|
VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 274/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ VỀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN,
BÁO CÁO VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 63/2014/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 82/2025/QH15;
Xét yêu cầu của công
tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong ngành Kiểm sát nhân dân;
Xét đề nghị của Chánh
Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế về chế độ thông
tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quy chế
về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành
kèm theo Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp
chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3
(để thực hiện);
- Lãnh đạo VKSND tối cao;
- Lưu: VT, PTMTH.
|
VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Huy Tiến
|
QUY CHẾ
VỀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO CÁO VÀ QUẢN
LÝ CÔNG TÁC TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 274/QĐ-VKSTC ngày 18 tháng 7 năm 2025 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh
1. Quy chế này áp dụng đối
với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân khu vực và Viện kiểm sát quân sự các cấp (sau đây gọi chung là Viện
kiểm sát các cấp).
2. Quy chế này quy định:
a) Việc tiếp nhận, thu thập,
xử lý và cung cấp thông tin của Viện kiểm sát các cấp.
b) Việc xây dựng, gửi báo
cáo của Viện kiểm sát các cấp.
c) Việc xây dựng và tổ chức
thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác; tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng
kết việc thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác của Viện kiểm sát
các cấp.
Điều
2. Nguyên tắc thực hiện
1. Chế độ thông tin, báo
cáo và quản lý công tác thực hiện theo nguyên tắc tập trung, thống nhất của Viện
kiểm sát nhân dân.
2. Việc tiếp nhận, thu thập,
xử lý, cung cấp thông tin; xây dựng, gửi báo cáo bảo đảm đầy đủ, trung thực,
khách quan, chính xác, kịp thời, bảo mật theo quy định của pháp luật và của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Hình thức, thể thức, nội
dung các văn bản về thông tin, báo cáo và quản lý công tác theo quy định của
pháp luật và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều
3. Trách nhiệm thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân
dân
1. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm
tiếp nhận, thu thập, quản lý và xử lý thông tin liên quan đến việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ và hoạt động của đơn vị theo quy định tại Điều 5,
Điều 6 của Quy chế này.
Đơn vị, cán bộ làm công
tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm giúp Viện trưởng,
Thủ trưởng đơn vị theo dõi, quản lý việc tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin.
2. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm tổ
chức thực hiện, theo dõi, quản lý chế độ thông tin, báo cáo.
3. Viện kiểm sát cấp dưới
có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với Viện kiểm
sát cấp trên, như sau:
a) Viện kiểm sát nhân dân
khu vực báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện kiểm sát quân sự khu vực
báo cáo Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương;
b) Viện kiểm sát quân sự
quân khu và tương đương báo cáo Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
c) Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự trung ương báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
4. Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chế độ
thông tin, báo cáo của Viện kiểm sát cấp dưới.
5. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp ký các văn bản
thông tin, báo cáo của đơn vị; Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có thể giao
cho cấp phó ký thay hoặc Chánh Văn phòng ký thừa lệnh theo quy định của pháp luật
và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
6. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm
chỉ đạo xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện chỉ
thị, kế hoạch, chương trình công tác theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
a) Đơn vị, cán bộ làm công
tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm giúp Viện trưởng,
Thủ trưởng xây dựng chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác, tổ chức triển
khai thực hiện và làm đầu mối tổng hợp, tham mưu theo dõi, quản lý, chỉ đạo việc
thực hiện nhiệm vụ trọng tâm theo chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác.
b) Thủ trưởng các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, quản
lý và kiểm tra việc thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác của Viện
kiểm sát cấp dưới về những lĩnh vực, nội dung công tác trong phạm vi được giao
trách nhiệm theo dõi, quản lý.
Điều
4. Ứng dụng
công nghệ thông tin và chuyển đổi số
1. Hệ thống thông tin, cơ
sở dữ liệu và phần mềm quản lý tập trung của toàn Ngành phải bảo đảm kết nối và
chia sẻ thông tin thông suốt giữa các cấp kiểm sát. Thống nhất triển khai hệ thống
báo cáo điện tử và quản lý công việc trên môi trường mạng, đồng thời sử dụng cơ
sở dữ liệu tập trung; chuẩn hóa các biểu mẫu và quy trình nghiệp vụ; số hóa hồ
sơ; thực hiện việc gửi, nhận báo cáo và văn bản điện tử có tích hợp chữ ký số theo quy định.
2. Hệ thống thông tin báo
cáo và quản lý công tác của Ngành bảo đảm có thể tích hợp, kết nối với Cổng Dữ liệu
Quốc gia và các hệ thống thông tin liên ngành; đồng thời đáp ứng yêu cầu quản
lý đồng bộ của Viện kiểm sát nhân dân và các yêu cầu về chuyển đổi số.
Chương
II
THÔNG TIN, BÁO CÁO
Điều
5. Thông tin, cung cấp thông tin
1. Thông tin trong ngành
Kiểm sát nhân dân là nội dung tin, bài về những vụ, việc được đăng tải trên
phương tiện truyền thông; nội dung trong các văn bản của cơ quan Đảng, Nhà nước
và các đơn vị trong ngành Kiểm sát nhân dân; đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,...
của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức liên quan đến tổ chức, hoạt
động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thông tin do cá nhân, đơn
vị trong ngành Kiểm sát nhân dân cung cấp phải thể hiện rõ nguồn gốc, nội dung,
thời gian, địa điểm xảy ra vụ, việc. Nếu thông tin được thể hiện bằng văn bản
thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người cung cấp thông tin. Nghiêm cấm việc
cung cấp thông tin không đúng sự thật.
3. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp trực tiếp chỉ đạo quản lý, cung cấp thông tin cho các cơ quan báo
chí theo quy định của pháp luật và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chánh
Văn phòng có trách nhiệm giúp Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quản lý, chỉ đạo,
tổ chức việc cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí liên quan đến Viện kiểm sát
cấp mình và cấp dưới trực thuộc.
Điều
6. Tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin
1. Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn được giao, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại, xử lý thông tin liên quan đến tổ
chức, hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định của pháp
luật và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao tiếp nhận, thông báo những thông tin báo chí nêu liên quan đến tổ chức,
hoạt động của Viện kiểm sát các cấp. Khi nhận được thông tin chuyển đến, Viện
trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao phải kiểm tra, tổ chức xác minh, giải quyết và báo cáo Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gửi một bản về Phòng Tham mưu tổng hợp, Văn
phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Đồng thời, có văn bản yêu cầu cơ quan
báo chí phải đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính những thông tin sai sự thật
liên quan đến đơn vị theo quy định của pháp luật.
3. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, yêu cầu các đơn vị trực thuộc và
Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo tình hình, kết quả tiếp nhận, xử lý thông tin.
Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp, kiểm tra, xử lý và
báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp, Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao) những thông tin do báo chí, phương tiện truyền thông
nêu liên quan đến hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và Viện kiểm
sát cấp dưới; báo cáo kịp thời Viện kiểm sát nhân dân tối cao về những vụ, việc
nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm liên quan đến hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân, xảy ra trong phạm vi trách nhiệm và lĩnh vực công tác được
giao theo dõi, quản lý.
4. Văn phòng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có trách nhiệm tổng hợp những thông tin liên quan đến Viện kiểm
sát các cấp để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông báo ý
kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát cấp dưới để xử lý theo thẩm quyền.
Điều
7. Báo cáo gửi các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
cơ quan khác
1. Các báo cáo gửi cơ quan
của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan khác, gồm:
a) Báo cáo của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
gửi Chủ tịch nước; Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi: Văn phòng
Trung ương Đảng, Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ
chức Trung ương, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
b) Báo cáo của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi cấp ủy đảng cùng cấp.
c) Báo cáo của Viện kiểm
sát các cấp gửi các cơ quan khác khi cần thiết hoặc khi có yêu cầu.
2. Nội dung, thời điểm lấy
số liệu và thời hạn gửi báo cáo công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao trình tại các kỳ họp của Quốc hội, như sau:
a) Nội dung đánh giá khái
quát tình hình tội phạm; kết quả công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
ngành Kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật, các chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, Quốc hội; nêu và đánh giá tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư
pháp; những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân; những giải pháp và nhiệm vụ trọng
tâm; những kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước.
b) Thời điểm lấy số liệu
xây dựng báo cáo trình Quốc hội tại kỳ họp giữa năm tính từ ngày 01 tháng 10 của
năm trước đến hết ngày 31 tháng 3 của năm báo cáo. Thời điểm lấy số liệu xây dựng
báo cáo trình Quốc hội tại kỳ họp cuối năm tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước
đến hết ngày 30 tháng 9 của năm báo cáo; thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo
để phục vụ công tác thẩm tra thực hiện theo yêu cầu của Quốc hội.
c) Thời gian có báo cáo đến
Văn phòng hoặc Viện kiểm sát cấp trên căn cứ theo yêu cầu của Quốc hội.
3. Đối với những báo cáo
khác thì nội dung, thời điểm lấy số liệu và thời hạn gửi thực hiện theo yêu cầu
của cơ quan yêu cầu báo cáo hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều
8. Báo cáo công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân
1. Báo cáo công tác trong
ngành Kiểm sát nhân dân, gồm: báo cáo định kỳ; báo cáo ban đầu; báo cáo đột xuất;
báo cáo thỉnh thị; báo cáo chuyên đề; báo cáo theo quy chế nghiệp vụ và báo cáo
khác theo yêu cầu.
2. Báo cáo định kỳ gồm:
báo cáo công tác tuần; báo cáo công tác tháng; báo cáo công tác quý; báo cáo sơ
kết công tác 6 tháng đầu năm; báo cáo tổng kết công tác năm; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen
thưởng năm; báo cáo công tác tiếp nhận, xử lý thông tin báo chí nêu liên quan đến
hoạt động của Ngành.
3. Báo cáo định kỳ được thực
hiện như sau:
a) Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp dưới xây dựng và gửi báo cáo đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp quản lý.
b) Thủ trưởng đơn vị thuộc
Viện kiểm sát các cấp xây dựng, gửi báo cáo đến Viện trưởng Viện kiểm sát cùng
cấp và Thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm theo dõi, quản lý chuyên môn của Viện
kiểm sát cấp trên; các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử thuộc Viện
kiểm sát cấp tỉnh gửi báo cáo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
đến Thủ trưởng các đơn vị tương ứng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
c) Báo cáo định kỳ phải gửi
cho đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện
kiểm sát cấp trên để phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo
Viện kiểm sát các cấp.
Điều
9. Báo cáo công tác tuần
1. Nội dung báo cáo về
tình hình, kết quả công tác của đơn vị, cơ quan trong tuần; phản ánh khái quát
những vụ, việc điển hình xảy ra ở địa phương hoặc địa bàn, lĩnh vực công tác, kết
quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm
sát nhân dân; những khó khăn, vướng mắc và đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp
trên (nếu có) và nhiệm vụ trọng tâm trong tuần tiếp theo.
2. Thời điểm lấy số liệu
báo cáo từ 12 giờ ngày thứ Tư tuần trước đến 12 giờ ngày thứ Tư của tuần báo
cáo.
3. Các phòng thuộc Viện kiểm
sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát khu vực có báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát cấp
tỉnh trước 17 giờ thứ Tư của tuần báo cáo.
Các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát cấp tỉnh
có báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp)
trước 11 giờ thứ Năm của tuần báo cáo. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo công tác
tuần vào chiều thứ Năm của tuần báo cáo.
Điều
10. Báo cáo công tác tháng
1. Nội dung báo cáo nêu,
đánh giá tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; các biện
pháp đã triển khai, thực hiện và kết quả công tác của cơ quan, đơn vị trong các
lĩnh vực thuộc trách nhiệm thực hiện và được phân công theo dõi, quản lý trong
một tháng; những kiến nghị đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có) và
nhiệm vụ trọng tâm trong tháng tiếp theo.
2. Thời điểm lấy số liệu để
xây dựng báo cáo từ ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng báo cáo.
3. Thời hạn gửi báo cáo
như sau:
a) Viện kiểm sát khu vực gửi
báo cáo công tác tháng đến Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo. Các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo cáo công tác tháng đến các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 04 ngày làm
việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
b) Các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có báo cáo công tác tháng đến Văn phòng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ
ngày kết thúc kỳ báo cáo.
c) Viện kiểm sát nhân dân
tối cao có báo cáo công tác tháng trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết
thúc kỳ báo cáo.
Điều
11. Báo cáo công tác quý
1. Nội dung báo cáo đánh
giá kết quả thực hiện chương trình công tác quý của cơ quan, đơn vị; kết quả
công tác của Viện kiểm sát cấp dưới thuộc trách nhiệm theo dõi, quản lý của cơ
quan, đơn vị; những kiến nghị, đề xuất (nếu có); dự kiến những nhiệm vụ trọng
tâm trong quý tiếp theo.
2. Thời điểm lấy số liệu
xây dựng báo cáo công tác quý từ ngày 01 của tháng đầu quý đến ngày cuối cùng của
tháng cuối quý, trong đó, Quý I: Từ tháng 10 đến hết tháng 12 của năm trước,
Quý II: Từ tháng 1 đến hết tháng 3 của năm báo cáo, Quý III: Từ tháng 4 đến hết
tháng 6 của năm báo cáo, Quý IV: Từ tháng 7 đến hết tháng 9 của năm báo cáo.
3. Các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát cấp
tỉnh báo cáo kết quả công tác của cơ quan, đơn vị trong một quý, thời hạn và việc
gửi báo cáo như sau:
a) Báo cáo công tác quý của
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi đến Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo
cáo. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo công tác quý trong thời hạn 12
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
b) Các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát cấp tỉnh gửi báo cáo công tác quý đến
Văn phòng Viện kiểm sát cùng cấp để tổng hợp, xây dựng báo cáo công tác quý của
mỗi cơ quan; thời hạn gửi báo cáo công tác quý của các đơn vị do Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp quyết định.
c) Báo cáo công tác quý của
Viện kiểm sát cấp tỉnh không gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều
12. Báo cáo sơ
kết công tác 6 tháng đầu năm, Báo cáo tổng kết công tác năm
1. Nội dung báo cáo đánh
giá tình hình tội phạm; hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo; phân tích, tổng hợp kết quả
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và công tác xây dựng
Ngành; phản ánh, đánh giá toàn diện tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động
tư pháp; những vi phạm pháp luật của cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp và
người tham gia hoạt động tư pháp được Viện kiểm sát phát hiện; phân tích, đánh
giá toàn diện những kết quả tích cực, điểm mới
so với cùng kỳ năm trước, những ưu điểm, hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực công tác và nguyên
nhân; các giải pháp khắc phục, những kiến nghị, đề xuất và nhiệm vụ trọng tâm 6
tháng cuối năm (đối với báo cáo sơ kết công tác).
Hằng năm, căn cứ vào yêu cầu
sơ kết, tổng kết công tác của ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hướng dẫn về nội dung báo cáo sơ kết, tổng kết của các đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện
kiểm sát cấp tỉnh; đồng thời, yêu cầu báo cáo chuyên sâu một số lĩnh vực, hoạt
động để phục vụ sơ kết, tổng kết công tác. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự
trung ương và Viện kiểm sát cấp tỉnh hướng dẫn các đơn vị trực thuộc, Viện kiểm
sát cấp dưới xây dựng báo cáo phục vụ công tác sơ kết của mỗi cơ quan và của
toàn Ngành.
2. Thời điểm lấy số liệu
xây dựng báo cáo:
a) Thời điểm lấy số liệu
xây dựng báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm từ ngày 01 tháng 10 của năm
trước đến hết ngày 31 tháng 3 của năm báo cáo.
b) Thời điểm lấy số liệu
xây dựng báo cáo tổng kết công tác năm từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến hết
ngày 30 tháng 9 của năm báo cáo.
3. Thời hạn gửi báo cáo
như sau:
a) Viện kiểm sát khu vực
có báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 04 ngày làm việc,
kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
b) Các phòng thuộc Viện kiểm
sát cấp tỉnh có báo cáo đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết
thúc kỳ báo cáo.
c) Các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đến Văn phòng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 07 ngày làm việc,
kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Viện kiểm sát nhân dân
tối cao có báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của toàn ngành Kiểm sát nhân
dân trong thời hạn 12 ngày làm việc; có báo cáo tổng kết công tác năm trong thời
hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
đ) Theo yêu cầu công tác,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể quyết định thời điểm gửi báo
cáo sớm hơn quy định trên.
Điều
13. Báo cáo việc tiếp nhận, xử lý thông tin liên quan đến hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân
1. Nội dung báo cáo phản
ánh việc tiếp nhận, tình hình và kết quả xử lý thông tin liên quan đến hoạt động
của ngành Kiểm sát xảy ra tại địa phương hoặc thuộc lĩnh vực công tác của đơn vị;
những hạn chế, khó khăn và kiến nghị, đề xuất (nếu có).
2. Thời điểm tổng hợp số
liệu xây dựng các báo cáo theo quy định về thời điểm của báo cáo công tác tuần,
báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và báo cáo tổng kết công tác năm.
3. Văn phòng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có trách nhiệm xây dựng báo cáo tuần, 6 tháng và một năm về việc
tiếp nhận, xử lý những thông tin liên quan đến hoạt động của toàn ngành Kiểm
sát nhân dân.
4. Sau khi nhận được chỉ đạo
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh phải kiểm tra, xem xét, xử lý ngay thông tin liên quan hoặc thuộc
trách nhiệm của đơn vị và báo cáo theo yêu cầu.
Điều
14. Báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng
Việc xây dựng báo cáo tổng
kết công tác thi đua, khen thưởng thực hiện theo quy định về công tác thi đua,
khen thưởng của ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều
15. Báo cáo thống kê
1. Việc xây dựng, khai
thác, sử dụng báo cáo thống kê thực hiện theo quy định về chế độ báo cáo thống
kê của ngành Kiểm sát nhân dân.
2. Khai thác, sử dụng báo
cáo thống kê:
a) Khi xây dựng các loại
báo cáo tổng hợp, báo cáo chuyên đề,... các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm
sát các cấp phải sử dụng số liệu trong báo cáo thống kê do đơn vị làm công tác
thống kê cung cấp.
b) Đơn vị làm công tác thống
kê của Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các số liệu,
báo cáo thống kê cho các đơn vị, bộ phận nghiệp vụ cùng cấp để xây dựng các loại
báo cáo.
c) Trường hợp báo cáo thống
kê của ngành Kiểm sát nhân dân không đáp ứng được các yêu cầu về số liệu để xây
dựng báo cáo thì các đơn vị xây dựng báo cáo cùng với đơn vị làm công tác thống
kê báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp xem xét, quyết định.
Điều
16. Báo cáo ban đầu
1. Nội dung báo cáo nêu rõ
thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc, hậu quả xảy ra, kết quả xác minh, điều
tra ban đầu, các biện pháp nghiệp vụ đã áp dụng, các xử lý khác của Viện kiểm
sát và đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có). Nhận được báo cáo ban đầu của Viện kiểm sát cấp dưới,
đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên báo cáo ngay với Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp để có biện pháp chỉ đạo kịp thời đối với Viện kiểm sát cấp dưới.
2. Viện kiểm sát khu vực
báo cáo Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh báo cáo Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bằng văn bản những vụ, việc được quy định tại Danh
mục A của Quy chế này, trong thời gian 24 giờ đối với Viện kiểm sát khu vực,
48 giờ đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh kể từ khi nắm được vụ, việc (trừ những vụ,
việc Viện kiểm sát cấp trên đã trực tiếp theo dõi, tham gia giải quyết). Trường
hợp cần thiết có thể báo cáo bằng điện thoại nhưng sau đó phải báo cáo bằng văn
bản.
Báo cáo ban đầu của Viện
kiểm sát khu vực gửi phòng nghiệp vụ và Văn phòng của Viện kiểm sát cấp tỉnh;
báo cáo ban đầu của Viện kiểm sát cấp tỉnh gửi vụ nghiệp vụ và Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Đối với các vụ, việc quy
định tại Danh mục A của Quy chế này, sau báo cáo ban đầu, Viện
kiểm sát cấp dưới phải có báo cáo đầy đủ về diễn biến vụ, việc, tiến độ và kết quả giải quyết trong trường hợp cần
xin ý kiến chỉ đạo hoặc Viện kiểm sát cấp trên yêu cầu.
Điều
17. Báo cáo đột xuất
1. Nội dung báo cáo nêu rõ
thời gian, địa điểm, diễn biến và hậu quả của vụ, việc; kết quả xử lý ban đầu của
Viện kiểm sát và những đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp trên.
2. Viện kiểm sát cấp dưới
theo yêu cầu hoặc chủ động báo cáo ngay cho Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền
những vụ, việc xảy ra tại cơ quan, những vụ, việc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra
tại địa phương hoặc trong lĩnh vực công tác được giao theo dõi, quản lý, theo
quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Viện kiểm sát cấp dưới
gửi báo cáo đến Viện trưởng, đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên được giao
trách nhiệm theo dõi, quản lý và Văn phòng Viện kiểm sát cấp trên để tổng hợp,
theo dõi.
Điều
18. Báo cáo thỉnh thị và trả lời thỉnh thị
Việc xây dựng báo cáo thỉnh
thị và trả lời thỉnh thị thực hiện theo quy định về công tác hướng dẫn, giải
đáp vướng mắc về pháp luật, nghiệp vụ; báo cáo thỉnh thị, trả lời thỉnh thị của
ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều
19. Báo cáo chuyên đề
1. Viện kiểm sát cấp dưới
phải gửi Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền hoặc trong phạm vi lĩnh vực công
tác được giao theo dõi, quản lý các loại báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý
theo Danh mục B của Quy chế này và các loại báo cáo sau:
a) Các văn bản pháp lý do
Viện kiểm sát ban hành và văn bản tiếp thu của các ngành;
b) Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ công tác trọng tâm theo chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên;
c) Các báo cáo theo quy định
của các quy chế khác do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
2. Trường hợp đơn vị nghiệp
vụ thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh được giao nhiều lĩnh vực công tác thì phải gửi
báo cáo chuyên đề đến các đơn vị có liên quan của Viện kiểm sát cấp trên. Sau
khi nhận được báo cáo chuyên đề, các văn bản pháp lý khác của Viện kiểm sát cấp
dưới, Viện kiểm sát cấp trên phải kiểm tra ngay, nếu có ý kiến khác thì phải có
văn bản chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới.
Các báo cáo chuyên đề, văn
bản pháp lý của Viện kiểm sát cấp dưới gửi các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp
trên, đều phải gửi đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên (trừ những báo cáo chuyên đề, văn bản pháp
lý quy định tại điểm 2, 4, 5 và 8 theo Danh mục B của Quy chế
này).
3. Các văn bản hướng dẫn
nghiệp vụ, báo cáo chuyên đề và các văn bản pháp lý khác theo Danh
mục B của Quy chế này của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi cho
các Viện kiểm sát cấp tỉnh thì phải đồng thời gửi lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp,
các đơn vị có liên quan về đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm
sát cùng cấp (trừ những báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý quy định tại điểm 2, 4, 5 và 8 theo Danh mục B của Quy chế này).
Điều
20. Thông báo
1. Thông báo trong ngành
Kiểm sát nhân dân gồm:
a) Thông báo ý kiến chỉ đạo,
kết luận của Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp;
b) Thông báo về tình hình
vi phạm pháp luật, tội phạm và kết quả công tác trong tuần, tháng, quý;
c) Thông báo rút kinh nghiệm
trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ;
d) Thông báo kết quả kiểm
tra công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và các công
tác khác;
đ) Thông báo về kết quả thực
hiện những việc có liên quan giữa các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh và các Viện kiểm sát cùng cấp;
e) Thông báo kết quả thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện
kiểm sát gửi các đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới có liên quan;
g) Thông báo khác theo yêu
cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành hoặc phối hợp công tác của lãnh đạo Viện kiểm
sát các cấp.
2. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh ban hành thông báo gửi các đơn vị trực thuộc
và Viện kiểm sát cấp dưới; các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho nhau những nội dung, công việc cần
thiết để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn vị và của ngành Kiểm sát
nhân dân. Khi ban hành thông báo, đồng thời phải gửi cho đơn vị làm công tác
tham mưu, tổng hợp cùng cấp để theo dõi, tổng hợp.
Điều
21. Hình thức chuyển thông tin báo cáo
Thông tin, báo cáo và các
tài liệu được chuyển trực tiếp hoặc qua đường bưu điện, cơ yếu, đường truyền số
liệu, hệ thống phần mềm dùng chung và qua hệ thống thư điện tử của ngành Kiểm
sát nhân dân. Khi gửi các loại tài liệu, báo cáo qua đường cơ yếu, truyền qua mạng
máy tính phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ bảo mật theo quy định của pháp luật
và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều
22. Quản lý thông tin, báo cáo
Viện trưởng Viện kiểm sát các
cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm
thực hiện chế độ quản lý thông tin, báo cáo trong đơn vị và toàn ngành Kiểm sát
nhân dân theo quy định của pháp luật và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chương
III
QUẢN LÝ CÔNG TÁC
Điều
23. Xây dựng chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác
1. Hằng năm, căn cứ yêu cầu
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị xác định nhiệm vụ trọng tâm, các biện
pháp quản lý, chỉ đạo và điều hành để tập trung thống nhất, chỉ đạo, thực hiện
trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân.
a) Căn cứ Chỉ thị công tác
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát các cấp xây dựng
kế hoạch công tác; các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát quân sự trung ương và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xây dựng chương trình
công tác và triển khai thực hiện; đồng thời, theo dõi, quản lý, kiểm tra việc
thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra.
b) Kế hoạch công tác của
Viện kiểm sát cấp dưới phải căn cứ vào Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, phù hợp với kế hoạch của Viện kiểm sát cấp trên và yêu cầu
nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
c) Chương trình công tác
năm của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng trên cơ sở Chỉ
thị công tác của ngành Kiểm sát nhân dân và Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Chương trình công tác năm của các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát cấp tỉnh phải phù hợp với chương trình công tác của các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp tỉnh.
2. Thời hạn ban hành chỉ
thị, kế hoạch, chương trình công tác như sau:
a) Chỉ thị công tác năm của
ngành Kiểm sát nhân dân và Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chậm nhất vào ngày
15 tháng 10 của năm.
b) Kế hoạch công tác năm của
Viện kiểm sát quân sự trung ương được ban hành chậm nhất là ngày 20 tháng 10 của
năm kế hoạch; Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự quân khu và tương đương, được ban hành chậm nhất ngày 25 tháng 10 của
năm; Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự
khu vực được ban hành chậm nhất ngày 31 tháng 10 của năm.
c) Chương trình công tác
và hướng dẫn công tác năm của Viện kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành chậm nhất ngày 20 tháng 10 của
năm; chương trình, hướng dẫn công tác của các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh
được ban hành chậm nhất ngày 25 tháng 10 của năm.
3. Kế hoạch công tác năm của
Viện kiểm sát cấp dưới khi gửi cho Viện kiểm sát cấp trên, đồng thời phải gửi cho đơn vị làm công tác tham
mưu, tổng hợp để tổng hợp, tham mưu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành. Sau khi nhận được kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm
sát cấp trên phải kiểm tra, nếu có ý kiến khác thì trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày nhận được kế hoạch, Viện kiểm sát cấp trên phải có văn bản chỉ đạo Viện
kiểm sát cấp dưới.
Chương trình công tác của
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi cho các đơn vị liên quan của
Viện kiểm sát cấp trên; đồng thời, gửi cho lãnh đạo và đơn vị làm công tác tham
mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát cùng cấp, nếu có ý kiến khác thì đơn vị làm
công tác tham mưu, tổng hợp phải kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện kiểm sát
cùng cấp để chỉ đạo.
4. Ngoài kế hoạch, chương
trình công tác năm, Viện kiểm sát các cấp và các đơn vị trực thuộc có thể xây dựng
các kế hoạch cụ thể khác để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị, địa
phương. Khi thấy cần thiết, Viện kiểm sát cấp trên có thể kiểm tra, duyệt kế hoạch
của Viện kiểm sát cấp dưới nhằm bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất trong
ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều
24. Triển khai thực hiện chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác
1. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu
trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kế hoạch, chương trình công tác năm của cơ
quan, đơn vị ngay sau khi các văn bản này được ban hành chính thức.
2. Viện kiểm sát các cấp,
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng chương trình công tác
quý của đơn vị để triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm trong từng
quý. Chương trình công tác quý được quyết định trong tuần đầu của tháng đầu quý.
3. Chương trình công tác của
đơn vị đề ra những nhiệm vụ công tác cụ thể, biện pháp thực hiện, phân công
lãnh đạo phụ trách, đơn vị, bộ phận thực hiện và thời gian hoàn thành.
Điều
25. Kiểm tra việc thực hiện chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác
1. Viện trưởng Viện kiểm
sát các cấp chịu trách nhiệm kiểm tra kết quả thực hiện chỉ thị, kế hoạch và
chương trình công tác của các đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới theo
định kỳ hoặc đột xuất. Ngoài kiểm tra toàn diện, Viện kiểm sát cấp trên có thể
kiểm tra chuyên sâu các mặt công tác nhằm phục vụ yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ
đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên.
2. Công tác kiểm tra được
tổ chức thực hiện theo Quy chế kiểm tra và các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm
sát nhân dân.
Điều
26. Kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác
và xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tiếp theo
Định kỳ (tuần, tháng, quý,
6 tháng, một năm), Viện kiểm sát các cấp, các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các chỉ thị, kế hoạch và
chương trình công tác; đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ theo quy định của
Quốc hội, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch
và chương trình công tác của đơn vị; phân tích, đánh giá những việc đã làm được,
chưa làm được; xác định nguyên nhân, trách nhiệm; đề ra những nhiệm vụ trọng tâm và các biện pháp bảo đảm
thực hiện hiệu quả Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, kế hoạch và chương trình công tác của cơ quan, đơn vị trong thời gian
tiếp theo.
Chương
IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
27. Tổ chức thực hiện
1. Thủ trưởng các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quy chế
này theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
2. Văn phòng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phối hợp với các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao
giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thống nhất về nội dung,
yêu cầu xây dựng các loại văn bản thông tin, báo cáo tổng hợp trong ngành Kiểm
sát nhân dân.
Theo dõi, đôn đốc, kiểm
tra và định kỳ báo cáo, thông báo việc chấp hành Quy chế này của Viện kiểm sát
các cấp; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế; đề xuất với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao việc sửa đổi, bổ sung Quy chế để bảo
đảm việc thực hiện được thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong ngành Kiểm sát
nhân dân.
3. Việc sửa đổi, bổ sung
Quy chế do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
Điều
28. Hiệu lực
thi hành
Quy chế này có hiệu lực kể
từ ngày ký và thay thế Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác
trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
DANH MỤC A
Những vụ, việc Viện kiểm
sát cấp dưới phải báo cáo Viện kiểm sát cấp trên (theo Điều 16 của
Quy chế):
1. Các vụ án xâm phạm an
ninh quốc gia theo các tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự.
2. Những vụ phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng; những vụ phạm tội gây bức xúc dư luận xã hội, gây ảnh hưởng
xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, như: các vụ giết người, giết
người cướp tài sản có tổ chức, có vũ khí; hiếp dâm có nhiều người tham gia; hiếp
dâm trẻ em; những vụ gây rối trật tự công cộng có tổ chức, nhiều người tham
gia; các vụ tai nạn giao thông, tai nạn lao động làm chết nhiều người, gây hậu
quả đặc biệt nghiêm trọng; các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp về ma tuý
theo các tội danh được quy định trong Bộ luật
hình sự;...
3. Những vụ chết người
nghi không phải là tự sát hoặc chết người ở nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại
giam nghi không phải là do bệnh lý; các trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam,
phạm nhân trốn, phạm tội mới, người bị kết án tử hình chết.
4. Các vụ, việc có dấu hiệu
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định trong Bộ luật hình sự.
5. Các vụ vi phạm quyền tự
do, dân chủ gây hậu quả nghiêm trọng, có ảnh hưởng lớn về chính trị.
6. Những vụ án có người phạm
tội là cán bộ có chức vụ cao ở địa phương, như: lãnh đạo chủ chốt cấp xã, cấp tỉnh;
những vụ án có người phạm tội là cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát; những người
có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số; nhân sỹ,
trí thức có các chức danh do Nhà nước phong tặng; người nước ngoài.
7. Những vụ án, vụ việc
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
8. Những vụ cháy nổ kho
tàng, nhà máy, cháy rừng, những vụ phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về
an ninh quốc gia gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.
9. Những vụ, việc khiếu nại,
tố cáo bức xúc có nhiều người tham gia, ảnh hưởng trật tự, an toàn xã hội xảy
ra ở địa phương, liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân.
DANH MỤC B
Những báo cáo chuyên đề và
văn bản pháp lý Viện kiểm sát cấp dưới gửi Viện kiểm sát cấp trên thay báo cáo
(theo Điều 19 của Quy chế).
1. Các quyết định không
phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; không phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh
bắt tạm giam, không gia hạn tạm giam. Các quyết định hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp dưới
(bản sao các quyết định trên).
2. Quyết định khởi tố vụ
án hình sự; quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát. Các văn bản của Viện
kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thay đổi Điều
tra viên.
3. Các quyết định trả tự
do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật; Quyết
định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái
pháp luật.
4. Các quyết định xử lý vụ
án của Viện kiểm sát: cáo trạng, quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết
định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án và bị can; quyết định phục hồi vụ
án, bị can của Viện kiểm sát.
5. Quyết định kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án.
6. Các kết luận, Quyết định
kháng nghị, kiến nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm pháp luật
trong hoạt động tư pháp; kiến nghị các cơ quan, tổ chức và các đơn vị trong
công tác phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật.
7. Văn bản giải quyết đơn
(kết luận, quyết định, trả lời) đối với những trường hợp Viện kiểm sát cấp trên
đã chỉ đạo, yêu cầu.
8. Báo cáo kết quả thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự có bị cáo bị tuyên phạt tử
hình. Báo cáo kết quả kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính,
kinh doanh, thương mại, lao động do Viện kiểm sát kháng nghị.
9. Báo cáo kết quả kiểm sát
việc giam các bị án tử hình và thi hành án tử hình.
10. Báo cáo tình hình, kết
quả giải quyết đơn thuộc thẩm quyền do các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu
và Đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí
chuyển đến hoặc do Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển đến.
11. Các báo cáo kết quả thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, cơ quan theo yêu cầu của các Ủy ban của Quốc
hội.
12. Báo cáo kết quả kiểm
sát việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; kết quả công tác đặc xá.
13. Báo cáo việc kháng nghị,
không kháng nghị đối với các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa án tuyên bị
cáo không phạm tội (kèm theo bản sao kháng nghị). Báo cáo kết quả xét giảm chấp
hành án hình sự; báo cáo xét miễn, hoãn chấp hành án.
14. Báo cáo các trường hợp
oan, các trường hợp có đơn yêu cầu bồi thường và kết quả giải quyết việc bồi thường
oan thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.
15. Báo cáo kết quả kiểm
điểm trách nhiệm và xử lý cán bộ liên quan đến các trường hợp oan, sai thuộc
trách nhiệm của Viện kiểm sát.
16. Thông báo rút kinh
nghiệm; thông báo tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.
17. Báo cáo kết quả công
tác thông tin tuyên truyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.