Xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng được quy định như thế nào?
Ngày 29/01/2026, Hội đồng bầu cử Quốc gia đã ban hành Nghị quyết 115/NQ-HĐBCQG năm 2026 hướng dẫn xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng.
>>> TẢI VỀ Nghị quyết 115/NQ-HĐBCQG năm 2026 <<<
Căn cứ theo Điều 2 Nghị quyết 115/NQ-HĐBCQG năm 2026 quy định xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng
[1] Trường hợp khuyết người ứng cử trong thời gian từ sau khi Ủy ban bầu cử công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử đến trước ngày danh sách này được niệm yết, thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định theo một trong các hình thức sau đây:
- Quyết định giữ nguyên danh sách chính thức những người ứng cử đại biều Hội đồng nhân dân còn lại khi số dư người ứng cử vẫn đảm bảo theo quy định của pháp luật.
- Quyết định bổ sung người có số phiếu tín nhiệm cao nhất và đạt trên 50% tổng số phiếu tín nhiệm trong số những người còn lại trong danh sách những người ứng cử được xem xét tại Hội nghị hiệp thương lần thứ ba vào danh sách chính thức những người ứng cử nếu số dư người ứng cử ở đơn vị bầu cử không đảm bảo theo quy định của pháp luật, trong danh sách hiệp thương lần thứ ba còn có người ứng cử đạt trên 50% tổng số phiếu tín nhiệm trở lên và thời gian để bổ sung phải còn ít nhất là 02 ngày tính đến ngày niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử.
- Quyết định giảm số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở đơn vị bầu cử để đảm bảo số dư theo quy định của pháp luật nếu không đáp ứng được một trong các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 115/NQ-HĐBCQG năm 2026.
[2] Trường hợp khuyết người ứng cử trong thời gian từ sau khi danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã được niêm yết cho đến ngày bầu cử, thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định theo một trong các hình thức sau đây:
- Quyết định giữ nguyên danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân còn lại khi số người ứng cử vẫn nhiều hơn ít nhất 01 (một) người so với số đại biểu được bầu tại đơn vị bầu cử đó.
- Quyết định giảm số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở đơn vị bầu cử để đảm bảo số người ứng cử phải nhiều hơn ít nhất 01 (một) người so với số đại biểu được bầu tại đơn vị bầu cử đó.
[3] Văn bản của Ủy ban bầu cử về nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 115/NQ-HĐBCQG năm 2026 phải được báo cáo ngay đến Ủy ban bầu cử ở cấp tỉnh (nếu khuyết ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã); báo cáo ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia (nếu khuyết ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh).

Xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng được quy định như thế nào? (Hình từ Internet)
Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 28 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương như sau:
- Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Quốc hội sau khi Hội đồng bầu cử quốc gia kết thúc việc tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước và công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội.
- Ủy ban bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi Ủy ban bầu cử đã trình báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và hồ sơ, tài liệu về bầu cử tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới.
- Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi Ủy ban bầu cử kết thúc việc tổng kết công tác bầu cử và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng bầu cử quốc gia được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 12 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định cơ cấu, tổ chức của Hội đồng bầu cử quốc gia như sau:
- Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm đến hai mươi mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.
- Hội đồng bầu cử quốc gia thành lập các tiểu ban để giúp Hội đồng bầu cử quốc gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];