|
BỘ CÔNG AN
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 88/2026/TT-BCA
|
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2026
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ GẶP, NHẬN QUÀ VÀ LIÊN LẠC CỦA
PHẠM NHÂN
Căn cứ
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
số 85/2025/QH15;
Căn cứ
Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15;
Căn cứ
Nghị định số 02/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Công an được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2025/NĐ-CP;
Theo đề
nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc,
trường giáo dưỡng;
Bộ trưởng
Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của
phạm nhân.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy
định về chế độ gặp, nhận quà, liên lạc, việc quản lý tiền, đồ vật lưu ký
của phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ phạm nhân do Công an
nhân dân quản lý.
Điều 2. Người được gặp phạm nhân
1. Người
được gặp phạm nhân gồm:
a) Vợ, chồng,
bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi, con dâu, con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,
em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, cháu
ruột, chắt ruột của phạm nhân (sau đây gọi là người thân thích);
b) Đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác được Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam quyết định cho gặp phạm nhân.
2. Phạm nhân
được gặp không quá 03 người thân thích trong một lần gặp. Trường hợp đặc biệt,
do yêu cầu giáo dục cải tạo, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định
tăng số người thân thích được gặp phạm nhân trong một lần gặp nhưng không quá
05 người và phải bảo đảm việc phạm nhân gặp người thân thích không làm ảnh hưởng
đến an ninh, an toàn cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị gặp phạm nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Thi hành án hình sự, Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định cho gặp phạm nhân trên cơ sở lợi ích
hợp pháp của phạm nhân, yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, yêu cầu
phòng, chống tội phạm và an ninh, an toàn cơ sở giam giữ phạm nhân.
Điều 3. Chế độ gặp của phạm nhân
1. Phạm
nhân được gặp người thân thích 01 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01
giờ, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.
2. Phạm nhân
là người chưa thành niên được gặp người thân thích không quá 04 lần trong 01
tháng, mỗi lần gặp không quá 04 giờ.
3. Phạm
nhân có thể được kéo dài thời gian gặp người thân thích hoặc gặp vợ, chồng ở
phòng riêng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất
02 quý liền kề thời điểm gặp người thân thích được xếp loại chấp hành án phạt
tù từ khá trở lên và thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm
gặp người thân thích được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù từ
khá trở lên hoặc do yêu cầu giáo dục cải tạo thì có thể được gặp người thân
thích tại Nhà thăm gặp phạm nhân từ trên 01 giờ đến không quá 03 giờ;
b) Có ít nhất
02 quý liền kề thời điểm gặp người thân thích được xếp loại chấp hành án phạt
tù từ khá trở lên và thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm
gặp người thân thích được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá
trở lên thì thời gian có thể được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 03
giờ;
c) Có ít nhất
04 quý liền kề thời điểm gặp người thân thích được xếp loại chấp hành án phạt
tù tốt và thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm gặp người
thân thích được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù tốt hoặc được
khen thưởng theo hình thức tăng thời gian mỗi lần gặp theo quy định của Luật
Thi hành án hình sự thì có thể được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng từ trên 03 giờ
đến không quá 24 giờ.
4. Phạm
nhân là người chưa thành niên có thể được kéo dài thời gian gặp người thân
thích tại Nhà thăm gặp phạm nhân; được gặp ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
bố đẻ, mẹ đẻ ở phòng riêng nhưng không quá 24 giờ trong một lần khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất
02 quý liền kề thời điểm gặp người thân thích được xếp loại chấp hành án phạt
tù tốt và thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm gặp người
thân thích được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù tốt hoặc do
yêu cầu giáo dục cải tạo;
b) Được
khen thưởng theo quy định tại Điều 36 Nghị định số
355/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tư pháp người
chưa thành niên về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành
án phạt tù tại trại giam và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa
thành niên.
5. Mỗi lần
phạm nhân được khen thưởng theo hình thức tăng số lần gặp người thân thích theo
quy định của Luật Thi hành án hình sự hoặc Luật Tư pháp người chưa thành niên
thì được gặp người thân thích thêm 01 lần trong tháng đó.
6. Phạm
nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân thì 02 tháng được gặp người thân
thích 01 lần, mỗi lần không quá 01 giờ kể từ khi có biên bản về việc phạm nhân
vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân cho đến khi được công nhận đã cải tạo
tiến bộ theo quy định. Trường hợp phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân nhưng không bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật nhưng thời gian thử
thách để được công nhận đã cải tạo tiến bộ ngắn hơn 02 tháng thì 02 tháng kể từ
khi có biên bản về việc phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, phạm
nhân được gặp người thân thích 01 lần, mỗi lần không quá 01 giờ. Trường hợp phạm
nhân đang bị giam tại buồng kỷ luật thì không được gặp người thân thích. Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản hoặc
hình thức phù hợp khác về thời gian hạn chế gặp người thân thích cho phạm nhân
và người thân thích của phạm nhân.
7. Phạm
nhân đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội khác hoặc phạm nhân
được trích xuất trong trường hợp không phải là bị can, bị cáo mà cơ quan đang
thụ lý vụ án có văn bản đề nghị cơ sở giam giữ phạm nhân không cho phạm nhân gặp
người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đề nghị cơ sở giam
giữ phạm nhân phối hợp để giám sát chế độ gặp của phạm nhân thì Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định việc gặp và giải thích rõ cho
người đến gặp phạm nhân.
8. Ngoài chế
độ gặp người thân thích quy định tại khoản 1 Điều này, khi đại diện cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân khác đề nghị gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam xem xét, quyết định cho gặp phạm nhân, số người được gặp, thời
gian và hình thức gặp.
9. Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích
theo giờ làm việc của cơ sở giam giữ phạm nhân trong tất cả các ngày, kể cả
ngày nghỉ, lễ, tết; trường hợp cần điều chỉnh thời gian gặp vì lý do an ninh,
an toàn, phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, sự cố hoặc yêu cầu quản lý thì phải
thông báo kịp thời cho người đã đăng ký gặp.
10. Người
thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác được gặp trực tiếp phạm
nhân. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng, trở ngại khách
quan hoặc không thể bố trí gặp trực tiếp thì có thể gặp trực tuyến thông qua hệ
thống điện tử có kết nối hình ảnh và âm thanh theo thời gian thực do cơ sở giam
giữ phạm nhân quản lý, bố trí, giám sát. Việc gặp trực tuyến phải bảo đảm đúng
đối tượng được gặp phạm nhân, tuân thủ quy định của pháp luật, nội quy cơ sở
giam giữ phạm nhân.
11. Khi phạm
nhân được kéo dài thời gian gặp người thân thích, Giám thị trại giam, Giám thị trại
tạm giam căn cứ yêu cầu giáo dục cải tạo, điều kiện cụ thể của cơ sở giam giữ
phạm nhân có thể xem xét cho phạm nhân ăn cơm cùng người thân thích tại căng
tin Nhà thăm gặp phạm nhân nhưng không quá thời gian quy định tại khoản 3, khoản
4 Điều 3 Thông tư này. Chi phí bữa ăn được niêm yết công khai tại căng tin Nhà
thăm gặp phạm nhân và do người thân thích của phạm nhân chi trả.
12. Khi tổ
chức Hội nghị gia đình phạm nhân, căn cứ yêu cầu giáo dục cải tạo, yêu cầu tham
gia phối hợp của gia đình trong giáo dục cải tạo phạm nhân thì Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam có thể giải quyết cho phạm nhân gặp và ăn cơm cùng
người thân thích.
13. Việc tổ
chức cho phạm nhân gặp và ăn cơm cùng người thân thích phải được kiểm tra, kiểm
soát chặt chẽ, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cơ sở giam giữ phạm nhân, quản
lý chặt chẽ phạm nhân, bảo đảm an toàn thực phẩm và an toàn cho người thân
thích của phạm nhân.
Điều 4. Thủ tục giải quyết cho phạm nhân gặp người thân thích, đại
diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
1. Người
thân thích của phạm nhân đến gặp phạm nhân xuất trình Sổ thăm gặp hoặc hình thức
xác nhận khác (trường hợp gặp lần đầu, chưa có Sổ thăm gặp hoặc không có tên
trong Sổ thăm gặp thì phải cung cấp giấy tờ, tài liệu chứng minh là người thân
thích của phạm nhân hoặc đơn xin gặp phạm nhân có xác nhận của Công an cấp xã
nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập) và giấy tờ tùy
thân hoặc sử dụng tài khoản định danh điện tử hoặc văn bản xác nhận về nhân
thân có ảnh chân dung của Công an cấp xã nơi cư trú.
Trường hợp
phạm nhân là người Việt Nam có người thân thích là người nước ngoài không có
tên trong Sổ thăm gặp, người thân thích phải xuất trình đơn xin gặp phạm nhân
có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó
có quốc tịch hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó đang làm việc tại Việt Nam và giấy
tờ, tài liệu chứng minh là người thân thích của phạm nhân.
Người thân
thích của phạm nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác đăng ký gặp phạm
nhân trực tiếp tại cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc đăng ký trực tuyến qua hệ thống
ứng dụng công nghệ thông tin.
Đối với phạm
nhân là người nước ngoài, thủ tục giải quyết cho phạm nhân gặp người thân thích
được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 49 Luật Thi hành
án hình sự.
2. Đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác đề nghị gặp phạm nhân phải có văn bản hoặc
đơn đề nghị nêu rõ mục đích, nội dung, thời gian dự kiến gặp phạm nhân gửi Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định và phải xuất trình giấy
tờ tùy thân hoặc sử dụng tài khoản định danh điện tử để làm thủ tục khi được gặp
phạm nhân. Đối với cá nhân, đơn đề nghị gặp phạm nhân phải có xác nhận của Công
an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Trại
giam, trại tạm giam kiểm tra, đối chiếu thông tin của người đến gặp và xác định
số người được gặp, thời gian, hình thức gặp phạm nhân.
4. Trường
hợp phạm nhân được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng quy định tại khoản
3 Điều 3 Thông tư này thì ngoài thủ tục theo quy định của khoản 1 Điều này
phải có các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận kết hôn hoặc Trích lục kết hôn hoặc
hình thức xác thực hợp pháp khác chứng minh mối quan hệ là vợ hoặc chồng của phạm
nhân; đơn xin gặp vợ hoặc chồng tại phòng riêng của chồng hoặc vợ phạm nhân và
cam kết chấp hành pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, nội quy Nhà thăm
gặp phạm nhân, thực hiện quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; đơn xin gặp
vợ, chồng ở phòng riêng của phạm nhân và cam kết việc chấp hành pháp luật, nội
quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
Khi được
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định cho gặp chồng ở phòng riêng,
phạm nhân nữ phải sử dụng biện pháp tránh thai theo hướng dẫn của cán bộ y tế
cơ sở giam giữ phạm nhân và có giấy cam kết không mang thai để bảo đảm thời
gian chấp hành án phạt tù.
5. Phạm
nhân là người chưa thành niên được kéo dài thời gian gặp người thân thích tại
phòng riêng theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này
thì phạm nhân và người thân thích của phạm nhân phải có đơn xin gặp tại phòng
riêng, cam kết chấp hành pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, nội quy
Nhà thăm gặp phạm nhân.
6. Cơ sở
giam giữ phạm nhân phát hành Sổ thăm gặp phạm nhân, Phiếu gửi quà hoặc sử dụng
hình thức xác nhận điện tử; hướng dẫn việc kê khai, quản lý, cập nhật thông tin
bảo đảm thống nhất.
Điều 5. Trách nhiệm của phạm nhân và người đến gặp phạm nhân
1. Trách nhiệm
của phạm nhân khi gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
khác
a) Mặc quần
áo dài do cơ sở giam giữ phạm nhân cấp, bảo đảm gọn gàng, lịch sự; trường hợp chưa
được cấp quần áo của cơ sở giam giữ phạm nhân thì mặc quần áo dài thường đã được
đóng dấu theo quy định;
b) Chấp
hành pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, nội quy Nhà thăm gặp phạm
nhân;
c) Tuân thủ
hướng dẫn của cán bộ có trách nhiệm trong quá trình tổ chức cho phạm nhân gặp
người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
2. Trách nhiệm
của người đến gặp phạm nhân
a) Người
thân thích của phạm nhân làm đơn xin gặp phạm nhân trong trường hợp lần đầu được
gặp phạm nhân hoặc không có tên trong Sổ thăm gặp; đại diện cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân khác phải có văn bản hoặc đơn đề nghị gặp phạm nhân;
b) Kê khai và thực
hiện xác nhận nội dung Sổ thăm gặp theo quy định;
c) Xuất
trình giấy tờ tùy thân hoặc sử dụng tài khoản định danh điện tử hoặc văn bản
xác nhận về nhân thân có ảnh chân dung của Công an cấp xã nơi cư trú; cung cấp
giấy tờ, tài liệu chứng minh là người thân thích của phạm nhân hoặc đơn xin gặp
phạm nhân có xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi
người đó làm việc, học tập (đối với trường hợp gặp lần đầu chưa có Sổ thăm gặp
hoặc không có tên trong Sổ thăm gặp);
d) Chấp
hành pháp luật, nội quy Nhà thăm gặp phạm nhân, nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân;
đ) Tuân thủ
hướng dẫn của cán bộ làm nhiệm vụ và những cán bộ có trách nhiệm khác;
e) Không đưa vào
Nhà thăm gặp phạm nhân, phòng gặp riêng đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm
đưa vào nơi chấp hành án phạt tù của phạm nhân theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Công an;
g) Kê khai trung
thực phiếu gửi đồ vật cho phạm nhân và cam kết chịu trách nhiệm trước
pháp luật về đồ vật được gửi trong trường hợp gửi đồ vật cho phạm nhân;
h) Trường
hợp gặp ở phòng riêng thì được mang theo quần áo, khăn mặt, bàn chải đánh răng,
kem đánh răng, lược nhựa, nước uống, dụng cụ tránh thai và phòng bệnh lây nhiễm
qua đường tình dục đối với trường hợp gặp vợ hoặc chồng.
3. Khi giao tiếp,
người đến gặp phạm nhân và phạm nhân phải sử dụng tiếng Việt, trường hợp người
dân tộc thiểu số hoặc người nước ngoài không biết tiếng Việt thì được sử dụng
ngôn ngữ khác nhưng phải bảo đảm cơ sở giam giữ phạm nhân có thể quản lý, giám
sát nội dung gặp. Người bị hạn chế khả năng nghe, nói được sử dụng ngôn ngữ ký
hiệu hoặc thiết bị hỗ trợ giao tiếp nhưng phải được cán bộ có trách nhiệm kiểm
tra trước khi sử dụng.
Điều 6. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ làm công tác
tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân khác
1. Tiêu chuẩn
của cán bộ làm công tác tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
a) Là sĩ quan
nghiệp vụ;
b) Có trình độ,
năng lực, kinh nghiệm công tác, khả năng quản lý, giám sát phạm nhân;
c) Có bản
lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có
trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
2. Cán bộ
làm công tác tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân khác được phân công thực hiện nhiệm vụ theo chế độ chuyên trách tại
trại giam, theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm tại khu lao động ngoài trại
giam và trại tạm giam phù hợp với yêu cầu công tác, điều kiện biên chế.
3. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cán bộ làm công tác tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại
diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
a) Tiếp nhận,
kiểm tra giấy tờ, đối chiếu thông tin của người đến gặp phạm nhân; lập danh sách
phạm nhân được gặp vào Sổ theo dõi chế độ gặp và gửi tiền lưu ký cho phạm nhân,
báo cáo Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam hoặc lãnh đạo được ủy quyền
duyệt trước khi tổ chức cho phạm nhân gặp;
b) Báo cáo, đề
xuất bằng văn bản Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam hoặc lãnh đạo được
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam ủy quyền về việc phạm nhân được kéo
dài thời gian gặp người thân thích hoặc gặp ở phòng riêng hoặc gặp thêm 01 lần trong
01 tháng (văn bản báo cáo, đề xuất phải có ý kiến của cán bộ quản giáo được
giao phụ trách tổ, đội phạm nhân, cán bộ trinh sát, trực trại, giáo dục, y tế);
c) Báo cáo người
được giao phụ trách khu lao động ngoài trại giam để xin ý kiến lãnh đạo có thẩm
quyền bằng phương tiện thông tin liên lạc về việc cho phạm nhân gặp người thân
thích; sau khi kết thúc việc gặp phải hoàn thiện hồ sơ và lưu trữ tài liệu theo
quy định tại điểm h khoản này trong thời hạn 07 ngày kể từ khi kết thúc cuộc gặp;
d) Kiểm tra,
kiểm soát tiền, đồ vật do người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân khác gửi cho phạm nhân tại Nhà thăm gặp phạm nhân; kiểm soát đồ vật người
thân thích đưa vào phòng gặp riêng; hướng dẫn người thân thích kê khai những đồ
dùng, tư trang cá nhân không được đưa vào phòng gặp riêng, ký xác nhận và gửi ở
tủ Nhà thăm gặp phạm nhân;
đ) Lập
biên bản và thông báo cho người đến gặp phạm nhân biết trong trường hợp phạm
nhân từ chối gặp, từ chối nhận tiền, đồ vật;
e) Quản lý,
giám sát phạm nhân từ khi tiếp nhận đến khi kết thúc cuộc gặp; bàn giao phạm
nhân cho cán bộ trực trại và ký vào Sổ theo dõi xuất, nhập phạm nhân hoặc bàn
giao cho cán bộ quản giáo phụ trách tổ, đội phạm nhân; phối hợp với cán bộ chức
năng dẫn giải, đưa dẫn phạm nhân thăm gặp, duy trì trật tự tại khu vực Nhà thăm
gặp phạm nhân;
g) Trường
hợp có nhiều người thân thích đến thăm gặp hoặc có yêu cầu bảo đảm an ninh, trật
tự, an toàn thì phải báo cáo lãnh đạo đơn vị tăng cường cán bộ phối hợp tổ chức
cho phạm nhân gặp người thân thích theo đúng quy định và quản lý, giám sát chặt
chẽ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cơ sở giam giữ phạm nhân;
h) Cập nhật
đầy đủ hồ sơ, tài liệu, thông tin về quá trình tổ chức cho phạm nhân gặp người
thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác và quản lý, lưu trữ hồ
sơ, tài liệu theo chế độ quản lý hồ sơ của Bộ Công an;
i) Dừng việc
cho gặp phạm nhân khi phạm nhân, người thân thích hoặc đại diện cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân khác đến gặp vi phạm pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân,
nội quy Nhà thăm gặp phạm nhân hoặc có dấu hiệu ảnh hưởng an ninh, an toàn; lập
biên bản, báo cáo lãnh đạo, chỉ huy xem xét, xử lý theo quy định;
k) Thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam giao.
Điều 7. Nhà thăm gặp phạm nhân
1. Nhà thăm gặp
phạm nhân được bố trí ở nơi thuận tiện cho việc quản lý, giám sát phạm nhân và tổ
chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
khác; phải bảo đảm yêu cầu an ninh, an toàn, vệ sinh, phòng, chống cháy nổ và
điều kiện cần thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát người, đồ vật.
2. Đối với
khu lao động ngoài trại giam, Giám thị trại giam bố trí địa điểm gặp phạm nhân
phù hợp với điều kiện cụ thể nhưng phải bảo đảm an ninh, an toàn, yêu cầu quản
lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện chế độ, chính sách đối với phạm
nhân.
3. Nhà thăm gặp
phạm nhân phải treo biển “Nhà thăm gặp phạm nhân”; có tủ để tư trang của người
đến gặp phạm nhân, có Hòm thư góp ý, niêm yết công khai nội quy Nhà thăm gặp phạm
nhân, danh mục đồ vật cấm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an để người thân
thích, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và phạm nhân thực hiện.
Điều 8. Quy định về việc phạm nhân nhận quà
1. Khi gặp
những người theo quy định tại Điều 2 Thông tư này, phạm nhân
được nhận tiền đồng Việt Nam và đồ vật; khối lượng đồ vật được nhận không quá 05
kg trong 01 lần gặp. Đối với quà là thực phẩm, người đến gặp phạm nhân phải mua
tại căng tin của cơ sở giam giữ phạm nhân; trường hợp căng tin cơ sở giam giữ
phạm nhân không đáp ứng được thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem
xét, quyết định.
2. Mỗi
tháng phạm nhân được nhận đồ vật do người thân thích gửi qua đường bưu chính
không quá 02 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 03 kg, nếu người thân thích
gửi 01 lần thì không quá 06 kg.
3. Phạm nhân
là người chưa thành niên được nhận tiền đồng Việt Nam và đồ vật khi gặp người
thân thích; khối lượng đồ vật được nhận không quá 07 kg; mỗi tháng phạm nhân là
người chưa thành niên được nhận đồ vật qua đường bưu chính không quá 02 lần, mỗi
lần không quá 07 kg, nếu người thân thích gửi một lần thì không quá 14 kg.
4. Quy định
việc gửi, nhận đồ vật qua đường bưu chính như sau:
a) Đồ vật
gửi qua đường bưu chính gồm quần áo, khăn mặt, chăn, chiếu, dép, mũ, nón, xà phòng,
bàn chải đánh răng, kem đánh răng, cốc nhựa, thìa nhựa, bát nhựa, kính thuốc có
gọng bằng nhựa, đồ dùng vệ sinh phụ nữ;
b) Việc gửi,
nhận đồ vật qua đường bưu chính phải bảo đảm đúng người gửi đã đăng ký, đúng
người nhận, đúng khối lượng, đúng danh mục quy định tại điểm a khoản này và phù
hợp với nhu cầu sử dụng, điều kiện bảo quản, vệ sinh, an ninh, an toàn của cơ sở
giam giữ phạm nhân;
c) Khi tiếp
nhận đồ vật gửi qua đường bưu chính, cơ sở giam giữ phạm nhân kiểm tra, phân loại,
thống kê chủng loại, số lượng, khối lượng đồ vật. Trường hợp đồ vật gửi đến thuộc
danh mục quy định tại điểm a khoản này nhưng có số lượng, khối lượng của từng
chủng loại vượt quá nhu cầu sử dụng của phạm nhân, không phù hợp với điều kiện
bảo quản, quản lý thì cơ sở giam giữ phạm nhân xem xét quyết định số lượng, khối
lượng đồ vật phạm nhân được nhận cho phù hợp;
d) Trường
hợp phạm nhân từ chối nhận đồ vật gửi qua đường bưu chính thì cơ sở giam giữ phạm
nhân phải lập biên bản về việc phạm nhân từ chối nhận đồ vật; cơ sở giam giữ phạm
nhân chuyển hoàn bưu gửi cho đơn vị bưu chính theo quy định của pháp luật về
bưu chính; cước phí chuyển hoàn do người gửi chi trả, trừ trường hợp pháp luật
hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ bưu chính có quy định khác.
5. Mỗi
tháng phạm nhân được nhận tiền đồng Việt Nam của người thân thích gửi qua tài
khoản ngân hàng được đăng ký với trại giam, trại tạm giam không quá 02 lần.
6. Số người
thân thích được đăng ký gửi đồ vật cho phạm nhân qua đường bưu chính và gửi tiền
qua ngân hàng không quá 02 người và phải có tên trong Sổ thăm gặp. Cán bộ cơ sở
giam giữ khi tiếp nhận phải đối chiếu với danh sách người thân thích đã đăng
ký, kiểm tra, thống kê vào Sổ theo dõi tiền, đồ vật, thư do người thân thích gửi
cho phạm nhân qua đường ngân hàng, bưu chính trước khi giao cho phạm nhân.
7. Mỗi lần
phạm nhân được khen thưởng theo hình thức tăng số lần được nhận quà quy định tại
điểm d khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án hình sự thì được nhận
quà thêm 01 lần, không quá 05 kg đối với quà là đồ vật.
Phạm nhân
là người chưa thành niên được khen thưởng theo hình thức tăng số lần được nhận
quà quy định tại điểm e khoản 1 Điều 168 Luật Tư pháp người chưa
thành niên thì được nhận quà thêm 01 lần, không quá 07 kg đối với quà là đồ
vật.
8. Đối với
quy định về việc phạm nhân nhận, sử dụng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh thực hiện
theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 170/2026/NĐ-CP quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự.
9. Trường
hợp đồ vật do người thân thích gửi khi gặp phạm nhân hoặc qua đường bưu chính
thuộc danh mục đồ vật cấm thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an
về đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù của phạm nhân và việc thu giữ, xử
lý đồ vật cấm và quy định khác của pháp luật có liên quan.
10. Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm phổ biến cho phạm nhân để thông
báo cho người thân thích địa chỉ phạm nhân đang chấp hành án và những đồ vật
thuộc danh mục cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù của phạm nhân để người thân
thích gửi quà; số người thân thích được đăng ký gửi đồ vật qua đường bưu chính
và gửi tiền qua ngân hàng cho một phạm nhân.
11. Căn cứ
điều kiện cụ thể, cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức hoạt động căng tin để bán thực
phẩm và hàng hóa thiết yếu cho phạm nhân. Giá bán phải được Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam duyệt hằng tháng, niêm yết công khai không cao hơn giá
bán lẻ tại địa phương, số tiền chênh lệch từ hoạt động căng tin (nếu có) được sử
dụng phục vụ hỗ trợ hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân và đầu tư, mua sắm cơ
sở vật chất cho cơ sở giam giữ phạm nhân theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Quy định về việc phạm nhân nhận, gửi thư
1. Phạm
nhân được nhận, gửi thư qua dịch vụ bưu chính hoặc khi gặp người thân thích, đại
diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
2. Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam chỉ đạo kiểm tra, kiểm duyệt thư phạm nhân gửi
và nhận; nếu phát hiện nội dung thư vi phạm pháp luật, đe dọa an ninh, an toàn
cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc không phù hợp với yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo
phạm nhân thì lập biên bản, xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Phạm
nhân đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội khác hoặc phạm nhân
được trích xuất trong trường hợp không phải là bị can, bị cáo mà cơ quan đang thụ
lý vụ án có văn bản đề nghị cơ sở giam giữ phạm nhân không giải quyết cho phạm
nhân nhận, gửi thư thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, thực
hiện theo đề nghị của cơ quan đang thụ lý vụ án và thông báo cho phạm nhân biết;
trường hợp cần thiết thì thông báo cho người thân thích của phạm nhân biết.
Điều 10. Quy định về việc liên lạc của phạm nhân
1. Phạm
nhân được liên lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện
tử ở trong nước với người thân thích mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10
phút. Phạm nhân là người chưa thành niên được liên lạc điện thoại hoặc kết nối
hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích ở trong nước
không quá 04 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 15 phút. Căn cứ tình hình thực
tế, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định hình thức
liên lạc của phạm nhân.
2. Phạm
nhân liên lạc với người thân thích bằng điện thoại
a) Cơ sở giam
giữ phạm nhân phối hợp với doanh nghiệp viễn thông địa phương lắp đặt thiết bị
điện thoại cố định có dây hoặc không dây và tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện
thoại với người thân thích; đối với những nơi không thể lắp đặt được điện thoại
cố định thì có thể sử dụng thiết bị điện thoại di động để tổ chức cho phạm nhân
liên lạc với người thân thích;
b) Thời
gian liên lạc tính từ thời điểm hệ thống kết nối thành công với người thân thích;
cước phí liên lạc được tính theo giá dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông và do
phạm nhân chi trả từ tiền lưu ký theo hình thức ký sổ hoặc nguồn hỗ trợ hợp
pháp khác (nếu có) nhưng phải được sự đồng ý của Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam;
c) Phạm
nhân chỉ được liên lạc đúng số điện thoại, đúng người thân thích và nội dung đã
đăng ký tại Sổ theo dõi phạm nhân liên lạc với người thân thích; phải sử dụng
tiếng Việt, trừ trường hợp phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số
không biết tiếng Việt.
Trường hợp
hệ thống kỹ thuật xảy ra sự cố làm gián đoạn cuộc liên lạc hoặc người thân
thích từ chối kết nối thì cơ sở giam giữ phạm nhân xem xét bố trí thực hiện lại
vào thời điểm phù hợp nhưng tổng thời gian liên lạc không quá 10 phút và đối với
phạm nhân là người chưa thành niên là không quá 15 phút;
d) Người
thân thích tham gia liên lạc điện thoại với phạm nhân không được ghi âm, phát
tán nội dung cuộc gọi dưới bất kỳ hình thức nào.
3. Phạm
nhân kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích
a) Phạm
nhân kết nối hình ảnh, âm thanh với người thân thích thông qua hệ thống kỹ thuật
do cơ sở giam giữ phạm nhân quản lý, bố trí và giám sát. Việc kết nối hình ảnh,
âm thanh bằng phương tiện điện tử không thay thế chế độ gặp phạm nhân theo quy
định;
b) Thời
gian kết nối tính từ thời điểm hệ thống kết nối thành công. Trường hợp hệ thống
kỹ thuật xảy ra sự cố làm gián đoạn cuộc liên lạc thì cơ sở giam giữ phạm nhân xem
xét bố trí thực hiện lại vào thời điểm phù hợp nhưng tổng thời gian liên lạc
không quá 10 phút và đối với phạm nhân là người chưa thành niên là không quá 15
phút. Trường hợp kết nối không thực hiện được do người thân thích từ chối kết nối
hoặc không kết nối thành công thì cơ sở giam giữ phạm nhân xem xét bố trí thực
hiện lại trong tháng đó khi có điều kiện;
c) Chi phí kết
nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích do phạm
nhân chi trả theo giá dịch vụ thực tế; trường hợp sử dụng gói thuê bao chung
thì chi phí được phân bổ công khai, minh bạch theo số phạm nhân đã sử dụng dịch
vụ trong tháng hoặc theo phương án do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam phê duyệt;
d) Phạm
nhân có nhu cầu kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử phải đăng
ký với cơ sở giam giữ phạm nhân danh sách người thân thích; danh sách không quá
05 người, đối với phạm nhân là người chưa thành niên là không quá 07 người. Những
người thân thích phạm nhân được đăng ký phải có tên trong Sổ thăm gặp hoặc hình
thức xác nhận khác;
đ) Phạm
nhân chỉ được kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người
thân thích đã đăng ký và được cơ sở giam giữ phạm nhân chấp thuận; việc kết nối
hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích chỉ được thực
hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam;
e) Người
thân thích tham gia liên lạc có hình ảnh, âm thanh không được ghi âm, ghi hình,
chụp ảnh, phát trực tiếp, phát tán nội dung cuộc liên lạc dưới bất kỳ hình thức
nào.
4. Việc tổ
chức cho phạm nhân liên lạc được thực hiện theo thời gian, địa điểm do cơ sở
giam giữ phạm nhân bố trí, dưới sự giám sát của cán bộ cơ sở giam giữ phạm
nhân. Trường hợp phát hiện nội dung liên lạc không đúng với nội dung đã đăng
ký, vi phạm pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc không đúng đối tượng
liên lạc đã được chấp thuận thì phải dừng liên lạc; trường hợp cần thiết, lập
biên bản, báo cáo xử lý theo quy định. Cán bộ được giao giám sát phạm nhân liên
lạc với người thân thích phải có sổ theo dõi, cập nhật thông tin về việc tổ chức
cho phạm nhân liên lạc với người thân thích.
5. Phạm
nhân đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội khác hoặc phạm nhân
được trích xuất trong trường hợp không phải là bị can, bị cáo mà cơ quan đang
thụ lý vụ án có văn bản đề nghị cơ sở giam giữ phạm nhân không cho phạm nhân được
liên lạc với người thân thích hoặc đề nghị cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp để
giám sát chế độ liên lạc của phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam xem xét, thực hiện theo đề nghị của cơ quan đang thụ lý vụ án và giải
thích rõ cho phạm nhân và người thân thích của phạm nhân.
6. Phạm
nhân được khen thưởng theo hình thức tăng số lần được liên lạc với người thân
thích theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì được liên lạc với người thân
thích thêm 01 lần trong tháng đó, thời lượng không quá 10 phút. Phạm nhân là
người chưa thành niên được khen thưởng theo hình thức tăng số lần được liên lạc
với người thân thích ở trong nước theo quy định của Luật Tư pháp người chưa
thành niên thì được liên lạc với người thân thích thêm 01 lần trong tháng đó,
thời lượng không quá 15 phút. Căn cứ tình hình thực tế, Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định hình thức liên lạc của phạm nhân.
7. Trường
hợp cấp bách, căn cứ đơn đề nghị của phạm nhân hoặc thông tin xác thực về sự việc
cấp bách liên quan đến sức khỏe, tính mạng, quyền, lợi ích hợp pháp của phạm
nhân hoặc người thân thích, cán bộ quản giáo phụ trách tổ, đội phạm nhân đề xuất
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, giải quyết cho phạm nhân
liên lạc với người thân thích bằng hình thức phù hợp; thời lượng không quá 10
phút và không quá 15 phút đối với phạm nhân là người chưa thành niên, bảo đảm
yêu cầu quản lý, giám sát.
Điều 11. Quy định về việc quản lý tiền và đồ lưu ký
1. Phạm
nhân khi đến nơi chấp hành án phạt tù, phạm nhân có tư trang chưa dùng đến, tiền,
giấy tờ có giá, các loại thẻ thanh toán bằng hình thức điện tử, vàng, bạc, đá
quý, kim loại quý hoặc đồ vật có giá trị khác thì phải được lập biên bản, niêm
phong và gửi lưu ký để trại giam, trại tạm giam quản lý; phạm nhân được nhận lại
khi chấp hành xong án phạt tù, được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù
trước thời hạn có điều kiện, đặc xá hoặc chuyển đến cơ sở giam giữ phạm nhân
khác. Đối với tiền đồng Việt Nam thì gửi lưu ký để phạm nhân sử dụng.
2. Trường
hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển tiền, giấy tờ có giá, thẻ thanh toán bằng
hình thức điện tử, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý hoặc đồ vật có giá trị khác
cho người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp và tự chịu chi phí thì trại
giam, trại tạm giam có trách nhiệm thực hiện việc chuyển qua đường bưu chính theo
quy định của pháp luật hoặc giao trực tiếp tại trại giam, trại tạm giam. Trường
hợp giao trực tiếp phải lập biên bản mô tả rõ số lượng, khối lượng, chủng loại,
hình dạng, kích thước, màu sắc, tình trạng và đặc điểm khác của đồ vật được
giao.
3. Phạm
nhân là người nước ngoài có ngoại tệ hoặc cơ quan thi hành án dân sự đến cơ sở
giam giữ phạm nhân chuyển trả ngoại tệ đã thu giữ, nếu phạm nhân có đơn xin
chuyển đổi sang tiền đồng Việt Nam để sử dụng lưu ký hoặc thực hiện nghĩa vụ dân
sự thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, cử cán bộ đến ngân
hàng đổi ngoại tệ theo quy định của pháp luật và tỷ giá tại thời điểm giao dịch.
4. Khi phạm
nhân chuyển đến cơ sở giam giữ phạm nhân khác, tiền, đồ vật gửi lưu ký của phạm
nhân (nếu có) được chuyển giao cho nơi tiếp nhận phạm nhân. Việc giao nhận phải
lập biên bản có chữ ký của bên giao, bên nhận và phạm nhân; trường hợp phạm
nhân không ký được hoặc từ chối ký thì ghi rõ lý do trong biên bản.
Điều 12. Quy định về việc phạm nhân nhận và sử dụng tiền lưu ký
1. Người
thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác đến gặp, gửi tiền đồng
Việt Nam cho phạm nhân thì cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức cho phạm nhân gặp người
thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có trách nhiệm hướng dẫn
gửi tiền vào tài khoản của trại giam, trại tạm giam; trường hợp người thân
thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác gửi tiền mặt thì cán bộ tiếp
nhận cùng người gửi tiền ký nhận vào Sổ thăm gặp, Sổ theo dõi chế độ gặp và gửi
tiền lưu ký cho phạm nhân (trường hợp không có Sổ thì phải ghi giấy biên nhận
cho người gửi tiền).
2. Cuối
ngày làm việc, cán bộ tổ chức cho phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân khác phải bàn giao tiền lưu ký về bộ phận hậu cần,
tài vụ của trại giam, trại tạm giam; đối với khu lao động ngoài trại giam, phân
trại giam, phân trại tạm giam xa trung tâm chỉ huy điều hành thì việc bàn giao
được thực hiện ít nhất 01 lần trong tuần và phải thông báo ngay cho cán bộ bán
hàng căng tin biết để ghi số tiền này vào Sổ mua hàng hóa tại căng tin của phạm
nhân hoặc cập nhật vào tài khoản điện tử quản lý tiền lưu ký và mua hàng của phạm
nhân.
3. Các cơ sở
giam giữ phạm nhân mở tài khoản tại ngân hàng và tạo mã QR, niêm yết tại khu vực
Nhà thăm gặp phạm nhân hoặc công khai bằng hình thức phù hợp để người thân
thích của phạm nhân gửi tiền cho phạm nhân.
Việc gửi
tiền cho phạm nhân qua ngân hàng phải bảo đảm xác thực người gửi, truy vết giao
dịch, đúng người nhận, tuân thủ quy định của pháp luật về tài chính, ngân hàng,
phòng, chống rửa tiền và pháp luật khác có liên quan.
4. Nội
dung chuyển tiền cho phạm nhân phải thể hiện rõ họ tên, thông tin định danh người
gửi, họ tên và thông tin định danh phạm nhân nhận tiền. Trường hợp tiền gửi
không rõ người gửi, người nhận, không đúng đối tượng hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp
luật thì cơ sở giam giữ phạm nhân xác minh, xử lý theo quy định.
5. Tiền
thưởng, tiền chi trả một phần công lao động, tiền ăn bổ sung còn dư, kết quả vượt
chỉ tiêu định mức được giao được chuyển vào lưu ký để phạm nhân sử dụng mua
hàng tại căng tin, liên lạc với người thân thích, gửi về cho người thân thích
hoặc nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá, tha tù trước thời hạn
có điều kiện hoặc thực hiện hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường dân sự, án
phí và nghĩa vụ dân sự khác, trả chi phí hiến mô, bộ phận cơ thể nếu đủ điều kiện
theo quy định.
6. Ngoài tiêu chuẩn
ăn quy định tại Luật Thi hành án hình sự, phạm nhân được sử dụng tiền của mình
để mua đồ ăn tại căng tin của cơ sở giam giữ phạm nhân để ăn thêm nhưng không
quá 05 lần định lượng ăn trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.
Tiền mua
các loại hàng hóa thiết yếu khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt không tính vào số tiền
mua đồ ăn thêm của phạm nhân.
7. Trường hợp
phạm nhân chết, phải ghi rõ vào biên bản phạm nhân chết số tiền lưu ký còn lại
chưa sử dụng, đồ vật gửi lưu ký và tài sản cá nhân khác (nếu có) để bàn giao
cho người thân thích, người đại diện hợp pháp của phạm nhân hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
8. Cục Cảnh
sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hướng dẫn các
trại giam, trại tạm giam ứng dụng khoa học, công nghệ vào quản lý tiền lưu ký, mua
hàng căng tin, nhận tiền qua ngân hàng của phạm nhân bảo đảm công khai, minh bạch
và phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 13. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Thông tư số
14/2020/TT-BCA ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi
tiết chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của phạm nhân hết hiệu lực kể từ ngày
Thông tư này có hiệu lực thi hành.
Điều 14. Trách nhiệm thi hành
1. Cục trưởng
Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng chịu
trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành Thông tư này.
2. Thủ trưởng
các đơn vị trực thuộc cơ quan Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố, Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm
vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm thi hành Thông tư
này.
3. Quá trình tổ
chức thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc các đơn vị kịp thời báo cáo bằng văn
bản về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc,
trường giáo dưỡng) để được hướng dẫn./.
|
Nơi nhận:
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Các đồng chí Thứ trưởng;
- Các đơn vị trực thuộc cơ quan Bộ;
- Công an các tỉnh, thành phố;
- Trại giam, trại tạm giam;
- Công báo;
- Lưu: VT, V03, C10.PTT (200b).
|
BỘ
TRƯỞNG
Đại tướng Lương Tam Quang
|