Có được lấy lãi trên số tiền ứng trước đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào hay không?

— 116 lượt xem
10:30 | 13/12/2025
Công ty mẹ ở nước ngoài mua hàng của công ty con tại Việt Nam và có ứng trước tiền hàng, các bên thỏa thuận sau 01 năm sẽ hoàn trả số tiền ứng trước. Theo hợp đồng, số tiền ứng trước này không trừ vào số tiền hàng phải thanh toán thì công ty mẹ có được phép thu lãi trên số tiền ứng trước này không?
Nội dung chính
  1. Nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng vốn cho nhà đầu tư nước ngoài khác trong doanh nghiệp xác định nghĩa vụ kê khai thuế như thế nào?
  2. Công ty mẹ giao dịch với công ty con có được xác định là giao dịch liên kết không?

Nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng vốn cho nhà đầu tư nước ngoài khác trong doanh nghiệp xác định nghĩa vụ kê khai thuế như thế nào?

Căn cứ quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 quy định quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán, cụ thể trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ  trả nợ của bên vay, cụ thể trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

- Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

- Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định định nghĩa đặt cọc  là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, theo những quy định nêu trên chỉ có những nghiệp vụ cho vay hay chậm thanh toán (chậm thực hiện nghĩa vụ) thì mới phát sinh khoản tiền lãi. Còn đối tình huống đưa ra đây là một biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng như tương tự hoạt động đặt cọc nêu trên, không có cơ sở nào để bên tạm ứng thu khoản tiền lãi này. Về vấn đề xử lý khoản tiền tạm ứng thì các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận hoàn trả lại hoặc trừ dần vào nghĩa vụ phải thanh toán. 

Có được lấy lãi trên số tiền ứng trước đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào hay không? (Hình từ internet)

Công ty mẹ giao dịch với công ty con có được xác định là giao dịch liên kết không?

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 132/2020/NĐ-CP thì các giao dịch giữa các bên có mối quan hệ liên kết là giao dịch liên kết gồm những giao dịch sau: mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP thì một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia thì được xác định là giao dịch liên kết. Đối với hai doanh nghiệp có mối quan hệ mẹ con được xác định là sở hữu phần vốn từ 50% trở lên hoặc tổng số cổ phần biểu quyết, do đó giao dịch giữa công ty mẹ và công ty con được xác định là giao dịch liên kết.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất