Thế nào là vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp, dự luận xã hội đặc biệt quan tâm?

— 236 lượt xem
10:03 | 24/12/2025
Có thể hiểu như thế nào về vụ án hình sự “có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm"?
Nội dung chính
  1. Định nghĩa về vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp, dự luận xã hội đặc biệt quan tâm là gì?
  2. Quy định phối hợp chuyển vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử như thế nào?
  3. Khi có tranh chấp về thẩm quyền xét vụ án hình sự sẽ được giải quyết như thế nào?

Định nghĩa về vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp, dự luận xã hội đặc biệt quan tâm là gì?

Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, vụ án hình sự “có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm” là vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Vụ án có đủ các tình tiết sau: liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; tài liệu, chứng cứ có nhiều mâu thuẫn, cần phải kiểm tra, xác minh, đánh giá, xử lý; hành vi phạm tội được thực hiện trên phạm vi địa phận từ 02 tỉnh, thành phố trở lên; tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực; gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân;

- Vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo;

- Vụ án có bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực mà sau khi thụ lý vụ án phát hiện bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật.

Thế nào là vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp, dự luận xã hội đặc biệt quan tâm? (Hình từ internet)

Quy định phối hợp chuyển vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử như thế nào?

Căn cứ Điều 5 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện phối hợp chuyển vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử như sau:

Tòa án nhân dân khu vực sau khi thụ lý vụ án nhưng xét thấy vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Chánh án Tòa án nhân dân khu vực báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh để xem xét, giải quyết như sau:

- Nếu xét thấy vụ án không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có văn bản thông báo ngay để Tòa án nhân dân khu vực tiếp tục giải quyết, xét xử theo quy định;

- Nếu xét thấy vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và có văn bản thông báo ngay cho Tòa án nhân dân khu vực. Ngay sau khi nhận được văn bản thông báo của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực phải trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền truy tố. Việc chuyển vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sau khi Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý vụ án nhưng xét thấy vụ án không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, quyết định việc trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để truy tố ra Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.

Ngoài ra, việc phối hợp chuyển vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử phải đảm bảo tuân thủ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan; bảo đảm phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền, không bỏ sót, không chồng chéo, trùng lặp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; bảo đảm phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền xét vụ án hình sự sẽ được giải quyết như thế nào?

Căn cứ Khoản 3 Điều 5 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử được thực hiện theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật Tố tụng hình sự như sau:

- Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, giữa các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định.

- Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.

- Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương quyết định.

- Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.

Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Hướng dẫn xử lý vướng mắc hàng hóa nhập khẩu có ký hiệu R theo Công văn 5145 SHTT TTKN 2026 ra sao?
Hướng dẫn xử lý vướng mắc hàng hóa nhập khẩu có ký hiệu R theo Công văn 5145 SHTT TTKN 2026 ra sao?

Theo Công văn 5145 SHTT TTKN 2026, trường hợp nhập khẩu hàng hoá chứa chỉ dẫn sai lệch về tình trạng bảo hộ tại Việt Nam, nhà nhập khẩu chỉ bị coi là vi phạm quy định nếu không bổ sung chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam khi đưa hàng hoá ra thị trường.