Điểm mới Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 10?
Ngày 11/12/2025, tiếp tục kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng.
Tuy nhiên hiện chưa có văn bản chính thức Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng, theo đó có thể tham khảo bản dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng mới nhất tại đây: tải về
Sau đây là điểm mới Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng được thông qua tại Kỳ họp thứ 10:
(1) Không tính thuế với nông sản chưa chế biến
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 được sửa đổi bổ sung bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng quy định như sau:
Đối tượng không chịu thuế
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
...
Có thể thấy rằng, Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng đã đưa lại quy định (từng áp dụng ổn định từ năm 2014) đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mua bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường. Theo đó, các đơn vị này không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng vẫn được khấu trừ thuế đầu vào.
Quy định này giúp doanh nghiệp không phải ứng vốn nộp thuế rồi lại làm thủ tục hoàn thuế, giảm thủ tục hành chính và khơi thông dòng tiền cho xuất khẩu.
(2) Hộ kinh doanh có doanh thu 500 triệu trở xuống không phải nộp thuế GTGT
Căn cứ khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 được sửa đổi bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng quy định như sau:
Đối tượng không chịu thuế
...
25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
...
Như vậy, Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng đã quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 500 triệu đồng trở xuống sẽ không phải chịu thuế GTGT.
(3) Bỏ quy định áp thuế suất 5% đối với sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
Căn cứ khoản 5 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng quy định như sau:
Thuế suất
...
5. Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi để tái chế, sử dụng lại khi bán ra áp dụng mức thuế suất theo thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu bán ra.
...
Như vậy, đã lược bỏ nội dung áp thuế suất 5% đối với sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.
Quy định trên nhằm đảm bảo việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đồng bộ theo quy định của pháp luật về thức ăn chăn nuôi, bảo đảm bình đẳng với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, do thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không chịu thuế. Điều này sẽ giúp giảm chi phí đầu vào, hỗ trợ người nông dân và doanh nghiệp chăn nuôi trong bối cảnh khó khăn.
(4) Bãi bỏ điều kiện người bán phải nộp thuế mới hoàn cho người mua
Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng đã bãi bỏ quy định khoản 3 Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về điều kiện hoàn thuế như sau:
Người bán đã kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định đối với hóa đơn đã xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế.
Trên đây là điểm mới Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng được thông qua tại Kỳ họp thứ 10
>>> Tra cứu MST doanh nghiệp: Tại đây >>> Tra cứu MST cá nhân: Tại đây |

Điểm mới Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 10? (Hình từ Internet)
Khi nào sẽ có Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng?
Căn cứ Điều 43 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định như sau:
Công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.
Đối với pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại, chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn bản đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp gần nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông qua lại thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua lại. Trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.
2. Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.
Đối với nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt thì Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội công bố nghị quyết chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.
Theo đó, ngày 11/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi.
Theo quy định trên, có thể hiểu rằng, dự kiến chậm nhất 15 ngày kể từ ngày 11/12/2025 sẽ có toàn văn Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi
Như vậy, Luật sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng sẽ được công bố chậm nhất ngày 26/12/2025.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ, hoàn thuế tại Luật Thuế GTGT 2024?
Căn cứ Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT như sau:
(1) Mua, cho, bán, tổ chức quảng cáo, môi giới mua, bán hóa đơn.
(2) Tạo lập giao dịch mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật hoặc giao dịch không đúng quy định của pháp luật.
(3) Lập hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp lập hóa đơn giao cho khách hàng để thực hiện các hợp đồng đã ký trước ngày thông báo tạm ngừng kinh doanh.
(4) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ theo quy định của Chính phủ.
(5) Không chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử về cơ quan thuế theo quy định.
(6) Làm sai lệch, sử dụng sai mục đích, truy cập trái phép, phá hủy hệ thống thông tin về hóa đơn, chứng từ.
(7) Đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác liên quan đến hóa đơn, chứng từ để được khấu trừ thuế, hoàn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, trốn thuế giá trị gia tăng.
(8) Thông đồng, bao che; móc nối giữa công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế và cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu, giữa các cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu trong việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để được khấu trừ thuế, hoàn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, trốn thuế giá trị gia tăng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];