|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 183-QĐ/TW
|
Hà Nội, ngày 02
tháng 6 năm 2026
|
QUY ĐỊNH
VỀ
QUẢN LÝ BIÊN CHẾ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
-----
- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIV;
- Căn cứ Kết luận số 210-KL/TW, ngày 12/11/2025 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới.
Bộ Chính trị quy định về quản lý biên chế của hệ thống
chính trị như sau:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định này quy định về nguyên tắc, thẩm quyền,
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác quản lý biên chế
cán bộ, công chức, biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước; số người
làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập
của hệ thống chính trị (sau đây gọi là các đơn vị sự nghiệp công lập), số người
làm việc tại các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong hệ thống
chính trị.
Điều 2. Nguyên tắc quản lý biên
chế
1. Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo quản lý biên chế,
quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự
nghiệp công lập. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện
trách nhiệm quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn
thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
2. Tổng biên chế của hệ thống chính trị được quyết
định theo nhiệm kỳ 5 năm và khi cần thiết.
3. Giao chỉ tiêu biên chế, số người làm việc hưởng
lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần
do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định trong tháng 10 hằng năm phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, quy mô, tính chất quan trọng, yếu tố đặc
thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được
giao gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ
quan, đơn vị; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức; cải cách hành chính, cải cách chính sách tiền lương. Khuyến khích thực hiện
cơ chế khoán biên chế gắn với khoán quỹ lương cho các cơ quan, đơn vị.
4. Tăng cường phân cấp, phân quyền, nêu cao trách
nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu trong công tác
quản lý, sử dụng biên chế. Chỉ thực hiện xem xét tăng chỉ tiêu biên chế khi được
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền quyết định thành lập tổ chức mới, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tăng quy
mô, khối lượng công việc gắn với vị trí việc làm hoặc thiếu biên chế so với định
mức quy định; thực hiện giảm biên chế theo quy định hoặc khi cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền quyết định kết thúc hoạt động, giải thể tổ chức, giảm chức năng,
nhiệm vụ, đơn vị sự nghiệp công lập tăng mức độ tự chủ tài chính.
Điều 3. Nội dung quản lý biên
chế
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu, đề xuất
cấp có thẩm quyền ban hành chủ trương, chính sách, quy định, quyết định và các
văn bản liên quan về quản lý biên chế.
2. Quyết định giao biên chế cho cơ quan, tổ chức, địa
phương, đơn vị trong phạm vi quản lý.
3. Phối hợp, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan liên
quan thực hiện giao, quản lý biên chế theo quy định của Đảng, Nhà nước.
Chương II
THẨM QUYỀN, TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BIÊN CHẾ
Điều 4. Bộ Chính trị
1. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương, nhiệm vụ,
giải pháp và quy định về quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng
lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
2. Quyết định tổng biên chế và biên chế dự phòng của
hệ thống chính trị theo nhiệm kỳ 5 năm và khi cần thiết; quyết định giao biên
chế theo nhiệm kỳ 5 năm cho các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý
biên chế; chuyển chỉ tiêu biên chế công chức thành biên chế viên chức và ngược
lại; quyết định cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng biên chế của tỉnh uỷ, thành
uỷ.
3. Giao thẩm quyền quản lý biên chế, quản lý số người
làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập
cho các cơ quan, tổ chức gồm: Ban Chỉ đạo thực hiện quản lý biên chế thống nhất
của hệ thống chính trị (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế),
Ban Tổ chức Trung ương, Ban Thường vụ Đảng uỷ Quốc hội, Ban Thường vụ Đảng uỷ
Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng uỷ Văn phòng Chủ tịch nước, Ban Thường vụ Quân uỷ
Trung ương, Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương, Ban Thường vụ Đảng uỷ Tòa
án nhân dân tối cao, Ban Thường vụ Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban
Thường vụ Đảng uỷ Kiểm toán Nhà nước.
4. Giao Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế
xem xét, quyết định sử dụng biên chế dự phòng.
Điều 5. Ban Chỉ đạo Trung ương
về quản lý biên chế
1. Tham mưu Bộ Chính trị về chủ trương, quy định,
nhiệm vụ, giải pháp quản lý biên chế; quản lý số người làm việc hưởng lương từ
nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tổng biên chế, biên chế
dự phòng của hệ thống chính trị; cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng biên chế của
tỉnh uỷ, thành uỷ.
2. Chỉ đạo việc triển khai và kiểm tra, giám sát việc
thực hiện chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp, quy định, quyết định của Bộ Chính trị
về biên chế, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn
vị sự nghiệp công lập. Chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số trong quản lý biên chế của toàn hệ thống chính trị.
3. Ủy quyền cho Thường trực Ban Chỉ đạo xem xét,
quyết định sử dụng biên chế dự phòng.
Điều 6. Các cơ quan được giao
thẩm quyền quản lý biên chế
1. Trách nhiệm trong phạm vi lãnh đạo, quản lý theo
quy định:
1.1. Lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, tổ chức thực hiện
chủ trương, quy định, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý biên chế, quản lý số người
làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập
và quyết định của Bộ Chính trị về biên chế. Lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng cơ
sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý biên chế
trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
1.2. Tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo
Trung ương về quản lý biên chế về chỉ tiêu biên chế theo nhiệm kỳ 5 năm và khi
cần thiết. Căn cứ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyết định của Bộ
Chính trị và Ban Chỉ đạo để triển khai giao biên chế giai đoạn và giao biên chế
hằng năm cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.
1.3. Kiểm tra, giám sát công tác quản lý biên chế,
quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự
nghiệp công lập ở các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị.
2. Thẩm quyền giao, quản lý biên chế các cơ quan:
2.1. Ban Tổ chức Trung ương là Cơ quan Thường trực
của Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế, chịu trách nhiệm tham mưu cho Bộ
Chính trị, Ban Chỉ đạo về tổng biên chế, công tác quản lý biên chế, quản lý số
người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp
công lập; giao, quản lý biên chế các cơ quan đảng và các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng
uỷ các cơ quan Đảng Trung ương, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội,
các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương; quản lý số người
làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập
của các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương. Xem xét, quyết định
điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý
biên chế; giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong phạm vi quản lý
khi có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và đề xuất của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, địa phương này.
2.2. Ban Thường vụ Đảng uỷ Quốc hội quản lý biên chế
các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng uỷ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
và Văn phòng Quốc hội, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp
trong các đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế, số người làm việc
hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một
phần (nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, đơn vị,
tổ chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
2.3. Ban Thường vụ Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo giao,
quản lý biên chế các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng uỷ Chính phủ, các bộ;
cơ quan ngang bộ; cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Xem xét, quyết định
điều chuyển biên chế giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi lãnh đạo quản
lý.
2.4. Ban Thường vụ Đảng uỷ Văn phòng Chủ tịch nước
giúp Chủ tịch nước giao, quản lý biên chế Cơ quan Văn phòng Chủ tịch nước; xem
xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm
vi lãnh đạo, quản lý.
2.5. Ban Thường vụ Quân uỷ Trung ương quản lý biên
chế Quân đội, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các
đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế cho các đơn vị trong Quân đội,
số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp
công lập tự chủ một phần (nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa
các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
2.6. Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương quản
lý biên chế Công an, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong
các đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế cho các đơn vị trong Công
an, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự
nghiệp công lập tự chủ một phần (nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên
chế giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
2.7. Ban Thường vụ Đảng uỷ Tòa án nhân dân tối cao
quản lý biên chế các tòa án nhân dân, các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng
uỷ Tòa án nhân dân tối cao, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp
trong các đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế, số người làm việc
hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một
phần (nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, đơn vị,
tổ chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
2.8. Ban Thường vụ Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao quản lý biên chế ngành Kiểm sát nhân dân, các cơ quan tham mưu, giúp việc của
Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số người làm việc hưởng lương từ nguồn
thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế, số
người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp
công lập tự chủ một phần (nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa
các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
2.9. Ban Thường vụ Đảng uỷ Kiểm toán Nhà nước quản
lý biên chế Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng uỷ Kiểm
toán Nhà nước, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các
đơn vị sự nghiệp công lập; lãnh đạo giao biên chế, số người làm việc hưởng
lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần
(nếu có); xem xét, quyết định điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, đơn vị, tổ
chức trong phạm vi lãnh đạo, quản lý.
Điều 7. Các cơ quan, tổ chức trực
thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương
1. Ban thường vụ các đảng uỷ trực thuộc Trung ương
(trừ các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền biên chế quy định tại Điều 6), các đảng uỷ bộ, cơ quan ngang bộ, tập thể lãnh đạo các
ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương chịu trách nhiệm lãnh đạo,
chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về quản lý, sử dụng biên chế, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự
nghiệp; lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai giao biên chế, số người làm việc hưởng
lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần;
điều chuyển biên chế giữa các cơ quan, đơn vị trong phạm vi lãnh đạo, quản lý,
bảo đảm không làm tăng tổng biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao. Ban thường
vụ đảng uỷ bộ, ngành, cơ quan Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng cơ sở dữ
liệu, định mức giao biên chế thuộc phạm vi, lĩnh vực bộ, ngành, cơ quan quản lý
đồng bộ với việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, áp dụng khoa học,
công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng phương pháp quản trị, quản lý mới, cải cách
thủ tục hành chính, tinh giản quy trình công việc; phối hợp với các địa phương
rà soát các số liệu, căn cứ xác định biên chế của các đơn vị sự nghiệp công lập
theo ngành, lĩnh vực quản lý, thống nhất với Bộ Nội vụ để báo cáo Ban Chỉ đạo
Trung ương về quản lý biên chế làm cơ sở giao, quản lý biên chế của toàn hệ thống
chính trị.
2. Ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành uỷ chịu trách
nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về quản lý, sử dụng biên chế, số người làm việc hưởng lương từ
nguồn thu sự nghiệp; lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai giao biên chế, số người làm
việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự
chủ một phần; điều chuyển biên chế giữa khối chính quyền và khối Đảng, đoàn thể
ở địa phương bảo đảm không làm tăng tổng biên chế được cơ quan có thẩm quyền
giao; quản lý số người làm việc tại các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao
nhiệm vụ ở địa phương bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, đúng quy định.
3. Ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ báo cáo Ban Chỉ
đạo Trung ương về quản lý biên chế trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định cơ chế
đặc thù về giao, quản lý, sử dụng biên chế; lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
theo chủ trương của Bộ Chính trị.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 8. Tổ chức thực hiện
1. Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế, các
cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý biên chế, các cấp uỷ, tập thể lãnh
đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý,
sử dụng biên chế bảo đảm đúng chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và Quy định này.
2. Các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản
lý biên chế quy định tại Khoản 2, Điều 6 chịu trách nhiệm
lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để triển
khai, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, giao và quản lý biên chế, quản lý
số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực
hiện của các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị trực thuộc.
3. Ban Thường vụ Đảng uỷ Quốc hội, Ban Thường vụ Đảng
uỷ Chính phủ, các cơ quan liên quan khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa
đổi, bổ sung pháp luật có liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với chủ
trương, quy định của Đảng, hoàn thành trong năm 2026.
4. Khi cần thiết, trên cơ sở báo cáo, đề xuất của
các cơ quan, đơn vị, địa phương, Ban Tổ chức Trung ương tổng hợp, báo cáo Bộ
Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế xem xét, quyết định giao
biên chế cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn.
5. Ban Tổ chức Trung ương giúp Bộ Chính trị, Ban Chỉ
đạo Trung ương về quản lý biên chế hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện;
tổng hợp kết quả thực hiện theo định kỳ 5 năm hoặc khi cần thiết để báo cáo Bộ
Chính trị.
6. Định kỳ hằng năm, các cơ quan, tổ chức được giao
thẩm quyền quản lý biên chế, các ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực
thuộc Trung ương, ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương báo cáo Bộ Chính
trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế về tình hình, kết quả công tác
giao, quản lý, điều chuyển, tinh giản biên chế, số người làm việc hưởng lương từ
nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập, số người làm việc tại
các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ (nếu có) (qua Ban Tổ chức
Trung ương) trước ngày 15/01 của năm sau liền kề.
Điều 9. Điều khoản thi hành
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế
Quy định số 70-QĐ/TW, ngày 18/7/2022 về việc ban hành Quy định của Bộ Chính trị
về quản lý biên chế của hệ thống chính trị.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc
Trung ương;
- Các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương;
- Các Đảng uỷ: Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước;
- Các đảng uỷ bộ, cơ quan ngang bộ;
- Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BỘ CHÍNH TRỊ
Trần Cẩm Tú
|