Nhận biết thủ đoạn mạo danh nhân viên nhà mạng nâng cấp sim 5G để chiếm đoạt tài sản như thế nào?
Mới đây, trang thông tin điện tử Công an tỉnh Tây Ninh đã có cảnh báo thủ đoạn mạo danh nhân viên nhà mạng “Nâng cấp sim 5G” để chiếm đoạt tài sản.
Đáng chú ý, các đối tượng sử dụng phương thức lừa đảo mới liên quan đến việc mạo danh nhân viên các nhà mạng viễn thông nhằm chiếm đoạt quyền kiểm soát số điện thoại của người dân, từ đó thực hiện hành vi đánh cắp tài sản trong các tài khoản ngân hàng và ví điện tử. Thủ đoạn này lợi dụng quá trình chuyển đổi hạ tầng viễn thông, đặc biệt là việc tắt sóng 2G và triển khai 5G, để tạo dựng kịch bản lừa đảo tinh vi.
Cụ thể, các đối tượng thường chủ động gọi điện cho người dân, tự xưng là nhân viên tổng đài của các nhà mạng lớn như Viettel, VNPT, MobiFone. Nội dung cuộc gọi thông báo SIM của người dùng sắp bị khóa do chưa thực hiện “nâng cấp lên 5G” hoặc chưa chuyển đổi theo yêu cầu của nhà mạng, từ đó gây tâm lý lo lắng và thúc ép người dân phải thực hiện ngay các thao tác theo hướng dẫn.
Thay vì yêu cầu khách hàng đến trực tiếp điểm giao dịch, các đối tượng hướng dẫn người dùng thực hiện thao tác ngay trên điện thoại bằng cách soạn tin nhắn theo cú pháp lạ, điển hình như “601<Số_SIM_mới>#” hoặc các biến thể tương tự. Thực chất, đây là các lệnh chuyển hướng cuộc gọi hoặc yêu cầu đổi SIM (SIM swap). Khi người dùng thực hiện, SIM hiện tại sẽ mất tín hiệu, đồng thời quyền kiểm soát số điện thoại được chuyển sang SIM do đối tượng nắm giữ.
Sau khi chiếm quyền kiểm soát số điện thoại, các đối tượng nhanh chóng thực hiện chức năng “quên mật khẩu” trên các ứng dụng ngân hàng, ví điện tử hoặc tài khoản liên quan. Thông qua việc nhận mã OTP gửi về số điện thoại đã bị chiếm đoạt, chúng có thể truy cập và rút toàn bộ tiền trong tài khoản của nạn nhân trong thời gian rất ngắn.
Theo đó, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Tây Ninh đã cảnh báo người dân có thể nhận diện thủ đoạn này qua một số dấu hiệu như: Yêu cầu nâng cấp SIM hoặc xử lý kỹ thuật qua điện thoại; sử dụng lời lẽ hối thúc, đe dọa khóa số nếu không thực hiện ngay; hoặc xuất hiện các tin nhắn xác nhận đổi SIM, mã OTP dù bản thân không thực hiện giao dịch.
Để phòng tránh rủi ro, người dân cần đặc biệt lưu ý: Tuyệt đối không làm theo bất kỳ hướng dẫn nào từ các cuộc gọi lạ tự xưng là nhân viên nhà mạng, đặc biệt là việc soạn tin nhắn theo cú pháp không rõ nguồn gốc. Khi có nhu cầu nâng cấp SIM hoặc xử lý các vấn đề liên quan, cần đến trực tiếp các điểm giao dịch chính thức của nhà mạng để được hỗ trợ.
Bên cạnh đó, người dân nên tăng cường các biện pháp bảo mật như sử dụng xác thực sinh trắc học (vân tay, nhận diện khuôn mặt) và ứng dụng tạo mã xác thực (Authenticator), hạn chế phụ thuộc hoàn toàn vào mã OTP gửi qua tin nhắn SMS.

Nhận biết thủ đoạn mạo danh nhân viên nhà mạng nâng cấp sim 5G để chiếm đoạt tài sản như thế nào? (Hình từ Internet)
Năm 2026, đổi điện thoại phải xác thực sinh trắc học khuôn mặt đúng không? Áp dụng từ khi nào?
Theo Điều 8 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN thì việc đổi điện thoại (thay đổi thiết bị so với thiết bị đã gắn số thuê bao sử dụng dịch vụ viễn thông trước đó) phải xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt trong tối đa 2 giờ từ thời điểm thay đổi, quy định này áp dụng từ ngày 15/6/2026.
Cụ thể, từ ngày 15/6/2026, trong thời gian tối đa 02 giờ kể từ thời điểm thuê bao có hoạt động thay đổi thiết bị so với thiết bị đã gắn số thuê bao sử dụng dịch vụ viễn thông trước đó, doanh nghiệp viễn thông có nghĩa vụ triển khai biện pháp rà soát, phát hiện và tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi (gọi điện thoại, gửi tin nhắn SMS đến số thuê bao di động khác), đồng thời thông báo yêu cầu thuê bao thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt thông qua một trong các biện pháp sau:
(1) Sử dụng dịch vụ xác thực điện tử để xác thực hình ảnh chụp trực tiếp khuôn mặt của thuê bao bảo đảm trùng khớp với dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc Cơ sở dữ liệu căn cước hoặc Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh hoặc thực hiện xác thực hình ảnh chụp trực tiếp khuôn mặt của thuê bao bảo đảm trùng khớp với dữ liệu được lưu tại bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp.
(2) Đối chiếu, so sánh hình ảnh chụp trực tiếp khuôn mặt của thuê bao bảo đảm trùng khớp với thông tin sinh trắc học đã được lưu giữ hợp pháp tại cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp viễn thông chịu trách nhiệm về tính chính xác và trùng khớp của thông tin sinh trắc học khuôn mặt được xác thực với thông tin sinh trắc học khuôn mặt của thuê bao di động đã hoàn thành xác thực theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN trước khi có hoạt động thay đổi thiết bị. Việc xác thực thông tin trùng khớp với thông tin sinh trắc học ảnh khuôn mặt phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Có độ chính xác được xác định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương ứng với tiêu chí: Có tỷ lệ từ chối sai <5% với tỷ lệ chấp nhận sai <0,01% theo tiêu chuẩn FIDO Biometric Requirement (áp dụng đối với tập mẫu tối thiểu 10.000 mẫu);
- Có khả năng phát hiện tấn công giả mạo thông tin sinh trắc học của vật thể sống (Presentation Attack Detection - PAD) dựa trên tiêu chuẩn quốc tế (như NIST Special Publication 800-63B Digital Identity Guidelines: Authentication and Lifecycle Management hoặc ISO 30107 Biometric presentation attack detection hoặc FIDO Biometric Requirements) để phòng, chống gian lận, giả mạo khách hàng qua hình ảnh, video, mặt nạ 3D;
- Thông tin chứng minh đã xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt phải thể hiện được thời gian (ngày, giờ) thực hiện xác thực của từng số thuê bao.
(3) Với số thuê bao di động H2H, trong vòng 30 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi, thuê bao phải hoàn thành thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt, sau thời hạn này nếu thuê bao không thực hiện, doanh nghiệp viễn thông có nghĩa vụ tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều đồng thời thông báo thuê bao sẽ bị thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ viễn thông nếu không thực hiện; thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ viễn thông sau 05 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều nếu cá nhân, tổ chức không thực hiện.
Quy định này nhằm tăng cường bảo mật, phòng chống gian lận trong sử dụng thuê bao di động, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt thông tin qua viễn thông.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];