Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp toàn bộ quy định về quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ 1/7/2026 cho doanh nghiệp và người lao động.
>> Trách nhiệm khấu trừ thuế, khai, nộp thuế TNCN đã khấu trừ của doanh nghiệp từ 1/7/2026
>> Tổng hợp biểu mẫu khai thuế từ ngày 01/7/2026
(1) Khái niệm quyết toán thuế TNCN
Quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là việc cá nhân hoặc tổ chức trả thu nhập xác định lại số thuế TNCN phải nộp của cả năm tính thuế. Sau khi đối chiếu với số thuế đã tạm nộp hoặc đã khấu trừ trong năm để xác định số thuế TNCN phải nộp thêm hoặc số thuế được hoàn do nộp thừa hoặc không phát sinh số thuế phải nộp thêm hoặc hoàn.
Nói đơn giản, trong năm, thuế TNCN thường chỉ được tạm khấu trừ theo từng lần trả thu nhập. Đến khi kết thúc năm, người nộp thuế sẽ tổng hợp toàn bộ thu nhập, các khoản giảm trừ và số thuế đã nộp để tính lại số thuế phải nộp chính xác cho cả năm. Việc này được gọi là quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
(2) Kỳ quyết toán thuế TNCN
Kỳ quyết toán thuế đối với thuế thu nhập cá nhân được xác định theo năm dương lịch.
Trường hợp trong một năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tổng số ngày có mặt tại Việt Nam trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của năm đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
(Theo điểm đ.2 khoản 2 Điều 9 Nghị định 252/2026/NĐ-CP)
(2) Khi nào phát sinh nghĩa vụ quyết toán?
- Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế.
- Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thay theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).
- Cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam trước khi xuất cảnh phải quyết toán thuế với cơ quan thuế hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác quyết toán thuế và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
(Theo điểm a.2 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC và c khoản 33 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP)
Lưu ý: Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thì không phải nộp hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công.
(Theo khoản 7 Điều 11 Nghị định 252/2026/NĐ-CP)
Quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ 1/7/2026 - Ảnh minh họa
Tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm. Tùy trường hợp mà cá nhân phải tự quyết toán với cơ quan thuế hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thuế thay.
(Theo Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP)
Cá nhân phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế trong các trường hợp sau:
(1) Trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
(2) Trong kỳ tính thuế cá nhân có phát sinh các khoản giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, y tế, giáo dục của mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế.
Lưu ý: Trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế và được trừ số thuế đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong năm tính thuế.
Người nộp thuế được ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thuế thay trong trường hợp sau, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm:
- Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế, kể cả trường hợp người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống.
- Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế và có nguồn thu nhập khác đã thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi chi trả thu nhập.
Các trường hợp không phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:
- Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã nộp trong kỳ tính thuế mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.
- Cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Thời hạn quyết toán thuế TNCN được xác định như sau:
- Đối với doanh nghiệp quyết toán thuế thay người lao động: Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 03 kể từ ngày kết thúc kỳ quyết toán thuế (Ví dụ thời hạn quyết toán thuế TNCN năm 2026 là ngày 31/3/2027).
- Đối với người lao động tự quyết toán với cơ quan thuế: Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch (Ví dụ thời hạn quyết toán thuế TNCN năm 2026 là ngày 30/4/2027).
- Trường hợp ngoại lệ: Trường hợp trong 01 năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của năm đầu tiên chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày cuối cùng của tháng tính đủ 12 tháng liên tục.
Ví dụ: Ông A đến Việt Nam làm việc từ 15/9/2026. Trong năm 2026, ông chỉ có mặt tại Việt Nam 108 ngày (dưới 183 ngày). Tuy nhiên, tính trong 12 tháng liên tục từ 15/9/2026 đến 14/9/2027, ông có mặt tại Việt Nam trên 183 ngày, nên được xác định là cá nhân cư trú.
Khi đó, kỳ quyết toán đầu tiên của ông A là từ 15/9/2026 đến 14/9/2027 và hạn cuối nộp hồ sơ quyết toán là 31/01/2028 (ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ tháng kết thúc kỳ 12 tháng liên tục).
(Theo khoản 5 Điều 10 Nghị định 252/2026/NĐ-CP)
(1) Giấy ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân (Mẫu số 08/UQ-QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(Ghi chú: Cá nhân ủy quyền quyết toán thuế phải gửi văn bản ủy quyền theo mẫu 08/UQ-QTT-TNCN cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập trước khi tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân).
(2) Tờ khai quyết toán thuế TNCN (Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công) (Mẫu số 05/QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(3) Phụ lục bảng kê chi tiết cá nhân thuộc diện tính thuế theo biểu lũy tiến từng phần (Mẫu số 05-1/BK-QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(4)Phụ lục bảng kê chi tiết cá nhân thuộc diện tính thuế theo thuế suất toàn phần (Mẫu số 05-2/BK-QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(5) Phụ lục bảng kê chi tiết người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh (Mẫu số 05-3/BK-QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(Theo mục 7.1 Phụ lục I Thông tư 89/2026/TT-BTC)
(1) Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (Áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công) (Mẫu số 02/QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
(2) Phụ lục bảng kê giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc (Mẫu số 02-1/BK-QTT-TNCN) Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.
Ngoài ra, kèm theo các giấy tờ sau:
(3) Bản sao các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ (ghi rõ đã nộp thuế theo tờ khai thuế thu nhập nào) do cơ quan trả thu nhập cấp hoặc Bản sao chứng từ ngân hàng đối với số thuế đã nộp ở nước ngoài có xác nhận của người nộp thuế trong trường hợp theo quy định của luật pháp nước ngoài, cơ quan thuế nước ngoài không cấp giấy xác nhận số thuế đã nộp.
(4) Tài liệu chứng minh về số tiền đã trả của đơn vị, tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài trong trường hợp cá nhân nhận thu nhập từ các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán và nhận thu nhập từ nước ngoài
(5) Hồ sơ xác định khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế.
Lưu ý: Trường hợp cơ quan thuế đã kết nối, khai thác được thông tin có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì người nộp thuế không phải nộp các thành phần hồ sơ theo quy định tại mục (3), (4), (5).
(Theo mục 7.1 Phụ lục I Thông tư 89/2026/TT-BTC)
|
Trường hợp |
Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế |
|
Đa số các trường hợp quyết toán thuế |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp của doanh nghiệp |
|
Doanh nghiệp trả thu nhập cho người lao động làm việc tại đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại tỉnh khác nơi đóng trụ sở: |
|
|
Nếu lựa chọn khai thuế tập trung tại trụ sở |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp |
|
Nếu lựa chọn khai thuế cho từng đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh. |
(Theo điểm a.3 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC)
|
Trường hợp |
Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế |
|
(1) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại 01 nơi và thuộc trường hợp phải khai thuế theo quý (gồm 4 trường hợp sau): |
|
|
- Thu nhập do các tổ chức Quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả nhưng chưa thực hiện khấu trừ thuế |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập |
|
- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú |
|
- Cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam do tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi phát sinh thu nhập tại Việt Nam |
|
- Cá nhân khi chuyển nhượng cổ phiếu thưởng, cổ phiếu ESOP nhận được từ tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức khấu trừ thuế và nộp thay số thuế đã khấu trừ) |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập hoặc cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú trong trường hợp tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài. |
|
(2) Cá nhân cư trú có thu nhập tại 01 nơi và không thuộc trường hợp phải khai thuế theo quý, không ủy quyền quyết toán thuế |
Cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân trả thu nhập trong năm |
|
(3) Cá nhân cư trú có thu nhập từ 02 nơi trở lên (bao gồm cả trường hợp vừa có thu nhập phải khai theo quý, vừa có thu nhập đã khấu trừ thuế) |
- Cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân trả thu nhập lớn nhất trong năm. - Nếu có từ 02 nơi trở lên có mức thu nhập lớn nhất bằng nhau thì được tự chọn một trong các cơ quan thuế quản lý các đơn vị đó để nộp hồ sơ quyết toán. |
(Theo điểm c.3.2 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC)
- Sau khi quyết toán thuế TNCN, người nộp thuế sẽ được hoàn thuế TNCN trong các trường hợp sau:
+ Số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp.
+ Cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế.
(Xem chi tiết tại Hoàn thuế thu nhập cá nhân từ 01/7/2026)
- Cá nhân có số tiền thuế nộp thừa hằng năm sau quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công trên hồ sơ khai quyết toán thuế từ 50.000 đồng trở xuống thì thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa với số thuế phải nộp của kỳ tính thuế tiếp theo.
Hay nói cách, nếu số tiền thuế nộp thừa sau khi quyết toán thuế từ 50.000 đồng trở xuống thì sẽ không được hoàn lại mà sẽ bù trừ số thuế nộp thừa với số thuế phải nộp của kỳ tính thuế tiếp theo.
(Theo điểm a khoản 4 Điều 29 Nghị định 252/2026/NĐ-CP)
- Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có số tiền thuế phát sinh phải nộp hằng năm sau quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công trên hồ sơ quyết toán thuế từ 50.000 đồng trở xuống.
(Theo điểm a khoản 2 Điều 32 Nghị định 252/2026/NĐ-CP)