|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 329/KH-UBND
|
Lạng Sơn, ngày 26
tháng 8 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2027 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
Thực hiện Công văn số
9439/BTC-DNTN ngày 06/7/2026 của Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát
triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027, UBND tỉnh Lạng Sơn xây dựng Kế
hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027 trên địa bàn tỉnh như sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC
XÃ NĂM 2026
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
1. Đánh giá dựa trên các chỉ
tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX),
liên hiệp hợp tác xã (LHHTX)
a) Về số lượng, doanh thu
và thu nhập của THT, HTX, LHHTX
- Tổ hợp tác (THT): ước đến hết
năm 2026 có 400 THT hoạt động trên địa bàn tỉnh (đạt 105,3% kế hoạch); doanh
thu bình quân là 800 triệu đồng/THT/năm, đạt 100% kế hoạch; lãi bình quân là 50
triệu đồng/THT/năm, đạt 100% kế hoạch.
- Hợp tác xã (HTX): ước đến hết
năm 2026 có tổng số 620 HTX trên địa bàn tỉnh (đạt 100% kế hoạch); trong đó có
480 HTX đang hoạt động (đạt 87% kế hoạch), 68 HTX thành lập mới (đạt 123,6% kế hoạch),
11 HTX giải thể (đạt 55% kế hoạch). Doanh thu bình quân đạt 800 triệu đồng/HTX/năm,
lãi bình quân đạt 300 triệu đồng/HTX/năm (đạt 100% kế hoạch).
- Liên hiệp hợp tác xã (LHHTX):
ước có 02 LHHTX hoạt động trên địa bàn đến hết năm 2026 (đạt 100% kế hoạch); 01
LHHTX giải thể (đạt 100% kế hoạch), không có LHHTX được thành lập mới. Tại thời
điểm báo cáo có 01 LHHTX đang hoạt động nhưng chưa có doanh thu (theo kế hoạch đạt
doanh thu 1.000 triệu đồng/năm/LHHTX).
b) Về thành viên, lao
động của THT, HTX, LHHTX
- Tại THT: ước đến hết năm 2026
có tổng số 4.000 thành viên (đạt 100% kế hoạch), tăng mới khoảng 250 thành viên
(đạt 100% kế hoạch).
- Tại HTX: ước đến hết năm 2026
có tổng số 6.850 thành viên (đạt 100% kế hoạch), trong đó có 550 thành viên mới
gia nhập (đạt 91,7% kế hoạch); 8.550 lao động thường xuyên (đạt 90% kế hoạch), trong
đó 6.100 lao động đồng thời là thành viên (đạt 98,4% kế hoạch). Thu nhập bình
quân của người lao động làm việc thường xuyên trong HTX khoảng từ 05 - 10 triệu
đồng/người/tháng.
- Tại LHHTX: ước năm 2026 có
tổng số 10 HTX thành viên (đạt 83,3% kế hoạch) và 07 lao động (đạt 58,3% kế
hoạch); các LHHTX hiện dừng hoạt động hoặc chưa có doanh thu.
(Chi
tiết theo phụ lục I kèm theo)
c) Về trình độ cán bộ
quản lý HTX
Tổng số cán bộ quản lý HTX:
tổng số cán bộ quản lý ước 1.950 người (đạt 100% kế hoạch); trong đó 420 người
có trình độ sơ cấp, trung cấp và 450 người có trình độ cao đẳng, đại học trở
lên (đạt 100% kế hoạch). Tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ cao đẳng, đại học trở
lên đạt khoảng 23,1%.
2. Đánh giá theo lĩnh vực
a) Lĩnh vực nông nghiệp
Năm 2026 ước có 430 HTX nông
nghiệp, chiếm khoảng 69,4% tổng số HTX; ước có 380 THT nông nghiệp chiếm 95%
tổng số THT. Hoạt động của các HTX, THT cơ bản ổn định; có 50 HTX nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao hoặc áp dụng quy trình GAP, hữu cơ; 72 HTX nông nghiệp
liên kết sản xuất, tiêu thụ với doanh nghiệp, HTX, THT và hộ sản xuất. Doanh
thu bình quân của nhóm HTX nông nghiệp phổ biến từ 500 triệu đồng đến trên 01
tỷ đồng/HTX/năm, lợi nhuận trên 50 triệu đồng/HTX/năm, thu nhập lao động 5 - 7 triệu
đồng/người/tháng.
Một số HTX duy trì hoạt động hiệu
quả như HTX Nông sản Hữu Lũng, HTX Sản xuất và Chế biến nông lâm nghiệp Bản Quyền
Tràng Định, HTX Thành Lộc, HTX Nông sản Chi Lăng và các HTX sản xuất các sản
phẩm chủ lực như Na Chi Lăng, Hồng Vành khuyên, rau hữu cơ, trà dược liệu. Khả
năng cạnh tranh của một số sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP từng bước được cải
thiện thông qua áp dụng quy trình kỹ thuật, xây dựng nhãn hiệu, truy xuất nguồn
gốc và liên kết tiêu thụ.
Tuy nhiên, phần lớn HTX nông
nghiệp có quy mô nhỏ, vốn ít; sản xuất còn phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết,
dịch bệnh và biến động thị trường. Doanh thu của HTX nông nghiệp còn thấp so
với các HTX hoạt động trong các lĩnh vực khác; khả năng đầu tư mở rộng sản
xuất, ứng dụng công nghệ và nâng cao giá trị sản phẩm còn hạn chế.
b) Lĩnh vực phi nông
nghiệp (công nghiệp - xây dựng; tài chính – ngân hàng và bảo hiểm; thương mại -
dịch vụ và lĩnh vực khác)
Năm 2026 ước có 90 HTX công
nghiệp - xây dựng, chiếm 14,5% tổng số HTX, tăng 08 HTX so với năm 2025, không
có LHHTX trong lĩnh vực này. Ước có 100 HTX thương mại - dịch vụ và lĩnh vực
khác, chiếm 16,1% tổng số HTX, tăng 11 HTX so với năm 2025. Không có HTX hoạt
động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và bảo hiểm. Ước có 20 THT hoạt động
trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Doanh thu bình quân của các HTX, THT khoảng 800
triệu đồng đến trên 02 tỷ đồng/HTX/năm, lãi bình quân trên 80 triệu
đồng/HTX/năm, thu nhập lao động khoảng 5 - 10 triệu đồng/người/tháng.
(Chi
tiết theo phụ lục II kèm theo)
Một số HTX, THT chế biến nông,
lâm sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã đầu tư máy móc, cải tiến bao bì, nhãn
hiệu và mở rộng kênh tiêu thụ đem lại hiệu quả tích cực, doanh thu ổn định; một
số HTX xây dựng duy trì việc làm thông qua các công trình dân dụng, giao thông và
thủy lợi quy mô nhỏ. Tuy nhiên quy mô thị trường chủ yếu trong tỉnh; năng lực
quản trị, vốn, thiết bị, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tham gia chuỗi cung
ứng còn hạn chế. HTX xây dựng chịu cạnh tranh lớn với doanh nghiệp, khó tiếp
cận công trình có quy mô và yêu cầu kỹ thuật cao.
Số lượng HTX vận tải tăng nhưng
chủ yếu là các HTX có quy mô nhỏ; số thành viên, lao động và phương tiện bình
quân giảm, cho thấy chỉ tăng về số lượng, chưa có sự phát triển về quy mô và
năng lực hoạt động. Phần lớn HTX quy mô nhỏ, ít tài sản chung, phương tiện chủ
yếu do thành viên góp; hoạt động thiên về cung cấp dịch vụ hỗ trợ và khoán gọn,
phương tiện biến động làm khó quản lý. Cạnh tranh với doanh nghiệp và hộ kinh
doanh ngày càng gay gắt; chi phí nhiên liệu, chi phí đầu vào biến động.
Một số HTX thương mại - dịch vụ
khác đã mở rộng hoạt động thu mua, tiêu thụ nông sản, quản lý chợ, du lịch cộng
đồng, bốc xếp, dịch vụ cửa khẩu và vệ sinh môi trường; việc ứng dụng thương mại
điện tử và thanh toán số bước đầu hỗ trợ tiếp cận khách hàng. Tuy nhiên, năng lực
cạnh tranh nhìn chung còn thấp; quy mô vốn và thị trường nhỏ; dịch vụ thiếu tính
chuyên nghiệp; HTX môi trường còn khó khăn về phương tiện, công nghệ xử lý, đơn
giá dịch vụ và địa điểm xử lý chất thải.
3. Đánh giá tác động của
HTX, LHHTX, THT tới thành viên, kinh tế hộ thành viên
a) Tác động chung: Hoạt
động của HTX, LHHTX, THT trên địa bàn tỉnh tuy còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã
có những tác động tích cực đến thành viên và kinh tế hộ. Các tổ chức kinh tế
tập thể góp phần tạo việc làm, duy trì thu nhập, hỗ trợ thành viên tiếp cận thị
trường, vật tư, kỹ thuật và liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, từng
bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của thành viên và hộ thành viên, góp
phần giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và tăng cường liên kết, tương trợ trong
cộng đồng.
b) Đối với HTX: HTX
là loại hình có tác động trực tiếp và rõ nét nhất đến thành viên thông qua việc
tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, hỗ trợ đầu vào và liên kết tiêu thụ sản
phẩm. Đặc biệt, các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp góp phần tập hợp
các hộ sản xuất, hình thành vùng sản xuất tập trung, áp dụng quy trình kỹ
thuật, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, từng bước ổn định đầu ra và thu
nhập cho thành viên.
c) Đối với LHHTX: LHHTX
góp phần liên kết các HTX, mở rộng quy mô hợp tác, tăng khả năng kết nối thị
trường và nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ cho các HTX thành viên. Tuy nhiên,
số lượng LHHTX và mức độ hoạt động còn hạn chế nên tác động trực tiếp đến kinh
tế hộ thành viên chưa rõ nét.
d) Đối với THT: THT
có quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu dựa trên sự liên kết, tương trợ giữa các hộ
thành viên trong sản xuất, kinh doanh. THT góp phần hỗ trợ các hộ chia sẻ kinh
nghiệm, nguồn lực, phối hợp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhất là tại khu vực
nông thôn; qua đó góp phần duy trì việc làm và thu nhập cho các hộ thành viên.
Tuy nhiên, quy mô và năng lực hoạt động của phần lớn THT còn hạn chế, mức độ
tác động đến kinh tế hộ chưa đồng đều.
4. Đánh giá tình hình liên
kết giữa tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã với các thành phần kinh tế khác và
một số mô hình hoạt động hiệu quả theo phương thức sản xuất gắn với chuỗi giá
trị, ứng dụng công nghệ cao
a) Tình hình liên kết
Các HTX từng bước đổi mới
phương thức hoạt động, chuyển từ chủ yếu cung ứng dịch vụ đầu vào sang tổ chức
vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng, sơ
chế, chế biến, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Quan hệ liên kết với doanh nghiệp
được thực hiện ở nhiều khâu, từ cung ứng vật tư, hỗ trợ kỹ thuật đến thu mua,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành các chuỗi giá trị gắn với
sản phẩm chủ lực của địa phương.
Hoạt động liên kết góp phần
hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, thay
đổi phương thức sản xuất và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ. Đồng thời, tạo
điều kiện để HTX mở rộng quy mô hoạt động, phát triển thành viên, tăng vốn góp,
nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh.
b) Một số mô hình, chuỗi
liên kết hoạt động hiệu quả
Một số HTX đã xây dựng được mô
hình sản xuất tập trung gắn với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và phát triển
sản phẩm theo chuỗi giá trị, tiêu biểu như sản phẩm Na Chi Lăng và Hồng Vành
khuyên.
Các chuỗi liên kết đang được
duy trì, phát huy hiệu quả gồm: (1) Chuỗi sản xuất, tiêu thụ Na Chi Lăng: HTX
Nông sản Chi Lăng và HTX Sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông, lâm nghiệp xã Cai
Kinh; (2) Chuỗi cung ứng rau hữu cơ: HTX Nông sản Hữu Lũng; (3) Chuỗi sản xuất
trà thảo dược: HTX Lụa Vy và HTX Chế biến nông lâm sản Bản Quyền; (4) Chuỗi sản
xuất, tiêu thụ Hồng Vành khuyên: HTX Nông sản Toàn Thương và HTX Hồng Vành
khuyên Quyết Tiến.
Nhìn chung, các mô hình liên
kết đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng
hiệu quả sản xuất, kinh doanh và từng bước nâng cao thu nhập cho thành viên HTX.
II. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ
1. Kết quả thi hành pháp
luật và các văn bản về kinh tế tập thể, hợp tác xã
Các cấp, các ngành đã tổ chức
triển khai thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP[1], Nghị quyết số 20-NQ/TW[2], Quyết định số 340/QĐ-TTg[3], Kế hoạch số 115/KH-UBND[4] và các văn bản hướng dẫn
có liên quan. Công tác tuyên truyền, phổ biến, tập huấn Luật Hợp tác xã năm
2023 và các quy định liên quan được chú trọng, góp phần nâng cao nhận thức,
kiến thức pháp luật và năng lực hoạt động cho các HTX, thành viên và các cơ
quan quản lý nhà nước.
Một số chính sách, chương trình
hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể (KTTT), HTX được triển khai, cụ thể:
- Triển khai Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND
của HĐND tỉnh về một số chính sách hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
đồng thời tham mưu xây dựng chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, phát triển
hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nông thôn trên địa
bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030.
- Triển khai chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp, HTX xây dựng và vận hành các điểm giới thiệu, bán sản phẩm OCOP;
thực hiện Kế hoạch số 260/KH- UBND ngày 03/7/2026 về Đề án Chương trình mỗi xã
một sản phẩm tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2026–2030, phấn đấu đến năm 2030 hình
thành hệ thống 12 điểm giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh
theo Quyết định số 1533/QĐ-UBND ngày 13/8/2019.
- Thực hiện các nhiệm vụ thuộc
Đề án triển khai Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn được phê duyệt tại Quyết định số 527/QĐ-UBND ngày 31/3/2020, tập trung hỗ
trợ xây dựng, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ cho sản phẩm, hàng hóa của
địa phương.
- Triển khai Kế hoạch số
94/KH-UBND của UBND tỉnh thực hiện Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 20/02/2024 của
Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế
tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh.
2. Công tác quản lý nhà nước
về KTTT, HTX
Ngay từ đầu năm 2026, Ban Chỉ
đạo đổi mới, phát triển doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể tỉnh
Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch số 45/KH-BCĐ ngày 26/3/2026, xác định mục tiêu,
yêu cầu, chỉ tiêu chủ yếu và cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới,
phát triển doanh nghiệp, KTTT, HTX; đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho các
thành viên Ban Chỉ đạo. Công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể, HTX được quan
tâm, bộ máy quản lý nhà nước được thường xuyên rà soát, kiện toàn, bảo đảm thực
hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định.
Thực hiện nhiệm vụ được giao,
các sở, ban, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo đã chủ động ban hành văn bản chỉ
đạo, triển khai nhiệm vụ theo ngành, lĩnh vực; tăng cường kiểm tra, giám sát,
đánh giá việc thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển doanh nghiệp,
kinh tế tập thể, HTX. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ
trợ khu vực kinh tế tập thể phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp
vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Công tác cải cách thủ tục hành
chính trong lĩnh vực đăng ký HTX tiếp tục được đẩy mạnh. Việc tiếp nhận, hướng
dẫn, giải quyết hồ sơ đăng ký thành lập mới và đăng ký thay đổi nội dung đăng
ký HTX được thực hiện theo quy định, góp phần tạo thuận lợi cho HTX gia nhập
thị trường và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Công tác hậu kiểm sau đăng ký
được tăng cường; các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát tình hình hoạt động của
HTX, nhất là các HTX ngừng hoạt động, hoạt động không hiệu quả để hướng dẫn
thực hiện thủ tục giải thể, tổ chức lại hoặc khôi phục hoạt động theo quy định
của Luật Hợp tác xã năm 2023.
3. Kết quả triển khai chính
sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX
a) Hỗ trợ phát triển
nguồn nhân lực: Công tác thông tin, tư vấn, đào tạo, tập huấn được
triển khai bằng nhiều hình thức n hư hội nghị, bản tin, phóng sự, nhóm trực
tuyến và hướng dẫn trực tiếp, tập trung vào thành lập, tổ chức hoạt động, xây dựng
phương án sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực quản trị HTX.
Trong kỳ, đã tổ chức 01 lớp tập
huấn chuyên đề “Quản trị HTX trong nền kinh tế số ở Việt Nam năm 2026” cho trên
40 cán bộ quản lý HTX, đạt 50% kế hoạch; tổ chức 02 lớp tập huấn về những điểm
mới của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, chế độ kế toán doanh nghiệp và chính
sách thuế mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, hộ kinh doanh, với trên 250 học
viên tham dự. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã tổ chức 32 hội nghị, lớp tập
huấn, đào tạo, tuyên truyền về kinh tế tập thể, quản trị HTX, chuyển đổi số,
ứng dụng khoa học, kỹ thuật, thu hút trên 1.000 lượt người tham dự.
Bên cạnh đó, công tác kết nối
cung - cầu lao động cho các HTX được quan tâm triển khai; đã tổ chức 52 phiên
giao dịch việc làm, trong đó có các phiên giao dịch việc làm lưu động, tư vấn
cho 7.454 lượt người và hỗ trợ phỏng vấn 806 người.
b) Hỗ trợ xây dựng mô
hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Triển khai Nghị quyết số
10/2025/NQ-HĐND về hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện
để HTX tiếp cận, ứng dụng giống mới, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản
xuất; việc triển khai các chính sách được lồng ghép với các chương trình mục
tiêu quốc gia và các chương trình, đề án có liên quan.
Trong kỳ, tỉnh đã chấp thuận hỗ
trợ kinh phí cây giống (mắc ca, hạt dẻ, hồng Nhật) cho các địa phương với quy
mô hàng trăm ha; thẩm định hồ sơ hỗ trợ trồng mắc ca với diện tích 0,7 ha. Đồng
thời, đã triển khai 05 nhiệm vụ hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học với
64 mô hình.
Các nhiệm vụ hỗ trợ tập trung
vào chuyển giao giống mới, quy trình kỹ thuật sản xuất, công nghệ sơ chế, bảo
quản, chế biến; phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng, hoàn thiện các sản
phẩm mới, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm của HTX.
c) Triển khai các hoạt
động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Duy trì hoạt động Trang Thông
tin điện tử khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh; tiếp tục vận hành Khu làm
việc chung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho các tổ chức,
cá nhân, nhóm khởi nghiệp tiếp cận không gian làm việc, tham gia các hoạt động
trưng bày, giới thiệu sản phẩm và các khóa đào tạo, tập huấn về khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo.
Chủ động phối hợp với Công ty
Cổ phần Hỗ trợ sáng kiến kinh doanh tạo tác động (MEVI) triển khai các nội dung
liên quan đến thành lập Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo về nông nghiệp
và du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp với Tổng Công ty
Công nghệ Thiết kế Xây dựng Việt Nam (VDCD Group) nghiên cứu, đề xuất mô hình
Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn.
d) Triển khai các hoạt
động hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số: tiếp tục đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh; triển khai các phần mềm hỗ trợ doanh nghiệp, HTX ứng dụng các giải pháp
số trong quản lý, điều hành và trao đổi văn bản điện tử; phát triển hạ tầng số,
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX tiếp cận và tham gia môi trường
số.
Nền tảng cửa khẩu số được duy trì,
vận hành ổn định, góp phần đơn giản hóa quy trình, giảm thời gian thực hiện thủ
tục và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Lũy kế đến ngày 12/8/2026, Nền
tảng đã xử lý 426.633 lượt phương tiện xuất nhập khẩu, trong đó 327.530 lượt
phương tiện nhập khẩu và 99.103 lượt phương tiện xuất khẩu; 100% doanh nghiệp
thực hiện khai báo trực tuyến trước khi phương tiện đến Cửa khẩu quốc tế Hữu
Nghị và Cửa khẩu Tân Thanh.
Một số HTX đã bước đầu chủ động
ứng dụng nền tảng số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như sử dụng mạng xã
hội để quảng bá, nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Qua đó cho
thấy nhận thức và mức độ chủ động ứng dụng công nghệ số của HTX từng bước được
nâng lên.
đ) Hỗ trợ tiếp cận và
nghiên cứu thị trường: trong kỳ, tỉnh đã hỗ trợ các HTX tham gia các
chương trình xúc tiến thương mại, hội nghị kết nối, phát triển thị trường và
xuất khẩu hàng hóa; trưng bày, giới thiệu các sản phẩm tiêu biểu như nông sản,
thực phẩm đặc sản, trà dược liệu, khau nhục Mai Sao, khẩu sli, bánh khảo, mắc
ca, rượu Trà Ký... tại các chương trình xúc tiến thương mại dành cho HTX khu
vực miền Bắc năm 2026 và các chương trình kết nối thị trường khác.
Đồng thời, hướng dẫn, hỗ trợ
các HTX tham gia các chương trình tôn vinh, quảng bá thương hiệu và giới thiệu sản
phẩm; xây dựng, triển khai các đề án tham gia hội chợ, triển lãm và hoạt động xúc
tiến thương mại trong và ngoài tỉnh. Qua đó, tạo điều kiện để HTX quảng bá sản
phẩm, kết nối đối tác, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị và khả năng
cạnh tranh của sản phẩm.
e) Về hỗ trợ vốn: Quỹ
Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội
tỉnh triển khai nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác năm 2026 để cho vay các
HTX, thành viên HTX phục vụ sản xuất, kinh doanh. Trong năm 2026, đã hoàn thành
chuyển giao 5 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang Chi nhánh
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh; đến thời điểm báo cáo, đã giải ngân 4 tỷ đồng
cho 40 thành viên của 09 HTX vay vốn, đạt 80% kế hoạch vốn ủy thác năm 2026.
Bên cạnh đó, các địa phương
tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng theo các nghị quyết của
HĐND tỉnh; tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức kinh tế tập thể tiếp
cận và thụ hưởng chính sách. Đến nay, toàn tỉnh có 61 tổ chức, cá nhân đề nghị
hỗ trợ lãi suất tín dụng theo Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND, với tổng kinh phí
đề nghị hỗ trợ trên 23,8 tỷ đồng.
4. Kết quả, tình hình thực
hiện Đề án
- Thực hiện Kế hoạch triển khai
Quyết định số 2415/QĐ-TTg ngày 31/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035” trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn,
trong kỳ, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp được triển khai với nhiều
hình thức, tập trung vào nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và
phát triển sản xuất, kinh doanh.
Đã tổ chức hội nghị trực tuyến
phổ biến chính sách thuế cho 80 HTX, THT và nữ chủ hộ kinh doanh; hội nghị tập
huấn nâng cao năng lực quản lý, điều hành cho 120 thành viên ban giám đốc HTX,
ban quản lý THT và hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ. Phối hợp triển khai trên 70
lớp tập huấn, chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho hội viên phụ nữ về sản xuất
nông, lâm nghiệp, chăn nuôi và phát triển kinh tế hộ gia đình; đồng thời lồng
ghép tuyên truyền kiến thức về khởi nghiệp, góp phần nâng cao năng lực sản
xuất, kinh doanh và khả năng phát triển kinh tế của phụ nữ tại cơ sở.
- Triển khai các nhiệm vụ thuộc
Đề án thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng
cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, tập huấn
kiến thức về sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp, HTX, tổ chức, cá nhân và các chủ
thể kinh doanh; tư vấn, hướng dẫn hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đăng ký
bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý đối với các sản
phẩm có tiềm năng của tỉnh.
Đồng thời, hướng dẫn doanh
nghiệp, HTX và các chủ thể sản xuất, kinh doanh khai thác, quản lý và thương
mại hóa tài sản trí tuệ gắn với phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường. Qua
đó, góp phần nâng cao nhận thức, năng lực quản trị tài sản trí tuệ, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh
của sản phẩm địa phương, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển sản xuất, kinh
doanh.
- Các đề án, dự án khoa học và
công nghệ năm 2026 tập trung vào các nhóm nhiệm vụ chủ yếu gồm: bảo tồn, phát
triển giống cây trồng, vật nuôi đặc sản; phòng trừ sinh vật gây hại theo hướng an
toàn; ứng dụng công nghệ sinh học, chế phẩm sinh học; sơ chế, bảo quản, chế biến
nông sản; phát triển dược liệu và các sản phẩm từ mắc mật.
Việc triển khai các nhiệm vụ,
dự án góp phần chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ cho các HTX và cơ sở
sản xuất, tạo điều kiện xây dựng vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm
và hình thành, phát triển các liên kết theo chuỗi từ sản xuất, chế biến đến
tiêu thụ sản phẩm.
- Đối với Dự án “Hỗ trợ xây
dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi”: Dự án có tổng mức đầu tư 3.955 triệu đồng từ Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
thực hiện trong giai đoạn 2025–2026, gồm 06 gói thầu. Đến nay, đã hoàn thành 02
gói thầu, 04 gói thầu đang được triển khai; trong đó, gói thầu chính xây dựng
trang thông tin chợ sản phẩm trực tuyến đã hoàn thành trên 90% khối lượng. Hạ
tầng mạng, phần mềm và máy chủ đã được lắp đặt, dự kiến nghiệm thu và đưa vào
vận hành trong tháng 10/2026.
Sau khi hoàn thành, Dự án sẽ
hình thành chợ sản phẩm trực tuyến và phòng học đa phương tiện được trang bị hạ
tầng mạng, máy tính và các thiết bị cần thiết, tạo điều kiện để đồng bào dân
tộc thiểu số, THT, HTX tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ, nâng cao năng
lực chuyển đổi số, ứng dụng thương mại điện tử và mở rộng hoạt động hợp tác,
liên kết sản xuất. Đồng thời, hỗ trợ
Liên minh HTX tỉnh tổ chức đào
tạo, tập huấn, giới thiệu, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại và kết nối,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của khu vực kinh tế tập
thể, HTX.
5. Hợp tác quốc tế về KTTT
Trong kỳ, trên địa bàn tỉnh
chưa phát sinh chương trình, dự án hợp tác quốc tế hỗ trợ trực tiếp cho phát
triển kinh tế tập thể, hợp tác xã về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, thông
tin, tư vấn, vốn đầu tư và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về
kinh tế tập thể.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Kết quả đạt được
Công tác triển khai các nhiệm
vụ hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ
đạo và tổ chức thực hiện. Các cơ quan, đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ chủ
động xây dựng và triển khai các nội dung hỗ trợ, đồng thời lồng ghép các nguồn
lực từ các chương trình, đề án để hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể, HTX về đào
tạo, tập huấn, xây dựng mô hình sản xuất, phát triển chuỗi liên kết, xúc tiến
thương mại, chuyển giao khoa học, kỹ thuật và chuyển đổi số. Công tác quản lý
nhà nước, kiểm tra, nắm tình hình hoạt động của HTX và tổ chức gặp gỡ, đối
thoại, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc được chú trọng.
Các cơ chế, chính sách hỗ trợ
của Nhà nước đã tạo điều kiện để các HTX từng bước khắc phục khó khăn, củng cố
tổ chức, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Công tác quản
lý nhà nước về kinh tế tập thể tiếp tục được tăng cường; Ban Chỉ đạo đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể được củng cố, kiện toàn; đội
ngũ cán bộ làm công tác quản lý, hỗ trợ kinh tế tập thể từng bước được đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh
của nhiều HTX có chuyển biến tích cực. Nhiều HTX đã áp dụng quy trình sản xuất
theo tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn chất lượng khác; chú trọng xây dựng
thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại và ký kết hợp đồng liên
kết với doanh nghiệp trong cung ứng vật tư, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm. Qua đó, từng bước hình thành các chuỗi liên kết sản xuất - chế biến -
tiêu thụ, mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho
thành viên.
Khu vực kinh tế tập thể, HTX
tiếp tục phát huy vai trò trong tổ chức sản xuất hàng hóa, tập hợp, liên kết
các hộ sản xuất và tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, nhất là khu vực
nông thôn. Hoạt động của THT, HTX góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh
tế hộ, thúc đẩy liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp, thực hiện các
mục tiêu về giảm nghèo, an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới, đóng góp tích
cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Các tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
Số HTX ngừng hoạt động, hoạt
động yếu hoặc không còn hoạt động thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể
còn cao; việc rà soát, xử lý, giải thể dứt điểm các HTX không còn hoạt động
chưa đáp ứng yêu cầu. Phần lớn HTX trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, hiệu quả
hoạt động chưa cao, mức độ liên kết trong nội bộ HTX và giữa HTX với các tổ
chức kinh tế khác còn hạn chế. Năng lực quản trị, điều hành của một bộ phận HTX
còn yếu; khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng, khoa học, công nghệ và thị trường
còn khó khăn. Một số HTX chưa chủ động cập nhật, tìm hiểu và thực hiện đầy đủ
các quy định của pháp luật; chưa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và người lao động.
Việc ứng dụng khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong HTX chưa đồng đều; nhiều HTX còn
hạn chế về nguồn lực, năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ và kỹ năng số. Một
số mô hình, dự án mới đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm nên hiệu quả kinh
tế - xã hội, khả năng thương mại hóa và nhân rộng chưa được đánh giá đầy đủ,
chưa tạo được tác động rõ nét đối với phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập
cho thành viên.
Công tác triển khai chính sách
hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX tại một số địa phương còn lúng túng;
việc xây dựng kế hoạch, xác định nhu cầu và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ
chưa thực sự chủ động, chưa gắn kết chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương, ngành, lĩnh vực và các chương trình, đề án có liên quan.
b) Nguyên nhân
- Nguyên nhân chủ quan: Năng
lực tài chính và khả năng huy động nguồn lực của nhiều hợp tác xã còn hạn chế;
phần lớn HTX có quy mô nhỏ, vốn tự có thấp, khả năng tích lũy và huy động vốn
từ thành viên còn khó khăn. Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các tổ chức
tín dụng còn hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm, năng lực xây dựng phương án sản
xuất, kinh doanh và khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn chưa cao. Một số HTX
chưa chủ động đổi mới phương thức hoạt động, tìm kiếm thị trường, huy động và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực, còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của
Nhà nước.
Chất lượng nguồn nhân lực, nhất
là đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt của HTX, còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ
quản lý chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về quản trị, tài chính, thị
trường và xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh; tư duy, phương thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh ở một số HTX chưa theo kịp yêu cầu của cơ chế thị trường,
năng lực chủ động nắm bắt cơ hội, đổi mới và tổ chức điều hành còn hạn chế.
- Nguyên nhân khách quan: Các
chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX cơ bản phù hợp với nhu cầu
thực tế. Tuy nhiên, nguồn lực bố trí để thực hiện chính sách còn hạn chế, chưa
tương xứng với mục tiêu và nhu cầu hỗ trợ; nguồn vốn thực hiện chủ yếu từ ngân
sách địa phương và lồng ghép từ các chương trình, dự án khác nên việc bố trí,
phân bổ và tổ chức thực hiện còn gặp khó khăn, chưa tạo được nguồn lực ổn định,
tập trung để hỗ trợ HTX phát triển.
Bên cạnh đó, một số chính sách
hỗ trợ có điều kiện, thủ tục và yêu cầu về hồ sơ, năng lực đối ứng mà nhiều HTX
quy mô nhỏ khó đáp ứng; công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tiếp cận chính sách ở
một số địa phương chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến khả năng tiếp cận và thụ hưởng
chính sách hỗ trợ của HTX còn hạn chế.
3. Bài học kinh nghiệm
- Tăng cường vai trò quản lý
nhà nước, chủ động rà soát, phân loại, xử lý các HTX ngừng hoạt động, hoạt động
yếu; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tổ
chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế tập thể, HTX.
- Việc hỗ trợ HTX cần gắn với
nhu cầu và điều kiện thực tế, tập trung vào các nội dung thiết thực như đào
tạo, nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận vốn, khoa học công nghệ, chuyển đổi
số, xây dựng mô hình sản xuất và mở rộng thị trường; hạn chế hỗ trợ dàn trải,
thiếu trọng tâm.
- Phát huy tính chủ động của
HTX, khuyến khích các HTX đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực quản
trị, chủ động huy động nguồn lực, tìm kiếm thị trường, tăng cường liên kết với
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác, giảm dần sự phụ thuộc vào hỗ trợ của
Nhà nước.
- Gắn hỗ trợ với xây dựng mô
hình và chuỗi giá trị, ưu tiên các HTX có khả năng phát triển sản xuất, liên
kết tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để
tạo hiệu quả thực tế, nâng cao thu nhập cho thành viên và có khả năng nhân rộng.
- Tăng cường phối hợp giữa các
cơ quan, đơn vị và địa phương, lồng ghép các nguồn lực, chương trình, đề án;
đồng thời chủ động rà soát, xác định nhu cầu hỗ trợ để việc triển khai chính
sách đồng bộ, hiệu quả và phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
1. Đề nghị Bộ Tài chính
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu Chính phủ
tiếp tục hoàn thiện, ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp đối với
tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nhất là các chính sách hỗ trợ về
vốn, tín dụng, đào tạo, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và mở rộng
thị trường; quan tâm đến các địa bàn miền núi, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số.
2. Đề nghị Chính phủ,
các bộ, ngành Trung ương quan tâm bố trí, phân bổ đủ nguồn lực để thực hiện các
mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã;
ưu tiên lồng ghép, huy động nguồn lực từ các chương trình, đề án đang triển
khai như Chương trình OCOP, các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
chuyển đổi số và các chương trình, đề án có liên quan để hỗ trợ các HTX có tiềm
năng phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và
từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị.
3. Đề nghị các bộ, ngành
Trung ương tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc triển khai
các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX tại địa phương; kịp thời
nghiên cứu, hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá
trình tổ chức thực hiện, bảo đảm các chính sách được triển khai thống nhất,
hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế. Nghiên cứu, ban hành hoặc hướng dẫn
cụ thể việc xử lý đối với các HTX ngừng hoạt động nhưng gặp khó khăn, vướng mắc
trong thực hiện thủ tục giải thể, nhất là các trường hợp còn nợ thuế, các khoản
phải nộp ngân sách nhà nước, nợ thành viên hoặc nợ các tổ chức tín dụng; tạo cơ
sở pháp lý để địa phương rà soát, xử lý dứt điểm các HTX không còn hoạt động.
4. Đề nghị Bộ Tài chính
sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về cơ chế sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi
thường xuyên để hỗ trợ tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX thực hiện các nội dung hỗ
trợ quy định tại Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, đối với các nội dung hiện chưa
có đủ căn cứ, định mức hoặc hướng dẫn cụ thể để lập dự toán, bố trí và sử dụng
kinh phí.
5. Đề nghị các bộ, ngành
liên quan nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể về nội dung, hình thức và cơ chế hỗ trợ
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, thành viên và
người lao động trong khu vực kinh tế tập thể, HTX; đồng thời nghiên cứu cơ chế
hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể, HTX tại địa
phương.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM
2027
I. NỘI DUNG KẾ HOẠCH PHÁT
TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
1. Dự báo những thuận lợi,
khó khăn
a) Thuận lợi
- Hệ thống cơ chế, chính sách
và pháp luật về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã ngày càng được hoàn
thiện, đồng bộ. Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP, Quyết
định số 1128/QĐ-TTg và Kế hoạch số 291/KH-UBND tạo cơ sở pháp lý, định hướng và
các cơ chế hỗ trợ để khu vực kinh tế tập thể, HTX phát triển trong giai đoạn
2026-2030.
- Việc triển khai Nghị quyết số
57-NQ/TW và các kế hoạch của tỉnh như Kế hoạch số 157/KH-UBND, Kế hoạch số 251/KH-UBND
cùng các chương trình hỗ trợ về nâng cao năng suất, chất lượng, sở hữu trí tuệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi để HTX tiếp cận, ứng
dụng khoa học, công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát
triển tài sản trí tuệ, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
- Tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi
thế để phát triển các HTX gắn với sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP, kinh tế
cửa khẩu, thương mại, logistics và du lịch cộng đồng. Các sản phẩm, ngành hàng
có thế mạnh như na, hồng Vành khuyên, rau hữu cơ, trà dược liệu, hồi, quế và
các sản phẩm chế biến còn nhiều dư địa để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao giá
trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường.
- Sự phát triển nhanh của khoa
học, công nghệ và chuyển đổi số tạo điều kiện để HTX đổi mới phương thức quản
trị, ứng dụng kỹ thuật mới trong sản xuất, thực hiện truy xuất nguồn gốc, quảng
bá sản phẩm và mở rộng thị trường thông qua các nền tảng số, thương mại điện tử.
- Khu vực kinh tế tập thể, HTX
tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ thông qua các chương trình mục tiêu quốc
gia, các chương trình, đề án của Trung ương và của tỉnh; đồng thời có khả năng
tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ Hỗ
trợ phát triển HTX và các nguồn vốn hợp pháp khác. Đây là điều kiện thuận lợi
để HTX từng bước nâng cao năng lực sản xuất, đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới
công nghệ và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
b) Khó khăn
- Phần lớn HTX có quy mô nhỏ,
năng lực tài chính và khả năng tích lũy còn hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm nên
dự kiến tiếp tục gặp khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và nguồn
vốn hỗ trợ phát triển. Năng lực xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh của một
bộ phận HTX còn hạn chế, tính khả thi chưa cao, khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu của
các tổ chức tín dụng và đơn vị quản lý chương trình hỗ trợ. Việc tiếp cận, thực
hiện một số chính sách hỗ trợ còn phụ thuộc vào điều kiện, trình tự, thủ tục; do
đó, yêu cầu tiếp tục đơn giản hóa, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường hướng
dẫn, hỗ trợ HTX, nhất là tại cơ sở, vẫn đặt ra trong thời gian tới.
- Liên kết giữa HTX với doanh nghiệp,
hộ sản xuất và các chủ thể khác trong chuỗi giá trị chưa thực sự bền vững; khả
năng tìm kiếm và duy trì thị trường đầu ra ổn định của nhiều HTX còn hạn chế,
vẫn có nguy cơ phụ thuộc vào thương lái và thị trường tự phát, dẫn đến giá cả
và doanh thu thiếu ổn định. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chịu tác động của
thiên tai, dịch bệnh, biến động thời tiết, mùa vụ và giá vật tư đầu vào; trong
khi chi phí vận chuyển, logistics còn cao, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và
mở rộng thị trường của HTX.
- Nguồn lực đầu tư cho khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của HTX còn hạn chế; hạ tầng
số và hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa
chưa đồng bộ. Khả năng tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng công nghệ của nhiều HTX
còn hạn chế, trong khi việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao từ
mô hình thử nghiệm sang sản xuất hàng hóa và hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất,
chế biến đến tiêu thụ sản phẩm có thể còn chậm.
- Yêu cầu về chất lượng, tiêu
chuẩn, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và khả năng
đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường ngày càng cao, trong khi năng lực đầu tư,
quản trị và tổ chức sản xuất của nhiều HTX còn hạn chế. Đây là thách thức đối
với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường
và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
2. Định hướng chung về phát
triển KTTT, HTX
Phát triển kinh tế tập thể, HTX
theo hướng năng động, hiệu quả, bền vững; phát huy vai trò tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của HTX và thành viên; tăng cường liên kết, ứng dụng khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng
tham gia chuỗi giá trị và mở rộng thị trường. Tập trung vào các nhóm định hướng
sau:
a) Tiếp tục củng cố và
nâng cao hiệu quả hoạt động HTX hiện có
Rà soát, phân loại HTX theo
tình trạng hoạt động, năng lực và hiệu quả; tập trung củng cố, kiện toàn, tổ
chức lại đối với các HTX còn khả năng hoạt động, có tiềm năng phát triển; đồng
thời rà soát, hướng dẫn thực hiện các thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động đối
với các HTX không còn hoạt động, không có khả năng phục hồi theo quy định. Nâng
cao năng lực quản trị, điều hành, quản lý tài chính và xây dựng phương án sản
xuất, kinh doanh; khuyến khích HTX chủ động huy động nguồn lực, đổi mới phương
thức hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng lợi ích cho
thành viên.
b) Phát triển HTX mới
theo hướng hiện đại, đa dạng lĩnh vực
Phát triển HTX mới gắn với nhu
cầu thực tế của thành viên, lợi thế, tiềm năng của địa phương và nhu cầu thị trường;
ưu tiên phát triển HTX trong các lĩnh vực có lợi thế và dư địa tăng trưởng như
nông nghiệp hàng hóa, chế biến nông sản, thương mại, logistics, vận tải, môi
trường, du lịch cộng đồng và tiểu thủ công nghiệp. Khuyến khích hình thành HTX
trên cơ sở liên kết tự nguyện giữa các thành viên, tăng cường liên kết giữa HTX
với doanh nghiệp, hộ sản xuất và các chủ thể trong chuỗi giá trị; chú trọng xây
dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số và phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường.
Đồng thời, tăng cường hướng
dẫn, hỗ trợ hộ kinh doanh, HTX và các chủ thể kinh tế trên địa bàn tiếp cận các
chương trình về kinh doanh bền vững; khuyến khích đổi mới phương thức quản trị,
sử dụng hiệu quả nguồn lực, áp dụng các tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường và
trách nhiệm xã hội, từng bước nâng cao khả năng phát triển ổn định, lâu dài.
c) Đổi mới và hiện đại
hóa phương thức hoạt động của HTX
Khuyến khích HTX chủ động
nghiên cứu, ứng dụng và tiếp nhận chuyển giao khoa học, công nghệ phù hợp với
điều kiện, nhu cầu thực tế và sản phẩm chủ lực, đặc sản của địa phương; xây
dựng lộ trình đổi mới phù hợp với quy mô, năng lực và khả năng huy động nguồn
lực của từng HTX. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị, điều hành và
sản xuất, kinh doanh; áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình quản lý chất lượng,
truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và bảo hộ, phát triển tài sản trí tuệ;
khuyến khích phát triển sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài
nguyên, năng lượng. Tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ trong chế biến, bảo
quản, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
HTX.
d) Nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với KTTT, HTX
Phân công, xác định rõ trách
nhiệm của các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước
về kinh tế tập thể, HTX, bảo đảm thống nhất từ cấp tỉnh đến cơ sở; chuẩn hóa,
cập nhật và liên thông dữ liệu, biểu mẫu, chế độ thông tin, báo cáo về KTTT,
HTX. Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc đăng ký, tổ chức lại, hoạt
động và giải thể HTX theo quy định; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc đề xuất xử
lý các HTX không còn hoạt động, hoạt động không hiệu quả. Tăng cường phối hợp
giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, các sở, ngành , chính quyền địa
phương và Liên minh Hợp tác xã tỉnh trong trao đổi thông tin, quản lý, hỗ trợ
và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho HTX.
đ) Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền và phát triển nguồn nhân lực
Đổi mới nội dung, hình thức và phương
thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, thành viên HTX, người dân
và các chủ thể kinh tế về vị trí, vai trò, bản chất, nguyên tắc hoạt động và những
đóng góp của kinh tế tập thể, HTX trong phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời
nâng cao nhận thức về quyền, trách nhiệm và vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của thành viên HTX.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao năng lực cho đội ngũ giám đốc, kế toán, cán bộ quản lý và người lao
động HTX, tập trung vào các nội dung thiết thực như pháp luật về HTX, quản trị
và quản lý tài chính, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển thị trường,
ký kết và thực hiện hợp đồng, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và kỹ
năng số. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước về KTTT, HTX.
Duy trì và nâng cao chất lượng
các hội nghị, hội thảo, đối thoại với HTX; kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng
mắc, nhu cầu hỗ trợ và kiến nghị của HTX để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm
quyền giải quyết hoặc tháo gỡ theo chức năng, nhiệm vụ, tạo môi trường thuận
lợi cho HTX hoạt động hiệu quả, ổn định và bền vững.
Tăng cường theo dõi, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ KTTT, HTX; bảo đảm việc hỗ trợ
được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục tiêu, hiệu quả và
phù hợp với quy định.
3. Mục tiêu tổng quát
Khuyến khích phát triển mới các
tổ chức kinh tế tập thể, đa dạng về quy mô và lĩnh vực hoạt động; nâng cao hiệu
quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã, hình thành thêm các mô hình
HTX hoạt động hiệu quả, có sức cạnh tranh, liên kết bền vững, trở thành mô hình
điển hình để nhân rộng và thu hút người dân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia
hoặc liên kết với HTX. Tăng khả
năng tiếp cận chính sách, vốn,
đất đai, khoa học, công nghệ và thị trường; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng
khoa học, công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX. Tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật về kinh tế tập thể, HTX; phát huy vai trò của khu vực kinh
tế tập thể trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, giảm
nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
4. Mục tiêu cụ thể
Năm 2027, tỉnh phấn đấu thực hiện
các mục tiêu chủ yếu sau:
- Số HTX thành lập mới: từ 68
HTX trở lên; Số HTX đang hoạt động là 550 HTX.
- Số lượng thành viên HTX: đạt
6.880 thành viên.
- Doanh thu bình quân của HTX
đạt 900 triệu đồng/HTX/năm; Lãi đạt 300 triệu đồng/HTX/năm.
- Thu nhập bình quân của lao
động thường xuyên trong HTX đạt 80 triệu đồng/người/năm.
- Tổng số THT: phấn đấu đến năm
2027 đạt 450 THT. Tổng số thành viên THT dự kiến tăng từ 4.000 người lên 4.500 người.
- Duy trì ít nhất 50 HTX nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, GAP hoặc hữu cơ; duy trì và nâng chất lượng liên
kết của ít nhất 72 HTX nông nghiệp, trong đó lựa chọn tối thiểu 20 HTX để củng
cố liên kết chuỗi giá trị.
- Tiếp tục lựa chọn HTX đủ điều
kiện tham gia các đề tài, dự án khoa học và công nghệ; hỗ trợ tiếp nhận giống,
quy trình kỹ thuật, công nghệ sơ chế, bảo quản, chế biến, tiêu chuẩn, truy xuất
nguồn gốc và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; theo dõi cụ thể số HTX, mô hình và kết
quả sau chuyển giao.
- Tổ chức 20 hội nghị tuyên
truyền; 01 lớp đào tạo, cấp chứng chỉ nghiệp vụ quản lý HTX cho khoảng 50 học
viên; 03 lớp tập huấn cho 150–200 cán bộ quản lý KTTT.
- Củng cố ít nhất 06 HTX yếu
lên mức trung bình; rà soát, xử lý và giải thể 50 HTX ngừng hoạt động, không
còn khả năng phục hồi.
- Lựa chọn, chuẩn bị tối thiểu 01
dự án đầu tư công hỗ trợ HTX, LHHTX để đề xuất bố trí trong kế hoạch đầu tư
công trung hạn 2026–2030 của tỉnh.
5. Các giải pháp phát triển
kinh tế tập thể năm 2027
a) Hoàn thiện cơ chế,
chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp với thực tiễn của tỉnh Lạng Sơn
- Tổ chức triển khai đồng bộ,
hiệu quả Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP, Quyết định số
1128/QĐ-TTg và Kế hoạch số 291/KH-UBND; thường xuyên rà soát, đánh giá việc
thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh,
kịp thời tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền hoàn thiện
các chính sách chưa phù hợp với thực tiễn. Chủ động xây dựng, tham mưu mức hỗ
trợ, trình tự, thủ tục, định mức kinh tế - kỹ thuật và các nội dung thuộc thẩm
quyền của tỉnh; tăng cường lồng ghép, huy động nguồn lực từ các chương trình,
dự án, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và các
chương trình mục tiêu, đề án có liên quan để hỗ trợ HTX phát triển.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính, đơn giản hóa, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, thẩm định và giải ngân
kinh phí hỗ trợ HTX theo quy định; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin,
chuyển đổi số trong tiếp nhận, xử lý và theo dõi hồ sơ, bảo đảm công khai, minh
bạch, đúng đối tượng, đúng quy định, tạo thuận lợi cho HTX tiếp cận và thụ
hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước và của tỉnh.
- Tăng cường tuyên truyền,
hướng dẫn để HTX nắm rõ điều kiện, trình tự, thủ tục và nội dung được hỗ trợ;
chủ động hỗ trợ HTX hoàn thiện hồ sơ, phương án sản xuất, kinh doanh và các
điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng tiếp cận chính sách.
b) Huy động và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ
- Tiếp tục bố trí nguồn vốn
ngân sách tỉnh thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp
tác xã giai đoạn 2026–2030 theo khả năng cân đối ngân sách; chủ động lồng ghép,
huy động nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án
và đề án có liên quan, bảo đảm đúng nội dung, đối tượng, địa bàn và quy định
hiện hành; ưu tiên nguồn lực cho các HTX có phương án sản xuất, kinh doanh khả
thi, có tiềm năng phát triển và khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho
thành viên.
- Tiếp tục bổ sung vốn điều lệ
cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX theo khả năng cân đối và quy định; nâng cao hiệu
quả hoạt động của Quỹ, tạo điều kiện để HTX tiếp cận nguồn vốn phù hợp. Phối
hợp, hướng dẫn HTX xây dựng, hoàn thiện phương án vay vốn, nâng cao khả năng
tiếp cận tín dụng; tăng cường theo dõi, đánh giá tình hình sử dụng vốn, dư nợ,
nợ quá hạn và hiệu quả sau vay, trong đó chú trọng các chỉ tiêu về doanh thu,
việc làm, thu nhập và khả năng duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Đa dạng hóa các nguồn lực hỗ
trợ phát triển HTX; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp,
tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và các chương trình hợp
tác quốc tế theo quy định. Tăng cường kết nối HTX với doanh nghiệp, tổ chức tín
dụng và các đối tác để thúc đẩy đầu tư, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chuyển
giao công nghệ, đào tạo và phát triển thị trường, góp phần nâng cao tính tự chủ
và khả năng huy động nguồn lực của HTX.
c) Tiếp tục đẩy mạnh phát
triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
- Rà soát, phân loại 620 HTX
theo tình trạng hoạt động, năng lực và hiệu quả hoạt động; xác định rõ các HTX
đang hoạt động hiệu quả, hoạt động trung bình, hoạt động yếu, ngừng hoạt động
hoặc không còn khả năng hoạt động để có giải pháp phù hợp. Đối với HTX còn khả
năng hoạt động, tập trung hỗ trợ củng cố tổ chức, nâng cao năng lực quản trị,
xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường; đối với HTX
ngừng hoạt động, không còn khả năng phục hồi, hướng dẫn thực hiện các thủ tục
tổ chức lại, giải thể theo quy định, phấn đấu xử lý dứt điểm các trường hợp đủ
điều kiện.
- Khuyến khích thành lập mới
HTX theo nhu cầu thực tế, lợi thế của địa phương và nhu cầu thị trường; việc
vận động, hướng dẫn thành lập mới phải bảo đảm có sáng lập viên, thành viên
tham gia thực chất, nguồn vốn, nhân lực, phương án sản xuất, kinh doanh và thị
trường phù hợp, khả thi, hạn chế tình trạng thành lập HTX nhưng hoạt động hình
thức, kém hiệu quả. Tăng cường theo dõi, đánh giá tình trạng hoạt động của HTX
sau thành lập, nhất là sau 12 tháng, làm cơ sở đánh giá chất lượng phát triển
HTX.
d) Tăng cường công tác
quản lý nhà nước về kinh tế tập thể
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đối với phát triển kinh tế tập thể,
HTX; xác định phát triển KTTT, HTX là một trong những nhiệm vụ gắn với thực
hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phân công, xác định
rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong quản lý nhà nước về
KTTT; bố trí, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về KTTT, HTX, nhất là tại cấp xã.
- Kịp thời tổ chức triển khai
các chủ trương, chính sách của Trung ương và của tỉnh về phát triển KTTT, HTX;
tăng cường hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chính sách, kịp thời nắm
bắt và tham mưu giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Chuẩn hóa, cập
nhật cơ sở dữ liệu về KTTT, HTX; nâng cao chất lượng công tác thống kê, thông
tin, báo cáo, phục vụ công tác quản lý, theo dõi và hoạch định chính sách.
- Tăng cường phối hợp giữa các
cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, các sở, ngành, UBND cấp xã và Liên
minh Hợp tác xã tỉnh trong quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ HTX; thực hiện kiểm tra,
giám sát việc chấp hành quy định pháp luật và việc thực hiện các chính sách hỗ
trợ KTTT, HTX theo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định
và nâng cao hiệu quả hỗ trợ.
đ) Hỗ trợ xây dựng mô
hình HTX hiệu quả, gắn với chuỗi giá trị
- Lựa chọn, hỗ trợ các HTX có
vùng nguyên liệu, sản phẩm, phương án sản xuất, kinh doanh và thị trường tiêu
thụ phù hợp để xây dựng, củng cố và phát triển mô hình HTX gắn với chuỗi giá
trị. Ưu tiên các HTX có sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm chủ lực của
tỉnh như hồi, quế, na, các sản phẩm rau đặc sản Xứ Lạng và các sản phẩm có tiềm
năng phát triển thị trường. Tăng cường liên kết giữa HTX với doanh nghiệp, hộ
sản xuất và các chủ thể khác trong chuỗi; theo dõi, đánh giá hiệu quả liên kết thông
qua sản lượng tiêu thụ theo hợp đồng, giá trị đơn hàng, doanh thu và thu nhập
tăng thêm.
- Hỗ trợ HTX nâng cao năng lực
xây dựng và phát triển thương hiệu, hoàn thiện bao bì, nhãn mác, mã số, mã
vạch, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ; hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm, kết nối cung - cầu và tham gia các
nền tảng, sàn thương mại điện tử phù hợp, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Khuyến khích HTX chủ động đề
xuất, tham gia các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi
số phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh; ưu tiên ứng dụng công nghệ trong
sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến, quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc
và tiêu thụ sản phẩm. Lồng ghép các nội dung hỗ trợ HTX ứng dụng khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quá trình triển khai các chương trình,
nhiệm vụ của tỉnh, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, đặc sản và các HTX có
tiềm năng hình thành, phát triển chuỗi giá trị.
e) Tăng cường công tác
tuyên truyền, kiểm tra, giám sát và đánh giá
Đổi mới nội dung, phương thức
tuyên truyền; tổ chức đối thoại để tháo gỡ khó khăn. Tiếp tục tổ chức các hội
nghị với hợp tác xã trên địa bàn tỉnh để tiếp tục có các giải pháp đề xuất với
các cấp, các ngành kịp thời tháo gỡ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp, hợp tác xã hoạt động kinh doanh hiệu quả. Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng
đối tượng, đúng mục tiêu.
6. Nguồn vốn thực hiện
a) Tình hình thực hiện
nguồn vốn hỗ trợ năm 2026
Trong năm 2026, tỉnh đã quan
tâm bố trí, lồng ghép và sử dụng các nguồn lực tài chính để triển khai các cơ
chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX, tập trung vào hỗ trợ
tiếp cận vốn, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học và công nghệ, tuyên truyền, đào
tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho khu vực KTTT, HTX. Việc phân bổ và sử
dụng kinh phí cơ bản bám sát nội dung, đối tượng và tiến độ thực hiện các
chương trình, nhiệm vụ.
Một số kết quả chủ yếu như sau:
- Nguồn vốn ủy thác qua Chi
nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh: Đã chuyển 5.000 triệu đồng vốn ngân
sách tỉnh ủy thác sang Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để cho vay;
đến nay đã giải ngân 4.000 triệu đồng cho 40 thành viên của 09 HTX, đạt 80% kế
hoạch.
- Dự án chợ sản phẩm trực
tuyến: Tổng mức đầu tư 3.955 triệu đồng; đến nay gói thầu chính đã hoàn thành
trên 90% khối lượng, đang tiếp tục hoàn thiện các thủ tục để nghiệm thu trong
năm 2026.
- Các chương trình, đề tài, dự
án khoa học và công nghệ: Đã bố trí trên 4.000 triệu đồng để thực hiện 05 nhiệm
vụ, hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu với 64 mô hình, góp phần thúc đẩy ứng dụng
khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh của khu vực KTTT, HTX.
- Hỗ trợ lãi suất tín dụng: đã
giải ngân 18.131 triệu đồng để hỗ trợ lãi suất tín dụng cho các hộ dân và HTX
theo Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND và Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND của HĐND
tỉnh.
Nhìn chung, các nguồn lực được
bố trí trong năm 2026 đã góp phần hỗ trợ HTX tiếp cận vốn, ứng dụng khoa học,
công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc huy động,
lồng ghép và giải ngân một số nguồn lực hỗ trợ còn gặp khó khăn, tiến độ thực
hiện chưa đồng đều; nhu cầu hỗ trợ của HTX còn lớn trong khi khả năng cân đối
nguồn lực của địa phương còn hạn chế. Đây là cơ sở để tiếp tục rà soát, xác
định nhu cầu và bố trí nguồn lực thực hiện các mục tiêu phát triển KTTT, HTX
năm 2027.
b) Đề xuất nhu cầu vốn
thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển THT, HTX, LHHTX năm 2027
Tổng nhu cầu vốn thực hiện
chính sách hỗ trợ phát triển THT, HTX, LHHTX năm 2027: 29.668 triệu đồng,
bao gồm:
- Nhu cầu vốn sự nghiệp: 21.868
triệu đồng để chi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; hỗ trợ ứng dụng khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó: ngân sách trung ương:
6.107 triệu đồng, ngân sách địa phương: 15.761 triệu đồng.
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển:
7.800 triệu đồng. Trong đó: ngân sách trung ương: 6.150 triệu đồng, ngân
sách địa phương: 1.500 triệu đồng từ ngân sách địa phương, 150 triệu đồng vốn
đối ứng của các chủ thể HTX.
(Chi
tiết tại Phụ lục III và Phụ lục IV kèm theo)
Trên đây là Kế hoạch phát triển
kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027 của UBND tỉnh Lạng Sơn./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Tài chính (b/c);
- Liên minh Hợp tác xã Việt Nam;
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- Thuế tỉnh, Ngân hàng Nhà nước khu vực 5;
- Liên minh Hợp tác xã tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- C, PCVP UBND tỉnh, các Phòng CM, Trung tâm Thông tin;
- Lưu: VT, KTTH(TTH).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Đinh Hữu Học
|
PHỤ LỤC I
TÌNH
HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026 VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TẬP THỂ NĂM 2027
(Kèm theo kế hoạch số: 329/KH-UBND, ngày 26/8/2026 của UBND tỉnh Lạng Sơn)
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị tính
|
Thực hiện năm 2025
|
Năm 2026
|
Kế hoạch năm 2027
|
Ghi chú
|
|
Kế hoạch
|
Ước thực hiện cả năm
|
|
I
|
Hợp tác xã
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Tổng số hợp tác xã
|
HTX
|
563
|
620
|
620
|
630
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số hợp tác xã đang hoạt động
|
HTX
|
459
|
550
|
480
|
550
|
|
|
|
Số hợp tác xã thành lập mới
|
HTX
|
68
|
55
|
68
|
60
|
|
|
|
Số hợp tác xã giải thể
|
HTX
|
54
|
20
|
11
|
50
|
|
|
|
Số hợp tác xã ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản
|
HTX
|
|
|
|
|
|
|
|
Số hợp tác xã nông nghiệp
liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá
|
HTX
|
|
|
|
|
|
|
|
Số hợp tác xã thành lập doanh
nghiệp, góp vốn, mua cổ phần
|
HTX
|
|
|
|
|
|
|
|
Số hợp tác xã có thành viên
là doanh nghiệp
|
HTX
|
0
|
2
|
0
|
2
|
|
|
|
Số hợp tác xã có thành viên
là người nước ngoài
|
HTX
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
|
Số xã đạt chuẩn tiêu chí số
3.6 về Xã có hợp tác xã hoạt động hiệu quả (thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã
nông thôn mới)
|
Xã
|
|
|
|
|
|
|
2
|
Tổng số thành viên hợp tác xã
|
Người
|
6.273
|
6.850
|
6.850
|
6.880
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số thành viên mới
|
Thành viên
|
518
|
600
|
550
|
600
|
|
|
|
Số thành viên ra khỏi hợp tác
xã
|
Thành viên
|
|
|
|
|
|
|
3
|
Tổng số lao động thường xuyên
trong hợp tác xã
|
Người
|
8.326
|
9.500
|
8.550
|
9.000
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số lao động thường xuyên mới
|
Người
|
681
|
900
|
500
|
550
|
|
|
|
Số lao động thường xuyên là
thành viên hợp tác xã
|
Người
|
5.590
|
6.200
|
6.100
|
6.150
|
|
|
4
|
Tổng số cán bộ quản lý hợp
tác xã
|
Người
|
1.850
|
1.950
|
1.950
|
1.970
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số cán bộ quản lý hợp tác xã
đã qua đào tạo đạt trình độ sơ, trung cấp
|
Người
|
380
|
420
|
420
|
440
|
|
|
|
Số cán bộ quản lý hợp tác xã
đã qua đào tạo đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên
|
Người
|
420
|
450
|
450
|
460
|
|
|
5
|
Doanh thu bình quân một hợp
tác xã
|
Tr đồng/năm
|
700
|
800
|
800
|
900
|
|
|
|
Trong đó: Doanh thu của hợp
tác xã với thành viên
|
Tr đồng/năm
|
86
|
90
|
90
|
100
|
|
|
6
|
Lãi bình quân một hợp tác xã
|
Tr đồng/năm
|
270
|
300
|
300
|
300
|
|
|
7
|
Thu nhập bình quân của lao
động thường xuyên trong hợp tác xã
|
Tr đồng/năm
|
70
|
75
|
75
|
80
|
|
|
II
|
Liên hiệp hợp tác xã
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Tổng số liên hiệp hợp tác xã
|
LH HTX
|
3
|
2
|
2
|
2
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số liên hiệp hợp tác xã đang
hoạt động
|
LH HTX
|
1
|
2
|
1
|
2
|
|
|
|
Số liên hiệp hợp tác xã thành
lập mới
|
LH HTX
|
0
|
1
|
0
|
1
|
|
|
|
Số liên hiệp hợp tác xã giải
thể
|
LH HTX
|
0
|
1
|
1
|
1
|
|
|
|
Số liên hiệp hợp tác xã thành
lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần
|
LH HTX
|
|
|
|
|
|
|
2
|
Tổng số hợp tác xã thành viên
|
HTX
|
19
|
12
|
10
|
12
|
|
|
3
|
Tổng số lao động trong liên
hiệp hợp tác xã
|
Người
|
7
|
12
|
7
|
12
|
|
|
4
|
Doanh thu bình quân của một
liên hiệp hợp tác xã
|
Tr đồng/năm
|
0
|
1.000
|
0
|
1.000
|
|
|
5
|
Lãi bình quân của một liên
hiệp hợp tác xã
|
Tr đồng/năm
|
0
|
100
|
0
|
100
|
|
|
III
|
Tổ hợp tác
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Tổng số tổ hợp tác
|
THT
|
350
|
380
|
400
|
450
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số THT có đăng ký hoạt động
với cơ quan đăng ký kinh doanh
|
THT
|
|
|
|
|
|
|
2
|
Tổng số thành viên tổ hợp tác
|
Thành viên
|
3.850
|
4.000
|
4.000
|
4.500
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Số thành viên mới thu hút
|
Thành viên
|
|
|
|
|
|
|
3
|
Doanh thu bình quân một tổ
hợp tác
|
Tr đồng/năm
|
770
|
800
|
800
|
820
|
|
|
4
|
Lãi bình quân một tổ hợp tác
|
Tr đồng/năm
|
46
|
50
|
50
|
55
|
|
PHỤ LỤC II
SỐ
LƯỢNG HTX, LHHTX, THT PHÂN LOẠI THEO NGÀNH NGHỀ NĂM 2026 VÀ KẾ HOẠCH NĂM 2027
(Kèm theo kế hoạch số: 329/KH-UBND, ngày 26/8/2026 của UBND tỉnh Lạng Sơn)
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị tính
|
Thực hiện năm 2025
|
Năm 2026
|
Kế hoạch năm 2027
|
Ghi chú
|
|
Kế hoạch
|
Ước thực hiện cả năm
|
|
1
|
HỢP TÁC XÃ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng số hợp tác xã
|
HTX
|
563
|
620
|
620
|
630
|
|
|
|
Chia ra:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Hợp tác xã nông nghiệp
|
HTX
|
392
|
446
|
430
|
425
|
|
|
|
Hợp tác xã công nghiệp - xây
dựng
|
HTX
|
82
|
100
|
90
|
95
|
|
|
|
Hợp tác xã tài chính, ngân
hàng và bảo hiểm
|
|
0
|
0
|
|
|
|
|
|
Hợp tác xã thương mại - dịch
vụ và khác
|
HTX
|
89
|
74
|
100
|
110
|
|
|
2
|
LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng số liên hiệp hợp tác xã
|
LHHTX
|
3
|
2
|
2
|
2
|
|
|
|
Chia ra:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Liên hiệp hợp tác xã nông
nghiệp
|
LHHTX
|
3
|
1
|
2
|
1
|
|
|
|
Liên hiệp hợp tác xã công
nghiệp – xây dựng
|
LHHTX
|
|
|
|
|
|
|
|
Liên hiệp hợp tác xã tài
chính, ngân hàng và bảo hiểm
|
LHHTX
|
|
|
|
|
|
|
|
Liên hiệp hợp tác xã thương
mại - dịch vụ và khác
|
LHHTX
|
|
1
|
0
|
1
|
|
|
3
|
TỔ HỢP TÁC
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng số tổ hợp tác
|
THT
|
350
|
380
|
400
|
450
|
|
|
|
Chia ra:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổ hợp tác nông nghiệp
|
THT
|
340
|
360
|
380
|
420
|
|
|
|
Tổ hợp tác phi nông nghiệp
|
THT
|
10
|
20
|
20
|
30
|
|
PHỤ LỤC III
NHU
CẦU VỐN SỰ NGHIỆP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
(Kèm theo kế hoạch số: 329/KH-UBND, ngày 26/8/2026 của UBND tỉnh Lạng
Sơn)
Đơn
vị: Triệu đồng
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị tính
|
Kế hoạch 2027
|
Ghi chú
|
|
Ngân sách Trung ương
|
Ngân sách địa phương
|
|
|
TỔNG CỘNG
|
|
6.107
|
15.761
|
|
|
I
|
HỖ TRỢ CHUNG ĐỐI VỚI CÁC
TỔ CHỨC KTTT
|
|
5.042
|
14.396
|
|
|
1
|
Hỗ trợ phát triển nguồn
nhân lực
|
|
|
|
|
|
|
- Đào tạo
|
Người
|
|
|
Đào tạo cấp chứng chỉ nghiệp vụ quản lý HTX
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
2.674
|
165
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
2.674
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
165
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
- Bồi dưỡng
|
Người
|
|
|
Tuyên truyền KTTT 20 lớp; Tập huấn 03 lớp (50 người/lớp)
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
344
|
758
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
344
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
758
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
- Hỗ trợ kinh phí biên soạn,
xây dựng, phát hành chương trình, giáo trình..
|
|
24
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
|
54
|
200
|
Bản tin KTTT
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
54
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
200
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
- Hỗ trợ lao động tốt nghiệp
cao đẳng, đại học, sau đại học về làm việc tại các tổ chức KTTT
|
Người
|
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
300
|
217
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
- Xây dựng và triển khai
các chương trình truyền thông..
|
|
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
|
66
|
88
|
Phóng sự trên Báo Đài PTTH
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
66
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
88
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
2
|
Hỗ trợ thông tin
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
124
|
159
|
Hội nghị đối thoại với thành viên HTX ; điều tra khảo sát chỉ số hài
lòng của các HTX
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
124
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
159
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
3
|
Hỗ trợ xây dựng mạng lưới
cung cấp dịch vụ tư vấn
|
|
|
|
Tuyên truyền, vận động thu hút hợp tác xã, liên hiệp htx, tổ hợp tác,
htx khởi nghiệp, doanh nghiệp và các đối tác có liên quan tham gia hệ thống
thành viên Liên minh phù hợp với quy định (10 hội nghị); củng cố lại hoạt
động 6 HTX
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX, cá
nhân, tổ chức được hỗ trợ
|
|
14
|
15
|
Các HTX chưa phải thành viên; 06 HTX thành viên Liên minh
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
70
|
208
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
70
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
208
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
4
|
Hỗ trợ nhân rộng mô hình
HTX, LH HTX hoạt động hiệu quả
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
4
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
230
|
30
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
230
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
30
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
5
|
Hỗ trợ ứng dụng khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
|
|
|
|
|
|
|
- Số HTX, LHHTX được hỗ trợ
|
|
8
|
1
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
890
|
10.591
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
890
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
10.591
|
Đề án chuyển đổi số toàn diện trong quản trị và sản xuất đối với Hợp
tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh (9.991 triệu đồng); Duy trì chợ sản phẩm
trực tuyến, Trang thông tin điện tử liên minh HTX tỉnh (Web), trang fanpage
Liên minh HTX tỉnh (150 triệu); Tổ chức đào tạo livestream, quảng bá, giới
thiệu và Tổ chức bán các sản phẩm OCOP, sản
phẩm đặc trưng của HTX tại xã, phường ( 5 cuộc sản phẩm mùa vụ nông
nghiệp) (150 triệu)
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
6
|
Hỗ trợ tiếp cận và nghiên
cứu thị trường
|
|
|
|
Tham gia Hội chợ, triển lãm trong nước
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
26
|
1
|
Các HTX có sản phẩm
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
290
|
380
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách Trung ương
|
Tr đồng
|
290
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
380
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
7
|
Hỗ trợ đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng
|
|
|
|
Đầu tư xây dựng Điểm quảng bá giới thiệu sản phẩm của Hợp tác xã tại
phường Đông Kinh ( 200m2 sàn)
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
|
|
Các HTX có sản phẩm
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
|
1.600
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
1.600
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
8
|
Chuyển giao công trình kết
cấu hạ tầng, công trình công cộng và cơ sở hạ tầng khác của Nhà nước
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
|
|
|
|
|
Tổng giá trị tài sản được
chuyển giao
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
9
|
Hỗ trợ tư vấn tài chính và
đánh giá rủi ro
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
|
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
II
|
HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
|
|
1.065
|
1.365
|
|
|
1
|
Hỗ trợ đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
|
2
|
1
|
|
|
|
Tổng kinh phí hỗ trợ
|
Tr đồng
|
910
|
280
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
910
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
280
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
|
2
|
Hỗ trợ vốn, giống khi gặp
khó khăn do thiên tai, dịch bệnh
|
|
|
|
|
|
|
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ
trợ
|
HTX
|
3
|
16
|
|
|
|
- Tổng kinh phí được hỗ trợ
|
Tr đồng
|
155
|
1.085
|
|
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
|
Ngân sách trung ương
|
Tr đồng
|
155
|
|
|
|
|
Ngân sách địa phương
|
Tr đồng
|
|
1.085
|
|
|
|
Nguồn vốn khác
|
Tr đồng
|
|
|
|
PHỤ LỤC IV
NHU
CẦU VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM
2027
(Kèm theo kế hoạch số: 329/KH-UBND, ngày 26/8/2026 của UBND tỉnh Lạng
Sơn)
Đơn
vị tính: triệu đồng
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Tổng mức đầu tư
|
Thực hiện 2026
|
Kế hoạch 2027
|
Ghi chú
|
|
Tổng số
|
Trong đó NSNN
|
Kế hoạch
|
Ước thực hiện cả năm
|
|
I
|
NGUỒN NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
|
7.550
|
6.150
|
0
|
0
|
6.150
|
Tổng hợp 05 dự án
|
|
1
|
Dự án trong kế hoạch đầu
tư công trung hạn
|
3.000
|
3.000
|
0
|
0
|
3.000
|
|
|
1.1
|
Dự án mở đường nội đồng ra
cánh đồng thôn Quyết Tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp
|
3.000
|
3.000
|
0
|
0
|
3.000
|
UBND xã Thiện Tân
|
|
2
|
Dự án thuộc Chương trình
mục tiêu quốc gia
|
4.550
|
3.150
|
0
|
0
|
3.150
|
|
|
2.1
|
Dự án phát triển sản xuất
theo chuỗi giá trị chăn nuôi dê thương phẩm an toàn sinh học gắn với tiêu thụ
sản phẩm của HTX Nông lâm nghiệp Nà Hà – Chiến Thắng giai đoạn 2027–2029
|
3.500
|
2.100
|
0
|
0
|
2.100
|
UBND xã Chiến Thắng; đề xuất hỗ trợ chuồng trại, máy băm, trộn cỏ và
con giống
|
|
2.2
|
Dự án hỗ trợ giống khoai tây
và phân bón cho xã viên HTX Dịch vụ nông nghiệp Quyết Tiến
|
500
|
500
|
0
|
0
|
500
|
UBND xã Thiện Tân
|
|
2.3
|
Dự án nâng cấp hệ thống
chuồng trại khép kín công nghệ cao
|
300
|
300
|
0
|
0
|
300
|
UBND xã Nhân Lý; đối tượng thụ hưởng: HTX Chăn nuôi thỏ Ngọc Thạch
|
|
2.4
|
Dự án nâng cấp nhà xưởng và
dây chuyền đóng hộp vô trùng đạt chuẩn an toàn thực phẩm
|
250
|
250
|
0
|
0
|
250
|
UBND xã Nhân Lý; đối tượng thụ hưởng: HTX Mai Sao Lạng Sơn
|
|
II
|
NGUỒN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
|
2.500
|
1.500
|
0
|
0
|
1.500
|
Tổng hợp 01 dự án
|
|
1
|
Dự án trong kế hoạch đầu
tư công trung hạn
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
2
|
Dự án thuộc Chương trình
mục tiêu quốc gia
|
2.500
|
1.500
|
0
|
0
|
1.500
|
|
|
2.1
|
Dự án liên kết chăn nuôi dê
thương phẩm an toàn sinh học
Vân An
|
2.500
|
1.500
|
0
|
0
|
1.500
|
UBND xã Chiến Thắng; đề xuất hỗ trợ chuồng trại, máy băm, trộn cỏ và
con giống
|
|
III
|
VỐN ĐỐI ỨNG CỦA CÁC CHỦ
THỂ HTX
|
150
|
0
|
0
|
0
|
150
|
Vốn huy động từ quỹ phát triển sản xuất nội bộ HTX
|
|
1
|
Vốn đối ứng xây dựng cơ sở hạ
tầng phụ trợ, san lấp mặt bằng
|
150
|
0
|
0
|
0
|
150
|
UBND xã Nhân Lý; các
HTX tự chi trả phần mặt bằng, tường bao và thoát nước cục bộ
|