Điều kiện để nghỉ thai sản 7 tháng?
Căn cứ vào khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định;
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con
1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động.
...
Theo đó, pháp luật về bảo hiểm xã hội quy định thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con thực hiện theo Bộ luật Lao động 2019.
Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025) quy định:
Nghỉ thai sản
1. Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
...
Theo đó, sẽ có 02 trường hợp người lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng để sinh con, cụ thể:
Trường hợp 1: Sinh đôi trong lần đầu sinh con
Theo đó, pháp luật quy định lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trong đó, nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Tuy nhiên, do sinh đôi nên lao động nữ sẽ được nghỉ thêm 01 tháng.
Do vậy, lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng trong trường hợp này.
Trường hợp 2: Sinh con thứ hai
Trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng.
Do vậy, khi sinh con thứ hai, lao động nữ cũng được nghỉ thai sản 7 tháng.
Lưu ý trong trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ chỉ được hưởng chế độ thai sản và nghỉ thai sản 7 tháng trong trường hợp tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống.
Điều này được hướng dẫn tại Công văn 4860/BHXH-CĐBHXH năm 2026
I. Chế độ thai sản khi sinh con thứ hai (theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 14 Luật Dân số 2025 và Khoản 1 Điều 2 Nghị định 168/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026):
1. Điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai:
Lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thuộc các trường hợp sau:
- Lao động nữ khi sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống.
- Lao động nam đang tham gia BHXH bắt buộc khi vợ sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
...
>>> Tải về Công văn 4860/BHXH-CĐBHXH năm 2026 hướng dẫn một số nội dung giải quyết chế độ ốm đau thai sản dưỡng sức PHSK
Ngoài ra, lao động nữ nghỉ thai sản 7 tháng cần đảm bảo các điều kiện tại Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cụ thể:
- Phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
- Đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.

Điều kiện để nghỉ thai sản 7 tháng? (Hình từ Internet)
Trợ cấp một lần khi sinh con được quy định như thế nào?
Căn cứ vào Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định trợ cấp một lần khi sinh con như sau:
(1) Lao động nữ sinh con có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
Lao động nữ sinh con nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà người chồng có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì người chồng được trợ cấp một lần.
(2) Lao động nữ mang thai hộ có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
Trường hợp người mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con được trợ cấp một lần.
Trường hợp người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện thì người chồng của người mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm người mang thai hộ sinh con được trợ cấp một lần.
(3) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì được trợ cấp một lần.
(4) Mức trợ cấp một lần cho mỗi con quy định tại (1), (2) và (3) bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con, nhận con do nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi.
Tiền trợ cấp một lần khi sinh con có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định:
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
c) Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...
Như vậy, theo điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thì tiền trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi là khoản thu nhập không chịu thuế TNCN.
Do đó, lao động nữ được hiền trợ cấp một lần khi sinh con không phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];