such plans to immediately superior People's Committees for cooperation in directing the implementation. Provincial-level People's Committees shall submit their disaster response plans to the National Civil Defense Steering Committee for monitoring and cooperation in directing the implementation.

Article 23. Preparing human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities in service of disaster management activities

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Organizations, households and individuals shall proactively make preparations in terms of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities for disaster management activities in accordance with the guidance of the National Civil Defense Steering Committee.

3. Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and People's Committees at all levels shall organize the implementation of disaster management plans; proactively make preparations in terms of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities in conformity with approved disaster response plans; organize training and drills according to disaster management plans within their respective areas.

4. The National Civil Defense Steering Committee shall preside over and cooperate with ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and provincial-level People's Committees in organizing the training of search and rescue forces nationwide to participate in disaster response activities.

Section 2. DISASTER RESPONSE

Article 24. Disaster forecasting and warning, and transmission of information on disasters

1. Disaster forecasts and warnings must convey information in a timely and reliable manner in Vietnamese language, satisfy demands of multiple subjects, pay special attention to vulnerable subjects and where necessary, convey information in ethnic minority languages.

2. Disaster forecast and warning bulletins shall primarily include:

a) Disaster forecast and warning bulletins relating to meteorology, hydrography and oceanography, which must convey information on the type of disaster, magnitude and level of disaster risk, current location and coordinates, and forecasting of disaster developments;

b) Bulletins on earthquakes and tsunami forecasts and warnings, which must convey information on the location, magnitude and risk level of the disaster and degree of impact of the earthquake; forecasts of the starting location, possibility, height, level of risk and direction of, and areas affected by, tsunamis;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Responsibilities for disaster forecasting and warning are provided for as follows:

a) The Ministry of Agriculture and Environment shall issue disaster forecast and warning bulletins relating to meteorology, hydrography and oceanography. The Ministry of Agriculture and Environment shall issue wildfire forecast and warning bulletins;

b) The Vietnam Academy of Science and Technology shall issue earthquake bulletins on earthquakes and tsunami forecasts and warnings;

c) The agencies specified in points a and b of this clause shall transmit disaster forecast and warning bulletins to the Vietnam Television, the Voice of Vietnam, and other agencies as prescribed and shall be responsible for the contents of such disaster forecasts and warnings.

4. The Vietnam Television and the Voice of Vietnam shall broadcast and transmit disaster forecast and warning bulletins issued by the agencies specified in points a and b clause 3 of this Article.

5. The Prime Minister shall promulgate regulations on disaster forecasting, warning and information transmission.

Article 25. Direction and command of disaster response

1. Based on disaster forecast and warning bulletins, the Prime Minister, National Civil Defense Steering Committee; civil defense steering committees of Ministries and ministerial agencies; provincial-level civil defense steering committees shall issue a document directing and commanding the implementation of disaster response measures in accordance with the Government’s regulations.

2. Forms, contents and methods of transmitting and disseminating a document on disaster response direction and command are prescribed as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Contents of the document on disaster response direction and command must be consistent with those of a disaster forecast and warning bulletin and actual disaster developments in the locality; basic measures for disaster response and search and rescue;

c) Methods of transmitting and disseminating the document on disaster response direction and command include fax, short message service (SMS) system, television and radio broadcasting system, early warning system, direct communication and other methods.

3. Responsibility for transmitting and disseminating documents on disaster response direction and command are prescribed as follows:

a) Authorities competent to issue documents on disaster response direction and command shall send such documents to television stations, radio stations at the same level, and relevant agencies in accordance with law;

b) People's Committees and civil defense steering committees of communes shall disseminate contents of documents on disaster response direction and command to communities and people;

c) Central and local television and radio stations shall broadcast news on disaster response direction and command.

4. The Government shall promulgate specific regulations on responsibilities for news broadcasting; news broadcasting frequency and duration; communication networks and equipment serving disaster response direction and command; state of disaster-related emergency; types of urgent projects on disaster management and recovery to be executed to immediately remedy consequences of force majeure events.

Article 26. Basic disaster response measures

Depending on the type of disaster and the disaster risk level, the National Civil Defense Steering Committee; civil defense steering committees of Ministries and ministerial agencies; local civil defense steering committees shall decide to select one or more appropriate measures:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Evacuating people from risky areas and unsafe places; focusing on implementing measures to ensure safety of people, especially vulnerable subjects in emergencies caused by disasters;

b) Relocating vessels, boats, aquaculture facilities at sea, in coastal areas or on rivers from risky areas; tallying and guiding vessels to anchor safely or applying other safety measures;

c) Implementing measures to ensure the safety of houses, offices, hospitals, schools, warehouses, works and economic, security and defense facilities;

d) Proactively implementing measures to protect production activities;

dd) Inspecting, detecting and handling incidents involving disaster management works and key socio-economic, security and defense works;

e) Supervising, guiding and proactively restricting or prohibiting persons and vehicles from entry into risky areas on rivers and at sea, deeply flooded areas and routes, areas at risk of landslides caused by rain or water flows and other risky areas;

g) Ensuring transportation and communications meet the requirements for disaster management command and direction;

h) Conducting search and rescue operations, providing medical treatment to the injured, and supplying food, medicines, drinking water and other necessities in isolated areas, severely flooded areas and evacuation sites;

i) Maintaining security, public order and social safety, protecting property of the State and the People in disaster-hit areas;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Basic measures for response to drought and seawater intrusion are provided as follows:

a) Adjusting crop and livestock structures and cropping seasons in a manner that is suitable for forecasts, warnings and developments of drought and seawater intrusion;

b) Rationally operating reservoirs and water supply works, prioritizing supply of water for domestic use; economically using water and preventing water loss;

c) Prioritizing supply of electricity, supplies and fuels necessary for pumping stations;

d) Organizing monitoring of level of salinity and appropriately regulating the opening and closure of sluices for water collection and salinity prevention in specific circumstances.

3. Basic measures for response to frost and cold under 13 centigrade are provided as follows:

a) Tailoring cold preparedness measures for people, especially vulnerable subjects;

b) Tailoring cold preparedness measures and providing sufficient feed for livestock;

c) Implementing appropriate measures to protect crops.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Proactively taking shelter and ensuring safety in the event of earthquakes;

b) Proactively evacuating people from tsunami-affected areas;

c) Organizing search and rescue and treatment of injured people;

d) Arranging temporary accommodation and providing food, medicines, drinking water and other necessities for affected people;

dd) Maintaining security, public order and social safety, protecting property of the State and the People in disaster-hit areas;

5. Regarding extreme heat, tornadoes, lightning, hails, strong breezes at seas, frost, wildfire and other types of disasters, according to the forecasts, warnings, nature and actual developments of each type of disaster, proactively take appropriate response measures.

Article 27. Responsibilities for disaster response

1. Based on forecasts, warnings and disaster risk levels for each type of disaster, the National Civil Defense Steering Committee shall monitor the disaster situation; direct ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and local authorities to implement disaster response measures and coordinate cross-sectoral disaster response activities in two or more provinces; support local authorities in cases falling beyond their capacity; report to the Prime Minister on disaster situation and disaster response activities.

2. Based on forecasts, warnings and disaster risk levels for each type of disaster, the National Civil Defense Steering Committee shall direct and organize search and rescue operations; mobilize and coordinate forces and vehicles of ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and local authorities to participate in search and rescue during disaster response in accordance with the law on search and rescue.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Decide appropriate disaster response plans and measures;

b) Organize the implementation of disaster response measures to ensure the safety of works and activities in the fields under their management. Report cases which fall beyond their capacity to the National Civil Defense Steering Committee for cooperation in disaster response;

c) Cooperate with provincial-level People's Committees and provincial-level Civil Defense Steering Committees in disaster response activities within provinces.

4. Based on disaster forecasts, warnings, risk levels and developments, and direction and command of the National Civil Defense Steering Committee, local People's Committees and local Civil Defense Steering Committees shall, within the bounds of their functions and powers:

a) Decide appropriate response plans and measures and organize their implementation suitable for disaster developments and actual local conditions;

b) Direct competent agencies to conduct aggregation and promptly report disaster-induced loss and damage, and take responsibility for the accuracy of such information and data on the damage;

c) Report cases which fall beyond their capacity to superior People’s Committees or superior agencies in charge of disaster management direction and command.

5. People’s armed forces shall respond to disasters as mobilized by competent agencies.

6. Organizations, households and individuals shall proactively implement disaster response measures and participate in disaster response as mobilized by competent authorities.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. The Government shall prescribe the assignment and decentralization of responsibilities, and mechanisms for cooperation in disaster response corresponding to disaster risk levels.

Article 28. Power to mobilize resources for disaster response activities

1. Chairpersons of communal-level People's Committees shall, within their power, mobilize forces, supplies, vehicles, equipment and necessities prepared under the four on-the-spot motto to respond to disasters and provide emergency relief in their communes. Cases which fall beyond their capacity and power shall be promptly reported to superior People’s Committees.

2. Chairpersons of provincial-level People's Committees have the power to mobilize forces, supplies, vehicles, equipment and necessities of organizations, households and individuals in their provinces to respond to disasters and provide emergency relief. Cases which fall beyond their capacity and power shall be promptly reported to the National Civil Defense Steering Committee.

3. Heads of civil defense steering committees of Ministries and ministerial agencies have the power to mobilize forces, supplies, vehicles, equipment and necessities of organizations and individuals in areas under their management to respond to disasters and provide emergency relief.

4. The Head of the National Civil Defense Steering Committee shall decide the mobilization of resources or report and propose resources and disaster response measures to the Prime Minister for his/her decision if cases are beyond the response capacity of local authorities, Ministries or ministerial agencies.

5. Persons competent to decide the mobilization of forces, supplies, vehicles, equipment and necessities decide the reimbursement or compensation for loss incurred by mobilized organizations, households and individuals in accordance with this Law and relevant laws, and shall be accountable for their decisions.

Article 29. Search and rescue activities in disaster response

1. Search and rescue activities for people in danger in disaster-hit areas include:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Promptly giving emergency relief to people in danger; searching for missing people and vehicles;

c) Establishing temporary emergency medical stations or requisitioning offices, schools and medical establishments in disaster-hit areas for a fixed period of time to receive and treat victims;

d) Mobilizing personnel, supplies, equipment and medicines for rescue and medical treatment of victims;

dd) Setting up temporary shelters for displaced people;

e) Providing food, food products, medicines, clean water and necessities;

g) Taking other necessary measures suitable for the characteristics of disasters in localities and regions.

2. Responsibilities for search and rescue are prescribed as follows:

a) Organizations and individuals shall proactively conduct search and rescue activities and participate in such activities when mobilized by competent authorities;

b) People's Committees and civil defense steering committees at all levels shall proactively organize search and rescue activities within their localities; in the cases beyond their capacity, they shall report them to and request support from provincial-level People's Committees, provincial-level civil defense steering committees or the National Civil Defense Steering Committee;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) Full-time and part-time search and rescue units of certain ministries shall organize and carry out search and rescue activities under the direction of the National Civil Defense Steering Committee;

dd) The National Civil Defense Steering Committee shall direct and organize the cooperation in search and rescue nationwide; preside over and cooperate with international and regional supporting forces in search and rescue.

Section 3. DISASTER RECOVERY

Article 30. Disaster recovery activities

1. Disaster recovery activities include:

a) Continuing to carry out search and rescue operations, provide relief food, food products, medicines, other necessities, and psychological support in order to stabilize people's lives;

b) Producing statistics on and assessing disaster-induced damage and relief and support needs, and proposing recovery measures;

c) Providing support in the form of plant varieties, animal breeds, materials, equipment, and other essential fuels to restore production;

d) Supplying essential materials and commodities and implementing price management and market stabilization measures;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



e) Repairing, restoring, and upgrading disaster management works, transport, communication, irrigation and electricity works, schools, medical establishments and public infrastructure works; conducting propaganda campaigns to raise community awareness of and capacity for disaster management.

2. Responsibilities for conducting disaster recovery activities are provided for as follows:

a) Organizations, households and individuals shall proactively carry out disaster recovery with regard to infrastructure and property under their management; participate in disaster recovery activities when mobilized by competent authorities;

b) People's Committees and civil defense steering committees at all levels shall organize disaster recovery activities in their localities as prescribed in clause 1 of this Article;

c) Ministries, ministerial agencies and Governmental agencies shall proactively carry out disaster recovery within their scope of management and participate in disaster recovery upon request;

d) The National Civil Defense Steering Committee shall consolidate reports on damage assessment and relief and support needs from local authorities, ministries, ministerial agencies, and Governmental agencies; direct disaster recovery and report to the Government on measures and resources for supporting disaster recovery.

3. The Government shall elaborate this Article.

Article 31. Responsibilities for producing statistics on and assessing disaster-induced damage

1. Organizations and individuals shall accurately report disaster-induced damage within the scope of their management to commune-level civil defense steering committees and supervisory authority.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. People's Committees at all levels shall consolidate, produce statistics on and assess disaster-induced damage; verify damage assessment results, and report them to superior People's Committees. Provincial-level People's Committees shall report them to the Prime Minister; and to the Ministry of Agriculture and Environment for consolidation.

4. Civil defense steering committees of Ministries and ministerial agencies shall consolidate disaster-induced damage and report it to the National Civil Defense Steering Committee to service the direction.

5. Ministries, ministerial agencies and Governmental agencies shall consolidate, produce statistics on and assess disaster-induced damage and report it to the Prime Minister; and to the Ministry of Agriculture and Environment for consolidation.

6. The Ministry of Agriculture and Environment shall consolidate and assess disaster-induced damage nationwide and report it to the Prime Minister, and disclose data on disaster-induced damage.

7. The Ministry of Agriculture and Environment shall preside over and cooperate with the Ministry of Finance in consolidating and assessing disaster-induced damage.

Article 32. Forms, beneficiaries of and resources for relief and support

1. Emergency relief is provided for as follows:

a) Emergency relief shall be provided during and immediately after a disaster, focusing on the provision of food, food products, medicines and other necessities to stabilize people's lives, maintenance of environmental hygiene and disease prevention and control in disaster-affected areas;

b) Beneficiaries of emergency relief include injured people, households with deceased members; households and individuals who have lost their homes, have no food, drinking water and other necessities, thereby facing risks to life and health, with particular attention given to vulnerable subjects;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Medium-term support is prescribed as follows:

a) Medium-term support shall be provided following emergency relief, focusing on the provision of support in the form of plant varieties, animal breeds, materials, equipment, and other essential fuels for production restoration; supplying essential materials and commodities and implementing price management and market stabilization measures; repairing and restoring offices, disaster management works, transport, communication, irrigation, domestic water supply and electricity works, schools, medical establishments and other essential infrastructure works damaged by disasters;

b) Beneficiaries of medium-term support include organizations and individuals engaged in agricultural production that suffer damage; state agencies, armed forces units; public service providers and enterprises owning the works specified in point a of this clause;

c) Resources for medium-term support include the State’s reserved food and goods; state budget; disaster management funds and voluntary contributions of organizations and individuals; international support.

3. Long-term support is prescribed as follows:

a) Long-term support shall be provided following medium-term support, focusing on repairing, restoring and upgrading disaster management works, transport works and public infrastructure works, conducting propaganda campaigns to raise community awareness of and capacity for disaster management;

b) Beneficiaries of long-term support include organizations, individuals, public service providers and public utility enterprises suffering disaster-induced damage;

c) Resources for long-term support include state budget and voluntary contributions of organizations and individuals; international support.

d) People's Committees at all levels shall rely on the current damage and disaster severity in their localities to develop plans and allocate resources for implementation.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Principles for mobilization, contribution and allocation of relief and support resources are provided for as follows:

a) The mobilization, contribution, and allocation of relief and support resources shall comply with the law, be based on the extent of damage and involve information sharing and cooperation with local authorities where beneficiaries are located to ensure fairness, transparency and avoidance of duplication;

b) The relief shall focus on meeting the essential needs of people affected by disasters, particularly vulnerable subjects.

2. The power to mobilize, contribute and allocate resources for relief and support:

a) The Prime Minister, Ministers, heads of ministerial agencies, Chairpersons of People’s Committees at all levels have the power to mobilize the State’s resources within their power to serve the emergency relief and medium-term assistance in accordance with regulations of law on state budget and law on national reserves. The long-term support shall be provided according to the annual plan;

b) The Ministry of Agriculture and Environment and provincial-level People’s Committees shall use the disaster management funds to serve disaster management activities. Priority should be given to emergency relief and medium-term support in accordance with clause 3 Article 10 of this Law;

c) The Central Committee of Vietnam Fatherland Front, committees of Vietnamese Fatherland Front of provinces, Vietnam Red Cross Society, People’s Committees of provinces and People’s Committees of communes shall encourage contribution, receive and allocate resources for emergency relief and medium-term support.

Ministries, ministerial agencies and Governmental agencies shall encourage contribution and receive and allocate resources for emergency relief and medium-term support and transfer them to the Central Committee of Vietnam Fatherland Front, Vietnam Red Cross Society and People’s Committees of provinces for allocation purposes.

Committees of Vietnam Fatherland Front and Vietnam Red Cross Society in localities shall cooperate with People’s Committees at the same level in receiving and allocating resources for emergency relief and medium-term support purposes;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) The National Civil Defense Steering Committee shall call for and receive international emergency support in the event of disaster-related emergency and transfer it to provincial-level People's Committees for allocation purposes.

3. The Government shall stipulate the mobilization, contribution and allocation of relief and support resources for disaster recovery.

Chapter III

RIGHTS AND OBLIGATIONS OF AGENCIES, ORGANIZATIONS, HOUSEHOLDS AND INDIVIDUALS FOR DISASTER MANAGEMENT

Article 34. Rights and obligations of households and individuals

1. Households and individuals have the rights to:

a) Access information on disaster management issued by competent authorities;

b) Participate in formulation of local disaster management plans and disaster response plans;

c) Participate in programs for provision and communication of information and education about disaster management; improve knowledge about disaster management suitable for practical conditions;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Persons participating in disaster response who are injured or deceased may be entitled to the same benefits and policies as those for war invalids and martyrs in accordance with the law on preferential treatment of persons with meritorious services to the revolution;

e) Receive relief and support when suffering disaster-induced damage in accordance with law.

2. Households and individuals have the following obligations:

a) Proactively construct, upgrade and protect works and houses under their ownership to ensure safety during disasters or relocate to safe areas; do not construct houses or reside in areas that may be seriously affected by disasters;

b) Implement local disaster management plans and disaster response plans;

c) Organize production and business activities in a manner appropriate to characteristics of disasters in their localities;

d) Proactively procure equipment within their capacity to receive disaster forecasts and warnings, and directions and instructions for disaster management;

dd) Prepare materials and equipment within their capacity for disaster management;

e) Proactively stockpile food, drinking water, water treatment supplies and equipment, curative medicines and medicines for disease prevention suitable to local disaster characteristics within their capacity to sustain their livelihoods when disasters occur;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



h) Proactively respond to and recover from disasters to ensure safety of themselves and their families; participate in supporting the community in disaster management;

i) Comply with instructions, directions and commands issued by competent authorities and persons regarding the evacuation of people and vehicles from, or prohibition of entry into, dangerous areas;

k) Comply with decisions on the mobilization of human resources, materials, vehicles, equipment and necessities in service of emergency response issued by competent authorities;

l) Proactively maintain environmental health, prevent and control diseases in their living and working areas affected by disasters;

m) Notify competent authorities or persons when detecting incidents or acts that threaten the safety of disaster management works, and participate in handling such incidents within their capacity;

n) Provide information on disaster developments and disaster-induced damage to competent authorities to their knowledge;

o) Individuals are obliged to make contributions to disaster management funds in accordance with the Government’s regulations; proactively assist persons suffering disaster-induced damage in their localities.

Article 35. Rights and obligations of economic organizations

1. Economic organizations have the rights to:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Participate in investment in projects on construction of multi-purpose disaster management works in accordance with the planning schemes and plans of Ministries, ministerial agencies and Governmental agencies and local authorities, and enjoy the benefits arising from such investment in accordance with law.

2. Economic organizations are obliged to:

a) Proactively construct, protect and maintain their works and facilities, and organize production and business activities in a manner that ensures safety in the event of disasters;

b) Develop and organize the implementation of disaster management plans;

c) When investing in construction of works, apply national technical regulations on safety against disaster risks; comply with regulations on the protection of disaster management works;

d) Participate in programs for provision and communication of information and education about disaster management; improve their knowledge of disaster management; participate in training and drills in disaster management skills in accordance with the plans of ministries, ministerial agencies, Governmental agencies and local authorities;

dd) Comply with instructions, directions and commands issued by competent authorities and persons in implementing disaster management measures;

e) Comply with orders for emergency mobilization of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities in service of emergency response activities;

g) Proactively maintain environmental health, prevent and control diseases within the scope of their management when affected by disasters;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



i) Make contributions to disaster management funds in accordance with the Government’s regulations.

Article 36. Rights and obligations of agencies, socio-political organizations, socio-political-professional organizations, social organizations and socio-professional organizations

1. Upon disaster management, agencies, socio-political organizations, socio-political-professional organizations, social organizations and socio-professional organizations have the rights to:

a) Receive remunerations for participation, have their supplies, vehicles and equipment involved in participation in urgent response to disasters in the community returned or compensated under mobilization orders issued by competent authorities and persons;

b) Access information on disaster management issued by competent authorities;

c) Participate in formulation of local disaster management plans and disaster response plans;

d) Participate in programs for provision and communication of information and education about disaster management; improve knowledge about disaster management suitable for practical conditions;

dd) Receive relief and support when suffering disaster-induced damage in accordance with this Law.

2. Upon disaster management, agencies, socio-political organizations, socio-political-professional organizations, social organizations and socio-professional organizations are obliged to:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Develop and organize the implementation of disaster management plans;

c) Comply with decisions on emergency mobilization of human resources, materials, vehicles, equipment and necessities of competent persons in service of disaster response;

d) Proactively maintain environmental health, prevent and control diseases within the scope of their management when affected by disasters.

Article 37. Rights and obligations of foreign organizations and international organizations operating in Vietnam

1. When participating in disaster management activities, foreign organizations and international organizations operating in Vietnam have the rights prescribed in clause 1 Article 36 of this Law.

2. When participating in disaster management activities, foreign organizations and international organizations operating in Vietnam are obliged to:

a) Fulfill the obligations prescribed in clause 2 Article 36 of this Law;

b) Operate in accordance with the contents registered in compliance with regulations;

c) Comply with the laws of Vietnam.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



SCIENCE AND TECHNOLOGY, INTERNATIONAL COOPERATION IN DISASTER MANAGEMENT

Article 38. Principles for international cooperation in disaster management

1. Respect for independence, sovereignty, territorial integrity, non-interference in each other's internal affairs and protection of national interests.

2. Compliance with treaties of which Vietnam is a member.

3. Proactively proposing initiatives on international cooperation in disaster management.

4. Prioritizing international cooperation in training, scientific research, technology transfer; sharing of experience and cooperation in search and rescue; cooperation in investment, construction and upgrading of disaster management works.

Article 39. Details of international cooperation in disaster management

1. International cooperation in information exchange, disaster forecasting and warning.

2. International cooperation in search and rescue.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. International cooperation in training, scientific research and technology transfer in disaster management.

Article 39a. Science and technology for disaster management

1. Research and apply high, advanced and new technologies to improve the capacity for forecasting, warning, monitoring and broadcasting news on types of disasters, effects of climate change and activities that may increase disaster risk.

2. Conduct scientific research into and apply high, advanced and new technologies, and new materials to improve effectiveness in investment in, management and use of works for disaster management and adaptation to climate change; ensure safety of dikes, works for landslide and subsidence prevention and control, reservoirs, dams and other disaster management works.

Article 40. Conduits and competent authorities for international cooperation in disaster management

1. The Ministry of Agriculture and Environment shall act as a conduit, be accountable to the Government for international cooperation in disaster management and assume the following responsibilities:

a) Receive disaster forecasts, warnings, and disaster-related information from domestic and international agencies and organizations in accordance with regulations;

b) Provide disaster-related information to international agencies and organizations in accordance with regulations;

c) Organize the conduct of activities of international cooperation in disaster management within its scope of management;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Propose that the Prime Minister call for international support in disaster management.

2. The Ministry of Foreign Affairs has the following responsibilities:

a) Call for international support in disaster response and recovery in Vietnam, except for the case specified in point dd clause 2 Article 33 of this Law; act as a Vietnamese conduit to support other countries under the Prime Minister’s direction;

b) Preside over contacting countries and territories to cooperate in providing support for Vietnamese persons and vehicles affected by disasters at sea or in land border areas and support for persons and vehicles of other countries upon request.

3. The Ministry of Agriculture and Environment shall preside over international cooperation in the fields of monitoring, assessment, forecasting, warning and determination of disaster risk levels related to meteorology, hydrography and oceanography in accordance with treaties of which Vietnam is a member.

4. The Vietnam Academy of Science and Technology shall preside over international cooperation in monitoring, assessment, determination of levels of disaster risks, earthquake information dissemination, and tsunami forecasting and warning.

5. The National Civil Defense Steering Committee shall preside over and cooperate with ministries, ministerial agencies and Governmental agencies concerned in international cooperation in search and rescue.

Article 41. Rights and obligations of foreign organizations and individuals and international organizations participating in disaster response and recovery in Vietnam

1. Foreign organizations and individuals and international organizations participating in disaster response and recovery in Vietnam have the rights to:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Be given priority in exit and entry procedures; procedures for import and export of vehicles, equipment and goods in service of search and rescue, disaster relief and assistance;

c) Be given priority in stay procedures.

2. Foreign organizations and individuals and international organizations participating in disaster response and recovery in Vietnam are obliged to:

a) Register their activities with competent authorities of Vietnam;

b) Conduct activities for registered purposes and comply with the laws of Vietnam.

3. The Government shall elaborate this Article.

Chapter V

RESPONSIBILITY FOR STATE MANAGEMENT OF DISASTER MANAGEMENT

Article 42. Responsibilities of the Government, Ministries and ministerial agencies for state management

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The Ministry of Agriculture and Environment shall be accountable to the Government for state management of disaster management and assume the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and organize the implementation of national strategies, plans, policies and legislative documents on disaster management;

b) Develop national standards and national technical regulations on protection of disaster management works under its management against disasters;

c) Organize formulation of agricultural production plans and planning schemes to minimize disaster-related damage and ensure sustainable development;

d) Manage the investment, construction, repair and protection of disaster management works as assigned by the Government, including dikes, reservoirs, anti- flood, anti-inundation and anti-erosion works; storm shelters for vessels and other works serving disaster management;

dd) Organize production of statistics, processing of information and development of database in service of state management of disaster management;

e) Organize research and application of scientific and technological advances in disaster management, provide professional and refresher training for disaster management personnel;

g) Organize provision and communication of information and education to improve communities’ knowledge about disaster management;

h) Act as a conduit for international cooperation in disaster management, propose the conclusion of, or accession to, treaties on disaster management;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



k) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on disaster forecasting and warning within its power;

l) Formulate planning schemes and plans and direct the meteorological, hydrological and oceanographic forecasting;

m) Organize monitoring, collection and processing of information, determine and assess disaster risks, carry out disaster risk zoning, monitor and supervise disasters; provide timely and accurate forecasts, warnings and information about disasters in relation to meteorology, hydrology and oceanography to the National Civil Defense Steering Committee, Ministries, ministerial agencies, Governmental agencies, relevant local authorities, and mass media in accordance with regulations;

n) Organize scientific research, apply scientific and technological advances; promote international cooperation in disaster forecasting and warning; provide professional training for forecasting and warning personnel; propagate and disseminate knowledge, experience and laws concerning disaster forecasting and warning.

3. (repealed)

4. The Ministry of National Defense has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on cooperation in disaster management between agencies and units affiliated to the Ministry of National Defense and other agencies and organizations;

b) Formulate planning schemes and plans and direct the performance its disaster management and recovery tasks;

c) Formulate plans for the deployment of forces and vehicles ready to participate in dike protection, dam protection, flood diversion, flood retardation, and search and rescue;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Conduct examinations and inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power.

5. The Ministry of Public Security has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on assurance of security and social order and safety in disaster management;

b) Formulate plans and measures to ensure security, public order and social safety in the event of disasters, cooperate with the Ministry of National Defense, Ministries, ministerial agencies and local authorities in search and rescue and disaster recovery;

c) Conduct examinations and inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power;

6. The Ministry of Science and Technology has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on provision of information on disaster management;

b) Formulate planning schemes, plans and direct the assurance of safety and continuity of common communication networks;

c) Prepare backup specialized communication equipment for disaster management for use in all disaster situations;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6a. The Ministry of Culture, Sports and Tourism has the following responsibilities:

a) Direct mass media agencies to provide and communicate information about disaster management;

b) Conduct examinations and inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power.

7. (repealed)

8. The Ministry of Industry and Trade has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on assurance of safety of hydropower reservoirs under its management upon disaster management;

b) Formulate disaster management plans; direct the implementation of measures to ensure the safety of mining areas, power sources and transmission lines and industrial facilities under its management;

c) Preside over and cooperate with provincial-level People's Committees in working out plans to prepare essential commodities for supply to the people, with priority given to remote, isolated and disaster-prone areas; cooperate with local authorities at all levels in effective on-site preparedness;

d) Conduct examinations, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on assurance of safety of construction works in accordance with the law on disaster management; preside over, cooperate with and instruct local authorities in implementing urban and rural planning schemes and ensuring construction works are protected against disasters;

b) Formulate and promulgate national technical regulations on safety of works appropriate to disasters;

c) Conduct inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power;

d) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on assurance of traffic safety during disaster management;

dd) Formulate plans and planning schemes, and direct the development of transport in accordance with disaster management strategies and plans;

e) Form forces, prepare vehicles and supplies for vehicle rescue, ensure transport safety in the event of disasters.

10. The Ministry of Finance has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on finance for disaster management and disaster risk insurance policies;

b) Consolidate and allocate estimated state budget for disaster management tasks in accordance with the Law on State Budget and this Law;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on incorporation of disaster management contents into socio-economic developments plans of the whole country, Ministries and local authorities;

dd) Provide capital for investment in disaster management works;

e) Incorporating disaster management contents into the national socio-economic development plan;

11. (repealed)

12. The Ministry of Education and Training has the following responsibilities:

a) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on integration of knowledge of disaster management into in curricula at all educational levels;

b) Direct the formulation of planning schemes in accordance with the law on urban and rural planning regarding schools and educational and training institutions in combination with disaster management suitable to regional and local disaster characteristics in order to ensure the safety of people and works;

c) Conduct examinations, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power.

13. The Ministry of Health has the following responsibilities:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Hold medicines and medical equipment in reserve and provide guidance to healthcare workers and communities on first-aid techniques and measures to maintain environmental health;

c) Direct emergency medical treatment of victims and prevention and control of diseases before, during, and after disasters;

d) Conduct examinations, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power;

dd) Promulgate within its power or submit to competent authorities for promulgation, and direct the implementation of legislative documents on social relief in disaster recovery;

e) Based on the extent of damage and relief needs, propose support policies for affected localities to promptly stabilize the lives of disaster-affected populations and submit such policies to the Prime Minister for decision.

14. The Ministry of Home Affairs has the following responsibilities:

a) Provide guidance on gender mainstreaming in disaster management activities;

b) Conduct inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power.

15. Ministries and ministerial agencies shall, within the bounds of their assigned functions and duties, formulate annual plans and organize the implementation of disaster management tasks under their management.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Provincial-level People's Committees have the following responsibilities:

a) Organize the dissemination, propagation and implementation of the law on disaster management;

b) Formulate, approve and organize the implementation of disaster management plans under their management;

c) Organize the incorporation of disaster management contents into local socio-economic development plans and planning schemes;

d) Manage the implementation of planning schemes in accordance with the law on urban and rural planning for urban areas, rural settlements and technical infrastructure works within their provinces;

dd) Organize the implementation of disaster response plans within their provinces; organize the preparation of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities and conduct drills in accordance with approved plans;

e) Examine and expedite the stockpiling of food, necessities, water treatment chemicals, curative medicines, medicines for disease prevention, vehicles, supplies and equipment in accordance with the “four-on-the-spot” motto in order to proactively respond to disasters;

g) Construct, repair, upgrade, manage and protect disaster management works in areas under their management;

h) Organize on-duty forces, command disaster response; consolidate, produce statistics on and assess disaster-induced damage;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



k) Organize the management and distribution of emergency relief money and goods provided by the State, organizations, and communities in order to stabilize livelihoods, restore production and recover from disasters in accordance with law;

l) Conduct inspections and inspections, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within their power;

2. Communal-level People's Committees have the following responsibilities:

a) Organize the dissemination, propagation and implementation of this Law and relevant regulations on disaster management;

b) Formulate, approve and organize the implementation of disaster management plans; incorporate disaster management contents into local socio-economic development plans and planning schemes;

c) Construct, repair, upgrade, manage and protect disaster management works within their communes;

d) Organize the implementation of disaster response plans within their communes; organize the preparation of human resources, supplies, vehicles, equipment and necessities and conduct drills in accordance with approved plans;

dd) Examine, expedite and organize the stockpiling of food, necessities, water treatment chemicals, curative medicines, medicines for disease prevention, vehicles, supplies and equipment in accordance with the “four-on-the-spot” motto in order to proactively respond to disasters;

e) Organize on-duty forces, command disaster preparedness, response and recovery; consolidate, produce statistics on and assess disaster-induced damage within their communes;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



h) Receive, manage and distribute emergency relief money and goods provided by the State, organizations, and communities in order to stabilize livelihoods, restore production and recover from disasters in accordance with law;

i) Manage the implementation of planning schemes in accordance with the law on urban and rural planning for urban areas, rural settlements and technical infrastructure works within their communes;

k) Conduct examinations, settle complaints and denunciations, handle violations of the law on disaster management within its power.

Article 44. (repealed)

Article 45. Handling of violations of law on disaster management

1. Any individual who violates the law on disaster prevention and control shall, depending on the nature and severity of the violation, incur a disciplinary or administrative penalty or criminal prosecution and shall pay compensation in accordance with law if causing damage.

2. Any organization which violates the law on disaster prevention and control shall, depending on the nature and severity of the violation, incur an administrative penalty and shall pay compensation in accordance with law if causing damage.

Chapter VI

IMPLEMENTATION CLAUSE

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. This Law comes into force from May 01, 2014.

2. The 1993 Ordinance on Flood and Storm Preparedness; the 2000 Ordinance Amending and Supplementing a Number of Articles of the Ordinance on Flood and Storm Preparedness shall cease to have effect from the effective date of this Law.

Article 47. Elaboration and guidelines for implementation

The Government shall elaborate and provide guidelines for implementation of Articles and clauses assigned in this Law.

 

 

CERTIFIED BY

CHAIRMAN




Le Quang Manh

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 85/VBHN-VPQH ngày 27/03/2026 hợp nhất Luật Phòng, chống thiên tai do Văn phòng Quốc hội ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

2.028

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.146