TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
9103:2011
ISO
7753:1987
NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN - TÍNH NĂNG VÀ YÊU CẦU THỬ NGHIỆM ĐỐI
VỚI HỆ THỐNG PHÁT HIỆN VÀ BÁO ĐỘNG TỚI HẠN
Nuclear
energy -
Performance
and testing requirements for criticality detection and alarm systems
Lời nói đầu
TCVN 9103:2011 hoàn toàn
tương đương với ISO 7753:1987;
TCVN 9103:2011 do Ban kỹ
thuật Tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 85 Năng lượng hạt nhân biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị,
Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này, đề cập đến việc thiết
kế và duy trì hệ thống phát hiện và báo động tới hạn, được bổ sung trong ba phụ
lục. Phụ lục A đưa ra các đặc tính của một sự cố tới hạn tối thiểu cần quan
tâm, Phụ lục B đưa ra các ví dụ về áp dụng tiêu chuẩn này đối với các khu vực sự
cố và Phụ lục C đưa ra hướng dẫn xây dựng các kế hoạch ứng phó khẩn cấp.
NĂNG LƯỢNG HẠT
NHÂN - TÍNH NĂNG VÀ YÊU CẦU THỬ NGHIỆM ĐỐI VỚI HỆ THỐNG PHÁT HIỆN VÀ BÁO ĐỘNG TỚI
HẠN
Nuclear
energy -
Performance
and testing requirements for criticality detection and alarm systems
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu về
đặc tính và thử nghiệm đối với các hệ thống phát hiện và báo động tới hạn, tiêu
chuẩn này có thể được áp dụng cho tất cả các công việc vận hành với plutoni,
urani 233, Urani đã được làm giàu đồng vị urani 235, và các vật liệu khác có khả
năng phân hạch, mà tới hạn do thiếu thận trọng có thể xảy ra và gây ra sự phơi
nhiễm bức xạ cho nhân viên tới mức không được phép. Tiêu chuẩn này không yêu cầu
thiết bị phụ trợ riêng biệt khi các thiết bị vận hành trong các cơ sở, như các lò phản ứng hạt nhân hoặc các thử
nghiệm tới hạn, đã đáp ứng được các yêu cầu của tiêu chuẩn này.
Tiêu chuẩn này không quy định chi tiết
các bước quản lý hành chính, được coi là đặc quyền quản lý, hoặc thiết kế và mô
tả cụ thể của thiết bị. Thông tin chi tiết về phép đo liều sự cố hạt nhân, đánh
giá mức phơi nhiễm bức xạ của nhân viên và thiết bị đo để chẩn đoán sau sự cố hạt
nhân không thuộc phạm vi của tiêu chuẩn này.
Tiêu chuẩn cung cấp hướng dẫn về đặc
tính chi tiết của thiết bị được sử dụng trong các hệ thống báo động tới hạn do
IEC soạn thảo.
Tiêu chuẩn này đề cập chủ yếu tới hệ
thống đo suất liều bức xạ gamma. Tiêu chí phát hiện cụ thể có thể được đáp ứng bởi
các hệ thống tích hợp hoặc hệ thống phát hiện nơtron hoặc bức xạ gamma, và các
hệ thống tương tự được cân nhắc áp dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và
định nghĩa sau.
2.1. Sự cố tới hạn (criticality
accident)
Sự giải phóng năng lượng do ngẫu nhiên
tạo ra phản ứng dây chuyền nơtron tự duy trì hoặc phân ly.
2.2. Sự cố tới hạn
tối thiểu cần quan tâm (minimum accident of concern)
Sự cố nhỏ nhất mà một hệ thống báo động
tới hạn được yêu cầu phát hiện.
3. Nguyên tắc chung
3.1. Khái quát
Các hệ thống báo động phải được lắp đặt
tại bất cứ nơi nào mà được cho rằng việc lắp đặt hệ thống sẽ làm giảm toàn bộ
các nguy cơ rủi ro. Nghiên cứu lắp đặt phải chỉ ra được các mối nguy hiểm có thể
có do báo động sai.
3.2. Giới hạn và yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong nội dung trên, khu vực độc lập
có thể được coi là không liên quan khi mà tại biên của vùng đó không có sự trao
đổi cần thiết giữa các vùng, khoảng cách ly tối thiểu giữa các vật liệu tại các
khu vực liền kề là 10 cm và mật độ bề mặt của vật liệu phân hạch, lấy trung bình
cho mỗi khu vực độc lập, phải nhỏ hơn 50 g /m2.
3.2.2. Một hệ thống báo động
tới hạn không phải tuân theo các điều khoản của tiêu chuẩn này ở những nơi mà
liều được đo một cách ngẫu nhiên ở mức lớn nhất có thể được dự báo trước trong
không khí sạch/tự do không được vượt quá 0,12 Gy. Để đánh giá điều này số phân
hạt nhân/phân hạch tối đa được giả định không vượt quá 2 x 1019 phân
hạch đối với các sự kiện bên ngoài
lõi/vùng hoạt động của lò phản ứng.
3.3. Phát hiện
Tại các khu vực, mà tại đó được yêu cầu
phải nằm trong vùng hoạt động của hệ thống báo động tới hạn, phải có các biện
pháp để phát hiện liều bức xạ hoặc suất liều vượt quá mức quy định và phát tín
hiệu sơ tán nhân viên.
3.4. Báo động
3.4.1. Các tín hiệu báo động
phải là duy nhất, âm thanh đủ lớn và phải bao phủ một phạm vi đủ rộng để nghe
được trong tất cả các khu vực phải sơ tán. Tín hiệu báo động phải phát đủ dài để
mọi người đến được điểm tập trung sơ tán.
3.4.2. Ngưỡng phát tín hiệu
báo động phải được thiết lập đủ lớn để làm giảm khả năng xác suất báo động từ
các nguồn khác không phải là tới hạn. Ngưỡng này được thiết lập đủ thấp để phát
hiện các sự cố tới hạn tối thiểu cần quan tâm.
3.4.3. Các tín hiệu sơ tán sẽ
được phát đi ngay sau khi sự cố được phát hiện.
3.4.4. Sau khi kích hoạt, tín
hiệu âm thanh phải được phát đi liên tục cho đến khi hệ thống được thiết lập lại
thậm chí ngay cả khi mức bức xạ đã giảm xuống dưới điểm báo động. Các điểm thiết
lập lại chế độ làm việc của hệ thống báo động phải đặt ở bên ngoài khu vực cần
sơ tán với sự tiếp cận hạn chế và được thiết lập một cách thủ công.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.5. Tính tin cậy
3.5.1. Phải nghiên cứu một
cách toàn diện để tránh các báo động sai. Điều này có thể được thực hiện bằng
cách cung cấp các kênh phát hiện độc lập đáng tin cậy hoặc tốt hơn là bằng cách
yêu cầu sự đáp ứng đồng thời của hai hoặc nhiều kênh phát tín hiệu để kích hoạt
hệ thống báo động. Trong các hệ thống có các kênh dư, tín hiệu bị mất của một
kênh độc lập bất kỳ không làm ảnh hưởng đến
hệ thống báo động theo các tiêu chí phát hiện được quy định trong điều 4.2. Phải
đưa ra cảnh báo về các hoạt động sai chức năng mà không làm hệ thống báo động bị
kích hoạt.
3.5.2. Thực hiện các biện
pháp thử nghiệm về mức độ đáp ứng và hiệu quả của hệ thống báo động không dẫn tới
hành động sơ tán.
3.5.3. Trong các khu vực mà
tại đó vẫn tiếp tục làm việc trong thời gian mất điện thì phải có nguồn cấp điện
liên tục cho hệ thống phát hiện và báo động tới hạn hoặc hoặc giám sát các hành
động đó bằng thiết bị giám sát cầm tay.
3.5.4. Các detector phải
không được hỏng chức năng kích hoạt báo động trong môi trường bức xạ có cường độ
lớn vượt quá 103 Gy/h. Việc tuân thủ các quy định này có thể được chứng
minh bằng việc thử nghiệm các detector mẫu hoặc qua việc thử nghiệm các mẫu sản
phẩm của nhà sản xuất.
4. Tiêu chí về thiết kế
hệ thống
4.1. Độ tin cậy
Thiết kế hệ thống phải đơn giản phù hợp
với mục tiêu kép về đảm bảo độ tin cậy khi kích hoạt hệ thống báo động và tránh
báo động sai.
4.2. Tiêu chí phát hiện
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.3. Mức đáp ứng của thiết bị
Trong thiết kế detector bức xạ, có thể
được giả định rằng thời gian tối thiểu phát ra bức xạ là 1 ms. Hệ thống phải được
thiết kế để đáp ứng với mức phát xạ trong khoảng thời gian này.
4.4. Ngưỡng tín hiệu báo động
Để giảm thiểu các báo động sai, Ngưỡng
phát tín hiệu báo động phải được thiết lập ở mức tín hiệu lớn nhất có thể nhưng
vẫn đáp ứng được các tiêu chí phát hiện quy định trong 4.2. Phải có tín hiệu chỉ
báo kênh đang phát tín hiệu.
4.5. Vị trí đặt detector
Phải lựa chọn vị
trí và khoảng cách giữa các detector sao cho tránh được các ảnh hưởng của che chắn do các thiết bị hoặc các
vật liệu lớn. Khoảng cách giữa các detector phải phù hợp với việc lựa chọn ngưỡng
phát tín hiệu báo động và phù hợp với các tiêu chí phát hiện. Bán kính phát hiện
của detector được thảo luận trong Phụ lục
B.
4.6. Thử nghiệm
4.6.1. Sự đáp ứng của thiết
bị với bức xạ phải được kiểm tra định kỳ để xác nhận rằng thiết bị vẫn còn hoạt
động. Trong một hệ thống có kênh dư, đặc tính làm việc của mỗi kênh phải được
giám sát. Khoảng thời gian thử nghiệm có thể được xác định bằng thực nghiệm,
tuy nhiên, các thử nghiệm cần được thực hiện ít nhất mỗi tháng một lần. Phải
duy trì công việc lưu lại các thông tin được thử nghiệm.
4.6.2. Theo định kỳ toàn bộ
hệ thống báo động phải được thử nghiệm. Ít nhất ba tháng một lần thiết bị phát
tín hiệu bằng âm thanh phải được thử nghiệm. Quan sát tại hiện trường phải chỉ ra
rằng phát tín hiệu âm thanh nghe được ở trên mức tiếng ồn nền. Tất cả nhân viên
trong các khu vực bị tác động phải được thông báo trước khi thử nghiệm tín hiệu
bằng âm thanh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.6.4. Quy trình thử nghiệm
phải được trình bày rõ ràng, chính xác để giảm thiểu các báo động sai do thử
nghiệm, và phải đưa hệ thống về trạng thái hoạt động bình thường ngay lập tức
sau thử nghiệm.
4.6.5. Lãnh đạo cơ sở phải được thông báo trước về thời gian mà hệ
thống báo động dừng hoạt động.
Phụ lục A
(Quy định)
Mô tả đặc tính của
sự cố tối thiểu cần quan tâm
Lưu ý cơ bản trong thiết kế hệ thống
báo động sự cố tới hạn là xác định về mức độ của sự kiện cần được phát hiện. Một
“sự cố tới hạn tối thiểu cần quan tâm” quy định dựa trên cơ sở lịch sử các sự cố, được bổ sung bằng cách
xét đến các cơ chế gây ra sự cố, là một sự cố sẽ tạo ra một liều bằng 0,2 Gy ở
phút đầu tiên tại một khoảng cách bằng 2 m từ các vật liệu phản ứng, với giả định
là sự che chắn không đáng kể.
Chín sự cố tới hạn hạt nhân đã xảy ra
trong quá trình xử lý hoặc thao tác với các vật liệu phân hạch được mô tả trong
Thư mục tài liệu tham khảo [2]. Việc nghiên cứu các sự cố này theo quy định về
sự cố tối thiểu cần quan tâm. Thừa nhận rằng các cơ chế sẽ giải phóng một năng
lượng rất nhỏ trong một sự kiện, nhưng một sự cố tự dập tắt thì phải giải phóng
năng lượng đủ lớn để hình thành cơ chế dập tắt. Hơn nữa, trong khi một hệ thống
có thể giải phóng năng lượng này trong thời gian dài, phải kiểm soát các tình
huống không được kỳ vọng trong các sự cố của quá trình.
Một sự cố điển hình có thể được tạo ra
do bổ sung độ phản ứng vào một hệ thống dưới tới hạn để tạo thành hệ thống ở trạng
thái trên tới hạn. Việc làm tăng độ phản ứng có thể thông qua việc bổ sung các
vật liệu phân hạch, gia tăng sự có mặt của chất làm chậm hoặc phản xạ, hoặc bằng
cách thay đổi hình dáng của hệ thống để tạo thành một hệ thống có độ rò rỉ
nơtron thấp hơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Số lượng phân hạch đột biến trong quá
trình xảy ra chín sự cố được đề cập ở trên được cho trong Hình A.1. Các sự cố xảy
ra trong lò phản ứng và trong các cơ sở/
thiết bị tới hạn điều khiển từ xa không
được tính đến, do các cơ chế bổ sung độ phản ứng là không giống với các cơ chế
hình thành trong các cơ sở/ thiết bị.
Sự chuyển đổi từ sự tăng đột biến số
lượng phân hạch trong Hình A.1 thành liều hoặc suất liều gần khu vực cơ cấu là
không trực tiếp. Đánh giá liều tiếp nhận của
bốn trong chín sự cố đó, cùng với đánh giá về khoảng cách của người bị phơi nhiễm
bức xạ từ nơi xảy ra sự cố, được trình
bày trong tài liệu tham khảo [3]. Từ các dữ liệu này cho thấy, với cấp số phân
hạch gần bằng 2, bốn sự cố trong mỗi trường hợp sẽ tạo ra một liều xấp xỉ 10 Gy
ở khoảng cách 2 m. Liều được tạo ra trong một thời gian ngắn, thường là một vài
giây.

Hình A.1 số
lượng phân hạch đột biến
Số phân hạch đột biến nhỏ nhất trong
Hình A.1 được sinh ra do xếp chồng thủ công (bằng tay) vật liệu phản xạ xung
quanh một quả cầu chứa 6,2 kg plutoni. Trong một trường hợp, chất phản xạ là
các bua vonfram và trong trường hợp khác là berili. Số lượng phân hạch tăng đột
biến trong trường hợp đầu tiên ước tính xấp xỉ bằng 2 x 1015 phân hạch;
trong trường hợp thứ hai, nhỏ hơn 10 lần. Trong cả hai trường hợp số phân hạch
đột biến được sinh ra từ nguồn công suất lớn trong thời gian ngắn để tổng số
phân hạch đột biến bằng 1016 và 3 x 1015 phân hạch, trong
mỗi trường hợp tương ứng. Tại mỗi cơ cấu duy trì trạng thái tới hạn khoảng 1 s.
Những người có mặt gần cơ cấu nhất tiếp
nhận mức phơi nhiễm bức xạ gây chết người, nhưng có một số điểm không chắc chắn
đối với các giá trị liều phải nhận. Đối với cơ cấu có mặt chất phản xạ là
cacbua vonfram, dữ liệu khá là ít và rất phức tạp do có màn chắn cực tốt. Một
vài nghiên cứu được thực hiện để xác định liều bức xạ từ quả cầu phản xạ
berili. Tổng liều bị tác động đầu tiên đạt 11 Gy ở khoảng cách khoảng 40 cm được
trình bày trong tài liệu tham khảo [4], dựa trên dữ liệu kích hoạt natri trong
máu lấy tại thời điểm xảy ra sự cố, với các hiệu chỉnh hiện có về hiệu ứng phổ
nơtron. Một người, cách điểm xảy ra sự cố xấp xỉ 2 nhận một liều khoảng 0,56
Gy.
Sự cố từ quả cầu kim loại chứa plutoni
đại diện cho mức giới hạn dưới hợp lý hơn cho các sự cố tự kết thúc bằng cơ chế
tự dập tắt nội tại. Cần lưu ý rằng mỗi một sự cố trong số các sự cố nêu trên được
kết thúc bằng hành động có chủ ý của người
làm việc tại đó sau khi anh ta phát hiện sự cố xảy ra. Nếu như cấu hình tới hạn
cho cơ cấu không được tách rời trong vòng vài giây, thì năng lượng giải phóng ở
phút đầu tiên có cường độ lớn hơn nhiều.
Nghiên cứu về cách thức hoạt động của
các các cơ cấu tới hạn thực nghiệm giúp hiểu biết thêm về các đặc tính của sự cố
hạt nhân. Hai trong số các cơ cấu tại cơ sở thực nghiệm tới Los Alamos được
quan tâm đặc biệt.
“Godiva” là cơ cấu trần của urani làm
giàu được thiết kế để vận hành ở trạng thái tới hạn tức thời trong chế độ xung
nhanh. Hệ số nhiệt độ của độ phản ứng cho cơ cấu này là khoảng -3,6 x 10-3
đô la/ °C1), do đó, nhiệt độ tăng đến 300 °C là cần thiết để giảm cơ
cấu từ trạng thái tới hạn tức thời xuống trạng thái tới hạn trễ, đây là do hiệu
ứng dập tắt tối thiểu hợp lý. Năng lượng
này được giải phóng từ 5 x 1016 phân hạch và nó tạo ra một liều xấp
xỉ 7,5 Gy ở khoảng cách 2 m từ điểm cơ cấu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cơ cấu “Parka” do kích thước, khối lượng
và khả năng sinh nhiệt có nhiều khả năng xảy ra hơn trong sự cố của quá trình
và cần quan tâm hơn so với “Godiva”,
các sự cố liên quan đến hệ thống nhỏ gọn như quả cầu chứa 6,2 kg plutonium ngày
nay được xem là rất khó có thể xảy ra.
Giá trị mật độ năng lượng được tính
theo một hàm của thời gian đối với việc bổ sung độ phản ứng 1 đô la và 1,20 đô
la với thời gian sống của các nơtron thay đổi từ 10-8 đến 10-4
s được đưa ra trong tài liệu tham khảo [2]. Đối với các việc bổ sung độ phản ứng
nhỏ hơn, mật độ năng lượng là vài trăm Jun trên 1 centimet khối trong 60 s đầu
tiên của sự cố. Từ các giá trị này, có thể dự đoán số lượng phân hạch lớn hơn
1017 phân hạch ở phút đầu tiên của sự cố trong thể tích tới hạn tối
thiểu của dung dịch plutoni (6 l), như là kết quả của việc hệ thống đạt tới trạng
thái tới hạn tức thời.
Section Expérimentale d'Etudes de
Criticité de Valduc, tài liệu tham khảo [5], [10] biết các tác động của lượng
trên tới hạn của dung dịch urani được làm giàu trong các bình điển hình thường
gặp trong các khu vực xử lý. Dung dịch Urani được làm giàu cao với nồng độ khác
nhau được cho vào trong một bình để tạo ra các kịch bản cấu hình trên tới hạn.
Lượng phân hạch nhỏ nhất thu được trong trường hợp sự cố xảy ra chậm tại trong
đó việc bổ sung độ phản ứng nằm ở giữa 30 và 60 cent bên trên điểm tới hạn trễ.
Công suất đỉnh của các sự cố này thay đổi từ 7,8 x 1014 đến 7,4 x 1015
phân hạch/ s. Công suất trung bình trong toàn bộ thời gian xảy ra sự cố thay đổi
từ xấp xỉ 1014 phân hạch/ s đến xấp xỉ 1015 phân hạch/ s.
Năng lượng lớn được giải phóng trong các bình lớn hơn, để mật độ công suất chỉ
thay đổi nhỏ hơn đáng kể.
Các nghiên cứu về sự cố tới hạn xảy ra
trong các hệ thống dung dịch đang được tiếp tục nghiên cứu tại Valduc, tài liệu
tham khảo [5], [10] với các lò phản ứng SILENE, tài liệu tham khảo [6], [11].
Tiếp theo việc bổ sung độ phản ứng ở mức vài cent bên trên điểm tới hạn trễ, sự
cố xảy ra rất chậm đã được tạo ra với chu kì một vài phút và tốc độ phân hạch đỉnh
từ 1012 đến 1013 phân hạch/ s.
Các thí nghiệm tương tự tại Sheba, tài
liệu tham khảo [7] với độ phản ứng từ 7 cent đến 11 cent bên trên điểm tới hạn
trễ tạo ra tốc độ phân hạch đỉnh gấp vài lần 1013 phân hạch/ s.
Kinh nghiệm từ hai sự cố của quá trình
gây tử vong được mô tả trong tài liệu tham khảo [2] (Los Alamos năm 1958 và
Wood River 1964) cho thấy liều xấp xỉ 100 Gy ở khoảng cách 0,5 m cách dung dịch
là xấp xỉ 1017 phân hạch, tương đương với xấp xỉ 0,06 Gy ở khoảng
cách 2 m từ dung dịch là 1015 phân hạch.
Sử dụng giá trị 8 x 1015
phân hạch/min được tạo ra từ sự cố nhỏ nhất trong các sự cố xảy ra chậm CRAC,
giá trị này tương đương với 0,5 Gy/ min ở khoảng cách 2 m. Do công suất đỉnh của
xung bằng năm lần công suất trung bình, và độ phản ứng vượt quá ngưỡng 33 cent,
với tiêu chí phát hiện là 0,2 Gy trong 60 s ở khoảng cách 2 m sẽ tạo ra một báo
động cho sự cố đối với một lượng dung dịch nhỏ khi mà độ phản ứng vượt quá chỉ
vài chục cent. Điều này là chấp nhận được trong tiêu chuẩn này như là quy định
cho các sự cố tối thiểu cần quan tâm.
Tiêu chí phát hiện này có thể chưa
hoàn thiện để phát hiện sự cố tới hạn trễ xảy ra rất chậm.
Các thí nghiệm SILENE chỉ ra rằng với
sự cố xảy ra rất chậm thì có thể không phát hiện được, tuy nhiên, đó đòi hỏi có
sự kiểm soát đối với các trạng thái rất nhạy cảm và nó không được kỳ vọng sẽ có
ở các thiết bị quá trình. Như vậy trường hợp này được xem là một trường hợp đặc
biệt không nằm trong định nghĩa về các sự cố tối thiểu cần quan tâm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ lục B
(Quy định)
Tính bán kính vùng phủ của detector so với bán kính phát hiện tại điểm
ngưỡng báo động
B.1. Giả định
Một số giả định sẽ cho tính toán một
cách đơn giản bán kính vùng phủ mà một detector sẽ đạt được ở một giá trị ngưỡng
báo động được cho. Các giả định cơ bản là như sau:
a) Hệ thống phải đáp ứng khi có sự cố
mà sẽ tạo ra một liều bức xạ nơtron cộng với gamma bằng 0,2 Gy ở một khoảng cách
không được che chắn cách 2 m trong vòng 60 s (xem 4.2).
b) Detector là một thiết bị đo tốc độ
phát xạ gamma.
c) Sự cố có thể là một trạng thái chuyển
tiếp nhanh trong vật liệu phân hạch dạng kim loại không làm chậm, không phản xạ
hoặc sự cố có thể là trạng thái chuyển tiếp nhanh hoặc phản ứng phân hạch được
duy trì trong chất phân hạch bị làm chậm.
d) Detector phải phát hiện được trạng thái chuyển tiếp nhanh ở mức thấp nhất
là 1/2500 của suất liều thực tế. (Giả định này dựa trên các phép đo được trình bày trong tài liệu tham khảo [8]). Trạng
thái chuyển tiếp nhanh được giả định là có độ rộng xung bằng 1 ms hoặc hơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
f) Giả định với suất liều nơtron bức xạ
gamma bằng 12 đối với trạng thái chuyển tiếp nhanh trong cơ cấu kim loại không
làm chậm, không phản xạ. (Hai đặc tính tới hạn rất giống nhau có trong kim loại,
đó là khi cơ cấu chứa 239Pu phản xạ một phần tài liệu tham khảo [2].
Trạng thái chuyển tiếp 3 x 1015 phân hạch, ở khoảng cách 1,8 m, tạo
ra một liều bằng 0,51 Gy, từ các nơtron, và một liều bằng Gy 0,051, từ các tia
gamma tài liệu tham khảo [4]. Suất liều nơtron theo liều gamma bằng 12 được giả
định cho cơ cấu với kim loại 239Pu trần hoàn toàn. Do đó, liều kết hợp
giữa nơtron và tia gamma ở khoảng cách 2 m bằng 0,2 Gy sẽ bao gồm 0.185 Gy của
nơtron và 0,015 Gy của tia gamma. (Liều này có thể được tạo ra từ 1,86 x 1015
phân hạch.)
g) Suất liều bức xạ nơtron theo liều
gamma bằng 0,30 được giả định cho một cơ cấu có mặt chất làm chậm. Một mô hình
thử nghiệm sự cố Y - 12 được vận hành với tốc độ phân hạch được duy trì ổn định
bằng 9,5 x 1012 phân hạch/ s trong thời gian 42 min. Điều này tạo ra
một liều neutron bằng 0,47 Gy ở khoảng cách 1,9 m, và liều nơtron theo liều
gamma là 0,30 [9]. Như vậy, theo liều giả định bằng 0,2 Gy tại 2 m có thể được
tạo thành từ liều nơtron bằng 0,047 Gy và liều tia gamma bằng 0,153 Gy. (Liều
này có thể được tạo ra từ 2,2 x 1015 phân hạch.)
B.2. Tính bán kính phát hiện
Sử dụng các giả định này, để tính khoảng
cách tối đa mà một detector có thể phát hiện được các điểm tiềm ẩn sự cố (bán
kính phát hiện) có thể được dùng cho mọi điểm ngưỡng báo động. Ví dụ, đối với
trạng thái chuyển tiếp nhanh trong các cơ cấu kim loại trần, mức đáp ứng của
detector phát hiện tia gamma, Tr, tại điểm ngưỡng báo động cho trước, với một
khoảng cách r, được tính:

Trong đó
suất liều hấp thụ, tính bằng gray
trên mili giây, ở khoảng cách a
a = 2 m;
r bán kính phát hiện của
detector;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
e mức đáp ứng giả định trong trạng thái chuyển
tiếp nhanh
xem B.1).
Nếu một điểm ngưỡng báo động được giả
định là 5 x 10-4 Gy/ h, như vậy

Do đó
r = 240 m
Giá trị cho các trường hợp phân hạch
khác được cho trong Bảng B.1
Bảng B.1
Giá trị tính
bằng mét (giá trị tính bằng fit)
Loại sự cố
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trạng thái chuyển tiếp - cơ cấu phân
hạch kim loại không phản xạ, không làm chậm
240 (790)
Trạng thái chuyển tiếp - cơ cấu được
làm chậm
766 (2530)
Trạng thái ổn định - cơ cấu được
làm chậm
156 (520)
Từ những kết quả cho trong bảng, dễ
dàng có thể nhận thấy rằng bán kính
phát hiện là nhỏ nhất đối với
sự cố ở trạng thái ổn
định của cơ cấu có mặt chất làm chậm.
Đối với trường hợp giới hạn chung này,
cần xây dựng đồ thị biểu thị mối quan hệ giữa điểm đặt ngưỡng báo động và bán kính
phát hiện của detector để đáp ứng các
tiêu chí trong tiêu chuẩn này (xem Hình B.1). Các giá trị đó được dựa trên trường
hợp giới hạn của phản ứng ở trạng thái ổn định trong cơ cấu có chất làm chậm.
Khi yêu cầu phát tín hiệu trùng lặp giữa
hai kênh để kích hoạt tín hiệu báo động và hệ thống không bị bất hoạt khi bị mất
tín hiệu của một kênh bất kỳ, thì với ba detector (thiết lập với điểm ngưỡng bằng
5 x 10-4 h/Gy, sẽ tính được bán kính phát hiện là 150 m cho mỗi điểm
trong một khu vực xử lý.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bán kính phát
hiện của detector, m
Hình B.1 -
Ngưỡng báo động đối với thiết bị đo tốc độ phát xạ tia gamma so với bán kính
phát hiện của detector.
Phụ lục C
(Quy định)
Lập kế hoạch ứng phó sự cố khẩn cấp
C.1. Khái quát
Lắp đặt hệ thống báo động sự cố tới hạn
trong một cơ sở chỉ ra các nguy cơ không
nhỏ cho sự cố như vậy. Do đó, phải chuẩn bị kế hoạch phù hợp để xử lý sự cố và
hậu quả của nó. Phụ lục này chỉ ra các đề mục cần xem xét.
C.2. Lộ trình sơ tán
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
C.3. Điểm tập trung
Địa điểm tập trung nhân viên bên ngoài
khu vực được sơ tán phải được chỉ định.
C.4. Thống kê nhân viên
Phải xây dựng các biện pháp thống kê để
có thể chắc chắn rằng tất cả các nhân viên đã được sơ tán khỏi khu vực bị sự cố.
C.5. Đào tạo và huấn luyện
Nhân viên phải được đào tạo về phương
pháp sơ tán, chỉ dẫn về các tuyến đường và các điểm tập trung. Nhân viên mới phải
được hướng dẫn kịp thời, hồ sơ đào tạo phải được lưu giữ. Huấn luyện phải được
thực hiện ít nhất một năm một lần để làm quen với các kế hoạch khẩn cấp. Hoạt động
huấn luyện như vậy phải được thông báo trước.
C.6. Quy trình khẩn cấp
Quy trình khẩn cấp phải được chuẩn bị
và phê duyệt bởi nhà quản lý. Các tổ chức, trong và ngoài địa điểm, dự kiến
tham gia ứng phó trường hợp khẩn cấp phải được thông báo về tình trạng sự cố có
thể xảy ra, và họ phải được trợ giúp trong việc chuẩn bị quy trình ứng phó với
trường hợp khẩn cấp một cách phù hợp.
C.7. Chuẩn bị y tế
thuốc men
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
C.8. Xác định liều cho nhân viên
Kế hoạch ứng phó sự cố khẩn cấp phải
có một chương trình xác định liều cho nhân viên và xác định nhanh các cá nhân bị
phơi nhiễm bức xạ.
C.9. Quan trắc bức xạ
Phải có các thiết bị và các quy trình
quan trắc để xác định mức độ nhiễm xạ sau một sự cố tới hạn. Thông tin phải được
kết nối với điểm kiểm soát trung tâm.
THƯ MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[1] CLARK, H.K. Effect of Distribution of Fissile
Material on Critical Mass. Nuclear Science and Engineering, 24, 1966: p. 133.
[2] STRATTON, W.R. A Review of Criticality
Accidents. Los Alamos Scientific Laboratory Report LA-3611, 1967.
[3] PAXTON, H.C. Criticality Control in
Operations with Fissile Material. Los Alamos Scientific Laboratory
Report LA-3366 (rev.), 1972.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[5] LECORCHE, P. and SEALE,
R.L. A Review of
Experiments Performed to
Determine the Radiological Consequences of a Criticality Accident. Oak Ridge
Y-12 Plant Report Y-CDC-12, 1973.
[6] BARBRY, F. Fuel Solution Criticality
Accident Studies with the SILENE Reactor: Phenomenology, Consequences and
Simulated Intervention. International Seminar on Criticality Studies Programs
and Needs, Dijon, France, Sept. 1983, supplemented by [11].
[7] MALENFANT, R.E. and
FOREHAND JR., H.M. Simulation of Process Plant Accidents, Nuclear Criticality
Safety, Data and Analysis for Nuclear Criticality Safety. Trans. Am. Nuc. Soc.,
43, 1982: pp. 405-406.
[8] CRUME, E.C. Experiments
to Determine Sensitivity of NMC Gamma Monitors to Distant Fission Bursts. Oak
Ridge Y-12 Plant Report Y-DO-113, 1974.
[9] HURST, G.S.,
RITCHIE, R.H. and EMERSON, L.C. Accidental Radiation Excursion at the Oak Ridge Y-12
Plant, Part III, Determination of Radiation Doses. Health Physics, 2, 1959: pp.
121-133.
[10] BARBRY, F., MANGIN, D. and REVOL, H.
Recapitulation of Experimental Results. CEA Report SEESNC 116, Aug. 1973.
[11] BARBRY, F. Slow-kinetics Power
Excursions Performed on the
SILENE Reactor. Technical Report CEA SRSC 83-33, Dec. 1983.
1) Nghiên cứu các sự cố trong quá khứ, bổ sung trong Phụ lục A, cho thấy rằng nếu
một sự cố tới hạn sẽ xảy ra, cường độ bức xạ được dự kiến có thể sẽ vượt quá
giá trị này