Các khoản tiền đặt cọc nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ theo Bộ luật Dân sự chưa phải lập hóa đơn điện tử tại thời điểm nhận tiền.
>> Tra cứu hạn nộp thuế GTGT 2026 trước và sau gia hạn
>> File word mẫu 31/ĐKT Thông tư 90/2026/TT-BTC - mẫu hủy chuyển địa điểm ra sao?
Khi mua bán hàng hóa, không phải xuất hóa đơn khi nhận tiền đặt cọc. Thời điểm xuất hóa đơn bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
Căn cứ khoản 1 Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, thời điểm lập hóa đơn đối với bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Theo đó, nguyên tắc của việc xuất hóa đơn bán hàng hóa là dựa trên việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng. Vì vậy, khi chỉ nhận tiền đặt cọc, người bán chưa phải lập hóa đơn. Người bán sẽ phải xuất hóa đơn giao cho người mua khi đã chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa.
Nói một cách dễ hiểu, đối với bán hàng hóa thông thường, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa, không phải cứ nhận tiền trước là phải xuất hóa đơn.
Tương tự với khoản tiền thanh toán trước. Giả sử trong trường hợp công ty A bán 100 bộ bàn ghế cho Công ty B. Hai bên thỏa thuận Công ty B thanh toán trước 30% giá trị hợp đồng để Công ty A sản xuất hàng thì khi chỉ mới nhận 30% khoản tiền thanh toán trước không phải xuất hóa đơn đối với khoản tiền này. Công ty A sẽ phải xuất hóa đơn khi đã chuyển giao số bàn ghế cho công ty B.
Lưu ý: Trường hợp giao hàng nhiều lần thì mỗi lần giao hàng hoặc bàn giao đều phải lập hóa đơn cho khối lượng, giá trị hàng hóa được giao tương ứng.
Quy định xuất hóa đơn tiền đặt cọc mua hàng hóa, dịch vụ 2026 - Ảnh minh họa
Từ ngày 1/7/2026, tất cả các khoản tiền đặt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ đều không phải xuất hóa đơn khi nhận tiền, không còn giới hạn theo từng loại dịch vụ.
Theo quy định trước đây, khi nhận tiền đặt cọc để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ, người bán phải xuất hóa đơn ngay khi nhận tiền. Riêng tiền đặt cọc hoặc tạm ứng đối với một số dịch vụ như kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế; thẩm định giá; khảo sát, thiết kế kỹ thuật; tư vấn giám sát; lập dự án đầu tư xây dựng thì không phải xuất hóa đơn.
Tuy nhiên từ ngày 1/7/2026, thay vì chỉ áp dụng cho một số dịch vụ như trước đây thì mọi khoản tiền đặt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ đều không phải xuất hóa đơn khi nhận tiền.
>>Xem phân tích chi tiết tại bài viết: Chính thức quy định xuất hóa đơn tiền đặt cọc 2026 khi cung cấp dịch vụ theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP
Xem thêm: Chính thức mọi khoản tiền tạm ứng hợp đồng dịch vụ đều xuất hóa đơn theo Nghị định 254
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
|
Ví dụ: Anh A muốn mua một căn hộ của chị B với giá 3 tỷ đồng. Hai bên thỏa thuận anh A đặt cọc 100 triệu đồng để bảo đảm sẽ ký hợp đồng mua bán trong vòng 30 ngày. Trường hợp 1: Hai bên ký hợp đồng mua bán đúng thỏa thuận thì 100 triệu đồng tiền đặt cọc được trừ vào giá mua nhà (anh A chỉ cần thanh toán thêm 2,9 tỷ đồng). Trường hợp 2: Anh A đổi ý, không mua nhà nữa thì chị B được giữ 100 triệu đồng tiền đặt cọc. Trường hợp 3: Chị B đổi ý, không bán nhà nữa thì phải trả lại 100 triệu đồng tiền đặt cọc và bồi thường thêm 100 triệu đồng cho anh A (tổng cộng 200 triệu đồng), trừ khi hai bên có thỏa thuận khác. |
.png)
