|
VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 279/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 01
tháng 8 năm 2017
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN
HÀNH QUY CHẾ VỀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO CÁO VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TRONG NGÀNH KIỂM
SÁT NHÂN DÂN
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Xét yêu cầu của công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành trong ngành Kiểm sát nhân dân;
Xét đề nghị của Chánh Văn phòng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế về chế độ thông
tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quy chế
về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân
ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC ngày 13/7/2012, Quyết định số 122/QĐ-VKSTC
ngày 28/3/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thi
hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3 (để thực hiện);
- Lãnh đạo VKSND tối cao;
- Lưu: VT-PTMTH.
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
PHÓ VIỆN TRƯỞNG THƯỜNG TRỰC
Nguyễn Hải Phong
|
QUY CHẾ
VỀ
CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO CÁO VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01 tháng 8 năm 2017 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng, phạm vi điều
chỉnh
1. Quy chế này áp dụng đối với Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và Viện kiểm sát quân sự các cấp (sau đây gọi
chung là Viện kiểm sát các cấp).
2. Quy chế này quy định:
a) Việc tiếp nhận, thu thập, xử lý và cung cấp
thông tin của Viện kiểm sát các cấp.
b) Việc xây dựng, gửi báo cáo của Viện kiểm sát các
cấp.
c) Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chỉ thị, kế
hoạch, chương trình công tác; tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện
chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác của Viện kiểm sát các cấp.
Điều 2. Nguyên tác thực hiện
1. Chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác thực
hiện theo nguyên tắc tập trung, thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Việc tiếp nhận, thu thập, xử lý, cung cấp thông
tin; xây dựng, gửi báo cáo bảo đảm đầy đủ, trung thực, khách quan, chính xác, kịp
thời, bảo mật theo quy định của pháp luật và của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
3. Hình thức, thể thức, nội dung các văn bản về
thông tin, báo cáo và quản lý công tác theo quy định của pháp luật và của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 3. Trách nhiệm thông
tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân
1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm tiếp nhận, thu thập, quản
lý và xử lý thông tin liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và hoạt
động của đơn vị theo quy định tại Điều 4, Điều 5 của Quy chế này.
Đơn vị, cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp của
Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm giúp Viện trưởng, Thủ trưởng đơn vị theo
dõi, quản lý việc tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thứ trưởng
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện, theo
dõi, quản lý chế độ thông tin, báo cáo.
3. Viện kiểm sát cấp dưới có trách nhiệm báo cáo kết
quả thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên, như sau:
a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện báo cáo Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh; Viện kiểm sát quân sự khu vực báo cáo Viện kiểm sát quân
sự quân khu và tương đương;
b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh báo cáo Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao những thông tin thuộc trách nhiệm theo dõi, quản lý của Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao;
c) Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương
báo cáo Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
d) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương báo cáo Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm
chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của Viện
kiểm sát cấp dưới.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp ký các văn bản thông tin, báo cáo của
đơn vị; Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có thể giao cho cấp phó ký thay hoặc
Chánh Văn phòng ký thừa lệnh theo quy định của pháp luật và của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng, tổ chức
triển khai thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương
trình công tác theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
a) Đơn vị, cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp của
Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm giúp Viện trưởng, Thủ trưởng xây dựng chỉ
thị, kế hoạch, chương trình công tác, tổ chức triển khai thực hiện và làm đầu mối
tổng hợp, tham mưu theo dõi, quản lý, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm
theo chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác.
b) Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát cấp
trên có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, quản lý và kiểm tra việc thực
hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác của Viện kiểm sát cấp dưới về những
lĩnh vực, nội dung công tác trong phạm vi được giao trách nhiệm theo dõi, quản
lý.
Chương II
THÔNG TIN, BÁO CÁO
Điều 4. Thông tin, cung cấp
thông tin
1. Thông tin trong ngành Kiểm sát nhân dân là nội
dung tin, bài về những vụ, việc được đăng tải trên phương tiện truyền thông; nội
dung trong các văn bản của cơ quan Đảng, Nhà nước và các đơn vị trong ngành Kiểm
sát nhân dân; đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,... của công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức liên quan đến tổ chức, hoạt động thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thông tin do cá nhân, đơn vị trong ngành Kiểm
sát nhân dân cung cấp phải thể hiện rõ nguồn gốc, nội dung, thời gian, địa điểm
xảy ra vụ, việc. Nếu thông tin được thể hiện bằng văn bản thì phải ghi rõ họ
tên, địa chỉ của người cung cấp thông tin. Nghiêm cấm việc cung cấp thông tin
không đúng sự thật.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp trực tiếp chỉ
đạo quản lý, cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật
và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chánh Văn phòng có trách nhiệm giúp Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quản lý, chỉ đạo, tổ chức việc cung cấp thông tin
cho cơ quan báo chí liên quan đến Viện kiểm sát cấp mình và cấp dưới trực thuộc.
Điều 5. Tiếp nhận, thu thập và
xử lý thông tin
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Viện
trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại, xử lý thông tin liên quan đến tổ chức, hoạt
động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định của pháp luật và của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận, thông
báo những thông tin báo chí nêu liên quan đến tổ chức, hoạt động của Viện kiểm
sát các cấp. Khi nhận được thông tin chuyển đến, Viện trưởng Viện kiểm sát các
cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải kiểm tra,
tổ chức xác minh, giải quyết và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (gửi một bản về Phòng Tham mưu tổng hợp, Văn phòng). Đồng thời, có văn bản
yêu cầu cơ quan báo chí phải đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính những thông
tin sai sự thật liên quan đến đơn vị theo quy định của pháp luật.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm
chỉ đạo, kiểm tra, yêu cầu các đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới báo
cáo tình hình, kết quả tiếp nhận, xử lý thông tin. Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp, kiểm tra, xử lý
và báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp, Văn phòng)
những thông tin do báo chí, phương tiện truyền thông nêu liên quan đến hoạt động
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; báo cáo kịp thời Viện kiểm sát nhân
dân tối cao về những vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm
liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, xảy ra trong phạm vi trách
nhiệm và lĩnh vực công tác được giao theo dõi, quản lý.
4. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
trách nhiệm tổng hợp những thông tin liên quan đến Viện kiểm sát các cấp để báo
cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông báo ý kiến chỉ đạo của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát cấp dưới để xử lý theo thẩm quyền.
Điều 6. Báo cáo gửi các cơ quan
của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1. Các báo cáo gửi cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan khác, gồm:
a) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao tại các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Báo
cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Chủ tịch nước; Báo cáo của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi: Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Nội chính
Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Quốc
hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội,
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
b) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân cùng cấp; báo cáo của Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gửi cấp ủy đảng cùng cấp.
c) Báo cáo của Viện kiểm sát các cấp gửi các cơ
quan khác khi cần thiết hoặc khi có yêu cầu.
2. Nội dung, thời điểm lấy số liệu và thời hạn gửi
báo cáo công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình tại các kỳ
họp của Quốc hội, như sau:
a) Nội dung đánh giá khái quát tình hình tội phạm;
kết quả công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân theo
quy định của pháp luật, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quốc hội; nêu và đánh
giá tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; những hạn chế, thiếu
sót và nguyên nhân; những giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm; những kiến nghị đối
với Đảng, Nhà nước.
b) Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo trình Quốc
hội tại kỳ họp giữa năm tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến hết ngày 31
tháng 3 của năm báo cáo. Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo trình Quốc hội tại
kỳ họp cuối năm tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến hết ngày 30 tháng 9
của năm báo cáo; thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo để phục vụ công tác thẩm
tra thực hiện theo yêu cầu của Quốc hội.
c) Thời gian có báo cáo đến Văn phòng hoặc Viện kiểm
sát cấp trên căn cứ theo yêu cầu của Quốc hội.
3. Đối với những báo cáo khác thì nội dung, thời điểm
lấy số liệu và thời hạn gửi thực hiện theo yêu cầu của cơ quan yêu cầu báo cáo
hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 7. Báo cáo công tác trong
ngành Kiểm sát nhân dân
1. Báo cáo công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân,
gồm: báo cáo định kỳ; báo cáo ban đầu; báo cáo đột xuất; báo cáo thỉnh thị; báo
cáo chuyên đề; báo cáo theo quy chế nghiệp vụ và báo cáo khác theo yêu cầu.
2. Báo cáo định kỳ gồm: báo cáo công tác tuần; báo
cáo công tác kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong tuần; báo cáo công tác
tháng; báo cáo công tác quý; báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm; báo cáo tổng
kết công tác năm; các báo cáo tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư
pháp 6 tháng và 12 tháng; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm;
báo cáo công tác tiếp nhận, xử lý thông tin báo chí nêu liên quan đến hoạt động
của Ngành.
3. Báo cáo định kỳ được thực hiện như sau:
a) Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới xây dựng và gửi
báo cáo đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quản lý. Ngoài báo cáo
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh còn phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao về công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm
các loại án thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị;
b) Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát các cấp
xây dựng, gửi báo cáo đến Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Thủ trưởng các
đơn vị có trách nhiệm theo dõi, quản lý chuyên môn của Viện kiểm sát cấp trên;
các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh
gửi báo cáo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đến Thủ trưởng
các đơn vị tương ứng của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
c) Báo cáo định kỳ phải gửi cho đơn vị làm công tác
tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên để phục
vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp.
Điều 8. Báo cáo công tác tuần
1. Nội dung báo cáo về tình hình, kết quả công tác
của đơn vị, cơ quan trong tuần; phản ánh khái quát những vụ, việc điển hình xảy
ra ở địa phương hoặc địa bàn, lĩnh vực công tác, kết quả thực hiện chức năng,
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm sát nhân dân; những khó
khăn, vướng mắc và đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có) và nhiệm vụ
trọng tâm trong tuần tiếp theo.
2. Thời điểm lấy số liệu báo cáo từ 12 giờ ngày thứ
Tư tuần trước đến 12 giờ ngày thứ Tư của tuần báo cáo.
3. Các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm
sát cấp huyện có báo cáo đến Văn phòng Viện kiệm sát cấp tỉnh; các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao trước 14 giờ thứ Tư của tuần báo cáo.
Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát cấp
tỉnh có báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng
hợp) trước 09 giờ thứ Năm của tuần báo cáo. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
báo cáo công tác tuần vào chiều thứ Năm của tuần báo cáo.
Điều 9. Báo cáo thống kê việc bắt,
tạm giữ, tạm giam và xử lý trong tuần
1. Nội dung báo cáo về số người bị bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tuần; phân tích các hình thức bắt, xử lý, các trường hợp Viện kiểm
sát không phê chuẩn, hủy bỏ lệnh, quyết định; các trường hợp người bị bắt, tạm
giữ, tạm giam trốn, chết, phạm tội mới; các trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm
giam và trách nhiệm.
2. Thời điểm lấy số liệu báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Quy chế này.
3. Thời hạn gửi báo cáo như sau:
a) Các phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra án hình sự, phòng kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Viện
kiểm sát cấp tỉnh và Viện kiểm sát cấp huyện có báo cáo thống kê đến Phòng thống
kê tội phạm và Công nghệ thông tin, Bộ phận làm công tác thống kê của Viện kiểm
sát cấp tỉnh trước 14 giờ thứ Tư của tuần báo cáo.
b) Các Vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra án hình sự, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
quân sự Trung ương, Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo cáo đến Cục Thống kê tội phạm
và Công nghệ thông tin Viện kiểm sát nhân dân tối cao trước 09 giờ thứ Năm của
tuần báo cáo.
c) Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin có
báo cáo thống kê việc bắt, tạm giữ, tạm giam và xử lý trong tuần đến Văn phòng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trước 15 giờ thứ Năm của
tuần báo cáo.
Điều 10. Báo cáo công tác
tháng
1. Nội dung báo cáo nêu, đánh giá tình hình tội phạm,
vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; các biện pháp đã triển khai, thực hiện
và kết quả công tác của cơ quan, đơn vị trong các lĩnh vực thuộc trách nhiệm thực
hiện và được phân công theo dõi, quản lý trong một tháng; những kiến nghị đề xuất
đối với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có) và nhiệm vụ trọng tâm trong tháng tiếp
theo.
2. Thời điểm lấy số liệu để xây dựng báo cáo từ
ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng báo cáo.
3. Thời hạn gửi báo cáo như sau:
a) Viện kiểm sát cấp huyện gửi báo cáo công tác
tháng đến Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày kết thúc kỳ báo cáo. Các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo cáo
công tác tháng đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao (công tác thực hành quyền công tố; kiểm sát xét xử) và Văn
phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ ngày kết
thúc kỳ báo cáo.
b) Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
có báo cáo công tác tháng đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử) và Văn phòng Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo
cáo.
c) Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có báo cáo công tác tháng đến Văn phòng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể
từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo công
tác tháng trong thời hạn 13 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
Điều 11. Báo cáo công tác quý
1. Nội dung báo cáo đánh giá kết quả thực hiện
chương trình công tác quý của cơ quan, đơn vị; kết quả công tác của Viện kiểm
sát cấp dưới thuộc trách nhiệm theo dõi, quản lý của cơ quan, đơn vị; những kiến
nghị, đề xuất (nếu có); dự kiến những nhiệm vụ trọng tâm trong quý tiếp theo.
2. Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo công tác
quý từ ngày 01 của tháng đầu quý đến ngày cuối cùng của tháng cuối quý.
3. Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm
sát cấp tỉnh báo cáo kết quả công tác của cơ quan, đơn vị trong một quý, Thời hạn
và việc gửi báo cáo như sau:
a) Báo cáo công tác quý của các đơn vị thuộc Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi đến Văn phòng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 07 ngày
làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo
cáo công tác quý trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo
cáo.
b) Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát quân sự trung
ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiệm sát cấp tỉnh gửi báo cáo công
tác quý đến Văn phòng Viện kiểm sát cùng cấp để tổng hợp, xây dựng báo cáo công
tác quý của mỗi cơ quan; thời hạn gửi báo cáo công tác quý của các đơn vị do Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
c) Báo cáo công tác quý của Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh không gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 12. Báo cáo sơ kết công
tác 6 tháng đầu năm, Báo cáo tổng kết công tác năm
1. Nội dung báo cáo đánh giá tình hình tội phạm;
phân tích, tổng hợp kết quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp và công tác xây dựng Ngành; phân tích, đánh giá toàn diện những kết quả
tích cực, điểm mới so với cùng kỳ năm trước, những ưu điểm, hạn chế, yếu kém
trong các lĩnh vực công tác và nguyên nhân; các giải pháp khắc phục, những kiến
nghị, đề xuất và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm (đối với báo cáo sơ kết
công tác).
Hằng năm, căn cứ vào yêu cầu sơ kết, tổng kết công
tác của ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng
dẫn về nội dung báo cáo sơ kết, tổng kết của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh; đồng thời, yêu cầu báo cáo chuyên sâu một số
lĩnh vực, hoạt động để phục vụ sơ kết, tổng kết công tác. Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh
hướng dẫn các đơn vị trực thuộc, Viện kiểm sát cấp dưới xây dựng báo cáo phục vụ
công tác sơ kết của mỗi cơ quan và của toàn Ngành.
2. Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo:
a) Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo sơ kết
công tác 6 tháng đầu năm từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày 31
tháng 5 của năm báo cáo.
b) Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo tổng kết
công tác năm từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày 30 tháng 11 của năm
báo cáo.
3. Thời hạn gửi báo cáo như sau:
a) Viện kiểm sát cấp huyện có báo cáo đến Văn phòng
Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ
báo cáo.
b) Các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo
cáo đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao (công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử) và Văn phòng Viện
kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo
cáo.
c) Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
có báo cáo đến các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao (công tác thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử) và Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đến Văn phòng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 09 ngày làm việc,
kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo sơ kết
công tác 6 tháng đầu năm của toàn ngành Kiểm sát nhân dân trong thời hạn 15
ngày làm việc; có báo cáo tổng kết công tác năm trong thời hạn 20 ngày làm việc,
kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo.
e) Theo yêu cầu sơ kết hoặc tổng kết công tác, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể quyết định thời điểm gửi báo cáo sớm
hơn quy định trên.
Điều 13. Báo cáo tình hình vi
phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp 6 tháng và 12 tháng
1. Nội dung báo cáo hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và
thực hiện công tác kiểm sát; phản ánh, đánh giá toàn diện tình hình vi phạm
pháp luật trong hoạt động tư pháp; những vi phạm pháp luật của cơ quan tư pháp,
cơ quan bổ trợ tư pháp và người tham gia hoạt động tự pháp được Viện kiểm sát
phát hiện; nhưng biện pháp tác động, xử lý theo thẩm quyền của Viện kiểm sát.
Đánh giá hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm sát của đơn vị. Những đề xuất, kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.
2. Viện kiểm sát cấp huyện báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp tỉnh về tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp ở địa
phương. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc: Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp và đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên (nếu có) về
tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư pháp được giao kiểm sát
và theo dõi, quản lý. Viện kiểm sát quân sự Trung ương báo cáo tình hình vi phạm
pháp luật trong hoạt động tư pháp trong quân đội. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao báo cáo Quốc hội tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động
tư pháp trong phạm vi cả nước.
3. Thời điểm lấy số liệu báo cáo:
a) Thời điểm lấy số liệu báo cáo tình hình vi phạm
pháp luật trong hoạt động tư pháp 6 tháng từ ngày 01/10 của năm trước đến hết
ngày 31/3 của năm báo cáo.
b) Thời điểm lấy số liệu báo cáo tình hình vi phạm
pháp luật trong hoạt động tư pháp 12 tháng tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước
đến hết ngày 30 tháng 9 của năm báo cáo.
4. Thời hạn gửi báo cáo như sau:
a) Viện kiểm sát cấp huyện gửi báo cáo đến Văn
phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ sau ngày kết
thúc kỳ báo cáo.
b) Các phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh
gửi báo cáo đến các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao và Văn phòng Viện kiểm sát cấp tỉnh trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ sau ngày kết thúc kỳ báo cáo.
c) Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao gửi báo cáo đến các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong thời hạn 07 ngày làm việc,
kể từ sau ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao,
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo đến Văn phòng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao (Phòng Tham mưu tổng hợp) trong thời hạn 09 ngày làm việc, kể từ
sau ngày kết thúc kỳ báo cáo.
d) Theo yêu cầu công tác, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có thể quyết định thời điểm gửi báo cáo sớm hơn quy định trên.
Điều 14. Báo cáo việc tiếp nhận,
xử lý thông tin liên quan đến hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân
1. Nội dung báo cáo phản ảnh việc tiếp nhận, tình
hình và kết quả xử lý thông tin liên quan đến hoạt động của ngành Kiểm sát xảy
ra tại địa phương hoặc thuộc lĩnh vực công tác của đơn vị; những hạn chế, khó
khăn và kiến nghị, đề xuất (nếu có).
2. Thời điểm tổng hợp số liệu xây dựng các báo cáo
theo quy định về thời điểm của báo cáo công tác tuần, báo cáo sơ kết công tác 6
tháng đầu năm và báo cáo tổng kết công tác năm.
3. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
trách nhiệm xây dựng báo cáo tuần, 6 tháng và một năm về việc tiếp nhận, xử lý
những thông tin liên quan đến hoạt động của toàn ngành Kiểm sát nhân dân.
4. Sau khi nhận được chỉ đạo của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thì các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh phải kiểm tra, xem xét, xử lý ngay thông tin liên quan hoặc
thuộc trách nhiệm của đơn vị và báo cáo theo yêu cầu.
Điều 15. Báo cáo tổng kết công
tác thi đua, khen thưởng
1. Việc xây dựng báo cáo tổng kết công tác thi đua,
khen thưởng thực hiện theo quy chế về công tác thi đua, khen thưởng của ngành
Kiểm sát nhân dân.
2. Thời điểm lấy số liệu xây dựng báo cáo, thời hạn
có báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng phải bảo đảm về nội dung và
thời gian tổng kết công tác của toàn ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 16. Báo cáo thống kê
1. Việc xây dựng báo cáo thống kê thực hiện theo
quy định về chế độ báo cáo thống kê của ngành Kiểm sát nhân dân.
2. Khai thác, sử dụng báo cáo thống kê:
a) Khi xây dựng các loại báo cáo tổng hợp, báo cáo
chuyên đề,... các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát các cấp phải sử dụng số
liệu trong báo cáo thống kê do đơn vị làm công tác thống kê cung cấp.
b) Đơn vị làm công tác thống kê của Viện kiểm sát
các cấp có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các số liệu, báo cáo thống kê
cho các đơn vị, bộ phận nghiệp vụ cùng cấp để xây dựng các loại báo cáo.
c) Trường hợp báo cáo thống kê của ngành Kiểm sát
nhân dân không đáp ứng được các yêu cầu về số liệu để xây dựng báo cáo thì các
đơn vị xây dựng báo cáo cùng với đơn vị làm công tác thống kê báo cáo lãnh đạo
Viện kiểm sát cùng cấp xem xét, quyết định.
Điều 17. Báo cáo ban đầu
1. Nội dung báo cáo nêu rõ thời gian, địa điểm, diễn
biến sự việc, hậu quả xảy ra, kết quả xác minh, điều tra ban đầu, các biện pháp
nghiệp vụ đã áp dụng, các xử lý khác của Viện kiểm sát và đề xuất đối với Viện
kiểm sát cấp trên (nếu có). Nhận được báo cáo ban đầu của Viện kiểm sát cấp dưới,
đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên báo cáo ngay với Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp để có biện pháp chỉ đạo kịp thời đối với Viện kiểm sát cấp dưới.
2. Viện kiểm sát cấp huyện báo cáo Viện kiểm sát cấp
tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao bằng văn bản
những vụ, việc được quy định tại Danh mục A của Quy chế này, trong thời gian 24
giờ đối với Viện kiểm sát cấp huyện, 48 giờ đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh kể từ
khi nắm được vụ, việc (trừ những vụ, việc Viện kiểm sát cấp trên đã trực tiếp
theo dõi, tham gia giải quyết). Trường hợp cần thiết có thể báo cáo bằng điện
thoại nhưng sau đó phải báo cáo bằng văn bản.
Báo cáo ban đầu của Viện kiểm sát cấp huyện gửi
phòng nghiệp vụ và Văn phòng của Viện kiểm sát cấp tỉnh; báo cáo ban đầu của Viện
kiểm sát cấp tỉnh gửi vụ nghiệp vụ và Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Đối với các vụ, việc quy định tại Danh mục A của
Quy chế này, sau báo cáo ban đầu, Viện kiểm sát cấp dưới phải có báo cáo đầy đủ
về diễn biến vụ, việc, tiến độ và kết quả giải quyết trong trường hợp cần xin ý
kiến chỉ đạo hoặc Viện kiểm sát cấp trên yêu cầu.
Điều 18. Báo cáo đột xuất
1. Nội dung báo cáo nêu rõ thời gian, địa điểm, diễn
biến và hậu quả của vụ, việc; kết quả xử lý ban đầu của Viện kiểm sát và những
đề xuất đối với Viện kiểm sát cấp trên.
2. Viện kiểm sát cấp dưới theo yêu cầu hoặc chủ động
báo cáo ngay cho Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền những vụ, việc xảy ra tại
cơ quan, những vụ, việc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại địa phương hoặc trong
lĩnh vực công tác được giao theo dõi, quản lý, theo quy định của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
3. Viện kiểm sát cấp dưới gửi báo cáo đến Viện trưởng,
đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên được giao trách nhiệm theo dõi, quản lý
và Văn phòng Viện kiểm sát cấp trên để tổng hợp, theo dõi.
Điều 19. Báo cáo thỉnh thị và
trả lời thỉnh thị
1. Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo thỉnh thị Viện
kiểm sát cấp trên trong phạm vi thẩm quyền hoặc lĩnh vực công tác được phân
công quản lý, theo dõi đối với những vụ, việc được quy định trong Danh mục C của
Quy chế này và những vụ, việc có vướng mắc về nhận thức pháp luật, đường lối giải
quyết. Báo cáo thỉnh thị phải bằng văn bản, do lãnh đạo Viện kiểm sát ký và kèm
theo hồ sơ vụ, việc.
2. Báo cáo thỉnh thị về việc áp dụng pháp luật do Vụ
pháp chế và Quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lời; báo cáo thỉnh
thị về vụ việc cụ thể do các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp trên
trực tiếp trả lời; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao chỉ trả lời báo cáo thỉnh thị
về đường lối xét xử vụ án, vụ việc cụ thể thuộc nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi
thẩm quyền theo địa hạt tư pháp.
3. Những vụ việc thỉnh thị về đường lối giải quyết
án thì trước khi thỉnh thị phải được thảo luận trong tập thể lãnh đạo Viện kiểm
sát cấp huyện hoặc Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao. Báo cáo thỉnh thị phải đề xuất cụ thể các phương án giải quyết,
nêu cả ý kiến của cấp ủy và các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương (nếu
có).
Trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Viện kiểm
sát có thẩm quyền trả lời thỉnh thị, lãnh đạo Viện kiểm sát đã thỉnh thị cùng với
Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ, việc trực tiếp báo cáo các nội dung liên
quan đến việc thỉnh thị.
4. Việc trả lời thỉnh thị phải bằng văn bản; thời hạn
trả lời thỉnh thị như sau:
a) Trong thời hạn 06 ngày làm việc đối với Viện kiểm
sát cấp tỉnh; trong thời hạn 12 ngày làm việc đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao kể từ khi nhận được báo cáo thỉnh thị và
đầy đủ hồ sơ. Hết thời hạn nêu trên, nếu Viện kiểm sát cấp trên chưa trả lời
thì phải thông báo lý do và thời hạn trả lời để Viện kiểm sát thỉnh thị biết.
b) Trong trường hợp cần thiết thì có thể kéo dài thời
hạn trả lời thỉnh thị nhưng tối đa không quá 15 ngày làm việc đối với Viện kiểm
sát cấp tỉnh, 25 ngày làm việc đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện
kiểm sát nhân dân tối cao kể từ khi nhận được báo cáo thỉnh thị và đầy đủ hồ
sơ.
5. Các văn bản trả lời thỉnh thị có ý kiến chỉ đạo
của lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải chấp hành
nghiêm chỉnh. Các đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên khi được lãnh đạo
Viện kiểm sát cùng cấp ủy quyền thì trước khi có văn bản trả lời thỉnh thị cho
Viện kiểm sát cấp dưới cần thảo luận kỹ giữa lãnh đạo đơn vị và Kiểm sát viên
thụ lý vụ, việc và phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp
về ý kiến trả lời.
a) Viện kiểm sát cấp dưới phải thực hiện ý kiến trả
lời thỉnh thị của các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên, nếu không nhất
trí thì phải có văn bản nêu rõ lý do với đơn vị trực tiếp trả lời thỉnh thị và
báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trả lời thỉnh thị biết để tiếp tục chỉ đạo.
b) Trong trường hợp việc trả lời thỉnh thị liên
quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều đơn vị khác trong cùng một cấp kiểm
sát hoặc liên quan đến thẩm quyền giải quyết của các cơ quan thuộc ngành khác
cùng cấp thì Viện kiểm sát trả lời thỉnh thị phải trao đổi thống nhất với cơ
quan, đơn vị đó để bảo đảm việc thống nhất thực hiện giữa các cơ quan, đơn vị cấp
dưới.
c) Sau khi có ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm
sát hoặc hướng dẫn nghiệp vụ của đơn vị thuộc Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm
sát cấp thỉnh thị thực hiện theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về các quyết
định của mình theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 20. Báo cáo chuyên đề
1. Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi Viện kiểm sát cấp
trên có thẩm quyền hoặc trong phạm vi lĩnh vực công tác được giao theo dõi, quản
lý các loại báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý theo Danh mục B của Quy chế này
và các loại báo cáo sau:
a) Báo cáo các trường hợp Cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án do bị can không phạm tội; các
trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Toà án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội.
b) Báo cáo chuyên đề nghiệp vụ;
c) Các văn bản pháp lý do Viện kiểm sát ban hành và
văn bản tiếp thu của các ngành;
d) Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác trọng
tâm theo chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên;
đ) Báo cáo về kết quả thực hiện các chương trình phòng,
chống tội phạm và tệ nạn xã hội;
e) Các báo cáo theo quy định của các quy chế khác
do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
2. Trường hợp đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát
cấp tỉnh hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp cao được giao nhiều lĩnh vực công tác
thì phải gửi báo cáo chuyên đề đến các đơn vị có liên quan của Viện kiểm sát cấp
trên. Sau khi nhận được báo cáo chuyên đề, các văn bản pháp lý khác của Viện kiểm
sát cấp dưới, Viện kiểm sát cấp trên phải kiểm tra ngay, nếu có ý kiến khác thì
phải có văn bản chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới.
Các báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý của Viện kiểm
sát cấp dưới gửi các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên, đều phải gửi đơn
vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát
cấp trên (trừ những báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý quy định tại điểm 2, 4, 5 và 8 theo Danh mục B của Quy chế này).
3. Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, báo cáo chuyên
đề và các văn bản pháp lý khác theo Danh mục B của Quy chế này của các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi cho các Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh; các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gửi
cho Viện kiểm sát cấp dưới thì phải đồng thời gửi lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp,
các đơn vị có liên quan về đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm
sát cùng cấp (trừ những báo cáo chuyên đề, văn bản pháp lý quy định tại điểm 2, 4, 5 và 8 theo Danh mục B của Quy chế này).
Điều 21. Thông báo
1. Thông báo trong ngành Kiểm sát nhân dân gồm:
a) Thông báo ý kiến chỉ đạo, kết luận của Viện trưởng
Viện kiểm sát các cấp;
b) Thông báo về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm
và kết quả công tác trong tuần, tháng, quý;
c) Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác chuyên
môn, nghiệp vụ;
d) Thông báo kết quả kiểm tra công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và các công tác khác;
đ) Thông báo về kết quả thực hiện những việc có
liên quan giữa các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh và các Viện kiểm sát cùng cấp;
e) Thông báo kết quả thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát gửi các đơn vị
trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới có liên quan;
g) Thông báo tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt
động tư pháp trong 6 tháng và 12 tháng gửi các cơ quan tư pháp có liên quan;
h) Thông báo khác theo yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều
hành hoặc phối hợp công tác của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh ban hành thông báo gửi các đơn vị trực
thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới; các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông
báo cho nhau những nội dung, công việc cần thiết để thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ của mỗi đơn vị và của ngành Kiểm sát nhân dân. Khi ban hành thông báo,
đồng thời phải gửi cho đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp cùng cấp để theo dõi,
tổng hợp.
Điều 22. Hình thức chuyển
thông tin báo cáo
Thông tin, báo cáo và các tài liệu được chuyển trực
tiếp hoặc qua đường bưu điện, cơ yếu, đường truyền số liệu và qua hệ thống thư
điện tử của ngành Kiểm sát nhân dân. Sau khi gửi văn bản qua đường cơ yếu hoặc
hệ thống thư điện tử, các đơn vị gửi một bản qua đường bưu điện. Khi gửi các loại
tài liệu, báo cáo qua đường cơ yếu, truyền qua mạng máy tính phải chấp hành
nghiêm chỉnh chế độ bảo mật theo quy định của pháp luật và của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
Điều 23. Quản lý thông tin,
báo cáo
Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng các
đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và
Viện kiểm sát cấp tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện chế độ quản lý thông tin, báo
cáo trong đơn vị và toàn ngành Kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật và
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chương III
QUẢN LÝ CÔNG TÁC
Điều 24. Xây dựng chỉ thị, kế
hoạch, chương trình công tác
1. Hằng năm, căn cứ yêu cầu thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao ban hành Chỉ thị xác định nhiệm vụ trọng tâm, các biện pháp quản lý, chỉ đạo
và điều hành để tập trung thống nhất, chỉ đạo, thực hiện trong toàn ngành Kiểm
sát nhân dân.
a) Căn cứ Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát các cấp xây dựng kế hoạch công tác; các đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xây dựng chương
trình công tác và triển khai thực hiện; đồng thời, theo dõi, quản lý, kiểm tra
việc thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra.
b) Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp dưới phải
căn cứ vào Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phù
hợp với kế hoạch của Viện kiểm sát cấp trên và yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa
phương.
e) Chương trình công tác năm của các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng trên cơ sở Chỉ thị công tác của ngành
Kiểm sát nhân dân và Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chương trình công tác năm của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
phải phù hợp với chương trình công tác của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao và Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Chương
trình công tác năm của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh phải phù hợp với
chương trình công tác của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
chương trình công tác của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao và Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp tỉnh.
2. Thời hạn ban hành chỉ thị, kế hoạch, chương
trình công tác như sau:
a) Chỉ thị công tác năm của ngành Kiểm sát nhân dân
và Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chậm nhất vào ngày 05 tháng 01 của năm.
b) Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương được ban hành chậm nhất là ngày 10
tháng 01 của năm kế hoạch; Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, được ban hành chậm nhất ngày 15
tháng 01 của năm; Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện
kiểm sát quân sự khu vực được ban hành chậm nhất ngày 20 tháng 01 của năm.
c) Chương trình công tác và hướng dẫn công tác năm
của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành chậm nhất
ngày 07 tháng 01 của năm; chương trình, hướng dẫn công tác của các đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương được ban
hành chậm nhất ngày 12 tháng 01 của năm; chương trình, hướng dẫn công tác của
các phòng thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh được ban hành chậm nhất ngày 17 tháng 01
của năm.
3. Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát cấp dưới
khi gửi cho Viện kiểm sát cấp trên, đồng thời phải gửi cho đơn vị làm công tác
tham mưu, tổng hợp để tổng hợp, tham mưu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành. Sau khi nhận được kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm
sát cấp trên phải kiểm tra, nếu có ý kiến khác thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được kế hoạch, Viện kiểm sát cấp trên phải có văn bản chỉ đạo Viện kiểm
sát cấp dưới.
Chương trình công tác của các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát cấp dưới phải gửi cho các đơn vị liên quan của Viện kiểm sát cấp trên; đồng
thời, gửi cho lãnh đạo và đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm
sát cùng cấp, nếu có ý kiến khác thì đơn vị làm công tác tham mưu, tổng hợp phải
kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp để chỉ đạo.
4. Ngoài kế hoạch, chương trình công tác năm, Viện
kiểm sát các cấp và các đơn vị trực thuộc có thể xây dựng các kế hoạch cụ thể
khác để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị, địa phương. Khi thấy cần thiết,
Viện kiểm sát cấp trên có thể kiểm tra, duyệt kế hoạch của Viện kiểm sát cấp dưới
nhằm bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 25. Triển khai thực hiện
chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác
1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng các
đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương,
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức
triển khai thực hiện Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, kế hoạch, chương trình công tác năm của cơ quan, đơn vị ngay sau
khi các văn bản này được ban hành chính thức.
2. Viện kiểm sát các cấp; các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao và Viện kiểm sát cấp tỉnh xây dựng chương trình công tác quý của đơn vị
để triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm trong từng quý. Chương trình
công tác quý được quyết định trong tuần đầu của tháng đầu quý.
3. Chương trình công tác của đơn vị đề ra những nhiệm
vụ công tác cụ thể, biện pháp thực hiện, phân công lãnh đạo phụ trách, đơn vị,
bộ phận thực hiện và thời gian hoàn thành.
Điều 26. Kiểm tra việc thực hiện
chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác
1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm
kiểm tra kết quả thực hiện chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác của các
đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới theo định kỳ hoặc đột xuất. Ngoài
kiểm tra toàn diện, Viện kiểm sát cấp trên có thể kiểm tra chuyên sâu các mặt
công tác nhằm phục vụ yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên.
2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kiểm tra Viện kiểm
sát nhân dân cấp dưới về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ việc
khác theo quy định của pháp luật.
3. Công tác kiểm tra được tổ chức thực hiện theo
Quy chế kiểm tra và các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.
Điều 27. Kiểm điểm, đánh giá việc
thực hiện chỉ thị, kế hoạch, chương trình công tác và xác định nhiệm vụ trọng
tâm trong thời gian tiếp theo
Định kỳ (tuần, tháng, quý, 6 tháng, một năm), Viện
kiểm sát các cấp; các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh
và Viện kiểm sát cấp huyện phải tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các
chỉ thị, kế hoạch và chương trình công tác; đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ
theo quy định của Quốc hội, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các chỉ tiêu đề
ra trong kế hoạch và chương trình công tác của đơn vị; phân tích, đánh giá những
việc đã làm được, chưa làm được; xác định nguyên nhân, trách nhiệm; đề ra những
nhiệm vụ trọng tâm và các biện pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả Chỉ thị công tác
năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kế hoạch và chương trình
công tác của cơ quan, đơn vị trong thời gian tiếp theo.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 28. Tổ chức thực hiện
1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung
ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chịu
trách nhiệm tổ chức thực hiện Quy chế này theo chức năng, nhiệm vụ được giao;
2. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp
với các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hướng dẫn thống nhất về nội dung, yêu cầu xây dựng các loại
văn bản thông tin, báo cáo tổng hợp trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và định kỳ báo cáo,
thông báo việc chấp hành Quy chế này của Viện kiểm sát các cấp; định kỳ tổ chức
sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế; đề xuất với Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao việc sửa đổi, bổ sung Quy chế để bảo đảm việc thực hiện được
thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong ngành Kiểm sát nhân dân.
3. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế do Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
Điều 29. Hiệu lực thi hành
Quy chế này có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quy
chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân
dân ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC
ngày 13/7/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, được bổ sung
theo Quyết định số 122/QĐ-VKSTC ngày 28/3/2013
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao./.
DANH
MỤC A
Những vụ, việc Viện kiểm
sát cấp dưới phải báo cáo Viện kiểm sát cấp trên (theo Điều 17 của Quy chế):
1. Các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia theo các tội
danh được quy định trong Bộ luật hình sự.
2. Những vụ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; những vụ
phạm tội gây bức xúc dư luận xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh,
chính trị tại địa phương.
3. Các vụ giết người, giết người cướp tài sản có tổ
chức, có vũ khí; hiếp dâm có nhiều người tham gia; hiếp dâm trẻ em.
4. Những vụ chết người nghi không phải là tự sát hoặc
chết người ở nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam nghi không phải là do bệnh
lý; các trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn, phạm tội mới,
người bị kết án tử hình chết.
5. Các vụ, việc có dấu hiệu các tội xâm phạm hoạt động
tư pháp quy định trong Bộ luật hình sự.
6. Những vụ gây rối trật tự công cộng có tổ chức,
nhiều người tham gia.
7. Các vụ vi phạm quyền tự do, dân chủ gây hậu quả
nghiêm trọng, có ảnh hưởng lớn về chính trị.
8. Các vụ tai nạn giao thông, tai nạn lao động làm
chết nhiều người, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
9. Những vụ án có người phạm tội là cán bộ có chức
vụ cao ở địa phương, như: lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, cấp tỉnh; những vụ án có
người phạm tội là cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát; những người có chức sắc
trong tôn giáo; nhân sỹ, trí thức có các chức danh do Nhà nước phong tặng; người
nước ngoài; già làng, trưởng bản và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu
số.
10. Những vụ án kinh tế, chức vụ, tham nhũng lớn,
phức tạp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
11. Những vụ cháy nổ kho tàng, nhà máy, cháy rừng,
những vụ phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia gây thiệt
hại đặc biệt nghiêm trọng.
12. Các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp về ma
tuý theo các tội danh được quy định trong Bộ luật
hình sự.
13. Những vụ, việc khiếu nại, tố cáo bức xúc có nhiều
người tham gia, ảnh hưởng trật tự, an toàn xã hội xảy ra ở địa phương, liên
quan đến trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân.
DANH
MỤC B
Những báo cáo chuyên đề
và văn bản pháp lý Viện kiểm sát cấp dưới gửi Viện kiểm sát cấp trên thay báo
cáo (theo Điều 20 của Quy chế).
1. Các quyết định không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp,
gia hạn tạm giữ; không phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam, không gia hạn
tạm giam. Các quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật
của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp dưới (bản sao các quyết định trên).
2. Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi
tố bị can của Viện kiểm sát. Các văn bản của Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều
tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thay đổi Điều tra viên.
3. Quyết định trả tự do theo điểm d,
khoản 2, Điều 22 và điểm c, khoản 2, Điều 25 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2014.
4. Các quyết định xử lý vụ án của Viện kiểm sát:
cáo trạng, quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định đình chỉ, quyết
định tạm đình chỉ vụ án và bị can; quyết định phục hồi vụ án, bị can của Viện
kiểm sát.
5. Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án.
6. Các kết luận, Quyết định kháng nghị, kiến nghị
yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tư
pháp; kiến nghị các cơ quan, tổ chức và các đơn vị trong công tác phòng ngừa tội
phạm, vi phạm pháp luật.
7. Văn bản giải quyết đơn (kết luận, quyết định, trả
lời) đối với những trường hợp Viện kiểm sát cấp trên đã chỉ đạo, yêu cầu.
8. Báo cáo kết quả thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử sơ thẩm hình sự có bị cáo bị tuyên phạt tử hình. Báo cáo kết quả kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động
do Viện kiểm sát kháng nghị.
9. Báo cáo kết quả kiểm sát việc giam các bị án tử
hình và thi hành án tử hình.
10. Báo cáo tình hình, kết quả giải quyết đơn thuộc
thẩm quyền do các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu và Đại biểu Quốc hội, các
cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí chuyển đến hoặc do Viện kiểm
sát nhân dân tối cao chuyển đến.
11. Các báo cáo kết quả thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của đơn vị, cơ quan theo yêu cầu của các Ủy ban của Quốc hội.
12. Báo cáo kết quả kiểm sát việc xét giảm thời hạn
chấp hành hình phạt tù; kết quả công tác đặc xá.
13. Báo cáo việc kháng nghị, không kháng nghị đối với
các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội (kèm
theo bản sao kháng nghị). Báo cáo kết quả xét giảm chấp hành án hình sự; báo
cáo xét miễn, hoãn chấp hành án.
14. Báo cáo các trường hợp oan, các thường hợp có
đơn yêu cầu bồi thường và kết quả giải quyết việc bồi thường oan thuộc trách
nhiệm của Viện kiểm sát.
15. Báo cáo kết quả kiểm điểm trách nhiệm và xử lý
cán bộ liên quan đến các trường hợp oan, sai thuộc trách nhiệm của Viện kiểm
sát.
16. Thông báo rút kinh nghiệm; thông báo tình hình
vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.
17. Báo cáo kết quả công tác thông tin tuyên truyền
của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gửi Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
DANH
MỤC C
Viện kiểm sát cấp dưới
phải thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên (theo Điều 19 của Quy chế) những trường hợp
sau:
1. Viện kiểm sát khởi tố hoặc phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh bắt tạm giam bị can, đối với:
- Những vụ án do các ngành trung ương trực tiếp chỉ
đạo.
- Bị can là Trưởng một ngành (hoặc tương đương) từ
cấp huyện trở lên; là người có chức sắc cao trong các tôn giáo; là nhân sỹ, trí
thức có các chức danh do Nhà nước phong, tặng.
2. Những vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp có vướng mắc
về nhận thức pháp luật, đường lối giải quyết giữa cấp ủy hoặc các ngành với Viện
kiểm sát mà địa phương không tự giải quyết được.
3. Những vụ, việc do Viện kiểm sát cấp trên phân
công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện chức năng theo luật định nhưng khi thực
hiện có khó khăn, vướng mắc.
4. Những việc khác trong thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp có khó khăn nhưng không tự giải quyết được.
5. Cán bộ trong ngành Kiểm sát nhân dân vi phạm
pháp luật nghiêm trọng.