|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3712/QĐ-UBND
|
Hà Nội, ngày 08
tháng 7 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ ĐẾN NĂM 2035 CỦA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí ngày 26 tháng 11 năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số
74/2022/NQ-QH15 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội về đẩy mạnh việc thực hiện
chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
Căn cứ Chỉ thị số 27-CT/TW
ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
Căn cứ Nghị quyết số
98/NQ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2024 c ủa Chính phủ ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Bộ
Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí;
Căn cứ Quyết định số
806/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí đến năm 2035;
Căn cứ Kế hoạch số 223-KH/TU
ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Thành ủy Hà Nội về thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW
ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” trên địa bàn Thành phố;
Căn cứ Kế hoạch số
168/KH-UBND ngày 08 tháng 6 năm 2023 của UBND thành phố Hà Nội về triển khai thực
hiện Nghị quyết số 53/NQ-CP ngày 14/4/2023 của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết
số 74/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội về đẩy mạnh việc thực hiện chính
sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
Căn cứ Kế hoạch số
246/KH-UBND ngày 16 tháng 8 năm 2024 của UBND thành phố Hà Nội về triển khai Kế
hoạch số 223-KH/TU ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Thành ủy Hà Nội về thực hiện Chỉ
thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” trên địa bàn Thành
phố;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Tài chính tại Văn bản số 6322/STC-TTR ngày 30 tháng 5 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình về
phòng, chống lãng phí đến năm 2035 của thành phố Hà Nội.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban
hành.
Điều 3.
Chánh Văn phòng UBND Thành phố; Giám đốc các Sở; Thủ
trưởng các ban, ngành, đoàn thể thuộc Thành phố; Chủ tịch UBND các xã, phường;
Tổng Giám đốc, Giám đốc các Tổng công ty, Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc UBND Thành phố và cơ quan, tổ chức, đơn vị có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Văn phòng Chính phủ; (để b/c)
- Bộ Tài chính; (để b/c)
- Thanh tra Chính phủ; (để b/c)
- Thường trực Thành ủy; (để b/c)
- Thường trực HĐND TP; (để b/c)
- Ủy ban MTTQVN TP; (để b/c)
- Các Ban Đảng Thành ủy;
- Chủ tịch UBND TP;
- Các Phó Chủ tịch UBND TP;
- VPUBTP: CVP, các PCVP, các PCM;
- Lưu: VT, KTThủy.
|
CHỦ TỊCH
Trần Sỹ Thanh
|
CHƯƠNG TRÌNH
PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ ĐẾN NĂM 2035 CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(Kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày
tháng năm 2025 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội)
I. BỐI CẢNH
Trong những năm qua, Trung ương
và Thành phố luôn đặc biệt quan tâm công tác phòng, chống lãng phí, đã ban hành
nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về vấn đề này và lãnh đạo cả hệ thống chính
trị, UBND Thành phố và các sở, ngành, xã, phường tổ chức thực hiện đạt nhiều kết
quả. Thành ủy đã ban hành: Chương trình số 10-CTr/TU ngày 17/3/2021 về “Nâng
cao hiệu quả công tác PCTN, THTK, CLP giai đoạn 2021 - 2025”; Kế hoạch số
223-KH/TU ngày 25/12/2023 thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị về
“tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí”. UBND Thành phố ban hành: Kế hoạch số 168/KH-UBND ngày 08/6/2023 về
triển khai thực hiện Nghị quyết số 53/NQ-CP ngày 14/4/2023 của Chính phủ về thực
hiện Nghị quyết số 74/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội về đẩy mạnh việc
thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Kế hoạch
số 246/KH-UBND ngày 16/8/2024 về triển khai Kế hoạch số 223-KH/TU ngày 12 tháng
3 năm 2024 của Thành ủy về thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ
Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí” trên địa bàn Thành phố; Quyết định số 1349/QĐ-UBND ngày
11/3/2025 về thành lập Ban Chỉ đạo về thực hiện các biện pháp phòng, chống lãng
phí của UBND Thành phố; Kế hoạch số 377/KH-UBND ngày 24/12/2024 về thực hiện
công tác phòng, chống tham nhũng năm 2025. Đồng thời, căn cứ Chương trình tổng
thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hằng năm, 05 năm, Chủ
tịch UBND Thành phố đều ban hành các Chương trình của Thành phố về thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí hằng năm, 05 năm làm căn cứ cho các sở, ngành, đơn vị thuộc
Thành phố, UBND các xã, phường, các Tổng công ty, Công ty TNHH MTV do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc UBND Thành phố xây dựng và thực hiện Chương
trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của đơn vị mình.
Thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị, kết luận của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và quy định của
pháp luật, các cấp, các ngành đã xác định rõ hơn trách nhiệm trong chỉ đạo và tổ
chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống lãng phí. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, khai thác, sử dụng các nguồn lực của Thành phố được nâng lên. Kết quả thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt và vượt hầu
hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ, kể cả
trong bối cảnh có những thách thức chưa từng có tiền lệ như dịch bệnh, thiên
tai; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài
lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của
Thành phố.
Bên cạnh kết quả đã đạt được,
lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, phức tạp dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã
và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển, nhất là trong các lĩnh
vực như quản lý tài chính, tín dụng, tài sản công, đầu tư công, đất đai, tài
nguyên, khoáng sản, quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, quản lý, sử dụng lao
động và thời gian lao động… Đồng thời, đây cũng là một trong những nguyên nhân
gây suy giảm nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, giảm hiệu quả sản xuất,
tăng gánh nặng chi phí, gây cạn kiệt tài nguyên, gia tăng khoảng cách giàu
nghèo; hơn thế, còn gây suy giảm lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước, tạo
rào cản vô hình trong phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của
Thủ đô.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn
chế nêu trên là do thực thi các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật về
phòng, chống lãng phí trong thực tế vẫn còn hạn chế; hệ thống tiêu chuẩn, định
mức, chế độ, một số chưa phù hợp thực tế nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung; xử
lý lãng phí chưa được đề cao, thường gắn với xử lý tham nhũng như hệ lụy kéo
theo; công tác vận động, tuyên truyền cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân
thực hiện phòng, chống lãng phí chưa được quan tâm đúng mức.
Bước vào giai đoạn phát triển mới,
đứng trước cơ hội lịch sử để đưa Thành phố cùng cả nước bước vào kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc, công tác phòng, chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt,
đồng bộ với những giải pháp mới hữu hiệu, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự
nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời
đại mới. Kế thừa những thành tựu đã đạt được và tiếp tục nâng cao hiệu quả công
tác phòng, chống lãng phí đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, Chủ tịch UBND
Thành phố ban hành Chương trình của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về phòng,
chống lãng phí đến năm 2035.
II. QUAN ĐIỂM,
MỤC TIÊU
1. Quan điểm
a) Phòng, chống lãng phí là nhiệm
vụ quan trọng, khẩn trương, cấp bách của cả hệ thống chính trị và toàn Thành phố,
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; có vị trí tương đương với
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; được tiến hành mạnh mẽ, kiên quyết, kiên
trì, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, phát
hiện, xử lý và sử dụng đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành
chính, kinh tế, hình sự.
b) Gắn phòng, chống lãng phí với
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân.
c) Phòng, chống lãng phí phải kết
hợp chặt chẽ với cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính,
giảm phiền hà, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; gắn kết với cải
cách bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
d) Phòng, chống lãng phí phải gắn
kết với thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát; đẩy mạnh đầu tư công minh bạch,
công khai, hiệu quả; gắn kết nguồn lực của Thành phố với huy động các nguồn lực
khác để phát triển Thủ đô.
đ) Phòng chống lãng phí phải gắn
với 3 đột phá chiến lược; đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số và gắn kết chặt chẽ với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung:
Ngăn chặn, đẩy lùi lãng phí,
góp phần quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Thành phố, khơi dậy sức
dân, đưa Thành phố cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, kỷ
nguyên phát triển, giàu mạnh, thịnh vượng; giữ vững ổn định chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Khắc phục những hạn chế, bất
cập trong chính sách, pháp luật; tăng cường thực thi pháp luật trong các lĩnh vực
kinh tế - xã hội, nhất là những lĩnh vực dễ phát sinh lãng phí.
- Xây dựng bộ máy nhà nước tinh
gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng
đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong điều kiện mới;
cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp.
- Tăng cường các biện pháp
phòng ngừa; đẩy mạnh giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, xử lý mạnh, có
tính răn đe cao đối với các hành vi lãng phí.
- Xử lý triệt để những vấn đề,
vụ việc gây lãng phí lớn, bức xúc trong dư luận, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ.
- Phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội và các tổ chức thành viên, các cơ quan báo
chí, truyền thông trong phòng, chống lãng phí.
- Tăng cường công tác thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị, doanh nghiệp
và Nhân dân, xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí, đưa thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí thành tự nguyện, tự giác, trở thành thói quen, nhiệm vụ hàng
ngày.
- Nâng cao năng lực cho các cán
bộ, công chức thực hiện công tác phòng, chống lãng phí.
III. CÁC
NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Hoàn
thiện chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội và
phòng, chống lãng phí
a) Đổi mới mạnh mẽ công tác xây
dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế, xã hội và phòng, chống lãng phí
theo hướng: đảm bảo dân chủ, minh bạch, kịp thời, hiệu quả, dễ áp dụng, tiết kiệm
thời gian và chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp,
khơi thông nguồn lực, khắc phục điểm nghẽn và tạo đà cho sự phát triển.
b) Rà soát, bổ sung các quy định
về cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, các định mức kinh tế - kỹ thuật không còn
phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước; tập trung vào những lĩnh vực dễ
phát sinh lãng phí như: quản lý ngân sách nhà nước, tài sản công; quản lý, sử dụng
vốn đầu tư công; quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; xây dựng; đất
đai, tài nguyên, khoáng sản, năng lượng; tín dụng, ngân hàng; tổ chức bộ máy, quản
lý nguồn nhân lực…, cụ thể một số nội dung như sau:
- Hoàn thiện thể chế, sửa đổi,
bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngân sách nhà nước theo hướng
tăng cường trách nhiệm kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực,
lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện
đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công,
trong đó tập trung rà soát, hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, định mức sử
dụng tài sản công; sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy định cụ thể
việc quản lý, sử dụng và khai thác đối với một số loại tài sản kết cấu hạ tầng
theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định pháp luật
chuyên ngành có liên quan.
- Tiếp tục rà soát, đề xuất sửa
đổi các chính sách pháp luật về Đầu tư công (nếu cần) để khơi thông, đảm bảo
căn cứ về nguồn vốn thực hiện các dự án đặc biệt, nhất là các dự án khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo đòi hỏi phải có cơ chế phê duyệt và triển khai
nhanh chóng; ưu tiên, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công quan trọng;
nâng cao tính sẵn sàng và khả năng hấp thụ vốn của các dự án, nhất là các dự án
quan trọng, dự án nhóm A có yêu cầu đặc biệt về công nghệ; tăng cường chế tài xử
lý, tạo kỷ luật, kỷ cương để đảm bảo tiến độ giải ngân vốn, tránh lãng phí,
không phát huy được tối đa nguồn lực.
- Rà soát để xuất sửa đổi, hoàn
thiện các Luật chuyên ngành (nếu cần) về tài nguyên, môi trường và các văn bản
hướng dẫn, hướng tới khơi thông, phân bổ và phát huy nguồn lực tài nguyên, bảo
vệ môi trường bền vững trong tầm nhìn dài hạn theo xu hướng quản trị chiến lược;
đồng thời, lồng ghép các quy định để ngăn ngừa việc sử dụng lãng phí các nguồn
lực tài nguyên.
- Rà soát để đề xuất sửa đổi
toàn diện Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2014 (nếu cần),
tạo môi trường và hành lang pháp lý đầy đủ, ổn định cho hoạt động quản lý, đầu
tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Tập trung rà soát, sửa đổi,
hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá
trong lĩnh vực xây dựng thuộc thẩm quyền của Thành phố.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện
cơ chế chính sách, pháp luật về tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo yêu cầu
tại các Nghị quyết, Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ
và Thành phố về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện
cơ chế, chính sách để hỗ trợ phát triển các dự án đầu tư hạ tầng, đóng góp vào
thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Nghiên cứu đề xuất sửa đổi,
hoàn thiện các quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả để giải quyết
những bất cập phát sinh, đồng thời giúp thúc đẩy hiệu quả sử dụng năng lượng
trong giai đoạn tới.
c) Đề xuất sửa đổi để hoàn thiện
pháp luật về phòng, chống lãng phí theo hướng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ
cho giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, xử lý mạnh, có tính răn đe cao đối
với các hành vi lãng phí, trong đó chú trọng hoàn thiện các quy định nhận diện
hành vi lãng phí và xử lý hành vi lãng phí trong từng lĩnh vực cụ thể; rà soát,
cụ thể hóa quy định về trách nhiệm thủ trưởng các cấp, các ngành và người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống
lãng phí ở địa phương, sở, ngành, lĩnh vực, cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản
lý, phụ trách.
d) Hoàn thiện thể chế trong ứng
dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo sự đồng bộ trong chuyển đổi số để
giảm thiểu lãng phí, tạo nền tảng để Thành phố nắm bắt cơ hội từ Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư. Thường xuyên rà soát, sửa đổi kịp thời các quy định không
còn phù hợp, tạo hành lang cho các mô hình kinh tế mới như kinh tế chia sẻ,
kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo... đảm bảo khung pháp lý không trở thành
rào cản của sự phát triển, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
2. Tập
trung xây dựng, tinh gọn bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiệu lực,
hiệu quả
a) Thực hiện nghiêm các Nghị quyết,
Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội và Thành phố về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trọng tâm là rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn
đầu mối bên trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Cắt giảm đầu mối trung gian không cần thiết, sắp xếp tổ chức theo hướng đa
ngành, đa lĩnh vực theo nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc
chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để tình
trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực. Rà
soát, đánh giá lại việc giao, quản lý biên chế.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” gắn
với tăng cường kiểm tra, giám sát, xác định rõ trách nhiệm giữa Thành phố và
chính quyền cơ sở, giữa các cấp chính quyền địa phương, giữa người quản lý và
người lao động. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm sự thống nhất
trong quản lý nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao khả năng tự
chủ, tự cường của các địa phương.
b) Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất
là người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ
trong điều kiện mới. Tập trung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, gắn với vị trí việc làm và chức
danh công chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao
kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức
danh và quy hoạch.
c) Hoàn thiện chế độ công vụ,
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính; tiếp tục đổi mới công
tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, hợp lý về
cơ cấu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính gắn với quy
định cụ thể trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ
cương hành chính trong thực thi công vụ, xử lý nghiêm minh, kịp thời những người
có sai phạm, vi phạm pháp luật.
d) Triển khai chính sách thu
hút, trọng dụng người có tài vào làm việc trong khu vực công; nâng cao đạo đức,
văn hóa công vụ và thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chấn chỉnh, khắc phục
tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp.
đ) Tích cực đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý cán bộ, công chức,
viên chức, phát huy giá trị dữ liệu của Cơ sở dữ liệu Quốc gia về cán bộ, công
chức, viên chức.
3. Quản
lý, sử dụng tài nguyên, nhân lực, vật lực, tài lực hiệu quả, tăng cường tính bền
vững; nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
a) Về quản lý, sử dụng ngân
sách nhà nước, quản lý nợ công:
Đẩy mạnh việc thực hiện quản
lý, phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính - ngân sách nhà nước gắn với hoàn thiện
cơ chế phân cấp, phân quyền. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm người đứng
đầu của sở, ngành, địa phương, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trong quản lý,
phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn đầu tư công; nâng cao chất lượng công
tác dự báo, lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước đảm bảo sát thực tế, phù hợp
với yêu cầu và khả năng thực hiện nhằm huy động sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân
sách nhà nước, tập trung cho các nhiệm vụ ưu tiên của cơ quan, đơn vị, ngành,
lĩnh vực, địa phương, chấn chỉnh công tác tổ chức triển khai thực hiện, phấn đấu
giải ngân 100% dự toán được phân bổ, được giao thực hiện trong năm.
Huy động và sử dụng vốn vay ODA
và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội
và khả năng trả nợ; triển khai công cụ quản lý nợ theo quy định phù hợp với yêu
cầu thực tiễn, gắn với quản lý ngân sách nhà nước, quản lý ngân quỹ nhà nước, bảo
đảm hiệu quả, an toàn và thanh khoản của ngân sách nhà nước. Bố trí thanh toán
trả nợ các khoản nợ gốc, lãi của ngân sách nhà nước kịp thời, đầy đủ, đúng hạn.
Tăng cường kiểm tra, giám sát
các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Thực hiện công khai tài liệu, số
liệu ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản
hướng dẫn Luật về công khai ngân sách nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền
và tạo điều kiện cho người dân thực hiện vai trò giám sát ngân sách nhà nước
theo quy định của pháp luật.
b) Về quản lý, sử dụng tài sản
công:
Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại,
xử lý nhà, đất thuộc phạm vi và đối tượng sắp xếp theo quy định; xử lý tài sản,
trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức, đơn vị khi sắp xếp, tinh gọn bộ máy đảm
bảo tiến độ, tránh thất thoát, lãng phí. Thực hiện rà soát lại toàn bộ tài sản
công, trụ sở làm việc không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả, sử dụng không đúng mục
đích để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc để báo cáo cấp có thẩm quyền quyết
định xử lý theo quy định, không để lãng phí, thất thoát tài sản của nhà nước.
Từng bước cập nhật, quản lý
thông tin của tất cả các tài sản công vào Cơ sở dữ liệu Quốc gia về tài sản
công theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Hoàn thành việc tổng kiểm kê
tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà
nước đầu tư, quản lý.
Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản công. c) Về quản lý, sử dụng vốn đầu tư
công:
Đẩy mạnh cơ cấu lại đầu tư
công, đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, không phân tán, dàn trải, manh mún,
đúng mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đề ra; phát huy
vai trò dẫn dắt, lan tỏa, huy động các nguồn lực đầu tư của khu vực ngoài nhà
nước, tạo không gian, động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
và tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, các cấp quản lý trong đầu tư
công. Thực hiện đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư công
nhưng đảm bảo tính chặt chẽ, không tạo kẽ hở dễ bị lợi dụng làm thất thoát,
lãng phí vốn đầu tư công.
Nâng cao năng lực phân tích, chất
lượng công tác lập kế hoạch, thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư, nâng cao
tính sẵn sàng, khả thi và khả năng triển khai thực hiện các dự án, hạn chế vướng
mắc trong quá trình thực hiện.
Coi trọng, nâng cao chất lượng
công tác lập quy hoạch, làm căn cứ xây dựng các chương trình và kế hoạch đầu tư
công; khẩn trương hoàn thiện, phê duyệt các quy hoạch ngành Thành phố, các kế
hoạch thực hiện quy hoạch.
Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong đầu tư công, trong đó đề cao vai trò
giám sát của cộng đồng dân cư trong các vùng ảnh hưởng của dự án; làm rõ trách
nhiệm, có chế tài xử lý nghiêm đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân vi phạm quy
định pháp luật về đầu tư công, gây lãng phí, thất thoát.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý, theo dõi, giám sát tiến độ dự án đầu tư công.
d) Về quản lý, sử dụng vốn, tài
sản nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh:
Tiếp tục triển khai hiệu quả
các Đề án cơ cấu lại, Chiến lược phát triển, Kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đầu
tư phát triển hằng năm và 5 năm của doanh nghiệp nhà nước đã được phê duyệt;
chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà
nước một cách căn cơ, toàn diện, bài bản, bền vững; đẩy nhanh tiến độ và nâng
cao chất lượng hiệu quả các dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
Rà soát, đánh giá tổng thể hoạt động đầu tư ra nước ngoài, hiệu quả đầu tư ra
nước ngoài, xây dựng phương án tái cấu trúc các dự án có khó khăn, vướng mắc,
kém khả thi, phù hợp với tình hình thực tế, đưa vào nhiệm vụ trọng tâm thực hiện
đề án tái cơ cấu của doanh nghiệp.
Đổi mới mô hình quản trị theo
hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế; sắp xếp, tinh gọn bộ máy; nâng
cao khả năng cạnh tranh tại thị trường trong nước và thị trường quốc tế; nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thúc đẩy đầu tư phát triển; tập trung tái cấu
trúc bộ máy quản lý hiệu lực, hiệu quả và lực lượng lao động giảm số lượng,
nâng cao chất lượng; tái cấu trúc về tài chính, tập trung cho đầu tư phát triển;
tái cấu trúc sản xuất, kinh doanh, chuỗi cung ứng, tôn trọng quy luật cạnh
tranh, quy luật thị trường có sự quản lý của nhà nước; nâng cao năng lực cạnh
tranh, sức chống chịu với các cú sốc kể cả bên trong và bên ngoài; thúc đẩy
tăng trưởng, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, tăng cường liên kết với các
doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, tạo các chuỗi
liên kết, cung ứng trong nước, giảm lệ thuộc vào nước ngoài.
Tăng cường quản lý, sử dụng tài
sản của các doanh nghiệp có vốn nhà nước (đặc biệt là nhà, đất) đảm bảo hiệu quả,
không làm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước giao.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng
khoa học công nghệ, khuyến khích hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tại
doanh nghiệp, tạo động lực bứt phá, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và
năng lực cạnh tranh.
Rà soát, đánh giá thực trạng
doanh nghiệp, tiếp tục cơ cấu lại các đơn vị thành viên, thoái vốn tại các đơn
vị yếu kém, thua lỗ, không hiệu quả, duy trì nắm giữ, tăng vốn tại doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề chính. Các dự án đầu tư dàn trải,
ngoài ngành, ngoài lĩnh vực kinh doanh chính cần được giải quyết dứt điểm, bảo
đảm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tập
trung vào lĩnh vực kinh doanh chính; tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng,
hàng hóa dịch vụ, uy tín và thương hiệu trên thị trường.
Đẩy mạnh thực hiện các dự án trọng
điểm, khơi thông nguồn lực doanh nghiệp nhà nước ngang tầm chiến lược, khắc phục
tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, manh mún, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm,
thu hút đầu tư Thành phố, huy động nguồn lực của Thủ đô.
Tiếp tục rà soát, đánh giá, làm
rõ thực trạng của từng dự án thua lỗ, kém hiệu quả và có phương án xử lý hợp
lý, kịp thời, giảm thiểu tối đa tổn thất cho nhà nước và xã hội. Tạo cơ chế để
doanh nghiệp chủ động, tự chủ trong xử lý dự án theo nguyên tắc thị trường. Nhà
nước có giải pháp sử dụng hợp lý, hợp pháp nguồn lực để hỗ trợ việc giải thể,
phá sản doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ gắn với trách nhiệm,
nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước, của Nhà nước đảm bảo các yêu cầu về an sinh
xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường, các cam kết quốc tế và ổn định xã hội.
Gắn trách nhiệm của người đứng
đầu các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, Chủ tịch Hội đồng
thành viên/Chủ tịch Hội đồng quản trị/người đại diện phần vốn nhà nước tại các
Tổng công ty, Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
thuộc UBND Thành phố với việc phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án cơ cấu lại
doanh nghiệp (trong đó có cổ phần hóa doanh nghiệp), kế hoạch sản xuất kinh
doanh, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả. Tăng cường
vai trò, chức năng giám sát của công ty mẹ, cơ quan đại diện chủ sở hữu doanh
nghiệp trong việc quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài, giám sát hoạt động
đầu tư và kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh; nâng cao hiệu quả
công tác đánh giá, dự báo, quản trị rủi ro, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn,
rủi ro cao.
đ) Về quản lý tín dụng đầu tư của
Thành phố:
Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát, thanh tra đối với hoạt động huy động, quản lý và sử dụng vốn tín dụng
đầu tư của Thành phố, không để xảy ra lãng phí, tiêu cực. Việc xử lý rủi ro tín
dụng phải đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
e) Về quản lý vốn nhà nước
trong các dự án PPP
Thường xuyên tổng kết, đánh
giá, hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư theo phương thức đối tác công tư; đơn
giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương gắn
với tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
về thể chế, pháp luật, khơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển kinh tế
- xã hội; giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết trong thực tiễn.
Đẩy mạnh công khai, minh bạch
thông tin ở tất cả các bước trong triển khai dự án PPP. Tăng cường kiểm tra,
thanh tra dự án PPP; có chế tài xử phạt, quy định rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa
vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan.
g) Về quản lý, sử dụng tài
nguyên, khoáng sản:
Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài
nguyên đất theo đúng Quy hoạch sử dụng đất Thành phố, Quy hoạch sử dụng đất thời
kỳ; Kế hoạch sử dụng đất Thành phố 5 năm. Từng bước quản lý chặt chẽ, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, phát huy nguồn lực đất đai vào phát triển kinh tế - xã hội.
Vận hành hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai Thành phố tập
trung, thống nhất, trong đó có dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất, quản lý cập nhật
biến động đến từng thửa đất, công bố công khai, minh bạch tạo điều kiện cho người
dân doanh nghiệp tiếp cận thông tin dữ liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Thực hiện nghiêm các chủ trương,
định hướng trong điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản theo Quy hoạch
thăm dò, khai thác và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Kiểm soát chặt chẽ việc khai thác khoáng sản;
cân đối giữa khai thác và dự trữ khoáng sản, phát triển bền vững công nghiệp
khai khoáng gắn với bảo vệ môi trường và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Triển
khai thực hiện đề án thăm dò khoáng sản theo quy định. Thực hiện nghiêm các quy
định về đánh giá tác động môi trường, đóng cửa mỏ đối với các dự án khai thác
khoáng sản.
Sử dụng, khai thác tiết kiệm
tài nguyên nước theo đúng Quy hoạch về tài nguyên nước, Kế hoạch thực hiện quy
hoạch tài nguyên nước Thành phố đã được duyệt. Hoạt động quản lý, khai thác, sử
dụng, bảo vệ tài nguyên nước được thực hiện theo phương thức trực tuyến trên cơ
sở quản trị thông minh. Nâng cao mức đảm bảo an ninh nguồn nước, thích ứng với
biến đổi khí hậu và phù hợp với quy định. Tăng cường bảo vệ tài nguyên nước, bảo
đảm số lượng, chất lượng nước đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
và giảm thiểu tối đa tác hại do nước gây ra.
Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài
nguyên rừng theo đúng Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 895/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8
năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam
giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số
523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ. Phát triển
kinh tế lâm nghiệp bền vững theo hướng đa mục đích, đa giá trị trên cơ sở quản
lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng và đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp.
Đa dạng hóa các loại hình tổ chức, hợp tác, liên kết, chia sẻ lợi ích trong sản
xuất, kinh doanh lâm nghiệp theo hướng sản xuất xanh, bền vững, tuần hoàn, huy
động các nguồn lực hợp pháp phục vụ phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững.
Tăng cường bảo tồn, phục hồi đa
dạng sinh học; xây dựng đồng bộ hệ thống chính sách, pháp luật giải quyết hài
hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh nghiên cứu và xây dựng
các dự án sử dụng công nghệ tái chế nước thải và chất thải; các dự án sử dụng
năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời.
h) Về quản lý nguồn nhân lực:
Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn
diện, hiệu quả, thực chất giáo dục, đào tạo; đặt trọng tâm vào xây dựng, phát
triển đội ngũ giáo viên có chất lượng cao ở tất cả các cấp học và các loại hình
đào tạo; tập trung phát triển nguồn lao động chất
lượng cao theo chuẩn quốc tế.
Phát triển đại học số, các phương thức đào tạo mở, các nền tảng dạy và học trực
tuyến mở, phát triển học liệu mở, nhất là học liệu mở trực tuyến. Đào tạo, đào
tạo lại, chuẩn bị nguồn nhân lực số, kỹ năng số cho chuyển đổi số để phát triển
kinh tế số, xã hội số. Có cơ chế đột phá thu hút nhân tài trong và ngoài nước;
xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng và tư duy đổi
mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư.
Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong
phát triển thị trường lao động; khẩn trương hoàn thiện hệ thống thông tin về
lao động - việc làm; áp dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào hoạt động
của các sàn giao dịch việc làm. Có chính sách, cơ chế hỗ trợ người lao động khi
đi làm việc ở nước ngoài về nước tìm kiếm việc làm phù hợp nhằm nâng cao kết nối,
tìm kiếm việc làm, rút ngắn thời gian chuyển tiếp việc làm nhằm tối ưu chi phí
cơ hội cho người lao động.
i) Về quản lý, tiết kiệm năng
lượng:
Phát triển và mở rộng sử dụng
năng lượng tái tạo như điện mặt trời, gió, thủy điện và năng lượng sinh học
theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày
15 tháng 5 năm 2023.
Thực hiện có hiệu quả Chương
trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 -
2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 280/QĐ-TTg ngày 13
tháng 3 năm 2019. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và quy trình
sản xuất hiệu quả năng lượng; tăng cường sử dụng hệ thống quản lý năng lượng
thông minh giúp quản lý năng lượng hiệu quả và tối ưu hóa sử dụng năng lượng
trong sản xuất và tiêu dùng.
4. Đẩy mạnh
cải cách hành chính, tập trung cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, chi phí tuân
thủ của người dân, doanh nghiệp
a) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách
hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính đảm bảo các mục tiêu, yêu
cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 ban
hành kèm theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ,
Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ về Chương trình cắt
giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh năm 2025 và 2026.
b) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin, xây dựng nền tảng số kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ
chức. Xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống Chính phủ điện tử, Chính phủ số;
tăng cường ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào hoạt động quản trị nhà nước,
quản lý kinh tế - xã hội theo hướng công khai, minh bạch, thân thiện, dễ tiếp cận,
dễ thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân góp phần nâng
cao hiệu quả quản lý, cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân,
doanh nghiệp.
Đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với
bảo đảm an ninh, an toàn theo Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22 tháng 12 năm 2024
của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2025 của
Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tập trung xây dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt
động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hóa
dựa trên dữ liệu và thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành
chính. Kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành,
nhất là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tạo nền tảng
tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành chính thực chất. Phát triển kinh tế số,
xây dựng công dân số.
5. Tập
trung giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với các dự án quan trọng, dự án
trọng điểm, dự án hiệu quả thấp, tồn đọng, kéo dài gây thất thoát, lãng phí lớn
Tiếp tục thực hiện rà soát, tổng
hợp khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án tồn đọng, kéo dài, phân định
làm rõ các nhóm nguyên nhân, phương án xử lý và cấp có thẩm quyền xử lý để giải
quyết dứt điểm, sớm đưa vào khai thác, sử dụng các dự án phát huy hiệu quả đầu
tư, không để tiếp tục lãng phí nguồn lực của Thành phố và Nhân dân.
6. Tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ việc lãng phí
a) Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng
công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Thành phố về thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí, tập trung vào lĩnh vực dễ xảy ra lãng phí, nơi có nhiều đơn, thư, khiếu
nại, tố cáo, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc.
b) Chủ động áp dụng các biện
pháp phòng ngừa; rà soát, kịp thời phát hiện, phòng ngừa, xử lý nghiêm tổ chức,
cá nhân vi phạm, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực theo quy định của pháp luật;
thực hiện nghiêm kết luận, kiến nghị của các cơ quan chức năng, thu hồi triệt để
tiền, tài sản nhà nước; kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong cơ chế
quản lý, chính sách, pháp luật được phát hiện thông qua công tác thanh tra, kiểm
tra.
c) Tăng cường sự phối hợp giữa
các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và các cơ quan, tổ chức có
liên quan trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi lãng phí. Kịp thời chuyển
các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý theo
quy định của pháp luật để răn đe, phòng ngừa.
7. Nâng cao
nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
và Nhân dân trong phòng, chống lãng phí
a) Đổi mới, nâng cao hiệu quả
các phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống lãng
phí ngay từ khâu dự thảo văn bản; tăng cường lồng ghép nội dung giáo dục thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hệ thống giáo dục Thành phố.
b) Cung cấp thông tin kịp thời,
chính xác về công tác phòng, chống lãng phí, những vụ việc lãng phí, nhất là những
vụ việc được dư luận quan tâm cho các cơ quan báo chí để tuyên truyền kết quả
phòng, chống lãng phí.
c) Xây dựng, triển khai thiết
thực các cuộc vận động, phong trào thi đua về thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; tiếp tục triển khai rộng rãi, có hiệu quả Phong trào thi đua “Đẩy mạnh
phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí” theo Kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
1478/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2022. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng
các điển hình tiên tiến trong thực hiện tốt công tác thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí.
d) Tăng cường vai trò, trách
nhiệm giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội
và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp
hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, báo chí trong quá trình xây dựng, thực
hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống lãng phí; tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật, vận động hội viên, đoàn viên, Nhân dân thực hiện chính
sách, pháp luật về phòng, chống lãng phí.
đ) Tăng cường dân chủ cơ sở, tạo
điều kiện cho hoạt động thanh tra nhân dân và giám sát của cộng đồng dân cư ở
cơ sở; kịp thời phát hiện, thông tin, phản ánh, ngăn chặn hành vi gây thất
thoát, lãng phí, tiêu cực. Hướng dẫn tổ chức xây dựng, hoàn thiện quy định, bổ
sung nội dung về phòng, chống lãng phí vào các hương ước, quy ước và tổ chức thực
hiện trong cộng đồng dân cư. Gắn xây dựng đời sống văn hóa với phong trào thi
đua yêu nước, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Khuyến khích Nhân dân tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản
xuất, kinh doanh, tiêu dùng; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang, tổ chức lễ hội nhằm từng bước xây dựng và hình thành văn hóa tiết kiệm,
chống lãng phí trong toàn Thành phố.
e) Xác định rõ trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người đứng đầu trong việc tiếp nhận, xử lý, giải
quyết phản ánh thông tin phát hiện lãng phí; thực hiện khen thưởng, bảo vệ người
cung cấp thông tin phát hiện lãng phí và xử lý nghiêm các cá nhân cố ý phản
ánh, báo cáo, tố cáo sai sự thật để vu khống, gây rối, làm ảnh hưởng đến an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tập thể, cá nhân.
8. Tăng cường
năng lực cho các cán bộ, công chức thực hiện công tác phòng, chống lãng phí
a) Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phòng, chống lãng phí.
b) Tăng cường công tác nghiên cứu
khoa học về phòng, chống lãng phí đảm bảo tính ứng dụng thực tiễn, góp phần
nâng cao hiệu quả công tác này.
c) Nghiên cứu, học tập, tiếp
thu có chọn lọc kinh nghiệm về phòng, chống lãng phí phù hợp với thực tiễn của
Thành phố.
IV. LỘ TRÌNH
VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Lộ
trình thực hiện
Chương trình phòng, chống lãng
phí đến năm 2035 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội được thực hiện theo hai
giai đoạn:
a) Giai đoạn thứ nhất (từ năm
2025 đến năm 2030)
- Trong giai đoạn này tổ chức
thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó tập trung nghiên cứu, rà
soát, sửa đổi hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung khắc phục bất cập của hệ thống pháp
luật; chú trọng nâng cao năng lực, hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý
các hành vi lãng phí;
- Hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể
trong giai đoạn 2025 - 2030 (có Phụ lục kèm theo) và sơ kết việc thực hiện vào
năm 2030.
b) Giai đoạn thứ 2 (từ năm 2031
đến năm 2035)
- Phát huy những kết quả đã đạt
được trong giai đoạn thứ nhất. Trên cơ sở sơ kết, căn cứ yêu cầu của công tác phòng,
chống lãng phí và tình hình thực tiễn xây dựng Kế hoạch cụ thể để thực hiện
Chương trình giai đoạn 2031 - 2035 và đẩy mạnh thực hiện toàn diện các nhóm nhiệm
vụ, giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu của Chương trình.
- Tổng kết việc thực hiện Chương
trình vào năm 2036.
2. Tổ chức
thực hiện
- Các sở, ngành, địa phương, cơ
quan, tổ chức, đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình,
kế hoạch cụ thể tổ chức thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ được giao trong
Kế hoạch thực hiện Chương trình. Định kỳ trước 30/10 hằng năm,
báo cáo tình hình thực hiện Chương trình về Sở Tài chính để tổng hợp, báo cáo
Chủ tịch UBND Thành phố.
- Giao Sở Tài chính là cơ quan
đầu mối chủ trì, phối hợp với Văn phòng UBND Thành phố và các cơ quan, tổ chức
liên quan tham mưu giúp UBND Thành phố triển khai, đôn đốc, kiểm tra việc thực
hiện Chương trình; chủ động theo dõi, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện
Chương trình hằng năm, đề xuất sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình. Định
kỳ trước 30/12 hằng năm, tổng hợp tình hình thực hiện Chương
trình trong phạm vi toàn Thành phố của năm trước liền kề, báo cáo Chủ tịch UBND
Thành phố.
- Đề nghị các Ban Đảng của
Thành ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội và tổ chức thành viên các
cấp thực hiện tuyên truyền về vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng, chống
lãng phí, góp phần thực hiện mục tiêu của Chương trình; phối hợp giám sát hoạt
động thực hiện Chương trình của các sở, ngành và địa phương./.