TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
13903:2023
ISO/IEC TR 24028:2020
CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN - TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - TỔNG QUAN VỀ TÍNH ĐÁNG TIN CẬY TRONG TRÍ TUỆ
NHÂN TẠO
Information
technology - Artificial intelligence - Overview of trustworthiness in
artificial
intelligence
Lời nói đầu
TCVN 13903:2023 hoàn toàn tương đương
với ISO/IEC TR 24028:2020.
TCVN 13903:2023 do Viện Công nghiệp Phần
mềm và Nội dung số Việt Nam biên soạn, Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị, Tổng
cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN - TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - TỔNG QUAN VỀ TÍNH ĐÁNG
TIN CẬY TRONG TRÍ
TUỆ NHÂN TẠO
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này xem xét các vấn đề dưới
đây liên quan đến tính đáng tin cậy trong các hệ thống AI:
- Các phương pháp tiếp cận để tạo lập
sự tin cậy vào các hệ thống AI thông qua tính minh bạch, tính diễn giải, khả
năng điều khiển v.v..;
- Các bẫy kỹ thuật và các mối đe dọa
và rủi ro điển hình liên
quan đến các hệ thống AI, các kỹ thuật và phương pháp giảm thiểu có thể; và
- Các phương pháp tiếp cận để đánh giá
tính khả dụng, khả năng phục hồi, tính tin cậy, độ chính xác, an toàn, bảo mật
và quyền riêng tư của các hệ thống AI.
Đặc tả về các mức độ đáng tin cậy đối
với các hệ thống AI nằm ngoài phạm vi của tiêu chuẩn này.
2 Tài liệu viện dẫn
Tiêu chuẩn này không có tài liệu viện
dẫn.
3 Thuật ngữ và định
nghĩa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ISO và IEC duy trì cơ sở dữ
liệu thuật ngữ sử dụng trong hoạt động tiêu chuẩn hóa tại các địa chỉ dưới đây:
- Nền tảng trình duyệt trực tuyến của
ISO: tại địa chỉ https://www.iso.org/obp
- Từ vựng kỹ thuật điện của IEC: tại địa
chỉ https://www.electropedia.org/
3.1
Trách nhiệm giải trình
(accountability)
Thuộc tính đảm bảo rằng các hành động
của một thực thể (3.16) có thể được truy nguyên duy nhất cho thực thể
đó.
[nguồn: ISO/IEC 2382: 2015, 2126250 được
sửa đổi
- Xóa các chú
thích].
3.2
Tác nhân (actor)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[nguồn: ISO/IEC TR 22417:2017, 3.1].
3.3
Thuật toán (algorithm)
Tập hợp các quy tắc để biến đổi biểu
diễn logic của dữ liệu (3.11).
[nguồn: ISO/IEC 11557:1992, 4.3],
3.4
Trí tuệ nhân tạo (artificial
intelligence)
AI
Năng lực của một hệ thống được thiết
kế (3.38) để thu nhận, xử lý và áp dụng các tri thức và kỹ năng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.5
Tài sản (asset)
Bất kỳ thứ gì có giá trị (3.46)
đối với một bên liên quan (3.37).
CHÚ THÍCH 1: Có nhiều loại hình tài sản,
bao gồm:
a) Thông tin (3.20);
b) phần mềm, chẳng hạn như chương
trình máy tính;
c) Vật chất, chẳng hạn như máy tính;
d) Dịch vụ;
e) Con người và kỹ năng, trình độ,
kinh nghiệm của họ; và
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[Nguồn: ISO/IEC 21827: 2008, 3.4 được
sửa đổi - Trong định nghĩa, “tổ chức” đã được thay thế bằng "một bên liên
quan". Xóa chú thích 1].
3.6
Thuộc tính (attribute)
Tích chất hoặc đặc điểm của một đối tượng
có thể phân biệt về mặt định lượng hoặc định tính bằng con người hoặc các
phương tiện tự động.
[nguồn: ISO/IEC/IEEE 15939:2017, 3.2].
3.7
Tự trị (autonomy)
Tính tự trị (autonomous)
Đặc điểm của một hệ thống
(3.38) được quản trị bởi các quy tắc
riêng của nó có được từ kết quả của quá trình tự học.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.8
Thiên vị (bias)
Thiên vị đối với cái gì, người hoặc
nhóm người nào hơn.
3.9
Tính nhất quán (consistency)
Mức độ đồng nhất, tiêu chuẩn hóa và
không có mâu thuẫn giữa các tài liệu, thành phần hoặc các bộ phận của một hệ
thống (3.38).
[nguồn: ISO/IEC 21827: 2008, 3.14].
3.10
Điều khiển (control)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[nguồn: IEC 61800-7-1: 2015, 3.2.6].
3.11
Dữ liệu (data)
Sự biểu diễn có thể biên dịch
lại thông tin (3.20) theo cách thức chính quy, phù hợp để truyền thông, diễn
giải, hoặc xử lý.
CHÚ THÍCH 1: Dữ liệu (3.11) có thể được xử lý bằng
con người hoặc phương tiện tự động.
[nguồn: ISO/IEC 2382: 2015, 2121272 được
sửa đổi - xóa bỏ chú
thích 2 và 3].
3.12
Chủ thể dữ liệu (data
subject)
Sự riêng biệt về dữ liệu cá nhân
(3.27) được ghi nhận.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.13
Cây quyết định (decision
tree)
Mô hình học tập có giám sát mà sự suy
diễn trong đó được biểu diễn bằng cách duyệt qua một hoặc nhiều cấu trúc dạng
cây.
3.14
Tính hiệu quả (effective)
Mức độ thực hiện các hoạt động theo kế
hoạch và kết quả đạt được theo kế hoạch.
[nguồn: ISO 9000: 2015, 3.7.11 được sửa
đổi - Bỏ chú thích 1].
3.15
Hiệu suất (efficiency)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[nguồn: ISO 9000: 2015, 3.7.10].
3.16
Thực thể (entity)
Bất kỳ điều gì cụ thể hoặc trừu tượng
được quan tâm.
[nguồn: ISO/IEC 10746-2: 2009, 6.1].
3.17
Tổn hại (harm)
Thương tích hoặc thiệt hại cho sức khoẻ
của con người hoặc thiệt hại về tài sản hoặc môi trường.
[nguồn: ISO/IEC Guide 51: 2014, 3.1].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nguy cơ (hazard)
Nguồn tiềm ẩn gây ra sự tổn hại (3.17).
[nguồn: ISO/IEC Guide 51: 2014, 3.2],
3.19
Các yếu tố con người (human
factors)
Các yếu tố môi trường, tổ chức và công
việc kết hợp với các đặc điểm nhận thức con người ảnh hưởng đến hành vi của cá
nhân hoặc tổ chức.
3.20
Thông tin (information)
Dữ liệu (3.11) có ý nghĩa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.21
Tính toàn vẹn (integrity)
Thuộc tính bảo vệ sự chính xác và tính
đầy đủ của tài sản (3.5).
[nguồn: ISO/IEC 27000: 2018, 3.36 được
sửa đổi - Bổ sung định nghĩa "bảo vệ" trước "sự chính xác" và
"của tài sản" đã được thêm vào sau "tính đầy đủ"].
3.22
Sử dụng theo dự kiến (intended
use)
Sử dụng đúng với thông tin
(3.20) được cung cấp về một sản phẩm hoặc hệ thống (3.38), hoặc trong trường
hợp không có thông tin đó thì sử dụng theo kiểu mẫu (3.26) đã biết theo
thông lệ.
[nguồn: ISO/IEC Guide 51: 2014, 3.6].
3.23
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ML
Quá trình (3.29) trong đó một
khối chức năng cải thiện hiệu năng của nó bằng cách thu nhận tri thức hoặc kỹ
năng mới; hoặc củng cố lại tri thức hoặc kỹ năng hiện có.
[nguồn: ISO/IEC 2382: 2015, 2123789].
3.24
Mô hình học máy (machine
learning model)
Cấu trúc toán học tạo ra một suy diễn
hoặc dự đoán dựa trên dữ liệu (3.11) hoặc thông tin đầu vào.
3.25
Mạng nơ-ron (neural network)
Mô hình điện toán xử lý phân tán, song
song cục bộ và chứa một mạng các phần tử xử lý đơn giản được gọi là các nơ-ron
nhân tạo thể hiện hành vi toàn cục phức tạp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.26
Kiểu mẫu (pattern)
Tập hợp các thuộc tính và mối quan hệ
của chúng được sử dụng để nhận dạng một thực thể (3.16) trong một ngữ cảnh
nhất định.
[nguồn: ISO/IEC 2382: 2015, 2123798].
3.27
Dữ liệu cá nhân (personal
data)
Dữ liệu (3.11) liên quan đến
nhận dạng hoặc có thể nhận dạng được một cá nhân.
[nguồn: ISO 5127: 2017, 3.1.10.14 được
sửa đổi - Bỏ các chú thích 1 và 2].
3.28
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tự do xâm nhập vào cuộc sống riêng tư
hoặc vấn đề riêng của một cá nhân khi kết quả của sự xâm nhập đó là thu thập và
sử dụng dữ liệu (3.11) quá mức hoặc bất hợp pháp về cá nhân đó.
[nguồn: ISO/IEC 2382: 2015, 2126263 được
sửa đổi - Bỏ chú thích 1 và 2].
3.29
Quá trình (process)
Tập hợp các hoạt động có liên quan hoặc
tương tác với nhau sử dụng các yếu tố đầu vào để mang lại kết quả dự kiến.
[nguồn: ISO 9000: 2015, 3.4.1 được sửa
đổi - Bỏ các ghi chú].
3.30
Tính tin cậy (reliability)
Thuộc tính về sự phù hợp của hành vi
và kết quả dự kiến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.31
Rủi ro (risk)
Ảnh hưởng của tính bất định đến các mục
tiêu.
CHÚ THÍCH 1: Ảnh hưởng là độ lệch
so với cái được kỳ vọng. Nó có thể tích cực, tiêu cực hoặc cả hai, và nó tạo
ra hoặc dẫn đến các cơ hội và mối đe dọa.
CHÚ THÍCH 2: Mục tiêu có thể có các
khía cạnh và phạm trù khác nhau và có thể được áp dụng ở các cấp độ khác nhau.
CHÚ THÍCH 3: Rủi ro thường được thể hiện
dưới dạng các nguồn gốc rủi ro, các sự kiện tiềm ẩn, hậu quả và khả năng xảy ra của
chúng.
[nguồn: TCVN ISO 31000:2018, 3.1].
3.32
Người máy (robot)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 1: Người máy bao gồm hệ thống
điều khiển (3.10) và
giao diện của hệ thống (3.38) điều khiển.
CHÚ THÍCH 2: Việc phân loại người máy
thành người máy công nghiệp hoặc
người máy dịch vụ được thực hiện tùy theo ứng dụng dự kiến của nó.
[nguồn: ISO 18646-2: 2019, 3.1].
3.33
Khoa học người máy (robotics)
Khoa học và thực tiễn thiết kế, sản xuất và ứng dụng người
máy (3.32).
[nguồn: ISO 8373: 2012, 2.16].
3.34
Tính an toàn (safety)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[nguồn: ISO/IEC Chỉ dẫn 51: 2014,
3.14].
3.35
Tính bảo mật (security)
Mức độ mà sản phẩm hoặc hệ thống
(3.38) bảo vệ thông tin (3.20) và dữ liệu (3.11) để mọi người hoặc
các sản phẩm, hệ thống khác có mức độ truy cập dữ liệu phù hợp với các loại
hình và cấp độ cho phép.
[nguồn: ISO/IEC 25010: 2011, 4.2.6].
3.36
Dữ liệu nhạy cảm (sensitive
data)
Dữ liệu (3.11) với các tác động
có hại tiềm tàng trong trường hợp bị tiết lộ hoặc sử dụng sai mục đích.
[nguồn: ISO 5127: 2017, 3.1.10.16].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bên liên quan (stakeholder)
Bất kỳ cá nhân, nhóm hoặc tổ chức nào có thể ảnh hưởng,
bị ảnh hưởng hoặc tự nhận thức bị ảnh hưởng bởi một quyết định hoặc hành động.
[NGUỒN: ISO/IEC 38500: 2015, 2.24].
3.38
Hệ thống (system)
Tổ hợp các phần tử tương tác được tổ
chức để đạt được một hoặc nhiều mục đích đã định.
CHÚ THÍCH 1: Hệ thống đôi khi
được coi như một sản phẩm hoặc các dịch vụ mà nó cung cấp.
[nguồn: ISO/IEC/IEEE 15288:2015, 3.38].
3.39
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nguyên nhân tiềm ẩn của sự
cố không mong muốn, có thể dẫn đến tổn hại (3.17) cho hệ
thống (3.38), tổ chức hoặc cá nhân.
3.40
Huấn luyện (training)
Quá trình (3.29) thiết lập hoặc
cải thiện các tham số của mô hình học máy (3.24) dựa trên thuật toán
(3.3) học máy bằng cách sử dụng dữ liệu (3.11) huấn luyện.
3.41
Sự tin cậy (trust)
Mức độ người dùng (3.43) hoặc bên
liên quan (3.37) khác tin tưởng rằng một sản phẩm hoặc hệ thống (3.38)
sẽ hoạt động như dự kiến.
[nguồn: ISO/IEC 25010: 2011, 4.1.3.2].
3.42
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khả năng đáp ứng kỳ vọng của các bên
liên quan (3.5.13) theo cách thức có thể xác minh được.
CHÚ THÍCH 1: Tùy thuộc vào bối cảnh hoặc
lĩnh vực, cũng
như sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, dữ liệu và công nghệ được sử dụng, các đặc điểm
khác nhau được áp dụng và cần được xác minh để đảm bảo đáp ứng kỳ vọng
của các bên liên quan (3.5.13).
CHÚ THÍCH 2: Các đặc điểm của tính
đáng tin cậy bao gồm: ví dụ như độ tin cậy, tính khả dụng, khả năng phục hồi, bảo
mật, quyền riêng tư, an toàn, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính toàn vẹn,
tính xác thực, chất lượng và khả năng sử dụng.
CHÚ THÍCH 3: Tính đáng tin cậy là một
thuộc tính có thể được áp dụng cho các dịch vụ, sản phẩm, công nghệ,
dữ liệu và thông tin, cũng như trong bối cảnh quản trị đối với các tổ chức.
3.43
Người dùng (user)
Cá nhân hoặc nhóm tương tác với hệ
thống (3.38) hoặc hưởng lợi từ hệ thống trong quá trình sử dụng nó.
[nguồn: ISO/IEC/IEEE 15288:2015,
4.1.52 được sửa đổi - Bỏ chú thích 1].
3.44
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Xác nhận, thông qua việc cung cấp bằng
chứng khách quan, rằng các yêu cầu sử dụng theo dự kiến hoặc ứng dụng cụ
thể đã được đáp ứng.
CHÚ THÍCH 1: Hệ thống
(3.38) đúng đắn đã được xây dựng.
[nguồn: ISO/IEC TR 29110-1: 2016, 3.73
được sửa đổi - Chỉ có câu cuối cùng của chú thích 1 được giữ lại và bỏ chú
thích 2].
3.45
Giá trị (value)
<dữ liệu > đơn vị của
dữ liệu (3.11).
[nguồn: ISO/IEC/IEEE 15939:2017, 3.41].
3.46
Giá trị (value)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[nguồn: ISO 10303-11:2004, 3.3.22].
3.47
Xác minh (verification)
Xác nhận, thông qua việc cung cấp bằng
chứng khách quan, rằng các yêu cầu cụ thể đã được đáp ứng.
CHÚ THÍCH 1: Hệ thống (3.38) đã
được xây dựng đúng.
[nguồn: ISO/IEC TR 29110-1: 2016, 3.74
được sửa đổi - Chỉ có câu cuối cùng của chú thích 1 được giữ lại].
3.48
Tính dễ bị tổn thương
(vulnerability)
Điểm yếu của một tài sản (3.5)
hoặc điều khiển (3.10) có thể
bị lợi dụng bởi một hoặc nhiều
mối đe dọa (3.39).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.49
Khối lượng công việc (workload)
Hỗn hợp các tác vụ thường chạy trên một
hệ thống (3.38) máy tính nhất định.
[nguồn: ISO/IEC/IEEE 24765:2017,
3.4618 được sửa đổi - Bỏ chú thích 1].
4 Tổng quan
Tiêu chuẩn này cung cấp một cái nhìn tổng
quan về các chủ đề liên quan đến việc xây dựng tính đáng tin cậy của các hệ thống
AI. Một trong những mục tiêu của tiêu chuẩn này này là hỗ trợ cộng đồng tiêu chuẩn
xác định các lỗ hổng tiêu chuẩn hóa cụ thể trong lĩnh vực AI.
Điều 5 của tiêu chuẩn khảo sát sơ bộ
các phương pháp tiếp cận hiện đang được sử dụng để xây dựng tính đáng tin cậy
trong các hệ thống kỹ thuật và thảo luận về tiềm năng áp dụng của chúng đối với
các hệ thống AI. Điều 6 của tiêu chuẩn xác định các bên liên quan. Điều 7 thảo
luận về những mối quan tâm của họ liên quan đến trách nhiệm, trách nhiệm
giải trình, quản trị và tính an toàn của các hệ thống AI. Điều 8 của tiêu chuẩn
khảo sát tính dễ bị tổn thương của hệ thống AI có thể làm giảm tính đáng tin cậy
của chúng. Điều 9 của tiêu chuẩn xác định các biện pháp có thể để cải thiện
tính đáng tin cậy của hệ thống AI bằng cách giảm thiểu tính dễ tổn thương trong
vòng đời của nó. Các biện pháp bao gồm những khía cạnh liên quan đến cải thiện
hệ thống AI về tính minh bạch, khả năng kiểm soát, xử lý dữ liệu, độ bền vững,
thử nghiệm, đánh giá và sử dụng. Các kết luận được trình bày trong Điều 10.
5 Các khuôn khổ hiện
có áp dụng cho tính đáng tin cậy
5.1 Cơ sở
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này coi hệ thống AI là bất
kỳ hệ thống nào (cho dù là sản phẩm hay dịch vụ) sử dụng AI. Có nhiều loại hệ
thống AI khác nhau. Một số hệ thống được triển khai hoàn toàn bằng phần mềm,
trong khi những hệ thống khác phần lớn được triển khai bằng phần cứng (ví dụ
như người máy).
Một định nghĩa có thể chấp nhận được
về tính đáng tin cậy là khả năng đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan theo
cách thức có thể kiểm chứng được. Định nghĩa này có thể được áp dụng
cho một loạt các hệ thống, công nghệ và lĩnh vực ứng dụng AI.
Cũng như đối với tính bảo mật, tính
đáng tin cậy đã được hiểu và coi như một yêu cầu phi chức năng xác định các thuộc
tính mới nổi của một hệ thống - tức là một tập các đặc điểm cùng với các thuộc
tính của chúng - bên trong bối cảnh chất lượng sử dụng. Điều này được chỉ ra
trong ISO/IEC 25010 [20].
Ngoài ra, giống như tính bảo mật, tính
đáng tin cậy có thể được cải thiện thông qua một quy trình có tổ chức với các kết
quả cụ thể có thể đo lường và các chỉ số hiệu năng chính (KPI).
Tóm lại, tính đáng tin cậy được hiểu
và xem như một quy trình có tổ chức được tiến hành đi cùng với một yêu cầu (phi
chức năng).
Theo UNEP [26], “nguyên tắc
phòng ngừa” có nghĩa là ở những nơi có
các mối đe dọa nghiêm trọng hoặc tổn hại không thể phục hồi, thì việc cung cấp các
sở cứ tin chắc về mặt khoa học về các mối đe dọa và tổn hại đó sẽ không được sử
dụng như một lý do để trì hoãn các biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa tổn hại. Trong kỹ
thuật an toàn, một quy trình để nắm bắt và sau đó xác định kích cỡ, các yêu cầu
về “giá trị” của
các bên liên quan bao gồm sự hiểu biết về bối cảnh sử dụng của hệ thống, các
nguy cơ gây hại và áp dụng “nguyên tắc phòng ngừa” như một kỹ thuật giảm thiểu rủi ro
chống lại những hậu quả tiềm ẩn ngoài ý muốn, chẳng hạn như tổn hại đến quyền
và tự do của thể nhân, cuộc sống dưới bất kỳ hình thức nào, môi trường, sinh vật
hoặc cộng đồng.
Hệ thống AI thường là các hệ thống hiện
có được tăng cường khả năng AI. Trong trường hợp này, tất cả các phương pháp tiếp
cận và mối quan tâm về tính đáng tin cậy của phiên bản cũ của hệ thống tiếp tục được
áp dụng cho hệ thống được cải tiến nâng cao. Chúng bao gồm các phương pháp tiếp
cận về chất lượng (cả dữ liệu đo đạc và phương pháp đo lường), tính an toàn,
nguy cơ tổn hại và các khuôn khổ quản lý rủi ro (chẳng hạn như các khuôn khổ hiện
có về tính bảo mật và tính riêng tư). Các mục từ 5.2 đến 5.5
trình bày các khuôn khổ khác nhau để
bối cảnh hóa tính đáng
tin cậy của các hệ thống AI.
5.2 Nhận biết
các lớp tin cậy
Một hệ thống AI có thể được khái quát hóa là sự hoạt
động trong một hệ sinh thái gồm các lớp chức năng. Sự tin cậy được thiết lập và
duy trì ở mỗi lớp để hệ thống AI
được tin cậy trong môi trường của nó. Ví dụ: báo cáo của ITU-T về cung cấp sự tin
cậy [27] giới thiệu ba lớp tin cậy: tin cậy vật lý, tin cậy không gian mạng và
tin cậy xã hội trên cơ sở xem xét đến hạ tầng vật lý thu thập dữ liệu (ví dụ:
các bộ cảm biến và thiết bị
truyền động), hạ tầng công nghệ thông tin lưu trữ dữ liệu và xử lý (ví dụ như
đám mây) và ứng dụng đầu cuối (ví dụ: thuật toán ML, hệ thống chuyên gia và ứng
dụng cho người dùng đầu cuối).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ở lớp tin cậy không gian mạng, các mối quan
tâm thường là các yêu cầu bảo mật cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, chẳng hạn
như kiểm soát truy cập và các biện pháp khác để duy trì tính toàn vẹn của hệ thống
AI và giữ an toàn cho dữ liệu của nó.
Sự tin tưởng ở lớp ứng dụng đầu cuối của
hệ thống AI yêu cầu phần mềm và các thử khác đi cùng với nó là đáng tin cậy và
an toàn. Trong bối cảnh của các hệ thống quan trọng, việc sản xuất phần mềm được
đóng khung bởi một bộ các
quy trình để xác minh và thẩm định “sản phẩm”
[28]. Điều này
cũng đúng với các hệ thống AI và còn hơn thế nữa. Với bản chất ngẫu nhiên của
các hệ thống AI dựa trên máy học, tính đáng tin cậy cũng ngụ ý rằng sự công bằng
trong hành vi của hệ thống là tương ứng với việc không có sự thiên vị không phù
hợp.
Hơn nữa, tin cậy xã hội dựa trên
cách sống, niềm tin,
tính cách v.v.. của một
người. Nếu không có hiểu biết rõ
ràng sự vận hành bên trong thì các nguyên lý hoạt động của nó sẽ là không minh
bạch đối với bộ phận dân chúng không có chuyên môn về kỹ thuật. Trong trường hợp
này, việc thiết lập sự tin cậy có thể không phụ thuộc vào xác minh khách quan về
hiệu quả của hệ thống AI mà dựa trên sự giảng giải mang tính chủ quan về hành
vi quan sát được từ hệ thống AI.
5.3 Áp dụng
các tiêu chuẩn chất lượng phần mềm và dữ liệu
Phần mềm có ảnh hưởng quan trọng đến
tính đáng tin cậy của một hệ thống AI điển hình. Do đó, việc xác định và mô tả
các thuộc tính chất lượng của phần mềm có thể giúp cải thiện tính đáng tin cậy
của toàn bộ hệ thống [29]. Những thuộc tính này có thể góp phần nâng cao tin cậy
không gian mạng và tin cậy xã hội. Ví dụ, từ góc độ xã hội, tính đáng tin cậy
được mô tả bằng khả năng, tính toàn vẹn và nhân đạo [30]. Dưới đây là
các ví dụ về cách các thuật ngữ này được diễn giải trong bối cảnh của các hệ thống AI.
- Khả năng là năng lực của hệ thống AI thực hiện
một tác vụ cụ thể (ví dụ: phát hiện khối u trong chuẩn đoán hình ảnh hoặc xác định
một người bằng nhận dạng khuôn mặt qua hệ thống giám sát video). Các thuộc tính
liên quan đến khả năng bao gồm độ bền vững, an toàn, tin cậy v.v..
- Tính toàn vẹn là sự tôn trọng của hệ
thống AI đối với các nguyên tắc đạo đức hoặc sự đảm bảo rằng thông tin sẽ không bị hệ
thống AI thao túng theo cách độc hại. Do đó, các thuộc tính của tính toàn vẹn
bao gồm tính đầy đủ, chính xác, chắc chắn, nhất quán v.v..
- Tính nhân đạo là mức độ mà hệ thống
AI được cho là làm việc tốt, hay nói cách khác là tôn trọng nguyên tắc
"không gây hại".
ISO/IEC SQuaRE đề cập đến chất lượng phần mềm
thông qua các mô hình và phép đo (ISO/IEC 2501x về mô hình và ISO/IEC 2502x về
đo lường) để từ đó có được một danh mục các đặc điểm của chất lượng phần mềm và
dữ liệu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Chất lượng phần mềm có 8 đặc điểm;
- Chất lượng sử dụng phần mềm, dữ liệu
và dịch vụ công nghệ thông tin có 5 đặc điểm được dùng để phân biệt giữa tin cậy
không gian mạng và tin cậy xã hội và chỉ rõ những rủi ro có thể xảy ra cần phải
giảm thiểu;
- Chất lượng dữ liệu gồm 15 đặc điểm; và
- Chất lượng dịch vụ công nghệ thông
tin gồm 8 đặc điểm.
Ví dụ, theo tiêu chuẩn ISO/IEC 25010
[20], các yêu cầu xã hội mới xuất hiện gần đây thuộc phạm trù “không rủi
ro”. Theo [20] không rủi ro được hiểu là “mức độ mà một sản phẩm hoặc hệ thống
giảm thiểu rủi ro tiềm tàng đến tình trạng kinh tế, tính mạng con người, sức khỏe
hoặc môi trường”.
ISO/IEC 25010 là một phần của hệ tiêu
chuẩn quốc tế SquaRE, đưa ra một mô hình gồm các đặc điểm chính và các đặc điểm
phụ về chất lượng phẩm
phần mềm và chất lượng sử dụng phần mềm. ISO/IEC 25012 [19] cũng là một phần của
SquaRE xác định mô hình chất lượng dữ liệu chung cho dữ liệu xử lý ở định dạng
có cấu trúc trong hệ thống máy tính. ISO/IEC 25012 tập trung vào chất lượng của
dữ liệu như một phần của hệ thống máy tính và xác định các đặc tính chất lượng
dữ liệu đích được sử dụng bởi
con người và hệ thống.
SQuaRE được phát triển cho các hệ thống
phần mềm lưu trữ dữ liệu truyền thống có cấu trúc và xử lý nó bằng quan hệ logic tường
minh. ISO/IEC 25012 mô tả mô hình chất lượng dữ liệu bằng việc sử dụng 15 đặc
điểm khác nhau như độ chính xác, tính đầy đủ, khả năng tiếp cận, khả năng truy
xuất nguồn gốc, tính di động v.v..
Việc đo lường cả đặc tính chất lượng hệ
thống và chất lượng dữ liệu là một thách thức. Mô hình chất lượng dữ liệu trong
ISO/IEC 25012 không giải quyết đầy đủ tất cả các đặc điểm về bản chất dữ liệu của
hệ thống AI. Ví dụ học sâu là một cách tiếp cận để tạo ra các biểu diễn phân cấp
phong phú thông qua việc đào tạo mạng
nơ-ron với nhiều lớp ẩn dựa vào lượng lớn dữ liệu [31]. Ngoài ra, mô
hình chất lượng dữ liệu của hệ thống AI còn cần phải xem xét ở các đặc điểm
khác hiện được mô tả trong ISO/IEC 25012, chẳng hạn như sự thiên vị trong dữ liệu
được sử dụng để phát triển hệ thống AI.
Để bao quát đầy đủ hơn các hệ thống
AI và dữ liệu của nó, có thể cần phải mở rộng hoặc sửa đổi các tiêu chuẩn hiện
có về các đặc điểm và yêu cầu đối với phát triển phần mềm và hệ thống truyền thống
được mô tả trong ISO/IEC 25010, mô hình chất lượng dữ liệu trong ISO/IEC 25012.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quản lý rủi ro là một quá trình phòng
ngừa nhằm đảm bảo rằng sản phẩm AI hoặc dịch vụ AI “theo thiết kế” có tính đáng
tin cậy trong suốt vòng đời của nó. Quy trình chung quản lý rủi ro được định
nghĩa trong ISO 31000: 2018 [14] đề cập đến việc xác định các bên liên quan,
tài sản và giá trị dễ bị tổn thương, đánh giá rủi ro liên quan đến hậu quả hoặc
tác động của chúng, đưa ra quyết định xử lý rủi ro tối ưu dựa trên các mục tiêu
cần đạt và khả năng chấp nhận rủi ro của tổ chức. Rủi ro theo ISO 31000 [14] được
định nghĩa là “ảnh hưởng của sự không chắc chắn đối với các mục tiêu”, trong
đó ảnh hưởng là sự sai lệch so với dự kiến và nó được đo lường hoặc
đánh giá theo khả năng xảy ra sự kiện không mong muốn và mức độ tác động có thể
xảy ra từ các bên liên quan. Quản lý rủi ro đặc biệt phù hợp với các công nghệ
mới mà những cái chưa lường trước nhiều hơn những cái có thể lường trước được.
Nó cũng phù hợp để đối phó với các tình huống tiềm ẩn rủi ro, chẳng hạn như đối
phó với lỗi của con người và các tấn công độc hại. Hơn nữa, quản lý rủi ro giúp
đối phó với sự không chắc chắn trong các lĩnh vực chưa có các phép đo lường chất
lượng được công nhận. Những đặc điểm nói trên phổ biến trong các hệ thống AI khiến chúng đặc biệt
thích hợp để quản lý rủi ro.
Các khái niệm chủ yếu trong ISO 31000
được trình bày ở đây để chỉ ra cách
chúng có thể được áp dụng cho các hệ thống AI. Quản lý rủi ro là một quá trình
phòng ngừa nhằm đảm bảo rằng sản phẩm AI hoặc dịch vụ AI “theo thiết kế” có tính đáng
tin cậy trong suốt vòng đời của nó. Quy trình chung quản lý rủi ro được định
nghĩa trong ISO 31000: 2018 [14] đề cập đến việc xác định các bên liên quan,
tài sản và giá trị dễ bị tổn thương, đánh giá rủi ro liên quan đến hậu quả hoặc
tác động của chúng, đưa ra quyết định xử lý rủi ro tối ưu dựa trên các mục tiêu
cần đạt và khả năng chấp nhận rủi ro của tổ chức. Rủi ro theo ISO 31000 [14] được
định nghĩa là “ảnh hưởng của sự không chắc chắn đối với các mục tiêu”, trong đó
ảnh hưởng là sự sai lệch so với dự kiến và nó được đo lường hoặc đánh giá theo
khả năng xảy ra sự kiện không mong muốn và mức độ tác động có thể xảy ra từ các
bên liên quan. Quản lý rủi ro đặc biệt phù hợp với các công nghệ mới mà những
cái chưa lường trước nhiều hơn những cái có thể lường trước được. Nó cũng phù hợp để
đối phó với các tình huống tiềm ẩn
rủi ro, chẳng hạn như đối
phó với lỗi của con người và các tấn công độc hại. Hơn nữa, quản lý rủi ro giúp
đối phó với sự
không chắc chắn trong các lĩnh vực chưa có các phép đo lường chất lượng được
công nhận. Những đặc điểm nói trên phổ biến trong các hệ thống AI khiến chúng đặc
biệt thích hợp để quản lý rủi ro. (hoặc nhận dạng các nguồn gốc rủi ro) một
cách hữu hình hơn. Các mục tiêu kiểm soát thường là tính dễ tổn thương, cạm bẫy hoặc các
mối đe dọa đã được dự đoán1). Đối với các hệ thống AI, chúng sẽ bao
gồm (nhưng không giới hạn) các thách thức về trách nhiệm giải trình, các mối đe
dọa bảo mật và quyền riêng tư mới, đặc điểm kỹ thuật không phù hợp, triển khai có
thiếu sót, sử dụng không đúng và các nguồn phát sinh sự thiên vị khác nhau. Đối với mỗi mục
tiêu kiểm soát đã xác định, có thể xác định được một tập các biện pháp kiểm
soát (hoặc giảm thiểu). Đối với các hệ thống AI, chúng sẽ bao gồm (nhưng không
giới hạn) ở:
- Các phương pháp tiếp cận tính minh bạch;
- Các biện pháp kiểm soát an ninh mới;
- Chính sách quản lý mới;
- Các mối quan tâm đến độ bền vững và
khả năng phục hồi;
- Các quan tâm liên quan đến lựa chọn
và cấu hình các thuật
toán ML;
- Các quan tâm đến dữ liệu; và
- Các quan tâm liên quan đến khả năng
kiểm soát của hệ thống.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.5 Các
phương pháp tiếp cận có sự trợ giúp của phần cứng
Các hệ thống học máy điển hình (gồm cả
huấn luyện và sử dụng) được triển khai trên các nền tảng phổ dụng có sẵn là
không đáng tin cậy và có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động chính xác của hệ
thống. Ví dụ các ứng dụng học máy thường triển khai trên môi trường đám mây nhiều
người thuê. Các cơ chế phần cứng hỗ trợ giảm thiểu tấn công bề mặt bằng cách
cung cấp các môi trường thực thi tin cậy (TEE) để bảo vệ tính bí mật và tính
toàn vẹn của cả dữ liệu và các bước tính toán, cũng như cho cả hoạt động tập huấn
và sử dụng.
TEE được sử dụng để bảo vệ mã nguồn và
dữ liệu được chọn khỏi bị tiết lộ hoặc sửa đổi bằng việc cung cấp sự cách ly cưỡng
bức bằng phần cứng đối với các chương trình hoặc các khu vực hoạt động cần được
bảo vệ nhằm tăng cường bảo mật ngay cả trên các nền tảng bị xâm hại. Sử dụng
môi trường thực thi đáng tin cậy cho phép các nhà phát triển có thể bảo vệ mô
hình học máy trong suốt vòng đời của nó (ví dụ như huấn luyện và sử dụng nó),
cách thức hiệu quả là coi mô hình đó như dữ liệu hoặc tài sản trí tuệ được bảo
vệ khi cần thiết. TEE thực thi tính bảo mật và tính toàn vẹn của bộ nhớ được sử
dụng bởi khối lượng công việc của ML (thường sử dụng là công cụ mã hóa bộ nhớ) ngay
cả khi hiện diện sự can thiệp của các phần mềm độc hại ở các phân lớp phần mềm
hệ thống.
6 Các bên liên quan
6.1 Các khái
niệm chung
Tài liệu này chấp nhận một định nghĩa
mở rộng về các bên liên quan từ ISO/IEC 38500 [17] để bổ sung cho việc thừa nhận
vai trò của các cá nhân và tổ chức:
- Thừa nhận một nhóm người là một loại
hình bên liên quan, điều quan trọng là hiểu được các quan điểm tập thể được
chia sẻ bởi một nhóm các cá nhân không cấu thành một tổ chức, nghĩa là không có một sự quản
lý chung để đại diện cho nhóm đó; và
- Sự bao hàm loại hình các bên liên
quan có thể bị tác động bởi hệ thống, sự bao hàm đó nhiều khi mở rộng ra ngoài
phạm vi những bên cần thiết hoặc được hệ thống mong đợi, điều này ngụ ý rằng hệ
thống cần phải có những hiểu biết trước về những điều đó.
Định nghĩa mở rộng này rất quan trọng
để xem xét, xác định các bên liên quan vì có thể trong số đó có những đối tượng
không biết về sự tồn tại, mục tiêu hoặc năng lực của hệ thống.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các giá trị, trong ngữ cảnh của tiêu
chuẩn này không giới hạn ở các tổ chức (theo tài liệu tham khảo [23]), nhưng
bao gồm niềm tin mà bất kỳ bên liên quan nào “dựa vào và các chuẩn mực tìm kiếm
để tuân thủ”.
Với khả năng vận hành các hệ thống AI
theo kiểu linh hoạt và năng động, các phương pháp tiếp cận tính đáng tin cậy của
AI cần tập trung vào cả việc tăng cường và duy trì sự tin cậy. Điều này có thể
đạt được bằng sử dụng các định nghĩa để cung cấp bối cảnh rõ ràng với các đặc
điểm cụ thể của một AI đáng tin cậy, chẳng hạn như một sự thay đổi về bối cảnh
có thể kích hoạt một hoạt động đánh giá lại quan trọng đối với một đặc tính đã
được trạng thái hóa [32]. Theo nghĩa
này, sẽ là không đủ nếu chỉ đơn giản đề cập đến “AI đáng tin cậy” mà phải chỉ
rõ ai tin cậy ai trong những khía cạnh nào của phát triển và sử dụng AI. Do đó,
việc bối cảnh hóa các bên liên quan như vậy có thể áp dụng để xem xét các đặc
điểm AI đáng tin cậy như là tính minh bạch (xem 9.2), tính diễn giải (xem 9.3)
và khả năng kiểm soát (xem 9.4). Việc ngữ cảnh hóa yêu cầu phải xác định rõ các
bên liên quan và hiểu rõ ràng về sự tham gia của họ tại các điểm khác nhau
trong vòng đời và chuỗi giá trị của hệ thống AI.
Các bên liên quan khác nhau có thể có
quan điểm khác nhau về tầm quan trọng đối với các đặc điểm được đề xuất khác nhau về
một AI đáng tin cậy. Do đó việc tiêu chuẩn hóa các thuật ngữ và khái niệm khung cho AI
đáng tin cậy cho phép giao tiếp một cách rõ ràng giữa các bên liên quan khác
nhau, để từ đó có thể hiểu được những khác biệt về quan điểm và giải quyết những
khác biệt này. Giao tiếp với các bên liên quan như vậy sẽ giải quyết những vấn
đề như:
Các bên liên quan khác nhau có thể bị ảnh
hưởng như thế nào bởi công nghệ AI
được triển khai trong một sản phẩm hoặc dịch vụ;
Bất kỳ một tài sản nào được định giá bởi các bên liên
quan khác nhau được sử dụng hoặc bị ảnh hưởng như thế nào bởi việc sử dụng AI
trong một sản phẩm hoặc dịch vụ;
Việc sử dụng AI trong một sản phẩm hoặc
dịch vụ có liên quan như thế nào đến các giá trị do các bên liên quan khác nhau
nắm giữ.
6.2 Loại
hình
Hiện vẫn chưa chưa có sự đồng thuận rõ
ràng về loại hình các bên liên quan đối với việc sử dụng AI trong các sản phẩm
hoặc dịch vụ. Trong kinh doanh, lý thuyết về các bên liên quan [33] nhấn mạnh lợi
ích của cách tiếp cận ra quyết định vượt ra ngoài nghĩa vụ được ủy thác của ban
lãnh đạo để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông và xem xét lợi ích của các bên liên
quan khác trong một tổ chức bao gồm: nhân viên, khách hàng, ban giám đốc, nhà
cung cấp, chủ nợ, chính phủ và các cơ quan quản lý, xã hội nói chung và môi trường
tự nhiên (như một đại diện cho các thế hệ tương lai).
Trong bối cảnh của AI, chúng ta có thể
xem xét các loại hình bên liên quan như vậy đối với các vai trò riêng biệt sau
đây trong chuỗi giá trị AI (lưu ý rằng một bên liên quan duy nhất có thể đảm nhận
một vài vai trò như vậy):
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nhà phát triển hệ thống AI: tổ chức
hoặc cá nhân thiết kế, phát triển và huấn luyện một hệ thống AI;
- Nhà sản xuất AI: tổ chức hoặc cá
nhân thiết kế, phát triển, thử nghiệm và triển khai sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng
ít nhất một hệ thống AI;
- Người sử dụng AI: tổ chức hoặc cá nhân tiêu
thụ sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng ít nhất một hệ thống AI;
- Nhà phát triển công cụ và phần sụn
AI: một tổ chức hoặc cá nhân thiết kế và phát triển các công cụ AI và các khối
tạo dựng AI được huấn luyện trước;
- Cơ quan kiểm tra và đánh giá: một tổ
chức hoặc một cá nhân cung cấp thử nghiệm độc lập và có thể thực hiện chứng nhận;
- Cộng đồng mở rộng trong
đó hệ thống AI được triển khai (vì ngay cả một hệ thống AI chính xác cũng có thể
dẫn đến việc xác nhận các bất bình đẳng hiện hữu);
- Các hiệp hội đại diện cho quan điểm của các
nhóm cá nhân;
- Các tổ chức quản lý, giám sát và nghiên cứu
việc sử dụng AI bao gồm các chính phủ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế,
chẳng hạn như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).
6.3 Tài sản
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các tài sản hữu hình đối với AI có thể
bao gồm:
- Dữ liệu sử dụng để huấn luyện hệ thống AI;
- Một hệ thống AI được huấn luyện;
- Một sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng một
hoặc nhiều hệ thống AI;
- Dữ liệu được sử dụng để kiểm tra
hành vi liên quan đến AI của một sản phẩm hoặc dịch vụ;
- Dữ liệu cung cấp cho hoạt động của sản
phẩm hoặc dịch vụ mà theo đó các quyết định dựa trên AI được đưa ra;
- Tài nguyên máy tính và phần mềm sử dụng
để huấn luyện, thử nghiệm và vận hành các hệ thống AI;
- Nguồn nhân lực với các kỹ năng để:
- Huấn luyện, thử nghiệm và vận
hành các hệ thống AI;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Tạo, chú giải hoặc chọn dữ liệu cần
thiết cho huấn luyện AI.
Tài sản ít hữu hình hơn bao gồm:
- Danh tiếng và sự tin cậy được tạo lập,
bên liên quan tới phát triển,
thử nghiệm hoặc vận hành hệ thống AI; hoặc dịch vụ, sản phẩm sử dụng;
- Thời gian, ví dụ như thời
gian mà người dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng AI tiết kiệm được hoặc thời
gian lãng phí để xử lý đề xuất không phù hợp từ hệ thống AI;
- Các kỹ năng, có thể trở nên ít được
coi trọng hơn do chức năng tự động hóa có trong hệ thống AI;
- Quyền tự trị có thể được tăng cường
hoặc bị xói mòn phụ thuộc vào việc hệ thống AI cung cấp thông tin liên quan đến
tác vụ có hiệu quả hay không. Ví dụ như quảng cáo hoặc thông điệp chính trị có
nội dung thuyết phục được truyền đạt có chủ ý đến các cá nhân hoặc một nhóm cá
nhân bằng việc sử dụng hồ sơ trong AI.
6.4 Giá trị
Các bên liên quan có thể có
quan điểm khác nhau về các đặc điểm thích hợp đối với một hệ thống Al đáng tin cậy
dựa trên các giá trị khác nhau mà họ tuân thủ hoặc tìm cách quan sát. Một số đề
xuất về AI đáng tin cậy dựa trên một bộ giá trị cụ thể được tạo lập trong một
chính sách cụ thể, chẳng hạn như tài liệu làm việc của nhóm chuyên gia cấp cao
của Ủy ban Châu Âu về AI đáng tin cậy [34] đề xuất các nguyên tắc dựa trên Hiến
chương các quyền cơ bản của Châu Âu. Các quan điểm khác nhau về AI đáng tin cậy
cũng có thể rút ra từ thế giới quan hoặc hệ thống giá trị đạo đức khác nhau. Mức
độ liên quan và tác động của các thế giới quan khác nhau, chẳng hạn như đạo đức
phương Tây, phật giáo, triết lý Ubuntu, thần đạo trong AI vẫn gần như chưa được
khám phá [35], Nói chung việc thiết kế mang tính nhạy cảm với các giá trị [36]
thì sự hiểu biết rõ ràng những khác biệt về giá trị này là điều cần thiết trong
việc truyền đạt các đặc điểm AI đáng tin cậy ở cấp độ toàn cầu.
7 Nhận biết các mối
quan tâm cấp cao
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phát triển và ứng dụng các hệ thống AI
là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong môi trường nhiều bên liên quan. Để
xây dựng và duy trì niềm tin trong một môi trường như vậy, điều quan trọng là
phải xác định trách nhiệm và trách nhiệm giải trình giữa các bên liên quan. Các
hệ thống AI có thể tồn tại trong cả một chuỗi giá trị thương mại quốc tế phức tạp
và trên các khuôn khổ xã hội xuyên quốc gia. Điều quan trọng là tất cả các bên
liên quan chia sẻ sự hiểu biết về trách nhiệm mà họ thực hiện đối với các bên
liên quan khác và cách họ chịu trách nhiệm đối với những bổn phận đó. Một trong
những lý do chính để có sự thống nhất về một khuôn khổ như vậy là khả năng xác
định các điểm ra quyết định trong suốt vòng đời của hệ thống AI.
Trong một tổ chức, trách nhiệm đối với
các quyết định và trách nhiệm giải trình về kết quả của các quyết định đó thường
được quy định trong một khuôn khổ quản trị. ISO/IEC 38500 [17] hướng dẫn những người
ra quyết định cấp cao trong tổ chức hiểu và tuân thủ các quy định pháp luật,
quy định quản lý và nghĩa vụ đạo đức trong sử dụng công nghệ thông tin. Nó xác
định các tác vụ đánh giá, chỉ đạo và giám sát các khía cạnh về công nghệ thông
tin trong việc thực thi các nguyên tắc về trách nhiệm, chiến lược, thu nhận, hiệu
năng, sự tuân thủ và hành vi của con người. ISO/IEC 38505 [37] áp dụng mô hình
quản trị công nghệ thông tin này vào quản trị dữ liệu. Nó không đề cập đến các
lỗ hổng của AI nhưng đề cập đến một số vấn đề liên quan liên quan đến định hướng
dữ liệu AI, chẳng hạn như học máy. Có thể tồn tại cơ hội gắn kết hơn nữa mô hình
quản trị công nghệ thông tin theo ISO/IEC 38500 với những yêu cầu cần thiết đối
với hệ thống AI đáng tin cậy, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sự tương
tác của chúng với các khuôn khổ ra quyết định mang tính xã hội khác liên quan đến
sử dụng chúng trong các hệ thống tự trị. Thuật ngữ “hệ thống tự trị" được
sử dụng trong tiêu chuẩn này để chỉ bất kỳ loại hệ
thống nào hoạt động tương đối độc lập và không giới hạn ở khái niệm ô tô hoặc “máy
móc”.
Ví dụ: bác sĩ có thể sử dụng
AI để cải thiện các chẩn đoán của
mình. Bác sĩ chịu trách nhiệm về chẩn đoán của mình vì là một chuyên gia có
trình độ trong lĩnh vực này, do đó là người chịu trách nhiệm phân tích kết quả
đầu đối với một hệ thống AI ra quyết định chuẩn đoán. Một ví dụ khác, một người
dùng đầu cuối nộp đơn xin việc và người ấy không thông hiểu về hệ thống AI và sẽ
khó để hiểu lý do tại sao đơn xin việc của mình bị từ chối. Trong trường hợp
như vậy chuỗi trách nhiệm cần được xác định rõ ràng. Để đạt được tính tin cậy của
các hệ thống tự trị do Al điều khiển thì cần phải giải quyết các trách nhiệm và
trách nhiệm giải trình trong trường hợp hệ thống tự quản trị bị lỗi [38] [40].
Điều này cho phép các bên liên quan có sự liên đới chịu trách nhiệm pháp lý nếu một
hệ thống tự quản gây ra thiệt hại. Nhóm công tác của châu Âu về đạo đức
trong khoa học và công nghệ mới [41] đã nhấn mạnh trong tuyên bố năm 2018 của
họ, rằng một hệ thống do AI điều khiển không thể tự trị theo nghĩa pháp lý và cần
phải thiết lập một khuôn khổ trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý rõ ràng để
có thể truy cứu bất kỳ thiệt hại nào gây ra bởi hoạt động của bất kỳ hệ thống tự
trị nào.
7.2 Tính an toàn
Tính an toàn là một khía cạnh quan trọng
của tinh đáng tin cậy. Do đó việc xem xét các khía cạnh về tính an toàn được ưu
tiên cao. Thông thường rủi ro gây hại của hệ thống được nhận thức càng cao thì yêu cầu
về tính đáng tin cậy càng cao.
Hệ thống AI cũng như bất kỳ hệ thống
nào khác, được kỳ vọng sẽ không gây ra bất kỳ tác hại không có chủ ý nào. Điều
này không chỉ bao gồm tác hại hữu hình (ví dụ, đối với sức khỏe của sinh vật, tài
sản và môi trường vật chất) mà
còn cả tác hại vô hình (ví dụ đối với môi trường xã hội và văn hóa).
ISO/IEC Hướng dẫn 51 [10] nêu rõ: “Tất cả các sản
phẩm và hệ thống đều có các nguy cơ và do đó luôn tồn tại rủi ro ở các mức độ
nào đó. Tuy nhiên,
rủi ro liên quan đến những nguy cơ đó cần được giảm xuống mức có thể chấp nhận
được. Tính an toàn đạt được bằng cách giảm rủi ro đến mức có thể chấp nhận, được
định nghĩa trong Hướng dẫn này là rủi ro có thể chấp nhận được”. Các hệ thống
AI cung cấp một mức độ tự chủ nhất định thường được xem là coi trọng tính an
toàn hơn. Tuy nhiên các nguy cơ và rủi ro phụ thuộc vào ứng dụng và không nhất
thiết liên quan trực tiếp đến mức độ tự chủ (ví dụ phương tiện tự hành đường bộ
so với máy hút bụi tự hành dùng cho gia đình).
Vòng đời hoàn chỉnh của một hệ thống AI từ thiết kế
đến xử lý đều phải được xem xét các khía cạnh về tính an toàn. Đối với ứng dụng
hệ thống AI, các mục đích sử dụng và lạm dụng việc sử dụng cần phải được nhận
lường trước một cách hợp lý; phải xem xét cẩn thận môi trường mà nó được sử dụng
cũng như các công nghệ được sử dụng. ISO/IEC Hướng dẫn 51 [10] định nghĩa “lạm
dụng có thể lường trước được một cách hợp lý” là việc sử dụng sản phẩm hoặc hệ
thống theo cách không do nhà cung cấp đưa ra, nhưng đó là kết quả của hành vi
con người mà hệ thống đã lường trước. Hệ thống AI có khả năng đưa ra rủi ro xuất
phát từ các lỗ hổng cụ thể của AI. Điều này sẽ dẫn đến các biện pháp mới để giảm rủi ro xuống
mức có thể chấp nhận
căn cứ vào các hành vi cụ thể của AI, chẳng hạn như hoạt động ra quyết định
không có tính minh bạch hoặc không được xác định trước. Đối với một hệ thống cụ
thể, không chỉ xét
riêng về thành phần Al mà tất cả các công nghệ được sử dụng cũng như sự tương
tác giữa chúng đều phải được xem xét cẩn thận. ISO/IEC Hướng dẫn 51 [10] đưa ra
một chỉ dẫn chung để xác định các rủi ro có thể chấp nhận được.
8 Tính dễ bị tổn
thương, các mối đe dọa và thách thức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mục này mô tả tính dễ bị tổn thương tiềm
ẩn của các hệ thống AI và các mối đe dọa liên quan đến chúng.
Tính dễ bị tổn thương được ISO/IEC 27000 [1] định
nghĩa là điểm yếu của một tài sản hoặc điều khiển có thể có thể bị lợi dụng bởi
một hoặc nhiều mối đe dọa. Các mối đe dọa được ISO/IEC 27000 [1] định nghĩa là
nguyên nhân tiềm ẩn của sự cố không mong muốn, có thể dẫn đến tổn hại cho hệ thống
hoặc tổ chức.
Các bên liên quan khác nhau sử dụng
các thuật ngữ khác nhau để mô tả khái niệm “tính dễ bị tổn thương”. Chúng bao gồm
các nguồn rủi ro, cạm bẫy, nguồn gốc các hư hỏng, nguyên nhân có tính căn nguyên,
các thách thức.
Tính dễ bị tổn thương liên quan đến việc
sử dụng học máy trong các hệ thống AI. Chúng bao gồm sự phụ thuộc vào dữ liệu,
tính không rõ ràng của các mô hình ML và tính không thể đoán trước. Việc sử dụng
dữ liệu có thể dẫn đến các mối đe dọa mới về bảo mật và sự thiên vị.
Những thách thức liên quan đến việc
thiếu “các phương pháp tốt nhất” cho việc thiết kế, phát triển và triển khai
các hệ thống AI dẫn đến việc làm gia tăng hoặc trầm trọng thêm tính dễ bị tổn
thương và mối đe dọa hiện hữu.
Một số mối đe dọa nhất định nào đó phát sinh do
sự hiểu biết không đầy đủ khả năng công nghệ của các hệ thống AI và việc sử dụng
chúng không hợp lý bởi các bên liên quan khác nhau.
Các mục từ 8.2 đến 8.10 mô tả chi tiết
hơn về tính dễ bị tổn thương,
các mối đe dọa và thách thức tiềm ẩn khác của hệ thống AI.
8.2 Các mối
đe dọa bảo mật cụ thể của AI
8.2.1 Yêu cầu
chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngoài các mối đe dọa bảo mật công nghệ
thông tin phổ biến đối với hầu hết các hệ thống (ví dụ lỗi phần mềm, cửa sau của phần
cứng, vi phạm bảo mật dữ liệu), một số hệ thống AI nhất định, chẳng hạn như hệ
thống học máy có thể dễ bị tấn công bởi các mối đe dọa bảo mật đặc biệt hoặc
có mục đích. Những mối đe dọa như vậy bao gồm [43]:
- Đầu độc dữ liệu dẫn đến hệ thống AI
bị trục trặc;
- Tấn công đối nghịch hỏng lạm dụng các
hệ thống AI lành tính; và
- Đánh cắp mô hình.
8.2.2 Đầu độc dữ
liệu
Trong các cuộc tấn công đầu độc dữ liệu,
những kẻ tấn công cố tình tác động đến
dữ liệu huấn luyện để thao túng kết quả của một mô hình dự đoán. Các cuộc tấn
công đầu độc dữ liệu có mục đích làm cho máy chủ huấn luyện ra các mô hình tồi
mà không biết là đang bị những cuộc tấn công đó. Kiểu tấn công này đặc biệt
thích hợp trong trường hợp mô hình được tiếp xúc với Internet ở chế độ trực tuyến,
tức là mô hình liên tục được cập nhật bằng cách học hỏi từ dữ liệu mới. Việc lọc
dữ liệu huấn luyện một cách thích hợp có thể giúp phát hiện và lọc ra dữ
liệu bất thường và do đó giảm thiểu
các thiệt hại có thể xảy ra.
8.2.3 Tấn công đối
nghịch
Một mối đe dọa bảo mật cụ thể liên
quan đến các hệ thống Al là cuộc tấn công đối nghịch vào các hệ thống học
máy. Tấn công đối nghịch bao gồm việc cung cấp dữ liệu đầu vào cố sự xáo trộn
nhẹ đối với một mô hình. Ví dụ như sửa đổi dữ liệu của một biển báo giao thông
nhằm đánh lừa hệ thống phân loại của xe tự hành để nhận dạng sai đối với dữ liệu
đầu vào này.
Những tiến bộ ấn tượng gần đây trong
lĩnh vực ML, đặc biệt là trong lĩnh vực học sâu đã khiển các công ty ngày càng
quan tâm đến việc áp dụng các thuật toán ML trong lĩnh vực an toàn và bảo mật.
Ví dụ như việc tích hợp phân đoạn ngữ nghĩa dựa trên mạng nơ-ron phức hợp (CNN)
vào ô tô tự hành hoặc
mạng nơ-ron vào chẩn đoán y tế.
Rõ ràng những bối cảnh ứng dụng mới này có yêu cầu cực kỳ cao về đảm bảo chất
lượng. Nhưng cho đến nay những giải pháp trên vẫn chưa chứng minh đạt được độ
chính xác cao cho dù các tập dữ liệu huấn luyện, kiểm tra và thẩm định được chuẩn
bị một cách kỹ lưỡng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các công bố của Szegedy và cộng sự
[45], cũng như của Goodfellow và công sự [46] chỉ ra rằng các thuật toán ML về
thị giác máy tính, đặc biệt đối với các mạng nơ-ron sâu có khả năng dễ dàng bị
tấn công bởi các mẫu dữ liệu lừa đảo (hoặc làm nhiễu loạn).
Những hành vi tấn công đối nghịch này
tạo ra sự nhiễu loạn và thường được xem là hành vi lỗi của mô-đun ML khi bổ
sung dữ liệu đầu theo quy trình. Hơn nữa, những nhiễu loạn này thường khó phát
hiện hoặc thậm chí không thể nhận thấy bằng mắt thường. Tính chất không thể
nhận thấy này không chỉ là thách thức việc mong muốn triển khai các hệ thống AI
trong các ngành, lĩnh vực coi trọng về an toàn và bảo mật, mà nó còn đề cập đến
khác biệt quan trọng giữa quá trình xử lý thông tin theo giác quan con người và
trong mạng nơ-ron nhân tạo [47]. Đã có rất nhiều phương án (chiến lược phòng thủ) khác nhau đã
được công bố [48][49] để khắc phục, đối
phó với tính dễ bị tổn thương nói trên. Nó trở thành một cuộc chạy đua giữa bên tấn
công và bên phòng thủ. Các biện
pháp phòng thủ mới được công bá trước một loạt các cuộc tấn công hiện có thường trở nên vô dụng
chỉ sau vài tuần do bên tấn công tạo ra các cuộc tấn công mạnh hơn [50]. Các kiểu
tấn công như vậy khó có thể đúc kết thành bài học, kinh nghiệm được vì cần phải
hiểu biết rõ về cấu trúc liên kết mạng nội bộ bên trong, mà những thành phần
này thường bị che khuất khi hệ thống đưa vào hoạt động. Nhưng dù sao vẫn phải đảm
bảo rằng chúng được xem xét một cách nghiêm túc từ góc độ tính đáng tin cậy.
8.2.4 Đánh cắp mô
hình
Nó ảnh hưởng đến cả tính bảo mật
và quyền riêng tư, các cuộc tấn công đánh cắp mô hình sử dụng để "đánh cắp"
các mô hình bằng cách sao chép lại các chức năng bên trong của chúng. Điều này
được thực hiện bằng cách gửi đến mô hình mục tiêu một số lượng lớn các truy vấn
dự báo và sử dụng phản hồi nhận được (các dự đoán) để huấn luyện một mô hình
khác.
8.2.5 Các mối đe dọa
nhằm vào phần cứng đối với tính bảo mật và tính toàn vẹn
Các ứng dụng học máy thường bị tấn
công tương tự như các ứng dụng nhạy cảm khác. Các cuộc tấn công phần mềm và phần
cứng điển hình vào các ứng
dụng học máy là các cuộc tấn công kỹ thuật
số ảnh hưởng đến tính bảo mật, tính toàn vẹn và của dữ liệu và các quá trình
tính toán. Các hình thức tấn công khác có thể dẫn đến từ chối dịch vụ (mất tính khả dụng),
gây rò rỉ thông tin hoặc dẫn đến hoạt động tính toán không hợp lệ.
Đảm bảo tính bảo mật, tính toàn vẹn
của dữ liệu và mã nguồn thông qua cơ chế truyền thống như đảm bảo tính toàn vẹn
của bộ nhớ, tính tin cậy của các mô-đun nền tảng (có trong TEE) là cần thiết.
Nhưng điều đó không đủ để đảm bảo tính bảo mật và toàn vẹn của mã nguồn và dữ
liệu của các công cụ học máy. Do đó thực thi cơ chế ở trên và bắt
buộc các chương trình ML tuân thủ logic được lập trình theo dự kiến là quan trọng
như nhau. Ví dụ, một cuộc
tấn công luồng điều khiển trên một ứng dụng ML có thể đánh bại/phá vỡ
hoạt động suy luận của mô hình ML hoặc có thể gây ra huấn luyện không hợp lệ.
Loại hình thứ hai rất quan trọng để bắt buộc thực thi
tính toàn vẹn về thời gian hoạt động là các cơ chế ngăn chặn các lỗi an toàn bộ
nhớ. Các khiếm khuyết logic trong các chương trình có thể bị tận dụng để gây ra
lỗi tràn bộ đệm, sử dụng lỗ hổng trong chỉ định bộ nhớ, khai thác vượt quá giới
hạn có thể dẫn đến
lỗi hoạt động của các ứng dụng ML.
Cần phải xem xét các mối đe dọa đối với
các mô hình thiết bị phức tạp, bao gồm cả bộ tăng tốc phần cứng được sử dụng bởi các ứng dụng
học máy. Trong rất nhiều trường hợp các bộ tăng tốc hoặc thiết bị có thể bị mô phỏng
hoặc giả lập, các ứng dụng trên đám mây có thể lợi dụng từ việc các thiết bị trực tiếp
dùng các ứng dụng này. Tuy nhiên, việc xác minh (thông qua chứng thực) các thiết
bị giúp đảm bảo rằng thiết bị có khả năng duy trì các yêu cầu về quyền riêng tư
và bảo mật của các ứng dụng ML. Khả năng quản lý bộ nhớ vào/ra (IO) phần cứng có thể được sử
dụng để kết hợp một cách an toàn các thiết bị với khối lượng công việc,
bao gồm cả DMA vào bộ
nhớ được bảo vệ. Các véc-tơ tấn công trong tương lai cần chú ý bao gồm giả mạo
thiết bị, tấn công ánh xạ lại thời gian chạy và tấn công man-in-the-middle.
8.3 Các mối
đe dọa quyền riêng tư điển hình trong AI
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự phát triển các thuật toán AI và sử
dụng dữ liệu lớn đã cung cấp các giải pháp tinh tế trong nhiều lĩnh vực. Nhiều
kỹ thuật AI (ví dụ học sâu) phụ thuộc vào dữ liệu lớn vì độ chính
xác của chúng một phần trông cậy vào lượng dữ liệu mà chúng sử dụng. Việc lạm dụng
hoặc tiết lộ dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm (ví dụ hồ
sơ sức khỏe) có thể gây tác động có hại cho chủ thể dữ liệu. Do đó bảo vệ quyền
riêng tư đã trở thành mối
quan tâm chính yếu trong AI và phân tích dữ liệu lớn. Thách thức bắt đầu từ
giai đoạn đầu của vòng đời dữ liệu (tức
là thu thập và chia sẻ dữ liệu giữa các thực thể khác nhau) đến giai đoạn cuối
cùng là phân tích dữ liệu và áp dụng các thuật toán AI (ví dụ rủi ro tái nhận dạng
sau khi phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn).
Những mối đe dọa về quyền riêng tư này
có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự quyết, phẩm giá, quyền tự
do và các quyền cơ bản của cá nhân.
8.3.2 Thu thập dữ
liệu
Trong quá trình thu thập dữ liệu, mối
đe dọa về quyền riêng tư chủ yếu là về lượng dữ liệu cần thu thập cho mục đích
nhất định. Một trong những nguyên tắc về quyền riêng tư được giới thiệu trong
ISO/IEC 29100 [51] là nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu. Do sự phụ thuộc của các
mô hình học máy vào sự sẵn có của một lượng lớn dữ liệu chất lượng, phong phú
và từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau thì việc hạn chế thu thập dữ liệu là một
thách thức.
Ngoài ra, mối đe dọa về quyền riêng tư
khác đến từ nguy cơ hỏng bộ lưu trữ. Nếu kẻ tấn công xâm phạm bộ nhớ, quyền
riêng tư của các chủ thể dữ liệu có thể bị xâm phạm.
8.3.3 Tiền xử lý và
mô hình hóa dữ liệu
Tồn tại các mối đe dọa về quyền riêng
tư tiềm ẩn trong khi xử lý dữ liệu như sau:
- Suy luận dữ liệu nhạy cảm từ dữ liệu
không nhạy cảm bằng cách sử dụng kỹ thuật học máy và AI;
- Dữ liệu cá nhân khả dụng từ nhiều nguồn. Mặc
dù dữ liệu được khử nhận dạng, nhưng AI lại có thể nhận dạng dữ liệu bằng cách
sử dụng các suy luận dựa trên dữ liệu từ các nguồn khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đánh cắp mô hình bằng cách truy vấn mô
hình vì những lý do không hợp lệ được mô tả trong 8.2.4. Các cuộc tấn công bảo mật
như vậy được thiết kế để làm lộ thông tin bí mật hiện diện trong mô hình ML. Loại
tấn công này có
thể được sử dụng để tiết lộ thông tin nhạy cảm về các cá nhân, biến nó thành một cuộc
tấn công quyền riêng tư.
Các cuộc tấn công như vậy có thể xảy
ra trong toàn bộ vòng đời của mô
hình, bao gồm cả các giai đoạn phát triển, triển khai và vận hành. Các cuộc tấn
công có thể được thực hiện bởi cả tác nhân được phép truy vấn mô hình
và những tác nhân khác trước đó đã vi phạm quy định bảo mật để truy cập vào mô hình.
Một mối đe dọa khác liên quan đến việc
sử dụng không phù hợp mô hình mà không được các cá nhân chấp nhận, chẳng hạn như lập
hồ sơ, sắp xếp hoặc phân loại chúng có thể ảnh hưởng đến đời sống xã hội của họ
(ví dụ như dịch vụ xã hội, thẻ tín dụng).
8.4 Thiên vị
Thiên vị được định nghĩa là thiên vị đối
với cái gì, người hoặc nhóm người nào hơn. Thiên vị thường phát sinh từ nhiều
nguồn, bao gồm thiên vị do nhận thức của con người, thiên vị xã hội và thiên vị
mang tính chất thống kê (ví dụ như thiên vị trong việc lựa chọn, thiên vị trong
lấy mẫu, báo cáo thiên vị) hoặc đơn giản là các lỗi kỹ thuật. Sự thiên vị thể
hiện trong các giai đoạn phát triển khác nhau của hệ thống AI và có thể ở dạng
thiên vị về dữ liệu làm ảnh hưởng đến nhãn, tập dữ liệu huấn luyện, làm mất đi
các tính năng/nhãn, các vấn đề
về xử lý dữ liệu hoặc kiến trúc có thể ảnh hưởng đến các mô hình hoặc mô hình kết
hợp. Sự thiên vị cũng có thể biểu hiện dưới dạng thiên vị được tự động hóa, tức
là sự phụ thuộc quá mức vào các đề xuất của hệ thống AI. Các tác động của thiên
vị về dữ liệu có thể ảnh hưởng đến mô hình và dẫn đến kết quả không mong muốn,
điều này xuất phát từ việc độ chính xác giảm cho đến việc phân loại hoàn toàn
sai của các tác vụ phân loại. Loại bỏ những thiên vị này không phải lúc nào cũng
khả thi và có thể tạo ra kết quả sai. Thiên vị do tập dữ liệu huấn luyện gây ra
thường dựa trên các ứng dụng không chính xác hoặc không đếm xỉa đến các
quy tắc và phương pháp thống kê.
Đánh giá mức độ thiên vị yêu cầu các số
liệu phải được xác định và đo lường hiệu năng của hệ thống trong bối cảnh của
các nhóm đối tượng cụ thể. Đã có những chỉ số cụ thể cho mục đích này. Tuy
nhiên, điều cần thiết là phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn sử dụng
các chỉ số vì những biện pháp thỏa hiệp phức tạp có thể dẫn đến kết quả
không mong muốn. Các ví dụ đã có như nỗ lực điều chỉnh sự thiên vị đối với một nhóm cụ thể (các
đối tượng) đã dẫn đến bối cảnh gia tăng sự thiên vị đối với một nhóm khác.
Thực tế đã tồn tại nhiều ví dụ về
nguyên nhân của sự thiên vị với các biểu hiện liên quan tới hệ thống AI cũng
như các biện pháp giảm thiểu tương ứng. Mô tả chi tiết của chủ đề phức tạp này
được đề cập trong một báo cáo kỹ thuật chi tiết đang được xây dựng.
8.5 Tính
không thể đoán trước
Khả năng dự đoán đóng một vai trò
quan trọng trong khả năng chấp nhận đối với các hệ thống AI. Quan niệm rằng khả
năng dự đoán tương ứng với khả năng của con người trong việc suy luận các hành
động tiếp theo của hệ thống AI trong một môi trường nhất định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong một môi trường hoạt động mà hệ
thống AI tương tác với con người và
nơi mà sự an toàn của con người phụ thuộc vào sự tương tác đó thì khả năng dự
đoán của hệ thống là sự cần thiết chứ không phải là sự mong muốn, sử dụng AI
trong các phương tiện tự hành là một trường hợp sử dụng hiển nhiên, vì việc
áp dụng rộng rãi các phương tiện tự hành dựa trên Al được dự báo là khả thi do
khả năng những phương tiện đó hoạt động theo cách có thể dự đoán được. Tương tự
như vậy, để chấp nhận người máy công tác có thể tương tác trực tiếp với con người
thì người vận hành cần có khả năng dự
đoán hành vi của người máy đó để đảm bảo an toàn cho người vận hành [55].
Trong trường hợp ô tô do con người điều
khiển, cơ chế nhận thức của chúng ta đưa ra những phán đoán nhanh chóng và gần như
vô thức về các hành động có thể xảy ra của con người đối với đồ vật xung quanh
trên cơ sở trải nghiệm mang tính lặp đi lặp lại và đặt vào các tình huống tương
tự. Ngay cả những thay đổi nhỏ trong hành vi bên ngoài cũng có thể dẫn đến
mức độ khó đoán trước
và trái ngược với kinh nghiệm của chúng ta. Ví dụ một chiếc ô tô tự lái có thể
va chạm với một chiếc ô tô do người điều khiển vì người lái xe không có khả năng
phân biệt các hành động trong tương lai của ô tô tự lái và ngược lại.
Các thuật toán học máy đưa ra những
thách thức cụ thể liên quan đến
khả năng dự đoán so với các kỹ thuật lập trình truyền thống hơn. Các thuật toán
ML học phân tích một lượng lớn dữ liệu và khám phá ra các kiểu mẫu và giải pháp
mới. Thành phần của dữ liệu huấn luyện và các biến thể trong các mô hình cơ bản
trong đó các mẫu được
hiện thực hóa sẽ thiết lập các tham số đầu vào ở phạm vi mà hệ thống AI có khả
năng xử lý chính xác. Các tình huống gây nhầm lẫn cho mô hình ML có thể dẫn đến
hành vi không thể đoán trước, làm mất an toàn hoặc các cơ chế thay thế khác.
Hơn nữa, trong trường hợp học liên tục hoặc học suốt đời, “logic” mà
hệ thống ML đưa ra quyết định có thể phát triển theo thời gian và làm tăng
thêm mức độ không thể đoán trước của thuật toán.
8.6 Tính
không rõ ràng
Hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể biểu
hiện ở nhiều dạng không rõ ràng. Thứ nhất, bản thân mô hình AI tự nó có thể là
không rõ ràng về mặt kỹ thuật, trong đó con người không dễ dàng giải thích các
quá trình ra quyết định mà nó sử dụng. Thứ hai, nếu dữ liệu và nguồn dữ liệu
không minh bạch, hành vi của toàn bộ hệ thống sẽ trở nên không rõ ràng đối
với người quan sát bên ngoài. Thứ ba, một hệ thống AI luôn được triển khai
trong bối cảnh thực thi trong một tổ chức, chẳng hạn như thu thập dữ liệu, quản
lý, vận hành các kết quả AI và phát triển hệ thống. Nếu những thực
tiễn này không được bộc lộ thì ngay cả một mô hình AI có khả năng diễn
giải cũng trở thành một hệ thống không rõ ràng đối với người dùng và các bên
liên quan khác ở bên ngoài.
Xem 9.2 để biết thêm thảo luận về các
biện pháp giảm thiểu.
8.7 Những
thách thức liên quan đến đặc điểm kỹ thuật của hệ thống AI
Hầu hết các lỗi của một sản phẩm đều bắt
nguồn từ giai đoạn tạo lập các thông số kỹ thuật. Bởi vì giai đoạn
này xác định một sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm tính năng và môi trường hoạt động của
nó, đầu ra của giai đoạn này sẽ là đầu vào của giai đoạn triển khai. Các sai hỏng
của giai đoạn này có ảnh hưởng lớn tới mức khó có thể hoặc không thể sửa
chữa trong các giai đoạn sau của vòng đời sản phẩm.
Sai sót trong giai đoạn này xảy ra đặc
biệt khi môi trường của sản phẩm chưa được phân tích đầy đủ hoặc chi tiết. Một
phân tích đầy đủ bao gồm tất cả các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến chức
năng dự kiến của sản phẩm, sự quan tâm đến các mối đe dọa về an toàn và bảo mật
cũng như việc thẩm tra về khuôn khổ pháp lý, quy định và đạo đức của sản phẩm.
Ngoài ra, một điều quan trọng nữa là phải xem xét các khía cạnh về hiệu năng,
tính năng sử dụng cho mục đích sử dụng dự kiến có tính đến bất kỳ thay đổi nào đối với
môi trường triển khai cũng như các nhóm người dùng khác nhau.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phân định rủi ro và trách nhiệm pháp lý
trong hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ phức tạp. Sử dụng AI có thể làm cho
quá trình phân định đó trở nên khó khăn hơn, hoặc nó sẽ tạo ra những thay đổi về
cách chúng ta đánh giá rủi ro/trách nhiệm.
Vì các hệ thống AI được sử dụng để giải
quyết các tác vụ phức tạp trong môi trường không đồng nhất nên việc tạo ra một
bộ đặc tính kỹ thuật đầy đủ và chính xác là điều cần thiết. Việc xác định các mục
đích và mức độ có thể giải
thích được (xem 9.3 để biết thêm chi tiết) là một thành phần quan trọng của bộ
đặc tính kỹ thuật của
bất kỳ hệ thống AI nào.
Một khi đặc tính kỹ thuật đã được xác
định, nó cần phải được
phổ biến cho các tác nhân riêng lẻ tham gia vào dự án. Do đó, các định nghĩa
không rõ ràng về đặc điểm kỹ thuật là một nguyên nhân dẫn đến thất bại, vì điều
này làm tăng nguy cơ hiểu sai và làm sai lệch các đặc tính kỹ thuật qua nhiều lần
truyền đạt không chính tắc. Nói chung, các khái niệm mang tính ý tưởng được viết
ra trong bản đặc tả sẽ được diễn giải bởi người tạo ra hệ thống trên cơ sở bản
đặc tả đó. Điều này tạo ra sự không phù hợp đầu tiên giữa đặc điểm kỹ thuật lý
tưởng và thiết kế cuối cùng. Các điểm không phù hợp khác được tạo ra khi sử dụng
học máy như thuật toán cuối cùng được tạo ra bởi các khái niệm có nguồn gốc từ
quá trình huấn luyện mà không có dữ liệu.
Tổng hợp các mức độ không không đảm bảo
này khiển đặc tính kỹ thuật cần có các yêu cầu có thể xác minh và thẩm định để
kiểm tra sản phẩm tạo ra.
8.8 Những
thách thức liên quan đến triển khai các hệ thống AI
8.8.1 Thu thập và
chuẩn bị dữ liệu
Trong giai đoạn thu thập dữ liệu, các
nguồn dữ liệu là cần thiết để giải quyết vấn đề được xác định. Tùy thuộc vào mức
độ phức tạp của vấn đề cần giải quyết, việc tìm ra bộ dữ liệu đại diện có thể
là một thách thức. Trong trường hợp có dữ liệu từ nhiều nguồn thì có thể phát
sinh các vấn đề về chuẩn hóa hoặc tính trọng số. Một điều quan trọng là những
khiếm khuyết xử lý các nguồn dữ liệu (là đầu vào của mô hình) có thể không được
phát hiện trong quá trình đánh giá mô hình, vì nó thường được tiến
hành trong một môi trường cách ly thay vì trong một môi trường tích
hợp.
Tại khâu này, một hoặc nhiều tập dữ liệu
sử dụng để huấn luyện mô hình được kiểm tra và ghi lại mức độ phù hợp mà chúng
đại diện cho dữ liệu của mô hình hoạt động.
Sau khi có được dữ liệu cần thiết, một
tập các tác vụ, thường được gọi là các tác vụ chuẩn bị dữ liệu được tiến hành để
làm sạch dữ liệu và đưa nó vào định dạng phù hợp cho mô hình khai thác. Một
khía cạnh quan trọng trong giai đoạn này là xác minh chất lượng của dữ liệu (ví
dụ dữ liệu bị thiếu, trùng lặp, dữ liệu không nhất quán hoặc dữ liệu ở định dạng
sai).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.8.2.1 Yêu cầu chung
Trong giai đoạn mô hình hóa, các thuật
toán đã chọn được huấn luyện để tạo ra các mô hình ứng viên. Mô hình là đại diện
của một thuật toán học máy khi nó được huấn luyện với dữ liệu. Biện pháp thực
hành tốt nhất là tạo lập một vài mô hình và sau đó chọn một mô hình hoạt động tốt
nhất cho vấn đề cụ thể đang được nghiên cứu giải quyết. Để tạo ra một mô hình
chính xác, một kỹ thuật phổ biến là tách dữ liệu có sẵn thành ba nhóm: dữ liệu
huấn luyện, dữ liệu thẩm định và dữ liệu kiểm tra. Tập dữ liệu huấn luyện là phần
dữ liệu được sử dụng để huấn luyện mô hình
và đảm bảo nó phù hợp. Tập dữ liệu thẩm định được sử dụng trong bước tiếp theo
để thẩm định khả năng dự đoán
của một mô hình được đào tạo và để điều chỉnh mô hình. Cuối cùng, tập dữ liệu
kiểm tra được sử dụng trong giai đoạn thử nghiệm để cung cấp đánh giá cuối cùng
về mô hình đã được đào tạo, làm cho phù hợp và sự điều chỉnh cần thiết nếu có.
Với công nghệ ngày nay, hoạt động xây
dựng một hệ thống AI học máy liên quan đến các giai đoạn được mô tả trong
8.8.2.2 đến 8.8.2.5 và thường có tính lặp lại.
8.8.2.2 Thiết kế thuộc
tính
Trong học máy, thuộc tính là một biến
đầu vào được mô hình sử dụng
để đưa ra dự đoán. Thiết kế thuộc tính là quá trình chuyển đổi dữ liệu thô
thành các thuộc tính để thể hiện một cách tốt nhất các vấn đề cơ bản cần
giải quyết vào trong các mô hình dự đoán, dẫn đến cải thiện độ chính xác của mô
hình dựa trên dữ
liệu không tường minh [56]. Các thuộc tính được tạo ra thông qua một chuỗi các bước
chuyển đổi dữ liệu (ví dụ: thay đổi tỷ lệ, tùy chỉnh, chuẩn hóa, ánh xạ dữ liệu,
tập hợp và tỷ lệ hóa) thường liên quan đến một số hoạt động lập trình. Cho rằng
các thuộc tính là kết quả thu được từ một số bước chuyển đổi dữ liệu
thì mối liên kết của nó với dữ liệu thô ban đầu có thể khó được tạo
lại trừ khi quy trình chuyển đổi được ghi chép một cách cẩn thận.
Thiết kế thuộc tính ảnh hưởng mạnh đến
hiệu năng của mô hình theo cách tích cực hoặc theo cách tiêu cực.
Ví dụ một thuộc tính đơn nào đó góp phần chủ yếu tạo ra các dự đoán của mô hình
có thể ảnh hưởng
đến độ chắc chắn của mô hình, vì dự đoán cuối cùng phụ thuộc mạnh mẽ vào giá trị
của
biến thuộc
tính đó thay vì sự phục thuộc có tính liên kết tương xứng với tất cả các thuộc
tính khác. Điều này
có thể
dẫn đến kết quả không chính xác.
8.8.2.3 Huấn luyện mô
hình
Rò rỉ mục tiêu (còn gọi là rò rỉ dữ liệu) xảy
ra khi tập dữ liệu huấn luyện chứa một số thông tin liên quan đến biến được dự
đoán (biển mục tiêu), là trường hợp không nên xảy ra trong giai đoạn sản xuất.
Điều này có thể xảy ra, v( dụ như dữ liệu đào tạo bao gồm thông tin không có sẵn
tại thời điểm dự đoán (vì biển/thuộc tính tương ứng chỉ được cập nhật sau khi
giá trị mục tiêu được dự đoán). Nó cũng có thể xảy ra khi biến mục tiêu được
suy ra từ dữ liệu đầu vào thông qua một biến đại diện không thể đưa vào như một
thuộc tính. Các mô hình rò rỉ mục tiêu có xu hướng rất chính xác trong quá
trình đánh giá nhưng lại kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất.
Thuật toán được chọn cần được huấn luyện
bằng dữ liệu huấn luyện để xây dựng mô hình. Thách thức liên
quan đến giai đoạn này là xây dựng một mô hình thể hiện tính đại diện tốt hoặc
phù hợp với dữ liệu huấn luyện liên quan đến vấn đề đang cần được
giải quyết. Quá trình đào tạo có thể xảy ra nguy cơ tạo ra mô hình quá phù hợp
hoặc thiếu sự phù hợp. Mô hình quá phù
hợp là mô hình được học quá chi tiết và nó phù hợp một cách chặt chẽ với tập dữ
liệu cơ sở (bao gồm cả nhiễu hoặc sai số gắn liền với tập dữ liệu). Mô hình dạng
này sẽ thực thi tồi
trong quá trình ra quyết định khi có các dữ liệu mới đến đầu vào. Điều này thường
xuất hiện khi có quá nhiều
thuộc tính được chọn là đầu vào của mô hình. Ngược lại mô hình
thiếu sự phù hợp xảy ra khi mô hình không nắm bắt được các kiểu cách cơ bản của
dữ liệu, do đó các dự đoán
đưa ra sẽ quá mơ hồ nên không có được các dự đoán tốt. Điều này thường xuyên xảy
ra khi mô hình không có đủ các thuộc
tính liên quan cần thiết. Do đó để tránh xảy ra tính trạng quá cụ thể (với quá
nhiều thuộc tính) hoặc quá mơ hồ (không đủ các thuộc tính) thì điều quan trọng
là phải chọn đúng các thuộc
tính với lượng thông tin dự đoán phù hợp. Thiết kế một mô hình vừa vặn là một thách
thức thường phát sinh trong giai đoạn huấn luyện. Tuy vậy chất lượng của các dự
đoán cần được đo lường trong giai đoạn thẩm định và kiểm tra lại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.8.2.4 Điều chỉnh
mô hình và tối ưu hóa siêu tham số
Trong giai đoạn huấn luyện, các mô
hình được hiệu chỉnh/điều chỉnh bằng cách điều chỉnh các siêu tham số của
chúng. Ví dụ về siêu tham số là độ sâu của cây trong thuật toán cây quyết định,
số lượng cây trong thuật toán rừng ngẫu nhiên, số cụm k trong
thuật toán k-trung bình, số lớp trong mạng nơ-ron v.v.. Lựa chọn
các siêu tham số không chính xác có thể là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của
các mô hình dự đoán.
Chất lượng của một mô hình không chỉ
phụ thuộc vào cấu trúc, thuật toán huấn luyện và dữ liệu của nó; một yếu tố
quan trọng nữa là sự lựa chọn các siêu tham số cho mô hình. Trong một số ứng dụng,
việc tối ưu hóa các siêu tham số mang lại sự cải tiến hiện đại hơn so với các
thuật toán học. Tối ưu hóa siêu tham số thường tạo
thành một vòng lặp bên ngoài quá trình học tập.
8.8.2.5 Đánh giá và
thẩm định mô hình
Sau khi đã điều chỉnh các mô hình, chúng được đánh
giá dựa trên các tập dữ liệu thẩm định để kiểm tra hiệu năng của chúng trên dữ
liệu khác với tập dữ liệu được sử dụng để huấn luyện. Kỹ thuật thẩm định mô
hình đơn giản thường chỉ sử dụng một tập dữ liệu thẩm định. Tuy nhiên để xây dựng các
mô hình mạnh mẽ hơn có thể sử dụng kỹ thuật thẩm định chéo K-lần. Kỹ thuật này
chia dữ liệu thành k tập con, mỗi tập con được sử dụng làm tập dữ liệu
thẩm định trong khi k-1 tập con khác được kết hợp để tạo thành tập huấn
luyện. Kết quả của k lần thẩm định được so sánh để xác định hiệu suất cao nhất và
mô hình có độ bền vững (về độ nhạy đối với nhiễu trong dữ liệu huấn luyện). Việc
lựa chọn mô hình dựa trên hiệu năng của nó so với các mô hình khác. Ví dụ về các số liệu
thống kê được sử dụng để đánh giá hiệu năng của mô hình là ROC AUC (vùng dưới
đường cong), ma trận nhầm lẫn (so sánh các giá trị dự đoán với các giá trị thực
tế từ tập dữ liệu thử nghiệm) hoặc điểm F-1 (được tính toán dựa trên ma trận nhầm
lẫn và đại diện cho điểm giao lý tưởng giữa độ chính xác và độ thu hồi).
Trong một giai đoạn kiểm tra lại riêng
rẽ, mô hình đã được chọn
sau giai đoạn mô hình hóa một lần nữa được
kiểm tra với dữ liệu mới (tập dữ liệu kiểm tra) để có được tính nhất quán cuối
cùng. Một số cài đặt cuối cùng để điều chỉnh mô hình (như ngưỡng giới hạn trong
các bài toán phân loại để xác định xác suất rơi vào lớp này hay lớp kia để thỏa
hiệp giữa dương tính giả và âm tính giả) được xác định cùng với người dùng
doanh nghiệp vì họ phụ thuộc vào các ứng dụng kinh doanh cụ thể.
Việc triển khai sản xuất thường diễn
ra sau giai đoạn kiểm tra lại.
8.8.3 Cập nhật mô
hình
Một mô hình sau khi được triển khai
vào sản xuất nó có thể yêu cầu cập nhật dựa trên dữ liệu mới mà nó có được. Điều
quan trọng là phải liên tục theo dõi hiệu năng/độ chính xác của mô hình để kịp
thời xác định khi nào mô hình cần được huấn luyện lại/cập nhật. Cập nhật mô
hình nhằm mục đích làm cho mô hình mạnh mẽ hơn và/hoặc tổng quát hóa mô hình
cho các tác vụ khác nhau, hoặc để cải thiện độ chính xác của nó đối với các tập
dữ liệu mới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Rủi ro chính cần lưu ý khi cập nhật một
mô hình là tác động của nó đến hiệu năng. Mô hình cập nhật sẽ được thẩm định và
kiểm tra lại để đảm bảo rằng không có sự suy giảm so với hiệu năng trước đó của
các tác vụ ban đầu và rằng hiệu năng của bất kỳ tác vụ mới nào đều phù hợp với
các ứng dụng kinh doanh cụ thể. Hơn nữa, điều quan trọng là phải đảm bảo khả
năng truy nguyên và kiểm soát đối với các phiên bản khác nhau của các mô hình
được triển khai trong sản xuất.
8.8.4 Lỗi phần mềm
Các phương pháp thực hiện trí tuệ nhân
tạo dựa trên việc thực thi các thuật toán bằng phần mềm. Do đó, quá trình phát
triển nó có chung những cạm bẫy như với mọi quá trình phát triển phần mềm khác.
Các lỗi phần mềm có thể xảy ra như lỗi truy cập và điều khiển quản lý bộ nhớ, lỗi
đầu vào, đầu ra; lỗi điều khiển luồng dữ liệu và lỗi dữ liệu. Các thuật toán AI
thường yêu cầu một lượng tài nguyên tính toán đáng kể nên chúng thường được triển
khai trên các hệ thống đa lõi. Trong những trường hợp các lỗi đồng thời xảy ra,
chẳng hạn như trạng thái xung đột, tranh chấp tài nguyên hoặc hiệu ứng đo lường
(“Heisenbugs”) đều phải được quan tâm, xem xét.
8.9 Những
thách thức liên quan đến sử dụng các hệ thống AI
8.9.1 Yếu tố tương
tác người - máy (HCl)
Có nhiều cạm bẫy dựa trên các yếu tố liên quan
đến con người. Có thể nhóm nhóm các yếu tố này thành bốn loại chính theo tài liệu
tham khảo [57]:
1) Sử dụng, khi tự động hóa cho phép
con người đạt được mục tiêu của họ;
2) Sử dụng sai, sự phụ thuộc quá mức
vào tự động hóa gây ra kết
quả tiêu cực không lường trước được. Ví dụ sử dụng sai là một cá nhân quá phụ
thuộc vào tự động hóa mà không chú ý đến đường đi;
3) Bỏ sử dụng, bỏ sự phụ thuộc vào tự
động hóa dẫn đến kết quả tiêu cực. Ví dụ tình huống bỏ sử dụng là một cá nhân
giành quyền điều khiển của hệ thống tự động hóa đang hoạt động chính xác, có thể
là nguyên nhân gây ra tai nạn trên đường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.9.2 Áp dụng sai
các hệ thống AI thể hiện hành vi thực tế của con người
Hệ thống AI có thể được thiết kế để phỏng
tạo hoặc mô phỏng các đặc điểm và hành vi của con người, chẳng hạn như chữ viết
tay [58], giọng nói [59], cuộc trò chuyện bằng văn bản hoặc giọng nói [60] [61]. Nếu bị
các tác nhân xấu áp dụng áp dụng sai lệch, những công nghệ này có thể được sử dụng
để lừa gạt các cá nhân. Có những trường hợp chatbot hoặc email-bot [62] mô phỏng
con người để tạo ấn tượng cho một thành viên thực trong một dịch vụ hẹn hò.
8.10 Lỗi phần
cứng hệ thống
Phần cứng hệ thống AI cần có khả năng
chịu lỗi mạnh mẽ. Các lỗi phần cứng có thể là nguồn gốc vi phạm thực thi đúng của
bát kỳ quá trình triển khai một thuật toán nào bằng cách làm hỏng cả luồng điều
khiển và dữ liệu của nó. Đối với AI, lỗi phần cứng ảnh hưởng đến tính đúng đắn
của việc thực thi thuật toán, ở cả quá trình huấn luyện và suy luận.
Bằng chứng về các lỗi phần cứng có thể
bao gồm: hỏng dữ liệu, mất dữ liệu, các vấn đề về luồng dữ liệu tạm thời. Những
lỗi như vậy có thể quy thành sự cố đơn lẻ hoặc sự cố kết hợp của nhiều loại lỗi
khác nhau và cần được nghiên cứu thêm trong bối cảnh hiện nay của AI.
Về bản chất lỗi phần cứng có thể là
vĩnh viễn (sự cố vĩnh viễn của một thành phần hoặc mô-đun trong hệ thống), tạm
thời (sự cố xuất hiện tạm thời và sau đó biến mất) hoặc không liên tục (sự
cố diễn ra một cách không liên tục). Các lỗi phần cứng cũng có thể là lành tính
hoặc ác tính xuất phát từ các nguyên nhân ngẫu nhiên hoặc có tính hệ thống.
Các lỗi khiến một khối thiết bị ngừng
hoạt động có thể là lỗi phần cứng và là lỗi lành tính do các thành phần của khối
bị hỏng. Tinh vi hơn là những lỗi khiến một khối thiết bị tạo các đầu ra có vẻ
phù hợp nhưng không đúng, hoặc làm cho một thành phần nào đó “hoạt động một
cách có hại”. Các lỗi này là lỗi mềm - là sự thay đổi trạng thái tạm thời không
mong muốn của các ô nhớ hoặc các phần tử logic, nguyên nhân xuất phát thường từ
các nguồn bức xạ năng lượng cao, chẳng hạn như các hạt alpha phân rã gói, gây
ra bởi các nơ-tron
hoặc hiệu ứng EMI bên ngoài như nhiễu điện từ, chùm tia điện từ. Nó cũng có thể
gây ra bởi xuyên nhiễu
nội bộ giữa các đường dẫn hoặc các linh kiện thành phần hoặc phát nhiễu độc hại,
chẳng hạn như sự trục trặc của thiết bị phát xung nhịp.
Các trình điều khiển phần cứng bị lỗi
cũng có thể là một khía cạnh khác để xác định lỗi phần cứng trong máy tính do
các phần mềm cài đặt cho nó bị lỗi.
Nguồn gốc và tác động của những lỗi
như vậy phụ thuộc vào cả các ứng dụng AI và việc triển khai nó trên
phân lớp cụ thể của một hệ thống. Các ứng dụng AI được triển khai trên các hệ
thống trải rộng từ thiết bị đầu cuối chủ yếu được sử dụng để suy luận, cho đến
đến tài nguyên tính toán và lưu trữ ở phạm vi đám mây sử dụng cho cả huấn luyện
và suy luận. Trong vòng đời của một ứng dụng AI, mô hình được huấn luyện sẽ trải
qua một số lần chuyển đổi nhằm chuyên biệt hóa các ứng dụng AI đối với nền tảng
hệ thống cụ thể, ví dụ như cho thiết bị cuối hạn chế về tài
nguyên.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các nguồn lỗi khác có thể ảnh hưởng đến
hoạt động của hệ thống liên quan đến vòng đời của các ứng dụng AI. Ví dụ các
nguồn lỗi bổ sung xuất hiện trong quá trình chuyển đổi mô hình - khi một mô
hình được huấn luyện được tải và cài đặt xuống thiết bị đầu cuối, một hệ thống
nhúng hạn chế về tài nguyên chẳng hạn, thì nó yêu cầu phải chuyên biệt hóa dữ
liệu hoặc lược bớt mô hình.
9 Các biện pháp giảm
thiểu
9.1 Yêu cầu
chung
Biện pháp giảm thiểu là sự kiểm soát
và hướng dẫn khả thi để có thể giảm thiểu những chỗ dễ tổn thương đã biết của
AI được mô tả trong Điều 8. Lưu ý rằng một biện pháp kiểm soát hoặc một hướng dẫn
nhất định có thể góp phần giảm thiểu một vài chỗ dễ bị tổn thương nào đó.
Một hệ thống hoạt động theo cách thức
không tin cậy sẽ không được coi là có tính đáng tin cậy. Trong một số trường hợp,
hệ thống có thể hoạt động bình thường nhưng tạo ra đầu ra sai lệch do dữ liệu đầu
vào không chính xác mới được đưa vào. Trong bối cảnh này, sẽ có các điểm kiểm
soát để xác định xem liệu sự tin tưởng còn được duy trì hay không. Các điểm kiểm soát
như vậy có thể được thực hiện thường xuyên trong suốt vòng đời của hệ thống AI
hoặc tại thời điểm hệ thống AI được sử dụng để ra quyết định.
9.2 Tính
minh bạch
Tính minh bạch cung cấp sự tường minh
đối với các thuộc tính, thành phần và quy trình của hệ thống AI. Lý tưởng nhất là một
hệ thống AI được coi là minh bạch sẽ thể hiện hành vi có thể lặp lại.
Tính minh bạch liên quan đến việc gia công dữ liệu, thuộc tính, mô hình,
thuật toán, phương pháp huấn luyện và quy trình đảm bảo chất
lượng để kiểm tra bên ngoài. Tính minh bạch cho phép các bên liên quan đánh giá
sự phát triển và vận hành của một hệ thống AI dựa trên các giá trị mà họ muốn
thấy, được duy trì bởi quá trình xử
lý AI. Những giá trị này có thể dựa trên các mục tiêu về sự công bằng hoặc quyền
riêng tư, hoặc có thể bắt nguồn từ thế giới quan đạo đức của một bên liên quan
cụ thể, chẳng hạn như đạo đức, đức hạnh hoặc hệ thống giá trị toàn cầu khác.
Tích hợp tính minh bạch vào tất cả các
lớp của các quá trình AI giúp cải thiện các vấn đề gây ra bởi sự không rõ ràng
được mô tả trong 8.6. Một hệ thống AI minh bạch sẽ thông báo cho các
bên liên quan về địa điểm, lý do và dữ
liệu nào được thu thập, đặc biệt là dữ liệu cá nhân sao cho chứng minh được
siêu dữ liệu đó được thu thập
tại thời điểm được phép thu thập dữ liệu. Nó cũng có thể thông báo cho các bên
liên quan khi quá trình ra quyết định được tự động hóa và giải
thích được quá trình đưa ra quyết định. Khi xử lý dữ liệu cá nhân dẫn đến các
quyết định có hiệu lực pháp lý đối với bên liên quan, các quy định về quyền
riêng tư có thể yêu cầu hệ thống AI minh bạch chấp nhận các yêu cầu can thiệp của
con người trong quá trình ra quyết định có tính đến quan điểm của các bên liên quan về
quá trình đó. Có một số cấp độ và thuộc tính minh bạch được xác định để phát triển
các hệ thống AI khác nhau, ví dụ như trong lĩnh vực dữ liệu mở.
Việc sử dụng các ký hiệu biểu trưng,
biểu tượng hoặc nhãn xếp hạng cho các hệ thống AI có thể giúp cải thiện tính
minh bạch đối với nhóm các bên liên quan cụ thể. Ví dụ, Diễn đàn Kinh tế thế giới
và Sáng kiến chung thế hệ AI của UNICEF [63] đề xuất các ký hiệu xếp hạng cho hệ
thống AI sử dụng trong đồ chơi trẻ em mà cha mẹ/người chăm sóc có thể tiếp cận được.
Khả năng giải thích của hệ thống là rất quan trọng để đạt được sự minh bạch như
vậy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Cách thức hoạt động của cơ chế AI
đang được kiểm tra nói chung, ví dụ cách thức hoạt động của cây quyết định bằng
phương pháp quy nạp;
- Loại mô hình và các tham số nào được
sử dụng;
- Các biến hoặc thuộc tính cụ thể nào
được sử dụng bởi mô hình; hoặc
- Cách thức một tập các biến hoặc thuộc
tính ứng viên đã được chọn.
Đối với một chuyên gia được đào tạo về
học máy, một lời giải thích tóm tắt ngắn gọn là đủ, chỉ rõ thủ tục lựa
chọn mô hình và các biến. Đối với một người không phải là chuyên gia ở lĩnh vực
nói trên thì một khóa học giới thiệu về AI và suy luận mô hình dựa vào dữ liệu
sẽ rất cần thiết cùng với diễn giải hoạt động của mô hình cây quyết định, tác động
của việc tham số hóa và cách
thức lựa chọn các biến và thuộc tính.
Câu hỏi quan trọng về tính minh bạch
là nó hoạt động như thế nào và liệu các thuật toán được sử dụng có phù hợp với
mục đích đề ra hay không. Tính minh bạch làm cho dữ liệu, thuộc tính, thuật
toán và
phương
pháp huấn luyện trở nên có sẵn để thanh tra bên ngoài. Các biện pháp minh
bạch nhằm mục đích bổ sung quyền riêng tư và lợi ích kinh doanh để nâng cao
tính đáng tin cậy tổng thể của AI
[64]. Trong trường hợp mô hình không rõ ràng, các phương pháp kỹ thuật có thể
áp dụng để tạo ra các cấp độ minh bạch hoặc khả năng giải thích đối với các mô
hình cụ thể [65].
Có thể không có sự tương ứng chặt
chẽ giữa tính minh bạch và khả năng giải thích trong một hệ thống AI cũng như mức
độ tin tưởng mà một bên
liên quan đặt vào hệ thống đó. Tuy nhiên, tính minh bạch và khả năng giải thích
cung cấp bằng chứng và thông tin quan trọng giúp các bên liên quan đưa ra nhận định
về sự tin cậy của họ đối với hệ thống AI.
9.3 Khả năng
giải thích
9.3.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có thể phân loại các dạng giải thích của
hệ thống AI theo: mục đích giải thích, bao gồm bối cảnh, nhu cầu của các bên
liên quan; các loại hình kiến thức thu thập được và theo phương thức giải
thích.
9.3.2 Mục đích giải
thích
Giải thích luôn là một nỗ lực để truyền
đạt sự hiểu biết. Hiệu quả giải thích có thể được cải thiện bằng cách điều chỉnh hình thức của
nó cho phù hợp với ngữ cảnh đưa ra, bao gồm cả đối tượng cần giải thích cũng
như mức độ hiểu biết để truyền đạt
cho phù hợp [66].
Nỗ lực giải thích có thể đưa ra nhiều
cách thức giải thích khác nhau nhưng đều phải hợp lệ, tùy thuộc vào việc các
bên liên quan tìm kiếm để:
- Hiểu về cách thức làm thế nào để có được kết
quả;
- Lĩnh hội các tri thức có trong kết quả; hoặc
- Hiểu rõ các sở cứ dựa vào đó kết quả
đưa ra là hợp lệ.
Đối tượng giải thích có thể bao gồm
bản thân hệ thống AI và kết quả do hệ thống tạo ra.
Tính giải thích được của các hệ thống
AI nhằm mục đích cung cấp sự hiểu biết về các quy trình góp phần tạo nên sự
trung thực, chính xác và hợp
lý cho các kết quả của nó để bác bỏ những quan sát mang tính quy kết rằng hệ thống
hoạt động chỉ là hình thức.
Việc hiểu rõ các giải thích từ các bên liên quan có thể được hỗ trợ bằng việc
tuân thủ các hướng dẫn
và tiêu chuẩn phù hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giải thích không mang tính tuyệt đối
nhưng cần được xác định rõ những vấn đề
liên quan đến mô hình đích và người nhận sự giải thích. Giải thích phải hiểu được
và làm rõ các vấn đề. Thông tin cần được thể hiện theo cách thức nào đó để tăng
cường tính trung thực đối với cách
nhìn nhận của con người đối với hệ thống và đối với chính bản thân hệ thống đó
[66][71].
9.3.3 Giải thích
trước và giải thích trước sau
Giải thích trước là giải thích các thuộc
tính và tính năng chung của một hệ thống trước khi sử dụng hệ thống đó. Hệ thống
AI được giải thích từ trước bằng việc cung cấp thông tin cho các bên liên quan
ngoại trừ nhà phát triển, về các thuộc tính và tính năng của một hệ thống, trước
khi sử dụng hệ thống đó.
Giải thích sau là giải thích các thuộc
tính và tính năng của hệ thống có vai trò trong việc đưa ra quyết định. Sử dụng
các biểu trưng có thể tăng cường khả năng giải thích và dẫn đến nâng cao tính
đáng tin cậy của AI.
Các giải thích trước và trước sau phục
vụ các chức năng khác nhau. Giải thích trước cố gắng tạo lập niềm tin rằng hệ
thống được thiết kế tốt và phục vụ mục đích sử dụng đề ra. Nó nhằm mục đích tạo
lập niềm tin với người dùng và thúc đẩy việc sử dụng hệ thống AI đó ngay từ đầu.
Giải thích sau cho phép giải thích các kết quả của thuật toán cụ thể và hoàn cảnh
mà chúng được thực hiện. Điều này có nghĩa là giải thích trước được coi là quan
trọng để tạo lập niềm tin vào hệ thống AI, nhưng sẽ không có được tính
minh bạch của hệ thống nếu như không tiếp cận đến hoạt động giải thích sau của
hệ thống đó.
Lý tưởng nhất là một hệ thống AI có sự
nhất quán giữa các giải thích trước và giải thích sau. Các thuộc tính và tính
năng đưa ra trong giải thích trước đó sẽ được chứng minh bởi thông tin được bộc
lộ thông qua giải thích sau thể hiện hoạt động của các thuật toán cụ thể.
Mục 9.3.4 đề cập đến khả năng giải
thích sau.
9.3.4 Các cách tiếp
cận để giải thích
Có thể phân loại các cách tiếp cận để
giải thích dựa trên giai đoạn, phạm vi và mức độ chi tiết của các giải thích được
tạo ra. Các giải thích có thể được tạo ra trong các giai đoạn khác nhau của quá
trình phát triển mô hình AI:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2) Trong khi mô hình hóa; và
3) Sau mô hình hóa.
Giai đoạn trước mô hình hóa phục vụ việc
hiểu dữ liệu trước khi xây dựng mô hình. Có một nhóm các phương pháp có thể được
thực hiện để hiểu một tập dữ liệu nào đó nhằm cung cấp thông tin về sự phát triển
tiếp theo của các mô hình AI (ví dụ: phân tích các mặt của dữ liệu, trực quan
hóa dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, phân tích bằng phương pháp toán học các tập dữ
liệu) [72] - [76].
Giai đoạn mô hình hóa phục vụ việc
phát triển các mô hình AI có thể giải thích các quyết định của chúng hoặc vốn
dĩ đã giải thích được [77] - [79].
Giai đoạn sau mô hình hóa phục vụ việc
tạo ra các giải thích cho các quyết định cho một mô hình AI không diễn giải được
[80] - [88].
Quá trình giải thích một mô hình AI có
thể được mô tả như sau:
- Cục bộ, bằng việc giải thích quá
trình mô hình ra quyết định đối với một cặp đầu vào / đầu ra nhất định; hoặc
- Toàn cục, bằng việc giải thích mang
tính logic về một khái niệm chung hoặc một loại kiểu cách dữ liệu bên
trong một mô hình.
Ngoài ra, các giải thích có thể được tạo
ra với các mức độ chi tiết khác nhau. Với một mạng nơ-ron sâu, một cấp độ giải
thích nào đó
có thể
đề cập thảo luận về vai trò của từng lớp trong kết quả dự đoán. Có thể hiểu chi tiết
hơn bằng việc kiểm tra vai trò của từng nơ-ron trong một lớp nhất định [89] -
[95].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.3.5.1 Yêu cầu chung
Các phương thức giải thích có thể được
phân loại theo truy nguyên, nhận thức và biện luận.
Ba phương thức giải thích này có thể
khác nhau, vì một tổ chức có thể đưa ra lời giải thích theo truy nguyên mà
không cần đưa ra lời giải thích mang tính nhận thức hoặc tính biện luận. Ví dụ
nêu bật đặc điểm giới tính trong kết quả của thuật toán quyết định cho vay tín
dụng như là một phần của sự giải thích nguyên nhân mà thuật toán đưa ra quyết định
đó, nhưng nó không trả lời các câu hỏi về vai trò chức năng của giới tính trong
khả năng vay tín dụng của một người, hoặc theo những tiêu chuẩn nào thì nó cho
là hợp lệ để biện minh cho quyết định vay tín dụng trên cơ sở giới tính đó.
Do đó giải thích mang tính đầy đủ của
hệ thống AI có thể bao gồm các thuộc tính sau:
- Chuỗi các truy nguyên theo dõi cách
thuật toán đưa ra quyết định;
- Vai trò chức năng của các thuộc tính được
đánh giá đối với các hiện tượng được mô hình hóa;
- Các nguyên tắc và tiêu chuẩn về đạo
đức cùng các quy định khác để minh chứng kết quả đầu ra của các thuật toán.
Việc lựa chọn các thuộc tính giải
thích như trên phụ thuộc vào việc giải thích đó dành cho ai, mục
đích của giải thích là gì và mức độ tin tưởng mong muốn đạt được đối với ứng dụng.
9.3.5.2 Giải thích
theo truy nguyên: cái gì hoạt động như thế nào
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kết quả của việc theo dõi chuỗi truy
nguyên trong quá trình học máy phụ thuộc vào mức độ trừu tượng được chọn. Đó là
các thuộc tính định tính (ví dụ hình dạng của đối tượng), phép tính toán ẩn dụ
(ví dụ
giá
trị véc-tơ), các vấn đề vật lý thực tế (ví dụ trạng thái nạp của thanh ghi bộ xử
lý). Chúng đều có những vai trò nhất định trong lịch sử truy nguyên của một quá
trình AI, giải thích truy nguyên để hiểu cách thức một kết quả được tạo ra và
có thể tiến hành ở bất kỳ cấp độ nào [96].
Mức độ trừu tượng nào được coi là hữu
ích tùy thuộc vào từng mục tiêu giải thích. Với một hệ thống AI có thể diễn giải,
mức độ trừu tượng cao nhất của yếu tố quyết định nào đó mà hệ thống sử dụng,
cùng với trọng số của chúng đối với kết quả cuối cùng có thể được làm cho hài
hòa với các thuộc tính mang tính định lượng và có ý nghĩa đối với con
người. Hơn nữa, giải thích truy nguyên có thể hỗ trợ khi xuất hiện các biện
pháp can thiệp phản thực tế [97]. Nghĩa là nó có thể mang lại sự hiểu
biết về kết quả được tạo ra sẽ cần thay đổi như thế nào, liệu các thuộc
tính đầu vào đã được sửa đổi chưa.
9.3.5.3 Giải thích
theo nhận thức: Làm thế nào chúng ta biết nó hoạt động
Đối với mục tiêu biện luận theo nhận
thức, nghĩa là giải thích tại sao một kết quả được tạo ra bởi thuật toán là
đúng, một giải thích được coi là thành công nếu nó diễn giải được các mối quan
hệ chức năng hoặc logic trong các hiện tượng được mô hình hóa. Có nghĩa là
nó không phải là mô tả liên quan đến bản thân hệ thống, mà nó là mô tả liên
quan đến các đặc điểm của thế giới mà hệ thống hướng đến.
9.3.5.4 Giải thích
theo biện luận: Nó hoạt động dựa trên cơ sở nào
Đối với một quyết định tự động từ hệ
thống AI, đó là sự giải thích cho tính hợp lệ của kết quả. Điều này vượt ra
ngoài phạm vi của giải thích theo truy nguyên và giải thích theo chức năng
trong một bối cảnh xã hội nào đó để truyền đạt các nguyên tắc, sự kiện và
tiêu chuẩn làm sở cứ đưa ra quyết định. Cách thức giải thích này cho thấy lý do
tại sao kết quả đưa ra là phù hợp, công bằng, hợp lệ dựa trên tình huống hiện tại.
Giải thích theo biện luận có thể đề cập
đến các thuộc tính của hệ thống AI như thuật toán, dữ liệu được sử dụng, các
thuộc tính quyết định, nhưng sẽ không được coi là đầy đủ nếu không tham chiếu đến
các thực tế về thể chế, xã hội và việc triển khai hệ thống. Điều này bao gồm
các quy định, tiêu chuẩn và quy trình tổ chức phù hợp với trường hợp sử dụng.
Chức năng giải thích theo biện luận được
coi là thành công nếu lập luận hỗ trợ kết quả được tạo ra mang tính hệ thống.
Do đó giải thích thành công mở ra hướng thuận lợi để xem xét và thảo luận một
cách kỹ lưỡng các kết quả, kết quả của hệ thống có thể được đánh giá lại dựa
trên các lập luận phản bác để từ đó có sự đảo ngược hoặc điều chỉnh quyết định
một cách phù hợp.
9.3.6 Cấp độ giải
thích
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi lựa chọn cấp độ có thể giải thích
cần thiết cho một hệ thống AI, các quan tâm đối với ứng dụng có thể
bao gồm những vấn đề:
- Hệ thống AI sử dụng dữ liệu nhạy cảm
của các cá nhân làm dữ liệu đầu vào;
- Kết quả của hệ thống AI được sử dụng theo
cách thức có sự tác động đáng kể đến lợi ích của các cá nhân;
- Hậu quả của việc ra quyết định không đúng dựa
trên AI là tương đối quan trọng;
- Ứng dụng có thể dẫn hạn chế quyền tự
chủ của người dùng hoặc của các bên thứ ba;
- Hệ thống có tác động không nhỏ đối với những
người ngoài cuộc và cộng đồng xã hội lớn hơn so với phạm vi mà nó được triển
khai, ví dụ như chỉ hiển thị một số quảng cáo việc làm cho nam giới dẫn đến gia
tăng bất bình đẳng giới.
Cấp độ giải thích có thể khác
nhau dựa trên nhu cầu cụ thể của các nhóm bên liên quan khác nhau, các khía cạnh
dữ liệu mà dựa vào đó hệ thống AI đưa ra kết quả, nhu cầu cần có sự can thiệp của
con người đối với các quyết định dựa trên kết quả AI, nhu cầu để các bên liên
quan bày tỏ quan điểm riêng cũng như những thách thức gặp phải đối với các quyết
định đó.
9.3.7 Đánh giá các
giải thích
Đánh giá chất lượng giải thích cũng là
điều quan trọng. Nó bao gồm việc xem xét ở các khía cạnh sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Tính nhất quán, nếu chúng ta
thay đổi mô hình sao cho sự tham gia của một tính năng nhất định vào kết quả dự
đoán tăng lên, thì điểm số quan trọng của thuộc tính đó ước lượng bằng phương pháp
giải thích sẽ không bị giảm;
- Tính chọn lọc, các giải thích dựa trên mức
độ quan trọng, với mong muốn rằng sự tham gia, được phân bổ theo các thuộc
tính sẽ có tác động mạnh
nhất đến dự đoán được tạo ra nếu sự tham gia đó là quan trọng nhất. Nghĩa là việc
loại bỏ một tính năng (hoặc một tập hợp các tính năng) có điểm số liên quan cao nhất sẽ
dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong kết quả đầu ra của mô hình. Điều này đảm bảo
rằng các thuộc tính đúng được phân biệt bằng những nội dung liên quan trong phần
giải thích được tạo ra.
Ngoài ra cũng cần xem xét sự trả giá
giữa tính chính xác và tính dễ hiểu của sự giải thích [98] - [105].
9.4 Khả năng
điều khiển
9.4.1 Yêu cầu chung
Có thể đạt được khả năng điều khiển bằng
cách cung cấp các cơ chế đáng tin cậy để người vận hành tiếp quản quyền kiểm
soát từ hệ thống AI. Để đạt được khả năng điều khiển, các câu hỏi cần giải quyết
trước tiên bao gồm ai được cấp quyền điều khiển cái gì, hệ thống AI
thuộc sở hữu của ai, trong bối cảnh hệ thống đó có nhiều bên
liên quan tham gia, ví dụ như nhà cung cấp dịch vụ hoặc nhà cung cấp sản phẩm, nhà
cung cấp các thành phần cấu thành AI, người dùng hoặc tác nhân có thẩm quyền quản
lý.
Những mô tả dưới đây thể hiện sự cần
thiết phải tích hợp các điểm kiểm soát trong vòng đời của hệ thống AI như một khâu để đưa ra
quyết định đáng tin cậy.
9.4.2 Các điểm điều
khiển bằng con người trong vòng lặp
Xét về vai trò của con người trong
vòng đời các hệ thống AI, có hai vai trò liên quan đặc biệt được coi như các điểm điều khiển bằng
con người trong vòng lặp:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các chuyên gia trong từng lĩnh vực phù
hợp cung cấp các phản hồi để không chỉ đánh giá lại mức độ tin tưởng vào hệ thống
mà còn cải thiện hoạt động của hệ thống. Trong bối cảnh này, kết quả được kiểm
tra/ngữ cảnh hóa bởi các chuyên gia trong từng lĩnh vực phù hợp và được coi là quan
trọng đối với hệ thống AI. Vì các chuyên gia đó có thể chỉ ra các tương
quan giả hoặc lý do tại sao một hệ thống hoạt động vẫn có thể hoạt động theo một
cách thức nào đó trong khi dữ liệu không khả dụng cho hệ thống AI.
9.5 Các chiến
lược giảm tính thiên vị
Hiện tồn tại nhiều chiến lược giải quyết
sự thiên vị:
- Xem xét các yêu cầu pháp lý và các yêu cầu
khác liên quan đến tính thiên vị và có thể xác định một cách tường minh trong
giai đoạn xác định các yêu cầu hệ thống, bao gồm cả việc thiết lập các ngưỡng
thích hợp;
- Phân tích xuất xứ và tính đầy đủ của nguồn dữ
liệu để có thể bộc lộ những
rủi ro, soát xét các quy trình được sử dụng để thu thập và chú giải dữ liệu;
- Các kỹ thuật thuần túy có thể sử dụng
như một phần của quá trình huấn luyện mô hình để phát hiện và giảm thiểu tính
thiên vị;
- Các kỹ thuật kiểm tra và đánh giá cụ
thể sử dụng để phát hiện
tính thiên vị;
- Các thử nghiệm hoặc đánh giá hoạt động thường
xuyên sử dụng để phát hiện các vấn đề liên quan đến tính thiên vị trong bối cảnh
sử dụng thực tế.
Mỗi cách giải quyết trên có những ưu
và nhược điểm của nó. Điều tra rủi
ro liên quan đến tính thiên vị và tài liệu hóa các kỹ thuật giảm thiểu sẽ giúp
việc tạo lập tính đáng tin cậy đối với AI.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các phương pháp cú pháp (chẳng hạn như
k-nặc danh) hoặc các phương pháp ngữ nghĩa (chẳng hạn như quyền riêng tư khác
biệt) được sử dụng để khử danh tính dữ liệu cá nhân [52]. Ngay cả khi
dữ liệu được khử nhận dạng, thì khi có sẵn các dữ liệu từ nhiều nguồn AI vẫn có thể nhận dạng
lại dữ liệu bằng cách sử dụng suy luận dựa trên dữ liệu từ các nguồn khác đó.
Ví dụ nghiên cứu [53][54] cho thấy giải pháp k-nặc danh có thể
vẫn chưa để để thỏa mãn.
Bất kể phương pháp khử danh tính ban đầu
là gì đều có thể phải quản lý rủi ro về tái nhận dạng danh tính bằng các thỏa
thuận sử dụng dữ liệu giữa các bên khi thu nhận dữ liệu.
9.7 Độ bền vững,
khả năng phục hồi và độ bền vững
Công bố [30] chỉ ra “khả năng” của
hệ thống là một trong những thành phần quan trọng để đạt được tính đáng tin cậy.
Khả năng có thể được mô tả như một đặc tính của hệ thống để thực hiện một
tác vụ cụ thể, có thể được đánh giá theo một số thuộc tính bao gồm tính tin cậy,
khả năng phục hồi và độ bền vững.
Tính tin cậy là khả năng của một hệ thống
hoặc một thực thể trong hệ thống đó thực hiện các chức năng cần thiết của nó ở
các điều kiện xác định trong một khoảng thời gian cụ thể [106]. Nói cách
khác, một hệ thống AI đáng tin cậy tạo ra các đầu ra giống nhau cho các đầu vào
giống nhau một cách nhất quán.
Hệ thống AI cũng như các loại hình hệ
thống phần mềm khác, lỗi phần cứng có thể ảnh hưởng đến việc thực thi một cách
đúng đắn của thuật toán. Khả năng chịu lỗi là khả năng hệ thống tiếp tục hoạt động
khi xuất hiện sự gián đoạn, lỗi hoặc hỏng hóc trong hệ thống, nhưng có khả năng
làm suy giảm năng lực của hệ thống đó. Xét về tổng thể, một hệ thống hoặc thiết
bị hoạt động chính xác, đáp ứng các yếu tố đầu vào của nó thì hệ thống đó được
xem như an toàn trong hoạt động [107].
Khả năng phục hồi là khả năng hệ thống
có thể phục hồi tình trạng hoạt động một cách nhanh chóng sau
khi xảy ra sự cố. Khả năng phục hồi liên quan đến tính tin cậy nhưng có cấp độ
dịch vụ mong muốn và được kỳ vọng là khác nhau. Kỳ vọng về khả năng phục hồi có
thể thấp hơn theo cách xác định của các bên liên quan, điều này cũng đúng với đề xuất
về khả năng khôi phục (xem tài liệu tham khảo [42], mục 11.5).
Đối với các hệ thống AI, độ bền vững
thường sử dụng để mô tả khả năng sau cùng của một hệ thống duy trì mức hiệu
năng của nó trong bất kỳ trường hợp nào, bao gồm cả sự can thiệp từ bên ngoài
hoặc các điều kiện môi trường khắc
nghiệt. Độ bền vững bao gồm khả năng phục hồi, tính tin cậy và nhiều thuộc tính
tiềm năng khác nữa liên quan đến hoạt động đúng đắn của một hệ thống theo dự định
của các nhà phát triển. Rõ ràng là hoạt động hoàn hảo của một hệ thống có liên
quan trực tiếp hoặc ảnh hưởng tới sự an toàn của các bên liên quan trong một
môi trường/bối cảnh nhất định. Ví dụ một hệ thống AI dựa trên ML mạnh mẽ sẽ có khả năng
khái quát hóa được các đầu vào chưa biết, ví dụ như làm mất đi sự quá phù hợp của
mô hình. Để đạt được điều đó thì điều cần thiết là phải huấn luyện các mô hình một
cách thực chất, hoặc các mô hình sử dụng bộ dữ liệu huấn luyện lớn, bao gồm cả
dữ liệu huấn luyện có nhiễu.
9.8 Giảm thiểu
lỗi phần cứng hệ thống
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một trong những phương pháp này là
khai thác sự tính dự phòng để che giấu hoặc khắc phục các lỗi hỏng hóc và do đó
duy trì được cấp độ hoạt động mong muốn. Các lỗi phần cứng có thể được xử
lý bằng sử dụng dự phòng bằng phần cứng (ví dụ: n-lớp tại tầng nào đó hoặc có cấp
độ dự phòng phù hợp), bằng thông tin (ví dụ như các bit kiểm tra) hoặc bằng thời
gian (ví dụ tính toán lại vào các thời điểm khác nhau, thường là ngẫu nhiên).
Các lỗi phần mềm được bảo vệ bằng dự phòng phần mềm (ví dụ đa dạng
hóa phần mềm hoặc các hình thức giảm thiểu khác).
Loại lỗi trước đây được giảm thiểu bằng
cách kết hợp phần cứng bổ sung vào thiết kế để phát hiện hoặc thay thế ảnh hưởng
của thành phần bị lỗi. Dự phòng phần cứng có thể là ở chế độ tĩnh hoặc động; nó có thể
bao gồm từ một bản sao đơn giản đến các cấu trúc phức tạp, chuyển
đổi các thiết bị dự phòng khi các thiết bị đang hoạt động bị lỗi.
Để tránh các tác động xấu của các lỗi với
nguyên nhân thông thường, chẳng hạn như ảnh hưởng từ điều kiện môi trường hoặc
điểm yếu của các công nghệ cảm biến cụ thể thì cần có nhiều biện pháp hơn (ví dụ:
sử dụng tính đa dạng). Ngoài ra, các biện pháp chẩn đoán khác nhau có thể giúp
phát hiện lỗi trong thời gian hoạt động và thực hiện các biện pháp đối phó hoặc
chuyển hệ thống sang trạng thái an toàn.
Có thể tìm thấy mô tả toàn diện về các
phương pháp và quy trình để triển khai
phần cứng an toàn khi có hỏng
hóc, mô tả về các cấp độ hoạt động an toàn có thể chứng nhận
được ở trong IEC 61508 [107].
9.9 Tính an
toàn trong hoạt động
Các chức năng cụ thể ở nhiều khía cạnh
liên quan được thực thi để đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống. Các chức
năng này có thể là một phần không thể thiếu của chức năng điều khiển của một hệ
thống hoặc một hệ thống chuyên dụng có giao tiếp với các hệ thống đang được xem
xét. Ví dụ, đối với các hệ thống AI, chức năng liên quan đến an toàn có thể
giám sát các quyết định do AI thực hiện để đảm bảo rằng chúng nằm trong phạm vi
có thể chấp nhận được hoặc đưa hệ thống vào trạng thái xác định trong trường hợp
chúng phát hiện ra hành vi có vấn đề.
IEC 61508 [107] đưa ra phương pháp tiếp
cận chung cho tất cả các hoạt động trong vòng đời an toàn của các hệ thống bao,
gồm các phần tử điện và/hoặc điện tử, và/hoặc các phần tử điện tử có
thể lập trình được sử dụng để thực hiện các chức năng an toàn. Nó là cơ sở cho
các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực sản phẩm và ứng dụng để giải quyết các vấn
đề liên quan đến tính an toàn của hệ thống. ISO 26262 [108], IEC 62279 [109] và
IEC 61511 [110] là các ví dụ về các tiêu chuẩn thích ứng theo lĩnh vực cụ thể
cho ngành ô tô, đường sắt và công nghiệp chế biến. IEC 61508 [107] có thể áp dụng
cho tất cả các hệ thống liên quan đến an toàn điện và/hoặc điện tử, và/hoặc phần
tử điện tử có thể lập trình (E
/ E / PE) thuộc bất kể ứng dụng
là gì. Nó chủ yếu quan tâm đến những hệ thống mà sự cố của nó có thể ảnh hưởng
đến sự an toàn của con người và/hoặc môi trường. Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng
hậu quả của sự hỏng hóc có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng về kinh tế.
Trong các trường hợp như vậy, các tài liệu nói trên có thể được sử dụng để
chỉ rõ hệ thống E / E / PE cụ thể được sử dụng để bảo vệ thiết bị hoặc sản phẩm.
9.10 Kiểm
tra và đánh giá
9.10.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.10.2 Phương pháp
thẩm định và xác minh phần mềm
9.10.2.1 Yêu cầu chung
Để đạt được tính đáng tin cậy, các hệ
thống phần mềm truyền thống (không phải AI) dựa trên hai trục sau:
- Một kiến trúc cho phép dự phòng hoặc
giám sát các chức năng quan trọng; và
- Thẩm định và xác minh mã nguồn, bao gồm
việc chứng minh bằng kỹ thuật rằng mã thực thi đáp ứng yêu cầu và được kiểm tra
đầy đủ. Hiện tại việc chứng minh dựa trên thực tế là hành vi của hệ thống đã được biết
trước và có thể xác định được.
Theo tài liệu tham khảo [111], thẩm định
là “xác nhận, thông qua việc cung cấp bằng chứng khách quan, rằng các yêu cầu cho một
mục đích sử dụng hoặc ứng dụng cụ thể đã được đáp ứng. Chú thích 1: hệ thống
đúng đã được tạo lập”. Xác minh là “xác nhận, thông qua việc cung cấp bằng chứng
khách quan, rằng các yêu cầu cụ thể đã được đáp ứng. Chú thích 1: hệ thống đã được
tạo lập đúng” [24].
Các hệ thống phần mềm phải tuân theo
các phương pháp thẩm định, xác minh và kiểm tra phần mềm một cách chính thức,
chẳng hạn như được quy định trong tài liệu tham khảo [111], trong đó có nêu mục tiêu
chính của kiểm thử phần mềm.
“Cung cấp thông tin về chất lượng của
hạng mục kiểm thử và bất kỳ rủi ro nào có thể tồn tại liên quan đến hạng mục được
kiểm thử để tìm các khuyết tật trong hạng mục kiểm thử trước khi sử dụng; và để
giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan do chất lượng sản phẩm kém”.
Theo thiết kế, yếu tố tất định
của các hệ thống AI thường kém hơn so với các hệ thống phần mềm truyền thống và
hiếm khi được giải thích một cách cặn kẽ. Phần mềm của hệ thống AI bao gồm cả
các thành phần AI và không phải AI.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với hệ thống AI, cần có các kiểm
thử chức năng để có thể xử lý tính không chắc chắn khi áp dụng. Đó là một thách
thức đối với việc xác định và kiểm thử các yêu cầu đối với các thành phần phần
mềm không có yếu
tố
mang tính tất định bằng
các tiêu chuẩn và thông lệ hiện có. Đây được gọi là “vấn đề tiên đoán”, mô tả
những khó khăn trong việc xác định liệu một phép kiểm thử riêng biệt nào đó có
đáp ứng các tiêu chí thành công trong việc kiểm thử hay không. Sự phổ biến của
vấn đề này trong các hệ thống AI đòi hỏi các nỗ lực trong hoạt động tiêu
chuẩn hóa để thúc đẩy việc tạo lập các kỹ thuật thẩm định và xác minh mới.
9.10.2.2 Phương pháp
chính thức
Có thể sử dụng các phương pháp chính
thức để kiểm tra và đánh giá mạng nơ-ron nhân tạo cho mục đích thẩm định và xác
minh phần mềm. Để làm được như vậy,
một số chỉ số có thể được sử dụng, chẳng hạn như:
- Tính không chắc chắn, tương quan với
sự thay đổi đáp ứng của mạng nơ-ron để kiểm tra xem liệu sự tổng quát hóa của
nó có tạo ra hành vi không ổn định hay không;
- Không gian ổn định tối đa, tương
quan với khả năng của hệ thống AI chứng minh rằng việc phân loại được thực hiện
sẽ ổn định xung quanh tập huấn luyện.
9.10.2.3 Kiểm tra thực
nghiệm
Có nhiều kỹ thuật khác nhau để kiểm
tra thực nghiệm các giải pháp không có tính tất định cho mục đích thẩm định và
xác minh phần mềm, bao gồm:
- Thử nghiệm biến hóa - một kỹ thuật
thiết lập mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống và dựa vào việc chạy
nhiều lần thử nghiệm và so sánh kết quả. Nó thường được sử dụng trên các hệ thống
có “vấn đề tiên
đoán” [112];
- Hội đồng chuyên gia - cho các hệ thống AI được
xây dựng để thay thế cho phán đoán của các chuyên gia, hội đồng được thành lập
để xem xét kết quả thử nghiệm. Cách tiếp cận này có thể nảy sinh ra
thách thức mới do việc sự không đồng ý
của các chuyên gia về kết quả đưa ra [113];
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.10.2.4 So sánh thông
minh
Khi không có phương pháp đánh giá tự động
nào, việc so sánh khả năng thông minh của hệ thống AI và con người có thể cung
cấp sự tin tưởng về chất lượng hệ thống AI bằng cách khẳng định các chức năng thực
hiện của hệ thống AI. Cách tiếp cận này dựa trên việc so sánh các chỉ số nhất định
với ngưỡng theo tiêu chí đã cho. Sau đó có thể áp dụng một vài phương pháp khác
nhau (ví dụ như hệ số hòa hợp, thực nghiệm Pearson) với các môi trường khác
nhau (ví dụ “hộp cát” hoặc ngăn vật lý).
9.10.2.5 Thử nghiệm
trong môi trường mô phỏng
Trong một số trường hợp khi tác vụ thực
hiện bởi hệ thống AI
đặc trưng bởi hành động vật lý đối với môi trường (ví dụ đối với AI được nhúng trong
người máy), việc đánh giá hiệu năng và phân tích sự tuân thủ với các yêu cầu
liên quan đến rủi ro cần phải được thực hiện trong thực tế hoặc môi trường có
thể đại diện cho thực tế. Để xác định phạm vi hoạt động của AI nhúng, cần thực
hiện các thử nghiệm trong môi trường được kiểm soát để thúc đẩy khả năng chấp
nhận đối với các hệ thống cơ điện tử thông minh. Có thể thực hiện thử nghiệm
vật lý trong buồng khí hậu, thử nghiệm rung, sốc, gia tốc không đổi để đánh giá
hiệu năng của hệ thống trong các điều kiện khắc nghiệt và để xác định chính xác
các điều kiện biên cho vận hành. Việc đánh giá các hệ thống AI trong môi trường
mở và thay đổi
có thể gặp phải rất nhiều các trường hợp thử nghiệm khác nhau, phát triển các
môi trường thử nghiệm ảo để đánh giá bằng mô phỏng cũng có thể là cách tiếp cận
hữu ích.
9.10.2.6 Thử nghiệm hiện
trường
Do sự khác biệt giữa môi trường thử
nghiệm và điều kiện vận hành thực tế, nên thử nghiệm hiện trường thường là một
cách rất hiệu quả để cải thiện chất lượng của hệ thống được triển khai bằng việc
thử nghiệm hiệu năng, tính hiệu quả hoặc độ bền của hệ thống.
Một số ví dụ và lĩnh vực nổi bật áp dụng
loại hình thử nghiệm này là:
- Thử nghiệm nhận dạng khuôn mặt
[116];
- Thử nghiệm hệ thống hỗ trợ ra quyết
định đối với ứng dụng trong nông nghiệp [117];
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Kiểm tra hệ thống nhận dạng lời nói
và giọng nói [120], [121];
- Người máy trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe [122];
- Đo lường khối lượng công việc nhận
thức của chatbot (trợ lý giọng nói v.v..) [123]; và
- Kiểm tra hệ thống dạy kèm thông minh
[124].
Các thử nghiệm hiện trường cho các hệ
thống AI khác nhau rất nhiều về phương pháp luận, số lượng người dùng, các trường
hợp sử dụng liên quan, tình trạng của tổ chức/người chịu trách nhiệm và tài liệu
hóa các kết quả. Cho dù các thử nghiệm có thể được áp dụng như một biện pháp để cải
thiện chất lượng của các hệ thống AI phụ thuộc vào các rủi ro liên quan đến việc
áp dụng các hệ thống đó. Trong nhiều ứng dụng, thử nghiệm A/B được sử dụng như
một kỹ thuật để cung cấp các phiên bản hệ thống khác nhau cho những người dùng
khác nhau nhằm so sánh hiệu năng của hệ thống.
Ngoài tính nghiêm ngặt một cách hợp lý
của phần mềm AI được xây dựng, cần tính đến khả năng chấp nhận đối với con người
và các thử nghiệm hiện trường có thể giúp đạt được điều đó. Thêm vào đó lỗi của
hệ thống AI trong một bài kiểm tra chức năng có thể là không cần thiết hoặc có thể không thể
giải quyết được. Hệ thống AI hiển thị các kết quả thay đổi có thể được coi là hữu
ích cho mục đích dự kiến của chúng, khả năng của hệ thống AI đạt được kết quả
theo kế hoạch và mong muốn không phải lúc nào cũng có thể đo lường được bằng
các phương pháp kiểm thử phần mềm thông thường.
Một sự khác biệt cơ bản khác giữa nhiều
hệ thống AI và các hệ thống thông thường là hệ thống thông thường được thiết kế
để phát triển, sản xuất và kiểm soát
chất lượng nhằm đáp ứng nghiêm ngặt các thông số kỹ thuật nhất định. Phần mềm
truyền thống được thiết kế để có thể tái tạo các hành vi của nó, trong khi các
hệ thống AI là sự tìm kiếm khả năng tổng quát hóa. Điều này dẫn đến việc thực
nghiệm kiểm tra và thử
nghiệm hiện trường có thể hiệu quả
hơn để đánh giá chất lượng.
Làm thế nào để đối phó với sự không chắc
chắn về kết quả của sản phẩm và rủi ro khi triển khai sản phẩm là đối
tượng đề cập của nhiều quy định trong lĩnh vực y tế. Hệ thống Al y tế có thể
yêu cầu phải tuân thủ ISO 14155 [125]. Chúng có thể phải trải qua "điều tra
lâm sàng", một quy trình tương tự như "thử nghiệm lâm sàng"
[126] [127]. Điều này cũng đúng với các lĩnh vực khác, chẳng hạn như hệ
thống cho hạt nhân hay điều khiển chuyến bay.
9.10.2.7 So sánh với
tri thông minh của con người
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ví dụ hữu ích về việc so sánh với khả
năng của con người là các hoạt động được cấp phép theo truyền thống, chẳng hạn
như điều khiển phương tiện cơ giới hoặc chăm sóc sức khỏe. Cho phép xe tự hành
chạy trong thành phố đường phố hoặc một hệ thống tự quản để thực hiện bất kỳ biện
pháp xử lý nào, sẽ chỉ được cho phép nếu có bằng chứng cho thấy hệ thống AI tiến
hành các hoạt động này không tệ hơn con người. Cách tiếp cận như vậy cho phép
những điều sau:
- Người dùng và các bên liên quan của hệ thống
AI có thể mong đợi rằng chất lượng của hệ
thống AI khi thực hiện tác vụ xử lý thông tin không kém hơn chất lượng đối với
giải pháp cho cùng một vấn đề được thực
hiện bởi người điều
hành;
- Các bên thứ ba có thể mong đợi
rằng hoạt động của hệ thống AI sẽ không gây nguy hiểm, thiệt hại về người và
tài sản, vật chất.
Có thể kết luận rằng một hệ thống AI
không kém hơn khả năng của con người khi thực hiện các tác vụ ứng dụng liên quan
đến xử lý dữ liệu và đạt được sự an toàn trong xử lý, nếu các số liệu thống kê
AI không kém hơn một giá trị ngưỡng đã xác định.
Để có được các giá trị ngưỡng và sự
tin tưởng như vậy về an toàn trong xử lý của các hệ thống AI, điều quan trọng
là sử dụng các mẫu dữ liệu đại diện phản ánh được bản chất của tác vụ xử lý
thông tin để có thể áp dụng cho cả hệ thống AI hoặc trí tuệ tự nhiên
của con người.
9.10.3 Các quan tâm
về độ bền vững
Định nghĩa về độ bền vững là “khả năng
của một hệ thống duy trì mức độ thực thi của nó trong bất kỳ hoàn cảnh nào”. Để
hiểu độ bền vững theo nghĩa tổng quát, điều quan trọng cần lưu ý là những gì mà
các hệ thống AI thường được sử dụng, ví dụ như suy luận tri thức (cách tiếp cận
biểu trưng) hoặc tổng quát hóa từ dữ liệu (cách tiếp cận biểu trưng phụ).
Nguyên tắc chính là một hệ thống AI được
mong đợi có thể hoạt động trên dữ liệu chưa được biết trước và trong các bối cảnh
có thể có những thay đổi đáng kể. Một hệ thống AI được kỳ vọng sẽ đối phó với các điều kiện
làm việc có thể thay đổi rất nhiều và độ mạnh mẽ của nó tương ứng với khả năng
tiếp tục hoạt động theo thiết kế của nó. Tùy thuộc vào loại hình hệ thống AI, cần
có các số liệu
đo lường khác nhau để đánh giá độ bền vững của hệ thống.
Khi một hệ thống AI được sử dụng để thực
hiện phép nội suy, độ bền vững của nó được coi là “khả năng có thể chấp nhận phạm
vi nhất định về biên độ phản hồi trên bất kỳ đầu vào hợp lệ nào”. Điều
này có nghĩa là hệ thống AI được kỳ vọng sẽ không thể hiện hành vi không ổn định trong
phép nội suy của nó.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi một hệ thống AI được sử dụng để thực hiện một
tác vụ giải quyết, độ bền vững của hệ thống này được coi là “khả năng đưa ra một
giải pháp vẫn hiệu quả khi có một sự thay đổi có thể chấp nhận được
của vấn đề cần giải quyết ban đầu”. Điều này có nghĩa là hệ thống AI có thể tạo
ra các giải pháp chấp nhận được cho các vấn đề cần giải quyết khác nhau miễn là
chúng không quá
khác biệt so với vấn đề cần giải quyết ban đầu.
Khi một hệ thống AI được sử dụng để thực
hiện tính điểm, độ bền vững
của nó được coi là “khả năng chỉ định các phương pháp đo lường tin cậy và nhất
quán về xếp hạng cho cả đầu vào đã biết và đầu vào thay đổi trong phạm vi chấp
nhận được”. Điều này có nghĩa là trong trường hợp đầu vào và đầu ra không xác định,
hệ thống AI sẽ gán điểm về cơ bản sẽ
không khác nhau đối với các đầu vào đã biết và đầu vào không xác định miễn là
chúng không quá khác so với các đầu vào đã biết.
9.10.4 Các quan tâm
liên quan đến quyền riêng tư
Để giải quyết các mối đe dọa về quyền
riêng tư trong AI, các chỉ số về quyền riêng tư giúp đánh giá mức độ riêng tư
và mức độ bảo vệ mà hệ thống cung cấp. Việc xác định và áp dụng các chỉ số về
quyền riêng tư nhằm mục đích giải quyết thách thức này. Có nhiều kỹ thuật máy học
bảo vệ quyền riêng tư hoặc tăng cường quyền riêng tư trong AI để bảo vệ dữ liệu
nhạy cảm ở các miền
khác nhau. Mục đích xác định các chỉ số về quyền riêng tư là để định lượng mức
độ riêng tư của dữ liệu dẫn đến việc cải thiện mô hình quyền riêng tư trong một
mô hình AI cụ thể [128][129]. Xét về mặt kỹ thuật, số liệu đo lường về quyền
riêng tư xem xét các thuộc tính khác nhau của dữ liệu để từ đó có được
giá trị đại diện cho mức độ riêng tư trong hệ thống. Ưu điểm của các số liệu đo
lường về quyền riêng tư là nó cung cấp khả năng so sánh các kỹ thuật bảo vệ quyền
riêng tư khác nhau, đánh giá các phương pháp bảo vệ quyền riêng tư khác nhau
trong một miền cụ thể và để giảm thiểu bộc lộ các quyền riêng tư. Các chỉ số đo
lường quyền riêng tư rất hữu ích khi dữ liệu nhạy cảm bị đe dọa bởi kẻ xấu. Các
chỉ số về quyền
riêng tư có sự khác biệt khi khi xét đến nguồn dữ liệu theo các khía cạnh đánh
giá khác nhau về quyền riêng tư và các mối đe dọa.
9.10.5 Các quan tâm
về khả năng dự đoán của hệ thống
Một số cách tiếp cận kiểm tra và thẩm
định mô tả ở trên là cần
thiết để đánh giá khả năng dự đoán của hệ thống Al. Khả năng
dự đoán có thể được đo lường thông qua phản hồi tường minh mang tính chủ quan
chủ quan từ các cuộc điều tra, phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi, trong đó người tham
gia được yêu cầu suy nghĩ để đưa ra các mục tiêu, dự đoán các hành động trong
tương lai của người máy chẳng hạn [130]. Các chỉ số đo lường khác cũng có thể
được sử dụng, chẳng hạn như thời gian phản ứng để người dùng nhận ra ý định của
hệ thống AI và phản ứng tương ứng, chẳng hạn như thời gian phản ứng ngắn hơn
cho thấy khả năng dự
đoán cao hơn. Hành vi nhìn cũng cho thấy dấu hiệu gián tiếp về khả năng dự đoán
của người máy, chẳng hạn như người tham gia phải nhìn người máy nhiều lần hoặc
nhìn lâu hơn thì khả năng dự đoán của người máy càng kém [131]. Thử nghiệm hệ
thống AI trên một số lượng lớn các tổ hợp điều kiện môi trường sẽ
cho phép mô tả đầy đủ hơn về hành vi của nó. Dựa trên đặc điểm này người
dùng biết những gì họ kỳ vọng ở hệ thống để tạo khả năng dự đoán của nó.
9.11 Sử dụng
và khả năng áp dụng
9.11.1 Sự tuân thủ
Nhu cầu tuân thủ một phần do việc áp dụng
các tiêu chuẩn và quy định khác nhau trong các ngành công nghiệp. Hệ thống AI cần
phải tính đến tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định hiện hành chứ không xem xét
riêng rẽ trong từng trường hợp sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quản lý kỳ vọng là cần thiết để tránh
phá vỡ lòng tin vì hệ thống không thể thực hiện các kỳ vọng không thực tế. Điều
này đòi hỏi sự rõ ràng về khả năng thực tế của hệ thống AI, bao gồm phạm vi đầu
vào để có được đầu ra chắc chắn, có thể tin cậy đúng như kỳ vọng (đặc biệt đối
với các hệ thống dựa trên suy luận thống kê).
9.11.3 Ghi nhãn sản
phẩm
Ghi nhãn sản phẩm và hệ thống (bao gồm
các liên kết đến thông tin để cập nhật kịp thời) có thể cần thiết cho sự
an toàn của cả người dùng và nhà cung cấp hệ thống AI:
- Rằng người dùng cuối đang tương tác với một
tác nhân AI cũng như tuyên bố về ý định/mục đích của hệ thống AI;
- Các rủi ro và hạn chế của mô hình;
- Tần suất tái huấn luyện khi cần thiết;
- Ngày đánh giá hiệu năng cuối cùng được thực
hiện;
- Nguồn và ngày sử dụng dữ liệu huấn
luyện [132].
9.11.4 Nghiên cứu
khoa học về nhận thức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Do đó phải luôn nhìn nhận và duy trì
các yếu tố liên quan đến
con người, tốt nhất là nên có một cách nhìn đa diện về việc tối ưu hóa các chỉ số
đo lường liên quan đến con người trong các hệ thống AI giao tiếp với con người.
Quan điểm này sẽ dựa trên sự tương tác giữa con người với máy tính (HCl), nghiên cứu
khoa học về nhận thức để thu được các kết quả hữu ích cũng như các tiêu chuẩn
phù hợp về mặt khoa học.
10 Kết luận
Việc nhận ra những lợi ích tiềm năng của
các hệ thống AI có thể bị cản trở bởi sự thiếu tin tưởng của khách
hàng, người dùng và xã hội nói chung vào tính tin cậy, tính hiệu quả, công bằng
và thậm chí là mục đích của các ứng dụng AI. Các mối quan tâm trong kinh doanh,
chính phủ, xã hội và đạo đức nếu không được giải quyết một cách có hệ thống có
thể làm xói mòn niềm tin vào AI. Những mối quan ngại như vậy có thể gia tăng vì
tính dễ bị tổn thương thể hiện trong các hệ thống AI dựa trên ML, ví dụ như sự
thiên vị, tính không thể đoán trước và sự không rõ ràng. Nhiều ứng dụng ML được
thúc đẩy phát triển bởi nhu cầu khai phá dữ liệu lớn, quyền riêng tư dữ liệu và
các vấn đề khác về quản trị dữ liệu, ví dụ như tính truy nguyên và chất lượng dữ liệu
có thể trở thành mối
quan tâm lớn trong việc xây dựng và sử dụng các hệ thống AI. Để cải thiện tính
đáng tin cậy của AI thì tính dễ bị tổn thương của ML và dữ liệu cần được xem
xét và giải quyết một cách rõ ràng trong các chính sách, quy trình và trên cơ sở
từng trường hợp sử dụng.
Tác động tiềm ẩn của tính dễ bị tổn
thương của AI đối với các bên liên quan cần được kiểm tra để quyết định xem liệu
việc sử dụng AI có phù hợp trong các trường hợp cụ thể hay không. Một tổ chức
đang phát triển hoặc sử dụng AI có thể áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi
ro để xác định các tác động có thể xảy ra đối với tổ chức, đối tác của tổ chức,
đối với người dùng dự kiến và đối với xã hội để giảm thiểu rủi ro một cách phù
hợp. Điều quan trọng là tất cả các bên liên quan phải hiểu bản chất của các rủi
ro tiềm ẩn và các biện pháp giảm thiểu cần được thực hiện.
Các phép đo định lượng về chất lượng
và các mô hình có thể lặp lại của các quá trình có thể góp phần tạo
lập và duy trì niềm tin vào các hệ thống AI hiện vẫn chưa được xác lập. Điều cần
thiết là phải áp dụng các phương pháp luận hiện có và mới nổi để cải thiện độ bền
vững của các hệ thống AI để đạt được cấp độ nào đó theo chỉ định.
Tóm lại, tiêu chuẩn này trình bày về
tính đáng tin cậy của các hệ thống và công nghệ AI dựa vào việc giải quyết những
mối quan tâm của các bên liên quan về AI, sử dụng dữ liệu của nó một cách minh
bạch và dễ tiếp cận, xây dựng các hệ thống AI có độ bền vững về mặt kỹ thuật,
có thể kiểm soát và kiểm chứng được trong toàn bộ vòng đời của chúng.
Phụ
lục A
(Tham
khảo)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đã có rất nhiều nghiên cứu ở đa lĩnh vực
đề cập đến tính đáng tin cậy liên quan đến các vấn đề xã hội, chúng bao
gồm các vấn đề về đạo đức trong công nghệ; đạo đức trong nghiên cứu và đổi mới
(thường được gọi là nghiên cứu và đổi mới có trách nhiệm); các thuật toán có
trách nhiệm giải trình; đạo đức trong sử dụng và xử lý dữ liệu; bảo vệ dữ liệu
trong hoạt động quản trị dữ liệu. Trong nhiều trường hợp, mục đích và phạm vi của
những nghiên cứu này ở cấp độ cao so hơn thay vì cung cấp các chuẩn cho phép
các nhà phát triển, nhân viên, khách hàng, người dùng và xã hội nói chung xác định
một cách hiệu quả và chính xác mức độ
tin cậy mà họ sẽ đặt vào bất kỳ dịch vụ hoặc sản phẩm cụ thể nào sử dụng AI.
Ví dụ về nghiên cứu hiện có bao gồm:
- IEEE đã đưa ra những phân tích mang
tính toàn diện xung quanh vấn đề thiết kế để phù hợp về mặt đạo đức đối với các
hệ thống tự trị và thông minh [134]. Điều này nhằm mục đích phát triển đạo đức
nghề nghiệp. Vì vậy nó cung cấp đầu vào phù hợp đối với các lĩnh vực yêu cầu
trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, khả năng xác minh, khả năng dự đoán, sự
phù hợp với các chuẩn mực và giá trị xã hội cũng như các phương pháp thiết kế.
- Hiện có một nhóm xúc tiến mạnh mẽ
các hoạt động nghiên cứu hướng đến sự hài hòa hóa trong nghiên cứu và đổi mới
có trách nhiệm (RRI), trong đó đề cập đến rất nhiều nỗ lực nghiên cứu nhưng đều
nhắm đến mục tiêu trước hết là sự hỗ trợ của quỹ tài trợ công [135]. Những nghiên
cứu này đưa ra cách thức tiếp cận cơ bản để cung cấp các kỹ thuật cần thiết cho
việc phát triển sự tin cậy vào AI, nhưng nó cũng bao gồm các vấn đề nằm ngoài
phạm vi được đề cập chẳng hạn như công bố khoa học, đào tạo và cân bằng giới giữa
các nhà nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu mở và thử nghiệm trên động vật. Kinh
nghiệm liên quan đến việc áp dụng RRI trong phát triển do tư nhân tài trợ cũng
sẽ là một ưu tiên [136][137].
- Mục tiêu của ISO/IEC AWI 38507 [138]
là hỗ trợ cung cấp bối cảnh sử dụng cho việc quản trị các loại hình quyết định
của AI.
Thư mục tài
liệu tham khảo
[1] ISO/IEC 27000:2018, Information
technology - Security
techniques - Information
security management systems - Overview and vocabulary
[2] ISO/IEC 11557:1992, Information
technology - 3,81 mm wide
magnetic tape cartridge for Information interchange - Helical scan
recording - DDS-DC
format using 60 m and 90 m length tapes
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[4] ISO/IEC/IEEE 15939:2017, Systems
and software engineering - Measurement
process
[5] ISO/IEC 21827:2008, Information
technology - Security
techniques - Systems
Security Engineering - Capability
Maturity Model® (SSE-CMM®)
[6] IEC 61800-7-1:2015, Adjustable
speed electrical power drive systems - Part 7-1: Generic interface and use of
profiles for power drive systems - Interface definition
[7] ISO 5127:2017, Information and
documentation - Foundation
and vocabulary
[8] ISO 9000:2015, Quality management
systems - Fundamentals
and vocabulary
[9] ISO/IEC 10746-2:2009, Information
technology - Open
distributed processing - Reference
model: Foundations - Part 2
[10] ISO/IEC Guide 51:2014, Safety
aspects 0 Guidelines
for their inclusion In standards
[11] ISO 13702:2015, Petroleum and
natural gas industries - Control and
mitigation of fires and explosions on offshore production installations - Requirements
and guidelines
[12] ISO 10018:2020, Quality
management - Guidance for
people engagement
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[14] ISO 31000, Risk management - Guidelines
[15] ISO 18646-2:2019, Robotics - Performance
criteria and related test methods for service robots - Part 2:
Navigation
[16] ISO 8373:2012, Robots and robotic
devices - Vocabulary
[17] ISO/IEC 38500:2015, Information
technology - Governance
of IT for the organization
[18] ISO/IEC/IEEE 15288:2015, Systems
and software engineering - System life
cycle processes
[19] ISO/IEC 25012:2008, Software
engineering - Software
product Quality Requirements and Evaluation (SQuaRE) - Data quality
model
[20] ISO/IEC 25010:2011, Systems and
software engineering - Systems and
software Quality Requirements and Evaluation (SQuaRE) - System and
software quality models
[21] ISO/IEC/TR 22417:2017,
Information technology - Internet of
things (loT) use cases
[22] ISO/IEC/IEEE 24765:2017, Systems
and software engineering - Vocabulary
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[24] ISO/IEC/TR 29110-1:2016, Systems
and software engineering - Lifecycle profiles
for Very Small Entities (VSEs) - Part 1: Overview
[25] ISO 10303-11:2004, Industrial
automation systems and integration - Product data representation and exchange - Part 11:
Description methods: The EXPRESS language reference manual
[26] United Nations Environment
Programme (UNEP) Rio Declaration on Environment and Development, 1992
(http://www.jus.uio.no/lm/environmental.development.rio. declaration. 19
92/portrait. a4.pdf)
[27] ITU-T Y. 3052, Overview of Trust
Provisioning in ICT Infrastructures and Services, 2017 (https://
www.itu.int/rec/T-REC-Y.3052/en)
[28] IEEE 1012:2016, IEEE Standard for
System, Software and Hardware Verification and Validation
[29] Mohammadi N. et al.
Trustworthiness Attributes and Metrics for Engineering Trusted InternetBased
Software Systems, 2014. Communications in Computer and Information Science.
453. 19- 35. 10.1007/978-3-319-11561-0_2
(https://www.researchgate.net/publication/267390448 _Trustworthiness
_Attributes _and _Metrics _for _Engineering _Trusted_Internet -Based
_Software _Systems)
[30] Colquitt J., Scott B., Le Pine J.
A, Trust, Trustworthiness and Trust Propensity: A MetaAnalytic Test of Their
Unique Relationships With Risk Taking and Job Performance, The Journal of
applied psychology, 2007. 92. 909-27. 10.1037/0021-9010.92.4.909
(https://www.researchgate
.net/publication/6200985 _Trust _Trustworthiness _and _Trust_ Propensity _A
_Meta -Analytic_Test_of_Their_Unique_Relationships_With_Risk_Taking _and
_Job_Performance)
[31] Marr B. What Is Deep Learning Al?
A Simple Guide With 8 Practical Examples, 2018 (https://www .forbes
.com/sites/bernardmarr/2018/10/01/what -is -deep -learning -ai -a -simple
-guide -with -8 -practical-examples)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[33] [33] Freeman R.E., McVea J. A
Stakeholder Approach to Strategic Management, 2001, Darden Business School
Working Paper No. 01-02
[34] The European Commission High
Level Expert Group on Artificial Intelligence Draft Ethics Guidelines for
Trustworthy Al, Working Document for stakeholder’ consultation, Brussels,
December 2018
[35] IEEE EAD v2, Ethically Aligned
Design - Version II
Request for Input, The IEEE Global Initiative on Ethics of Autonomous and
Intelligent Systems, 2018
[36] [36] Borning A., Muller M. Next
steps for Value Sensitive Design, 2012. Proceedings of CHI, 1125- 1134. New
York, NY, ACM Press, 2012
[37] ISO/IEC 38505-1:2017, Information
technology - Governance
of IT - Governance
of data - Part T.
Application of ISO/IEC 38500 to the governance of data
[38] Winikoff M. How to make robots
that we can trust, 2018 (http://theconversation.com/how-to -
make-robots-that-we-can-trust-79525)
[40] Doshi-Velez F. et al.
Accountability of Al Under the Law: The Role of Explanation, SSRN Electronic
Journal, 2017
[41] European Group on Ethics in
Science and New Technologies Statement on Artificial Intelligence, Robotics and
‘Autonomous’
Systems, 2018 (doi: 10.2777/531856)
[42] ISO/IEC 30141:2018, Internet of
Things (loT) - Reference
Architecture
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[44] Pel K. et al. Towards Practical
Verification of Machine Learning: The Case of Computer Vision Systems, 2017
[45] Szegedy C. et al. Intriguing
properties of neural networks, 2014
[46] Goodfellow I. et al. Explaining
and Harnessing Adversarial Examples, 2015
[47] Brendel W., Rauber J., Bethge M.
Decision-Based Adversarial Attacks: Reliable Attacks Against Black-Box Machine
Learning Models, 2018
[48] Akhtar N., Mian A., Threat of
Adversarial Attacks on Deep Learning in Computer Vision: A Survey, 2018
[49] Yuan X. et al. Adversarial
Examples: Attacks and Defences for Deep Learning, July 2018
[50] Raghunathan A., Steinhardt J.,
Liang P, Certified Defenses against Adversarial Examples, 2018
[51] ISO/IEC 29100:2011, Information
technology - Security
techniques - Privacy
framework
[52] ISO/IEC 20889:2018, Privacy
enhancing data de-identification terminology and classification of techniques
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[54] Rocher L., Hendrickx M., de
Montjoye Y., Estimating the success of re-identifications in incomplete
datasets using generative models, Nature Communications 10, Article number:
3069, 2019
[55] Bergman M., Van Zandbeek M. Close
Encounters of the Fifth Kind? Affective Impact of Speed and Distance of a
Collaborative Industrial Robot on Humans, Human Friendly Robotics, p. 127- 137.
Springer, Cham, 2018
[56] Brownlee J. Ph.D., Discover
Feature Engineering, How to Engineer Features and How to Get Good at It,
Machine Learning Mastery, 2014 (https://machinelearningmastery.com/discover-
feature -engineering-how-to-engineer-features-and-how-to-get-good-at-it/)
[57] Parasuraman R., Riley V. A.,
Humans and automation: Use, misuse, disuse, abuse, Human Factors, vol. 39, pp.
230-253
[58] Haines T. S.F., Mac Aodha O.,
Brostow G. J. My Text in Your Handwriting, University College London,
Transactions on Graphics, 2016 (http://visual.cs.ucl.ac.uk/pubs/handwriting/)
[59] Van den Oord A. WaveNet: A
Generative Model for Raw Audio, 2016 (https://deepmind.com/
blog/wavenet-generative-model-raw-audio/)
[60] Wagner K. Someone built chatbots
that talk like the characters from HBO's 'Silicon Valley', 2016
(https://www.recode.net/2016/4/24/11586346/silicon -valley -hbo -chatbots -for
-season -3 -premier)
[61] Dormon B. The Al that (almost)
lets you speak to the dead, 2016 (https://arstechnica.com/
information-technology/2016/07/luka-ai-chatbot-speaking-to-the-dead-mind-uploading/).
[62] Newitz A. Ashley Madison code shows
more women and more bots, 2015 (https://gizmodo.com/
ashley-madison-code-shows-more-women-and-more-bots-1727613924)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[64] Pearl J. Theoretical Impediments
to Machine Learning With Seven Sparks from the Causal Revolution, ArXiv:
1801.04016 [Cs, Stat], January 2018 (http://arxiv.org/abs/1801.04016)
[65] Guidotti R. et al., A Survey of
Methods for Explaining Black Box Models, ACM Computing Surveys 51:1-42, 2019
[66] [66] Achinstein P., The Nature of
Explanation, 1985, Oxford University Press, 2017 (https:// books.google.
fi/books?id=TkULPY-xMNsC)
[67] Adadi A., Berrada M. 2018,
Peeking Inside the Black-Box: A Survey on Explainable Artificial Intelligence
(XAI), IEEE Access; 6:52138-60
[68] Doshi-Velez F., Kim B. 2017,
Towards A Rigorous Science of Interpretable Machine Learning, arXiv 1702.08608
[69] Upton Z. C., The mythos of model
interpretability, Communications of the ACM, vol. 61, no. 10, pp. 36-43, 2018
[70] Dhurandhar A. et al. 2017, TIP:
Typifying the Interpretability of Procedures, arXiv preprint arXiv: 1706. 02952
[71] Miller T. Explanation in
artificial intelligence: insights from the social sciences, 2017, arXiv
preprint arXiv: 1706. 07269
[72] https://pair-code.github.io/facets/
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[74] Holland S. et al. 2018, The
Dataset Nutrition Label: A Framework To Drive Higher Data Quality Standards, arXiv
preprint arXiv: 1805. 03677
[75] Gebru T. et al. 2018, Datasheets
for Datasets, arXiv preprint arXiv: 1803. 09010
[76] Seek I. et al. 2018, Baselines
and a datasheet for the Cerema AWP dataset, arXiv preprint arXiv: 1806 .04016
[77] Angelino E. et al. 2018, Learning
certifiably optimal rule lists for categorical data, Journal of Machine
Learning Research, 18(234), pp.1-78
[78] Vaughan J. et al. 2018,
Explainable Neural Networks based on Additive Index Models, arXiv preprint
arXiv:1806. 01933
[79] Kim B., Khanna R., Koyejo O.
2016, Examples are not enough, learn to criticizel criticism for
interpretability, Proc 30th Int Conf Neural Inf Process Syst: 2288-96
[80] Ribeiro M.T., Singh S., Guestrin
C. 2016, August, Why should I trust you?: Explaining the predictions of any
classifier, Proceedings of the 22nd ACM SIGKDD international conference on
knowledge discovery and data mining (pp. 1135-1144), ACM
[81] Kim B. et al. 2018, July,
Interpretability beyond feature attribution: Quantitative testing with concept
activation vectors (tcav), International Conference on Machine Learning (pp.
2673- 2682)
[82] Koh P.W., Liang P. 2017,
Understanding black-box predictions via influence functions, arXiv preprint
arXiv: 1703. 04730
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[84] Friedman J.H. 2001, Greedy
function approximation: a gradient boosting machine. Annals of statistics, pp.
1189-1232
[85] Lah C., Mordvintsev A., Schubert
L. 2017, Feature visualization, Distill, 2(11), p.e7
[86] Olah C. et al. 2018, The building
blocks of interpretability, Distill, 3(3), p.e10
[87] Erhan D. et al. 2009, Visualizing
higher-layer features of a deep network, University of Montreal, 1341(3), p.1
[88] Lundberg S.M., Lee S.l. 2017, A
unified approach to interpreting model predictions, Advances in Neural
Information Processing Systems (pp. 4765-4774)
[89] Hohman F.M. et al. 2018, Visual
Analytics in Deep Learning: An Interrogative Survey for the Next Frontiers,
IEEE Transactions on Visualization and Computer Graphics
[90] Yosinski J. et al. 2015,
Understanding neural networks through deep visualization, arXiv preprint arXiv:
1506. 06579
[91] Strobelt H. et al. 2018, Lstmvis:
A tool for visual analysis of hidden state dynamics in recurrent neural
networks, IEEE transactions on visualization and computer graphics, 24(1),
pp.667-676
[92] Strobelt H. et al. 2018,
Seq2Seq-Vis: A Visual Debugging Tool for Sequence-to-Sequence Models, arXiv
preprint arXiv: 1804. 09299
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[94] Ailesilassie T. 2016, Rule
extraction algorithm for deep neural networks: A review, arXiv preprint arXiv:
1610. 05267
[95] Ribeiro M.T., Singh S., Guestrin
C. 2018, Anchors: High-precision model-agnostic explanations, AAAI Conference
on Artificial Intelligence
[96] List C. Levels: descriptive,
explanatory and ontological, 2017 (http://philsci-archive.pitt.edu/ 13311/)
[97] Woodward J. In Making Things
Happen: A Theory of Causal Explanation. Oxford Studies in the Philosophy of
Science. Oxford, New York: Oxford University Press, 2005
[98] Montavon G., Samek W., Muller
K.R. 2017, Methods for interpreting and understanding deep neural networks,
Digital Signal Processing
[99] Lundberg S.M., Lee S.l. 2017, A
unified approach to interpreting model predictions. In Advances in Neural
Information Processing Systems, pp. 4765-4774
[100] Gilpin L.H. et al. 2018,
Explaining Explanations: An Approach to Evaluating Interpretability of Machine
Learning’ arXiv preprint arXiv: 1806. 00069
[101] Narayanan M. et al. 2018, How do
Humans Understand Explanations from Machine Learning Systems? An Evaluation of
the Human-lnterpretability of Explanation, arXiv preprint arXiv: 1802.00682
[102] Hooker S. et al. 2018,
Evaluating Feature Importance Estimates, arXiv preprint arXiv: 1806.10758
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[104] Arras L. et al. 2017, What is
relevant in a text document?: An interpretable machine learning approach, PloS
one, 12(8), p.e0181142
[105] Bach S. et al. 2015, On
pixel-wise explanations for non-linear classifier decisions by layer-wise
relevance propagation, PloS one, 10(7), p.e0130140
[106] ISO/IEC 27040:2015, Information
technology - Security
techniques - Storage
security
[107] IEC 61508:2010, Commented
version, Functional safety of electrical/electronic/programmable electronic
safety-related systems
[108] ISO 26262 (all parts), Road
vehicles - Functional
safety
[109] IEC 62279:2015, Railway
applications -
Communication, signalling and processing systems - Software for railway control
and protection systems
[110] IEC 61511:2018, Functional
safety - Safety
instrumented systems for the process industry sector
[111] ISO/IEC/IEEE 29119-1:2013,
Software and systems engineering - Software testing - Part 1:
Concepts and definitions
[112] Zhou ZQ., Sun L. 2019,
Metamorphic testing of driverless cars, Communications of the ACM 62:61-67
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[114] NganM., Grother P. 2015, Face
Recognition Vendor Test (FRVT) - Performance of Automated Gender Classification
Algorithms, National Institute of Standards and Technology
[115] Kohonen, Barna, Chrisley, 1988,
Statistical pattern recognition with neural networks: benchmarking studies,
IEEE 1988 International Conference on Neural Networks, pp 61-68
[116] BSI An investigation into the
performance of facial recognition systems relative to their planned use in
photo identification documents - BioP I. Bundesamt fur Sicherheit in der
Informationstechnik (BSI), Bundeskriminalamt (BKA), secunet Security Networks
AG. 2004
(https://
www.bsi.bund.de/SharedDocs/Downloads/EN/BSI/Publications/Studies/BioP/BioPfi
nalreport _pdf)
[117] Burke J.J., Dunne B., Field
testing of six decision support systems for scheduling fungicide applications
to control Mycosphaerella graminicola on winter wheat crops in Ireland, The
Journal of Agricultural Science, V 146 N 4, 2008
[118] UK-Government The Pathway to
Driverless Cars: A Code of Practice fortesting. Great Minster House, 33
Horseferry Road, London SW1 P 4DR: Department for Transport, 2015 (https://
assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/
uploads/attachment_data/file/ 446316/pathway-driverless-cars. pdf)
[119] Dressier F. et al. Inter-vehicle
communication: Quo vadis, IEEE Communications Magazine, vol. 52, no. 6, pp.
170-177, June 2014 (doi: 10.1109/MCOM.2014.6829960)
[120] Lamel L. et al. Field trials of
a telephone service for rail travel information. In Proceedings Third IEEE
Workshop on Interactive Voice Technology for Telecommunications Applications,
HI- 116. IEEE, 1996
[121] Isobe T. et al. Voice-activated
home banking system and its field trial. In Proceedings Fourth International
Conference on Spoken Language, ICSLP 96, 1688-1691. IEEE 1996.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[123] Strayer D. L. e tal. The
smartphone and the driver's cognitive workload: A comparison of Apple, Google
and Microsoft’s intelligent personal assistants. Canadian Journal of
Experimental Psychology/Revue canadienne de psychologie expérimentale, 71(2),
93, 2017
[124] Causo A. et al. Design of robots
used as education companion and tutor. In Robotics and Mechatronics (pp.
75-84). Springer, Cham, 2016
[125] DIN EN ISO 14155:2012-01,
Clinical investigation of medical devices for human subjects - Good
clinical practice (ISO 14155:2011 + Cor. 1:2011); German version EN ISO
14155:2011 + AC: 2011, p. 1-68, (https://www.beuth.de/de/norm/din-en-iso-14155/134954877)
[126] Lakemedelsverket The Medical
Products Agency’s Working Groupon Medical Information Systems. Medical Products
Agency (Läkemedelsverket) Sweden, 2009 (https://lakemedelsverket
.se/upload/foretag/medicinteknik/en/Medical-Information-Systems-
Report_2009-06-18.pdf)
[127] Florek H.-J. et al. Results from
a First-in-Human Trial of a Novel Vascular Sealant. Frontiers in Surgery, V2,
2015
[128] Wagner I., Eckhoff D. Technical
privacy metrics: a systematic survey, ACM Computing Surveys (CSUR) 51.3(2018):
57, 2018
[129] Wu F.-J. et al. The privacy
exposure problem in mobile location-based services, Global Communications
Conference (GLOBECOM), IEEE. IEEE, 2016
[130] Lichtenthäler C., Kirsch A.
Goal-predictability vs. trajectory-predictability, which legibility factor
counts. In proceedings of the 2014 ACM/IEEE international conference on
human-robot interaction, 2014. p. 228-229
[131] Lichtenthäler C., Lorenz T.,
Kirsch A. Towards a legibility metric: Howto measure the perceived value of a
robot. In International Conference on Social Robotics, ICSR 2011. 2011
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[133] Wohleber R. et al. The Impact of
Automation Reliability and Operator Fatigue on Performance and Reliance, 2016
[134] The IEEE Global Initiative for
Ethical Considerations in Artificial Intelligence and Autonomous Systems
Ethically Aligned Design: A Vision For Prioritizing Wellbeing With Artificial
Intelligence And Autonomous Systems, Version 1. IEEE, 2016
(http://standards.ieee.org/develop/ indconn/ec/autonomous_systems.html)
[135] Reijers W. et al. Methods for
Practising Ethics in Research and Innovation: A Literature Review, Critical
Analysis and Recommendations, Science and Engineering, Ethics Journal, pp 1-45,
Springer, 2017
[136] Gurzawska A., Mäkinen M., Brey
P., Implementation of Responsible Research and Innovation (RRI) Practices in
Industry: Providing the Right Incentives, Sustainability 2017, 9, 1759 (doi: 10
.3390/su9101759)
[137] Lubberink R. et al., Lessons for
Responsible Innovation in the Business Context: A Systematic Literature Review
of Responsible, Social and Sustainable Innovation Practices, Sustainability,
2017, 9, 721 (doi: 10.3390/su9050721)
[138] ISO/IEC AWI 38507, Information
technology - Governance
of IT - Governance
implications of the use of artificial intelligence by organizations.
Mục lục
1 Phạm vi áp dụng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3 Thuật ngữ và
định nghĩa
4 Tổng quan
5 Các khuôn khổ
hiện có áp dụng cho tính đáng tin cậy
5.1 Cơ sở
5.2 Nhận biết các
lớp tin cậy
5.3 Áp dụng các
tiêu chuẩn chất lượng phần mềm và dữ liệu
5.4 Áp dụng quản
lý rủi ro
5.5 Các phương
pháp tiếp cận có sự trợ giúp của phần cứng
6 Các bên liên
quan
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2 Loại hình
6.3 Tài sản
6.4 Giá trị
7 Nhận biết các
mối quan tâm cấp cao
7.1 Trách nhiệm,
trách nhiệm giải trình và quản trị
7.2 Tính an toàn
8 Tính dễ bị tổn
thương, các mối đe dọa và thách thức
8.1 Yêu cầu chung
8.2 Các mối đe dọa
bảo mật cụ thể của AI
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.2.2 Đầu độc dữ liệu
8.2.3 Tấn công đối
nghịch
8.2.4 Đánh cắp mô
hình
8.2.5 Các mối đe dọa nhằm
vào phần cứng đối với tính bảo mật và tính toàn vẹn
8.3 Các mối đe dọa
quyền riêng tư điển hình trong AI
8.3.1 Yêu cầu chung
8.3.2 Thu thập dữ
liệu
8.3.3 Tiền xử lý và
mô hình hóa dữ liệu
8.3.4 Truy vấn mô
hình
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.5 Tính không thể
đoán trước
8.6 Tính không rõ
ràng
8.7 Những thách thức
liên quan đến đặc điểm kỹ thuật của hệ thống AI
8.8 Những thách
thức liên quan đến triển khai các hệ thống AI
8.8.1 Thu thập và
chuẩn bị dữ liệu
8.8.2 Mô hình hóa
8.8.3 Cập nhật mô
hình
8.8.4 Lỗi phần mềm
8.9 Những thách
thức liên quan đến sử dụng các hệ thống AI
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.9.2 Áp dụng sai
các hệ thống AI thể hiện hành vi thực tế của con người
8.10 Lỗi phần cứng
hệ thống
9 Các biện pháp
giảm thiểu
9.1 Yêu cầu chung
9.2 Tính minh bạch
9.3 Khả năng giải
thích
9.3.1 Yêu cầu chung
9.3.2 Mục đích giải
thích
9.3.3 Giải thích
trước và giải thích trước sau
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.3.5 Các phương thức
giải thích sau
9.3.6 Cấp độ giải
thích
9.3.7 Đánh giá các
giải thích
9.4 Khả năng điều
khiển
9.4.1 Yêu cầu chung
9.4.2 Các điểm điều
khiển bằng con người trong vòng lặp
9.5 Các chiến lược
giảm tính thiên vị
9.6 Quyền riêng
tư
9.7 Độ bền vững,
khả năng phục hồi và độ bền vững
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.9 Tính an toàn
trong hoạt động
9.10 Kiểm tra và
đánh giá
9.10.1 Yêu cầu
chung
9.10.2 Phương pháp
thẩm định và xác minh phần mềm
9.10.3 Các quan tâm
về độ bền vững
9.10.4 Các quan tâm
liên quan đến quyền riêng tư
9.10.5 Các quan tâm
về khả năng dự đoán của hệ thống
9.11 Sử dụng và
khả năng áp dụng
9.11.1 Sự tuân thủ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.11.3 Ghi nhãn sản
phẩm
9.11.4 Nghiên cứu
khoa học về nhận thức
10 Kết luận
Phụ lục A (Tham khảo) Nghiên cứu liên
quan về các vấn đề xã hội
Thư mục tài liệu tham khảo
1) Lưu ý rằng việc ánh xạ giữa các mục
tiêu của tổ chức và các mục tiêu kiểm
soát có thể không là một - một. Đối với các hệ thống phức tạp (chẳng hạn như hệ
thống AI), việc đạt được từng mục tiêu của tổ
chức thường đòi hỏi phải đạt được nhiều mục tiêu kiểm soát nhất định.