Số lượng, phụ cấp, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 (đề xuất)

Phan Thị Như Ý 139 lượt xem
14:00 | 22/05/2026
Tại dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, Bộ Nội vụ có đề xuất mới về số lượng, phụ cấp, chế độ chính sách với người hoạt động KCTR. Dưới đây là thông tin chi tiết.
Nội dung chính
  1. Số lượng, phụ cấp, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 (đề xuất)
  2. Tiêu chí của thôn, tổ dân phố mới dự kiến thế nào? Ai có thẩm quyền sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo đề xuất mới?
  3. Theo Chỉ thị 21 CT TTg năm 2026, yêu cầu hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố trước 30/6/2026 đúng không?

Số lượng, phụ cấp, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 (đề xuất)

Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (bản dự thảo ngày 19/5/2026). TẢI VỀ

Theo đó, tại Chương III dự thảo Nghị định đề xuất số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là không quá 3 người kèm theo một số chế độ chính sách như phụ cấp và chế độ đào tạo, bồi dưỡng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,...

Cụ thể, tại Điều 10 dự thảo Nghị định đề xuất các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bao gồm: Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư chi bộ; Trưởng Ban công tác Mặt trận.

Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là không quá 03 người.

Bên cạnh đó, tại Điều 11 dự thảo Nghị định đề xuất 2 mức khoán quỹ phụ cấp với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố kèm theo cách tính mức phụ cấp như sau:

Thứ nhất, về mức khoán quỹ phụ cấp:

Ngân sách Nhà nước khoán quỹ (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế) để chi phụ cấp hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố như sau:

- Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo được khoán quỹ phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở;

- Đối với thôn, tổ dân phố không thuộc quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11 dự thảo Nghị định được khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.

Thứ hai, về cách tính mức phụ cấp :

Căn cứ vào quỹ phụ cấp được Ngân sách Nhà nước khoán cho mỗi thôn, tổ dân phố quy định tại khoản 1 Điều 11 dự thảo Nghị định; khả năng cân đối của ngân sách địa phương; quy định của pháp luật có liên quan và đặc thù của từng thôn, tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể những nội dung sau:

- Mức phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bảo đảm tương quan hợp lý với mức lương bậc 1 của chuyên viên.

- Việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh khác ở thôn, tổ dân phố.

- Số lượng, chức danh và mức hỗ trợ đối với các chức danh khác theo quy định của pháp luật có liên quan ngoài các chức danh người hoạt động không chuyên trách quy định tại khoản 1 Điều 10.

Ngoài quy định số lượng, phụ cấp, Bộ Nội vụ đề xuất chế độ đào tạo, bồi dưỡng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố tại Điều 12 dự thảo Nghị định như sau:

(1) Người hoạt động ở thôn, tổ dân phố được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ hiện đang đảm nhiệm (ưu tiên đào tạo kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số…); khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng thì được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.

(2) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế./.

Như vậy, Bộ Nội vụ đang đề xuất nhiều quy định mới liên quan đến số lượng, phụ cấp và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nhằm bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở. Các nội dung này hiện vẫn đang trong giai đoạn lấy ý kiến và sẽ được xem xét, hoàn thiện trước khi Chính phủ ban hành chính thức.

Lưu ý:

Tại Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để ban hành trước ngày 26 tháng 5 năm 2026.

Số lượng, phụ cấp, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 (đề xuất)

Số lượng, phụ cấp, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 theo đề xuất thế nào? (Hình từ Internet)

Tiêu chí của thôn, tổ dân phố mới dự kiến thế nào? Ai có thẩm quyền sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo đề xuất mới?

Tại dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố TẢI VỀ, Bộ Nội vụ đề xuất tiêu chí của thôn, tổ dân phố mới tuỳ thuộc vào tỉnh thành, vùng miền và vị trí địa lý.

Cụ thể, Điều 5 dự thảo Nghị định đề xuất tiêu chí của thôn, tổ dân phố mới như sau:

(1) Quy mô số hộ gia đình

- Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;

- Ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;

- Ở vùng Đồng bằng sông Hồng: thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;

- Ở vùng Bắc Trung bộ: thôn phải có từ 350 hộ trở gia đình lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;

- Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, TDP phải có từ 500 hộ gia đình trở lên. Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;

- Ở vùng Đông Nam bộ thôn phải có từ 400 hộ trở lên, Tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;

- Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thôn phải có từ 400 hộ trở lên, TDP phải có từ 550 hộ trở lên.

(2) Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù

Trường hợp ở địa bàn biên giới, hải đảo cách xa đất liền, do việc di dân hoặc để bảo vệ đường biên giới, chủ quyền biển đảo; thôn, tổ dân phố ở các địa bàn có yếu tố đặc thù khác (ở nơi có địa hình bị chia cắt phức tạp; nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông…) thì quy mô thôn, tổ dân phố có thể thấp hơn quy định tại (1). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình đối với các thôn, tổ dân phố quy định tại khoản này phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.

(3) Các tiêu chí khác

Thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.

Về thẩm quyền thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên và đổi tên thôn, tổ dân phố, tại Điều 7 dự thảo Nghị định đề xuất phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã, phường, đặc khu và một số trường hợp do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định như sau:

(1) Hội đồng nhân dân phường quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố trên địa bàn.

(2) Hội đồng nhân dân xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn trên địa bàn.

(3) Hội đồng nhân dân đặc khu quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn.

(4) Ở những nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương dân cấp xã thì Ủy ban nhân cấp xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn.

Theo Chỉ thị 21 CT TTg năm 2026, yêu cầu hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố trước 30/6/2026 đúng không?

Tại Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện phương án bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; bảo đảm hoàn thành đồng bộ với thời gian hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố, trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.

Theo đó, có thể thấy việc sắp xếp thôn, tổ dân phố phải hoàn thành trước ngày 30/6/2026, đồng bộ với thời gian bố trí, sử dụng và giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026.

Logo Thư viện Pháp luật
Phan Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Lao động - Tiền lương Xem thêm

Nghị định 381 2026 NĐ CP Phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức chi tiết thế nào?
Nghị định 381 2026 NĐ CP Phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức cấp xã chi tiết thế nào?

Nghị định 381/2026/NĐ-CP quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu có hiệu lực từ ngày 02/10/2026. Dưới đây là chi tiết mức phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức theo quy định.

Mức phụ cấp công vụ đối với cán bộ công chức cấp xã từ ngày 02/10/2026 theo Nghị định 381/2026/NĐ-CP chi tiết?
Mức phụ cấp công vụ đối với cán bộ công chức cấp xã từ ngày 02/10/2026 theo Nghị định 381/2026/NĐ-CP chi tiết?

Từ ngày 02/10/2026, Cán bộ, công chức cấp xã được hưởng phụ cấp công vụ bằng 55% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) nếu không được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

Bài viết mới nhất

Nghị định 381 2026 NĐ CP Phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức chi tiết thế nào?
Nghị định 381 2026 NĐ CP Phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức cấp xã chi tiết thế nào?

Nghị định 381/2026/NĐ-CP quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu có hiệu lực từ ngày 02/10/2026. Dưới đây là chi tiết mức phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức theo quy định.