Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào?

Võ Trung Hiếu
17:45 | 14/10/2026
Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào? Chế độ thai sản sinh con thứ hai: Nhận trợ cấp thai sản 06 tháng hay 07 tháng?
Nội dung chính
  1. Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào?
  2. Chế độ thai sản sinh con thứ hai: Nhận trợ cấp thai sản 06 tháng hay 07 tháng?
  3. Tiền trợ cấp một lần khi sinh con có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào?

Căn cứ vào khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định:

Bảo vệ thai sản
...
3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
...

Như vậy, người sử dụng lao động không được sa thải vì lý do lao động nữ nghỉ thai sản.

Trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Việc người sử dụng lao động sa thảo lao động nữ nghỉ thai sản có thể dẫn đến rủi ro pháp lý là bị xử phạt vi phạm hành chính.

Cụ thể:

Căn cứ vào điểm i khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 26 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Vi phạm quy định về lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới
...
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
...
i) Sa thải người lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
...
3. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động trả tiền lương cho người lao động nữ tương ứng với thời gian người lao động nữ không được nghỉ trong thời gian hành kinh theo quy định của pháp luật khi có hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều này;
b) Buộc người sử dụng lao động trả tiền lương cho người lao động nữ tương ứng với thời gian người lao động nữ không được nghỉ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này;
c) Buộc người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc khi có hành vi vi phạm quy định tại điểm i khoản 2 Điều này.

Theo đó, nếu người sử dụng lao động sa thải lao động nữ vì lý do nghỉ thai sản thì bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.

Đồng thời, buộc nhận người lao động trở lại làm việc.

Lưu ý: Mức phạt trên áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Đối với người sử dụng lao động là tổ chức có hành vi sa thải lao động nữ vì lý do nghỉ thai sản thì sẽ bị phạt gấp đôi từ 20-40 triệu đồng. Và cũng buộc nhận người lao động trở lại làm việc.

Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào?

Sa thải lao động nữ nghỉ thai sản bị phạt như thế nào? (Hình từ Internet)

Chế độ thai sản sinh con thứ hai: Nhận trợ cấp thai sản 06 tháng hay 07 tháng?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025) quy định:

Nghỉ thai sản
1. Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
...

Theo đó, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

Điều này phù hợp với định hướng duy trì mức sinh thay thế tại Điều 14 Luật Dân số 2025.

Căn cứ thêm khoản 1 Điều 2 Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai như sau:

Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai
1. Điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai
Lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số thuộc các trường hợp sau:
a) Lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống;
b) Lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
...

Theo đó, khi đạt đủ điều kiện sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống đồng thời đáp ứng các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội (đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con) thì sẽ được hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo quy định tại quy định của Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi Luật Dân số 2025).

Cụ thể, Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định chế độ thai sản sinh con thứ hai thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Mà thời gian quy định nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025) là 7 tháng.

Nên cũng sẽ được nhận trợ cấp thai sản tương ứng với 7 tháng thai sản.

Khi đó, mức nhận trợ cấp thai sản sinh con thứ hai bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. (khoản 1 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).

Tiền trợ cấp một lần khi sinh con có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định:

Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
c) Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...

Như vậy, theo điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thì tiền trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi là khoản thu nhập không chịu thuế TNCN.

Do đó, lao động nữ được hiền trợ cấp một lần khi sinh con không phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Logo Thư viện Pháp luật
Võ Trung Hiếu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất