|
VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
132/2026/VBHN-LQ-VPQH
|
Hà Nội, ngày 18
tháng 9 năm 2026
|
LUẬT
PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15
ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 98/2025/QH15 ngày 27
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân
sự, quốc phòng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026;
3. Luật Dự trữ quốc gia số
145/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026;
4. Luật số 14/2026/QH16 ngày 23
tháng 8 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân
sự, quốc phòng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng
thủ dân sự.[1]
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc,
hoạt động phòng thủ dân sự; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong hoạt động phòng thủ dân sự; quản lý nhà nước và nguồn lực bảo đảm
thực hiện phòng thủ dân sự.
Điều 2. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Phòng thủ dân sự là bộ
phận của phòng thủ đất nước, bao gồm các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu
quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch
bệnh; bảo vệ Nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.
2. Sự cố là tình huống bất
thường do thiên tai, dịch bệnh, con người, hậu quả chiến tranh gây ra hoặc đe dọa
gây ra thiệt hại về người, tài sản, môi trường.
3. Thảm họa là biến động
do thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng hoặc do con người, hậu
quả chiến tranh gây ra làm thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, môi trường.
4. Đối tượng dễ bị tổn
thương là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng
phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ sự cố, thảm họa so với những nhóm người
khác trong cộng đồng, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo,
người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người dân tộc thiểu số sinh sống
tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 3.
Nguyên tắc hoạt động phòng thủ dân sự
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý thống nhất của Nhà nước; phát huy vai trò, sự tham gia của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và Nhân dân.
3. Được tổ chức thống nhất từ
trung ương đến địa phương; có sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan, tổ chức và lực lượng trong hoạt động phòng thủ dân sự.
4. Phòng thủ dân sự phải chuẩn
bị từ sớm, từ xa, phòng là chính; thực hiện phương châm bốn tại chỗ kết hợp với
chi viện, hỗ trợ của trung ương, địa phương khác và cộng đồng quốc tế; chủ động
đánh giá nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, xác định cấp độ phòng thủ dân sự và áp
dụng các biện pháp phòng thủ dân sự phù hợp để ứng phó, khắc phục kịp thời hậu
quả chiến tranh, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ Nhân dân, cơ
quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và
tài sản, ổn định đời sống Nhân dân.
5. Kết hợp phòng thủ dân sự với
bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ tính mạng, sức
khoẻ, tài sản của Nhân dân, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và thích ứng với biến
đổi khí hậu.
6. Việc áp dụng các biện pháp,
huy động nguồn lực trong phòng thủ dân sự phải kịp thời, hợp lý, khả thi, hiệu
quả, tránh lãng phí và phù hợp với đối tượng, cấp độ phòng thủ dân sự theo quy
định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
7. Hoạt động phòng thủ dân sự
phải bảo đảm tính nhân đạo, công bằng, minh bạch, bình đẳng giới và ưu tiên đối
tượng dễ bị tổn thương.
Điều 4. Áp
dụng Luật Phòng thủ dân sự và pháp luật có liên quan
1. Hoạt động phòng thủ dân sự
trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện theo quy định của Luật Phòng thủ dân sự và quy
định của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp luật khác ban
hành trước ngày Luật Phòng thủ dân sự có hiệu lực thi hành có quy định khác về
hoạt động phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa mà không trái với
nguyên tắc của Luật này thì thực hiện theo quy định của luật đó.
3. Trường hợp luật khác ban
hành sau ngày Luật Phòng thủ dân sự có hiệu lực thi hành cần quy định đặc thù về
phòng thủ dân sự khác với quy định của Luật Phòng thủ dân sự thì phải xác định
cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật Phòng thủ
dân sự, nội dung thực hiện theo quy định của luật khác đó.
Điều 5.
Chính sách của Nhà nước về phòng thủ dân sự
1. Ưu tiên đầu tư xây dựng công
trình phòng thủ dân sự chuyên dụng theo quy hoạch, kế hoạch; mua sắm trang thiết
bị phòng thủ dân sự.
2. Nâng cao năng lực cho lực lượng
phòng thủ dân sự, xây dựng lực lượng chuyên trách về tổ chức và trang bị hiện đại,
chuyên nghiệp; tăng cường trang bị, phương tiện lưỡng dụng cho lực lượng vũ
trang.
3. Huy động các nguồn lực của
cơ quan, tổ chức, cá nhân để thực hiện hoạt động phòng thủ dân sự.
4. Phát triển, nghiên cứu, chuyển
giao, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và hiện đại vào hoạt
động phòng thủ dân sự.
5. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực, ưu tiên thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để bảo đảm cho hoạt động
phòng thủ dân sự.
6. Khuyến khích, tạo điều kiện
để cơ quan, tổ chức, cá nhân ủng hộ vật chất, tài chính, tinh thần cho hoạt động
phòng thủ dân sự trên nguyên tắc tự nguyện, không trái với pháp luật Việt Nam
và phù hợp với luật pháp quốc tế.
7. Bảo đảm dự trữ quốc gia cho
hoạt động phòng thủ dân sự.
Điều 6.
Thông tin về sự cố, thảm họa
1. Thông tin về nguy cơ và diễn
biến của sự cố, thảm họa phải kịp thời, chính xác, được truyền tải bằng ngôn ngữ
tiếng Việt và ngôn ngữ khác phù hợp với từng loại đối tượng, nhất là đối tượng
dễ bị tổn thương. Trường hợp cần thiết được truyền tải bằng tiếng dân tộc thiểu
số và tiếng nước ngoài.
2. Thông tin cơ bản về sự cố,
thảm họa bao gồm loại sự cố, thảm họa; thời gian, địa điểm, cường độ, cấp độ, mức
độ nguy hiểm của sự cố, thảm họa; dự kiến khu vực ảnh hưởng, dự báo diễn biến của
sự cố, thảm họa, cảnh báo và khuyến cáo các biện pháp ứng phó.
3. Chính phủ quy định việc sử dụng
chung 01 số điện thoại để tiếp nhận thông tin về sự cố, thảm họa trên phạm vi
toàn quốc.
Điều 7. Cấp
độ phòng thủ dân sự
1. Cấp độ phòng thủ dân sự là sự
phân định mức độ áp dụng các biện pháp của các cấp chính quyền trong phạm vi quản
lý để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, làm cơ sở xác định trách nhiệm,
biện pháp, nguồn lực của các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
phòng thủ dân sự.
2. Căn cứ xác định cấp độ phòng
thủ dân sự bao gồm:
a) Phạm vi ảnh hưởng, khả năng
lan rộng và hậu quả có thể xảy ra của sự cố, thảm hoạ;
b) Vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, xã hội, dân cư, đặc điểm tình hình quốc phòng, an ninh của địa bàn chịu ảnh
hưởng của sự cố, thảm họa;
c) Diễn biến, mức độ gây thiệt
hại và thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra;
d) Khả năng ứng phó, khắc phục
hậu quả sự cố, thảm họa của chính quyền địa phương và lực lượng phòng thủ dân sự.
3. Cấp độ phòng thủ dân sự được
quy định như sau:
a)[2] Phòng thủ dân sự cấp độ 1 được áp dụng để ứng phó, khắc
phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi địa bàn cấp xã khi diễn biến, mức độ
thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu
quả của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp
xã;
b)[3] Phòng thủ dân sự cấp độ 2 được áp dụng để ứng phó, khắc
phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh khi diễn biến, mức
độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục
hậu quả của chính quyền địa phương cấp xã;
c) Phòng thủ dân sự cấp độ 3 được
áp dụng để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trên địa bàn một hoặc một
số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự
cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính
quyền địa phương cấp tỉnh.
Điều 8.
Khoa học và công nghệ trong phòng thủ dân sự
1. Nghiên cứu, chuyển giao, ứng
dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và hiện đại để đầu tư, xây dựng
các công trình phòng thủ dân sự, công trình dân sinh và trang thiết bị phòng thủ
dân sự đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
2. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học,
công nghệ để dự báo, cảnh báo sự cố, thảm họa, thực hiện các biện pháp phù hợp
nhằm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
3. Nghiên cứu, ứng dụng công
nghệ dữ liệu trong quản lý, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu phục vụ phòng
ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
Điều 9. Hợp
tác quốc tế trong phòng thủ dân sự
1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế
trong phòng thủ dân sự bao gồm:
a) Bảo đảm tôn trọng độc lập,
chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận quốc tế
có liên quan;
b) Tạo điều kiện cho tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức quốc
tế hợp tác trong phòng thủ dân sự;
c) Mở rộng, phát triển đào tạo,
nghiên cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ; phối hợp tìm kiếm, cứu nạn;
đầu tư, xây dựng công trình phòng thủ dân sự.
2. Nội dung hợp tác quốc tế
trong phòng thủ dân sự bao gồm:
a) Trao đổi thông tin, dự báo,
cảnh báo sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh;
b) Tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ
nhân đạo;
c) Hỗ trợ ứng phó, khắc phục hậu
quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh;
d) Đào tạo, huấn luyện, diễn tập,
đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ, xây dựng công
trình phòng thủ dân sự.
Điều 10.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng thủ dân sự
1. Chống đối, cản trở, cố ý trì
hoãn hoặc không chấp hành sự chỉ đạo, chỉ huy phòng thủ dân sự của cơ quan hoặc
người có thẩm quyền; từ chối tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong trường hợp điều
kiện thực tế cho phép.
2. Làm hư hỏng, phá hủy, chiếm
đoạt trang thiết bị, công trình phòng thủ dân sự.
3. Gây ra sự cố, thảm họa làm tổn
hại đến tính mạng, sức khỏe con người; thiệt hại tài sản của Nhà nước, Nhân
dân, cơ quan, tổ chức, môi trường và nền kinh tế quốc dân.
4. Đưa tin sai sự thật về sự cố,
thảm họa.
5. Cố ý tạo chướng ngại vật cản
trở hoạt động phòng thủ dân sự.
6. Xây dựng công trình làm giảm
hoặc làm mất công năng của công trình phòng thủ dân sự; xây dựng trái phép công
trình trong phạm vi quy hoạch công trình phòng thủ dân sự, công trình phòng thủ
dân sự hiện có.
7. Sử dụng trang thiết bị phòng
thủ dân sự chuyên dụng không đúng mục đích; khai thác, sử dụng không đúng công
năng của công trình phòng thủ dân sự chuyên dụng.
8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
làm trái quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự; bao che cho người có hành
vi vi phạm pháp luật về phòng thủ dân sự; lợi dụng sự cố, thảm họa để huy động,
sử dụng nguồn lực cho phòng thủ dân sự không đúng mục đích.
9. Lợi dụng hoạt động phòng thủ
dân sự hoặc sự cố, thảm họa để xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Chương II
HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ DÂN
SỰ
Mục 1. HOẠT
ĐỘNG PHÒNG NGỪA
Điều 11.
Xây dựng Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự
1. Chiến lược quốc gia phòng thủ
dân sự được xây dựng theo chu kỳ 10 năm, tầm nhìn 20 năm và được cập nhật, điều
chỉnh định kỳ 05 năm hoặc khi xảy ra sự cố, thảm họa, chiến tranh.
2. Cơ sở xây dựng Chiến lược quốc
gia phòng thủ dân sự bao gồm:
a) Chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng thủ dân sự, phòng thủ đất nước và
phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; điều ước quốc
tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Thực tiễn hoạt động phòng thủ
dân sự của quốc gia; kinh nghiệm quốc tế về hoạt động phòng thủ dân sự;
c) Kết quả xác định, đánh giá,
phân vùng có nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa;
d) Nguồn lực cho hoạt động
phòng thủ dân sự.
3. Nội dung Chiến lược quốc gia
phòng thủ dân sự bao gồm quan điểm, mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp,
chương trình, đề án, dự án trọng điểm và việc tổ chức thực hiện phòng thủ dân sự
trong phạm vi cả nước.
4. Thủ tướng Chính phủ ban hành
Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự.
Điều 12.
Xây dựng kế hoạch phòng thủ dân sự
1. Kế hoạch phòng thủ dân sự
các cấp được xây dựng theo chu kỳ 05 năm và được điều chỉnh khi cần thiết.
2. Nội dung kế hoạch phòng thủ
dân sự bao gồm:
a) Đánh giá đặc điểm dân sinh,
kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường, tình hình phát triển của các
ngành kinh tế và cơ sở hạ tầng;
b) Dự báo các tình huống sự cố,
thảm họa có thể xảy ra;
c) Xác định các biện pháp có thể
được áp dụng tương ứng với từng cấp độ phòng thủ dân sự;
d) Xác định nội dung phòng thủ
dân sự cần lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước, địa phương;
đ) Xác định nguồn lực, tiến độ
hằng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch phòng thủ dân sự;
e) Xác định trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
3. Việc xây dựng, ban hành, điều
chỉnh Kế hoạch phòng thủ dân sự quốc gia được quy định như sau:
a) Căn cứ quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự, kế hoạch phòng
thủ đất nước và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ, ngành
trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương xây dựng Kế hoạch phòng thủ dân sự quốc
gia trình Thủ tướng Chính phủ ban hành;
b) Khi có yêu cầu đột xuất, cấp
bách, vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Bộ Quốc phòng phối hợp với
Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương có liên quan điều chỉnh Kế
hoạch phòng thủ dân sự quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.
4. Căn cứ kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự, Kế hoạch phòng thủ dân
sự quốc gia, cơ quan chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, ngành trung ương, cơ quan
ngang Bộ chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng, điều chỉnh kế
hoạch phòng thủ dân sự của Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ trình Bộ trưởng,
Trưởng ngành trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành.
5. Căn cứ kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự, Kế hoạch
phòng thủ dân sự quốc gia, kế hoạch phòng thủ dân sự cấp trên, cơ quan chỉ huy
phòng thủ dân sự địa phương các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên
quan xây dựng, điều chỉnh kế hoạch phòng thủ dân sự của cấp mình trình Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành.
Điều 13.
Công trình phòng thủ dân sự
1. Công trình phòng thủ dân sự
là công trình được sử dụng cho mục đích phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả
sự cố, thảm họa.
2. Công trình phòng thủ dân sự
bao gồm:
a) Công trình phòng thủ dân sự
chuyên dụng;
b) Công trình khác có công năng
sử dụng cho phòng thủ dân sự.
3. Việc xây dựng công trình
phòng thủ dân sự chuyên dụng phải theo quy hoạch, kế hoạch, gắn với thế trận
quân sự trong khu vực phòng thủ, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội và tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan.
4. Nhà nước có chính sách khuyến
khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình, hạ tầng kỹ
thuật có công năng sử dụng cho phòng thủ dân sự.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 14.
Trang thiết bị phòng thủ dân sự
1. Trang thiết bị phòng thủ dân
sự bao gồm các loại phương tiện, thiết bị, vật tư bảo đảm cho hoạt động phòng
thủ dân sự.
2. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối
hợp với Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương trình Thủ tướng
Chính phủ ban hành danh mục trang thiết bị phòng thủ dân sự; hướng dẫn việc sản
xuất, dự trữ, sử dụng trang thiết bị phòng thủ dân sự.
3. Bộ, ngành trung ương, cơ
quan ngang Bộ, địa phương thực hiện việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị phòng
thủ dân sự theo kế hoạch phòng thủ dân sự các cấp.
Điều 15.
Hoạt động theo dõi, giám sát nguy cơ về sự cố, thảm họa
1. Điều tra, khảo sát, quan trắc,
cập nhật, tổng hợp, xử lý thông tin và dự báo về nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa.
2. Nghiên cứu, phân tích các loại
sự cố, thảm họa có thể xảy ra trên địa bàn; lập bản đồ phân vùng rủi ro để theo
dõi, giám sát.
3. Xây dựng cơ sở dữ liệu, cập
nhật, liên thông và bảo đảm thông tin cho chính quyền các cấp và Nhân dân.
Điều 16.
Tuyên truyền, giáo dục về phòng thủ dân sự
1. Công dân được tuyên truyền,
phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
phòng thủ dân sự; trang bị kiến thức về phòng thủ dân sự theo quy định của pháp
luật.
2. Nội dung giáo dục, bồi dưỡng
kiến thức về phòng thủ dân sự được đưa vào môn học giáo dục quốc phòng và an
ninh trong nhà trường, chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
theo quy định của Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Cơ quan, tổ chức, căn cứ chức
năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức tuyên truyền, ứng dụng khoa học và công nghệ để
nâng cao nhận thức về phòng thủ dân sự.
Điều 17.
Đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, diễn tập phòng thủ dân sự
1. Đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng
phòng thủ dân sự được quy định như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ
trưởng Bộ Công an ban hành nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện phòng thủ
dân sự cho lực lượng vũ trang;
b) Bộ trưởng các Bộ có lực lượng
chuyên trách về phòng thủ dân sự xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, huấn
luyện phòng thủ dân sự cho lực lượng do Bộ mình quản lý;
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ
đạo công tác huấn luyện, bồi dưỡng cho lực lượng phòng thủ dân sự tại địa
phương.
2. Diễn tập phòng thủ dân sự được
quy định như sau:
a) Cơ quan quân sự các cấp tham
mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ có nội dung
phòng thủ dân sự;
b) Các Bộ chỉ đạo cơ quan, đơn
vị trực thuộc phối hợp với các địa phương trên địa bàn thực hiện diễn tập phòng
thủ dân sự theo kế hoạch của địa phương.
Mục 2. HOẠT
ĐỘNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ KHI CÓ NGUY CƠ XẢY RA SỰ CỐ, THẢM HỌA
Điều 18.
Biện pháp được áp dụng khi có nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa
Khi có nguy cơ xảy ra sự cố, thảm
họa, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được áp dụng biện pháp quy định tại các
luật khác có liên quan và biện pháp sau đây:
1. Hướng dẫn và thực hiện sơ
tán người, tài sản đến khu vực an toàn; bảo đảm phương tiện, trang bị bảo vệ cá
nhân, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm thiết yếu
khác cho người tại địa điểm sơ tán;
2. Đặt biển báo hiệu, trạm gác
và hạn chế người, phương tiện vào khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa;
3. Ưu tiên, tạo điều kiện thuận
lợi cho lực lượng chuyên trách tiếp cận hiện trường để kịp thời tiến hành các
biện pháp ứng phó với sự cố, thảm họa;
4. Tạm dừng một số hoạt động có
thể làm tăng nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa hoặc giảm hiệu quả các biện pháp ứng
phó với sự cố, thảm họa;
5. Chuẩn bị lực lượng, trang
thiết bị sẵn sàng ứng phó sự cố, thảm họa.
Điều 19.
Chuẩn bị lực lượng, trang thiết bị
Công tác chuẩn bị lực lượng,
trang thiết bị bao gồm:
1. Rà soát, điều chỉnh kế hoạch,
xây dựng phương án huy động lực lượng, phương tiện để ứng phó với sự cố, thảm
hoạ;
2. Kiểm tra trang thiết bị hiện
có; bổ sung trang thiết bị cho các khu vực trọng yếu;
3. Rà soát, chuẩn bị vật chất đảm
bảo, địa điểm tập kết, tránh trú cho người dân;
4. Tăng cường bảo đảm thông tin
liên lạc cho các lực lượng ở khu vực có nguy cơ cao xảy ra sự cố, thảm họa; chuẩn
bị tiếp nhận nhân lực, cơ sở hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin tại khu
vực có nguy cơ cao xảy ra sự cố, thảm họa;
5. Tăng cường lực lượng trực,
triển khai trước một bộ phận ở khu vực có nguy cơ cao xảy ra sự cố, thảm họa để
sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
Mục 3. HOẠT
ĐỘNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ KHI XẢY RA SỰ CỐ, THẢM HỌA
Điều 20.
Thẩm quyền ban bố, bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự
1. Căn cứ quy định tại Điều 7 của Luật này, thẩm quyền ban bố, bãi bỏ cấp độ phòng thủ
dân sự được quy định như sau:
a)[4] Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban bố, bãi bỏ phòng thủ
dân sự cấp độ 1 trên địa bàn quản lý;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ban bố, bãi bỏ phòng thủ dân sự cấp độ 2 trên địa bàn quản lý;
c) Thủ tướng Chính phủ ban bố,
bãi bỏ phòng thủ dân sự cấp độ 3.
2. Chính phủ quy định chi tiết
trình tự, thủ tục ban bố, bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 21.
Thẩm quyền điều động, huy động lực lượng, trang thiết bị, tài sản
1. Bộ trưởng, Trưởng ngành
trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định điều
động, huy động lực lượng, trang thiết bị, tài sản theo quy định của pháp luật để
ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các
cấp quyết định điều động, huy động lực lượng, trang thiết bị, tài sản của các
cơ quan, tổ chức và người dân trên địa bàn quản lý theo quy định của pháp luật
để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
3. Trang thiết bị, tài sản được
huy động để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa phải được hoàn trả ngay
sau khi kết thúc nhiệm vụ; trường hợp bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy
định của pháp luật.
4. Trong trường hợp cấp thiết,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi xảy ra sự cố, thảm họa đề nghị tổ chức, cá
nhân nước ngoài trên địa bàn quản lý hỗ trợ, giúp đỡ để ứng phó, khắc phục hậu
quả sự cố, thảm họa.
Điều 22. Biện
pháp được áp dụng trong phòng thủ dân sự cấp độ 1
1. Biện pháp được áp dụng trong
phòng thủ dân sự cấp độ 1 bao gồm:
a) Sơ tán người, tài sản ra khỏi
khu vực nguy hiểm;
b) Bảo đảm phương tiện, trang bị
bảo vệ cá nhân, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm
thiết yếu khác cho người trong khu vực xảy ra sự cố, thảm họa;
c) Cấm, hạn chế người, phương
tiện vào những khu vực nguy hiểm;
d) Phòng, chống cháy, nổ; bảo đảm
an ninh, trật tự tại khu vực xảy ra sự cố, thảm họa;
đ) Tiêu tẩy, khử độc, khử khuẩn,
vệ sinh môi trường;
e) Bảo vệ công trình phòng thủ
dân sự.
2.[5] Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng biện
pháp phòng thủ dân sự quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 23.
Biện pháp được áp dụng trong phòng thủ dân sự cấp độ 2
1. Biện pháp được áp dụng trong
phòng thủ dân sự cấp độ 2 bao gồm:
a) Các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này;
b) Cách ly, giãn cách xã hội
phù hợp với mức độ của sự cố, thảm họa trên địa bàn;
c) Chuyển đổi hình thức hoặc tạm
dừng hoạt động của trường học; tạm dừng hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
không thiết yếu;
d) Hạn chế hoặc tạm dừng tổ chức
lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, sự
kiện và hoạt động khác có tập trung đông người;
đ) Kiểm tra, kiểm soát hoạt động
giao thông tại khu vực xảy ra sự cố, thảm họa;
e) Áp dụng các biện pháp bảo đảm[6] an ninh mạng theo quy định của
pháp luật.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định áp dụng biện pháp phòng thủ dân sự quy định tại khoản 1 Điều
này.
Điều 24.
Biện pháp được áp dụng trong phòng thủ dân sự cấp độ 3
1. Biện pháp được áp dụng trong
phòng thủ dân sự cấp độ 3 bao gồm:
a) Các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này;
b) Cách ly tập trung, giãn cách
xã hội phù hợp với mức độ của sự cố, thảm họa trên địa bàn;
c) Tạm dừng hoạt động của trường
học;
d) Tạm dừng tổ chức lễ hội,
nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, sự kiện và
hoạt động khác có tập trung đông người;
đ) Hạn chế hoặc tạm dừng việc
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh nếu thấy cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng;
e) Hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động
giao thông, vận tải ra, vào địa bàn xảy ra sự cố, thảm họa, trừ trường hợp vì
lý do công vụ;
g) Tạm dừng giải quyết thủ tục
hành chính trực tiếp; áp dụng giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến.
2. Thủ tướng Chính phủ quyết định
áp dụng biện pháp phòng thủ dân sự quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 25.
Biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp
1. Biện pháp phòng thủ dân sự
được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này;
b) Giãn cách xã hội; cách ly tập
trung người đi và đến từ khu vực xảy ra thảm họa;
c) Hỗ trợ an sinh xã hội tại
khu vực cách ly, khu vực bị chia cắt, khu vực xảy ra thảm họa;
d) Ổn định tâm lý của người dân
trong khu vực xảy ra thảm họa;
đ) Dừng hoạt động của cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ ở khu vực xảy ra thảm họa.
2. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ
tình hình thực tế quyết định áp dụng biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và
quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
3. Người chỉ huy đơn vị quân đội
được giao quản lý địa phương thiết quân luật, căn cứ tình hình thực tế quyết định
áp dụng biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này, quy định của pháp luật về tình
trạng khẩn cấp và quy định của pháp luật về thiết quân luật.
Điều 26.
Biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng chiến tranh
1. Biện pháp phòng thủ dân sự
được áp dụng trong tình trạng chiến tranh bao gồm:
a) Triển khai hệ thống đài quan
sát, thông báo, báo động và cảnh báo;
b) Tổ chức sơ tán người, tài sản;
c) Cất giấu trang thiết bị vào
các công trình ngầm, hang, động;
d) Dự trữ lương thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh và nước uống;
đ) Xây dựng bổ sung hầm ẩn nấp,
công trình ngầm, công trình phòng, tránh kết hợp với ngụy trang, nghi binh; triển
khai mục tiêu giả, hạn chế ánh sáng, tiếng động vào ban đêm;
e) Khắc phục, vô hiệu hóa vũ
khí hủy diệt hàng loạt.
2. Căn cứ tình hình thực tế,
người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp quy định tại khoản
1 Điều 22, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24 và khoản 1 Điều 25 của Luật này,
biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và quy định của pháp luật về tình trạng
chiến tranh.
Mục 4. HOẠT
ĐỘNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ SỰ CỐ, THẢM HỌA
Điều 27.
Biện pháp khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa
1. Tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; điều
trị người bị thương, nhiễm độc, nhiễm xạ.
2. Cứu trợ, hỗ trợ khắc phục
thiệt hại; khắc phục, sửa chữa cơ sở hạ tầng công cộng thiết yếu.
3. Khắc phục hậu quả ô nhiễm môi
trường, phòng, chống dịch bệnh.
4. Thống kê, đánh giá thiệt hại.
5. Huy động, vận động đóng góp
tự nguyện và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ.
6. Ban hành, thực hiện chính
sách, biện pháp hỗ trợ đặc biệt về an sinh xã hội, lao động, việc làm, thuế, tài
chính, thủ tục hành chính, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xuất cảnh, nhập
cảnh và các lĩnh vực cần thiết khác.
Điều 28.
Thống kê, đánh giá thiệt hại
1. Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Trưởng ngành, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ thống kê, đánh giá thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra trong
phạm vi lĩnh vực quản lý, gửi Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để tổng hợp,
báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
địa phương các cấp thống kê, đánh giá thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra trên
địa bàn quản lý, báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan phòng thủ dân sự cấp
trên.
3. Ủy ban nhân dân các cấp thống
kê, đánh giá thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra trên địa bàn quản lý và báo
cáo Ủy ban nhân dân cấp trên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống kê, đánh giá thiệt
hại do sự cố, thảm họa gây ra tại địa phương, gửi Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 29. Cứu
trợ, hỗ trợ khắc phục thiệt hại
Ủy ban nhân dân các cấp, căn cứ
vào thống kê, đánh giá thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra tại địa phương, xác
định đối tượng cụ thể cần cứu trợ, hỗ trợ và nguồn lực để thực hiện hoạt động
sau đây:
1. Xây dựng kế hoạch cứu trợ, hỗ
trợ khắc phục thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra;
2. Hỗ trợ về an sinh xã hội,
lao động, việc làm;
3. Ổn định đời sống Nhân dân,
khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác của xã
hội;
4. Hỗ trợ, khắc phục hậu quả ô
nhiễm môi trường do sự cố, thảm họa gây ra;
5. Thực hiện các hoạt động khác
theo quy định của pháp luật.
Điều 30.
Huy động, vận động đóng góp tự nguyện và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ
1. Nguyên tắc huy động, vận động
đóng góp tự nguyện và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ để khắc phục thiệt hại
do sự cố, thảm họa được quy định như sau:
a) Tuân theo quy định của pháp
luật;
b) Căn cứ vào mức độ thiệt hại
xảy ra;
c) Bảo đảm công bằng, công
khai, kịp thời, đúng đối tượng;
d) Phối hợp với chính quyền địa
phương hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nơi có đối tượng được cứu trợ, hỗ
trợ;
đ) Đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
người dân bị ảnh hưởng do sự cố, thảm họa gây ra; ưu tiên đối tượng dễ bị tổn
thương.
2. Việc huy động, vận động đóng
góp tự nguyện và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:
a) Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,
Trưởng ngành trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các cấp huy động nguồn lực theo thẩm quyền để phục vụ công tác cứu trợ khẩn cấp
và hỗ trợ theo quy định của pháp luật;
b) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ
chức xã hội khác vận động đóng góp tự nguyện và phân bổ nguồn lực để cứu trợ, hỗ
trợ khẩn cấp theo quy định của pháp luật;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân vận
động đóng góp tự nguyện phải thực hiện theo quy định của pháp luật; phối hợp với
Ủy ban nhân dân hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nơi được hỗ trợ để thực
hiện cứu trợ, hỗ trợ cho các đối tượng bị thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra.
3. Chính phủ quy định chi tiết
khoản 2 Điều này.
Chương
III
CHỈ ĐẠO, CHỈ HUY LỰC LƯỢNG
PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Điều 31.
Hoạt động chỉ đạo phòng thủ dân sự
1. Theo dõi, giám sát nguy cơ xảy
ra sự cố, thảm hoạ; nắm chắc diễn biến tình hình; thông báo cho các lực lượng,
người dân tin tức có liên quan.
2. Xác định cấp độ và áp dụng
biện pháp phòng thủ dân sự phù hợp.
3. Chuẩn bị phương án ứng phó;
tổ chức kiểm tra địa bàn có nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa.
4. Bổ sung lực lượng, sẵn sàng
triển khai sở chỉ huy tại chỗ, chỉ đạo trực tiếp khu vực trọng yếu, địa bàn trọng
điểm.
5. Kiểm tra địa điểm sơ tán, tập
kết để sẵn sàng sử dụng khi chuyển lên cấp độ phòng thủ dân sự cao hơn.
Điều 32.
Thẩm quyền chỉ đạo phòng thủ dân sự
1. Chính phủ chỉ đạo phòng thủ
dân sự trên phạm vi cả nước.
2. Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ
chỉ đạo về phòng thủ dân sự.
3. Các Bộ, ngành trung ương, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai
thực hiện phòng thủ dân sự trong lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật.
4. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ
đạo và tổ chức triển khai thực hiện phòng thủ dân sự tại địa phương theo quy định
của pháp luật.
Điều 33.
Chỉ huy lực lượng phòng thủ dân sự
1. Việc chỉ huy các lực lượng
phòng thủ dân sự của Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương do Bộ
trưởng, Trưởng ngành trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp quyết định.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã chỉ huy các lực lượng, phương tiện trên địa bàn để ứng phó kịp thời ngay khi
sự cố, thảm họa xảy ra trên địa bàn quản lý.
3. Việc chỉ huy trong các cấp độ
phòng thủ dân sự được quy định như sau:
a)[7] Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ huy các lực lượng,
phương tiện trên địa bàn để thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự cấp độ 1
quy định tại Điều 22 của Luật này và biện pháp khác theo quy
định của pháp luật có liên quan;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh chỉ huy các lực lượng, phương tiện trên địa bàn để thực hiện các biện pháp
phòng thủ dân sự cấp độ 2 quy định tại Điều 23 của Luật này
và biện pháp khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
c) Thủ tướng Chính phủ chỉ huy
lực lượng, phương tiện của Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương để
thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự cấp độ 3 quy định tại Điều
24 của Luật này và biện pháp khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
d) Trong trường hợp vượt quá khả
năng ứng phó, khắc phục của các lực lượng, phương tiện trên địa bàn, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp dưới phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và Thủ
tướng Chính phủ.
4.[8] Người đứng đầu cơ quan chuyên môn ở địa phương theo chỉ đạo
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã chỉ huy lực lượng thuộc phạm vi quản lý thực
hiện phòng thủ dân sự trong lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật.
5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ
trì, phối hợp với Bộ trưởng, Trưởng ngành trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan chỉ huy các đơn vị thuộc quyền
thực hiện phòng thủ dân sự ở khu vực quân đội quản lý và trên các vùng biển Việt
Nam không thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
6. Người chỉ huy đơn vị quân đội,
công an điều động và chỉ huy lực lượng thuộc quyền tham gia, phối hợp thực hiện
hoạt động phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật.
Điều 34.
Cơ quan chỉ đạo quốc gia, cơ quan chỉ huy phòng thủ dân sự
1. Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia là tổ chức phối hợp liên ngành có chức năng tham mưu cho Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trong phạm
vi cả nước. Tổ chức lại Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban chỉ đạo quốc
gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và
Tìm kiếm Cứu nạn thành Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia.
2. Bộ Quốc phòng là cơ quan thường
trực của Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. Thành viên Ban chỉ đạo Phòng thủ
dân sự quốc gia có trách nhiệm chủ trì tham mưu cho Ban chỉ đạo trong tổ chức,
chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trong lĩnh vực quản lý theo quy định của
pháp luật.
3. Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
được thành lập ở Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, có chức năng tham mưu
cho Bộ trưởng, Trưởng ngành trung ương, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong tổ chức,
chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trong lĩnh vực quản lý.
4.[9] Ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương được thành lập ở
cấp xã và cấp tỉnh, có chức năng tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp
trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý. Cơ
quan quân sự các cấp là cơ quan thường trực của Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
cùng cấp. Thành viên Ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương có trách nhiệm
tham mưu cho Ban chỉ huy trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự
thuộc lĩnh vực được phân công.
Cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ
Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy quân sự cấp
tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tham mưu cho Cơ quan thường trực Ban
chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh chỉ đạo, điều hành hoạt động phòng thủ dân sự
trên địa bàn.
5. Chính phủ quy định cụ thể việc
thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Ban chỉ đạo Phòng
thủ dân sự quốc gia, ban chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, ngành trung ương, cơ quan
ngang Bộ, ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương.
Điều 35. Lực
lượng phòng thủ dân sự
1. Lực lượng phòng thủ dân sự
bao gồm lực lượng nòng cốt và lực lượng rộng rãi.
2. Lực lượng nòng cốt bao gồm:
a) Dân quân tự vệ, dân phòng;
b) Lực lượng chuyên trách, kiêm
nhiệm của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và của Bộ, ngành trung ương, cơ
quan ngang Bộ, địa phương.
3. Lực lượng rộng rãi do toàn
dân tham gia.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Chương IV
QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CƠ
QUAN, TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Điều 36.
Quyền và nghĩa vụ của cá nhân
1. Cá nhân có các quyền sau
đây:
a) Tiếp cận thông tin về phòng
thủ dân sự theo quy định của pháp luật;
b) Được cứu trợ, hỗ trợ khi bị
thiệt hại do sự cố, thảm họa theo quy định của pháp luật;
c) Được hưởng tiền công lao động
khi tham gia hoạt động phòng thủ dân sự theo quyết định huy động của người có
thẩm quyền;
d) Được hoàn trả trang thiết bị,
tài sản đã huy động ngay sau khi kết thúc việc ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố,
thảm họa; trường hợp trang thiết bị, tài sản đã huy động bị thiệt hại hoặc tiêu
hao thì được bồi thường, thanh toán theo quy định của pháp luật;
đ) Khi tham gia hoạt động ứng
phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa nếu bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm thì
được khôi phục; nếu bị thương tích, tổn hại sức khỏe, tính mạng thì được xem
xét, hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại khoản 3 Điều 41
của Luật này.
2. Cá nhân có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Thực hiện các biện pháp
phòng thủ dân sự theo kế hoạch phòng thủ dân sự của địa phương;
b) Tham gia hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng, huấn luyện, diễn tập phòng thủ dân sự khi có yêu cầu của cơ quan có
thẩm quyền; tham gia hoạt động phòng thủ dân sự khi được huy động;
c) Chuẩn bị sẵn sàng vật tư,
phương tiện theo khả năng để đảm bảo an toàn trước sự cố, thảm họa;
d) Chủ động ứng phó, khắc phục
hậu quả nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân và gia đình khi sự cố, thảm họa xảy
ra; tham gia hỗ trợ cộng đồng phòng, chống sự cố, thảm họa; giúp đỡ người bị
thiệt hại do sự cố, thảm họa tại địa phương; thực hiện vệ sinh môi trường,
phòng, chống dịch bệnh trong khu vực sinh sống và làm việc;
đ) Chấp hành hướng dẫn, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền về sơ tán người, phương tiện ra, vào khu vực
nguy hiểm; chấp hành quyết định huy động nhân lực, trang thiết bị, tài sản để
phục vụ hoạt động ứng phó khẩn cấp của người có thẩm quyền;
e) Thông báo, cung cấp thông
tin kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về diễn biến, thiệt hại do sự cố, thảm họa
gây ra khi có điều kiện thực hiện.
Điều 37. Quyền
và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức
1. Cơ quan, tổ chức có các quyền
sau đây:
a) Tiếp cận thông tin về phòng
thủ dân sự theo quy định của pháp luật;
b) Tham gia hoạt động phòng thủ
dân sự tại địa phương;
c) Được cứu trợ, hỗ trợ khi bị
thiệt hại do sự cố, thảm họa theo quy định của pháp luật;
d) Được hoàn trả trang thiết bị,
tài sản đã huy động ngay sau khi kết thúc việc ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố,
thảm họa; trường hợp trang thiết bị, tài sản đã huy động bị thiệt hại hoặc tiêu
hao thì được bồi thường, thanh toán theo quy định của pháp luật;
đ) Tham gia, phối hợp thông
tin, truyền thông, giáo dục về phòng thủ dân sự.
2. Cơ quan, tổ chức có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Tuyên truyền, vận động người
lao động, thành viên trong cơ quan, tổ chức mình, người dân chấp hành quy định
của pháp luật về phòng thủ dân sự;
b) Chủ động xây dựng, bảo vệ
công trình, cơ sở vật chất thuộc phạm vi quản lý để đảm bảo an toàn trước sự cố,
thảm họa;
c) Xây dựng và tổ chức thực hiện
phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa;
d) Chấp hành quyết định huy động
nhân lực, trang thiết bị, nhu yếu phẩm của người có thẩm quyền để phục vụ hoạt
động phòng thủ dân sự;
đ) Chủ động thực hiện vệ sinh
môi trường, phòng, chống dịch bệnh trong phạm vi quản lý;
e) Chủ động khắc phục hậu quả,
bồi thường thiệt hại khi để xảy ra sự cố, thảm họa trong quá trình sản xuất,
kinh doanh.
Điều 38.
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế
1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài,
tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa tại
Việt Nam có các quyền sau đây:
a) Được miễn thuế, lệ phí về nhập
khẩu, xuất khẩu đối với trang thiết bị, hàng hóa phục vụ hoạt động cứu trợ khẩn
cấp, tìm kiếm, cứu nạn theo quy định của pháp luật về thuế, lệ phí;
b) Được ưu tiên thủ tục nhập cảnh,
xuất cảnh, cư trú cho lực lượng; nhập khẩu, xuất khẩu đối với trang thiết bị,
hàng hóa phục vụ hoạt động cứu trợ, tìm kiếm, cứu nạn theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài,
tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa tại
Việt Nam có các nghĩa vụ sau đây:
a) Đăng ký hoạt động với cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam;
b) Hoạt động đúng mục đích đã
đăng ký, tuân thủ pháp luật Việt Nam.
3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài,
tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục
hậu quả sự cố, thảm họa có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều
36, Điều 37, khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Chương V
NGUỒN LỰC CHO PHÒNG THỦ
DÂN SỰ, CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Điều 39.
Nguồn lực cho phòng thủ dân sự
1. Nguồn tài chính cho phòng thủ
dân sự bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Nguồn đóng góp tự nguyện của
tổ chức, cá nhân;
c) Quỹ phòng thủ dân sự;
d) Nguồn tài chính khác theo
quy định của pháp luật.
2. Nhà nước bảo đảm ngân sách
cho phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; ưu tiên
bố trí ngân sách nhà nước ở khu vực biên giới, biển, hải đảo, khu vực trọng yếu,
địa bàn trọng điểm.
3. Tài sản phục vụ phòng thủ
dân sự do Nhà nước thống nhất quản lý bao gồm:
a) Tài sản công tại cơ quan, tổ
chức, địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của pháp luật về quản
lý, sử dụng tài sản công, đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Tài sản trưng mua, trưng dụng,
huy động và tài sản khác được Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức, địa
phương, đơn vị lực lượng vũ trang quản lý phục vụ phòng thủ dân sự theo quy định
của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
4. Nhà nước có kế hoạch xây dựng
dự trữ quốc gia để bảo đảm cho phòng thủ dân sự. Việc quản lý, sử dụng dự trữ
quốc gia để bảo đảm cho phòng thủ dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật
về dự trữ quốc gia.
Điều 40.
Quỹ phòng thủ dân sự
1. Quỹ phòng thủ dân sự là quỹ
tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở trung ương và cấp tỉnh để
huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ hoạt động phòng thủ dân sự. Quỹ phòng thủ dân
sự được ưu tiên thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Cứu trợ khẩn cấp về lương thực,
nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu yếu phẩm thiết yếu khác cho đối tượng bị
thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra;
b) Hỗ trợ tu sửa, làm nhà ở, cơ
sở y tế, trường học tại địa điểm bị ảnh hưởng do sự cố, thảm họa gây ra.
2. Quỹ phòng thủ dân sự được
hình thành từ các nguồn tài chính sau đây:
a) Đóng góp tự nguyện của các tổ
chức, cá nhân trong nước, ngoài nước;
b) Nguồn điều tiết từ các quỹ
tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục
hậu quả sự cố, thảm họa.
3. Nguyên tắc hoạt động của quỹ
phòng thủ dân sự được quy định như sau:
a) Không vì mục đích lợi nhuận;
b) Quản lý, sử dụng đúng mục
đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch;
c) Hỗ trợ cho các hoạt động
phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu;
d) Việc điều tiết giữa quỹ
phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến
hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa được thực hiện trong trường
hợp cấp bách.
4. Chính phủ quy định chi tiết
việc thành lập, quản lý, sử dụng quỹ phòng thủ dân sự; việc điều tiết giữa quỹ
phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến
hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
Điều 41.
Chế độ, chính sách đối với lực lượng phòng thủ dân sự
1. Người làm nhiệm vụ trực tại
cơ quan thường trực Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, ban chỉ huy phòng thủ
dân sự Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa
phương các cấp được hưởng chế độ khi thực hiện nhiệm vụ.
2. Người được điều động, huy động
huấn luyện, diễn tập, làm nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo quyết định của cấp có
thẩm quyền được hưởng trợ cấp; khi bị ốm đau, bị tai nạn, chết hoặc bị suy giảm
khả năng lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp tiền tuất, tiền
mai táng phí, trường hợp chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được nhà nước
hỗ trợ để bù đắp tổn hại về sức khoẻ, tính mạng theo quy định của pháp luật; có
thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen
thưởng.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ lực lượng phòng thủ dân sự có thành tích
thì được khen thưởng; bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; bị tổn hại về
danh dự, nhân phẩm thì được khôi phục; người bị thương tích, tổn hại sức khỏe,
tính mạng thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định
của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Chương VI
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC VỀ PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Điều 42. Nội
dung, trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự
1. Nội dung quản lý nhà nước về
phòng thủ dân sự bao gồm:
a) Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phòng thủ dân sự;
b) Tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật và kiến thức về phòng thủ dân sự;
c) Tổ chức đào tạo, huấn luyện,
diễn tập, xây dựng lực lượng, công trình và bảo đảm trang thiết bị phòng thủ
dân sự;
d) Hợp tác quốc tế về phòng thủ
dân sự;
đ) Kiểm tra, thanh tra, xử lý
vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, sơ kết, tổng kết, khen thưởng về phòng
thủ dân sự.
2. Trách nhiệm quản lý nhà nước
về phòng thủ dân sự được quy định như sau:
a) Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về phòng thủ dân sự trong phạm vi cả nước;
b) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ chịu
trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
về phòng thủ dân sự thuộc phạm vi lĩnh vực được phân công trong phạm vi cả nước;
c) Ủy ban nhân dân các cấp,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về
phòng thủ dân sự tại địa phương.
Điều 43.
Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng
Bộ Quốc phòng là đầu mối chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự; chủ
trì, phối hợp với Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý;
2. Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo các vấn đề liên ngành về phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật;
3. Xây dựng và tổ chức thực hiện
Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự, Kế hoạch phòng thủ dân sự quốc gia; hướng
dẫn Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương xây dựng kế hoạch, bảo đảm
trang thiết bị thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự thuộc lĩnh vực được phân
công trong phạm vi cả nước;
4. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực
lượng phòng thủ dân sự trên lĩnh vực được phân công;
5. Hướng dẫn xây dựng các công
trình phòng thủ dân sự chuyên dụng gắn với thế trận quân sự trong khu vực phòng
thủ;
6. Tổ chức nghiên cứu, phổ biến,
ứng dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và hiện đại về phòng thủ
dân sự;
7. Thực hiện hợp tác quốc tế về
phòng thủ dân sự;
8. Kiểm tra, thanh tra, xử lý
vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, sơ kết, tổng kết, khen thưởng về phòng
thủ dân sự thuộc phạm vi quản lý.
Điều 44.
Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý.
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương xây dựng kế hoạch, phương án và
tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
trên địa bàn, khu vực xảy ra sự cố, thảm họa.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng
kế hoạch cấp quốc gia ứng phó sự cố cháy lớn; ứng phó sự cố an ninh mạng.
4. Xây dựng kế hoạch phòng thủ
dân sự trong Công an nhân dân; phối hợp tổ chức lực lượng, phương tiện sẵn sàng
ứng phó sự cố, thảm họa, tìm kiếm, cứu nạn theo quy định.
5. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực
lượng phòng thủ dân sự trong lĩnh vực được phân công.
6. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương đấu tranh với hoạt động lợi dụng
sự cố, thảm họa để gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 45.
Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[10]
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý.
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương thực hiện các biện pháp giảm nhẹ
hậu quả sự cố, thảm họa do thiên tai theo quy định của pháp luật về phòng, chống
thiên tai.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương liên quan xây dựng kế hoạch cấp
quốc gia ứng phó sự cố vỡ đê, hồ, đập; sự cố cháy rừng; bão, áp thấp, lũ, lụt;
lũ quét, lũ ống, sạt, lở đất đá và các loại thiên tai khác.
4. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực lượng
phòng thủ dân sự trong lĩnh vực được phân công.
5. Chỉ đạo và điều phối việc tổ
chức kiểm tra, xác định khu vực bị ô nhiễm môi trường trên địa bàn liên tỉnh,
liên quốc gia, hướng dẫn việc xác định thiệt hại và việc tổ chức khắc phục ô
nhiễm môi trường, suy thoái môi trường.
6. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa
phương có liên quan xây dựng trung tâm nghiên cứu, hệ thống dự báo, cảnh báo sự
cố, thảm họa do thiên nhiên, môi trường liên quan đến phòng thủ dân sự.
7. Tổ chức thực hiện các hoạt động
quan trắc, điều tra, khảo sát thu thập thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn,
tai biến địa chất.
8. Chỉ đạo thực hiện dự báo, cảnh
báo, cung cấp đầy đủ, kịp thời các bản tin dự báo, cảnh báo sự cố, thiên tai
liên quan đến địa chất, khí tượng, thủy văn, hải văn cho Ban chỉ đạo Phòng thủ
dân sự quốc gia, Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương và cơ quan
thông tin đại chúng theo quy định.
9. Chỉ đạo việc nghiên cứu, ứng
dụng khoa học, công nghệ và triển khai các giải pháp thông minh trong quan trắc,
giám sát, quản lý, xử lý sự cố môi trường, cảnh báo sớm thiên tai.
Điều 46.
Trách nhiệm của Bộ Xây dựng[11]
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý.
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương có liên quan xây dựng và triển
khai kế hoạch, phương án về sử dụng hạ tầng giao thông, các trang thiết bị
trong phạm vi quản lý để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Khi xảy ra sự cố,
thảm họa, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, đơn vị thuộc quyền tổ chức lực lượng,
phương tiện sơ tán người dân, tìm kiếm, cứu nạn theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo
Phòng thủ dân sự quốc gia.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ, ngành trung ương có liên quan và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch cấp quốc gia ứng phó tai nạn tàu, thuyền trên biển,
ứng phó tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa đặc biệt
nghiêm trọng và ứng phó tai nạn máy bay xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Triển
khai kế hoạch, phương án sử dụng lực lượng, trang thiết bị thực hiện nhiệm vụ ứng
phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn; điều hành các đội tìm kiếm, cứu nạn
thuộc ngành giao thông vận tải; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức các đội
vận tải để sơ tán người dân, phương tiện đến khu vực an toàn, tiếp tế hậu cần,
chuyển thương khi xảy ra sự cố, thảm họa.
4. Phối hợp với Bộ Quốc phòng,
Bộ Ngoại giao trong việc cấp phép và phối hợp với lực lượng, phương tiện của nước
ngoài thực hiện tìm kiếm, cứu nạn khi xảy ra sự cố, thảm họa.
5. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực lượng
phòng thủ dân sự trong lĩnh vực được phân công.
Điều 47.
Trách nhiệm của Bộ Tài chính
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý.
2. Chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương trình cấp có thẩm quyền bố trí dự
toán chi thường xuyên hằng năm để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo quy
định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
3.[12] Quyết định xuất cấp hàng dự trữ quốc gia phục vụ công
tác phòng thủ dân sự theo thẩm quyền quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.
Điều 48.
Trách nhiệm của Bộ Y tế
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc lĩnh vực quản lý.
2. Công bố, thông tin về tình
hình dịch bệnh, mức độ ảnh hưởng và biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
3. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực lượng
phòng thủ dân sự trong lĩnh vực được phân công.
4. Phối hợp với Bộ Quốc phòng
quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quân dân y ở khu vực biên giới,
biển, hải đảo; tăng cường năng lực hệ thống y tế cho hoạt động phòng thủ dân sự.
Điều 49.[13] (được
bãi bỏ)
Điều 50.
Trách nhiệm của Bộ Công Thương
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân
sự thuộc phạm vi quản lý.
2. Quản lý chặt chẽ việc sản xuất,
khai thác điện nguyên tử, khoáng sản, hóa chất độc hại, vật liệu nổ công nghiệp
để hạn chế nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa trong lĩnh vực công nghiệp; quản lý
chặt chẽ việc nhập khẩu, xuất khẩu các loại hóa chất độc, hóa chất nguy hiểm.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ có liên quan chỉ đạo và hướng dẫn việc xử lý
các vụ nổ, sập hầm lò ở các cơ sở sản xuất, khai thác điện nguyên tử, than,
xăng, dầu mỏ, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp.
4. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ, địa phương có liên
quan xây dựng Kế hoạch quốc gia ứng phó sự cố cháy nổ giàn khoan, đường ống dẫn
dầu, hóa chất độc, khí, sự cố sập đổ hầm lò khai thác khoáng sản; hướng dẫn các
địa phương liên quan xây dựng kế hoạch và chuẩn bị lực lượng, phương tiện thực
hiện ứng phó sự cố tràn dầu, sự cố hóa chất độc theo quy định.
5. Phối hợp với Bộ, ngành trung
ương, cơ quan ngang Bộ có liên quan xây dựng kế hoạch dự trữ nguồn năng lượng để
duy trì các hoạt động quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội và phục vụ nhiệm vụ
phòng thủ dân sự.
6. Ổn định giá cả thị trường, bảo
đảm các mặt hàng thiết yếu cho người dân tại khu vực xảy ra sự cố, thảm họa.
7. Xây dựng nội dung, chương
trình đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức phòng thủ dân sự cho lực lượng
phòng thủ dân sự trong lĩnh vực được phân công.
Điều 51.
Trách nhiệm của Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, Bộ, ngành trung ương, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp
với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự và có trách
nhiệm sau đây:
1. Ban hành, trình cấp có thẩm
quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về phòng thủ dân sự thuộc
lĩnh vực quản lý;
2. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị
thuộc quyền tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp phòng thủ dân sự; tổ chức lực
lượng, phương tiện của mình làm nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo lệnh điều động của
cấp có thẩm quyền.
Điều 51a[14]
Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định xuất cấp hàng dự trữ quốc gia phục vụ
công tác phòng thủ dân sự theo thẩm quyền quy định của pháp luật về dự trữ quốc
gia.
Điều 52.
Trách nhiệm của chính quyền địa phương
1. Hội đồng nhân dân các cấp,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Quyết định chủ trương, biện
pháp xây dựng lực lượng phòng thủ dân sự, ngân sách bảo đảm thực hiện nhiệm vụ
phòng thủ dân sự tại địa phương theo quy định của pháp luật;
b) Giám sát việc tuân thủ Hiến
pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phòng thủ dân
sự tại địa phương theo quy định của pháp luật.
2. Ủy ban nhân dân các cấp, trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về phòng thủ
dân sự tại địa phương có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành văn bản để tổ chức
thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao về phòng
thủ dân sự tại địa phương;
b) Chỉ đạo xây dựng, thực hiện
kế hoạch phòng thủ dân sự; triển khai xây dựng, huấn luyện, huy động lực lượng
thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự; bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực
lượng phòng thủ dân sự tại địa phương;
c) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện
nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về bảo đảm ngân sách cho hoạt động
phòng thủ dân sự tại địa phương;
d) Chỉ đạo và thực hiện công
tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, sơ kết, tổng
kết, khen thưởng về phòng thủ dân sự tại địa phương.
Điều 53.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân
dân thực hiện pháp luật về phòng thủ dân sự; giám sát việc thực hiện pháp luật
về phòng thủ dân sự.
Chương
VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[15]
Điều 54. Sửa
đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một số điều của các luật có liên quan đến phòng
thủ dân sự
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đê điều số 79/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 15/2008/QH12, Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 60/2020/QH14 như sau:
a) Thay thế cụm từ “Ban chỉ huy
phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ
dân sự” tại khoản 11 Điều 3, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 35;
b) Thay thế cụm từ “Ban chỉ đạo
quốc gia về phòng, chống thiên tai” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia” tại điểm d khoản 2 Điều 35 và khoản 7 Điều 36.
2. Thay thế cụm từ “Ủy ban cứu
hộ, cứu nạn quốc gia” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại
điểm e khoản 3 Điều 42 của Luật Hoá chất số 06/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14.
3. Thay thế cụm từ “Ủy ban quốc
gia tìm kiếm - cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại
điểm đ khoản 2, điểm a và điểm c khoản 3, điểm b và điểm c khoản 4, khoản 5 Điều
84 của Luật Năng lượng nguyên tử số 18/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 35/2018/QH14.
4. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số điều của Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 60/2020/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều
3 như sau:
“4. Đối tượng dễ bị tổn
thương là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng
phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác
trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ
nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người
bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người dân tộc
thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người sinh
sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng
khác theo quy định của pháp luật.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản
4 Điều 22 như sau:
“a) Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó tương ứng với các cấp độ rủi ro
thiên tai;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều
25 như sau:
“Căn cứ vào bản tin dự báo, cảnh
báo thiên tai, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia; ban
chỉ huy phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ; ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp
tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo, chỉ huy triển khai thực hiện biện pháp ứng phó
thiên tai theo quy định của Chính phủ.”;
d) Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu
của Điều 26 như sau:
“Căn cứ vào loại thiên tai, cấp
độ rủi ro thiên tai xảy ra, Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia; ban chỉ huy
phòng thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ; ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương
quyết định lựa chọn một hoặc một số biện pháp phù hợp sau đây:”;
đ) Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu
của khoản 4 Điều 27 như sau:
“4. Căn cứ vào dự báo, cảnh
báo, cấp độ rủi ro thiên tai, diễn biến thiên tai, sự chỉ đạo, chỉ huy của Ban
chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của
mình, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự địa phương có trách nhiệm
sau đây:”;
e) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản
2 Điều 29 như sau:
“b) Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy
phòng thủ dân sự địa phương các cấp có trách nhiệm chủ động triển khai hoạt động
tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn; trường hợp vượt quá khả năng phải báo cáo, đề
nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh, Ban chỉ đạo
Phòng thủ dân sự quốc gia hỗ trợ;”;
g) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều
31 như sau:
“2. Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
các cấp có trách nhiệm tổng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra, báo cáo Ủy ban
nhân dân cùng cấp, Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp trên và Ban chỉ đạo Phòng
thủ dân sự quốc gia để phục vụ công tác chỉ đạo.”;
h) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều
31 như sau:
“4. Ban chỉ huy phòng thủ dân sự
Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổng hợp thiệt hại do thiên tai báo cáo Ban
chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để phục vụ công tác chỉ đạo.”;
i) Thay thế cụm từ “Ban chỉ đạo
quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm
từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại điểm c khoản 4 Điều 22, khoản 3
Điều 27;
k) Thay thế cụm từ “Ban chỉ đạo
quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm
từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại điểm d khoản 4 Điều 22, khoản 2
Điều 23, điểm b khoản 3 Điều 27, điểm c khoản 2 Điều 29;
l) Thay thế cụm từ “Ủy ban quốc
gia tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại
khoản 4 Điều 23, khoản 2 Điều 27, điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 29, khoản 5 Điều
40;
m) Thay thế cụm từ “Ban chỉ huy
phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ
dân sự” tại điểm b khoản 3 Điều 25, điểm c khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều
30 và khoản 1 Điều 31;
n) Thay thế cụm từ “Ban chỉ huy
phòng, chống thiên tai của bộ, cơ quan ngang bộ” bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng
thủ dân sự Bộ, cơ quan ngang Bộ” tại khoản 3 Điều 28;
o) Thay thế cụm từ “Ban chỉ đạo
quốc gia về phòng, chống thiên tai” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia” tại điểm c khoản 3 Điều 9, điểm c khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 27,
khoản 2, khoản 4 Điều 28, điểm d khoản 2 Điều 30, điểm đ khoản 2 Điều 33, điểm
c khoản 3 Điều 42;
p) Bãi bỏ Điều 44.
5. Thay thế cụm từ “Ủy ban quốc
gia tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại
điểm b khoản 2, điểm a và điểm b khoản 4 Điều 53, các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều
56, điểm e khoản 3 Điều 73 của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số
82/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14.
6. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số điều của Luật Quốc phòng số 22/2018/QH14 như sau:
a) Bãi bỏ khoản 13 Điều 2;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều 13 như
sau:
“Điều 13. Phòng thủ dân sự
Hoạt động phòng thủ dân sự thực
hiện theo quy định của Luật Phòng thủ dân sự.”.
7. Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 11/2022/QH15 như sau:
a) Thay thế cụm từ “Ban chỉ huy
phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ huy phòng thủ
dân sự” tại khoản 2, các điểm a, b và c khoản 4 Điều 124, khoản 1, khoản 2, các
điểm a, b và c khoản 4 Điều 125, khoản 2 Điều 127;
b) Thay thế cụm từ “Ủy ban Quốc
gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo
Phòng thủ dân sự quốc gia” tại khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 124, điểm d khoản 4
Điều 125, điểm c và điểm d khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 127.
8. Thay thế cụm từ “Ủy ban Quốc
gia tìm kiếm cứu nạn” bằng cụm từ “Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia” tại
khoản 3 Điều 102 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 45/2013/QH13 và Luật số 61/2014/QH13.
Điều 55.
Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2024.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và TCTHPL, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Cục Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội
và trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 98/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng tại Luật Quốc phòng số
22/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 18/2023/QH15
và Luật số 38/2024/QH15, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam số 16/1999/QH10
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 19/2008/QH12, Luật số 72/2014/QH13,
Luật số 48/2019/QH14 và Luật số 52/2024/QH15, Luật Quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân và viên chức quốc phòng số 98/2015/QH13, Luật Nghĩa vụ quân sự số
78/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2019/QH14,
Luật Biên phòng Việt Nam số 66/2020/QH14, Luật Phòng không nhân dân số
49/2024/QH15, Luật Lực lượng dự bị động viên số 53/2019/QH14, Luật Phòng thủ
dân sự số 18/2023/QH15, Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân
sự số 25/2023/QH15, Luật Dân quân tự vệ số 48/2019/QH14, Luật Giáo dục
quốc phòng và an ninh số 30/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 35/2018/QH14.”.
Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật An
ninh mạng.”.
Luật Dự trữ quốc gia số
145/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Dự trữ
quốc gia.”.
Luật số 14/2026/QH16 có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng tại Luật Quốc phòng số
22/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
18/2023/QH15, Luật số 38/2024/QH15 và Luật số 98/2025/QH15, Luật Sĩ quan Quân đội
nhân dân Việt Nam số 16/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 19/2008/QH12, Luật số 72/2014/QH13, Luật số 48/2019/QH14, Luật số
52/2024/QH15 và Luật số 98/2025/QH15, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
và viên chức quốc phòng số 98/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 98/2025/QH15, Luật Nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 48/2019/QH14 và Luật số 98/2025/QH15,
Luật Biên phòng Việt Nam số 66/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 98/2025/QH15, Luật Phòng không nhân dân số 49/2024/QH15 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 98/2025/QH15, Luật Lực lượng dự bị động
viên số 53/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 98/2025/QH15,
Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 98/2025/QH15, Luật số 116/2025/QH15 và Luật số 145/2025/QH15, Luật Dân
quân tự vệ số 48/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
98/2025/QH15.”.
[2] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Cụm
từ “an toàn thông tin,” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 15 Điều 43 của Luật
An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[7] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 8 của Luật số 98/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025; được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại Điều 8 của Luật số 14/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 9 năm 2026.
[10]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Tên
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 8 của Luật số
98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 34 của Luật
Dự trữ quốc gia số 145/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[13]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 8 Điều 8 của Luật số 98/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14]
Điều này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 của Luật Dự trữ
quốc gia số 145/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[15] Điều 12 của Luật số 98/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 12. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Điều 44 của Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 44. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật An toàn thông tin mạng
số 86/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14;
Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành.”.
Điều 35 và Điều 36 của Luật Dự
trữ quốc gia số 145/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 35. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này và khoản 1,
khoản 2 Điều 36 của Luật này.
2. Các nội dung quy định về
dự trữ chiến lược có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
3. Luật Dự trữ quốc gia số
22/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14 và
Luật số 56/2024/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 36. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Kế hoạch dự trữ quốc gia,
dự toán ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia năm 2026 thực hiện theo quy
định Luật Dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 21/2017/QH14 và Luật số 56/2024/QH15 và quy định của pháp luật
khác có liên quan.
2. Việc nhập, xuất, bảo quản
hàng dự trữ quốc gia đang được thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành thì tiếp tục thực hiện theo Luật Dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14 và Luật số 56/2024/QH15.
3. Các quy định về tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia
đã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục áp dụng
cho đến khi được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bởi cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật khác có liên quan.”.
Khoản 1 Điều 10 của Luật số
14/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 10. Điều khoản thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 9 năm 2026.”.