Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất?

Nguyễn Thị Tú Uyên 768 lượt xem
11:20 | 31/03/2026
Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất? Phương án và kết quả sau khi thành lập cụ thể ra sao?
Nội dung chính
  1. Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất?
  2. Tổ chức chính quyền địa phương được quy định cụ thể ra sao?
  3. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được quy định như thế nào?

Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất?

Ngày 28/3/2026, HĐND tỉnh Đồng Nai thông qua Nghị quyết 16/NQ-HĐND tán thành chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.

>>> Tải về Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương

Tại Điều 1 nêu rõ

Tán thành chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên quy mô dân số của tỉnh Đồng Nai theo Tờ trình số 47/TTr-UBND ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh (có Đề án kèm theo).

>>> Tải về Tờ trình số 47/TTr-UBND

Tại Tờ trình nêu rõ

Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương là yêu cầu khách quan, cấp thiết và có cơ sở thực tiễn rõ ràng. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về tên gọi gắn với đơn vị hành chính, mà là bước chuyển quan trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị, nhằm đưa Đồng Nai từ vị thế một tỉnh công nghiệp lớn vươn lên thành đô thị cấp vùng, có năng lực điều phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây là mong muốn và khát vọng của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai. Với quy mô diện tích hơn 12.737,18 km², dân số 4.491.408 người. Năm 2025: GRDP của tỉnh khoảng 677.932,31 tỷ đồng, thu ngân sách trên 102.962 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 152,8 triệu đồng/người, đóng góp 5% GDP của cả nước, đã phản ánh mức phát triển kinh tế tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước, cùng cơ cấu kinh tế thiên về công nghiệp - dịch vụ, Đồng Nai đã hội tụ nền tảng của một không gian phát triển lớn, đa trung tâm, đa chức năng và có mức độ tương tác vùng rất cao.

Phương án thành lập

Thành lập thành phố Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai với 12.737,18 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.491.408 người.

Kết quả sau khi thành lập

- Thành phố Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km²; quy mô dân số là 4.491.408 người; có 95 đơn vị hành chính cấp xã, dự kiến gồm: 33 phường¹, 62 xã.

- Địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai: Phía Tây và Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh; Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh; Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng; Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia.

[...]

>>> Xem chi tiết tại Tờ trình số 47/TTr-UBND Dự thảo Nghị quyết về việc tán thành chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương

Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất?

Nghị quyết 16/NQ-HĐND 2026 Thông qua chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mới nhất? (Hình từ Internet)

Tổ chức chính quyền địa phương được quy định cụ thể ra sao?

Tại Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 quy định về Tổ chức chính quyền địa phương cụ thể như sau:

[1] Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, trừ đơn vị hành chính quy định tại Điều 28 của Luật này, là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

[2] Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.

Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương như sau:

(1) Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp.

(2) Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

- Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;

- Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;

- Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;

- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật;

- Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

- Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.

Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

(3) Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả.

Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.

Nguyễn Thị Tú Uyên
Nguyễn Thị Tú Uyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Chính sách về Bất động sản Xem thêm

Bài viết mới nhất