TIÊU CHUẨN QUỐC
GIA
TCVN
13594-4:2022
THIẾT
KẾ CẦU ĐƯỜNG SẮT KHỔ 1435 MM, VẬN TỐC ĐẾN 350 KM/H - PHẦN 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH
GIÁ KẾT CẤU
Railway
Bridge Design with gauge 1435 mm, speed up to 350 km/h- Part 4: Structures
Analysis and Evaluation
Lời nói đầu
TCVN 13594-4:2022 được biên soạn trên
cơ sở tham khảo TCVN 11823-4:2017 và Tiêu chuẩn thiết kế kết cấu công trình của
châu Âu EN1990, EN1991-2.
Tiêu chuẩn này là một phần của bộ tiêu
chuẩn thiết kế cầu đường sắt, gồm 10 phần như sau:
- TCVN 13594-1:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 1: Yêu cầu chung
- TCVN 13594-2:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 2: Thiết kế tổng thể và bố trí cầu,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- TCVN 13594-4:2022 Thiết kế cầu đường sắt khổ
1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 4: Phân tích và đánh giá kết cấu
- TCVN 13594-5:2022 Thiết kế cầu đường sắt khổ
1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 5: Kết cấu bê tông
- TCVN 13594-6:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 6: Kết cấu thép
- TCVN 13594-7:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 7: Kết cấu liên hợp thép- bê tông
cốt thép
- TCVN 13594-8:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 8: Gối cầu, Khe co giãn, Lan can
- TCVN 13594-9:2022 Thiết kế cầu đường sắt khổ
1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 9: Địa kỹ thuật và nền móng
- TCVN 13594-10:2022 Thiết kế cầu đường
sắt khổ 1435 mm, vận tốc đến 350 km/h - Phần 10: Cầu chịu tác động của động đất
TCVN 13594-4:2022 do Viện Khoa học và
công nghệ GTVT tổ chức biên soạn, Bộ GTVT đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường
và chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và công nghệ công bố
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Railway
Bridge Design with gauge 1435 mm, speed up to 350 km/h
- Part
4: Structural Analysis and Evaluations
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này đưa ra quy định các
phương pháp phân tích thích hợp để thiết kế và đánh giá cầu đường sắt, nhưng chỉ
là các quy định cơ bản và giới hạn trong việc mô hình hoá kết cấu và xác định
tác động của lực (hiệu ứng lực).
Nói chung, các kết cấu cầu được phân
tích trên cơ sở tính đàn hồi. Tuy nhiên tiêu chuẩn cho phép phân tích không đàn
hồi hoặc phân bố lại hiệu ứng lực trong một số kết cấu nhịp dầm liên tục. Tiêu
chuẩn cũng quy định phân tích không đàn hồi đối với cấu kiện chịu nén làm việc ở
trạng thái không đàn hồi.
Có thể sử dụng các phương pháp phân
tích khác dựa trên các tính chất vật liệu được đưa ra trong các tài liệu, đồng
thời thoả mãn điều kiện cân bằng và tính tương hợp.
Các quy định cụ thể cho phân tích khi
thiết kế các loại kết cấu, kể cả theo động đất, được trình bày trong TCVN
13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022, TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-10:2022.
2 Tài liệu viện dẫn
TCVN 11823-4: 2017 : Thiết kế cầu đường
bộ - Phần 4: Phân tích và đánh giá kết cấu
3 Thuật ngữ, định
nghĩa, ký hiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.1
Phương pháp phân tích được chấp nhận (Accepted
Method of Analysis)
Phương pháp phân tích không đòi hỏi việc
xác minh lại và đã trở thành thông dụng trong thực tế kỹ thuật kết cấu công
trình.
3.1.2
Tỉ số mặt cắt (Aspect
Ratio)
Tỉ số giữa chiều dài và chiều rộng của
hình chữ nhật
3.1.3
Các điều kiện biên (Boundary
Conditions)
Các đặc trưng hạn chế kết cấu về liên
kết gối và/hoặc tính
liên tục giữa các mô hình kết cấu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đường bao (Bounding)
Lấy 2 hoặc nhiều hơn các cực trị
của các tham số để vẽ đường bao đặc trưng nhằm đạt được một thiết kế thiên về
an toàn.
3.1.5
Phương pháp biến dạng cổ điển (Classical
Deformation Method)
Phương pháp phân tích trong đó kết cấu
được chia thành các thành phần mà độ cứng của chúng có thể được tính một cách độc
lập. Điều kiện cân bằng và tính tương hợp giữa các thành phần được bảo đảm bằng
cách xác định biến dạng tại các giao diện.
3.1.6
Phương pháp lực cổ điển (Classical
Force Method)
Phương pháp phân tích trong đó kết cấu
được chia thành các thành phần tĩnh định và tính tương hợp giữa các thành phần
được bảo đảm bằng cách xác định lực tại các giao diện.
3.1.7
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một mặt cắt ngang gồm hai vách thẳng đứng
hay nghiêng trong đó có ít nhất một khoang hoàn toàn kín. Mặt cắt đóng kín có
hiệu quả trong việc chống xoắn do hình thành dòng ứng suất tiếp trong các vách
và bản cánh.
3.1.8
Phương pháp giải đúng dần (Closed-Form
Solution)
Một hoặc nhiều phương trình, bao gồm cả
những phương trình dựa trên các chuỗi hội tụ, cho phép tính toán các hiệu ứng lực
bằng việc đưa trực tiếp tải trọng và tham số của kết cấu vào phương trình.
3.1.9
Tính tương hợp (Điều kiện
tương thích)
Sự tương đương hình học của chuyển vị
tại giao diện của các thành phần được nối với nhau.
3.1.10
Thành phần (Component)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.11
Chiều rộng của lõi (Core Width)
Chiều rộng kết cấu nhịp liền khối trừ
đi phần hẫng của bản mặt cầu.
3.1.12
Vặn mặt cắt ngang
(Cross-Section Distortion)
Sự biến dạng mặt cắt ngang của mặt cắt
dạng hộp kín hoặc mặt cắt dạng ống do tải trọng xoắn
3.1.13
Bộ giảm chấn (Damper)
Một thiết bị truyền và giảm lực giữa
các bộ phận kết cấu phần trên và/hoặc kết cấu phần trên và kết cấu phần dưới,
trong khi cho phép chuyển dịch do nhiệt. Thiết bị cung cấp giảm chấn bằng cách
tiêu hao năng lượng do địa chấn, phanh, hoặc tải trọng động khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặt cầu (Deck)
Cấu kiện, có hoặc không có lớp áo đường,
trực tiếp chịu tải trọng của bánh xe
3.1.15
Hệ mặt cầu (Deck System)
Kết cấu phần trên, trong đó mặt cầu là
một thể thống nhất với các cấu kiện đỡ, hoặc khi mà tác động hoặc biến dạng của
các cấu kiện đỡ có ảnh hưởng đáng kể đến sự làm việc của mặt cầu.
3.1.16
Biến dạng (Deformation) - Sự
thay đổi hình học của kết cấu do tác dụng của lực, bao gồm chuyển vị dọc trục,
chuyển vị cắt hoặc xoay.
3.1.17
Bậc tự do (Degree-of-Freedom)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.18
Thiết kế (Design)
Việc xác định kích thước và bố trí cấu
tạo các cấu kiện và liên kết của cầu nhằm thoả mãn các yêu cầu của các Tiêu chuẩn
kỹ thuật.
3.1.19
Bậc tự do động (Dynamic
Degree-of-Freedom)
Bậc tự do trong đó khối lượng hoặc hiệu
ứng của khối lượng đã được xét đến.
3.1.20
Đàn hồi (Elasstic)
Sự làm việc của vật liệu kết cấu trong
đó tỷ lệ giữa ứng suất và biến dạng là hằng số, và khi lực thôi tác dụng thì vật
liệu quay trở lại trạng thái ban đầu như khi chưa chịu tải.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phần tử (Element)
Một phần của cấu kiện hoặc bộ phận được
cấu tạo chỉ bằng một loại vật liệu.
3.1.22
Vùng biên (End Zone)
Vùng kết cấu không áp dụng được lý
thuyết thông thường về dầm do tính gián đoạn của kết cấu và/hoặc do phân bố của
tải trọng tập trung.
3.1.23
Trạng thái cân bằng
(Equilibrium)
Trạng thái có tổng lực và mô men đối với
bất kỳ điểm nào trong không gian đều bằng không.
3.1.24
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một phần tử tuyến tính nhân tạo được
tách ra từ mặt cầu để phân tích, trong đó hiệu ứng của lực cực trị tính cho một
đường của tải trọng bánh xe, theo phương ngang hoặc dọc, sẽ xấp xỉ bằng các tải
trọng này xuất hiện thật trên mặt cầu.
3.1.25
Phương pháp sai phân hữu hạn (Finite Difference Method)
Phương pháp phân tích trong đó phương
trình vi phân khống chế được thoả mãn chỉ ở các điểm riêng biệt của kết cấu.
3.1.26
Phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method)
Phương pháp phân tích trong đó kết cấu
được tách ra thành các phần tử nối với nhau tại các nút, dạng của trường chuyển
vị của các phần tử được giả định, tính tương hợp một phần hoặc đầy đủ sẽ được
duy trì giữa giao diện của các phần tử, và các chuyển vị nút được xác định bằng
cách sử dụng nguyên lý biến đổi năng lượng hoặc phương pháp cân bằng.
3.1.27
Phương pháp dải hữu hạn (Finite Strip
Method)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.28
Phân tích bậc nhất (First-Order
Analysis)
Sự phân tích trong đó điều kiện cân bằng
được xây dựng trên kết cấu không biến dạng; nghĩa là ảnh hưởng của độ võng
không được đưa vào phương trình cân bằng.
3.1.29
Ứng suất uốn ngang bản cánh (Flange Lateral Bending
Stress)
ứng suất pháp do sự uốn ngang bản cánh
3.1.30
Phương pháp bản gập (Folded
Plate Method)
Phương pháp phân tích trong đó kết cấu
được chia thành các bản thành phần và cả hai yêu cầu về điều kiện cân bằng và
tính tương hợp được thoả mãn tại các giao diện giữa các phần tử.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hiệu ứng lực (Force Effect)
Biến dạng, ứng suất hoặc hợp lực, có
nghĩa là lực dọc trục, lực cắt, mô men uốn và mô men xoắn gây ra do tải trọng tạo
nên biến dạng hoặc thay đổi thể tích.
3.1.32
Nền móng (Foundation)
Cấu kiện đỡ có được sức kháng bằng cách
truyền tải trọng của nó lên nền đất hoặc nền đá.
3.1.33
Tác động khung (Frame
Action)
Tính liên tục ngang giữa bản mặt cầu
và bản bụng của mặt cắt ngang rỗng hoặc giữa bản mặt cầu với các cấu kiện chịu
lực chính của các cầu rộng.
3.1.34
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự uốn ngang của bản bụng dầm và của
phần giằng khung nếu có, nhờ vậy mà tải trọng gió ngang được truyền một phần hoặc
toàn bộ lên bản mặt cầu.
3.1.35
Sự phân tích tổng thể (Global
Analysis)
Sự phân tích kết cấu như một tổng thể
3.1.35
Vị trí khống chế (Governing
Position)
Vị trí và hướng của tải trọng tức thời
để gây ra tác động cực trị của hiệu ứng lực.
3.1.37
Phương pháp mạng dầm tương đương (Grillage
Analogy Method) - Phương pháp phân tích mà trong đó toàn bộ hoặc một phần của kết
cấu phần trên được tách thành các phần tử trực hướng đại diện cho các đặc trưng
của kết cấu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tính không đàn hồi (Inelastic)
Mọi trạng thái làm việc của kết cấu mà
ở đó tỷ lệ giữa ứng suất và biến dạng không phải là một hằng số và một phần của
biến dạng vẫn tồn tại sau khi dỡ tải.
3.1.39
Lý thuyết biến dạng lớn (Large
Deflection Theory)
Mọi phương pháp phân tích mà các ảnh
hưởng của biến dạng lên hiệu ứng lực luôn luôn được xét tới.
3.1.40
Uốn ngang bản cánh (Lateral
Flange Bending)
Sự uốn cong bản cánh theo phương vuông
góc với mặt phẳng bản cánh do xoắn ngang bản cánh và/hoặc sự xoắn không đều
trong cấu kiện.
3.1.41
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tổng mô men tĩnh tại một điểm để tính
phản lực ở điểm thứ hai.
3.1.42
Ứng xử tuyến tính (Linear
Response)
Sự làm việc của kết cấu trong đó biến
dạng tỷ lệ thuận với tải trọng
3.1.43
Phân tích cục bộ (Local Analysis)
Sự nghiên cứu theo chiều cao mặt cắt về
quan hệ ứng suất và biến dạng bên trong cấu kiện hoặc giữa các cấu kiện bằng
cách sử dụng các hiệu ứng lực đã tính toán được từ những phân tích tổng thể hơn
3.1.44
Phương pháp phân tích (Method of
Analysis)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.45
Mô hình (Model)
Sự lý tưởng hoá theo vật lý hoặc toán
học của kết cấu hoặc một bộ phận của nó để phân tích.
3.1.46
Kết cấu liền khối (Monolithic
Construction)
Các cầu một hộp thép và/hoặc một hộp
bê tông kết cấu nhịp cầu bê tông đúc tại chỗ đặc hoặc rỗng, và kết cấu nhịp cầu
đúc sẵn bao gồm các phần tử dọc đặc hoặc rỗng được liên kết chặt với nhau bằng
cách tạo dự ứng lực căng sau theo chiều ngang.
3.1.47
Phương pháp M/R (M/R Method)
Một phương pháp gần đúng cho việc phân
tích dầm hộp cong trong đó dầm cong được xem xét như một dầm thẳng tương đương
để tính toán các hiệu ứng uốn và như một dầm giả thẳng để tính toán mô men xoắn
đồng thời St.Venant do độ cong.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mô men âm (Negative Moment)
Mô men sinh ra lực kéo tại vị trí trên
cùng của một phần tử chịu uốn
3.1.49
Nút (Node)
Điểm mà ở đó các phần tử hữu hạn hoặc
các cấu kiện của hệ mạng dầm gặp nhau. Trong phương pháp sai phân hữu
hạn, nút là một điểm mà ở đó phương trình vi phân cơ bản được thoả mãn.
3.1.50
Ứng xử phi tuyến (Nonlinear
Response)
Sự làm việc của kết cấu khi mà độ võng
không tỷ lệ thuận với tải trọng do ứng suất ở trong phạm vi không đàn hồi, hoặc
độ võng gây ra sự thay đổi khá lớn về hiệu ứng lực, hoặc do kết hợp cả hai tình
huống trên.
3.1.51
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Xoắn cục bộ trong mặt cắt thành mỏng,
cũng được biết đến như xoắn cong vênh, sinh ra ứng suất cắt và ứng suất pháp, và
theo đó mặt cắt không còn phẳng. Thành phần kháng xoắn bên ngoài được áp dụng bởi
xoắn cong vênh và xoắn St.Venant. Mỗi
thành phần kháng xoắn cục bộ khác nhau dọc theo chiều dài cấu kiện, mặc dù
ngoài mô men xoắn tập trung có thể không thay đổi dọc theo cấu kiện giữa hai điểm
kháng xoắn lân cận. Xoắn cong vênh lớn hơn xoắn St.Venant ở cấu kiện có mặt cắt
hở, trong khi
xoắn St.Venant là lớn hơn xoắn cong vênh ở cấu kiện có mặt cắt kín.
3.1.52
Mặt cắt hở (Open Section)
Một mặt cắt không đóng kín các vách. Mặt
cắt hở chống xoắn chủ yếu bởi xoắn không đồng đều do ứng suất pháp tại đầu bản
cánh.
3.1.53
Trực hướng (Orthotropic)
Vật thể mà theo hai hoặc nhiều phương
vuông góc với nhau thì có tính chất vật lý khác nhau.
3.1.54
Nút dàn (Panel Point)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.55
Liên kết chốt (Pin Connection)
Liên kết giữa các cấu kiện tại một điểm
bằng chốt coi như không có ma sát.
3.1.56
Điều kiện biên chốt (Pinned End)
Điều kiện biên cho phép quay tự do,
nhưng không cho phép tịnh tiến trong mặt phẳng tác dụng.
3.1.57
Điểm uốn ngược (Point of
Contraflexure)
Điểm mà tại đó chiều của mô men uốn
thay đổi; đồng nghĩa với từ điểm uốn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mô men dương (Positive Moment)
Mô men sinh ra lực kéo tại vị trí dưới
cùng của phần tử chịu uốn
3.1.59
Cấu kiện chính (Primary Member)
Một cấu kiện được thiết kế để chịu tải
trọng tác dụng lên kết cấu như được xác định từ một phân tích.
3.1.60
Phương pháp phân tích chính xác (Refined
Methods of Analysis)
Phương pháp phân tích kết cấu xem xét
toàn bộ kết cấu phần trên như một đơn vị nguyên khối và cung cấp độ võng và tác
động cần thiết.
3.1.61
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hệ thống cáp hoặc thanh cường độ cao
truyền lực giữa các cấu kiện kết cấu phần trên và/hoặc kết cấu phần trên và cấu
kiện kết cấu phần dưới chịu tác dụng của địa chấn hoặc các tải trọng động khác sau khi dịch
chuyển khỏi vị trí ban đầu, trong đó cho phép dịch chuyển do nhiệt.
3.1.62
Độ cứng (Rigidity)
Hiệu ứng lực sinh ra bởi biến dạng đơn
vị tương ứng trên đơn vị chiều dài của cấu kiện.
3.1.63
Cấu kiện thứ cấp (Secondary Member)
Một cấu kiện mà ứng suất thường không
được đánh giá khi phân tích
3.1.64
Phân tích bậc hai
(Second-Order Analysis)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.65 C
ắt trễ (Shear Lag)
Phân bố phi tuyến của ứng suất
pháp qua một cấu kiện do biến dạng bởi lực cắt.
3.1.66
Thiết bị truyền dẫn xung động (Shock
Transmission Unit- STU)
Một thiết bị cung cấp một liên kết cứng
tạm thời giữa các cấu kiện phần trên với/hoặc cấu kiện phần trên với các cấu kiện
phần dưới, chịu tác động của địa chấn, lực hãm, hoặc tải trọng động khác, trong
khi cho phép chuyển dịch do nhiệt.
3.1.67
Góc chéo (Skew Angle)
Góc giữa đường tim của gối đỡ và đường
thẳng vuông góc với tim đường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Lý thuyết biến dạng nhỏ (Small
Deflection Theory)
Cơ sở cho phương pháp phân tích mà trong
đó có thể bỏ qua ảnh hưởng của biến dạng đến các hiệu ứng lực trong kết cấu.
3.1.69
Khoảng cách giữa các dầm (Spacing of
Beams)
Khoảng cách tim tới tim của các đường
gối đỡ
3.1.70
Độ cứng (Stiffness)
Hiệu ứng lực phát sinh từ biến dạng
đơn vị.
3.1.71
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Độ giãn dài trên một đơn vị chiều dài.
3.1.72
Biên độ của ứng suất (Stress
Range)
Độ chênh đại số giữa các ứng suất cực
trị.
3.1.73
Xoắn St.Venant (St. Venant
Torsion)
Đó là một phần của chống xoắn cục bộ trong cấu
kiện sinh ra chỉ do lực cắt thuần túy trên mặt cắt ngang, có thể gọi là xoắn
thuần túy hoặc xoắn đều
3.1.75
Mô hình con (Submodel)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.76
Biến dạng cưỡng bức
(Superimposed Deformation)
Tác động của lún, từ biến và thay đổi
nhiệt độ và/hoặc độ ẩm.
3.1.77
Cộng tác dụng (Superposition)
Trạng thái mà hiệu ứng lực do một tải
trọng có thể được thêm vào hiệu ứng lực do tải trọng khác. Việc sử dụng cộng
tác dụng chỉ có giá trị khi các mối quan hệ ứng suất biến dạng tuyến tính đàn hồi
và lý thuyết biến dạng nhỏ được sử dụng.
3.1.78
Ứng suất điều tiết bề dày
(Through-Thickness Stress)
Ứng suất uốn trong vách dầm hoặc bản
cánh gây ra sự biến dạng vặn mặt cắt ngang.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ứng suất cắt xoắn (Torsional
Shear Stress) - ứng suất cắt bao gồm xoắn St.Venant
3.1.80
Mặt cắt dạng ống (Tub
Section)
Một mặt cắt dạng hở có nắp trong đó
bao gồm một bản cánh dưới, hai vách nghiêng hoặc thẳng đứng và
các bản cánh trên.
3.1.81
Mặt cắt không nứt (Uncracked
Section)
Mặt cắt trong đó bê tông được giả định
là hoàn toàn có hiệu trong kéo và nén
3.1.82
Phương pháp tải trọng V (V-Load
Method)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.83
Đường chảy dẻo (Yield Line)
Đường khớp nối dẻo.
3.1.84
Phương pháp đường chảy dẻo (Yield Line
Method)
Phương pháp phân tích trong đó một số
đồ thị đường chảy dẻo có thể có được xem xét để xác định khả năng chịu tải trọng.
3.1.85
Dầm cầu (Bridge Deck)
Phần của cầu có chức năng đỡ trực tiếp
toàn bộ đoàn tàu giao thông.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đường ray (Tracks)
Đường ray bao gồm ray, tà vẹt nằm trên
nền ba lát hoặc trực tiếp trên dầm cầu. Đường ray có thể được trang bị thiết bị
co giãn ở một đầu hoặc cả hai đầu. Vị trí và chiều dày của ba lát có thể được
điều chỉnh trong thời gian sử dụng, cho công tác bảo trì đường sắt.
3.1.87
Tốc độ cho phép lớn nhất tại thực địa (Maximum
line speed at the site) - Tốc độ cho phép tối đa tại thực địa được chỉ định cho
từng dự án (thường bị giới hạn bởi các đặc điểm của cơ sở hạ tầng hoặc yêu cầu
an toàn vận hành đường sắt)
3.1.88
Vận tốc cộng hưởng (Resonant
speed)
Vận tốc mà tần số do tải trọng (hoặc một
số tải trọng) đạt đến tần số tự nhiên của kết cấu (hoặc một số).
3.1.89
Vận tốc danh định lớn nhất (Maximum
nominal speed)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.90
Vận tốc thiết kế lớn nhất (Maximum
design speed)
Nói chung bằng 1,2 lần vận tốc danh định
lớn nhất.
3.2
Các ký hiệu
Sử dụng các ký hiệu trong TCVN
13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022, TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-10:2022 và
các ký hiệu khác như được chỉ ra ở các nội dung cụ thể của tiêu chuẩn này.
4 Các phương pháp
phân tích kết cấu được chấp nhận
Khi thiết kế, được sử dụng bất cứ
phương pháp phân tích kết cấu nào thoả mãn các yêu cầu về điều kiện cân bằng và
tính tương hợp và sử dụng được mối liên hệ ứng suất -biến dạng, chúng bao gồm
các phương pháp sau:
- Phương pháp chuyển vị và phương pháp
lực cổ điển,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Phương pháp phần tử hữu hạn,
- Phương pháp bản gấp khúc,
- Phương pháp dải băng hữu hạn,
- Phương pháp tương tự mạng dầm,
- Phương pháp chuỗi hoặc các phương
pháp điều hoà khác,
- Phương pháp dựa trên sự hình thành các chốt dẻo,
và
- Phương pháp đường chảy dẻo.
Tổ chức thiết kế có trách nhiệm sử dụng
các chương trình máy tính có bản quyền để dễ phân tích kết cấu và giải trình
cũng như sử dụng các kết quả. Trong tài liệu tính toán và báo cáo thiết kế cần
chỉ rõ tên, phiên bản và ngày phần mềm được đưa vào sử dụng.
Tổng quát các nội dung liên quan ứng dụng
PPPTHH trong phân tích cầu được trình bày ở Phụ lục A
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1 Tổng quát
(1) Các mô hình toán học phải bao gồm
tải trọng, đặc trưng hình học và tính năng vật liệu của kết cấu, và khi thấy
thích hợp, cả những đặc trưng ứng xử của nền móng, phương tiện và đường ray.
Trong việc lựa chọn mô hình, phải dựa vào các trạng thái giới hạn đang xét, định
lượng hiệu ứng lực đang xét và độ chính xác yêu cầu.
(2) Việc xem xét sự làm việc của lan
can rào chắn liên tục phải hạn chế chỉ xét trong các trạng thái giới hạn sử dụng,
trạng thái giới hạn mỏi và trong đánh giá kết cấu, trừ khi quy định cho phép
khác.
(3) Không xét đến độ cứng của các lan
can, dải tường phân cách giữa và các lan can giao thông không liên tục theo kết
cấu trong khi phân tích kết cấu.
(4) Phải mô tả thích hợp đại diện của
đất và/hoặc đá làm móng cầu vào trong mô hình toán học của nền móng.
(5) Khi thiết kế về động đất, phải xét
đến sự chuyển động tổng thể và sự hoá lỏng của đất.
(6) Việc xem xét sự làm việc của liên
kết đến phân bố nội lực và biến dạng tổng thể của kết cấu có thể bỏ qua nếu là
nhỏ, nhưng nếu các ảnh hưởng này là đáng kể chúng cần được tính đến.
5.2 Sự làm việc
của vật liệu kết cấu
5.2.1 Đàn hồi và
không đàn hồi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Ở trạng thái giới hạn cho trường hợp thiết kế
sự cố và động đất, có thể xét trong phạm vi cả đàn hồi và không đàn hồi.
5.2.2 Sự làm việc
đàn hồi
(1) Tính chất và các đặc tính của vật
liệu đàn hồi phải phù hợp với các quy định trong các TCVN 13594-5:2022 đến TCVN
13594-7:2022. Sự thay đổi các giá trị này do phát triển cường độ của bê tông
theo tuổi và các tác động của môi trường cần được đưa vào mô hình thích hợp.
(2) Các đặc trưng độ cứng của bê tông
và các bộ phận liên hợp phải dựa trên các mặt cắt bị nứt và/hoặc không bị nứt tùy
theo trạng thái làm việc của kết cấu dự kiến. Độ cứng của cầu dầm bản có thể dựa
trên sự tham gia toàn phần của bản mặt cầu bằng bê tông.
5.2.3 Sự làm việc
không đàn hồi
(1) Các mặt cắt của cấu kiện có khả năng biến dạng
không đàn hồi phải được chỉ rõ là có thể biến dạng dẻo bằng sự bao cốt thép đai
hoặc bằng cách khác. Khi sử dụng phép phân tích không đàn hồi thì phải xác định
cơ cấu phá hủy dự tính trước và các vị trí khớp sẽ xuất hiện: Trong phân tích kết
cấu phải xác nhận rằng sự phá hủy do cắt, do mất ổn định khi uốn dọc và do mất
dính kết trong các bộ phận kết cấu chỉ xảy ra sau khi hình thành cơ cấu không đàn hồi
khi uốn. Cần xét đến sự chịu tải quá mức dự kiến của cấu kiện mà trong đó khớp
dẻo sẽ hình thành. Phải xét đến sự phá vỡ tính nguyên vẹn về hình học của kết cấu
do các biến dạng lớn.
(2) Mô hình không đàn hồi phải dựa
trên hoặc là kết quả thử nghiệm vật lý hoặc dựa trên mối quan hệ tải trọng - biến
dạng thu được bằng thí nghiệm.
Ở chỗ nào sự làm việc không đàn hồi (phát sinh chốt dẻo) bằng biện
pháp cốt thép đai thì các mẫu thử phải bao gồm cả các phần tử tạo ra các hạn chế
đó. Ở vị trí nội lực cực trị được dự kiến là lặp lại thì việc thử nghiệm cần phản
ánh bản chất chu kỳ của chúng.
(3) Trừ khi được chỉ ra khác, ứng suất
và biến dạng phải dựa trên sự phân bố tuyến tính của ứng biến trong mặt cắt
ngang của cấu kiện hình lăng trụ. Phải xét đến biến dạng do cắt của các cấu kiện
cao. Giới hạn biến dạng tương đối của bê tông, như đã nêu trong TCVN
13594-5:2022, TCVN 13594-7:2022, là không được vượt quá.
(4) Phải xét sự làm việc không đàn hồi
của các cấu kiện chịu nén khi thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.3.1 Lý thuyết biến
dạng nhỏ
Nếu biến dạng của kết cấu không tạo ra
sự thay đổi đáng kể của nội lực do sự tăng độ lệch tâm của các lực kéo hoặc nén
thì có thể bỏ qua nội lực phụ thêm này.
5.3.2 Lý thuyết biến
dạng lớn
5.3.2.1 Tổng quát
(1) Nếu biến dạng của kết cấu gây ra
thay đổi đáng kể về hiệu ứng lực thì phải xét các tác động của biến dạng trong
các phương trình về điều kiện cân bằng.
(2) Ảnh hưởng của biến dạng và trục
cong của các cấu kiện phải được xét khi phân tích về ổn định và các phân tích về
biến dạng lớn.
(3) Đối với các cấu kiện bê tông mảnh
chịu nén, trong phân tích phải xem xét các tính chất vật liệu phụ thuộc vào thời
gian và ứng suất gây ra những thay đổi đáng kể về hình học kết cấu.
(4) Các hiệu ứng tương tác của các lực
nén và kéo dọc trục trong các cấu kiện liền kề nhau phải được xem xét khi phân
tích về khung và giàn.
(5) Phải dùng tải trọng thiết kế và
không áp dụng nguyên lý cộng tác dụng của hiệu ứng lực trong phạm vi không tuyến
tính. Thứ tự đặt tải trọng trong phân tích không tuyến tính phải theo đúng thứ
tự đặt tải thực tế trên cầu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(7) Các phương pháp phân tích chính
xác phải được dựa trên khái niệm về các lực thoả mãn sự cân bằng tại vị trí biến
dạng.
5.3.2.2 Các phương
pháp tính xấp xỉ
(1) Khi được phép trong TCVN
13594-5:2022 và TCVN 13594-6:2022, các ảnh hưởng của biến dạng đối với hiệu ứng
lực trên các cột chịu nén lệch tâm và các vòm thoả mãn các quy định của bộ tiêu
chuẩn này có thể tính xấp xỉ dựa trên độ mảnh và chiều dài có hiệu, bằng phương
pháp độ cứng danh định với việc áp dụng hệ số khuếch đại mô men hoặc phương
pháp dựa trên độ cong danh định. Áp dụng phương pháp trên đối với cấu kiện bê
tông chịu nén xem ở điều 8, TCVN 13594-5:2022.
(2) Chi tiết về phương pháp này xem ở TCVN
13594-5:2022 đến TCVN 13594-7:2022.
5.3.2.3 Các phương
pháp chính xác
Các phương pháp phân tích chính xác phải
được thực hiện trên khái niệm về các lực thỏa mãn điều kiện cân bằng tại vị trí
biến dạng.
5.4 Các điều kiện
biên của mô hình
(1) Các điều kiện biên phải thể hiện
được các đặc tính của gối và tính liên tục.
(2) Phải mô hình hoá các điều kiện của
móng sao cho thể hiện được các tính chất của đất nằm dưới móng cầu, tác dụng
tương tác của cọc với đất và các tính chất đàn hồi của cọc.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(1) Có thể mô hình hoá các cấu kiện
không có dạng hình lăng trụ bằng cách chia nhỏ các thành phần thành một số các
phần tử thanh có đặc trưng về độ cứng đại diện cho kết cấu thực tế tại vị trí của
cấu kiện.
(2) Có thể mô hình hoá các cấu kiện hoặc
các nhóm cấu kiện của các cầu có hoặc không có mặt cắt thay đổi như một cấu kiện
đơn tương đương, miễn là thể hiện tất cả các đặc trưng về độ cứng của các cấu
kiện hoặc các nhóm cấu kiện. Các đặc trưng về độ cứng tương đương có thể đạt được
bằng các phương pháp giải có nghiệm kín, tích phân số, phân tích mô hình con,
phương pháp chuỗi và tương tự song song.
6 Phân tích tĩnh học
6.1 Ảnh hưởng
của kích thước hình học
6.1.1 Tỷ số mặt cắt
phẳng
Nếu chiều dài nhịp của kết cấu phần
trên với các mặt cắt cứng chịu xoắn vượt quá 2,5 lần chiều rộng của nó, thì kết
cấu phần trên đó có thể được lý tưởng hoá như dầm giản đơn. Các định nghĩa về
kích thước sau đây phải được dùng để áp dụng tiêu chuẩn này:
- Bề rộng: Bề rộng phần lõi của bản mặt cầu liền
khối hoặc khoảng cách trung bình giữa các mặt ngoài của các bản bụng biên.
- Chiều dài đối với các cầu tựa giản
đơn, hình chữ nhật: khoảng cách giữa các mối nối của bản mặt cầu, hoặc
- Chiều dài đối với các cầu liên tục
và/hoặc cầu chéo: chiều dài của cạnh dài nhất của hình chữ nhật mà có thể vẽ được
trong mặt bằng của bề rộng của nhịp bẻ nhất, như định nghĩa ở đây.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.1.2 Các kết cấu
cong trong mặt bằng
(1) Phân tích hợp lý của toàn bộ kết cấu
phần trên để xác định mô men, lực cắt, và các hiệu ứng lực khác dùng cho thiết
kế kích thước các cấu kiện của kết cấu phần trên. Phân tích mặt cắt với trục
không đối xứng cần xem xét vị trí tương đối của trọng tâm và tâm xoắn. Kết cấu
phần dưới được xem xét mô tả trong mô hình tính tổng thể với kết cấu phần trên
trong trường hợp các mố của cầu tích hợp (mố tương tác với đất đầu cầu), các trụ,
hoặc trụ khung.
(2) Toàn bộ kết cấu phần trên, bao gồm
gối, sẽ được xem xét như là một đơn vị kết cấu thống nhất. Điều kiện biên sẽ được
thể hiện bằng các các khớp tại gối và/hoặc các liên kết cứng dùng trong thiết kế.
Phân tích này có thể dựa trên lý thuyết đàn hồi biến dạng nhỏ, trừ khi có các
phương pháp tiếp cận chặt chẽ hơn được cho là cần thiết của kỹ sư.
(3) Khi phân tích phải xem xét việc định hướng gối
và neo giữ gối do kết cấu phần dưới đảm nhiệm. Những hiệu ứng tải trọng phải được
xem xét trong thiết kế gối, khung giằng ngang, vách ngăn, thanh giằng và bản mặt
cầu.
(4) Sự vặn của mặt cắt ngang không cần
phải được xem xét trong phân tích kết cấu. Tác dụng lực ly tâm sẽ được xem xét
theo TCVN 13594-3:2022.
(5) Chi tiết việc xét phân tích các kết
cấu này xem TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-10:2022.
6.1.3 Sai lệch hình
học
(1) Các sai lệch hình học xảy ra so sự
sai khác so với giá trị cho phép trong các tiêu chuẩn thi công, bao gồm
các ứng suất dư và các sai lệch hình học như thiếu độ thẳng đứng, thiếu độ thẳng,
thiếu độ phẳng, thiếu độ khít, độ lệch tâm lớn hơn giá trị cho phép theo các
tiêu chuẩn thi công. Sai lệch này có thể gây ra các hiệu ứng lực thứ cấp, gây mất
ổn định trong các bộ phận chịu nén, nén uốn.
(2) Chi tiết việc xét các sai lệch
hình học khi thiết kế các kết cấu xem các TCVN 13594-5:2022 đến TCVN
13594-10:2022.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.1 Mặt cầu
(1) Phương pháp phân tích gần đúng cho
mặt cầu để xác định nội lực ở mặt cầu (mô men uốn, lực cắt, mô men xoắn) do tải
trọng cục bộ của tải trọng giao thông tác động.
(2) Có thể áp dụng phương pháp này khi
có cơ sở chứng minh là đảm bảo được yêu cầu chính xác cần thiết theo yêu cầu
các TTGH của cầu đường sắt.
6.2.2 Các loại cầu
dầm bản
Phương pháp phân tích gần đúng cho các
loại cầu dạng dầm bản để xác định nội lực ở dầm cầu (mô men uốn, lực cắt, mô
men xoắn) do tải trọng cục bộ của tải trọng phương tiện tác động có thể áp dụng
khi có cơ sở chứng minh là đảm bảo được yêu cầu chính xác cần thiết theo yêu cầu
các TTGH của cần đường sắt. Xem thêm TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-7:2022.
6.2.3 Bề rộng dải
tương đương đối với các loại cầu bản
(1) Phương pháp phân tích gần đúng cho
bề rộng dải tương đương đối với các loại cầu bản để xác định nội lực ở dầm cầu
(mô men uốn, lực cắt, mô men xoắn) do tải trọng cục bộ của tải trọng phương tiện
tác động.
(2) Có thể áp dụng phương pháp này khi
có cơ sở chứng minh là đảm bảo được yêu cầu chính xác cần thiết theo yêu cầu
các TTGH của cầu đường sắt.
6.2.4 Cầu giàn và
vòm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Khi các tải trọng, không phải là
trọng lượng bản thân của các cấu kiện và tải trọng gió trên đó, được truyền lên
giàn tại các điểm nút, thì giàn có thể được phân tích như một tổ hợp kết cấu được
liên kết chốt.
6.2.5 Hệ số chiều
dài có hiệu của cấu kiện chịu nén (K)
(1) Chiều dài thực tế của cấu kiện chịu
nén phải được nhân với hệ số chiều dài hữu hiệu, K, để bù vào các điều kiện
biên về chuyển động quay và tịnh tiến khác với các đầu cột liên kết chốt.
(2) Chiều dài có hiệu của kết cấu bê
tông chịu nén xét đến điều kiện liên kết ở đầu của nó được định
nghĩa như ở điều 8.8.3.2, TCVN 13594-5:2022.
(3) Nếu không có phân tích chính xác
hơn, khi độ ổn định ngang được gia cố bởi hệ giằng chéo hoặc các phương tiện chắc
chắn khác, thì hệ số chiều dài hữu hiệu trong mặt phẳng giằng, K, đối với các
thanh chịu nén trong giàn tam giác, giàn thường và khung có thể tham khảo các
giá trị sau:
• Với liên kết bu-lông hoặc hàn ở cả
hai đầu: K = 0,750
• Với liên kết chốt ở cả hai đầu: K =
0,875
(4) Các loại giàn kiểu Vierendeel phải được coi
như các khung không được giằng
6.2.6 Bề rộng bản
cánh có hiệu của dầm và bản
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Quy định cụ thể về nhịp có hiệu,
chiều rộng có hiệu của bản cánh trong các loại kết cấu nói trên được trình bày ở
TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-7:2022.
6.2.7 Phân bố tải
trọng gió ngang trong hệ thống cầu dầm
6.2.7.1 Mặt cắt chữ I
(1) Trong các cầu có kết cấu nhịp liên
hợp, kết cấu nhịp không liên hợp có nách bê tông và các loại kết cấu nhịp cầu
khác có khả năng làm việc như một tấm cứng nằm ngang, phải giả thiết tải trọng
gió lên nửa trên của dầm biên, lên mặt sàn, xe cộ, lan can, và các cấu kiện phụ
trên cầu sẽ truyền lực trực tiếp lên kết cấu nhịp, đang làm việc như tấm cứng
ngăn ngang, để rồi truyền tải trọng đến các gối tựa. Phải giả thiết tải trọng
gió trên nửa dưới của dầm biên sẽ tác dụng hướng ngang vào bản cánh dưới của dầm.
(2) Đối với các cầu có kết cấu nhịp
không làm việc như một tấm cứng nằm ngang thì phải áp dụng quy tắc đòn bẩy cho
việc phân bố tải trọng gió lên các bản
cánh trên và dưới của dầm.
(3) Phải giả thiết các bản cánh trên
và dưới của dầm chịu tải trọng gió ngang truyền tải trọng đến các điểm giằng liền
kề bằng tác động uốn. Những điểm giằng như vậy đặt tại các nút giằng gió hoặc tại
các khung ngang và các vị trí vách ngăn.
(4) Các lực ngang tác dụng lên các điểm
giằng qua bản cánh dầm phải được truyền đến các gối tựa bằng một trong những
đường truyền tải sau:
- Tác dụng giàn của giằng gió ngang trong mặt
phẳng bản cánh dầm.
- Tác dụng khung của các khung ngang hoặc các
vách ngăn truyền lực lên mặt cầu hoặc giằng gió trong mặt phẳng của bản cánh dầm
khác, và sau đó
qua tác dụng vách ngăn của mặt cầu, hoặc tác dụng giàn của giằng gió lên các gối
tựa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.7.2 Các mặt cắt
hình hộp
Một phần tư của lực gió tác dụng lên mặt
cắt hình hộp sẽ tác dụng lên bản cánh dưới của dầm hộp bên ngoài. Mặt cắt được
giả thiết để chống lại lực gió bao gồm bản cánh dưới và một phần của thân dầm
như được xác định trong TCVN 13594-5:2022 và TCVN 13594-6:2022, phải giả thiết
ba phần tư còn lại của lực gió lên mặt cắt hình hộp, cộng với lực gió lên xe cộ,
barie và các chi
tiết phụ khác được truyền đến các gối tựa qua tác động vách ngăn của mặt cầu.
Phải có các giằng ngang giữa các hộp nếu mặt cắt dự kiến để chống lại lực
gió không thích hợp.
6.2.7.3 Thi công
Nhu cầu về giằng gió tạm trong quá
trình xây dựng phải được khảo sát đối với các mặt cầu mặt cắt chữ I hoặc hộp.
6.2.8 Sự phân bố tải
trọng ngang do động đất
6.2.8.1 Tổng quát
(1) Các quy định chung về tải trọng động
đất, phân tích động đất cho cầu và thiết kế cầu chịu động đất được trình bày
trong TCVN 13594-10:2022.
(2) Các điều khoản này áp dụng cho thiết
kế vách ngang, các khung giằng và các hệ giằng ngang, tức là những bộ phận của
hệ thống chịu lực ngang do động đất nói chung, đối với các cần bản trên dầm
trong vùng động đất trung bình và mạnh.
6.2.8.2 Các tiêu chí
thiết kế
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.8.3 Phân bố tải
trọng do động đất
6.2.8.3.1 Phạm vi áp dụng
Các điều khoản này được áp dụng cho
các vách cứng, các khung giằng và các hệ giằng ngang tức là những bộ phận của hệ
thống chịu lực ngang do động đất nói chung, đối với các dầm bản nằm trong các
vùng động đất mạnh và rất mạnh (2&3). Đối với
vùng động đất yếu và rất yếu (1) áp dụng các
điều khoản thiết kế được đơn giản hóa.
6.2.8.3.2 Các tiêu chí
thiết kế
(1) Người kỹ sư thiết kế phải chứng
minh là đã có một đường truyền tải trọng rõ ràng và trực tiếp xuống kết cấu phần
dưới của công trình và tất cả các thành phần kết cấu, các mối liên kết có đủ khả
năng chịu tác dụng của tải trọng phù hợp với đường truyền tải trọng đã chọn.
(2) Dòng truyền lực trên đường truyền
tải trọng đã giả định phải phù hợp với tất cả các thành phần kết cấu và kể cả
các chi tiết bị tác động, nhưng không phải chỉ giới hạn như thế, phải kể cả các
bản cánh và vách đứng của các dầm hay giàn chủ, các khung giằng ngang, các liên
kết, các mặt phân giới của các dầm - bản với tất cả các bộ phận của hệ thống gối
cầu truyền từ mặt phân giới của bản cánh trên thông qua sự khống chế của các bu
lông neo hoặc các bộ phận tương tự khác của kết cấu bên dưới.
(3) Trong việc phân tích và thiết kế
các vách ngăn ở đầu và các khung giằng, cần xét tới hê gối đỡ theo phương nằm
ngang với một số lượng gối đỡ thích hợp. Độ mảnh và các yêu cầu về liên kết của
các cấu kiện giằng tham gia vào hệ thống chịu lực theo phương ngang phải phù hợp
với các điều khoản được chỉ định cho việc thiết kế các cấu kiện chính.
(4) Các bộ phận của các vách ngăn và
khung giằng ngang do người thiết kế xác định và coi như là một phần của đường
truyền tải trọng động đất từ kết cấu bên trên xuống, các gối đỡ phải được thiết
kế và cấu tạo để vẫn giữ được tính đàn hồi (căn cứ vào các tiêu chuẩn áp dụng
cho diện tích thô) khi chịu mọi trận động đất thiết kế bất kể là loại gối đỡ
nào. Các điều khoản dùng thiết kế các cấu kiện chính sẽ được áp dụng cho các bộ
phận trên.
6.2.8.3.3 Sự phân bố tải
trọng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
● Đối với những cầu có:
- Mặt cầu bằng bêtông có khả năng tác
dụng như một tấm cứng nằm ngang hoặc.
- Một hệ giằng nằm ngang trong mặt phẳng
của bản cánh trên thì các tải trọng ngang tác dụng vào mặt cầu có thể coi như
được truyền trực tiếp tới các gối đỡ thông qua các vách ở đầu hoặc khung giằng.
Việc tính toán và phân tích đường truyền tải trọng thông qua mặt cầu hoặc thông
qua hệ giằng ngang trên cùng nếu có, sẽ căn cứ vào các tác dụng về mặt kết cấu
tương tự như khi phân tích đối với các tải trọng gió.
● Đối với những cầu mà:
- Các mặt cầu không đủ tác dụng như một
tấm cứng nằm ngang
- Không có hệ giằng ngang trong mặt phẳng
của bản cánh trên thì các tải trọng ngang tác dụng lên mặt cầu phải được phân
phối thông qua các vách ngăn và khung giằng trung gian tới hệ giằng ngang dưới
và sau đó tới các gối đỡ thông qua các vách ngang đầu theo tỷ lệ với độ cứng
tương đối của chúng và khối lượng tương ứng của mặt cầu.
● Nếu không có hệ thống giằng ngang dưới
và nếu bản cánh dưới
không đủ chịu tác dụng của lực thì cần sử dụng giải pháp thứ nhất và mặt cầu cần
được thiết kế và cấu tạo chi tiết sao cho có tác dụng như một tấm cứng nằm
ngang cần thiết.
(2) Xem thêm TCVN 13594-10:2022.
6.2.9 Phân tích cầu
bê tông thi công phân đoạn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(1) Có thể áp dụng phân tích đàn hồi
và lý thuyết dầm để xác định các mô men lực cắt và độ võng thiết kế. Phải xem
xét các ảnh hưởng do co ngót và từ biến, thay đổi nhiệt độ cũng như những ảnh
hưởng do biến dạng cắt trễ. Biến dạng do cắt trễ cần được nghiên cứu phù hợp với
các điều khoản của Điều 6.2.9.3.
(2) Đối với các nhịp lớn hơn 75000 mm
thì khi đánh giá các kết quả về phân tích đàn hồi cần đề cập tới các sự biến đổi
có thể có về mô đun đàn hồi của bê tông, các sự biến đổi về tính chất co ngót,
từ biến của bê tông và ảnh hưởng của những biến đổi trong tiến trình thi công tới
các yếu tố này và các thông số thiết kế khác.
6.2.9.2 Các mô hình
giàn ảo (mô hình chống và giằng)
Các "mô hình giàn ảo" có thể
được áp dụng để phân tích trong các vùng tải trọng hoặc vùng có sự gián đoạn về
hình học.
6.2.9.3 Chiều rộng hữu
hiệu của bản cánh
(1) Chiều rộng hữu hiệu của bản cánh
dùng cho việc tính toán ứng suất khi chịu tải khai thác có thể được xác định
theo các điều khoản của TCVN 13594-5:2022 đến TCVN 13594-7:2022.
(2) Các đặc tính về mặt cắt đối với
các lực pháp tuyến có thể được xác định theo TCVN 13594-5:2022 đến TCVN
13594-7:2022.
(3) Có thể tính toán lực uốn, lực cắt
và lực pháp tuyến với các sức kháng có hệ số tương ứng.
(4) Khả năng chịu tải của một mặt cắt
ngang theo trạng thái giới hạn về cường độ có thể được xác định với giả thiết
là toàn bộ bề rộng bản cánh chịu nén.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(1) Khi thiết kế theo phương ngang đối
với các đốt dầm hộp, phải xem xét đốt đó như là một khung hộp cứng. Bản bản
cánh hộp dầm sẽ được tính toán như là các mặt cắt có chiều dày thay đổi, có kể đến phần
tăng cường góc giữa bản cánh và sườn hộp. Các tải trọng do bánh xe tác dụng phải
được đặt sao cho có mô men cực đại và phải dùng phương pháp phân tích đàn hồi để
xác định sự phân bố thực tế theo chiều dọc của tải trọng bánh xe đối với mỗi vị
trí đặt tải. Cần xem xét tới sự gia tăng của lực cắt ở vách và các ảnh hưởng
khác đối với mặt cắt ngang do tải trọng lệch tâm hoặc do sự mất đối xứng
hình học của kết cấu.
(2) Có thể áp dụng theo các điều khoản của TCVN
13594-5:2022 đến TCVN 13594-7:2022, khi thiết lập mặt ảnh hưởng, hoặc các
phương pháp phân tích đàn hồi khác, để tính hoạt tải cộng thêm với ảnh hưởng của
mô men tác động vào bản cánh trên của mặt
cắt hộp.
(3) Khi phân tích theo phương ngang phải
xem xét tới sự co rút đàn hồi và từ biến ngang do tác dụng của dự ứng lực gây
ra cũng như xét đến co ngót.
(4) Cần phải xét đến các mômen thứ cấp
do dự ứng lực trong khi tính toán ứng suất theo trạng thái giới hạn khai thác
và trong việc đánh giá lại kết cấu. Trong trạng thái giới hạn cường độ, tác dụng
của lực thứ cấp phát sinh do dự ứng lực, với hệ số thành phần của tải trọng là
1,0, được cộng đại số thêm vào các tác dụng của lực gây ra do tĩnh tải và hoạt
tải thiết kế và các tải trọng khác.
(5) Khi tính toán theo phương ngang đối
với kết cấu nhịp cầu dầm nhiều đốt thì có thể tiến hành phù hợp với các điều
khoản của Điều 6.2.
6.2.9.5 Phân tích
theo phương dọc
6.2.9.5.1 Tổng quát
(1) Khi phân tích theo phương dọc các
cầu bê tông phân đoạn phải xem xét tới biện pháp thi công đặc biệt và tiến
trình thi công cũng như ảnh hưởng theo thời gian, co ngót, từ biến bê tông và mất
mát dự ứng lực.
(2) Phải xét ảnh hưởng của các mômen
thứ cấp phát sinh do dự ứng lực trong tính toán ứng suất ở trạng thái giới hạn
sử dụng. Trong trạng thái giới hạn cường độ, tác dụng của lức thứ cấp gây ra do
dự ứng lực với hệ số thành phần của tải trọng bằng 1.0 được cộng đại số thêm
vào các tải trọng thiết kế khác cho thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc phân tích kết cấu trong bất kỳ
giai đoạn thi công nào cũng phải xem xét tới các tổ hợp tải trọng, ứng suất và ổn
định trong thi công như đã chỉ dẫn trong TCVN 13594-5:2022.
6.2.9.5.3 Phân tích hệ
thống kết cấu ở trạng thái đã hoàn thành
Áp dụng các điều khoản trong TCVN
13594-5:2022.
6.3 Phương
pháp phân tích chính xác
6.3.1 Tổng quát
(1) Có thể sử dụng các phương pháp
chính xác liệt kê trong Điều 4 và tham khảo phụ lục A để phân tích các cầu.
Trong phân tích như vậy, phải xem xét các tỷ lệ hình học của các cấu kiện, vị
trí và số nút, và các đặc trưng khác về hình dáng có thể ảnh hưởng đến độ chính
xác của kết quả giải tích.
(2) Có thể xem xét lan can, rào chắn
hay dải phân cách có kết cấu liên tục liên hợp với các bộ phận kết cấu đỡ chúng
là thành phần làm việc liên hợp của kết cấu ở trạng thái giới hạn sử dụng và trạng
thái giới hạn mỏi.
(3) Khi sử dụng phương pháp phân tích
chính xác, tỷ lệ phân bố hoạt tải để tính các nội lực cực trị trong mỗi nhịp phải
được đưa vào hồ sơ thiết kế để giúp việc quản lý khai thác và đánh giá cầu về
sau.
6.3.2 Mặt cầu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Ở những vị trí thay đổi đột ngột
mô men uốn, tại đó lực cắt có thể truyền qua, phải mô hình hoá như các khớp.
(3) Khi phân tích các loại mặt cầu có
thể nứt và hoặc tách ra dọc theo các đường biên của cấu kiện khi chịu tải, hệ số
Poisson có thể được bỏ qua.
(4) Tải trọng tập trung được mô hình
hoá như vệt tải trọng phân bố trên diện tích theo quy định của Phần 3. Diện
tích này có thể mở rộng theo bề dày của lớp ba lát hay tấm bản, toàn phần hoặc
không toàn phần, trên cả bốn mặt.
(5) Khi tính phần mở rộng diện tích vệt
từ tải trọng tập trung, phải xét giảm độ dày của lớp phủ vào thời điểm xem xét.
Có thể sử dụng các diện tích vệt từ tải trọng tập trung mở rộng khác nếu phù hợp
với các giả định và áp dụng phương pháp phân tích chính xác.
6.3.3 Cầu dầm bản
(1) Tỉ số mặt của các phần tử hữu hạn
và khoang hệ mạng dầm không được vượt quá 5,0. Cần phải tránh sự thay đổi đột
ngột về kích thước và/hoặc dạng của các phần tử hữu hạn.
(2) Các tải trọng nút phải tương đương
tĩnh học với tải trọng thực tế tác dụng.
(3) Phương pháp phân tích chính xác
nên được sử dụng cho việc phân tích cầu thép cong.
6.3.4 Cầu dầm hộp
và cầu mặt cắt nhiều ngăn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Đối với các mặt cắt hộp đơn, kết cấu
nhịp có thể được phân tích nh dầm bao gồm chuỗi đốt (kiểu cột sống) cho cả các
hiệu ứng xoắn và uốn. Hộp thép không được coi là hộp cứng xoắn trừ phi có hệ giằng
trong để duy trì mặt cắt hộp đủ cứng. Vị trí ngang của các gối tại phải được mô
hình hoá.
6.3.5 Cầu giàn
(1) Phép phân tích khung không gian hoặc
khung phẳng chính xác cần bao gồm việc xét đến các vấn đề sau:
● Tác động liên hợp với mặt cầu hoặc hệ
mặt cầu;
● Tính liên tục giữa các cấu kiện;
● Các hiệu ứng lực do tải trọng bản
thân của các cấu kiện, sự thay đổi hình học do biến dạng, và dịch chuyển dọc trục của
các nút, và
● Sự oằn trong và ngoài mặt phẳng của
các cấu kiện bao gồm cả độ vênh
ban đầu, tính liên tục giữa các cấu kiện và ảnh hưởng của lực dọc trục có mặt
trong các cấu kiện này.
(1) Sự oằn ngoài mặt phẳng của mạ thượng
của các cầu giàn thấp không có hệ giằng gió trên phải được khảo sát. Nếu giàn
được ổn định bên nhờ các khung ngang mà các dầm ngang là một phần của chúng,
thì biến dạng của các dầm ngang do tải trọng xe phải được xét đến.
6.3.6 Cầu vòm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(2) Hiệu ứng giãn dài của cáp treo phải
được xét đến khi phân tích vòm với thanh căng.
(3) Khi không khống chế được bằng cấu
tạo hợp lý thì phải xét đến sự co ngắn của sườn vòm.
(4) Phải sử dụng phép phân tích biến dạng
lớn cho các vòm của các nhịp lớn hơn để thay cho phương pháp điều chỉnh phóng đại
mô men.
(5) Khi sự phân bố ứng suất giữa mạ
thượng và mạ hạ của vòm giàn bị phụ thuộc vào cách lắp dựng, thì cách lắp dựng
phải được chỉ rõ trong hồ sơ thiết kế.
6.3.7 Cầu dây văng
(1) Có thể xác định sự phân bố nội lực
cho các bộ phận của cầu dây văng hoặc bằng phép phân tích phẳng hoặc phân tích
không gian nếu được chứng minh thông qua nghiên cứu hình học của trụ tháp, số mặt
phẳng dây và độ cứng chống xoắn của kết cấu mặt cầu
(2) Phải khảo sát các cầu dây xiên về
nội lực phi tuyến có thể do
các yếu tố sau gây ra:
- Thay đổi độ võng cáp xiên trọng mọi
trạng thái giới hạn,
- Biến dạng của kết cấu dầm cầu và các
trụ tháp trong mọi trạng thái giới hạn, và
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(3) Có thể khảo sát độ võng của dây
cáp bằng cách sử dụng cấu kiện tương đương được mô hình hoá như một thanh với
mô đun đàn hồi được thay đổi cho độ cứng tức thời và theo cách tính lặp, ứng với
sự thay đổi tải trọng cáp xiên.
(4) Sự thay đổi hiệu ứng lực do độ
võng có thể khảo sát bằng cách sử dụng phương pháp bất kỳ thoả mãn các quy định
và có xét đến sự thay đổi hướng của các đầu dây xiên.
(5) Cầu dây xiên phải được tính toán đến
tình huống mất một dây xiên bất kỳ.
6.3.8 Cầu treo dây
võng
Các hiệu ứng lực trong cầu treo dây
võng phải được phân tích
bằng lý thuyết biến dạng lớn đối với tải trọng thẳng đứng. Các hiệu ứng của tải
trọng gió phải được phân tích
có xét sự tăng độ cứng do kéo căng của các dây cáp. Độ cứng chống xoắn của dầm
cầu có thể bỏ qua khi đặt lực tác dụng lên các dây cáp võng, các thanh treo và
các thành phần của giàn tăng cứng.
6.4 Sự phân
bố lại mô men âm trong cầu dầm liên tục
6.4.1 Tổng quát
(1) Có thể cho phép sự phân bố lại các
nội lực trong các kết cấu nhịp dầm có nhiều nhịp, có nhiều dầm hoặc dầm tổ
hợp. Sự làm việc không đàn hồi chỉ được giới hạn xét đối với chịu uốn của dầm
hoặc dầm tổ hợp, không cho phép xét sự làm việc không đàn hồi do lực cắt và sự
oằn dọc không kiểm soát được. Sự phân bố lại tải trọng không được xét đến trong
phương ngang.
(2) Sự giảm các mô men âm trên các gối
tựa của các nhịp giữa do sự phân bố lại phải kèm theo tăng mô men dương tương ứng
trong các nhịp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.4.2 Phương pháp
chính xác
Các mô men âm trên gối tựa, được xác định
bởi phép phân tích đàn hồi tuyến tính, có thể được giảm đi bằng quá trình phân
bố lại khi xét đến các đặc tính mô men- quay của mặt cắt, hoặc bằng phương pháp
cơ học được công nhận. Mối quan hệ mô men - chuyển động quay phải được thiết lập
bằng cách sử dụng các đặc tính của vật liệu, như chỉ ra trong tài liệu này,
và/hoặc bằng thí nghiệm vật lý, tham khảo phụ lục A.
6.4.3 Phương pháp gần
đúng
Thay cho phép phân tích như được mô tả
trong Điều 6.4.2 có thể sử dụng phương pháp phân bố lại đã được đơn giản hoá
cho các dầm thép và bê tông, như được chỉ ra trong TCVN 13594-5:2022 đến TCVN
13594-7:2022.
6.5 Ổn định
Khi tính toán ổn định phải sử dụng lý
thuyết biến dạng lớn.
6.6 Phân
tích về gradient nhiệt
(1) Khi có yêu cầu xác định nội lực do
gradient nhiệt gây ra, thì phép phân tích cần xét đến độ dãn dài dọc trục, biến
dạng uốn và các nội ứng suất.
(2) Các gradient nhiệt được quy định
trong Điều 8, TCVN 13594-3:2022.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(1) Các tác động theo chiều dọc tạo ra
lực dọc trong ray liên tục. Các lực này được phân bố cho cầu và kết cấu dưới
phù hợp với độ cứng tương đối của đường, các liên kết ray, gối đỡ, độ cứng của
kết cấu dưới.
(2) Khi áp dụng theo trường hợp tương
tác kết cấu - đường ray, độ cứng thẳng đứng và ngang của dầm hoặc đường
ray trên nền đắp hoặc đào phải được xác định để dự đoán chính xác chuyển vị
tương đối ở khe co giãn trên mố cầu và ứng suất ray tại mố và các khu vực đoạn tiếp giáp
giữa đường và cầu.
7 Phân tích động lực
học
7.1 Những
yêu cầu cơ bản
7.1.1 Tổng quát
(1) Để phân tích động lực học, độ cứng,
khối lượng, đặc tính giảm chấn của các bộ phận kết cấu cần được mô hình hóa.
(2) Số lượng bậc tự do động tối thiểu
trong phân tích phải dựa trên số lượng tần số tự nhiên nhận được của các dạng
thức dao động đã giả thiết. Mô hình phải tương thích với độ chính xác của
phương pháp giải. Các mô hình động lực học phải bao hàm các dạng liên quan đến
kết cấu và sự kích động dao động. Các dạng liên quan của kết cấu cần bao gồm:
- Sự phân bố khối lượng,
- Sự phân bố độ cứng,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(3) Các đặc tính tác động của tác động
có thể bao gồm:
- Tần số hàm số lực,
- Thời gian đặt tải, và
- Hướng đặt tải.
(4) Để xét đến sự bất lợi của đặc
trưng dao động và cộng hưởng, cần xét sự tổ hợp bất lợi của khối lượng kết cấu
và độ cứng kết cấu. Xem thêm TCVN 13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022.
7.1.2 Sự phân bố
khối lượng
Việc mô hình hóa khối lượng phải được
thực hiện có xét đến mức độ rời rạc phân giải trong mô hình và sự chuyển động dự
kiến. Xem thêm TCVN 13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022.
7.1.3 Độ cứng
Cầu phải được mô hình hóa để nhất quán
với số bậc tự do được lựa chọn đại diện các dạng thức và tần số riêng của dao động.
Độ cứng của các phần tử của mô hình phải được quy định cho phù hợp với cầu đang
được mô hình hóa. Xem thêm TCVN 13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bộ giảm chấn có thể được sử dụng để thể
hiện tính tiêu tán năng lượng. Xem thêm TCVN 13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022.
7.1.5 Tần số dao động
riêng
Để thực hiện điều trên, phải sử dụng
các dạng thức và các tần số dao động riêng không giảm chấn đàn hồi. Để thực hiện
7.4-7.5, phải xét đến
tất cả các dạng thức dao động và các tần số giảm chấn thích hợp. Xem thêm TCVN
13594-1:2022, TCVN 13594-3:2022.
7.2 Ứng xử động
học đàn hồi
7.2.1 Dao động do
đoàn tàu
7.2.1.1 Quy định
chung
(1) Khi cần phân tích về tác động động
học tương hỗ giữa cầu và đoàn tàu, phải có luận chứng để kiến nghị và được chấp
thuận các số liệu về chất lượng độ đều đặn của đường ray (phù thuộc vào loại bảo
trì), vận tốc và các đặc tính động học của đoàn tàu đưa vào trong phân tích. Hệ
số động học được lấy bằng tỷ số giữa hiệu ứng động học cực trị và hiệu ứng tĩnh
tương ứng. Giá trị của hệ số này được quy định trong TCVN 13594-3:2022.
(2) Phân tích động kết cấu cầu khi vận
tốc trên 200km/h hoặc tần số tự nhiên không nằm trong phạm vi giới hạn, xem
TCVN 13594-1:2022 và TCVN 13594-3:2022, là cần thiết để xác định các hệ số xung
kích động, sự cộng hưởng và hạn chế gia tốc thẳng đứng của dầm, nhằm tránh sự
giảm tiếp xúc bánh xe và sự thiếu tiện nghi cho hành khách. Khi đánh giá gia tốc
thẳng đứng của dầm, ước tính giới hạn trên của độ cứng và giới hạn dưới của khối
lượng sẽ được xem xét.
(3) Khuếch đại động cực đại xảy ra khi
cộng hưởng, khi tần số tự nhiên thẳng đứng của kết cấu trùng với tần số của tải
trọng trục.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(5) Để phân tích động, mô hình đại diện
cho cầu chiều dài nhịp, hình học thẳng đứng và ngang, chiều cao cột, phân bố khối
lượng và độ cứng, gối, khóa chống cắt, cột hoặc trụ, điều kiện móng. Đối với
các cầu cô lập, không có kết cấu liền kề, mô hình sẽ đại diện cho toàn bộ cầu,
bao gồm các điều kiện đỡ mố cầu.
(6) Đối với cầu có sự lặp của các nhịp
được gối đơn giản, mô hình có tối thiểu 20 nhịp. Các điều kiện biên ở hai đầu
mô hình thể hiện độ cứng của bất kỳ nhịp hoặc khung liền kề nào.
(7) Đối với cầu có sự lặp của các
khung nhịp liên tục (nghĩa là mỗi khung gồm nhiều nhịp có sự truyền mô men giữa
dầm và cột), mô hình phải có tối thiểu 5 khung. Các điều kiện biên ở đầu mô
hình thể hiện độ cứng của các nhịp hoặc khung liền kề. Lò xo đất tại móng sẽ được
phát triển dựa trên báo cáo địa kỹ thuật.
(8) Các yêu cầu mô hình độ cứng, khối
lượng, giảm chấn là các
thông số cơ bản khi mô hình hóa phân tích động của cầu cho tàu cao tốc.
7.2.1.2 Mô hình độ cứng
(1) Các bộ phận kết cấu được thể hiện
bằng các thuộc tính mặt cắt và tính chất vật liệu thích hợp.
(2) Để phân tích tần số và phân tích kết
cấu động và phân tích động tương tác kết cấu - đường ray - đoàn tàu, cả hai ước
tính độ cứng giới hạn trên và dưới phải được xem xét. Để phân tích khả năng sử
dụng của đường và tương tác kết cấu - đường ray, phải xem xét ước giới hạn dưới
của độ cứng.
7.2.1.3 Mô hình khối
lượng
(1) Để phân tích tần số, phân tích động
kết cấu và phân tích động tương tác kết cấu - đường ray - đoàn tàu, phải xem
xét cả ước tính giới hạn trên và dưới của khối lượng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(1) Đối với tĩnh tải kết cấu, trọng lượng
đơn vị vật liệu được sử dụng làm cơ sở cho thiết kế. Đối với ước tính khối lượng
giới hạn trên, trọng lượng đơn vị được tăng tối thiểu 5 %. Đối với ước tính khối
lượng cận dưới, trọng lượng đơn vị được giảm tối thiểu 5 %. Đối với tải trọng
chất thêm, các ước tính khối lượng cận trên và dưới phải được xem xét.
7.2.1.4 Mô hình giảm
chấn
Khi phân tích động đất và phân tích
tương tác động có sử dụng
hệ số giảm chấn, hệ số giảm chấn có thể được tăng lên cho các nhịp ngắn hơn với
số liệu đáng tin cậy cho người thiết kế.
7.2.2 Dao động do
gió
(1) Đối với các kết cấu quan trọng, nhạy
cảm với các tác động của gió, vị trí và độ lớn của các giá trị về áp lực cực trị
và lực hút phải được xác định bằng các thí nghiệm hầm gió.
(2) Các kết cấu nhạy cảm phải được
phân tích về các hiệu ứng động học do gió xoáy hoặc gió giật, và tác động tương
hỗ gió - kết cấu không ổn định như rung giật và chao đảo. Các kết cấu mảnh dễ uốn
xoắn phải được phân tích về oằn ngang, đẩy nâng quá mức và rung lệch tăng dần.
(3) Biến dạng dao động dưới tác động của
gió có thể dẫn đến các ứng suất quá mức, hiệu ứng mỏi, sự tiện nghi của hành
khách. Mặt cầu, cáp phải được thiết kế và bảo vệ tránh bị gió xoáy quá mức và
các dao động do mưa gió.
(4) Việc áp dụng các bộ giảm chấn được
xem xét để kiểm soát được những tác động động học quá mức. Khi các bộ giảm chấn
hoặc sự thay đổi hình dạng không thực hiện được thì hệ kết cấu phải được thay đổi
để đạt được sự kiểm soát đó.
7.3 Ứng xử động
học không đàn hồi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi chịu tác động của động đất hoặc va
chạm của tàu thuyền, năng lượng có thể được làm tiêu tán bằng một trong các cơ
chế sau:
- Biến dạng đàn hồi và không đàn hồi của vật thể
có thể va chạm với kết cấu,
- Biến dạng không đàn hồi của kết cấu và các vật
gắn liền với nó,
- Chuyển vị không đàn hồi của các khối lượng của
kết cấu và các vật gắn với nó,
- Biến dạng không đàn hồi của các bộ phận tiêu
năng cơ học chuyên dụng.
7.3.2 Các khớp dẻo
và các đường chảy dẻo
Để phân tích năng lượng hấp thụ được bởi
biến dạng không đàn hồi trong thành phần kết cấu có thể được giả thiết tập trung
tại các khớp dẻo và các đường chảy dẻo. Vị trí của những mặt cắt này có thể được
xác định bằng phép xấp xỉ liên tiếp, các đường cong mô men - góc xoay có thể được
xác định bằng cách sử dụng các mô hình vật liệu phân tích đã được kiểm tra.
7.4 Phân
tích tải trọng động đất
Các yêu cầu, nội dung, phương pháp
phân tích về tải trọng động đất xem ở TCVN 13594-10:2022.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong phạm vi cho phép của các quy định
của TCVN 13594-3:2022 có thể thay thế phép phân tích động học đối với va tàu thuyền bằng
phép phân tích đàn hồi tĩnh học tương đương. Khi có quy định dùng
phép phân tích không đàn hồi thì phải xem xét tác động của các tải trọng khác có
thể xảy ra.
8 Phân tích theo mô
hình vật lý
8.1 Thí nghiệm
trên mô hình có tỷ lệ thu nhỏ kết cấu
(1) Để thiết lập và kiểm tra sự làm việc
của kết cấu, Chủ đầu tư có thể yêu cầu và làm thí nghiệm các mô hình tỷ lệ thu
nhỏ kết cấu và các bộ phận của nó. Các tính chất về kích thước và vật liệu của
kết cấu, cũng như các điều kiện biên và tải trọng, phải được mô hình hoá càng
chính xác càng tốt. Đối với phân tích lực học phải sử dụng hợp lý tỷ lệ quán
tính nội bộ, các hàm tải trọng/ kích thích và hàm giảm chấn. Đối với các thí
nghiệm về trạng thái giới hạn cường độ phải mô phỏng trong bản thân tính toán sự
đo đạc bằng dụng cụ không được ảnh hưởng đáng kể đến lời giải và kết quả của mô
hình.
(2) Các yêu cầu của việc thí nghiệm
trên mô hình được trình bày chi tiết trong điều 8 và Phụ lục A, TCVN
13594-1:2022.
8.2 Thử cầu
(1) Để xác định hiệu ứng lực và khả
năng chịu tải của các cầu hiện có người ta có thể thử bằng các dụng cụ đo và
các kết quả đạt được dưới các điều kiện khác nhau của tải trọng của giao thông
và của tải trọng môi trường hoặc tải trọng thí nghiệm bằng các xe chuyên dùng.
(2) Các yêu cầu của việc thử cầu được
trình bày trong các tài liệu khác có liên quan.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(Tham
khảo)
Phương pháp phân tích chính xác
A.1 Tổng quát
Phân tích chính xác thường được sử dụng
để mô tả các phương pháp mô hình kết cấu chi tiết, công phu, thường liên quan đến
phân tích PTHH trên máy tính. Khả năng thực hiện phân tích PTHH thuộc kỹ năng của
các kỹ sư và các công cụ phần mềm được cung cấp. Tuy nhiên, phần lớn phân tích
chính xác không được chỉ dẫn đầy đủ trong các tiêu chuẩn thiết kế, hạn chế về
tài liệu hướng dẫn các ứng dụng của các kỹ thuật phân tích đó. Một phân tích
chính xác có thể:
- Tính đến trễ trượt trong các phần tử
dầm bản và cấu kiện phẳng
- Tính đến biến dạng méo của mặt cắt
ngang
- Mô hình rõ ràng các khung ngang
- Mô hình hóa rõ ràng dầm bản như một
tấm (chứ không phải lưới) theo hai chiều
- Phân bố tải trọng cho các đường dầm
dựa trên độ cứng liên kết
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các phân tích chính xác phức tạp hơn
và khi được áp dụng đúng cách thường chính xác hơn so với các phương pháp gần đúng
hiện tại. Sử dụng phân tích chính xác có thể có lợi, bao gồm nhưng không giới hạn:
- Việc ghi lại ứng xử không được tính
toán đầy đủ bằng các phương pháp gần đúng và / hoặc ngoài giới hạn của tiêu chuẩn
kỹ thuật. Ngay cả trong giới hạn khả năng áp dụng, các phương pháp gần đúng có
thể đưa ra các chỉ báo sai về ứng xử thực của kết cấu.
- Đạt được các yêu cầu chính xác cao
hơn, và ít bảo thủ hơn đối với các kết cấu hiện có, đặc biệt là khi các phương
pháp gần đúng đặt ra cầu thận trọng, dẫn đến phải sửa chữa hoặc thay thế nhiều
hơn các kết cấu.
Phân tích chính xác có khả năng cung cấp
các lợi ích sau trong thiết kế kỹ thuật và đánh giá cơ sở hạ tầng của quốc gia:
• Cải thiện an toàn kết cấu bằng cách
đánh giá nghiêm ngặt hơn các TTGH,
• Tăng cường tính kinh tế bằng cách vượt
ra ngoài việc sử dụng các công thức thiết kế gần đúng, thiên về an toàn.
• Tăng tính an toàn và kinh tế bằng
cách mô hình hóa chính xác ứng xử của hệ thống hoặc cục bộ.
• Cải thiện đánh giá an toàn bằng cách
xem xét đầy đủ dữ liệu điều kiện như tổn thất tiết diện hoặc hình học được xây
dựng.
• Tăng tính bền vững bằng cách tận dụng
kết cấu hạ tầng hiện có.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ lục này cung cấp hướng dẫn về các
chủ đề sau:
• Đánh giá những điều cơ bản của
PPPTHH.
• Chọn mức độ chính xác thích hợp, tức
là mô hình 1D, 2D hoặc 3D cho bài toán.
• Ghép nối các mô hình đã chọn, bao gồm
các loại phần tử, chia lưới và các điều kiện biên.
• Chất tải (các) mô hình phù hợp với
tiêu chuẩn kỹ thuật.
• Xác minh / Kiểm tra cả mô hình và tải
trọng.
• Trích xuất các kết quả có thể sử dụng
được.
A.2 Các phương pháp
phân tích chính xác
A.2.1 Các phương
pháp phân tích được phép
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Phương pháp lực và chuyển vị cổ điển
trong phân tích trụ, phát triển các đường ảnh hưởng, phân bố mô men hoặc chuyển
vị đôi khi vẫn mang lại lời giải hiệu quả.
- Phương pháp sai phân hữu hạn, là một
công cụ số để đánh giá một
phương trình vi phân cho bài toán giá trị biên hoặc bài toán phụ thuộc thời
gian. Phương pháp này phần lớn đã được thay bằng PPPTHH, nhưng đôi khi vẫn có
thể sử dụng hiệu quả như một kiểm tra độc lập.
- Phương pháp tấm gập sử dụng
lý thuyết đàn hồi, một số phương pháp giải đã được phát triển, kết hợp các
phương trình lý thuyết tấm cổ điển với tải trọng pháp tuyến đối với mặt phẳng tấm
có tính đàn hồi, bài toán ứng suất phẳng với tải trọng trong mặt phẳng tấm.
Scordelis (1960) đã điều chỉnh phương pháp này thành phương pháp ma trận phù hợp
với việc giải bằng máy tính.
- Phương pháp dải hữu hạn là PPPTHH bán giải
tích phù hợp với các bài toán có thuộc tính đồng nhất theo một hoặc nhiều hướng,
cho phép rời rạc thành dải. Lời giải được xấp xỉ bằng sử dụng chuỗi hàm điều
hòa liên tục thỏa mãn các điều kiện biên theo một hướng và từng phần nội suy đa
thức, theo các hướng khác. Hữu ích để giải quyết bài toán tấm, tấm gập, vỏ và mặt
cầu.
- Phương pháp tương tự lưới, liên quan đến các
mô hình xây dựng bằng các phần tử đường có liên quan với nhau một cách trung
thành với hình học kết cấu. Chúng được thực hiện bằng sử dụng phần mềm lưới
chuyên dụng và sử dụng các phần tử dầm để phát triển lưới trong phân tích PTHH.
- Phương pháp chuỗi hoặc điều hòa áp dụng chủ yếu
cho bài toán động và trong lịch sử đã ứng dụng để phân tích ổn định và phân
tích cầu treo. Phương pháp này cũng được thay thế phần lớn bằng phân tích PTHH,
nhưng vẫn làm cơ sở của nhiều giải pháp cho một số dạng bài toán các dạng nhất
định, tiếp tục có giá trị như một công cụ để kiểm tra các lời giải theo định hướng
máy tính.
- Các phương pháp dựa trên sự hình
thành khớp dẻo, trong khi thiếu tính liên tục, thay thế tính chất đó bằng một
cơ cấu cho phép xoay tương đối ở khớp được xác định để có thể đánh giá công
ngoài. Phân tích đẩy dần hoặc khả năng chịu lực như một chiến lược thiết kế địa
chấn, là các ứng dụng của các phương pháp sử dụng khớp dẻo.
- Lý thuyết đường chảy dẻo mở rộng sự
hình thành của khớp dẻo cho các bài toán kiểu liên tục, khi chuyển vị quay
không đàn hồi được lý tưởng hóa dọc các đường giống như khớp đàn piano. Phương
pháp thiết kế được phép đối với mẫu thử của hệ lan can dựa trên cách tiếp cận
đường chảy dẻo.
Các phương pháp phân tích khác, chẳng
hạn như mô hình phần tử thớ, một phương pháp mô hình hóa mặt cắt phi tuyến,
cũng đã được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu và phát triển tiêu chuẩn thiết kế cầu. Mặc dù có các
phương pháp khác này, nhưng PPPTHH trở thành phương pháp được lựa chọn cho hầu
hết các phân tích chính xác kết cấu cầu. Lý do cho điều này bao gồm tính linh
hoạt của ứng dụng, dễ sử dụng và tiếp tục gia tăng sức mạnh tính toán có sẵn để
kết nối các nhà thiết kế. Phụ lục này đề cập đến phân tích chính xác, có nghĩa
là PPPTHH.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số lượng đáng kể các tài liệu tham
chiếu đến các phân tích chính xác, ngụ ý rằng phân tích chính xác phải được được
xem xét nếu yêu cầu độ chính xác cao hơn. Trong thiết kế cầu, các phân tích
chính xác được khuyến nghị để thiết kế các yếu tố cụ thể trong các trường hợp cụ
thể.
A.2.3 Phương pháp
PTHH
A.2.3.1 Khả năng
chung của phần mềm PTHH hiện đại
Phần mềm phân tích PTHH có phạm vi từ
phần mềm cơ bản, có thể mô hình hóa ứng xử đàn hồi tuyến tính của kết cấu
khung, gồm các phần tử dầm, đến phần mềm chuyên sâu có thể lập mô hình ứng xử
phi tuyến không đàn hồi của các kết cấu phức tạp và có thể sử dụng các thư viện
lớn của các phần tử đặc biệt. Theo thời gian, khả năng của phần mềm phân tích
PTHH đã tăng lên, trong khi chi phí bản quyền giảm đi. Mặc dù một số khả năng
được cải thiện có liên quan đến lời giải, tức là lời giải phi tuyến lặp, phần lớn
cải tiến là ở tính dễ sử dụng và sự điều chỉnh của phần mềm thiết kế cầu. Các
chương trình phân tích PTHH cũng được hưởng lợi từ những tiến bộ tốc độ xử lý
và bộ nhớ của máy tính.
Việc thiết kế cầu thường sử dụng phần
mềm phân tích PTHH loại trung bình cho các cầu điển hình. Đây là các chương
trình với các phần tử điểm, đường, mặt và khối. Mặc dù chủ yếu sử dụng cho phân
tích đàn hồi tuyến tính, các chương trình thường có một số khả năng phân tích
phi tuyến vật liệu và hình học. Các chương trình tiên tiến hơn còn có các mô
đun riêng cho thiết kế, giúp việc tạo mô hình cầu, chất tải và phân tích trở
nên dễ dàng hơn.
Việc tạo mô hình hiện có thể được thực
hiện thông qua giao diện đồ họa, với kết quả là các mô hình được xem bằng đồ thị
trên màn hình, thay vì các tệp đầu vào và đầu ra văn bản trước đây. Tuy nhiên,
các tệp văn bản vẫn có giá trị và thường được sử dụng để nhanh chóng tạo mô
hình, thay đổi thuộc tính mô hình hiện tại hoặc để kiểm tra đầu vào của mô hình.
Hệ thống mô hình thông tin cầu (BrIM) dự kiến là
bước tiếp theo trong sự phát triển của các mô hình kết cấu cầu. BrIM được định
nghĩa là quá trình ghi lại tất cả thông tin cầu, chẳng hạn như vật liệu, hình học,
nền móng, giao thông và các dữ liệu khác, từ hình thành dự án thông qua toàn bộ
vòng đời của kết cấu bằng cách sử dụng mô hình 3D làm trung tâm dữ liệu. Các mô
hình cầu 3D đầy đủ có thể được sử dụng cho nhiều mục đích hơn là chỉ phân tích
và thiết kế kết cấu. Các mô hình sẽ là một phần của cơ sở dữ liệu của thông tin
về cầu và có thể được sử dụng để hỗ trợ cho các nhiệm vụ khác ngoài quá trình thiết kế,
chẳng hạn như chế tạo, xây dựng và vận hành.
A.2.3.2 Các điểm
Gauss, hàm dạng và bậc tự do
PPPTHH là một kỹ thuật giải ma trận số
để tìm giá trị
gần đúng cho bài toán giá trị
biên. Phương pháp này đòi hỏi phải sử dụng một loạt các phần tử để gần đúng một
liên tục. Các phần tử riêng lẻ sử dụng các hàm đa thức được gọi là hàm dạng để
mô tả hình dạng bị chuyển vị giữa các liên kết phần tử hoặc các nút. Đối với một
cấp độ chia lưới nhất định, các hàm dạng ngày càng gần với hình dạng chuyển vị
thực tế, phù hợp hơn với ứng xử thực tế.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chuyển vị của một điểm hoặc nút có thể
được đặc trưng với tối đa sáu đại lượng trong hệ tọa độ Decart: tịnh tiến và
quay đối với từng trục trong số ba trục. Các chuyển vị có thể có của một nút
khi kết cấu chịu tải được gọi là bậc tự do (DOF). Bậc tự do của mô hình tương ứng
với tổng của tất cả các DOF ở tất cả các nút trong mô hình, mặc dù không phải mọi
PTHH cũng tương ứng với 6 DOF ở các nút. Các phần tử khác nhau có cùng số DOF
có thể cũng có dạng bên trong khác nhau. Chẳng hạn dạng của phần tử dầm
Timoshenko bao hàm cả chịu cắt, trong khi đó phần tử dầm Becnoulli thì không. Cần có
một số kinh nghiệm nhất định và khả năng phán đoán tốt để tối ưu hóa bậc tự do
sao cho nỗ lực tính toán được giảm thiểu trong khi đạt được độ chính xác mong
muốn.
A.2.3.3 Đầu vào và đầu
ra điển hình
Đầu vào bắt đầu với sự tùy ý hóa hình
học và gán các thuộc tính mô hình.
Bước đầu tiên là xác định vị trí nút,
chọn loại phần tử sử dụng và tạo lưới phản ánh hình dạng kết cấu được mô hình
hóa. Chú ý đến kết nối phần tử và DOF là quan trọng, bao gồm các ràng buộc chẳng
hạn các liên kết cứng để xây dựng một mô hình ổn định và tránh các cơ cấu.
Sau đó có thể gán các thuộc tính vật
liệu cho các phần tử (Khối lượng thể tích, Modun đàn hồi, hệ số Poatson, mô đun
cắt, hệ số giãn nở nhiệt,...). Có được khối lượng chính xác là đặc biệt quan trọng
nếu có yêu cầu phân tích động. Khi phân tích bậc cao hơn, chẳng hạn phân tích
phi tuyến có thể cần các đặc tính vật liệu khác. Có được độ cứng của cấu kiện tương
đối chính xác trong mô hình phân tích chính xác là chìa khóa để nhận được sự
phân bố đại diện của các tác dụng lực.
Tiếp theo cần áp dụng các điều kiện
biên ổn định. Điều kiện biên là các ràng buộc chuyển vị theo các hướng ở các điểm
xác định. Điều kiện biên đầy đủ cần có để ngăn cản chuyển dịch vật thể cứng của
mô hình theo ba hướng tịnh tiến hoặc ba hướng xoay.
Cuối cùng là áp dụng tải. Các chương
trình hiện tại rất linh hoạt liên quan đến tải trọng. Tải trọng tập trung, phân
bố, diện tích, tải trọng nhiệt và dịch chuyển có thể áp dụng cho mô hình. Cần cẩn
thận khi đăng ký tải trọng giữa các nút để đảm bảo rằng tải trọng nút do chương
trình tạo ra gần như tĩnh tương đương với tải thực đang áp dụng.
Khi mô hình đã được ghép nối và chương
trình chạy, sẽ tạo ra các kết quả đầu ra khác nhau. Các trường hợp tải trọng
thường có thể được tổ hợp và tính toán trong chương trình nếu muốn. Chú ý rằng
hệ số tổ hợp chỉ thích hợp trong trường hợp cộng tác dụng là hợp lệ, chẳng hạn
như phân tích đàn hồi tuyến tính và không cho kết quả phi tuyến tính. Thông thường
các kết quả đầu ra có thể được xem bằng đồ thị. Khuyến nghị dạng chuyển vị và
các phản lực được kiểm tra đầu tiên. Sai sót thường dễ nhận ra khi mô hình chuyển
vị hoặc các phản lực được phân bố theo cách không mong muốn. Các đầu ra khác
thường sử dụng là lực và / hoặc ứng suất, được cho dưới dạng đồ thị, đường
đồng mức, bảng,...
A.2.3.4 Các họ phần
tử điển hình và cách sử dụng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có bốn họ phần tử điển hình được sử dụng
trong phân tích thiết kế cầu: Phần tử điểm, Phần tử đường, Phần tử mặt, Phần tử
khối.
Có nhiều phần tử với dạng khác nhau,
khả năng khác nhau và số bậc tự do khác nhau trong mỗi họ phần tử. Chúng bao gồm
các phần tử đặc biệt với ứng dụng rất đặc biệt tới các phần tử chung hơn với ứng dụng
chung hơn. Ràng buộc và liên kết cứng được cho là nhóm phần tử thứ năm. Các
ràng buộc và liên kết cứng có thể cung cấp liên kết trong một mô hình, chẳng hạn
như tác động liên hợp. Người dùng có trách nhiệm thực hiện đảm bảo các phần tử
trong mô hình được tương thích, có DOF và khả năng thích hợp.
A.2.3.4.2 Phần tử điểm,
ràng buộc, liên kết cứng
Phần tử điểm là phần tử “không” hoặc gần như
“không”, chiều dài phần tử kết nối các phần tử khác trong mô hình thường tại các
nút trùng nhau. Thường sử dụng phần tử điểm giữa các phần tử để giải phóng một
số bậc tự do nào đó. Cũng có thể sử dụng phần tử điểm để cung cấp các điều kiện
gối đỡ tuyến tính hoặc phi tuyến, bổ sung khối lượng tập trung cho phân tích động
hoặc kết nối nhiều nút bằng các lò xo có độ cứng tịnh tiến và quay.
Các phần tử điểm thường không sử dụng
trong các mô hình thiết kế cầu bản trên dầm thông thường, nhưng có thể sử dụng
để mô hình hóa các gối sử dụng sự giải phóng hoặc độ cứng lò xo giữa kết cấu
trên và kết cấu dưới.
Các ràng buộc và liên kết cứng là
phương pháp kiềm chế hoặc giải phóng chuyển vị của hình học hoặc các nút tự do
trong mô hình. Có thể sử dụng chúng để thiết lập mối quan hệ giữa nút tự do,
duy trì tính tương thích đã xác định. Thông thường, sử dụng các phần tử cứng
khi liên kết các nút cứng, vì các phần tử quá cứng có thể dẫn đến lời giải lỗi
do ma trận độ cứng không có điều kiện. Chúng cũng cho phép sự linh hoạt trong
việc kiềm chế sự tổ hợp bất kỳ của sáu bậc tự do tại một nút.
A.2.3.4.3 Phần tử đường
Sử dụng các phần tử đường để mô hình
hóa các thanh, dầm, cáp hoặc các bộ phận kết cấu khác, trong đó chiều dài của
phần tử thường lớn hơn nhiều so với chiều cao và chiều rộng. Với các phần tử đường,
ứng suất pháp theo chiều dày là không đáng kể, ứng suất pháp chỉ được tạo ra dọc
theo trục dọc của phần tử. Các phần tử đường là hấp dẫn sử dụng trong thiết kế
cầu, vì các lực thường được sử dụng để thiết kế bộ phận cầu, lực dọc trục, mô
men uốn và lực cắt, là đầu ra trực tiếp.
a Phần tử thanh
hoặc dàn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình A.1 -
Minh họa, Phần tử thanh hay dàn
b Phần tử dầm
Tùy thuộc dạng phần tử, phần tử dầm có
thể có độ cứng và truyền tải tương ứng với toàn bộ 6 bậc tự do ở mỗi nút, chúng
có thể được sử dụng để mô hình hóa các bộ phận không chỉ có lực dọc, mà cả lực
cắt, mô men uốn và xoắn theo hai trục. Có hai loại phần tử dầm là phần tử dầm
Euler- Bernoulli và Timoshenco.
Phần tử dầm Euler- Bernoulli điển hình
sử dụng khi không không yêu cầu bắt giữ biến dạng cắt. Biến dạng cắt nhìn chung
được bỏ qua khi tỉ số nhịp với chiều cao lớn. Trong hầu hết các trường hợp mô
hình hóa sử dụng kiểu phần tử dầm này cho kết quả thỏa mãn.
Phần tử dầm Timoshenco có khả năng bắt
giữ biến dạng cắt, sử dụng khi không thể bỏ qua biến dạng cắt. Một diện tích cắt
có hiệu của một mặt cắt cần cung cấp trong thuộc tính tiết diện để tạo ma trận
độ cứng cắt của phần tử dầm Timoshenko.
Diện tích cắt có hiệu của một mặt cắt
phụ thuộc vào dạng của mặt cắt, nhưng luôn nhỏ hơn diện tích nguyên của nó
trong mặt phẳng đã cho, chẳng hạn việc xấp xỉ sử dụng diện tích của sườn là cơ
bản so với tổng diện tích mặt cắt ngang tổng như là diện tích có hiệu cho dầm
cánh rộng chịu tải quanh trục khỏe. Diện tích cắt có hiệu của các dạng chung
như được cho trong Bảng A.1 thường được cung cấp trong các sổ tay
chương trình phân tích PTHH và trong một số tài liệu tham chiếu.
Bảng A.1- Diện
tích cắt có hiệu cho các dạng chung
Mô tả
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặt cắt chữ nhật đặc - kích thước b
x d
5/6 bd
Mặt cắt chữ nhật rỗng thành mỏng
2 tD
Mặt cắt tròn đặc
0,9πR2
Mặt cắt tròn rỗng thành mỏng
πRt(=A/2)
Dầm I (hướng dọc sườn)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dầm I (hướng dọc bản cánh)
Àlanges
Không xét biến dạng cắt
1000A*
Mặc dù việc sử dụng các phần tử dầm
Euler-Bernoulli cho dầm nói chung là đủ, nhưng việc sử dụng các phần tử dầm
Timoshenko sẽ cung cấp kết quả chính xác hơn, với sự gia tăng nỗ lực tính toán
ít, không có sự khác biệt trong lưới và không tăng số lượng dữ liệu đầu ra.
Hầu hết các dạng phần tử dầm hiện tại
chỉ bao gồm xoắn Saint-Venant trong khi bỏ qua sự xoắn cong vênh, vì sáu bậc tự
do sẵn có chỉ có thể điều chỉnh ứng xử phẳng. Một số chương trình có thể kể đến
các công thức phần tử dầm bao gồm bậc tự do thứ bảy để cho phép kể đến trực tiếp
độ cứng xoắn vênh, xem Hình A.2.

Hình A.2 - Phần
tử dầm
A.2.3.4.4 Phần tử mặt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình A.3 Minh họa, a)
Phần tử bản, b) Phần tử
vỏ (shell)
Phần tử mặt nói chung được mô hình như hình tam
giác hoặc tứ giác như Hình A.4. Phần tử tứ giác thương được sử dụng cho các diện
tích dạng đều đặn trong PTPTHH của cầu, phần tử tam giác có thể được sử dụng, đặc
biệt cho lưới chuyển của các dạng không đều đặn.

Hình A.4 -
Minh họa, hình học phần tử mặt tiêu biểu
Cũng như phần tử dầm, kể cả biến dạng
cắt sẽ luôn cung cấp kết quả chính xác hơn nếu mô hình chính xác, với sự tăng
nhỏ về nỗ lực tính toán, không có sự khác nhau về tạo lưới, và cũng không cần
tăng dữ liệu đầu vào.
A.2.3.4.5 Phần tử khối
Phần tử khối, Hình A.5, được sử dụng để
mô hình hóa ứng xử 3D tổng quát ở mức phần tử của phân tích, chẳng hạn như khi ứng
suất pháp theo độ dày dọc theo cả ba trục đều quan trọng. Do kích thước lưới của
các phần tử khối được điều khiển theo độ dày của các cấu kiện do cân nhắc tỷ số
mặt cắt, mô hình dầm hoặc bản với các phần tử khối có thể tạo ra các lưới mịn với
nhiều bậc tự do, dẫn đến thời gian giải có thể kéo dài.

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các phần tử khối đã được sử dụng để phân
tích cục bộ, chẳng hạn như ứng suất tập trung trong liên kết hàn hoặc ứng suất
trong vùng không liên tục (vùng D) của cầu bê tông, hiếm khi được sử dụng trong
thiết kế cầu thông thường do khối lượng tính toán lớn và khó trích xuất các lực
thiết kế hữu ích. Các phần tử đường và mặt thường là có khả năng đánh giá gần
đúng ứng xử của các bộ phận cầu đủ cho mục đích thiết kế, trong khi ứng suất
theo hướng xuyên qua chiều dày là không cần thiết.
A.2.3.5 Các điều kiện
biên
Các điều kiện biên đề cập đến các trụ
đỡ và gối áp dụng cho các mô hình. Các điều kiện biên sử dụng phổ biến nhất là
các gối đỡ được lý tưởng hóa cho sự cố định hoàn toàn với chuyển dịch hoặc
xoay. Các trụ đỡ thực tế không bao giờ hoàn toàn cố định hoặc hoàn toàn khớp,
mà chỉ là tương đối. Các phân tích nâng cao có thể sử dụng ứng xử ma sát hoặc
phi tuyến, chẳng hạn chỉ kéo hoặc chỉ nén,... Mô hình hóa các trụ đỡ không
chính xác, chẳng hạn sự lệch hướng cố định, có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả,
ngay cả khi sự khác nhau trong các trụ đỡ xuất hiện là nhỏ.
A.2.3.6 Mô hình con
Mô hình con đề cập kỹ thuật phân tích
PTHH tạo mô hình lưới mịn hơn của một phần cụ thể khi muốn kết quả chính xác
hơn. Sử dụng mô hình thô lớn hơn để tìm các lực và / hoặc chuyển vị tổng thể tại
các biên của khu vực được chính xác, sau đó lực / chuyển vị tổng thể này được áp
dụng cho mô hình con mịn hơn để xác định các hiệu ứng cục bộ trong khu vực đặc
biệt đó.
A.2.4 Định nghĩa,
so sánh và khả năng áp dụng phân tích một chiều, hai chiều và ba chiều
A.2.4.1 Định nghĩa
Một phân tích thường được mô tả là
phân tích một chiều, hai chiều hoặc ba chiều.
Phân tích một chiều (1D) là phân tích
trong đó các định lượng kết quả (mômen, lực cắt, tải trọng dọc trục, chuyển vị,
v.v.) là hàm chỉ của không gian một chiều. Đối với kết cấu cong, kích thước này
có thể đo dọc trục cong, tức là chiều tham chiếu không cần phải thẳng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phân tích 3 chiều (3D) yêu cầu ba tọa
độ để xác định kết quả. Nói chung trong bản bê tông 3D trên mô hình cầu dầm, dầm
và khung ngang / vách ngăn được mô hình hóa với chiều cao rõ ràng.
Hình vẽ A.6 mô tả tiến trình chung về
mức chính xác của phân tích cầu dầm bản liên tục.

Hình A.6 - Tiến
trình chung từ mô hình 1D đến mô hình 3D.
A.2.4.2 Phân tích một
chiều (1D)
Phân tích một chiều thay thế kết cấu bằng
một loạt đơn lẻ các phần tử đường theo hình học của kết cấu như thấy trên mặt bằng,
xem Hình A.7. Phân tích một chiều thường là đàn hồi tuyến tính, độ võng nhỏ và
bao gồm mặt cắt được chuyển đổi vật liệu đơn lẻ. Thuộc tính mặt cắt thay đổi
các có thể được xử lý với các thuộc tính mặt cắt từng bước trong các mô hình hoặc
bằng cách thay đổi rõ ràng thuộc tính mặt cắt dọc theo chiều dài trong các
chương trình nâng cao.

Hình A.7 - Mô
hình dầm đốt sống 1D
Với kết cấu cong, có thể sử dụng
phương pháp gần đúng V-Load và M/R cho cầu dầm thép mặt cắt I và mặt cắt hộp một
cách tương ứng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Lực khung ngang hoặc vách ngăn lớn,
chẳng hạn từ phân bố tải trọng trong cầu nhiều dầm có độ cong hoặc độ chéo lớn,
- Nguồn hình học của độ cứng chẳng hạn
các cặp lực từ hệ giằng ngang bản cánh hoặc nhiều gối dưới dầm hộp,
- Hiệu ứng ngang trong cầu nhiều dầm là đáng kể.
A.2.4.3 Phân tích
hai chiều (2D)
Phương pháp phân tích hai chiều (thường
gọi là phương pháp lưới), bao gồm tối thiểu một loạt các phần tử dầm được liên
kết với nhau, đại diện cho các bộ phận chịu uốn chính của kết cấu phần trên và
đôi khi bao gồm cả kết cấu phần dưới. Bản mặt cầu có thể được phân phối và được
bao gồm với các thuộc tính dầm hoặc được mô hình hóa một cách rõ ràng với các
phần tử vỏ. Phân tích 2D có thể được sử dụng đơn giản để xác định các hệ số
phân bố dầm bằng các phương pháp 1D sử dụng để hoàn thành thiết kế, hoặc sử dụng
để xác định đường bao tĩnh tải và hoạt tải cho kiểm tra TTGH. Trong phân tích
2D có phân tích lưới cơ bản và phân tích lưới cải tiến.
a. Phân tích lưới cơ bản:
Phân tích lưới ban đầu sử dụng mạng lưới
các phần tử đường trong mặt phẳng đơn lẻ. Một lưới yêu cầu phát triển các thuộc
tính bộ phận được gán cân đối vật liệu cho lưới của phần tử đường.
Trong một số trường hợp phân tích lưới
cơ bản có thể được chấp nhận cho thiết kế cấu kiện, nhưng không dùng để tính
võng và vồng ở giai đoạn xây dựng trung gian. Phân tích lưới cơ bản không phù hợp
với:
- Các hiệu ứng bậc hai lớn, chẳng hạn
như ứng suất uốn bản cánh nén,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Hiệu ứng ngang trong cầu nhiều dầm là đáng kể,
- Hiệu ứng xoắn trong dầm tiết diện hở là đáng kể,
- Khi không phù hợp với tải trọng sử dụng với
khung ngang thép,
- Khi lực cắt màng lớn xuất hiện trong
mặt phẳng phân tích.
b. Phân tích lưới
cải tiến:
Qua thời gian, các chương trình tính và kỹ
thuật tổ hợp được nâng cao và dẫn đến cải thiện phân tích lưới cơ bản. Mô hình
PEB giờ đây nói chung có thể được sử dụng để mô hình cho cầu nhiều dầm. Mô hình
này tổ hợp dầm phần tử đường và khung ngang/vách ngăn cứng với dầm phần tử vỏ kể
cả dịch chuyển bản từ trọng tâm dầm. Mặc dù mô hình bản và dầm rút ra riêng biệt
lực thiết kế ít khó khăn hơn, phương pháp phân tích lưới cải tiến đủ chính xác
để sử dụng trong thiết kế hầu hết các cầu nhiều dầm.

Hình A.8 - Mô
hình PEB 2D của cầu dầm thép 3 nhịp liên tục với các dầm
bên trong nhô ra và các khung ngang liên kết bu lông
Một trong những lợi ích lớn nhất của
mô hình PEB là chúng có thể mô hình một cách rõ ràng ứng xử của kết cấu có độ
cong hoặc xiên lớn. Một phân tích PEB yêu cầu ít giả thiết hơn khi xác định các
phần tử của lưới và mô hình hóa độ cứng màng của bản.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Hiệu ứng bậc hai lớn,
- Nguồn hình học của độ cứng như cặp lực
từ giằng mặt bích (giả hộp) hoặc nhiều gối dưới dầm hộp,
- Phân tích gradient nhiệt.
Hướng dẫn thêm về mô hình hóa phân
tích PEB, xem A3.5.2.
A.2.4.4 Phân tích ba
chiều (3D)
Do khả năng tính toán và phân tích
tăng, cho phép mô hình hóa rõ ràng các bộ phận kết cấu cầu nhiều dầm. Không chỉ
có thể mô hình hóa dầm bản bê tông một cách rõ ràng, mà thay vào việc sử dụng một
phần tử đường đơn để mô hình một dầm, các bản cánh và bản bụng của dầm có thể
được mô hình hóa rõ ràng ở dạng hình học rất chính xác. Khung ngang cũng có thể
được mô hình hóa rõ ràng với nhiều phần tử thay vì các đường đơn lẻ của các phần
tử có độ cứng có hiệu. Các thuộc tính vật liệu đơn lẻ có thể được khai báo. Bằng
cách mô hình hóa các phần hở có thành mỏng với nhiều cấu kiện, cả độ cong vênh
và độ cứng xoắn Saint-Venant có thể được tính toán rõ ràng, và ứng suất tương ứng
có thể được xuất ra. Thuộc tính mặt cắt được mô hình hóa rõ ràng, do đó không cần
sử dụng các phép gần đúng.
Vậy tại sao không sử dụng phân tích 3D
cho mọi thiết kế. Hiện đó không phải
là giải pháp hiệu quả nhất.
Với hầu hết các bản bê tông trên cầu dầm,
phân tích PEB vẫn các phương pháp khuyến nghị. Mô hình 3D nên được sử dụng khi
muốn có ứng xử chính xác hơn và đối với các mô hình con, chẳng hạn như:
- Phân tích cục bộ, chẳng hạn như các chi tiết
và điểm liên kết trong kết cấu khi có ứng suất tập trung.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Phân tích động lực học phức tạp, khi
bắt buộc mô hình hóa độ cứng và / hoặc sự phân bố khối lượng chính xác hơn.
- Phân tích ổn định phức tạp, cả tổng thể và cục
bộ.
- Các trường hợp mà bản cánh bị uốn
ngang là đáng kể.
- Phân tích xây dựng theo giai đoạn.
A.2.5 Phương pháp
phân tích chính xác và độ tin cậy
Vấn đề nảy sinh liên quan đến phân
tích chính xác và độ tin cậy: (1) tác động của việc sử dụng phân tích chính xác
thay cho phương pháp gần đúng, (2) ảnh hưởng đến độ tin cậy đạt được đối với
thiết kế bằng phân tích chính xác.
Việc sử dụng các phương pháp gần đúng
nói chung sẽ đạt được chỉ số độ tin cậy của kết cấu cao hơn giá trị mục tiêu,
do các hiệu ứng lực thiết kế có xu hướng thiên về an toàn (bảo thủ), thiết kế
có sức kháng cao lên so với nhu cầu và do đó độ tin cậy cao hơn.
Khi phân tích chính xác, chẳng hạn như
sử dụng phân tích PTHH 3D (FEA) hoặc phân tích bản và dầm lệch tâm (PEB), dẫn đến
các hiệu ứng tải trọng nhỏ hơn và các phần thiết kế kích thước nhỏ hơn so với
phân tích gần đúng, dẫn đến hệ số độ tin cậy của phân tích chính xác cũng thấp đi. Việc
thay thế phương pháp chính xác cho phương pháp gần đúng trong thiết kế có thể
được coi là di chuyển độ tin cậy của kết cấu hướng từ một giá trị cao hơn tới
chỉ số độ tin cậy mục tiêu tối thiểu, việc này là có lợi hơn. Vì thế giả sử thực
hiện chính xác phân tích làm giảm độ tin cậy thì đây cũng không phải là lý do để
tránh sử dụng phương pháp chính xác.
A.3 Mô hình hóa dầm
cầu tổng quát
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mô hình hóa PTHH và phân tích cầu có
thể cung cấp một cách nhanh chóng, chính xác, kết quả có thể sửa đổi dễ dàng,
nhưng cũng có thể tốn nhiều thời gian. Các giả thiết sau trong kỹ thuật phân tích
cầu thông thường không cần thiết để thực hiện phân tích PTHH, nhưng để thực hiện
để quá trình thiết kế được hiệu quả hơn:
. Vật liệu đàn hồi tuyến tính, đẳng
hướng,
- Thuộc tính giống nhau ở tất cả các
hướng
- Ứng suất và biến dạng có quan hệ với nhau qua
mô đun đàn hồi E là hằng số, vật liệu
không phi tuyến.
. Mặt cắt ngang phẳng vẫn phẳng và các tính chất
của mặt cắt không đổi,
- Biến dạng cắt và cong vênh xoắn đủ nhỏ để có
thể bỏ qua
- Mặt cắt không thay đổi do nứt hoặc
chảy trong quá trình phân tích
. Các điều kiện biên được coi là
bị kiềm chế hoàn toàn hoặc không bị kiềm chế hoàn toàn
- Mỗi bậc tự do trong số 6 bậc tự do thường
không bị ràng buộc hoặc tự do chuyển vị, mặc dù trong một số
trường hợp có thể sử dụng kiềm chế và / hoặc chuyển vị một phần theo quy định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
. Tải trọng không đổi về hướng và độ lớn
- Hiệu ứng bậc hai đủ nhỏ để có thể được
bỏ qua, hoặc
- Hiệu ứng bậc hai được tính đến việc bằng sử dụng
các hệ số hiệu chỉnh - không có phi tuyến hình học
. Việc cộng tác dụng của tải trọng
là hợp lệ vì tính phi tuyến của vật liệu hoặc hình học là không đáng kể, hiệu ứng
của các đường dẫn tải là độc lập.
- Hiệu ứng tải có thể được nhân với hệ
số
- Có thể thêm các hiệu ứng tải
. Hoạt tải có thể được xấp xỉ bằng các tải tập
trung và tải phân bố.
Các nội dung dưới đây cung cấp các hướng
dẫn sử dụng khi nào sử dụng mô hình hóa dầm bản để xác định mô men uốn, lực cắt
và chuyển vị sử dụng trong tiêu chuẩn.
A.3.2 Tạo lưới
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhìn chung nút càng gần trọng tâm của
phần tử được mô hình hóa càng tốt, mặc dù một số chương trình cho phép có độ lệch
tâm được sử dụng để đặt trọng tâm phần tử ở vị trí đúng.
Việc tạo lưới phù hợp có thể tạo hiệu
quả cả trong lời giải và phân tích kết quả của mô hình. Lưới cần có đủ số nút
và số phần tử để cung cấp đủ độ chính xác mà không gây ra nỗ lực tính toán quá
mức. Xem xét tiếp theo có thể dẫn đến việc phân tích để kiểm soát việc tạo lưới
bao gồm:
- Đặt nút ở vị trí đặt tải,
- Đặt nút ở vị trí dữ liệu đầu ra có yêu cầu,
- Định vị các nút để tạo điều kiện giao tiếp với
các phần tử lân cận, chẳng hạn như
các vách ngăn trong cầu bê tông, hoặc sườn tăng cứng và khung ngang trong cầu
thép.
- Định vị các nút nơi dự đoán rằng một lần lặp
lại sau này của mô hình sẽ yêu cầu nút, hoặc
- Định hướng lưới để có được ứng suất
theo một hướng cụ thể
Việc tạo lưới có thể bằng tay, tự động
(lưới tự do hoặc được lập bản đồ), tạo lưới bán tự động, lưới chuyển tiếp.
A.3.2.1 Tạo lưới bằng
tay
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.2.2 Tạo lưới tự động
Nhiều chương trình phân tích PTHH có
khả năng tạo nút và phần tử một cách tự động. Tạo lưới tự động có tiềm năng làm
tăng tính kinh tế của việc phân tích về việc tiêu tốn thời gian để tạo nhiều lưới
và phần tử thực hiện bằng phần mềm.
A.3.2.2.1 Lưới tự do
Tạo lưới tự do không có sự giới hạn về dạng
phần tử (chẳng hạn phần tử tam giác hay tứ giác đều có thể xuất hiện trong lưới)
và không cần xuất hiện ở các dữ liệu đã biết đặc biệt nào.
A.3.2.2.2 Lưới bản đồ
Một lưới bản đồ chỉ sử dụng một dạng
phần tử (ví dụ phần tử tam giác hay tứ giác) và các phần tử chỉ xuất hiện theo
các mẫu. Nếu yêu cầu lưới bản đồ, việc phát triển các bề mặt với các các dạng đều
đặn sẽ giúp cho việc tạo lưới của mặt.
A.3.2.3 Tạo lưới bán
tự động
Lưới bán tự động thích hợp với tổ hợp
tạo lưới tay có thể bằng dữ liệu đầu vào dạng text, tổ hợp với lưới cục bộ tự động
chính xác.
A.3.2.3 Tạo lưới tịnh
tiến
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.3 Thuộc tính vật
liệu
Hai loại vật liệu được sử dụng phổ biến
nhất trong xây dựng cầu là thép và bê tông, thường được giả định là vật liệu đẳng
hướng cho mục đích phân tích.
Đối với thiết kế điển hình chỉ yêu cầu
ứng xử vật liệu đàn hồi tuyến tính, nhưng nhiều chương trình cũng có các khả
năng thuộc tính vật liệu phi tuyến và phi đàn hồi để lập mô hình, chẳng hạn như
chảy của thép hoặc từ biến trong bê tông.
A.3.4 Phân tích một
chiều (1D)
Thực hiện phân tích 1D là khá đơn giản.
Thông thường, có hai loại cầu có thể phân tích một chiều: Cầu nhiều dầm khi
phân tích một dầm đại diện; cầu mà mặt cắt ngang có độ cứng xoắn và có thể phân
tích như một dầm đốt sống.
Dầm thẳng có thể được phân tích với bất
kỳ chương trình phân tích dầm liên tục nào. Số phần tử khuyến nghị sử dụng ít
nhất cho mỗi nhịp là 10.

Hình A.9 - a)
Định nghĩa góc ở tâm, b) Mô hình đốt sống 3D cầu bê tông dầm hộp cong
Mô men uốn theo phương dọc của dầm bê
tông cong được coi như dầm thẳng với chiều dài dầm thẳng bằng chiều dài cung dầm
cong giữa hai gối và do đó có thể phân tích như dầm thẳng trong phân tích sơ bộ,
cầu nhiều dầm thép cong tùy thuộc và việc chuyển tải trọng giữa các dầm chịu xoắn
có thể được phân tích như dầm thẳng theo trục chính chịu uốn và cắt có chiều
dài nhịp bằng chiều dài cung nếu thỏa mãn các điều kiện
sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
. Dầm đồng tâm,
. Các đường gối không bị lệch
quá 10 độ so với xuyên tâm,
. Độ cứng của các dầm tương tự
nhau - Yêu cầu này đảm bảo rằng sự chia sẻ tải trọng giữa các dầm là tương đối đều. Nếu có sự
nghi ngờ các dầm không đủ giống nhau, có thể sử dụng mô hình chính xác dầm cong
đơn giản để kiểm tra sự phân bố tải trọng. Khi nghi ngờ, sử dụng mô hình dầm
cong hơn là phương pháp xấp xỉ thẳng được mô tả ở đây.
. Đối với tất cả các nhịp, nhịp
cong chia cho bán kính dầm nhỏ hơn 0,06 rad, trong đó nhịp cong Las
được lấy là:
- Chiều dài cung của dầm đối với các
nhịp đơn giản,
- 0,9 lần chiều dài cung cho các nhịp
biên của các cấu kiện liên tục,
- 0,8 lần chiều dài cung đối với các
nhịp giữa của các cấu kiện liên tục.
Đối với dầm hộp:
. Các dầm đồng tâm,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
. Chiều cao của dầm nhỏ hơn chiều
rộng của hộp ở giữa độ cao,
. Đối với tất cả các nhịp, nhịp
cong chia cho bán kính dầm nhỏ hơn 0,3 rad, trong đó nhịp cong Las
được lấy là:
- Chiều dài cung của dầm đối với các
nhịp đơn giản,
- 0,9 lần chiều dài cung cho các nhịp
biên của các cấu kiện liên tục,
- 0,8 lần chiều dài cung đối với các
nhịp giữa của các cấu kiện liên tục.
A.3.5 Phân tích hai
chiều (2D)
A.3.5.1 Phân tích lưới
cơ bản
A.3.5.1.1 Yêu cầu chung
Thực hiện phân tích lưới bao gồm tập
trung tính chất độ cứng dọc và ngang của kết cấu cầu thành lưới các phần tử đường
trong một mặt phẳng. Có thể sử dụng phân tích lưới để lập mô hình cầu bản và cầu
bản có lỗ rỗng. Có thể phân tích cầu bản trên dầm với bất kỳ điều kiện trụ đỡ
nào, xiên hoặc cong.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
. Lý tưởng hóa kết cấu thành lưới
tương đương thích hợp của các phần tử đường.
. Tính toán và gán thuộc tính của
mặt cắt để đạt được độ cứng kết cấu theo chiều dọc và ngang gần đúng tương
đương.
. Áp dụng tải trọng.
. Phân tích và trích xuất các hệ số phân bố hoặc
các hiệu ứng lực thiết kế.
Nhiều mô hình lưới có thể được sử dụng
để phân tích các cầu cho các giai đoạn xây dựng.
A.3.5.1.2 Phần tử và
hình học
Phần tử dầm thường được sử dụng để mô
hình mạng dọc và ngang trong lưới phẳng. Số lượng và vị trí tối thiểu của các
đường lưới dọc cần trùng với số lượng và vị trí các dầm dọc, ngoài ra có thể bổ
sung giữa các dầm dọc khi cầu rộng để cải thiện chính xác vị trí đặt tải. Các
đường ngang tối thiểu cũng đặt ở các vị trí khung ngang/vách ngăn và bổ sung
khi cầu dài.
A.3.5.1.3 Thuộc tính mặt
cắt ngang
Thuộc tính mặt cắt thường dựa trên
tính chất bê tông dầm và bản mặt cầu nguyên không nứt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.5.1.4 Chất tải và
kết quả
Hoạt tải nằm ở giữa các phần tử lưới
có thể được phân bố đến các nút. Lý tưởng nhất là áp dụng một tải tương đương
tĩnh, nhưng trong thực hành, phân bố tải trọng thẳng đứng cho các nút lân cận dựa
trên tỷ số khoảng cách hình học thường là đủ, mặc dù lực cắt gần các gối đỡ có
thể bị đánh giá thấp do sự phân bố của tải trọng nút trực tiếp đến gối đỡ.
Những thiếu sót của phân tích lưới cơ
bản bao gồm:
▪ Chuyển lực cắt giữa các dầm dọc
qua bản không thể được mô hình hóa một cách hiệu quả. Một số ảnh hưởng của việc
này là:
- Lực cắt trong bản mặt cầu bị đánh giá thấp.
- Phân bố tải trọng và dẫn đến lực dọc trục
trong dầm không chính xác do lực cắt dọc liên dầm và lực dọc trục dẫn đến các cặp
giảm mômen trong dầm chịu tải và tăng mômen ở vị trí không thể được chuyển.
▪ . Xoắn vênh không được mô hình hóa.
▪ . Ứng xử khung ngang 3D được
tính gần đúng với các phần tử đường đơn lẻ.
A.3.5.2 Bản với dầm lệch
tâm (PEB)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phân tích PEB là sự chính xác hóa của
phân tích lưới cơ bản mô hình hóa rõ ràng bản mặt cầu và dầm một cách riêng biệt
Đối với thiết kế thông thường của hầu
hết các bản bê tông điển hình trên cầu dầm khi độ chính xác vượt ra ngoài
phương pháp hệ số phân bố gần đúng được mong muốn, mô hình phân tích PEB là
phương pháp chính xác được khuyến nghị.
A.3.5.2.2 Phần tử và
hình học
Mô hình PEB định vị các phần tử dầm dọc
theo trọng tâm của các đường dầm dọc. Các phần tử dầm cũng được sử dụng để kết nối
các phần tử dọc theo chiều ngang tại các vị trí khung ngang / vách ngăn nếu có.
Sử dụng các phần tử vỏ để tạo mô hình cho mặt cầu bê tông toàn bộ chiều dài từ
cạnh này sang cạnh khác.
Ở mức tối thiểu, các nút phải được đặt
ở điểm thứ mười của mỗi nhịp, vì lực và chuyển vị thường được yêu cầu tại các vị
trí đó. Số lượng phần tử sử dụng dọc theo chiều dài cầu với bản mặt cầu phải giống
như đối với các phần tử dầm dọc khi tác động tổ hợp được mô hình. Số phần
tử dọc phải sao cho có được một tỷ số mặt cắt hợp lý. Tỷ số đến 5:1 là có thể
chấp nhận được, mặc dù cách tiếp cận 1:1 là tốt nhất. Tối thiểu phải có hai phần
tử vỏ giữa mỗi đường dầm để ghi lại ứng xử cắt trễ.
Khi tác động tổ hợp đầy đủ được mô
hình hóa, các phần tử dầm phải được liên kết chặt chẽ với các phần tử bản mặt cầu.
A.3.5.2.3 Thuộc tính mặt
cắt
Tính chất mặt cắt dầm được tính về trọng
tâm dầm dọc. Đặc tính mặt cắt thường dựa trên các đặc tính mặt cắt của dầm bê
tông không bị nứt.
A.3.5.2.4 Đặt tải và kết quả
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong phân tích PEB, lực tổ hợp trong
các phần tử dầm và bản mặt cầu rời rạc phải được tổng hợp lại thành lực cắt, mô
men và lực dọc trục đối với từng bộ phận tổ hợp của cầu.
Những hạn chế của phân tích PEB bao gồm:
. Xoắn vênh không được mô hình
hóa, mặc dù có thể thực hiện gần đúng.
. Ứng xử khung ngang 3D được
tính gần đúng với các phần tử đường đơn.
A.3.5.3 Độ cứng của
vách ngăn / khung ngang
Có thể mô hình hóa đơn giản các vách
ngăn thép hoặc bê tông bằng sử dụng các phần tử dầm đại diện cho toàn bộ mặt cắt
ngang của vách ngăn. Dạng phần tử kể đến biến dạng cắt được khuyến nghị, đặc biệt
là cho các cấu kiện có chiều cao thấp. Tùy thuộc dạng phần tử, một phần tử có
thể đủ để nắm bắt các lực trong vách ngăn, với nhiều phần tử hơn cần thiết để
có được dạng chuyển vị.
Khung ngang kiểu giàn thép là các cấu
kiện bản bụng hở gồm biên dưới, một hoặc nhiều (thường là hai) thanh chéo, và
có thể là biên trên. Trong phân tích lưới hoặc PEB, toàn bộ khung ngang được đại
diện bởi một cấu kiện đơn lẻ.
Khung ngang trong cầu chéo có thể làm
việc như là đường truyền tải thay thế và phân bố tải trọng thẳng đứng theo
phương ngang.
Khi có thể, phương pháp dầm
(Timoshenko) biến dạng sử dụng cả mô men quán tính tương đương (Ieq) và tiết diện
tương đương (Aeq) được khuyến nghị để mô hình hóa độ cứng khung
ngang trong thiết kế cấu thông thường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp xử lý xoắn trong mô hình
phân tích PTHH 2D là rất quan trọng vì hai nguồn độ cứng xoắn Saint-Venant và độ
méo vênh. Lý thuyết xoắn Saint-Venant giả định như sau:
- Lực xoắn là không đổi
- Mỗi mặt cắt ngang xoay như một vật cứng
(không làm biến dạng dạng mặt cắt ngang)
- Tỉ số xoắn không đổi
- Các mặt cắt tự do cong vênh, tức là dịch chuyển
theo hướng dọc nhưng bị cong vênh giống nhau cho tất cả các mặt cắt ngang.
Với lực xoắn Saint-Venant, chỉ có ứng
suất cắt được tạo ra. Xảy ra hiện tượng kiềm chế xoắn khi các mặt cắt ngang
không tự do bị cong theo hướng dọc và phát sinh ứng suất pháp.
Trong hầu hết các chương trình phân
tích PTHH, các phần tử dầm đường chỉ mô hình hóa độ cứng xoắn Saint-Venant (GJ)
mà không có độ cứng xoắn cong vênh (ECw).
Nếu độ cứng xoắn là quan trọng trong
mô hình phần tử đường có các mặt cắt hở hoặc các mặt cắt khác, khi độ cứng cong
vênh là đáng kể, hoặc là hằng số xoắn có hiệu kết hợp cả hai độ cứng cong vênh
và độ cứng Saint-Venant nên được sử dụng, hoặc là các mặt cắt có thể được rời rạc
hóa hơn nữa để có các ứng xử chính xác.
Mô hình hóa độ cứng xoắn quan trọng
hơn khi có tải trọng xoắn đáng kể, như trong cầu cong và/hoặc cầu xiên.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Hệ thống lưới dầm mặt cắt hở thành mỏng
- Hệ thống lưới dầm mặt cắt hở chắc và
kín
- Mặt cắt giả kín (chẳng hạn dầm thép dạng lòng máng)

Hình A.10 -
Tính độ cứng xoắn Saint-Venant cho dầm I
Chi tiết xem thêm trong tài liệu tham
khảo Manual for Refined Analysis in Bridge Design and Evaluation May 2019,
FHWA-HIF-18-046.
A.3.5.5 Mô hình hóa kết
cấu liên hợp
Đối với các tính chất của bản mặt cầu
bê tông, nói chung bản được giả định là không bị nứt và làm việc trên toàn bộ
chiều dài cầu, bao gồm các bộ phận chịu kéo, khi lập mô hình phân bố tải trọng
trong cầu, nhưng độ bền kéo được bỏ qua khi thiết kế các cấu kiện với các tải
trọng đó.
Khuyến nghị rằng, độ cứng của dầm bản
cho các mô hình khác nhau có thể điều chỉnh bằng cách sử dụng độ dày có hiệu hoặc
mô đun đàn hồi có hiệu cho bản mặt cầu bê tông.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.6.1 Các loại phần
tử và việc sử dụng
Có thể sử dụng nhiều loại phần tử
trong mô hình phân tích PTHH 3D. Chú ý khi dùng các loại phần tử hỗn hợp cần đảm
bảo phần tử tương thích DOF tại các nút chung. Ví dụ kết nối phần tử dầm có độ
cứng quay với phần tử khối chỉ có độ cứng tịnh tiến sẽ không dẫn đến truyền
mômen qua nút.
Phần tử thanh (dàn): Phần tử dàn
2 lực là cấu kiện có thể đơn giản nhất. Đối với cầu dầm bản thường sử dụng loại
phần tử này cho các thanh chéo khung ngang thép.
Phần tử dầm: Thường sử dụng các phần
tử dầm cho biên trên và biên dưới khung ngang thép, bản cánh dầm, bản cánh vách
ngăn, vách ngăn (nếu bản bụng không được lập mô hình bằng các phần tử shell),
và khi mô hình các sườn tăng cường dọc và ngang. Tùy thuộc vào cách tấm bê tông
được mô hình hóa, các phần tử dầm cũng có thể được sử dụng như là các liên kết
chịu cắt.
Phần tử mặt (Shell): Các bộ phận
cầu khi các phần tử mặt tiêu biểu được sử dụng gồm: mặt cầu bê tông, bản cánh
và sườn dầm, đặc biệt đối với các cấu kiện hộp, và các vách ngăn tấm. Các phần
tử mặt cũng
có
thể được dùng cho sườn tăng cường và vách ngăn.
Phần tử khối: Các phần tử khối có
lợi để mô hình hóa hình học ba chiều rõ ràng và có đầy đủ trường ứng suất ba
chiều. Các phần tử khối ít sử dụng trong thiết kế cầu thông thường, ngay cả
trong phân tích 3D, do số lượng lớn của DOF liên quan đến việc mô hình hóa các
mặt lớn phẳng tương đối mỏng với các phần tử khối và dẫn đến nỗ lực tính toán
cao và khó khăn trong việc trích xuất các lực thiết kế.
Ràng buộc và Liên kết cứng: Các ràng buộc
như liên kết cứng có thể được sử dụng để kết nối chặt chẽ các phần tử có nút
không trùng nhau. Một số ví dụ về việc sử dụng cho các liên kết cứng bao gồm mô
hình hóa tác động tổ hợp giữa dầm và bản mặt cầu, mô hình hóa bù giữa trọng tâm
và bề mặt của phần tử, trong đó kết nối phần tử phụ, và các phần tử mô hình hóa
rất cứng so với các phần tử xung quanh, chẳng hạn như bệ nạng chống bê tông
tích hợp.
Phần tử lò xo và điểm: Có thể sử dụng
các phần tử lò xo và điểm tại các giao diện hoặc các điều kiện biên, chẳng hạn
như khi có các gối, hoặc để mô hình hóa độ cứng của kết cấu dưới / nền móng.
A.3.6.2 Hình học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ưu điểm của mô hình PTHH 3D cho phân
tích dầm đường, lưới, bản và dầm lệch tâm (PEB) là có thể mô hình hóa một cách
rõ ràng tương tác giữa các dầm, ứng xử khung ngang và phân phối trực tiếp tải. Điều này
có thể quan trọng như mức độ phức tạp hình học tăng, ví dụ như với các cầu có độ
cong hoặc chéo cao. Độ chính xác tăng đạt được bằng kết hợp hình dạng và độ cứng
chính xác, bao gồm cả việc đặt bản mặt cầu tại cao độ chính xác, mô hình hóa
các vách ngăn và / hoặc khung ngang tại các vị trí thực tế, phân phối tải thông
qua độ cứng của phần tử và bằng cách mô hình hóa gối, tức là các điều kiện biên
một cách chính xác. Tăng độ chính xác của mô hình dẫn đến tăng độ chính xác đối
với các hiệu ứng lực tĩnh tải và hoạt tải được sử dụng trong thiết kế.
A.3.6.2.2 Vị trí dầm
Các dầm nên được đặt ở khoảng cách từ
tâm đến tâm đề xuất của chúng, thường xác định trong giai đoạn thiết kế sơ bộ
trước đó, hoặc trong trường hợp cầu hiện có tại khoảng cách tâm thực tế đo được
tại hiện trường.
Khuyến khích sử dụng khoảng cách giữa
các tâm bản cánh sao cho các bản cánh ở đúng vị trí; nếu như các bản cánh không
ở vị trí thích hợp, độ cứng bị đánh giá thấp có thể là quan trọng, đặc biệt là
đối với dầm cầu cạn, được xác định là cao dưới 1250 mm.
A.3.6.2.3 Vị trí bản
bê tông
Bản bê tông được mô hình hóa sao cho
cao độ tâm nằm ở đúng vị trí. Điều này có thể đạt được bằng một trong hai cách:
mô hình hóa độ dày giữa bản ở cao độ chính xác và kết nối bản cánh với tấm bằng
nhiều phương pháp khác nhau như liên kết cứng hoặc bằng cách mô hình hoá bản ở
cùng độ cao với bản cánh trên dầm và sử dụng sự bù đắp để đạt được vị trí chính
xác, như một số chương trình phân tích PTHH cho phép.
A.3.6.2.4 Vị trí khung
ngang/
vách
ngăn
Khung ngang và vách ngăn là các cấu kiện
nằm giữa các dầm dọc. Khung ngang có thể có cấu hình giàn bụng hở của các cấu
kiện thép, thường dạng X hoặc K, trong khi vách ngăn là các cấu kiện đặc, có thể
là toàn bộ hoặc một phần độ cao dầm.
Khuyến nghị chỉ lập mô hình khung
ngang/ vách ngăn khi chúng được xét để phân bố lại tải, nếu không
nên loại bỏ chúng khỏi mô hình một cách thận trọng; các tấm kết nối / bản tăng
cứng được bao gồm
trong
các mô hình 3D và các nút nằm dọc theo độ cao để đặt khung ngang/vách ngăn chéo
ở hình dạng chính xác, đặc biệt là cho độ cao một phần khung ngang/ vách ngăn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.6.2.5 Vị trí gối / trụ đỡ
Các trụ đỡ được lý tưởng trong mô hình
phân tích PTHH 3D thường đặt tại nút ở giao điểm bản bụng - bản cánh, nơi có
các sườn tăng cường gối (hoặc vách ngăn trong trường hợp dầm cánh T). Điểm đỡ
này nói chung là đủ cho các thiết kế điển hình. Khi ứng suất cục bộ yêu cầu, mô
hình hóa một khu vực chịu lực chính xác hơn trên cánh sẽ thích hợp hơn.
A.3.6.3 Số phần tử
A.3.6.3.1 Yêu cầu
chung
Số phần tử cần thiết thay đổi tùy thuộc
vào loại phân tích, phần tử được sử dụng và độ chính xác mong muốn. Phân tích kết
cấu nguyên để xác định mô men uốn, lực cắt và chuyển vị cho mục đích thiết kế
thông thường yêu cầu ít phần tử hơn so với khi kiểm tra các chi tiết cụ thể như
ứng suất cục bộ trong lỗ khoét bụng dầm thép hoặc đầu dầm bê tông bị xiên.
Theo quy tắc chung, nếu tăng số lượng
phần tử dẫn đến chênh lệch ít hơn 5%, thì sử dụng lưới thô hơn là đủ.
Các nút “động” hoặc các nút không kết
nối với các phần tử khác thường phải tránh ở các giao diện vì sự không tương
thích về chuyển vị, chẳng hạn như các khe hở hoặc các phần tử chiếm cùng một
không gian có thể.
A.3.6.3.2 Tỷ số mặt cắt
của phần tử và biến dạng hình học
Tỷ số mặt cắt đến 5:1 cung cấp kết quả
chính xác trong hầu hết các trường hợp. Khuyến nghị quy tắc “ngón tay cái” là
các góc trong của các phần tử phải bằng góc lý tưởng cộng hoặc trừ 60%. Tùy thuộc
dạng phần tử, việc ứng dụng và lời giải sử dụng, có thể chấp nhận tỷ số mặt cắt
lớn hơn và biến dạng vặn hình học, nhưng cần phải xác minh kết quả.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Số phần tử dọc theo chiều dài dầm cho
bản cánh phải bằng số phần tử dọc theo chiều dài của bản bụng sao cho các nút
được sắp xếp và kết nối với nhau. Khuyến nghị số nút trên mỗi dầm tối thiểu là
5 và tốt nhất là 9.
Mô hình hóa các bản cánh bằng cách sử
dụng các phần tử dầm được khuyến nghị cho dầm I. Nếu sử dụng các phần tử vỏ, cần
ít nhất hai phần tử để xác định chiều rộng bản cánh cho các dầm I, một ở mỗi bên của trọng
tâm bản bụng. Đối với dầm hộp, ít nhất cần hai phần tử và khuyến nghị là bốn phần tử để
có được các hiệu ứng trễ cắt.
A.3.6.3.4 Bản bụng dầm
Để có được ứng xử cắt parabol trong thiết kế cầu
điển hình, khuyến nghị sử dụng ít nhất bốn phần tử trong toàn bộ chiều cao bản
bụng, nhưng số này có thể giảm nếu ứng xử cắt parabol là không quan trọng.
A.3.6.3.5 Khung ngang
và vách ngăn
Khung ngang:
Khung ngang/vách ngăn thường được mô
hình hóa bằng cách sử dụng các phần tử thanh (giàn). Chỉ một phần tử là cần thiết
cho mỗi thanh chéo vì chỉ xem xét lực dọc trục.
Biên trên và dưới của khung ngang thường
được mô hình hóa bằng các phần tử dầm, nhưng cũng có thể mô hình hóa bằng các
phần tử vỏ khi khảo sát ứng suất cục bộ. Nếu đã sử dụng các phần tử vỏ, một phần
tử cho mỗi cánh thép góc hoặc hai phần tử cho bản cánh dạng WT và một phần tử
cho thân hình chữ WT là hợp lý.
Đối với các phần tử vỏ, số phần tử dọc
theo chiều dài của bộ phận biên phải cung cấp tỉ số mặt cắt phần tử hợp lý. Nếu
sử dụng các phần tử dầm, tùy dạng phần tử, một phần tử có thể đủ để nắm bắt ứng
xử của cấu kiện biên. Nếu biên trên tổ hợp với dầm, thì số phần tử phải phù hợp
với số phần tử dầm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các vách ngăn cho mô hình 3D có thể được
xác định bằng cách
sử dụng các phần tử vỏ cho bản bụng và phần tử dầm cho bản cánh. Bốn phần tử
khuyến nghị cho toàn bộ chiều cao của vách ngăn, với tối thiểu hai phần tử
trong các vách ngăn có độ cao một phần, lưu ý rằng số phần tử sử dụng trong bản
bụng phải cung cấp tỷ số mặt cắt hợp lý và phải tương thích với bản bụng dầm. Số
phần tử cho các bản cánh phải phù hợp với số phần tử sử dụng dọc theo chiều dài
bản bụng và bản bê tông nếu là liên hợp.
Khuyến nghị các phần tử vỏ của vách
ngăn đặc tiết diện chữ nhật có toàn bộ chiều cao trong cầu bê tông cũng được mô
phỏng với bốn phần tử.
A.3.6.3.6 Tấm bản mặt cầu
Mô hình 3D cho bản mặt cầu được mô phỏng
tương tự như bản mặt cầu trong mô hình PEB. Khác biệt chính là tâm của bản mặt
cầu được gắn với phần tử bản cánh dầm trong mô hình 3D chứ không phải là các trọng
tâm tương ứng của dầm và các phần tử đường dầm được gắn vào như trong PEB.
A.3.6.3.7 Sườn tăng cường
Các sườn tăng cường ngang ít khi được
mô hình hóa trong thiết kế cầu thông thường. Nếu có yêu cầu, các sườn tăng cường
ngang có thể được mô hình hóa bằng các phần tử dầm kéo dài từ bản cánh trên đến
bản cánh dưới.
A.3.6.4 Diễn giải kết
quả phân tích
Khi sử dụng kỹ thuật phân tích chính
xác, đặc biệt khi các mô hình phức tạp, các lực và chuyển vị phát sinh từ những
ứng xử trước đây bị bỏ qua này thường không quan trọng đối với thiết kế kết cấu,
nhưng có thể gây ra nhầm lẫn khi khung tham chiếu của kỹ sư là phân tích dầm đường.
A.3.7 Điều kiện
biên
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các điều kiện biên là những kiềm chế
thường áp dụng tại gối cầu, hoặc nền móng của kết cấu dưới, ở các tọa độ tổng
thể sao cho mô hình chỉ được phép biến dạng theo cách quy định tại các điểm kiềm
chế nhất định khi áp dụng tải trọng. Các điều kiện biên sẽ tái tạo ứng xử của
các gối, mố, trụ cầu, hoặc nền móng theo yêu cầu.
Các điều kiện biên có thể phản ánh:
- Mức độ dung sai cho chuyển vị theo
các hướng kiềm chế trong một gối điển hình,
- Có sự kéo theo do co giãn nhiệt độ
ngang không,
- Chuyển vị dọc của gối do xoay dầm,
- Lún gối đỡ tiềm năng,
- Độ cứng của kết cấu dưới,
- Tương tác kết cấu đất, nếu có.
A.3.7.2 Các điều kiện
biên được lý tưởng hóa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Khớp,
- Cố định,
- Không bị kiềm chế,
- Giãn nở có dẫn hướng.
Điều quan trọng để đảm bảo rằng các
chuyển vị được phép ở các điều kiện biên được sử dụng trong phân tích đủ phù hợp
với những phân tích trong cầu thực tế; sự khác biệt giữa thực tế và các gối đỡ
được mô hình hóa có thể các lực xung kích đáng kể lên dầm hoặc kết cấu phần dưới.
A.3.7.3 Điều kiện
biên lý tưởng hóa và thực tế
Một số điều kiện thực tế như gối không
thẳng, ma sát, gối không đúng là tự do hoàn toàn hoặc kiềm chế hoàn toàn, v.v. có
thể là đủ cho phân tích thông thường, nhưng đôi khi cần được mô hình hóa chính
xác hơn. Ví dụ mô hình hóa hệ đỡ với độ cứng lò xo xấp xỉ với độ cứng gối thực
tế hơn sử dụng các hệ đỡ kiên cố có thể dẫn đến sự phân bố lực phản ứng thực, đặc
biệt là ở cầu cong hoặc chéo đáng kể.
A.3.7.4 Gối
Khi chỉ kết cấu dưới được mô hình hóa, các điều
kiện biên thường được mô hình ở vị trí gối. Khi kết cấu dưới được mô hình hóa
cùng với kết cấu trên, phải mô hình hóa gối như phần tử giao diện giữa kết cấu
phần trên và kết cấu dưới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3.8 Mô hình
TTGHCĐ và TTGHSD
Trong tiêu chuẩn thiết kế có sự phân
biệt giữa các TTGHSD và các TTGHCĐ, với việc sử dụng các hệ số khác nhau. Việc
vượt quá TTGHSD có thể dẫn đến các vấn đề bảo trì, dao động hoặc một số hư hỏng
nhỏ cho kết cấu, trong khi vượt quá TTGHCĐ có thể dẫn đến hỏng kết cấu hoặc một
bộ phận của kết cấu. Từ quan điểm xác suất, một số giới hạn của TTGHSD có thể
được chấp nhận, trong khi TTGHCĐ nên có một xác suất nhỏ.
Sự khác biệt này chuyển sang mô hình
hóa. Trong nhiều trường hợp, các mô hình khác nhau nên được sử dụng cho các
TTGHCĐ và TTGHSD.
A.3.9 Trình tự xây
dựng / chất tải theo giai đoạn
Thông thường trong thiết kế cầu, toàn
bộ kết cấu ban đầu được giả định là được xây dựng với mức các bước là tối thiểu,
không liên quan đến trình tự. Các dầm được mô hình hóa hoàn chỉnh từ đầu đến cuối
của cầu. Trọng lượng bê tông bản mặt cầu ướt cũng được tác dụng lên mố trong một
bước duy nhất. Sau đó các tải trọng chồng lên nhau được đặt trên kết cấu liên hợp
đầy đủ. Đây không phải là cách những cây cầu thực sự được xây dựng.
Có nhiều cách khác nhau có thể sử dụng
để xây dựng cầu, mỗi cách có một trình tự chất tải riêng. Trường hợp tải quan
trọng nhất có thể xảy ra tại một số thời điểm xây dựng, ví dụ ổn định của cầu dầm
liên hợp trước khi bê tông mặt cầu cứng lại. Vì thế, nên thực hiện phân tích
trình tự xây dựng để đảm bảo cầu không vượt quá TTGH bất kỳ tại bất kỳ thời điểm
nào trong quá trình xây dựng, cũng như đạt đến trạng thái ứng suất mong muốn
trong điều kiện cuối cùng.
A.4 Mô hình hóa cầu
bê tông / cầu thép
A.4.1 Cầu bê tông
A.4.1.1 Hướng dẫn lập
mô hình
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với hầu hết thiết kế cầu bê tông
thông thường, nên sử dụng các đặc tính của vật liệu bê tông đàn hồi tuyến tính.
Để phân tích nâng cao hơn, các mô hình vật liệu phức tạp hơn có thể được yêu cầu
với đặc điểm vật liệu bê tông bổ sung, như từ biến, co ngót, nứt.
A.4.1.1.2 Mô men quán
tính phần tử dầm bê tông
Độ cứng uốn của cấu kiện bê tông có thể
thay đổi theo tải trọng tác dụng. Khi mô hình hóa cấu kiện bê tông với các phần
tử dầm, các tùy chọn độ cứng khác nhau được xử lý tốt nhất bằng cách sử dụng
môđun đàn hồi không đổi và điều chỉnh mômen quán tính phần tử dầm. Cho đến khi
đạt được mômen nứt, độ cứng uốn được mô hình hóa tốt nhất bằng cách sử dụng tổng
mômen quán tính dựa trên mặt cắt bê tông nguyên.
Tại điểm cốt thép đạt đến chảy đầu
tiên, độ cứng được mô hình hóa tốt nhất bằng mômen quán tính nứt, được tính bằng
cách bỏ qua toàn bộ bê tông trên phần kéo của trục trung hòa và biến đổi diện
tích thép ở mặt kéo, tất cả đều được xác định tại điểm trạng thái mômen cực hạn.
Đối với các phân tích khi mô men nứt bị
vượt quá nhưng thép chưa bị chảy, chẳng hạn như xác định độ võng do hoạt tải,
mômen quán tính có hiệu là phù hợp. Điều này là bởi vì nứt xảy ra ở các vị trí
rời rạc, và độ cứng ở giữa các vết nứt lớn hơn độ cứng nứt.
Mômen quán tính nguyên và mômen quán
tính nứt cực hạn là hai giới hạn đối với độ cứng của phần tử bê tông phụ thuộc
vào tác dụng của lực mà ban đầu chưa biết. Lưu ý các hiệu ứng lực dọc trục cũng
ảnh hưởng đến giá trị cho mô men nứt và chảy, do đó độ cứng của phần tử càng
thêm phức tạp.
Việc xác định độ cứng nào để sử dụng
phụ thuộc vào loại phân tích thực hiện. Độ chính xác bổ sung của các hiệu ứng lực,
đạt được thông qua việc sử dụng điều chỉnh lặp đi lặp lại của độ cứng dọc theo
chiều dài của các bộ phận bê tông dựa trên các tác dụng lực tương tự, là thường
không đáng để nỗ lực bổ sung. Như vậy một giá trị mômen quán tính không đổi thưởng
là thích hợp. Đối với phân tích TTGHCĐ, tĩnh tải và hoạt tải của kết cấu cầu,
khuyến nghị sử dụng độ cứng nguyên của bê tông trong toàn bộ mô hình.
Đối với các phân tích địa chấn, khi khớp
dẻo và ứng xử vật liệu phi tuyến dự kiến là đáng kể, cần phải xem xét bổ sung.
Nếu sử dụng phương pháp thiết kế dựa trên chuyển vị, độ cứng thấp hơn thường
mang tính bảo thủ. Trong trường hợp này nên sử dụng giá trị độ cứng có hiệu hoặc
thậm chí bị nứt. Đối với các phương pháp dựa trên lực, sử dụng tính chất mặt cắt nguyên
có thể bảo thủ hơn.
A.4.1.1.3 Mô hình các mặt
cắt ngang không phải hình lăng trụ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.4.1.1.4 Hiệu ứng trễ
trượt
Trễ trượt đề cập đến ảnh hưởng của độ
cứng cắt trong mặt phẳng và cách nó thay đổi phân bố ứng suất pháp từ đó dự
đoán bằng lý thuyết dầm đơn giản. Ví dụ trong dầm hộp, trục ứng suất uốn có xu
hướng lớn hơn trong bản cánh tại điểm kết nối với sườn. Ứng suất có xu
hướng giảm về phía giữa bản cánh giữa các sườn và về phía các đầu bản cánh của
phần nhô ra do biến dạng cắt trong mặt phẳng. Do đó các khu vực này "trễ"
so với ứng suất do cắt.
Hiệu ứng là lớn nhất khi mô men thay đổi
nhanh chóng dọc chiều dài của một phần tử, đó là cách nói khác khi lực cắt lớn.
Càng có nhiều điểm kết nối giữa các các phần tử của mặt cắt ngang, hiệu ứng trễ
cắt càng nhỏ.
A.4.1.1.5 Mô hình hóa
các vách ngăn trong dầm hộp bê tông
Các vách ngăn bên trong chiếm một tỷ lệ
nhỏ của chiều dài tổng thể của cấu kiện, do đó không cần thiết phải tính đến độ
cứng của vách ngăn bên trong trong mô hình phần tử dầm. Trọng lượng của các
vách ngăn bên trong có thể được tính bằng cách sử dụng tải trọng tác dụng.
Khi sử dụng mô hình phần tử vỏ, bao gồm
các vách ngăn trong mô hình sẽ tránh hư cấu ứng suất lớn tại các gối tựa nếu một
điểm (hoặc một cặp điểm) sử dụng để mô hình hóa các gối. Mô hình hóa rõ ràng vách
ngăn đỡ cũng cung cấp vị trí cho các cáp được neo để mô hình hóa rõ ràng các
cáp ứng suất trước. Mô hình hóa vách ngăn trong mô hình phần tử vỏ có thể được
thực hiện bằng cách sử dụng phần tử shell hoặc phần tử solid. Lợi thế của phần
tử vỏ là phân tích ít phức tạp hơn, nhưng nhược điểm là các phần tử shell thường
được sử dụng khi độ dày của bộ phận nhỏ hơn đáng kể so với bộ phận khác kích
thước không phải lúc nào cũng đúng với các vách ngăn bê tông bên trong. Sử dụng
phần tử solid cho phép mô hình hóa hình học vách ngăn thực tế nhưng việc phân
tích trở thành phức tạp hơn.
A.4.1.1.6 Xem xét các
điều kiện biên
Các điều kiện biên đối với cầu bê tông
có thể khác nhau tùy thuộc vào loại công trình. Đối với dầm bê tông đặt trên gối,
kết cấu phần trên và kết cấu phần dưới có thể được thiết kế riêng biệt. Đối với
dầm bê tông gắn liền với kết cấu phần dưới, điển hình là dầm bê tông đúc tại chỗ,
mô hình thích hợp của kết cấu phần dưới và độ cứng của móng là cần thiết để dự
đoán chính xác các tác động lực của kết cấu phần trên.
A.4.1.2 Hiệu ứng phi
tuyến phụ thuộc thời gian
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để phân tích, những điểm chính cần xem
xét khi quyết định việc đưa những ảnh hưởng này vào phân tích là:
- Kết cấu bê tông trải qua sự thay đổi
trong hệ tĩnh định sau khi tác dụng của tải trọng nói chung sẽ dễ bị ảnh hưởng
bởi các hiệu ứng của từ biến trong đó các hiệu ứng tải sẽ khác nhau theo thời
gian do từ biến. Hệ tĩnh định đề cập đến cách cầu được đỡ tại các giai đoạn xây
dựng khác nhau. Ví dụ cầu được xây dựng bằng phương pháp hẫng cân bằng được
chuyển thành dầm liên tục khi thực hiện đổ hợp long giữa nhịp, và do đó dễ bị
hiệu ứng từ biến.
- Từ biến thực tế của kết cấu có thể
khác đáng kể so với kết cấu được tính toán trong thiết kế. Ảnh hưởng sự thay đổi
từ biến đối với kết cấu nên được điều tra bằng cách ràng buộc các tính toán từ
biến và đảm bảo kết cấu có thể thích ứng với một loạt các cường độ từ biến.
- Thông thường người thiết kế quan tâm
hai giai đoạn trong vòng đời của kết cấu: trong giai đoạn xây dựng và sau khi tất
cả ảnh hưởng lâu dài đã xảy ra (giá trị điển hình của 10.000 ngày, tức 30 năm,
sử dụng làm thời gian kết
thúc hợp lý khi không có thêm tác động từ biến nào). Tải trọng tác dụng tăng
lên thì biến dạng từ biến cũng tăng lên.
- Một cách kiểm tra đơn giản hữu ích đối
với kết quả phân tích từ biến là tính hệ số từ biến có hiệu, là tỷ số giữa biến
dạng từ biến so với biến dạng đàn hồi ban đầu, thường nằm trong khoảng từ 0,5 đến
4,0, phổ biến có giá trị là 2,0. Nếu một phân tích chính xác bao gồm các hiệu ứng
từ biến dẫn đến tỷ lệ ngoài phạm vi này, cần xem xét cẩn thận đầu vào và kết quả
theo thứ tự.
- Mô hình từ biến mặc định trong một chương
trình phân tích cụ thể có thể hoạt động tốt hơn đối với một số loại phần tử hơn
những phần tử khác, tức là phần tử dầm chứ không phải phần tử vỏ. Tùy thuộc vào
chương trình, đầu vào cho thuộc tính vật liệu phi tuyến có thể tự động được
tính toán cho các loại phần tử nhất định trong khi người thiết kế phải tính
toán các giá trị cho các loại khác của các phần tử.
A.4.1.3 Dự ứng lực
căng trước và căng sau
A.4.1.3.1 Quy định
chung
Không nhất thiết phải kể đến ảnh hưởng
của dự ứng lực căng trước và căng sau trong mô hình phân tích, đặc biệt khi bố
trí cáp phức tạp. Không như phân tích tay điển hình cho lực ứng suất trước, lực
ứng suất trước sơ cấp và thứ cấp không tính riêng mà được áp dụng cho mô hình
và phần mềm giải quyết cho hiệu ứng tổng. Các mômen chính là do độ lệch tâm của
cáp (tức là P.e). Mômen thứ cấp phát triển do gối đỡ trung gian của các kết cấu
kiềm chế chuyển vị tự do dưới ứng suất trước. Nếu muốn các hiệu ứng ứng suất
trước chính có thể được giải quyết riêng biệt, và trừ đi để xác định các hiệu ứng
phụ. Tuy nhiên, với những phân tích chính xác thường có ít lý do để làm điều
này, đặc biệt nếu từ biến được bao gồm trong ứng xử của mô hình.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp tải trọng tương đương là
cách tiếp cận trong đó lực căng trước / căng sau được biểu thị bằng tải trọng
ngoài tạo ra hiệu ứng tải tương đương với ứng suất trước. Trong phương pháp
này, vì đã biết bố
trí cáp và lực kích, sử dụng thông tin này để xác định tải trọng tương đương áp
dụng cho kết cấu trong mô hình phân tích và có tác dụng tương tự như cáp mà
không cần phải mô hình hóa riêng. Lưu ý rằng tải trọng sử dụng
để mô hình hóa lực ứng suất trước phải tự cân bằng, nghĩa là không được có phản
ứng khi nhìn vào toàn bộ kết cấu.
Có thể sử dụng phương pháp tải trọng
tương đương để phân tích các dầm đường (1D). Ngoài ra, có thể sử dụng trong
phân tích lưới / PEB (2D) cũng như phân tích 3D. Trong một số trường hợp nhất định,
người thiết kế đang xem xét các tác động cục bộ, chẳng hạn như ứng suất trong
các khu vực neo, phương pháp tải trọng tương đương không sử dụng.
Cáp thẳng:
Cách bố trí đơn giản nhất là bố trí
cáp đặt song song với trọng tâm của bê tông. Các cáp thường được đặt lệch tâm để
sử dụng hiệu quả cường độ nén của bê tông và cường độ kéo của cáp, để chịu tải
áp dụng (hình A.11, a, b).
Cáp xiên:
Đó là cáp bị gấp khúc, thường ở một hoặc
hai điểm giữ dọc dầm. Tại mỗi điểm giữ có lực hướng lên do góc của cáp thay đổi,
chống lại thành phần tổng thẳng đứng của lực ứng suất trước (hình A.11.c, d).
Cáp cong:
Cáp cong tương tự như cáp gấp khúc,
ngoại trừ chúng tạo thành một cung liên tục. Tác dụng theo phương thẳng đứng của
lực ứng suất trước từ các sợi cáp cong là một tải trọng phân bố, lực dọc trục
tác dụng đồng tâm vào dầm và lực ứng suất trước và tác dụng lên dầm như một tải
trọng phân bố đều, mômen áp dụng tại các đầu dầm (hình A.12 a, b).
Cấu hình cáp chung:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình A.11 -
Minh họa, a) Cáp thẳng, b) Mô hình đơn giản hóa cáp thẳng, c) Cáp
xiên, b) Mô hình đơn giản hóa cáp xiên,

Hình A.12 -
Minh họa, a) Cáp cong, b) Mô hình đơn giản hóa cáp cong
Mặt cắt ngang không có hình lăng trụ
Các nội dung trên giả định mặt cắt
ngang dầm dọc chiều dài dầm là không đổi. Điều này thường xảy ra đối với dầm nhịp
đơn giản, nhưng có thể không phù hợp với nhịp liên tục, khi có thể cần tăng chiều
cao mặt cắt để chịu mômen âm gần các gối bên trong. Việc xác định tải trọng
tương đương đối với mặt cắt ngang không phải là lăng trụ tương tự như phương
pháp đối với mặt cắt lăng trụ. Tải trọng tương đương phụ thuộc vào biên dạng
cáp mà không phụ thuộc đặc tính mặt cắt của cấu kiện bê tông.
Mất mát ứng suất trước
Khi xác định được chính xác lực ứng suất
trước sử dụng trong phương pháp tải trọng tương đương, cần tính toán các khoản
mất mát. Từ biến, co ngót,
biến dạng co ngắn đàn hồi, trùng cáp, ma sát do bộ neo, ma sát do cong và ma
sát lắc làm giảm lực trong cáp. Tổn thất do từ biến, co ngót, co ngắn đàn hồi
và trùng cáp thường được giả định là không đổi theo chiều dài dầm và tác dụng của
chúng được kết hợp bằng cách giảm tải trọng tương đương theo tỷ lệ của lực cuối
cùng so với lực ban đầu. Nếu thuộc tính vật liệu bê tông xem xét riêng tổn thất
do từ biến và co ngót, thì những tổn thất này không cần tính toán và được bao gồm
trong tải trọng tương đương.
Bố trí cáp thực tế và bố trí cáp lý tưởng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cáp ngoài / không dính bám
Cáp đặt bên ngoài mặt cắt của cấu kiện,
trong khoảng trống của dầm hộp bê tông, nói chung tất cả đều không dính bám.
Các đường cáp không dính bám còn là
cáp chạy trong các ống bọ bên trong bê tông nhưng các ống bọ không đầy vữa. Các
đường cáp bên ngoài / không dính bám được kết nối với các thành phần bê tông một
cách rời rạc các điểm dọc theo các đường cáp. Sự phân chia vật lý của việc
không dính bám là sự tương thích biến dạng không còn hợp lệ. Biến dạng trong
cáp có xu hướng đều giữa các điểm kết nối.
Mô hình hóa các dầm có cáp ngoài /
không dính bám bằng phương pháp tải trọng tương đương cũng tương tự của cáp thẳng
hoặc cáp xiên có dính bám, chịu tải trọng tương đương áp dụng ở vị trí neo và
các vị trí chuyển hướng, cũng như các điểm uốn. Phương pháp tải tương đương
không tính đến thay đổi lực ứng suất trước do biến dạng của mặt cắt, nên không
phân biệt cáp dính bám và không dính bám.
A.4.1.3.3 Xét cáp trong
mô hình phân tích
Một phương pháp khác kể đến ảnh hưởng
của căng trước và căng sau là bao hàm rõ ràng cáp trong mô hình phân tích.
Trong phương pháp này, các phần tử thanh hoặc dầm được xác định dọc theo đường
đi của cáp và phần tử đã chọn được gán các thuộc tính vật liệu và hình học của
cáp. Các yếu tố quan trọng cần xem xét gồm:
- Bố trí cáp cong có thể được xấp xỉ bằng
các đoạn thẳng tùy thuộc vào phần mềm. Nếu các đoạn thẳng là cần thiết, đoạn
cong phải được chia thành các đoạn đủ nhỏ để thể hiện chính xác đường cáp. Hướng
dẫn cụ thể về số lượng phân đoạn không có sẵn nhưng một góc tâm là 3,5°, tương
tự như được sử dụng cho phần tử chiều dài trong mô hình hóa mô hình dầm đốt sống
cong có thể được xem là phù hợp;
- Vị trí của các cáp có thể kiểm soát
lưới của dầm bê tông, nếu bố trí cáp thay đổi, toàn bộ mô hình có thể cần phải
được làm lại;
- Dính bám giữa bê tông và thép được
coi là hoàn hảo trừ khi ứng xử dính bám được xem xét trong mô hình;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.4.1.3.4 Các cách tiếp
cận khác
Phương pháp thứ ba để kể đến ảnh hưởng
của căng trước và / hoặc căng sau là sử dụng cách tiếp cận nhúng trong đó thép
được phân bố khắp trong bê tông và không được xác định sử dụng cạnh của phần tử
bê tông, nhưng đi qua phần tử đó. Sự đóng góp của cốt thép được xác định bằng số.
A.4.1.4 Vấn đề phân
tích và thiết kế
A.4.1.4.1 Thành phần thẳng
đứng của ứng suất trước
Trong cấu hình cáp ứng suất trước dạng
xiên hoặc cong, lực ứng suất trước thẳng đứng phát triển do vị trí thẳng đứng
trong cáp thay đổi và thường chống lại lực cắt do tải trọng trọng lực. Lực này
xuất hiện trong kết quả phân tích nhưng cũng xuất hiện trong phương trình khả
năng chịu cắt. Do đó người thiết kế phải quyết định xem có sử dụng lực này ở
phía khả năng chịu cắt của phương trình hoặc được đưa vào phía phương trình tải
trọng. Không được đưa vào cả hai phía của phương trình, nhưng nên đưa vào phía
dẫn đến thiết kế thận trọng hơn. Cần lưu ý rằng hệ số tải và hệ số kháng không
như nhau.
A.4.1.4.2 Các chiến lược
đối với hiệu ứng lực nhiệt
Hiệu ứng nhiệt thường được xác định bằng
cách sử dụng các thay đổi nhiệt độ đều hoặc gradient. Tác động lực nhiệt có thể
lớn và khống chế thiết kế các bộ phận cầu nhất định. Khó khăn trong thiết kế hiệu
ứng nhiệt là thiết kế thay đổi cần thiết để giảm tải này không đơn giản và
không dễ thấy, khi nhu cầu cao việc tăng kích thước tiết diện là giải pháp điển
hình nhưng đối với tải nhiệt thì có thể dẫn đến nhu cầu thậm chí còn lớn hơn.
A.4.1.4.3 Phân bố lực
cắt bản bụng
Có thể sử dụng các kỹ thuật phân tích
cổ điển có sẵn để xác định dòng cắt trong hộp nhiều ngăn. Các kỹ thuật này sử dụng
kết quả cắt và xoắn từ mô hình dầm đốt sống. Sử dụng kết quả lực cắt và xoắn, ứng suất
cắt trong mỗi sườn có thể được tính toán và tích hợp trên sườn để xác định lực
cắt trong mỗi sườn. Ngoài ra, một mô hình phần tử shell đơn giản có thể được tạo
ra và áp dụng lực cắt và lực xoắn từ mô hình dầm đốt sống. Ứng suất
cắt trong các phần tử vỏ có thể được lấy tổng cộng để xác định lực cắt trong mỗi
sườn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.4.2.1 Mô hình hóa
hình học và độ cứng thích hợp
Do các mô hình cầu dầm thép phức tạp
hơn, việc lập mô hình hình học một cách chính xác trở nên khó khăn hơn. Dù có
hình học chính xác đến 100% nhưng còn nhiều rắc rối hơn, cần nỗ lực để xét tất
cả các lực do tính lệch tâm hiện có, đồng thời giảm thiểu lực giả do lệch tâm
đưa vào bằng cách mô hình hóa gần đúng. Chạy phân tích tham số với mô hình đơn
giản hóa có thể có ích khi đánh giá nếu ước tính gần đúng ảnh hưởng đáng kể
đến kết quả. Kinh nghiệm và khả năng phán đoán cũng có giá trị trong việc xác định
gần đúng mô hình nào dẫn đến sự khác biệt không đáng kể.
Tùy mục tiêu thiết kế, mô hình hóa
chính xác độ cứng của cả phần tử chính và phần tử phụ có thể rất quan trọng, chẳng
hạn khi yêu cầu hình học bị chuyển vị. Trước khi lắp đặt khung ngang và/hoặc dầm
cứng, dầm thép có xu hướng tương đối mềm dẻo, nhất là dầm mặt cắt hở. Mô hình
hóa hình học ban đầu và trình tự xây dựng một cách chính xác có thể rất quan trọng, đặc
biệt là với các dầm cong và xiên
Trong cầu cong và xiên, khung ngang và
vách ngăn cũng có chức năng phân bố tải trọng theo phương ngang giữa các dầm
như kết cấu chính. Khi phân tích khung ngang và vách ngăn cho cầu cong và / hoặc
bị chuyển vị, độ cứng được mô hình hóa phải nhỏ hơn hoặc bằng độ cứng thực tế
khi tính toán các tác động của tải trọng dầm, và lớn hơn hoặc bằng độ cứng thực
tế khi tính toán hiệu ứng tải khung ngang/ vách ngăn.
Khi mô hình hóa các dầm thép cong tiết
diện hở với các phần tử đường, tính đến độ cứng xoắn là quan trọng. Điều này có
thể thực hiện bằng sử dụng độ cứng xoắn Saint-Venant có hiệu không đổi.
Đối với cầu có độ cong và xiên cao,
thiết kế phù hợp ban đầu của kết cấu thép có thể là cốt yếu. Việc tạo vồng khác
nhau để các dầm có cao độ cuối cùng chính xác có thể dẫn đến lực lắp của khung
ngang trong quá trình xây dựng và / hoặc lực khóa trong điều kiện cuối cùng
trong khung ngang.
Đối với hầu hết các thiết kế cầu dầm
thép điển hình thông thường, hiệu ứng bậc hai là không đáng kể và có thể được bỏ
qua. Trong một số ít trường hợp, chẳng hạn như cầu có trụ cao mảnh, hiệu ứng bậc
hai có thể có ý nghĩa.
A.4.2.2 Mỏi
A.4.2.2.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.4.2.2.2 Mỏi do tải
Thiết kế mỏi do tải yêu cầu tính toán
biên độ ứng suất danh nghĩa do tải mỏi, lựa chọn loại chi tiết thích hợp và kiểm
tra các chi tiết tương ứng phạm vi ứng suất cho phép. Danh mục các chi tiết
khác nhau có thể được tìm thấy trong tiêu chuẩn. Danh mục chi tiết dựa trên thử
nghiệm toàn diện trong phòng thí nghiệm và giải thích cho một số tham số có nhiều
thay đổi và khó định lượng trong thực tế (ví dụ cường độ ứng suất cục bộ và
kích thước gián đoạn ban đầu).
A.4.2.2.3 Mỏi do xoắn vênh
Biến dạng gây mỏi có thể xảy ra ở bất
kỳ vị trí nào mà các chuyển vị vi sai tồn tại và không thể xác định được đối với
một chi tiết nhất định và / hoặc phạm vi ứng suất danh nghĩa. Ví dụ vị trí phổ
biến cho mỏi do biến dạng gây ra là bản bụng cánh gần bản tại vị trí của bản
liên kết sườn tăng cường không gắn vào bản cánh gọi là khoảng cách bản bụng.
Chuyển vị khác nhau trong các dầm liền kề có thể dẫn đến ứng suất do biến dạng
trong khoảng trống bản bụng. Khung ngang cứng bị biến dạng dưới tải trọng kéo bản
bụng mềm ngoài mặt phẳng, trong khi bản cứng kiềm chế bản cánh phía trên, do đó
khe hở bản bụng cung cấp một điểm nhỏ có tính mềm cao.

Hình A.13 -
Biến dạng vặn ở khe bản bụng giữa bản cánh và bản liên kết sườn tăng cường
A.4.2.2.4 Cách tiếp cận
ứng suất kết cấu cục bộ
Cách tiếp cận ứng suất kết cấu cục bộ
(Local Structural Stress, LSS), một phiên bản của phương pháp “điểm nóng”, cố gắng
định lượng ứng suất kết cấu lớn nhất ở vùng lân cận của chi tiết bằng cách sử dụng
một phân tích tinh hơn là giải quyết nó thông qua phân loại. Ứng suất
kết cấu lớn nhất phụ thuộc vào tham số tải trọng và kích thước tổng thể của bộ
phận không kể hiệu ứng cục bộ bản thân biên dạng hàn. Ứng suất đỉnh phi tuyến
gây bởi sự gián đoạn cục bộ, chẳng hạn chân mối hàn, được loại trừ khỏi ứng suất
kết cấu.
Phương pháp LSS dựa trên việc đánh giá
chính xác ứng suất bề mặt tại chân mối hàn của chi tiết đang được khảo sát. Có
thể sử dụng mô hình phân tích PTHH phần tử vỏ hoặc phần tử rắn. Do điểm nhọn
gián đoạn ở chân mối hàn, gradient ứng suất trở nên dốc và nhạy cảm với kích
thước lưới của mô hình phân tích PTHH sử dụng trong phân tích. Để tránh lỗi do
gradient ứng suất, ứng suất kết cấu trên bề mặt ở chân mối hàn được ngoại suy từ
các điểm tham chiếu trên bề mặt của bản.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải sử dụng một lưới đủ mịn để xác định
biên độ ứng suất của kim loại cơ bản tiếp tuyến với vị trí lỗ cắt. Để phù hợp
hơn với cả các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm tiềm năng và các phân tích
chính xác khác, kết quả phân tích PTHH nên được đánh giá ở một khoảng cách nhỏ từ mép lưới.
Có thể sử dụng đường cong S-N để đánh
giá biên độ ứng suất.
4.2.2.6 Chiết giảm
biên độ ứng suất mỏi do biến dạng
Tính toán biên độ ứng suất bằng cách sử
dụng phân tích chính xác rất nhạy với độ cứng các bộ phận mô hình. Khi có thể, nên
hiệu chỉnh mô hình với các giá trị đo trên mẫu thử nguyên mẫu hoặc cấu kiện thực
của cầu. Khi không có điều kiện như vậy, việc hiệu chuẩn, đánh giá độ chính xác
của mô hình tùy thuộc vào nhận định của người phân tích. Trong trường hợp cải tạo,
ngay cả khi không biết giá trị tuyệt đối của biên độ ứng suất với độ chính xác
cao, có thể đánh giá tính năng tương đối của chiến lược chiết giảm biên độ ứng
suất thay thế.
Khi mô hình chính xác chỉ ra rằng biên
độ ứng suất tại chi tiết dễ bị mỏi lớn hơn hơn mức cho phép, có thể thực hiện các phân
tích tham số để xác định những gì cần làm để giảm biên độ ứng suất. Tùy từng
trường hợp, biên độ ứng suất cho phép có thể tương ứng với một tuổi thọ hữu hạn
hoặc tuổi thọ vô hạn. Các thiết kế mới thường hướng đến tuổi thọ vô hạn, trong
khi đó tính toán tuổi thọ hữu hạn còn lại cho cầu hiện có thường là đủ. Có hai
cách tiếp cận thiết kế có thể giảm bớt ứng suất, phương pháp tiếp cận cường độ
và phương pháp tiếp cận độ mềm.

Hình A.14 -
Sườn bản trực hướng, có và không có lỗ cắt
A.4.2.3 Liên kết kết
cấu thép bằng bu lông / đinh tán
Liên kết là một trong những đặc tính
quan trọng nhất của kết cấu thép. Ngoài ra, các liên kết có thể khó cải tạo hoặc
sửa chữa. Do đó bất kỳ phương pháp nào dẫn đến giảm kích thước hoặc sự phức tạp
của các liên kết hoặc dẫn đến xếp hạng khả năng tăng, sẽ có khả năng dẫn đến tiết
kiệm lớn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp tính tay phổ biến nhất cho
tải lệch tâm là phương pháp đàn hồi (hoặc vectơ) được coi là giới hạn dưới an
toàn. Phương pháp này giả định trạng thái cân bằng quanh trọng tâm bu lông và bỏ
qua khả năng tương thích biến dạng. Trong phương pháp đàn hồi, các hiệu ứng lực
đồng tâm phân bố đều cho các bu lông, trong khi các hiệu ứng lực do mômen phân
bố tuyến tính với khoảng cách từ tâm vuông góc với bán kính. Hiệu ứng độ cứng
chẳng hạn như tải hàng đầu tiên của bu lông lớn hơn được đề cập ngầm trong tiêu
chuẩn kỹ thuật bằng cách giảm khả năng của bu lông, và độ dẻo của liên kết / vật
liệu liên kết giả định để phân phối lại lực đồng đều hơn.
Phương pháp chính xác hơn, ít thiên về
an toàn hơn là phương pháp tới hạn giả định:
- Bản liên kết dưới tải trọng lệch tâm
xoay quanh tâm quay tức thời.
- Biến dạng xảy ra ở mỗi liên kết thay đổi tuyến
tính với khoảng cách từ tâm quay và tác dụng theo phương vuông góc với bán kính
từ liên kết đến tâm quay tức thời.
- Độ bền cực hạn của nhóm đạt được khi
đạt tới độ bền cực hạn của liên kết xa nhất từ tâm quay.
Sự khác nhau chính so với phương pháp
đàn hồi là tâm quay không được giả định ở tâm nhóm bu lông, mặc dù biến dạng vẫn
thay đổi tuyến tính với khoảng cách từ tâm quay, quan hệ lực / biến dạng, hoặc
độ cứng là có thể, nhưng không cần phải tuyến tính. Hạn chế chính của phương
pháp tới hạn là nó lặp đi lặp lại, tiếp cận giải pháp "chính xác" từ
giới hạn trên. Một tâm tức thời được giả định và sau đó kiểm tra cân bằng.
Mô hình hóa liên kết mối nối bằng bu
lông:
Sử dụng các phần tử vỏ để mô hình hóa
các bản nối và một giới
hạn chiều dài cấu kiện bản cánh và các tấm bản bụng tại liên kết. Các phần tử vỏ
cấu kiện chính lý tưởng là mở rộng hai đến ba lần kích thước lớn nhất của bộ phận
ngoài mối nối. Ngoài chiều dài này, có thể sử dụng các phần tử dầm để mô hình
hóa phần còn lại của cấu kiện. Tại giao điểm của phần tử vỏ và dầm, có thể sử dụng
các ràng buộc, liên kết cứng hoặc các phần tử cứng để đảm bảo tính tương thích.
Mô hình hóa liên kết bản tiếp điểm: Các mô hình
tiêu biểu có thể bao gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Tính chất vật liệu phi tuyến
- Tính chất phi tuyến hình học
- Tính không thẳng hàng danh nghĩa được kể đến
Để mô hình hóa các bản liên kết tiếp
điểm, sử dụng các phần tử vỏ để mô hình hóa các bản tiếp điểm, các bản mối nối,
và một chiều dài
giới hạn của cấu kiện khung ngang trong mối nối.
A.4.3 Mô hình hóa nền
móng và kết cấu dưới
Có thể thực hiện mô hình hóa kết cấu
dưới trong cùng mô hình phân tích như kết cấu trên cho bất kỳ mô hình nào,
nhưng chỉ yêu cầu khi tương tác giữa chúng ảnh hưởng đến ứng xử chung.
Đối với kết cấu trên cầu không phải là
toàn khối, ứng xử của kết cấu trên thường độc lập với ứng xử của kết cấu dưới,
và do đó kết cấu dưới không cần phải đưa vào mô hình kết cấu trên. Trong trường
hợp đó, các điều kiện gối đỡ cho kết cấu trên có thể được áp dụng tại vị trí của
các gối và các kết cấu phụ sau đó được phân tích riêng biệt bằng cách sử dụng
phản lực gối thích hợp được tìm thấy từ phân tích kết cấu trên.
Cần tính đến các trường hợp ảnh hưởng
của kết cấu dưới đến kết cấu trên, bao gồm kết cấu cầu có xà mũ trụ nạng chống
tích hợp, cầu mố liền khối, phân tích địa chấn và cầu liên tục có độ cứng kết
cấu dưới thay đổi. Có thể cần xem xét cụ thể cho các trường hợp kết cấu cầu
toàn khối, kết cấu liên tục, tương tác tổng thể.
Kết cấu toàn khối: Với cấu mố
toàn khối, ứng xử nền tác động đến kết cấu trên và dưới, ngoài mô men âm và
dương, còn hiệu ứng từ tải nhiệt và tương tác với các hiệu ứng tải khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tương tác tổng thể: Mặc dù các kết
cấu dưới thường không cần được mô hình hóa, nhưng chúng có thể được thêm vào bất
kỳ mô hình phân tích nào để đơn giản hóa việc xác định các tác động lực của kết
cấu dưới. Cách đơn giản nhất để giải thích ảnh hưởng của kết cấu dưới đối với kết
cấu trên là để bao gồm rõ ràng cả hai trong cùng một mô hình phân tích. Khi kết
cấu dưới được mô hình hóa rõ ràng, phải đảm bảo rằng các gối được mô hình hóa để
đạt được ứng xử thích hợp (ví dụ co giãn cố định so với co giãn có dẫn hướng)
và các thành phần này được mô hình hóa theo đúng các vị trí không gian.
Để đơn giản hóa việc trích xuất đầu ra
yêu cầu, thường mô hình hóa kết cấu dưới sử dụng các phần tử dầm đường. Ngay cả
các loại kết cấu dưới như trụ tường cũng có thể được mô hình hóa bằng cách sử dụng
phần tử dầm nếu biến dạng cắt được tính đến trong công thức phần tử và các tính
chất hình học thích hợp được ấn định. Để kết nối các bộ phận kết cấu trên với kết
cấu dưới đúng cao độ và vị trí ngang, có thể sử dụng các liên kết cứng hoặc các
ràng buộc (xem hình A.15, b,c).

a) Bố trí các nhịp liên tục
có gối cố định trên trụ cao, mảnh

b) Mô hình phần tử đường
c) Mô hình phần
tử đường có hình dạng cấu kiện
Hình A.15 -
Ví dụ mô hình kết cấu dưới với kết cấu trên bao gồm gối và liên kết cứng
A.5 Mô hình hóa nâng
cao
A.5.1 Khái quát
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.5.2 Tương tác kết
cấu - nền
A.5.2.1 Thông tin
chung
Trong hầu hết các trường hợp, hiệu ứng
tương tác kết cấu - nền (SSI) không tác động đáng kể đến ứng xử của kết cấu
trên và kết cấu dưới, và do đó không cần phải xem xét cho các bài toán phân tích cầu điển
hình. Các trường hợp ảnh hưởng của SSI có thể cần tính đến gồm:
- Phân tích địa chấn
- Phân tích chính xác cầu mố toàn khối
- Thiết kế hoặc đánh giá các móng nông
trên nền tương đối yếu
- Thiết kế hoặc đánh giá móng sâu
Ứng xử hiện thời của nền dưới tải trọng
thường là phi tuyến. Trước khi lựa chọn sử dụng phương pháp để xét SSI, cần
đánh giá mức độ ứng xử phi tuyến của móng với kết cấu cụ thể và mức tải được khảo
sát. Từ đó quyết định kiểu áp dụng phân tích SSI.
A.5.2.2 Móng nông
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu cần tính SSI cho móng nông thì có
thể sử dụng phương pháp tấm cứng để xác định các giá trị độ cứng cho từng bậc tự
do. Trong phương pháp này, nền móng được giả định là một tấm cứng nằm trong môi trường
đàn hồi (đất) và hệ số độ cứng được phát triển bằng cách sử dụng các phương
trình liên quan đến độ cứng của đất, kích thước nền móng và độ sâu của móng trong đất.
Mặc dù không bắt buộc, nhưng có thể cần sử dụng phương pháp chuyên sâu hơn nếu
hình dạng móng nông, tính chất của đất hoặc tải trọng không áp dụng được phương
pháp tấm cứng (ví dụ nếu móng tương đối mềm dẻo, như vậy độ cứng của nó có thể ảnh
hưởng đến ứng xử tổng thể). Các phương pháp này liên quan đến mô hình hóa móng
và sau đó tính ảnh hưởng của đất bằng cách sử dụng lò xo Winkler, hoặc bằng
cách mô hình hóa một phần liên tục đất bằng cách sử dụng các PTHH.

Hình A.16-
Minh họa, mô hình lò xo Winkler cho SSI cho móng nông
A.5.2.3 Móng sâu
Các phương pháp bao gồm SSI trong phân
tích móng sâu có thể áp dụng rộng rãi được phân thành bốn phương pháp sau:
Phương pháp độ sâu cố định, Phương pháp lặp cấu trúc con, Phương pháp lặp trực
tiếp, Phương pháp lặp trực tiếp. Các phương thức lặp bắt chước một phương thức
phi tuyến tính phân tích bằng cách thực hiện lặp các phân tích tuyến tính, thay
đổi độ cứng dựa trên các chuyển vị xác định.
Trong phương pháp cấu trúc con, mức độ
phức tạp của phân tích tổng thể giảm bằng cách sử dụng các mô hình phân tích
riêng biệt (và thường là các chương trình phân tích riêng biệt) cho phân tích kết
cấu tổng thể và
phân tích SSI. Phương pháp phi tuyến trực tiếp là phương pháp luận tinh tế và cần
thiết cho các trường hợp mà ứng xử phi tuyến là phổ biến và việc sử dụng các
phương pháp lặp rất khó sử dụng.
Phương pháp độ sâu cố định: Phương pháp
này yêu cầu sử dụng công thức/biểu đồ kinh nghiệm hoặc phần mềm tính móng như
COM624, LPILE, hoặc FB-MultiPier để xác định chiều dài có hiệu của cọc. Chiều
dài có hiệu này đại diện cho độ sâu để cố định cho một phân tích đơn giản hóa vị
trí của các cọc được mô hình hóa trong mô hình phân tích PTHH dưới dạng cột dầm,
sử dụng trụ đỡ cố định ở các nút dưới cùng và không hỗ trợ dọc theo chiều dài của
chúng.

Hình A.17 - Minh họa Biến dạng
ngang cọc và chiều sâu mô hình cố định
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để lặp lại và xác định các giá trị độ
cứng chính xác, một quy trình như được nêu dưới đây sẽ là sử dụng:
1) Ước tính nhu cầu về móng
2) Áp dụng các nhu cầu vào mô hình
móng
3) Chạy mô hình móng và xác định độ cứng
4) Áp dụng độ cứng trong mô hình phân
tích PTHH tổng thể
5) Chạy mô hình phân tích PTHH tổng thể
và xác định nhu cầu móng
6) Lặp lại các bước 1-5 cho đến khi đạt
được sự hội tụ (thay đổi kết quả khoảng nhỏ hơn hay bằng 10%)
Ngoài ra, quy trình có thể bắt đầu ở
Bước 4 bằng cách ước tính các giá trị độ cứng để sử dụng trong mô hình phân
tích PTHH tổng thể trong lần lặp đầu tiên. Không giống như trong phân tích địa
chấn, khi tải trọng phụ thuộc vào độ cứng được phát triển từ sự tương tác của
móng với nền, để phân tích không địa chấn những thay đổi về độ cứng đầu vào không có
khả năng gây tác động mạnh, và do đó sự hội tụ cần đạt được khá nhanh chóng.
Tuy nhiên, nếu đây không phải là trường hợp, thì quy trình phi tuyến có thể thực
tế hơn, đặc biệt nếu có nhiều trường hợp tải cần khảo sát.
Phương pháp lặp trực tiếp: Phương pháp
này liên quan đến mô hình hóa các phần tử móng trong cùng mô hình với phần còn
lại của kết cấu cầu và sử dụng lò xo tuyến tính để mô hình hiệu ứng của đất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp phi tuyến trực tiếp: Phương pháp
này tương tự như phương pháp tương tác trực tiếp, trừ hiệu ứng đất phi tuyến được
tính trực tiếp bằng sử dụng phần tử lò xo phi tuyến và thực hiện phân tích phi
tuyến. Mỗi phần tử đất cần được chỉ định
đường cong p-y thích hợp theo các hướng ngang, và có khả năng là một đường cong
t-z theo hướng thẳng đứng để tính ma sát mặt bên, dựa trên vị trí của nó dọc
theo chiều dài của cọc và loại / tình trạng đất. Như được mô tả trong A.5.2.3,
các đường cong có thể được phát triển bằng cách sử dụng một chương trình móng. Cần phải
cẩn thận để đảm bảo rằng gối đỡ đủ gần nhau để có thể bắt chước gối đỡ liên tục
do đất cung cấp. Nếu cần thiết, nên thực hiện một nghiên cứu về độ nhạy. Như với
phương pháp lặp, kết quả từ phân tích PTHH nên được xác nhận bằng cách đối chiếu với kết
quả từ chương trình móng.
A.5.2.4 Tóm tắt
Các phương pháp phân tích móng nông và
sâu được trình bày để giải thích tương tác kết cấu - nền đất. Các phương pháp
cho từng loại móng được trình bày theo thứ tự mức độ phức tạp. Những điểm sau
đây nhấn mạnh và lưu ý khi quyết định phương pháp luận để sử dụng.
Đối với tất cả các khảo sát SSI:
- Các phân tích đơn giản ban đầu và /
hoặc phân tích độ nhạy rất hữu ích trong việc đạt được hiểu biết về ứng xử và
xác định mức độ không tuyến tính dự tính. Điều này giúp lựa chọn một phương
pháp phân tích SSI thích hợp nếu yêu cầu. Ngoài ra có thể sử dụng phân tích độ
nhạy để kiểm tra các
thông số đất ảnh hưởng đáng kể nhất đến phản ứng tương tác kết cấu - đất.
- Sự gia tăng độ phức tạp không phải
lúc nào cũng dẫn đến độ chính xác được cải thiện, vì đầu ra chỉ có thể tốt như
đầu vào và các giả định thường phải được đưa ra khi giải thích dữ liệu đất.
Khuyến nghị tham khảo ý kiến của các kỹ sư địa kỹ thuật để hỗ trợ phát triển
các đặc tính của đất sử dụng trong phân tích.
Đối với móng nông:
- Thường không cần tính đến SSI, vì việc
sử dụng điều kiện biên cố định cho bậc tự do thẳng đứng và ngang và cố định hoặc
điều kiện biên tự do (phụ thuộc vào kích thước của móng) để độ quay là đủ để mô
hình hóa ứng xử của kết cấu.
- Trong các trường hợp cần tính SSI,
thường là phương pháp tấm cứng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Phương pháp độ sâu cố định cung cấp
một cách đơn giản
để tính ảnh hưởng của móng sâu. Trong khi dễ thực hiện và hữu ích trong ước
tính các hiệu ứng SSI đến kết cấu trên và kết cấu dưới của cầu, sự đơn giản hóa
liên quan đến phương pháp này có khả năng dẫn đến các khía cạnh quan trọng của ứng
xử tương tác đất- kết cấu thực
tế bị bỏ qua. Trong một số trường hợp, điều này có thể tạo ra kết quả không an
toàn.
- Với các đầu vào tương tự, ba phương
pháp khác được trình bày nói trên tạo ra kết quả tương tự, mặc dù với các mức độ
yêu cầu nỗ lực khác nhau.
- Sử dụng phương pháp lặp - cấu trúc
con hoặc phương pháp lặp trực tiếp được khuyến nghị khi ứng xử phi tuyến tính của
đất không được cho là đóng vai trò vai trò quan trọng trong ứng xử của kết cấu.
- Khi có hoặc dự kiến một lượng đáng kể
đất không tuyến tính và hiệu quả cần được tính đến, khuyến nghị sử dụng phương
pháp phi tuyến trực tiếp. Lưu ý khi sử dụng trong trường hợp này, nỗ lực yêu cầu
thực sự có thể ít hơn nếu sử dụng cách tiếp cận lặp. Điều này là do với số lượng
lớn các lần lặp phân tích có thể được yêu cầu để hội tụ đến độ cứng đàn hồi
tương đương và phản ứng kết cấu được đúng nếu phản ứng là phi tuyến đáng kể.
A.5.3 Phân tích
phi tuyến
Đối với phần lớn các phân tích được
yêu cầu, đặc biệt là thiết kế cầu dầm bản điển hình, phân tích đàn hồi tuyến tính luôn là
cần thiết, ứng xử phi tuyến thường hoặc được bỏ qua khi không đáng kể
hoặc được tính một cách an toàn.
Phân tích phi tuyến thường liên quan đến
kết cấu cầu nhịp lớn phức tạp như cầu treo, cầu vòm mảnh, phân tích động đất,
đánh giá ổn định và tính dư.
Các yếu tố điển hình góp phần vào phản
ứng phi tuyến của cầu bao gồm:
- Ứng suất vượt quá giới hạn tuyến tính của vật
liệu không đàn hồi, ví dụ chảy kim
loại, vỡ bê tông do nén, nứt bê tông do kéo.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Ứng xử phụ thuộc vào thời gian, ví dụ
từ biến và co ngót của bê tông
- Những thay đổi lớn về hình dạng ban đầu, ví dụ
oằn, ứng xử của cáp,
- Thay đổi điều kiện biên, ví dụ ma
sát, nâng gối, kiềm chế.
Khi xây dựng mô hình phi tuyến, khuyến
nghị ban đầu xây dựng mô hình tuyến tính và chạy để đảm bảo không có vấn đề về
hình học, Làm mịn lưới và liên kết.
A.5.3.1 Các cấp độ mô
hình
Khi cần phân tích phi tuyến, phân tích
PTHH là dễ và hiệu quả nhất. Có nhiều mô hình khác nhau và cách tiếp cận phân
tích cho phép tùy theo mức yêu cầu độ chính xác của kết quả, được xác định cơ bản
bằng dạng phần tử và khả năng phân tích của phần mềm, bài toán kết cấu đặc biệt
được đánh giá. Chẳng hạn các mức mô hình hóa phân tích phi tuyến cho khớp dẻo ở
nền của cột bê tông có thể có các mức: mức cơ bản, mức trung gian, mức nâng
cao.
A.5.3.2 Nguồn phi tuyến
Nguồn phi tuyến nhìn chung có thể phân
thành 3 loại sau: Vật liệu phi tuyến, hình học phi tuyến, điều kiện biên phi
tuyến (và kể cả loại trường hợp chỉ chịu kéo/nén).
A.5.3.2.1 Vật liệu phi
tuyến
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ứng xử phi tuyến tính cũng có thể được
bao gồm trực tiếp trong công thức phần tử mà không cần xác định một vật liệu
riêng biệt (ví dụ các khớp nối chuyên dụng).
Lý tưởng nhất, các đặc tính được sử dụng
trong phân tích vật liệu phi tuyến phải dựa trên kết quả thử nghiệm vật liệu thực
tế sử dụng trong kết cấu. Thường điều này là không thể và phụ thuộc
vào các giá trị đại diện / bảo thủ giả định từ tài liệu. Nó tùy thuộc vào nhà
phân tích để đảm bảo rằng các thuộc tính vật liệu sử dụng trong phân tích phản
ánh chính xác các đặc tính trong kết cấu thực.
Vật liệu phi tuyến bao gồm quan hệ ứng
suất- biến dạng phi tuyến, khớp phi tuyến (khớp dẻo, gối cao su), hiệu ứng phụ
thuộc thời gian.
+ Quan hệ ứng suất- biến dạng phi tuyến:
Một đường cong ứng suất-biến dạng phi
tuyến dựa trên các đặc tính của vật liệu có thể được xác định dựa trên các khuyến
nghị trong thông số kỹ thuật thiết kế hoặc thông tin từ lực căng / nén một trục
kiểm tra và có thể được sử dụng khi đối tượng (ví dụ kết cấu, bộ phận) được mô
hình hóa như một thể liên tục (ví dụ vấn đề biến dạng phẳng), hoặc khi bản thân
công thức cấu tạo phần tử có thể đáp ứng ứng xử liên tục của vật liệu (ví dụ
các phần tử dựa trên sợi).
Thép: Trong hầu hết các
trường hợp thực tế, mô hình hóa thép như vật liệu song tuyến là đủ, nhưng khuyến
nghị một số độ cứng danh nghĩa sau chảy được đưa vào để hỗ trợ cho sự hội tụ và
tránh nhiều vị trí cân bằng đối với một tải nhất định.
Bê tông là một loại vật liệu
phức tạp, phản ứng khác nhau khi kéo và ứng suất nén. Hầu hết các gói phần mềm
nâng cao xử lý hành vi cụ thể dựa trên độ dẻo mối quan hệ ứng suất-biến dạng
bao gồm một vùng làm dịu ứng suất, để giải thích cho sự rạn nứt bao gồm các hiệu
ứng gia cố và khả năng
nghiền nén về mặt sức mạnh tối đa, σcu. Tiêu chí
không đạt trong các mô hình nâng cao này thường được định nghĩa là hàm của các
biến số hư hỏng đại diện cho sự mất mát hoặc suy giảm độ cứng trong vật chất.
Đất là một vật liệu có đặc tính phức tạp.
Trong phân tích kết cấu, người ta thường giả định rằng các kết cấu được đỡ cứng
ở nền và độ cứng của đất và nền bên dưới ảnh hưởng không đáng kể đến phản ứng của
kết cấu trên. Tuy nhiên, đối với một số đánh giá kết cấu nhất định yêu cầu độ
chính xác trong việc ước tính các phản ứng (đặc biệt là chuyển vị), phân tích cần
bao gồm các tác động của tương tác đất như đã nêu ở A.5.2. Các tác động của đất
có thể được đưa vào mô hình bằng một số kỹ thuật khác nhau, từ các khớp phi tuyến
đơn giản đến các phần tử liên tục với các khớp phi tuyến phức tạp các mô hình.
Việc lựa chọn phụ thuộc vào kết cấu trúc được mô hình hóa và các phản ứng mục
tiêu (ví dụ một cầu 3D có lò xo móng so với cống 2D với đường liên tục xung
quanh đất).
+ Khớp phi tuyến: Sử dụng các mối nối
phi tuyến là một kỹ thuật đơn giản thường được sử dụng trong mô hình kết cấu để
giới thiệu tính phi tuyến tính của vật liệu vào các mô hình với các yếu tố đường
hoặc bề mặt được đơn giản hóa. Các ứng xử phi tuyến của các khớp được xác định trực
tiếp dưới dạng nội lực-tác dụng mối
quan hệ, ví dụ mômen / quay hoặc lực / biến dạng. Mô tả thêm về một số những ứng
dụng này được trình bày tiếp theo.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
+ Gối cao su: Mặc dù hầu hết ứng xử vật
liệu phi tuyến tính là không đàn hồi, nhưng có thể là những trường hợp hiếm khi
cần vật liệu phi tuyến
đàn hồi để phân tích. Cao su, chất dẻo đàn hồi nằm trong một loại vật liệu được
gọi là siêu đàn hồi. Ứng dụng phổ biến nhất của vật liệu này trong cầu là gối
đàn hồi và thiết bị cách chấn. Thường thì ứng xử đàn hồi phi tuyến của gối có
thể đủ xấp xỉ bằng ứng xử đàn hồi tuyến tính trong phạm vật liệu nhìn thấy dưới
dạng điển hình tải trọng cầu. Khi ứng xử chính xác hơn được yêu cầu ngoài phạm
vi đó, thường dưới các nhu cầu địa chấn, nên mô hình hóa ứng xử toàn cầu của
liên kết với các phần tử khớp thay vì mô hình hóa rõ ràng bản thân gối.
+ Hiệu ứng phụ thuộc thời gian: Các
tác động phụ thuộc vào thời gian của vật liệu như từ biến, co ngót, lão hóa của
bê tông và sự giãn nở của thép cũng có thể được đánh giá bằng các phép phân
tích phi tuyến. Các chương trình có thể mô hình hóa các hiệu ứng này sẽ thường
bao gồm các tài liệu chuyên biệt dành riêng cho mục đích đó.
A.5.3.2.2 Hình học phi
tuyến
Phân tích phi tuyến hình học xem xét sự
cân bằng của kết cấu và các bộ phận của chúng ở hình học đã có biến dạng hoặc
chuyển vị.
+ Các nội dung chính của hình học phi
tuyến trong cầu: Thường bộ phận kết cấu chịu nén lớn cũng như chuyển vị
ngang do tải trọng lệch tâm ngang, sai lệch hình học, dung sai thi công, ...,
+ Yêu cầu phân tích hình học phi tuyến
tiên tiến trong cầu: Phương pháp phân tích hình học phi tuyến
tiên tiến được khuyến nghị áp dụng cho các bộ phận có chuyển vị hoặc xoay lớn
do tải trọng gây ra,
+ Ứng xử không đàn hồi: Hầu hết các
cấu kiện mảnh chịu phi tuyến hình học, các biến dạng rất nhỏ nên đặc tính vật
liệu phi tuyến thường không bắt buộc. Tuy nhiên, ở mức giới hạn độ bền của các
cấu kiện trung gian (tức là không mảnh, không ngắn), ứng xử vật liệu không đàn
hồi thường xảy ra kèm theo các hiệu ứng bậc hai. Nếu cả hai điểm phi tuyến tính
được xem xét trong mô hình, thì chuyển vị sẽ rõ ràng hơn dẫn đến mô men lớn
hơn.
Điều cần được xem xét đối với thiết kế
là các hiệu ứng hình học P-Δ bổ sung, hoặc hiệu ứng P-δ khi δ là đáng kể
(ví dụ vòm chịu tải trọng trực tiếp). Về cơ bản có hai cách để giải
thích cho những hiệu ứng bậc hai trong các cấu kiện thép:
- Áp dụng các hệ số khuếch đại cho các
mômen đàn hồi bậc nhất, hoặc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.5.3.2.3 Điều kiện
biên và chỉ kéo/nén phi tuyến
Điều kiện biên và chỉ kéo/nén phi tuyến
dễ xác định về mặt vật lý nhưng khó áp dụng trong mô hình. Những tính phi tuyến
này có thể chỉ có mặt trong phạm vi kết cấu hoặc chỉ ở các gối đỡ. Một vài trường
hợp chung thuộc loại này là:
- Nâng gối,
- Đóng và mở khe co giãn,
- Va đập ở đầu các kết cấu liền kề,
- Ứng xử của gối cách chấn,
- Ma sát giữa các mặt trượt, kể cả ma
sát dính,
- Ứng xử kiềm chế cáp,
- Ứng xử của cấu kiện chỉ chịu kéo, chẳng
hạn giằng hoặc miếng kê.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.5.3.3 Các khía cạnh
của lời giải số
Các phép phân tích tĩnh phi tuyến thường
yêu cầu kỹ thuật giải lặp (ví dụ tiêu chuẩn Newton-Raphson sửa đổi) hội tụ vào
lời giải đúng. Câu trả lời đúng là thỏa mãn các điều kiện cân bằng, tương thích
và các mối quan hệ ứng suất-biến dạng của vật liệu. Phần mềm thường áp dụng các tiêu
chí hội tụ để xác định thời điểm dừng lặp, khi câu trả lời nằm trong dung sai số
được xác định trước dẫn đến thay đổi giữa các lần lặp không đáng kể. Mức độ hội
tụ rất quan trọng, vì trạng thái cuối cùng của mô hình cho một mức tăng nhất định
được sử dụng làm điểm bắt đầu cho bước tăng tiếp theo.
Phương pháp tăng dần (Incremental
Methods):
Bước đầu tiên là biểu diễn một phân tích lặp bằng việc chọn một bước tăng tải/dịch
chuyển hợp lý. Bước tăng nhỏ hơn dẫn đến hội tụ nhanh hơn, trong khi bước tăng
lớn hơn có thể giảm thời gian tính toán tổng. Việc tăng có thể thay đổi sao cho
bước tăng lớn được sử dụng ban đầu, sau đó bước tăng nhỏ cho các phần phi tuyến
hơn của phân tích. Vì thế cần chọn các bước tăng sao cho hợp lý về tốc độ hội tụ
và độ chính xác khi phân tích PTHH phi tuyến.
Một trong những vấn đề phổ biến nhất với
các giải pháp phi tuyến là gia số không hội tụ. Ở trong ngoài vấn đề độ cứng bằng
0 đã nói ở trên, các vấn đề số khác như nhỏ hoặc bằng không gia tăng tải cũng có thể dẫn
đến không phân kỳ. Có một số chiến lược có thể hiệu quả trong việc đưa ra một
mô hình rắc rối để tập hợp vào một giải pháp, bao gồm:
- Sử dụng các chuyển vị cưỡng bức thay vì tải
trọng.
- Giảm mức tăng ở phần giải pháp mà mô hình
đang gặp sự cố hội tụ.
- Điều chỉnh một chút đặc tính độ cứng để tránh
các phần ngang của tải trọng lệch giải pháp đường cong, chẳng hạn như cung cấp
cho một số biến dạng danh nghĩa làm cứng các đặc tính của thép.
- Điều chỉnh kỹ thuật giải pháp chương trình và
/ hoặc tiêu chí hội tụ (thường được định nghĩa trong điều kiện về lực dư cho
phép, chuyển vị và / hoặc công so với lời giải cân bằng"chính xác")
Lời giải số: có hai dạng cơ bản của
lời giải phần mềm phân tích PTHH là lời giải trực tiếp và lời giải lặp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngược lại, các lời giải lặp lại tìm ra
giải pháp gần đúng bằng cách sử dụng một quy trình lặp giảm thiểu lỗi thông qua
tiêu chí hội tụ, yêu cầu lưu trữ ít tính toán hơn. Phải chú ý khi sử dụng các lời
giải lặp với các mô hình ít được điều kiện thuận lợi hơn vì giải pháp được cung
cấp có thể khác với ứng xử thực của kết cấu. Chìa khóa của một điều tốt cho lời
giải lặp là điều kiện tiên quyết tốt dẫn đến một vấn đề có điều kiện tốt hơn.
Các vấn đề thường phải được xác định tích cực dẫn đến một giải pháp duy nhất. Lời
giải lặp thường được khuyến nghị cho các phân tích tuyến tính của các mô hình rất
lớn được điều hòa tốt. Để biết thêm về chi tiết cụ thể của bộ giải lặp tham khảo
tài liệu của chương trình đang sử dụng.
A.5.3.4 Khuyến nghị
chung cho phân tích phi tuyến tính
- Phần tử: Các phép phân tích
phi tuyến thường sử dụng các phần tử chuyên biệt khác với phần tử điển hình những
cái được sử dụng trong phân tích đàn hồi tuyến tính. Các phần tử bằng vật liệu
phi tuyến hoặc chuyển vị lớn có thể cần sử dụng các khả năng tùy thuộc vào vấn
đề được mô hình hóa.
- Lưới: Mặc dù độ mịn của lưới
là khía cạnh quan trọng trong độ chính xác của bất kỳ phân tích PTHH nào, nhưng
là cần thiết trong đánh giá ứng xử phi tuyến tính ở những vị trí chuyển vị lớn
hoặc quay thể hiện dọc
theo các phần tử (ví dụ: ứng xử P-Δ).
- Vật liệu: Bắt đầu với
các mô hình vật liệu tuyến tính, đặc biệt khi các mô hình phi tuyến khác được
đưa vào phân tích, làm cơ sở cho việc so sánh khi vật liệu được giới thiệu. Đối
với vật liệu phi tuyến, xác minh trong sổ tay chương trình phạm vi các
tham số đầu vào là hợp lệ và thay đổi chúng cho phù hợp.
- Tăng dần: Sử dụng gia
số nhỏ hơn và / hoặc cách tiếp cận dựa trên chuyển vị nếu vấn đề hội tụ nảy
sinh trong quá trình phân tích.
- Hội tụ: Điều chỉnh giới hạn
các tiêu chí hội tụ theo hướng dẫn chương trình khuyến nghị sử dụng để tránh mất
độ chính xác trong kết quả.
- Lời giải: Sử dụng lời
giải trực tiếp để phân tích phi tuyến.
A.5.4 Phân tích động
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có thể yêu cầu phân tích động để khảo
sát gió hoặc dao động do phương tiện gây ra, ảnh hưởng của tải trọng địa chấn, ... Các phân
tích cũng có thể thích hợp để điều tra tác động của tàu xe hoặc ứng xử của các
kết cấu có thể do va chạm của phương tiện, trong đó phân tích địa chấn thường
hay gặp. Mặc dù tải trọng địa chấn có xu hướng kéo dài thời gian hơn tải xung của
các hiệu ứng động lực khác, phần lớn thông tin được cung cấp liên quan đến phân
tích địa chấn cũng có thể áp dụng cho các loại các bài toán phân tích động.
Có thể chia phân tích động thành hai
loại lớn: phân tích theo phương thức (mode) và phân tích tích phân trực tiếp. Đối
với các phân tích theo phương thức, ứng xử của kết cấu được xác định bằng cách
thêm cùng phản ứng của các mode dao động riêng lẻ của kết cấu. Điều này có thể
được thực hiện trong miền tần số, như với phân tích phổ phản ứng hoặc trong miền
thời gian, với phương thức phân tích lịch sử thời gian. Đối với cách tiếp cận
này, các tần số và hình dạng mode
của kết cấu phải trước tiên được tìm thấy thông qua phân tích trị riêng và sau
đó được tổ hợp để xác định phản ứng của kết cấu.
Phương pháp tích phân trực tiếp, còn
được gọi là phân tích bước thời gian, giải quyết động lực tổng thể phương trình
chuyển động tại mỗi bước thời gian. Phương pháp này có thể xét cho nhiều nguồn
phi tuyến tính và được sử dụng phổ biến nhất để phân tích lịch sử thời gian phi
tuyến.
Dạng tổng quát: Phương trình cân bằng
tĩnh và động có thể được viết như sau:
Tĩnh:
[K]{u} =
{P}
(A.1)
Động:

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong đó:
M là ma trận khối lượng;
C là ma trận giảm
chấn;
K là ma trận độ cứng,
P là vedor tải trọng,
và u là véc tơ gia tốc,
vận tốc, chuyển vị,
(t) chỉ rằng vector là hàm của thời gian.
Để xác định phản ứng động của kết cấu,
người ta giải các phương trình cân bằng động sử dụng phân tích theo phương thức,
tích hợp trực tiếp từng bước hoặc đôi khi kết hợp cả hai. Điều này sẽ được
trình bày kỹ hơn trong các phần tiếp theo khi xem xét hai loại phân tích động lực:
phân tích phổ phản ứng và phân tích lịch sử thời gian.
A.5.4.2 Mô hình hóa
cho phân tích động
Để phân tích động cần yêu cầu xây dựng
chính xác ma trận khối lượng, ma trận giảm chấn, ma trận độ cứng, trong khi phân tích
tĩnh chỉ yêu cầu xây dựng chính xác ma trận độ cứng.
Mô hình khối lượng: PPPTHH sử dụng
hai phương pháp, hoặc có thể kết hợp cả hai để phát triển ma trận khối lượng,
đó là dạng khối lượng gộp (khối lượng đặt tại các nút) và ma trận khối lượng
thích hợp (giả thiết là phân bố thông qua phần tử).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với phân tích động, việc sử dụng tải
trọng để tính là khối lượng không thích hợp. Thay vào đó, tất cả khối lượng phải
được xác định rõ ràng sao cho khi trọng lực được ấn định, toàn bộ trọng lượng của
kết cấu, với sự phân bố chính xác của trọng lượng nếu có. Do đó, khối lượng của
các thành phần không được mô hình hóa rõ ràng cần được đưa vào. Ngoài ra, cần đảm
bảo rằng các phần tử được sử dụng trong mô hình không phải là một phần của kết
cấu thực (chẳng hạn như các liên kết cứng giữa bộ phận) được ấn định khối lượng
riêng không đáng kể.

Hình A.18 -
Minh họa Mô hình đốt sống sửa đổi tính riêng sử dụng cho khối lượng đặt lệch
tâm từ mô men quán của kết cấu trên
Mô hình giảm chấn: Giảm chấn có
tác dụng làm giảm chuyển động của hệ và tiêu tán năng lượng. Giảm chấn
trong kết cấu hiện tại là do nhiều tương tác. Khi dịch chuyển nhỏ, các ứng xử
như ma sát giữa các thành phần, vết nứt nhỏ của bê tông, vật liệu ứng xử trễ,
chảy cục bộ của thép, trượt các liên kết thép và những đóng góp khác, tất cả đều
góp phần vào giảm chấn. Ở những
dịch chuyển lớn, chảy của các thành phần và sự hình thành của
khớp hơn nữa thêm vào lượng năng lượng tiêu tán từ hệ thống.
Đối với phân tích phương thức, thông
thường tỷ lệ giảm chấn có thể là đầu vào trực tiếp cho các mode cụ thể hoặc cho
tất cả các mode được sử dụng. Để phân tích lịch sử thời gian, thường sử dụng
công thức giảm chấn Rayleigh, trong đó ma trận giảm chấn được phát triển như một
sự tổ hợp tuyến tính của ma trận khối lượng và độ cứng, như được minh họa trong
công thức:

(A.3)
trong đó:
[M], [C], và [K] là các ma trận
khối lượng, giảm chấn và độ cứng;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a1 là hệ số tỷ lệ giảm
chấn độ cứng.
Ứng xử giảm chấn hiện thời là rất phức
tạp, phi tuyến, có cường độ nhưng không phụ thuộc tần số.
Mô hình độ cứng: Quy trình tiêu biểu
để mô hình hóa độ cứng trong phân tích tĩnh cũng được áp dụng trong phân tích động.
Khoản A.3 cung cấp hướng dẫn liên quan đến mô hình hóa riêng cho độ cứng dầm, khung
ngang, độ cứng xoắn, điều kiện biên,...
Khí phân tích động lực học đàn hồi tuyến
tính thực hiện cho một kết cấu và giới hạn đàn hồi có thể bị vượt quá, thì độ cứng
sử dụng để phân tích động có thể sửa đổi để tính đến điều này. Một ví dụ là các
cột bê tông trong phân tích địa chấn. Đối với phân tích tĩnh, các cột có thể được
mô hình hóa bằng cách sử dụng các thuộc tính mặt cắt nguyên, tuy nhiên để phân
tích địa chấn, cần giảm độ cứng nếu dễ xảy ra nứt bê tông.
Rời rạc hóa mô hình: Với mô hình
đã cho, khối lượng tính toán cho phân tích động thường lớn hơn nhiều cho phân
tích tĩnh. Đối với các mô hình phân tích lớn, việc giảm kích thước mô hình so với
kích thước sử dụng đối với các phân tích tĩnh có thể được yêu cầu để mô hình có
thể chạy hiệu quả và các tệp kết quả không trở nên lớn một cách phi thực tế.
Tuy nhiên, các tác động lên đầu ra của việc giảm kích thước mô hình cần được
xem xét, và cách bố trí của lưới ít nhất phải đáp ứng các yêu cầu của bất kỳ
thông số kỹ thuật liên quan.
Đối với phân tích mode, yêu cầu có các
dạng mode tự nhiên của kết cấu. Số mode có thể được giải quyết bằng với số bậc
tự do trong mô hình, tuy nhiên số mode cần để có kết quả chính xác thường ít
hơn đáng kể. Điều này là thích hợp vì không phải tất cả các mode, đặc biệt là
các mode tần số rất cao, đều
góp phần đáng kể đến phản ứng của kết cấu. Mặc dù không phải tất cả các mode đều
cần được sử dụng để xác định phản ứng của kết cấu, phải đảm bảo rằng có đủ các
mode để có được một đại diện chính xác của ứng xử thực. Điều này được thực hiện
bằng cách kiểm tra khối lượng các yếu tố tham gia, cho biết mức độ tham gia của
khối lượng trong mỗi mode và mỗi hướng. Các giá trị này có thể được xuất ra từ
chương trình phân tích và nó cần được đảm bảo rằng tổng các giá trị cho mỗi hướng
là một lượng vừa đủ của khối lượng của kết cấu (thường được đưa ra là 90 %). Với
các mô hình lớn hơn, cần nhiều mode
hơn để đạt được 90 %.
A.5.4.3 Mô hình phân
tích phổ phản ứng đa mode
A.5.4.3.1 Đầu vào
Số liệu đầu vào chính cho phân tích phổ
phản ứng là mối quan hệ giữa gia tốc và chu kỳ phương thức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bài toán được chuyển từ n cặp phương
trình sang m phương trình không cặp, trong đó n là số bậc tự do và số dạng
mode được xem xét trong phân tích phương thức.
Đối với mỗi dạng mode, có một tần số liên
quan được xác định bằng cách thực hiện phân tích trị riêng trước khi phân tích
phổ phản ứng. Tất cả các mode không
đóng góp như nhau vào phản ứng của kết cấu, vì vậy trong khi giới hạn trên của m
là n, nói chung m có thể nhỏ hơn n đáng kể. Số mode thích
hợp để sử dụng là được xác định bằng cách kiểm tra đầu ra của các yếu tố tham
gia đông đảo từ phân tích giá trị riêng.
Kết hợp các dạng mode và đặc tính khối
lượng của hệ thống cho phép một tập hợp các "lực" quán tính được phát
triển cho từng mode. Khi chúng được áp dụng cho kết cấu và nhân với một giá trị
gia tốc, phản ứng động của mode trải qua gia tốc đó có thể được xác định. Vì phổ
phản ứng cung cấp các giá trị gia tốc đỉnh trong khoảng thời gian tải địa chấn đối
với các tần số khác nhau, đáp ứng đỉnh cho mỗi mode chỉ đơn giản là tác động của
“lực” quán tính nhân với phổ phản ứng sắp xếp liên quan đến tần số của mode.
Sau đó, bằng cách tổ hợp các hiệu ứng của tất cả các mode, tổng phản ứng của kết
cấu được tìm thấy. Vì hiệu quả, mỗi mode được coi như một hệ SDOF với gia tốc cực
đại đã biết (từ phổ phản ứng), quy trình này làm giảm đáng kể các yêu cầu tính
toán khi so sánh với các phương pháp bước thời gian được mô tả trong A.5.4.4.2.
Các phản ứng cao nhất của mỗi mode
không nhất thiết phải xảy ra cùng một lúc, vì vậy ước tính phản ứng tổng thể của
một kết cấu yêu cầu một số phương pháp kết hợp phương thức xem xét cho điều
này. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các ước tính về phản ứng đỉnh được tìm thấy
bằng cách sử dụng các phương pháp chẳng hạn như phương pháp căn bậc hai tổng
bình phương (SRSS) và toàn bộ bậc hai phương pháp tổ hợp (CQC) cung cấp các giá
trị đủ chính xác cho mục đích thiết kế. Nói chung, phương pháp CQC được
ưu tiên hơn, đặc biệt nếu các phương thức của cấu trúc chặt chẽ cách nhau. Khi
không có giảm chấn nào được chỉ định cho phương pháp CQC, nó sẽ hoàn nguyên về
phương pháp SRSS.
A.5.4.3.3 Đầu ra
Kết quả phân tích phổ phản ứng là giá
trị đầu ra đỉnh, không phải là giá trị theo thời gian cụ thể. Theo cách mà các
phản ứng của các mode khác nhau được tổ hợp, dấu của phản ứng bị mất và do đó tất cả các
giá trị trong kết quả đều dương. Vì hai sự thật này, phải cẩn thận khi sử
dụng kết quả phân tích. Các phản ứng được xác định là không đồng thời , và do
đó các phản lực cơ sở không thể được tính tổng, vì điều đó sẽ đánh giá quá cao
giá trị do các phản lực đỉnh có thể xảy ra ở các trường hợp thời gian khác nhau
A.5.4.4 Phân tích lịch
sử thời gian
Đầu vào: Đầu vào của phân
tích lịch sử thời gian là tập các chuyển động nền, điển hình là gia tốc và thời
gian.
Lời giải: Với hệ nhiều bậc từ
do (MDOF) với n bậc tự do, phương trình chuyển động được cho là kết quả của n
phương trình vi phân. Phương pháp giải có hai loại sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phân tích lịch sử thời gian phương thức:
Phân tích lịch sử thời gian phương thức yêu cầu xác định dạng mode và tần số.
Đầu ra: Phân tích lịch sử thời
gian xác định phản ứng của tất cả các bước thời gian.
A.6 Xác minh / thẩm
định
A.6.1 Giới thiệu
Phần mềm phân tích và thiết kế đã gần
như phổ biến trong thiết kế cầu. Một số gói phần mềm có thể tạo mô hình từ đầu
vào hạn chế với việc lập mô hình "trình thuật", hãy kiểm tra mã các
phần và tạo báo cáo với nhiều số liệu và sơ đồ tất cả chỉ trong thời
gian ngắn. Một nhiệm vụ mà phần mềm không thực hiện là chịu trách nhiệm về bất
kỳ kết quả nào. Dưới đây là tuyên bố điển hình trong hướng dẫn sử dụng phần mềm
hoặc tài liệu cấp phép: “Thời gian, nỗ
lực và chi phí đáng kể đã dành cho sự phát triển và tài liệu của các chương
trình. Các chương trình đã được kiểm tra kỹ lưỡng và đã được sử dụng. Tuy
nhiên, bằng cách sử dụng các chương trình, người dùng chấp nhận và hiểu rằng
không có bảo hành được thể hiện hoặc ngụ
ý bởi các nhà phát triển hoặc các nhà phân phối trên độ chính xác hoặc độ tin cậy
của chương trình”.
Người sử dụng cần hiểu rõ các giả định
của chương trình và phải độc lập xác minh kết quả.
Các ví dụ xác minh mô hình từ các thiết
kế thực tế liên quan đến:
- Việc sử dụng các phương pháp phân
tích tĩnh thay thế;
- Xác minh các hiệu ứng phụ thuộc vào thời
gian;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.6.2 Xác minh phần
mềm
Khi bắt đầu với một gói phân tích PTHH
mới hoặc một bản cập nhật, điều quan trọng là tin rằng phần mềm hoạt động
hoặc ngược lại để tìm ra nó sai. Thường thuận tiện khi bắt đầu bằng câu hỏi đơn
giản “có phải một bài toán đối xứng chịu tải đối xứng mang lại kết quả đối xứng. Có thể
làm một vấn đề đơn giản
không đủ để người ta có thể xác định rằng tổng của các phản lực dọc, trên thực
tế, bằng tổng của tải trọng thẳng đứng”,...
Một mặt có thể bắt đầu với bài toán đối
xứng và chịu tải đối xứng để đơn giản hóa việc khẳng định của kết quả đối xứng
là một phần của quá trình hiệu đính. Tương tự có thể sử dụng điều kiện biên để
đơn giản tính luỹ phần lực để xác định liệu có sự cân bằng không. Khi kỹ năng
cơ bản được tạo lập, có thể lập mô hình phức tạp hơn và xu hướng kết quả được
xác minh, kể cả không tồn tại lợi giải kín.
A.6.3 Xác minh mô
hình thiết kế
Các kỹ sư phải thực hiện trách nhiệm
chuyên môn liên quan đến việc kiểm tra kết quả của một phân tích chính xác. Chắc
chắn có thể thực hiện kiểm tra từng dòng đối với các tệp đầu vào hoặc phần tử bằng
cách kiểm tra phần tử thông qua giao diện đồ họa, vì thường có bộ mắt thứ hai
kiểm tra mô hình sẽ bắt gặp các lỗi mô hình rõ ràng và việc kiểm tra như vậy
thường được thực hiện, nhưng loại kiểm tra đó không xác nhận chức năng của phần
mềm.
Khi các mô hình được xây dựng như một
phần của quá trình thiết kế hoặc xem xét để đại diện cho một kết cấu chưa tồn tại,
kết quả phân tích cần được xác minh. Việc xác minh mô hình có thể thực hiện nhiều
cách khác nhau tùy thuộc vào những gì các mô hình sẽ được sử dụng.
Đối với thiết kế thông thường của các
cầu dầm bản điển hình, ngay cả những cầu cong hoặc xiên, so sánh các mômen thiết
kế và lực cắt để phân tích dầm đường thích hợp được thực hiện bằng cách sử dụng
chương trình có thể cung cấp sự tin tưởng rằng các kết quả là hợp lý. Đơn giản chỉ cần kiểm tra kết
quả bằng cách nhìn vào hình dạng bị lệch hoặc hình dạng của biểu đồ lực cắt và
mô men, và các cường độ của các tác động lực cực đoan, có thể cung cấp sự tự
tin khi chúng thỏa mãn cảm giác trực quan của nhà thiết kế cầu có kinh nghiệm.
Tốt nhất, các kết quả không trơn tru
nên được kiểm tra xem có mức độ không liên tục cao đường viền giữa các phần tử,
cho biết các vấn đề về mô hình hóa thường yêu cầu một lưới mịn hơn.
Nếu các giả định không tương thích được
sử dụng trong việc xác định các lực lượng thiết kế cho các cấu kiện khác nhau,
hãy đảm bảo rằng chúng là thiên về an toàn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.6.4 Mô hình thẩm
định cho cầu cũ
Thường là có bản tính gốc và ít nhất có bản tính
ứng suất. Tuy nhiên kết quả phân tích đánh giá lại có thể khác nhiều, điều đó
có thể xảy ra.
Sẽ rất thích hợp để cố gắng đo đạc một
số thông số, chẳng hạn chuyển vị, lực, hình dạng mode hoặc ứng suất, để so sánh
với phân tích PTHH.
Cuối cùng, cố gắng tìm ra cầu hiện tại
đã được xây dựng như thế nào. Điều này liên quan đến phương pháp lắp dựng và mức
độ mà camber đã được tính đến. Người ta có thể bắt đầu với giả định rằng mô
hình thiết kế hai chiều có thể đã được xác định một cách tĩnh, ví dụ, một giàn
công xôn, và do đó độ vồng không có ý nghĩa trong việc xác định ứng suất.
Việc so sánh kết quả phân tích và thực
địa chỉ ra rằng máy tính lập mô hình chính xác đại diện cho tình hình vật lý.
Bước này cung cấp một cơ sở tin cậy để dựa vào đó trang bị thêm có thể được xếp
chồng lên nhau.
A.6.5 Thay đổi điều
kiện biên không chính xác
Điều kiện biên là vấn đề lặp đi lặp lại
trong phân tích PTHH. Các lỗi điều kiện biên trong các mô hình có thể dễ dàng bị
bỏ qua, vì các vấn đề gối đỡ điểm thường không dễ thấy trực quan trên màn hình
đồ họa, không giống như kết nối hoặc hình học. Điều cần thiết là sự kiềm chế
thích hợp được bố trí tại các biên, bao gồm cả hướng.
Các điều kiện biên của mô hình có thể
được xác minh theo một số cách. Phản lực có thể được xem để đánh giá các giá trị
có như mong đợi không. Nếu mômen thấy tại các gối đỡ khớp hoặc các hiệu ứng lực
trong các hướng dự định được giải phóng, khi đó các tham số điều kiện biên phải được
sửa đổi. Có thể điều tra khớp trụ đỡ bằng cách xem hình dạng chuyển vị. Xác
minh rằng sự dịch chuyển và quay như dự kiến. Một tải đơn giản có thể được chỉ
định cho mô hình và các phản lực được xác minh là nằm trong phạm vi dự kiến.
A.7 Ứng dụng tải
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc áp dụng tải trọng kết cấu trong
các chương trình PTHH có thể bao gồm từ xác định tải cụ thể tại mỗi nút trong
mô hình. Hầu hết các chương trình phân tích cầu có khả năng áp dụng không chỉ tải
trọng tập trung, mà còn tải trọng phân bố hoặc áp lực, thay đổi nhiệt độ dẫn đến
giãn nở/co nhiệt được quy định chuyển vị, gia tốc đối với khối lượng
dẫn đến tác dụng động lực. Nhiều chương trình cho phép xác định tổ hợp của tải
trọng tập trung và tải trọng phân bố do các phương tiện ở các làn khác nhau.
Các khuyến nghị chung để áp dụng tải:
- Một nút phải có mặt tại các vị trí có tải trọng
tập trung không di chuyển.
- Lưới phải đủ mịn để ước tính các hiệu
ứng tải tương đương tĩnh đối với tải trọng phân bố, tải trọng trọng lực tự động
và tải trọng di chuyển trong các trường hợp chỉ khi tải trọng nút gộp được tính
toán và luôn xác minh xem tải trọng đang được áp dụng như thế nào.
A.7.2 Tĩnh tải
A.7.2.1 Các thành phần
được mô hình hóa
Việc kết hợp tĩnh tải của các thành phần
được mô hình hóa có thể tương đối dễ dàng trong một phân tích chính xác. Vì chiều
dài / chiều rộng của một phần tử và diện tích mặt cắt ngang / độ dày có sẵn cho
chương trình, nó có thể tự động
tính toán tĩnh tải của các phần tử được mô hình hóa bằng cách sử dụng khối lượng
riêng của vật liệu và gia tốc trọng trường. Đối với các phần tử kết hợp không
giống nhau vật liệu sử dụng tỷ lệ mô-đun để thay đổi một số kích thước, tỷ trọng
có hiệu có thể được sử dụng để đạt được tải chính xác. Ngoài ra, gia tốc áp dụng có thể
thay đổi thành tính toán cho sự khác nhau.
A.7.2.2 Các thành phần
không được mô hình
Các thành phần không được mô hình là
các phần tử hiện diện trên cầu, nhưng người thiết kế không muốn chúng đóng góp
vào độ cứng của mô hình kết cấu. Các thành phần không được mô hình hóa có thể
bao gồm nhưng không giới hạn ở các bản liên kết, ba lát, mặt tích hợp mài mòn,
khả năng sẽ bị mài mòn, rào và các tiện ích khác, ...
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mô hình hóa hoạt tải phương tiện
giao thông và các hoạt tải khác xem ở
TCVN 13594-3:2022. Hoạt tải nói chung là như nhau không có vấn đề gì dù sử dụng
phương pháp phân tích nào. Hầu hết các nội dung liên quan đến
áp dụng đúng hoạt tải cho các mô hình đúng và khi mô hình chính xác có thể/nên
sử dụng để có sự phân bố tải trực tiếp chính xác hơn.
Không tiêu chuẩn kỹ thuật nào có thể
bao quát hết mọi trường hợp một kỹ sư có thể gặp. Khi hoạt tải đã được xác định,
chúng cần được áp dụng một các xấp xỉ vào mô hình.
Để thực hiện thiết kế bộ phận, cần xác
định hiệu ứng nhỏ nhất và lớn nhất của hoạt tải trong bộ phận. Yêu cầu hoạt tải
trong mô hình cầu đặt ở vị trí gây ra hiệu ứng lực lớn nhất. Đối với một số kết
cấu đơn giản vị trí đặt tải để cực đại hóa hiệu ứng của tải là dễ thấy bằng trực
giác, nhưng những kết cấu phức tạp hơn có thể sử dụng đường ảnh hưởng hoặc mặt ảnh
hưởng để xác định các thành phần này.
Để giảm khối lượng tính toán máy tính,
trong thiết kế sơ bộ hoặc kiểm tra mô hình, một lưới tương đối thô có thể được
sử dụng và bước đặt vị trí đặt tải có thể tương đối lớn (khoảng 1,2m đến 1,8m).
Cho thiết kế cuối cùng, có thể sử dụng một lưới mịn hơn và bước đặt tải nhỏ hơn
(khoảng 0,3m đến 0,9m) theo cả hướng dọc và ngang có thể là đủ. Việc điều chỉnh
có thể yêu cầu dựa trên hình học kết cấu và để cân bằng mức chính xác so với khối
lượng lời giải.
Tải trọng gió: Tổ hợp bất kỳ
của tải trọng tập trung, phân bố hoặc áp lực có thể được sử dụng để áp dụng áp
lực gió, cũng như tải trọng tĩnh tương đương với áp lực gió thu được.
Tải trọng ngang do ly tâm, hãm và kéo: Tải trọng
ngang do ly tâm, hãm và kéo cũng được xem xét. Việc mô hình hóa điều kiện biên
hoặc kết cấu gối liên kết kết cấu phần trên với kết cấu phần dưới một cách đúng
đắn là quan trọng khi phân tích hiệu ứng tải trọng ly tâm, kéo và hãm. Cần cung
cấp một đường truyền tải trọng để chịu các lực trong mặt phẳng này cho kết cấu
dưới, và các gối thường là các cấu kiện tới hạn của đường truyền này.
Tải trọng nhiệt: Tải trọng
nhiệt độ đều tăng hay giảm trong mô hình PTHH đạt được đơn giản bằng việc áp dụng
thay đổi nhiệt độ đều ở các phần tử cấu thành lên mô hình. Các hiệu ứng tải trọng
và/hoặc dịch chuyển có thể triết xuất từ mô hình. Khi có các kiềm chế vật lý, cần
thận trọng khi khẳng định rằng các điều kiện biên phù hợp được dùng trong mô
hình, chẳng hạn các kiềm chế không mong muốn từ các gối đỡ không bị chảy được lý
tưởng hóa không gây ra cấu kiện bị vượt lực / ứng suất giả hoặc chuyển dịch
không đúng.
Đặt tải vào kết cấu dưới: Khi kết cấu
dưới được mô hình hóa dọc theo kết cấu trên, các hiệu ứng lực cực trị do hoạt tải
có thể được xác định bằng cách tương tự như cho kết cấu trên. Độ cứng của phần
tử giao diện kết cấu trên/kết cấu dưới sẽ phân bố đồng thời tự động các hiệu ứng
lực và lực thiết kế có thể nhận được trực tiếp từ các đường/mặt ảnh hưởng. Khi
kết cấu trên/kết cấu dưới được mô hình độc lập nhau, hiệu ứng lực cực trị ở mặt
giao diện kết cấu trên/kết cấu dưới, thường là gối, cần được xác định trong mô
hình kết cấu trên, sau đó áp dụng cho mô hình kết cấu dưới.
Xác minh hoạt tải: Việc tính
toán đúng hiệu ứng của tải trọng di động yêu cầu áp dụng đúng các quy định về
hoặc tải, số làn
thiết kế, các hệ số nhân, kích cỡ vị trí của làn tải trọng và tải trực tiếp giữa
các biên. Việc áp dụng đúng đắn này cho bài toán tổng quát là hoàn toàn thách
thức.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.7.4 Lực ứng suất
trước
Cần tính toán lực ứng suất trước trong
mô hình khi phân tích bê tông ứng suất trước. Thông thường có hai cách để lập
mô hình ứng suất trước, phương pháp lực tương đương và phương pháp mô hình hóa
rõ ràng. Tương đương với phương pháp lực thay thế các thanh / cáp thép bằng các
lực tĩnh tương đương. Phương pháp mô hình hóa các thanh / cáp ở hình dạng chính
xác của chúng và sau đó rút ngắn chúng bằng cách sử dụng chương trình để phát triển
lực căng thích hợp.
A.7.5 Mô hình tải
phi tuyến
Tổ hợp tải trong tiêu chuẩn thường tận
dụng khả năng cộng tác dụng và hệ số (hoặc ngoại suy) trong nhiều phân tích đàn
hồi tuyến tính. Kết quả phân tích phi tuyến không được cộng tác dụng. Tất cả phải
được thực hiện trước khi thực hiện phân tích phi tuyến. Do hạn chế này, thực hiện
nhiều phân tích phi tuyến cho tổ hợp tải trọng, chẳng hạn như tải phương tiện
di chuyển có thể trở nên khá phức tạp, và không khuyến khích.
Phân tích phi tuyến chỉ nên được thực
hiện trong một số trường hợp. Hơn nữa, khi sử dụng bất kỳ tính năng tự động hoặc
tổ hợp tải nào của bất kỳ phần mềm cụ thể nào kết hợp với bất kỳ phân tích phi
tuyến tính nào, nên xác nhận rằng sự tổ hợp thực sự đang được thực hiện trước
khi phân tích phi tuyến.
A.8 Phân tích thiết
kế
A.8.1 Tính tương
thích của phân tích và điều khoản kỹ thuật
Mặc dù phân tích là phần chính của thiết
kế cầu, nó vẫn chỉ là một trong những bước trong nhiều bước quy trình thiết kế cầu.
Phân tích như một phần của thiết kế cầu dầm bản thông thường đòi hỏi giải pháp
đàn hồi tuyến tính bậc nhất cung cấp tải trọng kết quả dựa trên độ cứng và liên
kết của các bộ phận. Thiết kế cầu cũng là một quá trình lặp, yêu cầu nhiều phân
tích, thường là nhiều mô hình và nhiều trường hợp tải, như là thiết kế được tối
ưu hóa. Sau mỗi lần phân tích, các bộ phận cầu tương tác phải được kiểm tra để
đảm bảo chúng đáp ứng tất
cả các TTGH bằng cách sử dụng các quy định của tiêu chuẩn kỹ thuật.
Hầu hết các phần mềm phân tích PTHH chỉ
cung cấp kết quả phân tích dưới dạng lực hoặc ứng suất. Một vài gói phần mềm
cung cấp kiểm tra đặc điểm kỹ thuật trong chương trình, nhưng người thiết kế
nên xác minh rằng các kiểm tra đang được thực hiện chính xác và tất cả các kiểm
tra liên quan đang thực hiện.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.8.2 Kết quả phân
tích cho đầu vào thiết kế
Khi kết quả phân tích không tương ứng
với các đầu vào thiết kế được yêu cầu, cần có các bước hậu xử lý bổ sung để có
các giá trị cần thiết để thực hiện kiểm tra thiết kế do tiêu chuẩn yêu cầu. Có thể
có hai cách tiếp cận khác nhau; kết quả phân tích có thể được chuyển thành dạng
cần thiết để áp dụng kiểm tra thông số kỹ thuật, hoặc đặc điểm kỹ thuật kiểm
tra có thể được chuyển đổi thành một hình thức tương thích với các kết quả phân
tích.
A.8.2.1 Tích hợp ứng
suất
Để nhận được các hiệu ứng lực cấu kiện
như lực cắt (V), mômen (M), lực dọc trục (P) và lực xoắn (T) từ đầu ra ứng suất
do chương trình phân tích PTHH thực hiện, ứng suất có thể được tích hợp qua diện
tích của cấu kiện như Hình A.19. Ngoài ra có thể xuất tác dụng của lực màng và
lực bản trên chiều
rộng cơ sở đơn vị để sử dụng trong tính toán thiết kế. Có thể tìm thấy mômen uốn
trục chính từ các ứng suất đầu ra bằng cách tính tổng các ứng suất tích hợp
quanh trọng tâm của mặt cắt.
Quy trình chung được tóm tắt như sau:
- Xác định các đặc tính hình học của mặt
cắt ngang, bao gồm cả kích thước của tất cả các phần tử riêng
lẻ, trọng tâm và tâm cắt của toàn bộ mặt cắt ngang bằng cách sử dụng độ bền của
vật liệu tiếp cận. và chiều rộng “tham gia” của bản, nếu cần thiết.
- Trích xuất lực cho bất kỳ phần tử dầm
nào là một phần của mặt cắt ngang.
- Trích xuất ứng suất cho tất cả các
phần tử vỏ và / hoặc phần tử khối là một phần của mặt cắt.
- Từ ứng suất cắt và các đặc tính hình
học rút ra, xác định giá trị lực cắt tương đương và đường tác dụng đối với tất
cả các phần tử vỏ và / hoặc phần tử rắn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình A.19 -
Minh họa, xác định mô men từ số liệu đầu ra ứng suất FEA
- Biến đổi lực cắt thành các thành phần trục
chính và trục phụ nếu cần.
- Tính tổng lực cắt trục chính và lực
cắt trục nhỏ, bao gồm bất kỳ phần tử dầm nào để có được lực cắt trục chính thực
và lực cắt trục nhỏ một cách tương ứng.
- Tính tổng kết quả lực cắt của tất cả
các phần tử, bao gồm bất kỳ phần tử dầm nào, nhân với khoảng cách từ tâm cắt của
mặt cắt ngang để có được lực xoắn thực.
- Xác định lực pháp tuyến tương đương
và đường tác dụng đối với tất cả các phần tử vỏ và / hoặc phần tử rắn các yếu tố từ
tuyến ứng suất pháp rút ra và các tính chất hình học.
- Tính tổng các lực pháp tuyến trên mặt
cắt ngang để có lực dọc trục thực.
- Tính tổng các mômen từ các lực pháp
tuyến tương đương nhân với khoảng cách của chúng từ tâm của mặt cắt ngang trong
cả mặt phẳng trục chính và trục nhỏ cùng với bất kỳ mômen trục chính hoặc trục
nhỏ nào từ các phần tử dầm để có được mômen trục chính thực và mômen trục nhỏ
thực trên mặt cắt ngang. Lưu ý rằng nếu không có lực dọc trục thực trên mặt cắt
ngang, các mômen có thể được tổng hợp về bất kỳ điểm nào trên mặt cắt, chẳng hạn
như trục trung hòa.
Cần thận trọng để đảm bảo trục tọa độ
của lát cắt được thiết và lập đúng trước tiên hiểu việc sử dụng dữ liệu đầu ra.
Thực hiện một kiểm tra đơn giản có thể thực hiện bằng tay luôn là một khuyến
nghị.
A.8.2.2 Kết cấu
không liên hợp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.8.2.3 Kết cấu liên
hợp
Khi mặt cắt liên hợp chịu uốn, ứng suất
dọc trục trong dầm lớn ngay phía trên dầm và sau đó giảm khi di chuyển theo
phương ngang do trễ cắt. Trong tính toán khả năng thiết kế của mặt cắt liên hợp,
thường sử dụng đơn giản hóa. Một “chiều rộng có hiệu” danh nghĩa của dầm được
chỉ định và ứng suất trên chiều rộng danh nghĩa giả định là đều và bằng ứng suất
lớn nhất trong dầm. Chiều rộng có hiệu của ứng suất lớn nhất đều này bằng chiều
rộng yêu cầu sao cho lực tổng bằng tổng lực tác dụng trên chiều rộng thực của bản
tham gia.
Đối với các phân tích chính xác, kiến
thức về chiều rộng có hiệu của dầm thường không đủ và đối với một số mức độ có
thể gây hiểu lầm. Điều cần thiết cho thiết kế là tính toán mô men và lực cắt
(có thể cả lực dọc trục) hiện diện trong dầm liên hợp.
Trong trường hợp khi người phân tích
muốn xác định hiệu ứng trễ cắt, chẳng hạn như phân bố ứng suất pháp trong bản,
điều quan trọng là lưới phải đủ mịn. Phải có hai phần tử giữa các đường sườn để
có được hiệu ứng cắt trễ là yêu cầu tối thiểu, nhưng khuyến nghị ít nhất là 4
phần tử
A.8.2.4 Cầu dầm bê
tông
Các cấu kiện bê tông nói chung được mô
hình hóa bằng cách sử dụng các thuộc tính nguyên (không nứt) để xác định phân bố
của các lực, kể cả sau đó có thể sử dụng những lực này để thiết kế mặt cắt bị nứt.
Mặc dù độ cứng nứt các đặc tính ít khi sử dụng trong các mô hình thiết kế cầu dầm
bản thường, chúng có thể được sử dụng đối với các kết cấu phức tạp hơn hoặc khi
yêu cầu kết quả chính xác hơn.
Ứng suất phân tử vỏ rút ra từ mô hình
phân tích chỉ áp dụng nếu ứng suất hiện thời không gây nứt hoặc vỡ bê tông. Nếu
phân tích chỉ ra rằng nứt đã xảy ra, ứng suất đúng có thể được tìm bằng cách
áp dụng hiệu ứng lực từ mô hình cho mặt cắt thiết kế, tính đến sự không tham
gia của bê tông bị nứt do kéo.
Trong hầu hết các trường hợp, ứng suất
rút ra trực tiếp từ một mô hình phân tích PTHH không sử dụng để phát triển hoặc
kiểm tra thiết kế cấu kiện bê tông ở TTGHCĐ. Thay vào ứng suất nói chung là giá
trị mô men, lực dọc, lực cắt chúng so với sức kháng tính được theo tiêu chuẩn
thiết kế được sử dụng để xác định tính đủ của thiết kế.
A.8.2.5 Cầu dầm thép
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các mô hình phân tích đối với các cấu
kiện liên hợp thép - bê tông chịu uốn thường cho phép kéo trong bê tông mặt cầu
và giả sử tác động liên hợp trên
toàn bộ chiều dài cầu để xác định sự phân bố của các lực, mặc dù một số phần mềm
cho phép sử dụng các phần "liên hợp một phần" trên phần vùng mômen
âm. Các thuộc tính mặt cắt khác nhau sau đó được sử dụng trong thiết kế, dẫn đến
phân tích ứng suất mô hình không tương đương với ứng suất được sử dụng cho thiết
kế.
A.8.2.6 Mô hình dầm đốt sống
Kết quả ứng suất từ mô hình dầm cột sống
là lực cắt, mômen (bao gồm cả xoắn) và lực dọc trục tại các mặt cắt thiết kế đã chọn của cầu.
Nếu không thể bỏ qua được cắt, cần
tính bổ sung ứng suất cắt do xoắn cho các sườn ngoài. Bất kỳ sự nghiêng nào của
sườn cũng cần xét đến. Phương pháp tương tự cũng được áp dụng cho cắt ở bản đỉnh và đáy hộp.
A.8.2.7 Chuyển vị và
độ vồng
Các phân tích chính xác là công cụ tốt
để tính toán độ võng và / hoặc độ vồng một cách trực tiếp. Nhưng các mô hình sử
dụng để tính độ võng thường hoàn toàn khác với các mô hình sử dụng để tính toán
các hiệu ứng của tải trọng.
Đối với thiết kế cường độ, mục tiêu là
đạt được hiệu ứng tải bằng hoặc lớn hơn hiệu ứng tải thực tế. Lý do là để thiết
kế theo độ bền, mục đích là nhận được hiệu ứng tải lớn hơn hay bằng hiệu ứng tải
hiện có (thiên về an toàn). Đối với thiết kế chuyển vị hoặc độ vồng, mục tiêu
là càng chính xác càng tốt. Như vậy, phân tích chuyển vị nên bao gồm tất cả các
nguồn phi kết cấu của độ cứng, chẳng hạn như các gờ và lớp phủ bề mặt.
A.8.2.8 Phần tử khối
Các phần tử khối gặp phải nhiều vấn đề
tương tự như các phần tử vỏ, nếu không muốn nói là nhiều hơn. Nếu sử dụng phần
tử khối để tạo mô
hình cho một bộ phận chẳng hạn dầm cầu, người thiết kế cần phải tích hợp trên bề
mặt và tổng hợp kết quả của tất cả phần tử khối và phần tử bất kỳ bổ sung khác
của bộ phận để tính mômen, lực cắt và lực dọc trục cần thiết cho thiết kế. Vì
lý do này, các phần tử khối là phù hợp hơn với việc phân tích các hiệu ứng cục
bộ, khi có thể kiểm tra trực tiếp ứng suất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các phép phân tích không đàn hồi và /
hoặc phi tuyến thường được sử dụng để xác định năng lực của một phần tử hoặc hệ
thống kết cấu theo một kịch bản tải cụ thể. Xác định khả năng không đàn hồi /
phi tuyến có thể hữu ích trong các trường hợp, chẳng hạn như phân tích điều tra
hoặc khi có yêu cầu hiện tượng sau chảy/sau tới hạn, ví dụ như trong việc đánh
giá khả năng đẩy dần của cầu cho thiết kế địa chấn hoặc đánh giá khả năng dự
phòng của cầu có các bộ phận đứt gãy tới hạn (FCM). Đặc biệt, phân tích dư thường
liên quan đến các phần tử phức tạp và các mô hình vật liệu có thể tái tạo phản ứng
không đàn hồi và phi tuyến tính của các cấu kiện dọc theo đường dẫn tải thay thế
được kích hoạt sau khi hư hỏng FCM.
Do đó khi sử dụng kết quả của phân
tích phi tuyến để thiết kế theo phương pháp hệ số, phải thực hiện
tính toán hệ số trước khi áp dụng tải trong phân tích phi tuyến.
A.8.2.10 Ổn định
A.8.2.10.1 Cột dầm
Các bộ phận chịu nén, chẳng hạn như cột
hoặc vòm, dễ bị mất ổn định thường gọi là oằn. Đây là điều kiện trong đó kết cấu
đạt mức tối đa hoặc tải trọng tới hạn và không thể duy trì bất kỳ tải bổ sung
nào, thay vào đó là sự tăng dần biến dạng có thể dẫn đến sụp đổ. TTGH ổn định
trong thiết kế cầu là một hàm của một số biến, gồm trạng thái ứng suất dư trong
thép, độ thẳng ban đầu của cấu kiện, lệch tâm của tải trọng, tác động phụ thuộc
thời gian (từ biến bê tông) và những kiềm chế đầu cấu kiện thực tế.
Khi các điều kiện nằm ngoài giới hạn của
tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc cần có kết quả chính xác hơn, có thể yêu cầu phân tích
chuyển vị - tải phi tuyến để xác định các giai đoạn đầu của oằn.
A.8.2.10.2 Oằn xoắn
ngang
Để thiết kế bản bê tông điển hình trên
cầu dầm, ổn định dầm có thể là nội dung quan trọng. Tính ổn định của dầm bê
tông đúc sẵn có thể rất quan trọng trong quá trình vận chuyển và lắp dựng. Ổn định của vùng
mômen dương của dầm thép có thể là mối quan tâm trong quá trình lắp đặt dầm trước
khi đổ bê tông bản. Để thiết kế bản bê tông điển hình trên cầu dầm, sử dụng các
quy định của tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo ổn định trên cơ sở hiệu ứng tải từ
phân tích đàn hồi tuyến tính.
A.8.2.11 Ứng xử động
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự phát triển của các mô hình phân
tích PTHH cho mỗi phương pháp tương tự nhau, nhưng tải và kỹ thuật phân
tích khác nhau. Phân tích lịch sử thời gian là phương pháp tiên tiến hơn trong
hai phương pháp, vì có thể xem xét phi tuyến hình học, vật liệu, các tác động,
và việc sử dụng nó được yêu cầu để phân tích các kết cấu có tầm quan trọng đáng
kể và độ phức tạp. Khi phân tích động được được thực hiện chính xác, các hiệu ứng
tải có thể được sử dụng trực tiếp để thiết kế các cấu kiện.
Thư mục Tài
liệu tham khảo
1. TCVN 11823:2017, Tiêu chuẩn thiết
kế cầu đường bộ.
2. TCVN 8893:2020, Cấp kỹ thuật Đường
sắt.
1. QCVN 02:2022/BXD, Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng
2. QCVN 08:2018/BGTVT, Quy chuẩn quốc
gia về khai thác đường sắt.
3. TCVN 5664:2009, Phân cấp đường
thủy nội địa.
4. SNiP 2.03.05-84 (SP 35.13330: 2011)
Tiêu chuẩn thiết kế cầu
và cống.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6. TB 10621:2014, Quy chuẩn thiết kế đường sắt
tốc độ cao (của Trung Quốc).
7. BS 5400: Steel, Concrete and
Composite Bridges.
8. Manual for Railway Engineering (MRE,
AREMA).
9. California High-Speed Train Project
Desgin Criteria, 2012.
10. EN 15273, Railway Applications,
Part 3: Gauges.
11. EN 1337, Structural Bearings.
12. Designers' Guide to Eurocode EN
1990: Basis of Structure Design, J A Calgaro, H.Gulvanessian, Thomas Telford
UK, 2012.
13. Designers' Guide to Eurocode 1:
Action on Bridges, J A Calgaro, H.Gulvanessian, Thomas Telford UK, 2010.
14. Designers' Guide to Eurocode 2,
Part 2: Concrete Bridges.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
16. Designers' Guide to Eurocode 4,
Part 2: Composite Bridges.
17. Bridge Design to Eurocodes Worked
examples, JRC, 2012.
18. Guideline for Load and Resistance
Assessment of Existing European Railway Bridges, 2007.
19. Manual for Refined Analysis in
Bridge Design and Evaluation, FHWA-HIF-18-046, May 2019.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
1 Phạm vi áp dụng
2. Các ký hiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4 Các phương
pháp phân tích kết cấu được chấp nhận
5 Mô hình toán
học
5.1 Tổng quát
5.2 Sự làm việc của
vật liệu kết cấu
5.2.1 Đàn hồi và
không đàn hồi
5.2.2 Sự làm việc
đàn hồi
5.2.3 Sự làm việc
không đàn hồi
5.3 Hình học
5.3.1 Lý thuyết biến
dạng nhỏ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.4 Các điều kiện
biên của mô hình
5.5 Cấu kiện
tương đương
6 Phân tích
tĩnh học
6.1 Ảnh hưởng của
kích thước hình học
6.1.1 Tỷ số mặt cắt
phẳng
6.1.2 Các kết cấu
cong trong mặt bằng
6.1.3 Sai lệch hình
học
6.2 Các phương
pháp phân tích gần đúng
6.2.1 Mặt cầu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.3 Bề rộng dải
tương đương đối với các loại cầu bản
6.2.4 Cầu giàn và
vòm
6.2.5 Hệ số chiều
dài có hiệu của cấu kiện chịu nén (K)
6.2.6 Bề rộng bản
cánh có hiệu của dầm và bản
6.2.7 Phân bố tải trọng
gió ngang trong hệ thống cầu dầm
6.2.8 Sự phân bố tải
trọng ngang do động đất
6.2.9 Phân tích cầu
bê tông thi công phân đoạn
6.3 Phương pháp
phân tích chính xác
6.3.1 Tổng quát
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.3.3 Cầu dầm bản
6.3.4 Cầu dầm hộp
và cầu mặt cắt nhiều ngăn
6.3.5 Cầu giàn
6.3.6 Cầu vòm
6.3.7 Cầu dây văng
6.3.8 Cầu treo dây
võng
6.4 Sự phân bố lại
mô men âm trong cầu dầm liên tục
6.4.1 Tổng quát
6.4.2 Phương pháp
chính xác
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.5 Ổn định
6.6 Phân tích về
gradient nhiệt
6.7 Phân tích
tĩnh tương tác kết cấu - đường ray
7 Phân tích động
lực học
7.1 Những yêu cầu
cơ bản
7.1.1 Tổng quát
7.1.2 Sự phân bố
khối lượng
7.1.3 Độ cứng
7.1.4 Giảm chấn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.2 Ứng xử động học
đàn hồi
7.2.1 Dao động do
đoàn tàu
7.2.2 Dao động do
gió
7.3 Ứng xử động học
không đàn hồi
7.3.1 Tổng quát
7.3.2 Các khớp dẻo
và các đường chảy dẻo
7.4 Phân tích tải
trọng động đất
7.5 Phân tích tải
trọng va tàu
8 Phân tích
theo mô hình vật lý
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.2 Thử cầu
Phụ lục A (Tham khảo) Phương
pháp phân tích chính xác
A.1 Tổng quát
A.2 Các phương
pháp phân tích chính xác
A.3 Mô hình hóa dầm cầu tổng
quát
A.4 Mô hình hóa cầu
bê tông / cầu thép
A.5 Mô hình hóa
nâng cao
A.6 Kiểm tra / áp
dụng
A.7 Ứng dụng tải
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thư mục Tài liệu tham khảo