|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 11/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 06
tháng 02 năm 2026
|
LUẬT
PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
Luật Phòng, chống tác hại của
thuốc lá số 09/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 5 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 28/2018/QH14 ngày 15
tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên
quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;
2. Luật Giá số 16/2023/QH15
ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2024;
3. Luật Phòng bệnh số
114/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật
Phòng, chống tác hại của thuốc lá[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định về các biện
pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá
và điều kiện bảo đảm để phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Điều 2. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Thuốc lá là sản phẩm
được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới
dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác.
2. Sử dụng thuốc lá là
hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá.
3. Nguyên liệu thuốc lá là
lá thuốc lá dưới dạng rời, tấm đã sơ chế tách cọng, sợi thuốc lá, cọng thuốc lá
và nguyên liệu thay thế khác dùng để sản xuất thuốc lá.
4. Tác hại của thuốc lá là
ảnh hưởng có hại của việc sản xuất, sử dụng thuốc lá gây ra cho sức khỏe con
người, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội.
5. Cảnh báo sức khỏe là
thông tin bằng chữ và hình ảnh mô tả hoặc giải thích về ảnh hưởng có hại tới sức
khỏe con người do việc sử dụng thuốc lá.
6. Kinh doanh thuốc lá là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ
sản xuất, nhập khẩu đến tiêu thụ thuốc lá trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
7. Địa điểm công cộng là
nơi phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người.
8. Nơi làm việc là nơi
được sử dụng cho mục đích lao động.
9. Trong nhà là nơi có
mái che và có một hay nhiều bức tường chắn hoặc vách ngăn xung quanh.
Điều 3.
Nguyên tắc phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Tập trung thực hiện các biện
pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá kết hợp với biện pháp kiểm soát để từng bước
giảm nguồn cung cấp thuốc lá.
2. Chú trọng biện pháp thông
tin, giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc lá nhằm
giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá và tác hại do thuốc lá gây ra.
3. Thực hiện việc phối hợp liên
ngành, huy động xã hội và hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc
lá.
4. Bảo đảm quyền của mọi người
được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá và được thông tin đầy
đủ về tác hại của thuốc lá.
Điều 4.
Chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Xã hội hóa các nguồn lực để
thực hiện công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.
2. Áp dụng chính sách thuế phù
hợp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá.
3.[2] Hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục
tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu sử dụng
thuốc lá.
4. Khuyến khích, tạo điều kiện
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ
tư vấn, cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu về tác hại của thuốc lá, các phương
pháp cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu và sản xuất thuốc cai nghiện thuốc lá; hợp
tác, tài trợ cho phòng, chống tác hại của thuốc lá; người sử dụng thuốc lá tự
nguyện cai nghiện thuốc lá.
5. Khuyến khích, tạo điều kiện
cho các tổ chức, cá nhân trồng cây thuốc lá, sản xuất thuốc lá, chế biến nguyên
liệu thuốc lá chuyển đổi ngành, nghề.
6. Khen thưởng cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thành tích trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Điều 5.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá.
2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá và có
các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trình Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chiến
lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống tác hại của thuốc lá, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về thuốc lá;
b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện
văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống
tác hại của thuốc lá;
c) Tổ chức thông tin, giáo dục,
truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá;
d) Tổ chức bồi dưỡng và tăng cường
nhân lực tham gia phòng, chống tác hại của thuốc lá;
đ) Tổ chức nghiên cứu, tư vấn,
phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị nghiện thuốc lá;
e) Thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống
tác hại của thuốc lá theo thẩm quyền;
g) Hằng năm, tổng hợp, báo cáo
Chính phủ về kết quả phòng, chống tác hại của thuốc lá;
h) Hợp tác quốc tế về phòng, chống
tác hại của thuốc lá.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ
khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ động thực hiện
nhiệm vụ về phòng, chống tác hại của thuốc lá; phối hợp với Bộ Y tế thực hiện
quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá.
4. Ủy ban nhân dân các cấp
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về phòng,
chống tác hại của thuốc lá; chủ trì tổ chức, chỉ đạo và chịu trách nhiệm thực
hiện các quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá tại địa phương.
Điều 6.
Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trong phòng, chống
tác hại của thuốc lá
1. Đưa nội dung phòng, chống
tác hại của thuốc lá vào kế hoạch hoạt động hằng năm, quy định không hút thuốc
lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ.
2. Đưa quy định về việc hạn chế
hoặc không hút thuốc lá trong các đám cưới, đám tang, lễ hội trên địa bàn dân
cư vào hương ước.
3. Gương mẫu thực hiện và vận động
cơ quan, tổ chức, địa phương thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống
tác hại của thuốc lá.
Điều 7. Quyền
và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Được sống, làm việc trong
môi trường không có khói thuốc lá.
2. Yêu cầu người hút thuốc lá
không hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.
3. Vận động, tuyên truyền người
khác không sử dụng thuốc lá, cai nghiện thuốc lá.
4. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định
cấm hút thuốc lá.
5. Phản ánh hoặc tố cáo cơ
quan, người có thẩm quyền không xử lý hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy
định cấm hút thuốc lá.
Điều 8. Hợp
tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Mở rộng hợp tác quốc tế
trong phòng, chống tác hại của thuốc lá với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở
bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, phù hợp với pháp luật mỗi nước, pháp luật
và thông lệ quốc tế.
2. Nội dung hợp tác quốc tế bao
gồm:
a) Hợp tác trong phòng, chống
thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả;
b) Hợp tác trong việc cấm quảng
cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá xuyên biên giới;
c) Hợp tác trong nghiên cứu
khoa học, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và trao đổi thông tin liên quan đến phòng,
chống tác hại của thuốc lá.
Điều 9. Các
hành vi bị nghiêm cấm
1. Sản xuất, mua bán, nhập khẩu,
tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu
dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu
thuốc lá, thuốc lá nhập lậu.
2. Quảng cáo, khuyến mại thuốc
lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức.
3. Tài trợ của tổ chức, cá nhân
kinh doanh thuốc lá, trừ trường hợp quy định tại Điều 16 của Luật
này.
4. Người chưa đủ 18 tuổi sử dụng,
mua, bán thuốc lá.
5. Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi
mua, bán thuốc lá.
6. Bán, cung cấp thuốc lá cho
người chưa đủ 18 tuổi.
7. Bán thuốc lá bằng máy bán
thuốc lá tự động; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm.
8. Sử dụng hình ảnh thuốc lá
trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em.
9. Vận động, ép buộc người khác
sử dụng thuốc lá.
Chương II
CÁC BIỆN PHÁP GIẢM NHU CẦU
SỬ DỤNG THUỐC LÁ
Điều 10.
Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Thông tin, giáo dục, truyền
thông phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Cung cấp thông tin một cách
công khai, khoa học, chính xác, khách quan về thuốc lá và tác hại của thuốc lá;
b) Đa dạng hóa nội dung, hình
thức và kênh thông tin phù hợp với đối tượng được thông tin, giáo dục, truyền
thông.
2. Thông tin, giáo dục, truyền
thông bao gồm các nội dung sau đây:
a) Chính sách, pháp luật về
phòng, chống tác hại của thuốc lá;
b) Tác hại của thuốc lá đối với
sức khỏe của người sử dụng, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khác chịu ảnh hưởng
của khói thuốc lá, môi trường sống và kinh tế - xã hội;
c) Tác hại của việc sản xuất,
mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng thuốc lá giả và mua bán, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng thuốc lá nhập lậu đối với sức khỏe người sử dụng và kinh tế -
xã hội;
d) Các biện pháp cai nghiện thuốc
lá, lợi ích của việc cai nghiện thuốc lá và môi trường sống không có khói thuốc
lá;
đ) Quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.
3. Trách nhiệm trong thông tin,
giáo dục, truyền thông được quy định như sau:
a) Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức,
cung cấp thông tin khoa học về tác hại của thuốc lá; chủ trì, phối hợp với các
bộ, ngành có liên quan tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống
tác hại của thuốc lá;
b) Bộ Thông tin và Truyền thông
có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông thực hiện
hoạt động thông tin, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá;
c) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
có trách nhiệm tổ chức đưa thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tác hại của
thuốc lá và các biện pháp hạn chế sử dụng thuốc lá vào trong các hoạt động văn
hóa, thể thao, du lịch và đời sống gia đình; quy định việc hạn chế sử dụng hình
ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình;
d) Bộ Công thương có trách nhiệm
tổ chức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả;
đ) Bộ Giáo dục và Đào tạo có
trách nhiệm xây dựng nội dung về phòng, chống tác hại của thuốc lá và lồng ghép
vào chương trình giáo dục phù hợp với các cấp học;
e) Ủy ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của
thuốc lá tại địa phương;
g) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền, vận
động các thành viên trong tổ chức mình và toàn xã hội không sử dụng thuốc lá,
tích cực tham gia phòng, chống tác hại của thuốc lá;
h) Cơ quan, tổ chức khác trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thông tin, giáo dục,
truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá theo quy định của Luật này.
Điều 11. Địa
điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn
1. Địa điểm cấm hút thuốc lá
hoàn toàn trong nhà và trong phạm vi khuôn viên bao gồm:
a) Cơ sở y tế;
b) Cơ sở giáo dục, trừ các cơ sở
quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
c) Cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng,
vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em;
d) Cơ sở hoặc khu vực có nguy
cơ cháy, nổ cao.
2. Địa điểm cấm hút thuốc lá
hoàn toàn trong nhà bao gồm:
a) Nơi làm việc;
b) Trường cao đẳng, đại học, học
viện;
c) Địa điểm công cộng, trừ các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 1 Điều 12 của Luật
này.
3. Phương tiện giao thông công
cộng bị cấm hút thuốc lá hoàn toàn bao gồm ô tô, tàu bay, tàu điện.
Điều 12. Địa
điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút
thuốc lá
1. Địa điểm cấm hút thuốc lá
trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá bao gồm:
a) Khu vực cách ly của sân bay;
b) Quán bar, karaoke, vũ trường,
khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch;
c) Phương tiện giao thông công
cộng là tàu thủy, tàu hỏa.
2. Nơi dành riêng cho người hút
thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Có phòng và hệ thống thông
khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá;
b) Có dụng cụ chứa các mẩu, tàn
thuốc lá; có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát;
c) Có thiết bị phòng cháy, chữa
cháy.
3. Khuyến khích người đứng đầu
địa điểm quy định tại khoản 1 Điều này tổ chức thực hiện việc không hút thuốc
lá hoàn toàn trong nhà.
4. Chính phủ quy định chuyển địa
điểm tại khoản 1 Điều này thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà
phù hợp với từng thời kỳ.
Điều 13.
Nghĩa vụ của người hút thuốc lá
1. Không hút thuốc lá tại địa điểm
có quy định cấm hút thuốc lá.
2. Không hút thuốc lá trong nhà
khi có trẻ em, phụ nữ mang thai, người bệnh, người cao tuổi.
3. Giữ vệ sinh chung, bỏ tàn, mẩu
thuốc lá đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút
thuốc lá.
Điều 14.
Quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc
lá
1. Người đứng đầu, người quản
lý địa điểm cấm hút thuốc lá có các quyền sau đây:
a) Buộc người vi phạm chấm dứt
việc hút thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc lá; xử phạt vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật;
b) Yêu cầu người vi phạm quy định
cấm hút thuốc lá ra khỏi cơ sở của mình;
c) Từ chối tiếp nhận hoặc cung
cấp dịch vụ cho người vi phạm quy định cấm hút thuốc lá nếu người đó tiếp tục
vi phạm sau khi đã được nhắc nhở.
2. Người đứng đầu, người quản
lý địa điểm cấm hút thuốc lá có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện quy định tại Điều 6 của Luật này;
b) Tổ chức thực hiện, hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc mọi người thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa
điểm thuộc quyền quản lý, điều hành; treo biển có chữ hoặc biểu tượng cấm hút
thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc lá.
Điều 15.
Ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá
1. Thuốc lá được sản xuất, nhập
khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì
thuốc lá.
2. Việc ghi nhãn đối với thuốc
lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải được thực hiện bằng
tiếng Việt, theo đúng quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá và bảo đảm các
yêu cầu sau đây:
a) In cảnh báo sức khỏe bằng chữ
và hình ảnh bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn, dễ hiểu;
b) Dán tem hoặc in mã số, mã vạch;
ghi ngày sản xuất, ngày hết hạn sử dụng;
c) Ghi rõ số lượng điếu đối với
bao thuốc lá dạng điếu hoặc trọng lượng đối với các loại thuốc lá khác;
d) Không được sử dụng từ, cụm từ
làm người đọc, người sử dụng hiểu thuốc lá là ít có hại hoặc hiểu sai về tác hại
của thuốc lá và khói thuốc lá đối với sức khỏe con người.
3. Nội dung cảnh báo sức khỏe
trên bao bì thuốc lá phải mô tả cụ thể tác hại của việc sử dụng thuốc lá đối với
sức khỏe và thông điệp thích hợp khác, phải được thay đổi theo định kỳ 02 năm một
lần.
4. Cảnh báo sức khỏe quy định tại
điểm a khoản 2 Điều này phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước
và mặt chính sau trên bao, tút, hộp thuốc lá.
5. Việc ghi nhãn trên bao bì
thuốc lá xuất khẩu được thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.
6. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì,
phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công thương quy định cụ thể về ghi nhãn, in cảnh báo
sức khỏe đối với thuốc lá quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
7. Chính phủ quy định cụ thể mức
tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe phù hợp với từng thời kỳ.
Điều 16.
Hoạt động tài trợ
Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc
lá chỉ được tài trợ nhân đạo cho chương trình xóa đói, giảm nghèo; phòng, chống
thiên tai, dịch bệnh, thảm họa; phòng, chống buôn lậu thuốc lá và không được
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc tài trợ đó.
Điều 17.
Cai nghiện thuốc lá
1. Việc cai nghiện thuốc lá được
thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được
tổ chức các hoạt động hoặc thành lập các loại hình cơ sở để tư vấn, cai nghiện
thuốc lá.
3. Cơ sở sản xuất, nhập khẩu
thuốc cai nghiện thuốc lá và cơ sở tư vấn, cai nghiện thuốc lá được hưởng mức
thuế ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế.
4. Chính phủ quy định điều kiện
thành lập và tổ chức hoạt động cai nghiện, tư vấn cai nghiện thuốc lá quy định
tại khoản 2 Điều này.
Điều 18.
Trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá
1. Bộ Y tế có trách nhiệm sau
đây:
a) Hướng dẫn quy trình cai nghiện
thuốc lá;
b) Chỉ đạo việc cai nghiện thuốc
lá và nghiên cứu, tư vấn về cai nghiện thuốc lá;
c) Chỉ đạo việc tổ chức tập huấn
cho các nhân viên y tế, nhân viên tư vấn cai nghiện thuốc lá về hoạt động tư vấn,
phương pháp cai nghiện thuốc lá.
2. Ủy ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cai nghiện và tư vấn cai
nghiện thuốc lá.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm vận động người sử dụng thuốc lá trong cơ quan, tổ chức và gia đình
tự nguyện cai nghiện thuốc lá.
Chương
III
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT
NGUỒN CUNG CẤP THUỐC LÁ
Điều 19.
Quản lý kinh doanh thuốc lá
1. Kinh doanh thuốc lá là
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Tổ chức, cá nhân mua bán, chế biến, nhập
khẩu nguyên liệu thuốc lá; sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá phải có giấy
phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
2.[3] (được bãi bỏ)
3. Chính phủ quy định cụ thể việc
cấp giấy phép mua bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá; sản xuất, mua
bán, nhập khẩu thuốc lá quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 20.[4] (được
bãi bỏ)
Điều 21.
Kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá
1.[5] (được bãi bỏ)
2. Việc đầu tư xây dựng mới, đầu
tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất của cơ sở sản xuất thuốc lá để tiêu thụ
trong nước không được vượt quá tổng sản lượng được phép sản xuất của toàn ngành
thuốc lá trước ngày Luật này có hiệu lực.
3. Dự án có vốn đầu tư nước
ngoài sản xuất thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Liên doanh, hợp tác với
doanh nghiệp đã có giấy phép sản xuất thuốc lá;
b) Nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối
trong vốn điều lệ của doanh nghiệp;
c) Đáp ứng các điều kiện sản xuất
thuốc lá theo quy định của Chính phủ.
4. Hợp đồng nhượng quyền sở hữu
công nghiệp sản xuất thuốc lá chỉ được thực hiện tại doanh nghiệp đã có giấy
phép sản xuất thuốc lá sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bằng văn bản.
5. Hợp đồng sản xuất thuốc lá
xuất khẩu, gia công thuốc lá xuất khẩu không tính vào sản lượng thuốc lá được
phép sản xuất tiêu thụ trong nước và chỉ được thực hiện tại doanh nghiệp đã có
giấy phép sản xuất thuốc lá sau khi được Bộ trưởng Bộ Công thương đồng ý bằng
văn bản.
6. Việc đầu tư sản xuất, gia
công thuốc lá để xuất khẩu vượt quá sản lượng được phép sản xuất của cơ sở phải
được Bộ trưởng Bộ Công thương đồng ý bằng văn bản.
Điều 22.
Kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước
1. Kiểm soát sản lượng thuốc lá
tiêu thụ trong nước bao gồm các biện pháp sau đây:
a) Quản lý sản lượng thuốc lá
được phép sản xuất và nhập khẩu;
b) Dán tem hoặc in mã số, mã vạch
trên bao bì thuốc lá;
c) Quản lý năng lực máy, thiết
bị chuyên ngành thuốc lá;
d) Quản lý nguyên liệu thuốc lá
và giấy cuốn điếu thuốc lá;
đ) Quản lý nguồn gốc, sự di
chuyển và tính hợp pháp của thuốc lá.
2. Bộ trưởng Bộ Công thương
công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá để tiêu thụ
trong nước của từng doanh nghiệp phù hợp với năng lực sản xuất và nhu cầu của
thị trường.
3. Chính phủ quy định cụ thể biện
pháp quản lý máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá, nguyên liệu và giấy cuốn điếu
thuốc lá.
Điều 23.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá
1. Thuốc lá được sản xuất, nhập
khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải bảo đảm tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về thuốc lá và tiêu chuẩn cơ sở về thuốc lá mà nhà sản xuất đã công bố.
2. Cơ sở sản xuất, nhập khẩu
thuốc lá phải tuân thủ các yêu cầu sau đây:
a) Công bố tiêu chuẩn cơ sở về
thuốc lá;
b) Bảo đảm thuốc lá do cơ sở sản
xuất, nhập khẩu phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá và tiêu chuẩn
cơ sở về thuốc lá mà nhà sản xuất đã công bố;
c) Thường xuyên kiểm tra và chịu
trách nhiệm về sự phù hợp của thuốc lá do cơ sở sản xuất, nhập khẩu với quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở đã công bố.
3. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá điếu.
Điều 24. Số
lượng điếu thuốc lá trong bao, gói
Sau 03 năm, kể từ ngày Luật này
có hiệu lực, số lượng điếu thuốc lá đóng gói trong 01 bao thuốc lá không được
ít hơn 20 điếu, trừ thuốc lá xì gà và thuốc lá được sản xuất để xuất khẩu.
Điều 25.
Bán thuốc lá
1. Việc bán thuốc lá phải đáp ứng
các yêu cầu sau đây:
a) Doanh nghiệp, đại lý bán
buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải có giấy phép bán thuốc lá theo quy định của
Chính phủ;
b) Người chịu trách nhiệm tại điểm
bán của đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải treo biển thông báo không
bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; đại lý bán lẻ, điểm bán lẻ thuốc lá
không được trưng bày quá một bao, một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc
lá.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
không được tổ chức, cho phép hoặc bán thuốc lá tại các địa điểm quy định tại Điều 11, Điều 12, trừ điểm a khoản 1 Điều 12 của Luật này;
không được bán thuốc lá phía ngoài cổng nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học,
trung học cơ sở, phổ thông trung học, viện nghiên cứu y học, bệnh viện, nhà hộ
sinh, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế xã, phường, thị trấn trong phạm vi 100
mét (m) tính từ ranh giới khuôn viên gần nhất của cơ sở đó.
Điều 26.
Các biện pháp phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả
1. Tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức để người dân không tham gia buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng
thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
2. Tổ chức và bảo đảm đủ nhân lực,
kinh phí, phương tiện cho lực lượng phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
3. Định kỳ, thường xuyên tổ chức
thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
4. Tịch thu, tiêu hủy thuốc lá
giả; tịch thu, tiêu hủy các loại máy, thiết bị dùng để sản xuất thuốc lá giả.
Việc tiêu hủy phải sử dụng các biện pháp bảo đảm an toàn đối với môi trường.
Kinh phí tiêu hủy do cá nhân, tổ chức vi phạm chịu trách nhiệm chi trả. Trường
hợp không xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm thì kinh phí tiêu hủy do ngân
sách nhà nước chi trả.
5. Việc xử lý đối với thuốc lá
nhập lậu được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
6. Khuyến khích về vật chất và
tinh thần cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã phát hiện và tố giác, tố cáo các
hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
7. Phối hợp ở cấp tỉnh, cấp quốc
gia với các nước có chung đường biên giới và các nước có liên quan trong phòng,
chống kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
Điều 27.
Trách nhiệm phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả
1. Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ
trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Y tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức công tác
phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
2. Ủy ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tại địa phương tổ chức,
chỉ đạo, bố trí lực lượng và phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan liên
quan thực hiện công tác phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm
kinh phí cho công tác phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.
Chương IV
CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM ĐỂ
PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
Điều 28.[6] (được
bãi bỏ)
Điều 29.[7] (được
bãi bỏ)
Điều 30.[8] (được
bãi bỏ)
Điều 31. Xử
lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; cá nhân vi phạm
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Việc xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực phòng, chống tác hại của thuốc lá được thực hiện theo quy
định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
Điều 32.
Trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá
1. Người có thẩm quyền xử lý vi
phạm hành chính có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời và xử lý hành vi vi
phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; nếu dung túng, bao che,
không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng quy định thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức
việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy
định cấm và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc
lĩnh vực được phân công phụ trách.
3. Bộ Công an có trách nhiệm tổ
chức việc xử lý vi phạm đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc
lá và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc lĩnh
vực được phân công phụ trách.
4. Bộ Công thương có trách nhiệm
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi phạm hành
chính đối với hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thuộc lĩnh vực
được phân công phụ trách.
5. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi phạm đối với
hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thuộc khu vực biên giới và
lĩnh vực được phân công phụ trách.
6. Các bộ, cơ quan ngang bộ có
trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi
phạm hành chính về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc lĩnh vực được phân
công phụ trách.
7. Ủy ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để tổ chức, chỉ
đạo, bố trí lực lượng và phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân
có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định
về hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm, kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc
lá giả. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chủ trì, tổ chức việc xử
phạt đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm công cộng có quy định cấm thuộc
địa bàn quản lý.
8. Cơ quan, người có thẩm quyền
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc
lá quy định tại các khoản 2, 4, 6 và 7 Điều này, nếu phát hiện vi phạm có dấu
hiệu tội phạm thì phải chuyển cơ quan tiến hành tố tụng để truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[9]
Điều 33. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5
năm 2013.
Điều 34. Điều khoản chuyển tiếp
Bao, tút, hộp thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để
tiêu thụ tại thị trường Việt Nam theo quy định tương ứng của pháp luật về ghi
nhãn, in cảnh báo sức khỏe trước ngày Luật này có hiệu lực sẽ không được sử dụng
sau 06 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 35. Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các
điều, khoản được giao trong Luật.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và QLXLVPPL, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC,TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
11 luật có liên quan đến quy hoạch có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều có liên quan đến quy hoạch của Luật An toàn thực phẩm số
55/2010/QH12, Luật Công chứng số 53/2014/QH13, Luật Dược số 105/2016/QH13,
Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13, Luật Điện lực số
28/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 24/2012/QH13, Luật
Hóa chất số 06/2007/QH12, Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, Luật
Phòng, chống tác hại của thuốc lá số 09/2012/QH13, Luật Sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 và Luật Trẻ em số 102/2016/QH13.”.
Luật Giá số 16/2023/QH15 có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Giá.”.
Luật Phòng bệnh số
114/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Phòng bệnh.”.
[2] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật số
28/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[3] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 13 Điều 73 của Luật Giá số
16/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[4] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[5] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[6] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Phòng bệnh số
114/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[7] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[8] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Phòng bệnh số
114/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[9] Điều 12 của Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2019 quy định như sau:
“Điều 12. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.”.
Điều 74 và Điều 75 của Luật Giá
số 16/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 quy định như sau:
“Điều 74. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại khoản 2 Điều
60 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026. Kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025, hội đồng thẩm định giá
phải có ít nhất 01 thành viên có một trong các chứng nhận chuyên môn sau đây:
a) Bằng tốt nghiệp cao đẳng
trở lên về chuyên ngành giá, thẩm định giá;
b) Thẻ thẩm định viên về
giá;
c) Chứng chỉ đào tạo nghiệp
vụ về thẩm định giá;
d) Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm
định giá nhà nước.
3. Luật Giá số 11/2012/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13, Luật số
64/2020/QH14 và Luật số 07/2022/QH15 (sau đây gọi chung là Luật Giá số
11/2012/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ các
quy định tại Điều 75 của Luật này.
Điều 75. Quy định chuyển
tiếp
1. Trong thời hạn 12 tháng kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các doanh nghiệp thẩm định giá đã được cấp
giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại
Luật Giá số 11/2012/QH13 phải bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định
giá theo quy định tại Luật này. Sau thời hạn nêu trên mà doanh nghiệp thẩm định
giá không bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của Luật
này, Bộ Tài chính thực hiện thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch
vụ thẩm định giá.
2. Người được cấp thẻ thẩm định
viên về giá theo quy định của Luật Giá số 11/2012/QH13 thì được tiếp tục đăng
ký hành nghề thẩm định giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản và thẩm định
giá doanh nghiệp theo quy định của Luật này.”.
Điều 45 và Điều 46 của Luật
Phòng bệnh số 114/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026
quy định như sau:
“Điều 45. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
2. Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số
03/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2008/QH12 và Luật
số 35/2018/QH14 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 46. Quy định chuyển tiếp
Các hợp đồng đã được ký kết, các kế hoạch đã được
phê duyệt sử dụng nguồn kinh phí từ Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá trước
ngày Luật này có hiệu lực được Quỹ Phòng bệnh bảo đảm thực hiện từ ngày 01
tháng 7 năm 2026 đến hết thời hạn của hợp đồng, kế hoạch.”.