|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 41/VBHN-BNNMT
|
Hà Nội, ngày 13 tháng 8 năm 2025
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ
ĐIỀU CỦA LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC
Thông
tư số 03/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 05 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Thông
tư số 14/2025/TT-BNNMT ngày 19 tháng 06 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Môi trường quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
Căn
cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn
cứ Nghị định số 35/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Theo
đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước;
Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Tài nguyên nước.[1]
Chương I
QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông
tư này quy định chi tiết thi hành khoản 4 Điều 22, khoản 9 Điều 24, điểm b khoản
2 Điều 26, khoản 8 Điều 31, khoản 3 Điều 39 của Luật Tài nguyên nước về phân
vùng chức năng nguồn nước mặt; xác định, điều chỉnh dòng chảy tối thiểu; xác định
và tổ chức việc công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo vệ
nước dưới đất trong các hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật Tài
nguyên nước; lập, điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất; bổ sung nhân tạo nước
dưới đất.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Thông
tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá
nhân có hoạt động liên quan đến các nội dung quy định tại Điều 1
của Thông tư này trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chương II
PHÂN VÙNG CHỨC
NĂNG NGUỒN NƯỚC MẶT; XÁC ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC VIỆC CÔNG BỐ VÙNG BẢO HỘ VỆ SINH KHU VỰC
LẤY NƯỚC SINH HOẠT
Mục 1. PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG NGUỒN NƯỚC MẶT
Điều 3. Nguyên tắc phân vùng chức năng nguồn nước
1. Đảm
bảo tính hệ thống trong lưu vực sông, phù hợp với ranh giới hành chính cấp tỉnh.
2.
Phù hợp với hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước và nhu cầu khai thác,
sử dụng nước được xác định trong quy hoạch về tài nguyên nước, quy hoạch vùng,
quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có nội dung
khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
3. Việc
phân vùng chức năng nguồn nước phải được xem xét tổng thể về giá trị, lợi ích
mà nguồn nước mang lại, mức độ ưu tiên phải bảo vệ và thuận lợi trong việc thực
hiện các yêu cầu về bảo vệ nguồn nước.
4.
Hài hòa lợi ích trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn
nước giữa các khu vực, các địa phương, giữa thượng lưu và hạ lưu, giữa các đối
tượng khai thác, sử dụng nước; bảo đảm việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước
hiệu quả, duy trì sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh.
Điều 4. Trình tự thực hiện phân vùng chức năng nguồn nước
sông, suối, kênh, mương, rạch
Vùng
chức năng nguồn nước sông, suối, kênh, mương, rạch được xác định cho từng đoạn
sông, suối, kênh, mương, rạch và có một hoặc một số chức năng theo quy định tại
khoản 4 Điều này. Việc phân vùng chức năng nguồn nước sông, suối, kênh, mương,
rạch được thực hiện như sau:
1.
Thông tin, dữ liệu phục vụ phân vùng chức năng nguồn nước:
a) Hiện
trạng, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích: sinh hoạt;
sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng thủy sản; sản xuất công nghiệp; kinh doanh, dịch
vụ; du lịch; thủy điện; giao thông đường thủy và các hoạt động khác có liên
quan đến nguồn nước;
b) Hiện
trạng hệ sinh thái thủy sinh;
c) Khả
năng đáp ứng về số lượng, chất lượng của nguồn nước;
d)
Khu vực nguồn nước có các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, phát triển
du lịch; vai trò, tầm quan trọng của nguồn nước đối với việc bảo vệ, bảo tồn hoạt
động tôn giáo, tín ngưỡng, giá trị văn hóa, phát triển du lịch, tạo cảnh quan,
môi trường và sinh kế của người dân;
đ)
Khu vực nguồn nước có vai trò trong việc trữ, tiêu thoát lũ;
e)
Khu vực nguồn nước có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, cải thiện, phục hồi nguồn nước.
2. Xác
định các vị trí, khu vực phục vụ phân vùng chức năng nguồn nước:
a) Vị
trí các điểm nhập lưu, phân lưu; ranh giới hành chính cấp tỉnh; đường biên giới
quốc gia;
b) Vị
trí các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải, công trình
hồ chứa thủy điện, thủy lợi, công trình điều tiết nước; vị trí, khu vực có các
hoạt động kinh doanh, dịch vụ; khu vực có hoạt động giao thông đường thủy;
c)
Khu vực dự kiến có các công trình, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước
được xác định trong quy hoạch về tài nguyên nước, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh
và các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có khai thác, sử dụng tài
nguyên nước;
d) Vị
trí, khu vực có công trình, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng
sinh học, khu cảnh quan sinh thái quan trọng, khu vực có đa dạng sinh học cao
liên quan đến nguồn nước sông suối, kênh, mương, rạch;
đ)
Khu vực trữ, tiêu thoát lũ.
3. Phân
đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch:
a)
Phân đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch để thực hiện phân vùng chức năng nguồn
nước;
b) Việc
phân đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch thực hiện trên cơ sở: đặc điểm nguồn nước;
hiện trạng chất lượng nước; mục đích sử dụng nước và các hoạt động liên quan đến
nguồn nước; các yêu cầu về bảo vệ, cải thiện, phục hồi nguồn nước.
4.
Xác định chức năng nguồn nước của từng đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch, như
sau:
a)
Căn cứ vào thông tin, dữ liệu theo quy định tại khoản 1 Điều này và các vị trí
được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này để xác định các chức năng nguồn
nước quy định tại khoản 1 Điều 22 và khoản 1 Điều 28 của Luật Tài nguyên nước đối
với từng đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch;
b) Đoạn
sông, suối, kênh, mương, rạch mà tại thời điểm thực hiện phân vùng chức năng
không có các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước hoặc trong các quy hoạch
về tài nguyên nước, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có tính chất
kỹ thuật, chuyên ngành liên quan không có nhu cầu khai thác, sử dụng nước thì
chức năng nguồn nước được xác định là bảo vệ sự phát triển của hệ sinh thái thủy
sinh, tạo cảnh quan, môi trường.
Điều 5. Xác định chức năng nguồn nước hồ, ao, đầm, phá
1. Chức
năng nguồn nước hồ, ao, đầm, phá được xác định cho toàn bộ diện tích mặt nước của
hồ, ao, đầm, phá và có chức năng quy định tại khoản 1 Điều 22 và khoản 1 Điều
28 của Luật Tài nguyên nước.
2.
Căn cứ vào thông tin, dữ liệu phục vụ xác định chức năng nguồn nước quy định tại
khoản 1 Điều 4 của Thông tư này để xác định các chức năng
nguồn nước đối với từng hồ, ao, đầm, phá.
Điều 6. Yêu cầu về kết quả phân vùng chức năng nguồn nước
1. Kết
quả phân vùng chức năng nguồn nước sông, suối, kênh, mương, rạch phải được tổng
hợp, lập thành danh mục. Trong đó, từng đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch được
phân vùng chức năng phải thể hiện các nội dung chủ yếu sau:
a)
Tên của sông, suối, kênh, mương, rạch; tên lưu vực sông;
b)
Chiều dài, vị trí hành chính, tọa độ điểm đầu và điểm cuối của đoạn sông, suối,
kênh, mương, rạch được phân vùng chức năng (hệ tọa độ VN2000, múi chiếu 3o);
c) Chức
năng nguồn nước của đoạn sông, suối, kênh, mương, rạch.
2. Kết
quả phân vùng chức năng nguồn nước hồ, ao, đầm, phá phải được lập thành danh mục
và phải thể hiện các nội dung chủ yếu sau:
a)
Tên của hồ, ao, đầm, phá; tọa độ đại diện cho vị trí của hồ, ao, đầm, phá (hệ tọa
độ VN2000, múi chiếu 3o), vị trí hành chính; tên tổ chức, cá nhân quản
lý, vận hành (nếu có). Đối với hồ chứa thủy điện, thủy lợi trên sông, suối thì
nêu rõ tên của sông, suối;
b) Diện
tích mặt nước của hồ, ao, đầm, phá được xác định chức năng;
c) Chức
năng nguồn nước của hồ, ao, đầm, phá.
3. Kết
quả phân vùng chức năng nguồn nước phải được cập nhật vào Hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia.
Điều 7. Tổ chức thực hiện phân vùng chức năng nguồn nước,
phê duyệt, công bố chức năng nguồn nước
1.
Trường hợp phân vùng chức năng nguồn nước mặt được thực hiện trong quy hoạch tổng
hợp lưu vực sông liên tỉnh, trong quy hoạch tỉnh thì việc phê duyệt, công bố chức
năng nguồn nước thực hiện trong quy trình, thủ tục phê duyệt, công bố quy hoạch.
2.
Trường hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định, công
bố chức năng nguồn nước mặt theo quy định tại khoản 5 Điều 22 Luật Tài nguyên
nước thì việc tổ chức thực hiện phân vùng chức năng nguồn nước, phê duyệt, công
bố chức năng nguồn nước được thực hiện như sau:
a) Bộ
Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước phối hợp với Sở
Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan liên quan xác định, phân vùng chức năng đối
với các nguồn nước mặt liên tỉnh, nguồn nước mặt liên quốc gia và lấy ý kiến
các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải,
Xây dựng, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức lưu vực
sông (nếu có) và các cơ quan, đơn vị có liên quan về kết quả phân vùng chức
năng nguồn nước.
Trên
cơ sở ý kiến góp ý, Cục Quản lý tài nguyên nước tổng hợp, tiếp thu, giải trình,
hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, phê duyệt;
b)[2] Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở
Nông nghiệp và Môi trường tổ chức xác định, phân vùng chức năng đối với các nguồn
nước mặt nội tỉnh và lấy ý kiến các Sở: Công Thương; Xây dựng; Văn hóa, Thể
thao và Du lịch; Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, đơn vị có liên quan về
kết quả phân vùng chức năng nguồn nước.
Trên
cơ sở ý kiến góp ý, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, tiếp thu, giải
trình, hoàn chỉnh hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt;
c)
Trong thời hạn 14 ngày, kể từ ngày phê duyệt phân vùng chức năng nguồn nước, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền công bố,
đăng tải quyết định phê duyệt phân vùng chức năng nguồn nước trên Cổng thông
tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Mục 2. XÁC ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC VIỆC CÔNG BỐ VÙNG BẢO HỘ VỆ SINH
KHU VỰC LẤY NƯỚC SINH HOẠT
Điều 8. Nguyên tắc xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy
nước sinh hoạt
1. Đảm
bảo ngăn ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn nước của công
trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt và các chức năng khác của nguồn nước.
2.
Phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, địa chất thủy văn, chế độ dòng chảy,
đặc điểm nguồn nước, quy mô khai thác, sơ đồ bố trí công trình và các đặc điểm
khác liên quan đến việc bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt.
3.
Phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
của khu vực có công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt.
Điều 9. Các trường hợp phải xác định và công bố vùng bảo hộ
vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt[3]
Công
trình khai thác tài nguyên nước để sản xuất, cung cấp nước sạch cho sinh hoạt (sau
đây gọi chung là công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt) thuộc trường hợp
phải cấp phép tài nguyên nước theo quy định thì phải xác định và công bố vùng bảo
hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt.
Điều 10. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh
hoạt của công trình khai thác nước mặt
1. Phạm
vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác
nước mặt trên sông, suối, kênh, mương, rạch để cấp cho sinh hoạt là vùng thượng
lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình (bao gồm cả phần phạm
vi hành lang bảo vệ nguồn nước sông, suối, kênh, mương, rạch mà công trình đó
khai thác), được quy định như sau:
a)
Trường hợp công trình khai thác nước có quy mô trên 100 m³/ngày đêm đến dưới
50.000 m³/ngày đêm thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
không nhỏ hơn 1.000 m về phía thượng lưu và không nhỏ hơn 100 m về phía hạ lưu
đối với khu vực miền núi; không nhỏ hơn 800 m về phía thượng lưu và không nhỏ
hơn 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du;
b)
Trường hợp công trình khai thác nước có quy mô từ 50.000 m³/ngày đêm trở lên
thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn 1.500
m về phía thượng lưu và không nhỏ hơn 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền
núi; không nhỏ hơn 1.000 m về phía thượng lưu và không nhỏ hơn 200 m về phía hạ
lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
2. Phạm
vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác
nước mặt từ hồ chứa, đập dâng để cấp cho sinh hoạt được tính từ vị trí khai
thác nước của công trình và được quy định như sau:
a)
Không nhỏ hơn 1.500 m từ vị trí khai thác nước đối với trường hợp công trình
khai thác nước từ hồ chứa, đập dâng trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới
hành lang bảo vệ nguồn nước của hồ chứa, phạm vi bảo vệ đập;
b)
Toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa
khác với quy định tại điểm a khoản này.
Điều 11. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh
hoạt của công trình khai thác nước dưới đất
1. Đối
với công trình khai nước dưới đất trong tầng chứa nước có áp thì phạm vi vùng bảo
hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt được xác định cho từng giếng khai thác và
không nhỏ hơn 3 m tính từ miệng giếng.
2. Đối
với công trình khai nước dưới đất trong tầng chứa nước không áp thì phạm vi
vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt được xác định cho từng giếng
khai thác và không nhỏ hơn 20 m tính từ miệng giếng.
Điều 12. Xác định, phê duyệt, công bố vùng bảo hộ vệ sinh
khu vực lấy nước sinh hoạt
1.
Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước, tổ
chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước để cấp cho
sinh hoạt căn cứ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Thông tư
này đề xuất phạm vi cụ thể vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của
công trình khai thác nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác tài nguyên nước.
2.[4] Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ
sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa bàn một tỉnh:
Trên
cơ sở đề xuất phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của tổ chức,
cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này và hiện trạng sử dụng đất, Sở Nông nghiệp
và Môi trường tổ chức xác định phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước
sinh hoạt của công trình.
Trong
thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày giấy phép khai thác tài nguyên nước được
cấp có thẩm quyền ký ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình.
3.[5] Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ
sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa bàn hai tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trở lên:
Trên
cơ sở đề xuất phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của tổ chức,
cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này và hiện trạng sử dụng đất, Sở Nông nghiệp
và Môi trường nơi có công trình khai thác nước chủ trì, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường các tỉnh có liên quan thống nhất phạm vi vùng bảo hộ vệ
sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình.
Trong
thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày giấy phép khai thác tài nguyên nước được
cấp có thẩm quyền ký ban hành, Sở Nông nghiệp và Môi trường nơi có công trình
khai thác nước trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu
vực lấy nước sinh hoạt của công trình.
4.
Quyết định phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt bao gồm các
nội dung chính sau đây: tên công trình khai thác; nguồn nước khai thác; quy mô
công trình khai thác; vị trí khai thác; phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy
nước sinh hoạt của công trình khai thác.
5.[6] Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể
từ ngày có quyết định phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức việc công
bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của địa
phương; gửi Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan đối với trường hợp phạm vi vùng
bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa bàn một tỉnh hoặc Sở
Nông nghiệp và Môi trường có liên quan đối với phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu
vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa bàn hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trở lên để tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước
sinh hoạt trên thực địa.”.
Điều 13. Tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu
vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa[7]
1.
Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa
bàn một tỉnh:
a)
Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa
bàn một xã, trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định
phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, Ủy ban nhân dân cấp xã
gửi thông báo về kế hoạch xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa
đến tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước và phối
hợp thực hiện việc xác định ranh giới phạm vi, vị trí đặt biển chỉ dẫn vùng bảo
hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa.
Sau
khi hoàn thành việc xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước
sinh hoạt trên thực địa, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo tới Sở Nông nghiệp và
Môi trường về kết quả hoàn thành;
b)
Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa
bàn hai xã trở lên, trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định
phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, Sở Nông nghiệp và Môi
trường gửi thông báo về kế hoạch xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh trên thực
địa đến Ủy ban nhân dân các xã có liên quan, tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý,
vận hành công trình khai thác nước và phối hợp thực hiện việc xác định ranh giới
phạm vi, vị trí đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
trên thực địa.
2.
Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa
bàn hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên:
Trong
thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt vùng bảo hộ
vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, Sở Nông nghiệp và Môi trường nơi có công
trình khai thác nước gửi thông báo về kế hoạch xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ
sinh trên thực địa đến Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh có liên quan, tổ
chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước và phối hợp
thực hiện việc xác định ranh giới phạm vi, vị trí đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ
vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa.
Điều 14. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan
đến vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
1. Tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình sinh sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
trong phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt phải tuân thủ các quy
định về hành lang bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước mặt, nước dưới đất
theo quy định pháp luật về tài nguyên nước, pháp luật về bảo vệ môi trường và
các quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Tổ
chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước có trách nhiệm
lắp đặt, cắm biển chỉ dẫn, bảo vệ biển chỉ dẫn về vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy
nước sinh hoạt đối với công trình của mình; bảo vệ nguồn nước mình đang trực tiếp
khai thác, sử dụng; theo dõi, giám sát các hoạt động trong vùng bảo hộ vệ sinh
khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình.
Trường
hợp phát hiện hành vi gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm, không bảo đảm an
toàn cho việc khai thác nước của công trình và các hành vi vi phạm pháp luật về
tài nguyên nước khác trong phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
của công trình khai thác thì phải kịp thời ngăn chặn, đồng thời báo cáo ngay đến
chính quyền địa phương nơi gần nhất để xử lý.
3.[8] Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở
Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ sau
đây: xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực
địa; kiểm tra, giám sát các hoạt động trong vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước
sinh hoạt của các công trình khai thác nước trên địa bàn; tiếp nhận thông tin,
giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy
nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước trên địa bàn theo thẩm quyền.
Chương III
XÁC ĐỊNH, ĐIỀU
CHỈNH DÒNG CHẢY TỐI THIỂU
Điều 15. Yêu cầu về giá trị dòng chảy tối thiểu
1.
Dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu đập, hồ chứa có giá trị trong phạm
vi từ lưu lượng tháng nhỏ nhất đến lưu lượng trung bình của 3 tháng nhỏ nhất
(m³/s).
Trường
hợp có yêu cầu khác với giá trị lưu lượng nêu trên, thì phải căn cứ vào các quy
định tại khoản 4 Điều 24 của Luật Tài nguyên nước để xác định giá trị dòng chảy
tối thiểu tại từng vị trí, nhưng mức tăng tối đa không vượt quá lưu lượng trung
bình mùa cạn và phải phù hợp với khả năng thực tế của nguồn nước, năng lực vận
hành điều tiết nước của đập, hồ chứa; mức giảm tối đa không vượt quá 50% lưu lượng
của tháng nhỏ nhất, nhưng phải bảo đảm an toàn cấp nước, an sinh xã hội, môi
trường, hệ sinh thái thủy sinh.
2.
Căn cứ yêu cầu về mức dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu đập, hồ chứa
quy định tại khoản 1 Điều này, việc xác định dòng chảy tối thiểu phải xem xét
toàn diện, đầy đủ các nguyên tắc, căn cứ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều
24 của Luật Tài nguyên nước để lựa chọn giá trị dòng chảy tối thiểu tại từng vị
trí cho phù hợp.
3.
Tùy thuộc vào yêu cầu về chế độ khai thác, sử dụng nước và khả năng vận hành điều
tiết của đập, hồ chứa, năng lực công trình điều tiết, giá trị dòng chảy tối thiểu
tại mỗi vị trí có thể được xem xét, xác định tương ứng với từng thời kỳ, thời
gian trong năm.
Dòng
chảy tối thiểu tại mỗi vị trí phải đáp ứng yêu cầu về chế độ, thời gian sử dụng
nước phía hạ du, bảo đảm tính hệ thống trên cùng hệ thống sông, suối.
4. Đối
với công trình đập ngăn mặn, chống ngập, đập vùng cửa sông ven biển, cơ quan có
thẩm quyền xác nhận đăng ký, cấp phép khai thác nước mặt quyết định sự cần thiết
việc duy trì dòng chảy tối thiểu.
Điều 16. Vị trí xác định dòng chảy tối thiểu
1. Đối
với sông, suối:
a) Vị
trí xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối được xác định tại một hoặc một
số vị trí, cụ thể: vị trí trên sông, suối trước khi nhập lưu với sông, suối
khác; vị trí tại trạm thủy văn, trạm quan trắc tài nguyên nước;
b)
Ngoài vị trí quy định tại điểm a khoản này, trường hợp có yêu cầu cụ thể về
dòng chảy để đảm bảo cho các hoạt động khai thác, sử dụng nước; hoạt động văn
hóa, thể thao du lịch; yêu cầu để phòng chống suy thoái, phục hồi nguồn nước hoặc
yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, bảo tồn đa dạng sinh học, các loài thủy
sinh có giá trị kinh tế trên một hoặc nhiều đoạn sông, suối thì cơ quan quản lý
nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 24
của Luật Tài nguyên nước xem xét, quyết định lựa chọn bổ sung vị trí xác định
dòng chảy tối thiểu.
2. Đối
với đập, hồ chứa:
a) Vị
trí xác định dòng chảy tối thiểu hạ lưu đập, hồ chứa được xác định ngay sau đập;
b) Đối
với đập, hồ chứa có phương thức khai thác nước làm gián đoạn dòng chảy của
sông, suối, tùy thuộc quy mô, khả năng điều tiết của hồ chứa, phạm vi tác động
của công trình, yêu cầu chế độ dòng chảy trên sông, suối và yêu cầu khai thác,
sử dụng nước phía hạ du đập, hồ chứa thì ngoài vị trí xác định dòng chảy tối
thiểu quy định tại điểm a khoản này, xem xét việc xác định dòng chảy tối thiểu
tại vị trí ngay sau hạng mục công trình trả lại dòng chảy vào sông, suối;
c) Đập,
hồ chứa trên sông, suối có quy mô khai thác nước thuộc trường hợp phải đăng ký,
có giấy phép khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật về tài
nguyên nước, phải bố trí các hạng mục công trình xả dòng chảy tối thiểu, bảo đảm
có đủ năng lực xả đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 15 của
Thông tư này, trừ trường hợp các đập, hồ chứa đã đi vào vận hành mà không
thể điều chỉnh, bổ sung hạng mục công trình xả dòng chảy tối thiểu.
Điều 17. Phương pháp tính toán các đặc trưng dòng chảy phục
vụ xác định dòng chảy tối thiểu
1.
Các đặc trưng dòng chảy được tính toán tại mỗi vị trí xác định dòng chảy tối
thiểu bao gồm:
a) Phân
phối dòng chảy các tháng trong năm;
b)
Các đặc trưng dòng chảy năm;
c)
Các đặc trưng dòng chảy mùa cạn (dòng chảy tháng nhỏ nhất, trung bình tháng nhỏ
nhất, trung bình 3 tháng nhỏ nhất và trung bình mùa cạn).
2.
Căn cứ vào số liệu quan trắc khí tượng thủy văn hiện có và đặc điểm của lưu vực,
việc xác định các đặc trưng dòng chảy được thực hiện bằng một trong các phương
pháp sau:
a)
Trường hợp trên sông, suối có trạm thuỷ văn, trạm quan trắc tài nguyên nước hoặc
hồ chứa điều tiết năm, nhiều năm (sau đây gọi chung là trạm quan trắc thủy văn)
có chuỗi số liệu quan trắc thủy văn từ 20 năm trở lên và chênh lệch về diện
tích lưu vực của trạm thủy văn với diện tích lưu vực tại vị trí cần xác định
dòng chảy tối thiểu không quá 10%, thì sử dụng quan hệ tương quan (theo tỷ lệ
lượng mưa năm và diện tích lưu vực) với số liệu dòng chảy của trạm quan trắc thủy
văn để xác định;
b)
Trường hợp trên sông, suối có trạm quan trắc thuỷ văn với chuỗi số liệu quan trắc
thủy văn từ 20 năm trở lên nhưng chênh lệch về diện tích lưu vực của trạm thủy
văn với diện tích lưu vực của vị trí xác định dòng chảy tối thiểu trên 10% hoặc
chuỗi số liệu quan trắc thủy văn nhỏ hơn 20 năm hoặc không có trạm quan trắc thủy
văn trên sông, suối, thì xem xét, lựa chọn một trong các phương pháp sau:
Phương
pháp lưu vực tương tự với trạm thủy văn có chuỗi số liệu từ 20 năm trở lên nếu
chênh lệch về diện tích của hai lưu vực không vượt quá năm (05) lần và giữa hai
lưu vực tương tự nhau về điều kiện cơ bản hình thành dòng chảy, tính đồng bộ về
dao động dòng chảy.
Phương
pháp quan hệ tương quan giữa lượng mưa năm và dòng chảy năm.
Phương
pháp mô hình toán thủy văn, thủy lực.
Phương
pháp khác phù hợp với đặc điểm thủy văn, điều kiện số liệu khí tượng thủy văn của
khu vực.
3.
Trường hợp trên cùng một hệ thống sông, suối có nhiều vị trí xác định dòng chảy
tối thiểu bằng các phương pháp khác nhau, thì xem xét, hiệu chỉnh các giá trị đặc
trưng dòng chảy để đảm bảo tính hệ thống.
4. Đối
với đập, hồ chứa trên sông, suối thuộc trường hợp phải đăng ký khai thác nước
theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước thì ngoài các phương pháp quy định
tại khoản 2 Điều này còn có thể sử dụng phương pháp tương quan (theo tỷ lệ diện
tích lưu vực) với số liệu dòng chảy của trạm thủy văn hoặc tương quan với giá
trị dòng chảy tối thiểu của công trình đập, hồ chứa khác đã được cấp phép trên
cùng lưu vực sông hoặc trên cơ sở số liệu vận hành của công trình để xác định
giá trị dòng chảy tối thiểu.
Điều 18. Yêu cầu về thông tin, số liệu và kết quả xác định
dòng chảy tối thiểu
1. Thông
tin, số liệu để đánh giá, xác định dòng chảy tối thiểu phải bảo đảm tin cậy và
phù hợp với phương pháp áp dụng.
Trường
hợp số liệu quan trắc thủy văn đã chịu tác động do việc điều tiết của các công
trình điều tiết nước, dẫn chuyển nước trên sông, suối thì phải hoàn nguyên số
liệu trước khi sử dụng để tính toán, đánh giá.
2. Kết
quả tính toán các đặc trưng của dòng chảy, lựa chọn giá trị dòng chảy tối thiểu
tại mỗi vị trí phải được luận chứng, thuyết minh rõ việc đáp ứng yêu cầu quy định
tại Điều 15 của Thông tư này và các nội dung sau:
a) Về
lựa chọn vị trí;
b) Về
lựa chọn phương pháp tính toán;
c) Việc
đáp ứng các yêu cầu khai thác, sử dụng nước cả về lưu lượng, mực nước và chế độ
của dòng chảy theo thời gian và khả năng điều tiết của đập, hồ chứa.
3. Kết
quả xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối phải được tổng hợp, lập thành
sơ đồ và danh mục gồm các nội dung chủ yếu sau:
a)
Tên sông, suối thuộc lưu vực sông;
b) Vị
trí xác định dòng chảy tối thiểu: tọa độ, vị trí hành chính;
c)
Giá trị dòng chảy tối thiểu.
4. Đối
với đập, hồ chứa thì giá trị dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu đập, hồ chứa được quy
định trong giấy phép khai thác nước mặt hoặc giấy xác nhận đăng ký khai thác nước
mặt gồm các thông tin về vị trí (tọa độ, vị trí hành chính), giá trị dòng chảy
tối thiểu.
Điều 19. Phê duyệt, công bố dòng chảy tối thiểu
1.
Trường hợp dòng chảy tối thiểu được thực hiện trong quy hoạch tổng hợp lưu vực
sông liên tỉnh, quy hoạch tỉnh thì việc công bố dòng chảy tối thiểu thực hiện
trong quy trình phê duyệt, công bố quy hoạch.
2.
Trường hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định, công
bố dòng chảy tối thiểu theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 24 của Luật Tài
nguyên nước thì việc phê duyệt, công bố dòng chảy tối thiểu được thực hiện như
sau:
a) Đối
với sông, suối:
Bộ
Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước tổ chức điều tra,
đánh giá, lấy ý kiến của các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, tổ chức lưu vực sông (nếu có), các cơ quan, đơn vị có liên quan về
dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối liên tỉnh, liên quốc gia (thuộc lãnh thổ
Việt Nam).
Trên
cơ sở ý kiến góp ý, Cục Quản lý tài nguyên nước tổng hợp, tiếp thu, giải trình,
hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, phê duyệt
và tổ chức công bố dòng chảy tối thiểu.
Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức điều tra,
đánh giá, lấy ý kiến của các Sở: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Sở,
ban, ngành có liên quan về dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối nội tỉnh; tổng
hợp ý kiến các Sở, ban ngành, gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường (qua Cục Quản lý
tài nguyên nước) cho ý kiến.
Trên
cơ sở ý kiến góp ý, Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, tiếp thu, giải trình,
hoàn chỉnh hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt dòng chảy tối
thiểu và tổ chức công bố.
Hồ sơ
lấy ý kiến gồm: dự thảo Quyết định phê duyệt kèm theo danh mục dòng chảy tối
thiểu trên các sông, suối, báo cáo thuyết minh việc xác định dòng chảy tối thiểu
và sơ đồ dòng chảy tối thiểu của hệ thống sông, suối.
Trong
thời hạn 14 ngày, kể từ ngày phê duyệt dòng chảy tối thiểu trên sông, suối, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền công bố,
đăng tải quyết định phê duyệt dòng chảy tối thiểu kèm theo danh mục dòng chảy tối
thiểu trên sông, suối trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường
hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Đối
với đập, hồ chứa:
Chủ đập,
hồ chứa hoặc tổ chức, cá nhân quản lý vận hành đập, hồ chứa có trách nhiệm đề
xuất giá trị dòng chảy tối thiểu hạ lưu đập, hồ chứa do mình đầu tư xây dựng,
quản lý, vận hành trong tờ khai đăng ký, hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác nước
mặt theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước và được cơ quan có thẩm quyền
quy định tại điểm b khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 24 của Luật Tài nguyên nước
phê duyệt trong giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt hoặc giấy xác nhận đăng
ký khai thác, sử dụng nước mặt.
Định
kỳ 6 tháng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền
chỉ đạo tổng hợp giá trị dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu đập, hồ chứa đã được phê
duyệt để ra quyết định công bố, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 20. Rà soát, điều chỉnh dòng chảy tối thiểu
1. Việc
rà soát, điều chỉnh dòng chảy tối thiểu được thực hiện theo quy định tại khoản
9 Điều 24 của Luật Tài nguyên nước. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dòng chảy tối
thiểu quyết định việc rà soát, điều chỉnh giá trị dòng chảy tối thiểu.
2. Tổ
chức, cá nhân quản lý, vận hành đập, hồ chứa theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 24 của Luật Tài nguyên nước đề xuất điều chỉnh dòng chảy tối thiểu ở hạ
lưu đập, hồ chứa và được thể hiện trong tờ khai đăng ký hoặc hồ sơ đề nghị cấp,
điều chỉnh giấy phép khai thác nước mặt, trình cấp có thẩm quyền quy định tại
điểm b khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 24 của Luật Tài nguyên nước xem xét, phê
duyệt trong quá trình xác nhận đăng ký, cấp phép.
3. Việc
điều chỉnh dòng chảy tối thiểu được thực hiện như việc xác định, phê duyệt,
công bố dòng chảy tối thiểu quy định tại Thông tư này.
Chương IV
BẢO VỆ NƯỚC
DƯỚI ĐẤT
Mục 1. KẾ HOẠCH BẢO VỆ NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Điều 21. Yêu cầu của kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
1. Kế
hoạch bảo vệ nước dưới đất phải phù hợp với quy hoạch tổng hợp lưu vực sông
liên tỉnh; phải phù hợp với phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước,
phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra trong quy hoạch tỉnh.
2.
Xác định được phạm vi các khu vực, tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm
và nguyên nhân gây ra; phương án tổ chức thực hiện các giải pháp khoanh định hoặc
đưa ra khỏi vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; phương án khai thác
nước dưới đất; khu vực cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất; giải pháp bảo vệ chất
lượng nguồn nước dưới đất. Ưu tiên bảo vệ, phục hồi các tầng chứa nước khai
thác chính, các tầng chứa nước được khai thác để cấp nước sinh hoạt.
3. Việc
lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất phải dựa trên cơ sở kết quả điều tra, đánh
giá tài nguyên nước dưới đất; thông tin, số liệu quan trắc tài nguyên nước dưới
đất của mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất, tại công trình khai thác nước
dưới đất và các thông tin, số liệu có liên quan khác từ Hệ thống thông tin, cơ
sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia (nếu có).
Trường
hợp thông tin, số liệu chưa đảm bảo làm cơ sở lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc bổ sung công tác điều tra, đánh
giá tài nguyên nước dưới đất để phục vụ lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất.
4. Kế
hoạch bảo vệ nước dưới đất phải đồng bộ, phù hợp với nguồn lực, giải pháp thực
hiện; bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong triển khai thực hiện.
Điều 22. Nội dung kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
1. Mục
tiêu của kế hoạch bảo vệ nước dưới đất.
2. Hiện
trạng nguồn nước dưới đất và tình hình ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước
dưới đất.
3.
Các khu vực, tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; danh mục các khu vực,
tầng chứa nước cần ưu tiên phục hồi được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Thông tư này.
4.
Phương án, giải pháp bảo vệ, phục hồi đối với các khu vực, tầng chứa nước được
xác định theo quy định tại khoản 4 Điều 23 của Thông tư này.
5.
Các nội dung bảo vệ nước dưới đất khác có liên quan (nếu có).
6. Tổ
chức thực hiện.
Điều 23. Trình tự lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
1.
Đánh giá hiện trạng, diễn biến khai thác, sử dụng nước dưới đất; hiện trạng, diễn
biến mực nước dưới đất; hiện trạng, diễn biến chất lượng nước dưới đất, xâm nhập
mặn; hiện trạng, diễn biến sụt, lún đất có liên quan đến thăm dò, khai thác nước
dưới đất; nguyên nhân gây ra tình trạng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm các tầng
chứa nước trên địa bàn tỉnh.
2.
Khu vực, tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm:
a)
Khu vực, tầng chứa nước có tổng lưu lượng khai thác đã đạt đến hoặc vượt quá
90% ngưỡng khai thác nước dưới đất được xác định trong quy hoạch tổng hợp lưu vực
sông liên tỉnh.
Trường
hợp chưa có quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh hoặc quy hoạch tổng hợp
lưu vực sông liên tỉnh đã được phê duyệt mà chưa quy định ngưỡng khai thác nước
dưới đất thì xác định các khu vực, tầng chứa nước có tổng lưu lượng khai thác
đã đạt đến hoặc vượt quá 90% lượng nước có thể khai thác của từng tầng chứa nước
tại từng khu vực và được tính toán trên cơ sở giới hạn mực nước khai thác.
b)
Khu vực, tầng chứa nước có mực nước trung bình trong 6 tháng mùa khô trong các giếng
quan trắc hoặc giếng khai thác đã đạt đến hoặc vượt quá 95% giới hạn mực nước
khai thác và có xu hướng tiếp tục suy giảm;
c)
Khu vực đã xảy ra sụt, lún đất hoặc có nguy cơ sụt, lún đất;
d)
Khu vực, tầng chứa nước có nguy cơ bị nhiễm mặn; bị ô nhiễm một trong các thông
số amoni, nitrit, nitrat, arsenic hoặc thông số kim loại nặng khác theo quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất.
3.
Căn cứ vào mức độ suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm của nguồn nước dưới đất; nhu cầu
khai thác, sử dụng nước dưới đất; mức độ khan hiếm nước và định hướng về khai
thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông
liên tỉnh, quy hoạch tỉnh lập danh mục các khu vực, tầng chứa nước cần ưu tiên
bảo vệ, phục hồi.
Danh
mục các khu vực, tầng chứa nước cần ưu tiên bảo vệ, phục hồi phải thể hiện rõ về
phạm vi hành chính, diện tích phân bố và các nguyên nhân gây suy thoái, cạn kiệt,
ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
4.
Xác định phương án, giải pháp bảo vệ, phục hồi đối với từng khu vực, tầng chứa
nước thuộc danh mục các khu vực, tầng chứa nước cần ưu tiên bảo vệ, phục hồi. Nội
dung phương án gồm một hoặc một số nội dung sau đây:
a)
Các khu vực, tầng chứa nước cần khoanh định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước
dưới đất và việc triển khai thực hiện các biện pháp cấm hoặc hạn chế khai thác
nước dưới đất;
b)
Các khu vực, tầng chứa nước cần đưa ra khỏi vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã khoanh định vùng hạn chế
khai thác nước dưới đất;
c)
Các khu vực cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
d)
Các khu vực ô nhiễm nước dưới đất cần kiểm soát chặt chẽ các hoạt động sử dụng
phân bón, hóa chất trong sản xuất nông nghiệp; khu vực cần kiểm soát chặt chẽ
các chất thải, nguồn thải, các hoạt động khoan, đào và các hoạt động khác có khả
năng gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất;
đ) Đề
xuất, điều chỉnh các phương án khai thác, sử dụng nước dưới đất.
5.
Căn cứ đặc trưng nguồn nước dưới đất tại từng khu vực trên địa bàn tỉnh quy định
các nội dung, yêu cầu bảo vệ nước dưới đất khác có liên quan.
6.
Xây dựng phương án tổ chức thực hiện.
Điều 24. Ban hành kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
1. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo bố trí kinh phí và chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi
trường tổ chức thực hiện việc điều tra, thống kê, tổng hợp thông tin, số liệu
và xây dựng dự thảo kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trên địa bàn tỉnh.
2.[9] Sở Nông nghiệp và Môi trường gửi lấy
ý kiến bằng văn bản về dự thảo kế hoạch bảo vệ nước dưới đất tới các Sở: Xây dựng,
Công Thương, Y tế, Ủy ban nhân dân cấp xã và đại diện một số tổ chức, cá nhân
khai thác, sử dụng nước dưới đất lớn trên địa bàn tỉnh.
3. Sở
Tài nguyên và Môi trường hoàn chỉnh dự thảo kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trên
cơ sở ý kiến của các cơ quan, đơn vị quy định tại khoản 2 Điều này và gửi lấy ý
kiến của Cục Quản lý tài nguyên nước.
4. Sở
Tài nguyên và Môi trường hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trình
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt.
5. Sở
Tài nguyên và Môi trường cập nhật kế hoạch bảo vệ nước dưới đất vào Hệ thống
thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia trong vòng 07 ngày sau khi được
phê duyệt và tổ chức thực hiện.
Điều 25. Rà soát, điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất
1. Định
kỳ 5 năm hoặc trong trường hợp cần thiết, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức
rà soát kế hoạch bảo vệ nước dưới đất, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết quả
rà soát và kiến nghị điều chỉnh kế hoạch (nếu có).
2. Kế
hoạch bảo vệ nước dưới đất được xem xét, điều chỉnh trong các trường hợp sau
đây:
a) Có
sự điều chỉnh của quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh hoặc phương án khai
thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục tác hại do nước
gây ra trong quy hoạch tỉnh làm thay đổi cơ bản về định hướng khai thác, sử dụng
và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất;
b) Có
biến động lớn về nguồn nước dưới đất trên địa bàn tỉnh do ảnh hưởng của các yếu
tố tự nhiên, nhân tạo.
3. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất.
Trình tự, thủ tục điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất thực hiện như trường
hợp ban hành kế hoạch bảo vệ nước dưới đất quy định tại Điều 24
của Thông tư này.
Mục 2. BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Điều 26. Yêu cầu bổ sung nhân tạo nước dưới đất
1.
Công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất phải được thiết kế, tính toán phù hợp
với đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn, địa hình, chất lượng nước và
khả năng giữ, trữ nước của tầng chứa nước được bổ sung nhân tạo.
2.
Nguồn nước mưa, nước mặt để bổ sung nhân tạo nước dưới đất phải phù hợp với chất
lượng nước của tầng chứa nước được bổ sung nhân tạo và được kiểm soát thường
xuyên trong quá trình thực hiện bổ sung nhân tạo.
3. Việc
bổ sung nhân tạo nước dưới đất phải thực hiện vận hành thử nghiệm tối thiểu 90
ngày trước khi vận hành chính thức đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 27 của Thông tư này.
4.
Công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học
đã hoàn thành, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng để thực hiện bổ sung nhân tạo nước
dưới đất thì phải vận hành thử nghiệm và lấy ý kiến Sở Tài nguyên và Môi trường
theo quy định tại Điều 29 của Thông tư này.
5.
Trường hợp không có nhu cầu tiếp tục sử dụng hoặc công trình bổ sung nhân tạo
nước dưới đất không đủ điều kiện vận hành chính thức thì phải thực hiện các biện
pháp bảo vệ nước dưới đất, bảo vệ môi trường theo quy định.
6. Việc
thiết kế, thi công và quản lý, vận hành các công trình khoan, đào phục vụ bổ
sung nhân tạo nước dưới đất phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất
theo quy định.
Trường
hợp thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất gây ra sụt, lún đất thì phải phải
dừng ngay, kịp thời xử lý, khắc phục sự cố và nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo quy định pháp luật.
Điều 27. Các trường hợp thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới
đất
1.
Các trường hợp bổ sung nhân tạo nước dưới đất bao gồm:
a) Bổ
sung nhân tạo nước dưới đất để phục hồi các khu vực, tầng chứa nước bị suy
thoái, cạn kiệt theo kế hoạch bảo vệ nước dưới đất đã được phê duyệt;
b) Bổ
sung nhân tạo nước dưới đất nhằm gia tăng khả năng khai thác đối với công trình
khai thác nước dưới đất của tổ chức, cá nhân;
c)
Nghiên cứu khoa học, thử nghiệm giải pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
2. Việc
bổ sung nhân tạo nước dưới đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phải
thực hiện theo phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt.
Công
trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất chỉ được vận hành chính thức sau khi đánh
giá kết quả vận hành thử nghiệm đáp ứng các yêu cầu về lượng nước, chất lượng
nước bổ sung nhân tạo.
3. Việc
bổ sung nhân tạo nước dưới đất theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này phải lấy ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Thông tư này về phương án bổ sung nhân tạo
nước dưới đất trước khi thực hiện.
Điều 28. Phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất
1. Nội
dung phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất:
a)
Thuyết minh sự cần thiết về nhu cầu bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
b) Mô
tả về đặc điểm cấu trúc địa chất thủy văn, chất lượng nước trong tầng chứa nước
và đánh giá khả năng giữ và trữ nước của tầng chứa nước;
c)
Đánh giá sự phù hợp về số lượng, chất lượng của nguồn nước được sử dụng để bổ
sung nhân tạo nước dưới đất;
d) Thuyết
minh giải pháp thiết kế kỹ thuật việc bổ sung nhân tạo nước dưới đất bao gồm
các nội dung chính: Phương pháp bổ sung nhân tạo (làm ngập, xây dựng đập cát, bồn,
bể thấm, lỗ khoan ép, lỗ khoan thu nước, hố đào, hào rãnh kết hợp giếng hấp thu
nước và các phương pháp khác); vị trí, quy mô, thông số kỹ thuật của công trình
bổ sung nhân tạo nước dưới đất; giải pháp kiểm soát chất lượng nguồn nước trước
khi bổ sung nhân tạo và việc giám sát chất lượng nước của tầng chứa nước trong
quá trình bổ sung nhân tạo;
đ) Mô
tả quy trình vận hành thử nghiệm;
e) Mô
tả quy trình vận hành, quản lý công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
2. Tổ
chức, cá nhân nộp 01 bộ Hồ sơ gửi lấy ý kiến về phương án bổ sung nhân tạo nước
dưới đất trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc bản điện tử qua hệ thống cổng
dịch vụ công trực tuyến đến Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Thông tư này. Hồ sơ bao gồm:
a)
Văn bản đề nghị cho ý kiến về phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
b)
Phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất theo quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Sơ
đồ, bản vẽ công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
d)
Tài liệu pháp lý và kỹ thuật khác có liên quan của dự án (nếu có).
3.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2
Điều này, Sở Tài nguyên và Môi trường có ý kiến bằng văn bản về phương án bổ
sung nhân tạo nước dưới đất gửi tổ chức, cá nhân.
Điều 29. Lấy ý kiến về kết quả vận hành thử nghiệm bổ sung
nhân tạo nước dưới đất
1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc vận hành thử nghiệm, tổ chức, cá
nhân thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 27 của Thông tư này phải báo cáo kết quả vận hành thử nghiệm
bổ sung nhân tạo nước dưới đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường để lấy ý kiến.
Tổ chức,
cá nhân nộp 01 bản báo cáo kết quả vận hành thử nghiệm bổ sung nhân tạo nước dưới
đất theo quy định tại khoản 3 Điều này trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc
bản điện tử qua hệ thống cổng dịch vụ công trực tuyến đến Sở Tài nguyên và Môi
trường.
2.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận báo cáo kết quả vận hành thử nghiệm bổ
sung nhân tạo nước dưới đất, trên cơ sở phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất,
kết quả vận hành thử nghiệm, Sở Tài nguyên và Môi trường cho ý kiến bằng văn bản
đối với kết quả vận hành thử nghiệm của công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất
và việc đáp ứng yêu cầu để vận hành chính thức gửi tổ chức, cá nhân.
3. Nội
dung chính báo cáo kết quả vận hành thử nghiệm bổ sung nhân tạo nước dưới đất
theo quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm: mô tả kết quả vận hành thử nghiệm;
đánh giá việc đáp ứng các yêu cầu về lượng nước, chất lượng nước bổ sung nhân tạo.
Điều 30. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
bổ sung nhân tạo nước dưới đất
1. Tổ
chức, cá nhân thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất có trách nhiệm sau đây:
a)
Xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố ô nhiễm nguồn nước trong quá trình
vận hành bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
b)
Theo dõi, giám sát mực nước, chất lượng nước và điều chỉnh lưu lượng nước bổ
sung nhân tạo nước dưới đất phù hợp khả năng giữ, trữ nước của tầng chứa nước;
c)
Trước ngày 15 tháng 01 của năm tiếp theo, báo cáo tình hình thực hiện bổ sung
nhân tạo nước dưới đất gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình và
cập nhật vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia.
2. Sở
Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ
chức thực hiện phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất sau khi được Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả vận
hành thử nghiệm đối với trường hợp bổ sung nhân tạo nước dưới đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 của Thông tư này;
b) Kiểm
tra, giám sát trong quá trình vận hành thử nghiệm, vận hành chính thức công
trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất quy định tại điểm b, điểm
c khoản 1 Điều 27 của Thông tư này;
c) Cập
nhật kết quả thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất vào Hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia đối với trường hợp bổ sung nhân tạo nước
dưới đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 của Thông tư này.
Mục 3. BẢO VỆ NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG KHOAN, ĐÀO,
THĂM DÒ KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Điều 31. Bảo vệ nước dưới đất đối với hoạt động thiết kế,
thi công các công trình khoan, đào, thí nghiệm trong các dự án điều tra, đánh
giá, thăm dò, khai thác nước dưới đất
1. Việc
thiết kế, thi công các công trình khoan, đào trong các dự án điều tra, đánh giá
nước dưới đất phải đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Việc
thiết kế, thi công khoan điều tra, đánh giá nước dưới đất thực hiện theo quy định
kỹ thuật của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
b) Việc
thi công các công trình khoan phải do tổ chức, cá nhân có giấy phép hành nghề
khoan nước dưới đất thực hiện;
c) Chiều
sâu, đường kính khoan, kết cấu ống chống, ống lọc, các đoạn chèn, trám cách ly
phải phù hợp với đặc điểm địa tầng, bảo đảm ngăn nước từ trên mặt đất xâm nhập
vào các tầng chứa nước;
d) Việc
thi công các công trình khoan, đào phải bảo đảm sự ổn định của môi trường đất,
đá xung quanh khu vực thi công.
2. Việc
thiết kế, thi công các công trình khoan, đào trong các dự án thăm dò, khai thác
nước dưới đất phải đảm bảo các yêu cầu tại khoản 1 Điều này và các yêu cầu sau:
a) Việc
thiết kế giếng và phương án thi công giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất
phải do người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật của tổ chức, cá nhân có giấy
phép hành nghề khoan nước dưới đất thực hiện;
b) Ống
chống, ống lọc lắp đặt tại các giếng khoan khai thác nước dưới đất phải bảo đảm
sự ổn định trong quá trình khai thác;
c)
Trường hợp sử dụng hóa chất để ngâm, rửa giếng khoan thì hóa chất sử dụng phải
bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước;
d) Đối
với công trình khai thác nước dưới đất phải thực hiện việc quan trắc phục vụ
giám sát khai thác nước theo quy định. Trường hợp công trình khai thác nước dưới
đất phải xây dựng giếng quan trắc theo quy định thì vị trí giếng quan trắc cần
đảm bảo tính đại diện cho việc khai thác nước của công trình và được thể hiện
trong đề nghị cấp phép.
3.
Yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất đối với hoạt động thí nghiệm trong các dự án điều
tra, đánh giá, thăm dò, khai thác nước dưới đất:
a)
Hoá chất, chất phóng xạ sử dụng trong quá trình thí nghiệm phải bảo đảm không
gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước;
b) Có
biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không để nước thải, nước có chứa chất độc hại
xâm nhập vào trong giếng khoan, giếng đào;
c)
Phương pháp, cách thức tiến hành thí nghiệm trong giếng khoan, giếng đào phải
được thể hiện trong các đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, hồ sơ kỹ thuật
thi công công trình;
d)
Trường hợp thực hiện bơm hút nước thí nghiệm, ngoài việc thực hiện các quy định
tại các điểm a, b và c khoản này còn phải đảm bảo yêu cầu không gây ngập úng,
không gây hạ thấp mực nước quá giới hạn mực nước khai thác. Trường hợp gây sự cố
ảnh hưởng đến môi trường, tổ chức, cá nhân thì phải dừng ngay việc bơm, hút nước
thí nghiệm và bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.
4.
Sau khi hoàn thành thi công, tổ chức, cá nhân thi công các công trình khoan,
đào, thí nghiệm trong các dự án điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác nước dưới
đất phải cập nhật thông tin, dữ liệu về cấu trúc địa chất, địa tầng, địa chất
thủy văn tại vị trí giếng vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước
quốc gia theo quy định.
Điều 32. Bảo vệ nước dưới đất trong hoạt động khảo sát địa
chất công trình, xử lý nền móng công trình xây dựng, xây dựng công trình ngầm;
thăm dò địa chất, thăm dò, khai thác khoáng sản, dầu khí
1. Tổ
chức, cá nhân hoạt động khảo sát địa chất công trình, xử lý nền móng công trình
xây dựng, xây dựng công trình ngầm; thăm dò địa chất, thăm dò, khai thác khoáng
sản, dầu khí trong đó có các hạng mục khoan, đào, thí nghiệm ngoài việc thực hiện
các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan phải thực hiện đầy đủ
yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất theo quy định tại Điều 31 của
Thông tư này.
2. Tổ
chức, cá nhân xử lý nền móng công trình không được gây sụt, lún bề mặt đất;
không gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất.
3. Đối
với các hồ, bể chứa hoặc khu vực chứa nước thải, bã quặng và các chất thải lỏng
khác trong hoạt động khai thác khoáng sản phải tuân thủ các quy định, yêu cầu về
bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, khoáng sản và
pháp luật về tài nguyên nước để bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
4.
Trường hợp giếng khoan trong các hoạt động khảo sát địa chất công trình, xử lý
nền móng, xây dựng công trình ngầm; thăm dò địa chất, thăm dò, khai thác khoáng
sản có thời gian dự kiến sử dụng từ 02 năm trở lên thì phải đáp ứng yêu cầu tại
điểm c khoản 1 Điều 31 của Thông tư này.
5. Tổ
chức, cá nhân thăm dò địa chất, khảo sát địa chất công trình, xử lý nền móng
công trình xây dựng, xây dựng công trình ngầm; thăm dò địa chất, thăm dò, khai
thác khoáng sản phải cập nhật thông tin, số liệu về cấu trúc địa chất, địa tầng
tại vị trí giếng khoan vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc
gia theo quy định.
Điều 33. Bảo vệ nước dưới đất trong hoạt động bơm hút nước
tháo khô mỏ, hố móng xây dựng và các hoạt động khoan, đào, thí nghiệm khác
1. Tổ
chức, cá nhân thực hiện hoạt động bơm hút nước tháo khô mỏ, hố móng xây dựng và
các hoạt động khoan, đào, thí nghiệm khác ngoài việc thực hiện các quy định,
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan phải thực hiện đầy đủ yêu cầu về bảo
vệ nước dưới đất theo quy định tại Điều 31 của Thông tư này.
2. Tổ
chức, cá nhân khai thác khoáng sản hoặc xây dựng công trình, nếu tiến hành hoạt
động bơm hút nước, tháo khô dẫn đến hạ thấp mực nước dưới đất, gây sụt, lún đất
thì phải dừng ngay việc bơm hút, tháo khô và thực hiện các biện pháp khắc phục;
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN
THI HÀNH [10]
Điều 34. Quy định chuyển tiếp
1. Về
vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt:
a)
Trường hợp công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt đã được cấp giấy phép
khai thác, sử dụng tài nguyên nước trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành
mà chưa được xác định, phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
thì thực hiện theo quy định của Thông tư này và phải hoàn thành việc đề xuất phạm
vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt gửi về Sở Tài nguyên và Môi
trường nơi có công trình chậm nhất trước ngày 01 tháng 7 năm 2025;
b)
Trường hợp công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt đã được phê duyệt
vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trước ngày Thông tư có hiệu lực thi
hành được tiếp tục thực hiện theo quyết định đã phê duyệt. Trường hợp tổ chức,
cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước có nhu cầu điều chỉnh
phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh theo quy định của Thông tư này thì đề xuất phạm vi
và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình;
c)
Trường hợp công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt đã hoạt động trước
ngày Thông tư này có hiệu lực và có điều kiện mặt bằng thực tế không thể thiết
lập được vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Thông tư này thì căn cứ tính chất, quy
mô của công trình, đặc điểm nguồn nước và các yêu cầu khác về bảo vệ nguồn nước
đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước
sinh hoạt xem xét, quyết định phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh
hoạt nhỏ hơn phạm vi tối thiểu nhưng phải đảm bảo chất lượng nguồn nước khu vực
lấy nước sinh hoạt của công trình.
2. Về
việc xác định dòng chảy tối thiểu:
Giá
trị dòng chảy tối thiểu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định trong
giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước hoặc trong quy trình vận hành liên
hồ chứa đã được ban hành trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp
tục thực hiện cho đến khi giấy phép hết hiệu lực hoặc cho đến khi có quyết định
điều chỉnh, bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa.
3. Về
việc trám lấp giếng:
Việc
trám lấp giếng bị hỏng không còn sử dụng hoặc không có kế hoạch tiếp tục sử dụng
theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Tài nguyên nước được tiếp tục thực
hiện theo quy định tại Thông tư số 72/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của
Bộ trưởng Bộ trưởng Tài nguyên và môi trường quy định về việc xử lý trám lấp giếng
cho đến khi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trám lấp giếng được ban hành.
Điều 35. Hiệu lực thi hành
1.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
2. Kể
từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, các Thông tư sau hết hiệu lực thi
hành:
a)
Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT ngày 9 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy
nước sinh hoạt;
b)
Thông tư số 31/2018/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định nội dung, biểu mẫu báo cáo tài nguyên nước;
c)
Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối
và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng;
d)
Thông tư số 75/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động
khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất;
đ)
Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp,
gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước;
e)
Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT ngày 11 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất;
g)
Thông tư số 56/2014/TT-BTNMT ngày 24 tháng 9 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định điều kiện về năng lực của tổ chức, cá nhân thực
hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước, lập
đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.
3.
Bãi bỏ các Chương, điều của các Thông tư sau đây của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành:
a) Điều
20 của Thông tư số 04/2020/TT-BTNMT ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên
tỉnh, nguồn nước liên tỉnh;
b) Điều
3, Điều 4, Điều 16, Chương III và Chương V của Thông tư số 17/2021/TT-BTNMT
ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về
giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Điều 36. Tổ chức thực hiện
1.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ
chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2.
Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ quan,
tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét,
giải quyết./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ;
- Công báo Chính phủ; Cổng thông tin điện tử Chính phủ;
- Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp);
- Bộ NN&MT: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, Vụ Pháp chế, Cục Quản lý tài
nguyên nước, Văn phòng Bộ (để đăng
tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ);
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Sở NN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Lưu: VT, TNN.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Lê Minh Ngân
|
[1] Thông tư số 14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân
cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư
trong lĩnh vực tài nguyên nước có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tài nguyên nước
ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn
đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị định số
131/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm
quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số
136/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định phân quyền, phân
cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường;
Căn cứ Nghị định số
35/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Theo đề nghị của Cục trưởng
Cục Quản lý tài nguyên nước;
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành
Thông tư Quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước.”.
[2] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[3] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[4] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[5] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[6] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[7] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[8] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[9] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025.
[10] Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Thông tư số
14/2025/TT-BNNMT quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 10. Hiệu lực thi
hành
Thông tư này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 11. Quy định chuyển
tiếp
1. Việc lấy ý kiến Ủy ban
nhân dân cấp huyện về phân vùng chức năng nguồn nước theo quy định tại Thông tư
số 03/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước mà đến
trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 chưa được Ủy ban nhân dân cấp huyện cho ý kiến
thì Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền tiếp nhận thẩm quyền, nhiệm vụ có
trách nhiệm tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
2. Việc xác định, công bố phạm
vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và việc tổ chức xác định ranh
giới vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa thực hiện theo quy định tại Thông tư số
03/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước mà đến
trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết xong
thì cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thẩm quyền, nhiệm vụ có trách nhiệm tiếp tục
thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
3. Việc kiểm tra việc chấp
hành pháp luật về tài nguyên nước đang thực hiện theo quy định tại Thông tư số
04/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước và thẩm
định, nghiệm thu kết quả hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước thì tiếp tục
thực hiện đến khi kết thúc.
Điều 12. Trách nhiệm thi
hành
1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi
trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu
có vướng mắc, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ
Nông nghiệp và Môi trường để xem xét, giải quyết./.”.