Bản án về ly hôn, nuôi con số 78/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 78/2022/HNGĐ-ST NGÀY 08/06/2022 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Diễm T, sinh năm 1980. Địa chỉ: K 9, P 6, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp 3, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị T, anh N vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 28/3/2022, trong quá trình tố tụng chị Lê Diễm T trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh N chung sống vào năm 2005 trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám cưới theo phong tục tại địa phương và đến Ủy ban nhân dân P 6, thành phố CM, tỉnh Cà Mau đăng ký kết hôn ngày 06/4/2006.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 người con chung. Tuy nhiên, khoảng 06 tháng gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống luôn căng thẳng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Hiện nay chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh N đã trầm trọng, tiếp tục chung sống không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.

Về con: Chị và anh N có 01 người con Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 17/3/2006 đang sống cùng anh N, khi ly hôn chị đồng ý giao con cho anh N nuôi, không đặt ra cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị và anh N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn N trình bày trong quá trình tố tụng:

Về hôn nhân: Anh với chị T chung sống vào năm 2005 trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám cưới theo phong tục tại địa phương và đến Ủy ban nhân dân P 6, thành phố CM, tỉnh Cà Mau đăng ký kết hôn ngày 06/4/2006.

Trong thời gian chung sống giữa anh với chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con: Anh và chị T có 01 người con Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 17/3/2006 đang sống cùng anh, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự;

nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2005, chị T và anh N tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị T và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh N cũng đồng ý nên căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh N.

Về con: Xét thấy người con Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 17/3/2006 đang sống cùng anh N, khi ly hôn chị T đồng ý giao con cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống của con chưa thành niên cần tiếp tục giao con cho anh N nuôi là phù hợp. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản: Chị T và anh N không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Diễm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn N, anh N có địa chỉ cư trú tại ấp 3, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị T, anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh N.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Năm 2005, chị T và anh N tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P 6, thành phố CM, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị T và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị T xác định mâu thuẫn giữa chị và anh N đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị T và anh N không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân, trong khoảng thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Hiện nay chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hòa giải nên yêu cầu ly hôn, qua làm việc anh N đồng ý ly hôn với chị T nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của chị T và anh N.

[2.2]. Về con: Xét thấy người con Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 17/3/2006 đang sống cùng anh N, nhằm ổn định cuộc sống của con chưa thành niên cần tiếp tục giao cho anh N nuôi là phù hợp. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[2.3]. Về tài sản: Chị T và anh N không yêu cầu nên không xem xét.

[2.4]. Về án phí hôn nhân 150.000 đồng chị T đồng ý nộp, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Diễm T với anh Nguyễn Văn N.

2. Về con: Giao người con Nguyễn Hoàng Bảo, sinh ngày 17/3/2006 cho anh Nguyễn Văn N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Lê Diễm T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Văn N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Lê Diễm T và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Diễm T nộp số tiền 150.000 đồng, chị Lê Diễm T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002289 vào ngày 06/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí 150.000 đồng, còn lại 150.000 đồng được hoàn trả cho chị Lê Diễm T.

Án xử công khai, chị Lê Diễm T, anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, nuôi con số 78/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:78/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 08/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về